THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

DAO.DUC.GIOI LUAT

ĐẠO ĐỨC HỌC VÀ GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY I. DẪN NHẬP: Sống trong bất kỳ xã hội nào, con người đều hằng ước mong cho mình có được một đời sống ấm êm hạnh phúc. Nhưng trên thực tế nhìn vào giữa lòng xã hội chúng ta tìm được bao nhiêu cuộc sống ấm êm. Một câu nói ví von mà ai đó đã gán cho cuộc đời mà chúng ta thường nghe "đời là bể khổ”. Điều đó một phần nào đã nói lên rằng cái khổ là một thực trạng đang tồn tại và bao trùm lên kiếp sống nhân sinh. Nói như vậy củng không có nghĩa là giữa cuộc đời này không có niềm vui, nhưng vấn đề là sự khổ - vui ấy được chúng ta nhìn nhận và hành sử như thế nào đó là sự khôn khéo của mỗi chúng ta. Bởi lẽ tất cả mọi nguyên nhân phát khởi đều chịu sự ảnh hưởng của nội tâm và tác động từ bên ngoài và dĩ nhiên chúng ta hoàn toàn có thể tái tạo một đời sống hướng thượng tốt đẹp làm biểu mẫu cho cuộc đời, đồng thời củng có thể trở thành những chất cặn bã cho xã hội. Muốn trở thành chất cặn bã của cuộc đời thì không khó nhưng để trở thành những bông hoa tươi đẹp giữa cuộc đời cần đòi hỏi bằng tất cả sự nổ lực phấn đấu của mỗi cá nhân mới có thể thành tựu được. Đạo đức là thước đo thang giá trị của con người mọi thời đại. Những giá trị đạo đức không bao giờ thay đổi, có chăng là chỉ thay đổi cách nhìn về giá trị ấy. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ nơi cuộc sống hiện đại. Cuộc sống hiện đại đã làm cho con người có những cách nhìn mới về những giá trị đạo đức. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tân tiến mang lại cho con người nhiều tiện nghi thoải mái. Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho con người nhiều nỗi phiền toái, và còn lấy mất khỏi con người nhiều giá trị cao đẹp – vốn là những điều quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lý tưởng sống của con người. những phương tiện khoa học kỹ thuật vốn không tốt cũng không xấu. Nó tốt hay xấu là phụ thuộc vào người sử dụng nó. Thế nhưng, những phương tiện khoa học kỹ thuật, hay nói một cách nôm na hơn là cuộc sống hiện đại đã làm cho con người, nhất là những người trẻ, có những thay đổi cách nhìn về giá trị đạo đức. Khi Đức Phật còn tại thế, hàng đệ tử nương đạo phong của Ngài tu tập mà chứng ngộ. Bởi trí tuệ siêu việt của ngài đã cảm hóa nhân sinh rất có hiệu quả. Do vậy chúng ta càng tự hào biết chừng nào khi nhân loại hòa nhập vào giáo lý thậm thâm vi diệu. Do vậy, Đạo Phật rất cần sự có mặt của Tu sĩ vừa có Giới hạnh, vừa có trình độ Phật học lẫn thế học thật vững vàng mới cùng nhau xây dựng ngôi nhà Chánh Pháp mãi mãi trường tồn, chúng Tăng hưng thịnh. Quả thật, chỉ có Giới luật mới đưa con người lên Bi-Trí-Dũng(1) để đạt đến Chân-Thiện-Mỹ, uốn nắng hàng con Phật trở thành mẩu người toàn diện trong quá trình tu tập. 1. Lý do chọn đề tài: Đạo Phật có một sức sống dồi dào bất động, sức sống ấy là Chánh Pháp cũng chính là Giới. Giới(2) là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí huệ. Thế nên, con xin chọn đề tài: “ĐẠO ĐỨC HỌC VÀ GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO TRONG THỜI ĐẠI HIỆN NAY” Bởi Giới luôn tạo chất keo kết nối giữa con người và cuộc đời có cùng một giải pháp, một phương thức đượm nhuần thắm mãi, uốn nắn hàng con Phật trở thanh người mẫu toàn diện trong quá trình tu tập. Do vậy, đề tài này rất thực tiễn trong cuộc sống, bởi nó tạo thành chân lý sống động, soi sáng rạng ngời giữa nhân gian và xua tan bóng tối vô minh của đêm trường tham ái. Do đó, Giới trở thành ngọn đuốc sống trong trái tim bất diệt của nhân sinh. 2. Phạm vi đề tài: Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi Kinh điển Nam truyền-Bắc truyền-Luật tạng, các quyển Luật(3) của Chư Tôn túc nghiên cứu biên soạn. Chính sự nghiên cứu Kinh-Luật của quí Ngài đã viết lên những lời dạy cho chúng con thấm nhuần tư tưởng giải thoát. Qua đó, cũng thể hiện được phong cách đạo hạnh cao cả, đức khiêm cung của quí Ngài. Theo gót quí Ngài, phạm vi luận văn này con xin đi sâu nghiên cứu lĩnh vực tư tưởng giải thoát tự lợi, lợi tha. Hơn nữa Kinh – Luật – Luận thì quá rộng lớn mà luận văn cho phép có hạn. Nên con lấy Giới làm nền tảng, tập trung tư tưởng triển khai đề tài này: Để hoàn thành luận văn, con dựa vào giáo lý của đức Phật không ngoài Kinh – Luật – Luận, Kinh tạng Nikàya, một số Kinh Luật Đại thừa. Cũng như các quyển Luật do các bậc Tôn túc biên soạn, các tài liệu giảng dạy của giảng sư. Cùng một số Luận văn cao cấp, cao đẳng, những vần thơ mộc mạc chân tình, chứa đầy ý nghĩa của các bậc Tiền bối. Cộng với sự góp nhặt kiến thức thiển cận của con trong suốt quá trình tu học của bản thân để triển khai nội dung Luận văn này. 3. Phương pháp nghiên cứu: Bài Luận văn được trình bày theo phương pháp luận giải thích, chứng minh cùng với phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những tính chất đặc thù của đề tài được nghiên cứu. Quá trình này đòi hỏi người làm phải nghiên cứu Kinh – Luật – Luận để có những ý tưởng phong phú đặc sắc, nhưng phải đi sát vấn đề cần làm. Mặc dù dựa trên tư tưởng giáo lý của Phật giáo làm chuẩn, đồng thời cộng thêm những tác phẩm, các văn bản rất có giá trị. Nhưng người làm không mất đi nguyên tắc ý tưởng của một bộ kinh, một tác phẩm hay , tác giả nào. Người làm chỉ muốn làm rõ ràng các định nghĩa cụ thể, để hiểu sâu chặc chẽ của luận văn. II. NỘI DUNG: 1. ĐẠO ĐỨC LÀ GÌ ? Trước hết, đạo đức(4) buộc chúng ta phải nhìn lại bản thân mình, tìm hiểu bản thân mình và biết được điều gì thật sự làm cho chúng ta hạnh phúc. Vấn đề đạo đức đầu tiên đối với tôi là khám phá chính mình. Nếu chúng ta tiến hành công việc này một cách trung thực và dũng cảm, chúng ta sẽ khám phá ra những thứ mà tôi không thể ngờ được rằng chúng đang hiện hữu trong tôi, những thứ vốn được che đậy ở bên trong. Chúng ta đã từng nghe các nhà khoa học nói là chúng ta chỉ mới sử dụng 5% năng lực của mình trong cuộc sống hằng ngày, 95% còn lại chúng ta chưa bao giờ sử dụng đến vì chúng ta chưa bao giờ phát hiện ra chúng. Thật là uổng phí! Và đối với những người khác, điều này cũng xảy ra tương tự. Quá ư là uổng phí! Vì thế, việc khám phá những tiềm năng của bản thân trở thành nhiệm vụ hàng đầu đối với tôi. Tôi là một người thiếu đạo đức nếu tôi chỉ dùng 5% năng lực của mình. Đạo đức giúp chúng ta khám phá đến đỉnh cao của những tiềm năng ở trong chúng ta. Nó khiến chúng ta nhận ra lý tưởng tự hoàn thiện mình trong suốt cuộc đời. Nó khuyến khích chúng ta vươt lên trên sự tồn tại đơn thuần để đạt đến một tầm cao mới trong nhận thức. Nó giúp chúng ta tạo lập một cuộc sống hướng vào sự hoàn thiện cá nhân và phụng sự xã hội. Mức độ đầu tiên của nhận thức là ý thức được sự hoàn thiện bản thân là một phần cốt lõi của con người. Mức độ thứ hai là nhận thấy được rằng, sức mạnh giúp hoàn thiện bản thân có thể tìm thấy bên trong bản thân mình. Mức độ thứ ba là biết một cách chính xác những bước đi nào là tốt nhất cho sự phát triển năng lực của bản thân, sao cho phù hợp với nhân cách cũng như hoàn cảnh của mình. Những mối tương quan trong xã hội là một cách khác để chúng ta hiểu về bản thân mình. Nếu chúng ta tinh ý thì qua mối quan hệ với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, có thể cho ta những thông tin thiết thực nhất. Khi chúng ta thiết lập tình cảm thân thiết thông qua việc sống và giao tiếp với họ, tôi nhận ra được có sự mâu thuẩn ở trong tôi. Việc nhận ra cách người ta đối xử với mình, và hiểu tại sao người ta đối xử với mình như thế là cách thức chủ yếu để có thể biết chính xác về bản thân mình. Sự nhận thức này trở thành một mảnh đất phong phú, màu mỡ cho sự thay đổi bản thân theo chiều hướng tích cực. Việc chọn lựa những gì tôi muốn làm cho cuộc sống của tôi và khiến cho nó trở thành hiện thực là điều không đơn giản. chúng ta không thể thực hiện được điều đó nếu tôi không nỗ lực hết mình và không có lòng kiên nhẫn. Tuy nhiên, nhờ vào việc đánh giá một cách chân thực về bản thân mà tôi có thể làm được điều đó. 1. 1. Tính chất cơ bản của con người: Nói chung, con người là những động vật xã hội. Bất kể là ai, sự sống còn của người ấy tùy thuộc trên toàn thể cộng đồng nhân loại. Vì sự sống còn và phúc lợi của mỗi cá nhân lệ thuộc vào xã hội, nên nhu cầu nghĩ đến phúc lợi của người khác và quan tâm về nó xuất phát từ bản tính cơ bản của chúng ta. Nếu ta nhìn vào những con khỉ đầu chó, thí dụ thế, con khỉ già hoàn toàn lãnh trách nhiệm cho cả đàn. Trong khi những con khác đang ăn thì con khỉ đực già luôn luôn canh chừng ở bên cạnh chúng. Con thú mạnh hơn sẽ chăm sóc cả đàn vì lợi ích của xã hội loài thú. Trong thời tiền sử, con người chúng ta không có nền giáo dục hay kỹ thuật. Căn bản xã hội con người còn đơn giản: tất cả mọi người cùng lao động và chia sẻ với nhau. Những người cộng sản nói đây là chủ nghĩa cộng sản nguyên thủy: mọi người cùng làm việc và hưởng thụ với nhau. Rồi cuối cùng, nền giáo dục phát triển và chúng ta có một nền văn mình. Tâm thức (con người) trở nên phức tạp hơn và vì thế, lòng tham tăng trưởng. Điều đó dẫn đến lòng ganh tỵ và thù hận, rồi dần dần, chúng lớn mạnh hơn. Ngày nay, trong thế kỷ hai mươi mốt, có quá nhiều sự thay đổi đã xảy ra (trong xã hội loài người). Sự khác biệt giữa chúng ta đã phát triển – (những sự khác biệt về) học vấn, nghề nghiệp và bối cảnh xã hội. Thậm chí có sự khác biệt về tuổi tác và chủng tộc – nhưng tất cả những điều này không quan trọng. Ở mức độ cơ bản, chúng ta vẫn là con người và tất cả đều giống nhau. Đây là mức độ của hàng trăm nghìn năm trước. Thái độ của trẻ thơ là như thế. Chúng không quan tâm về bối cảnh xã hội, tôn giáo, chủng tộc, màu da hay sự giàu có của những đứa trẻ khác. Chúng cùng nhau nô đùa; chúng là những người bạn chân thật của nhau, cho đến khi nào chúng còn thân thiện với nhau. Bây giờ cứ cho rằng những người lớn như chúng ta thông minh và phát triển cao độ hơn trẻ con, nhưng chúng ta xét đoán bối cảnh xã hội của nhau. Chúng ta tính toán, “Nếu mình mĩm cười thì mình sẽ được những gì mình muốn không; còn nếu mình nhăn mặt thì mình sẽ mất mát điều gì hay không?” 1.2. chuẩn mực đạo đức là gì? Chuẩn mực đạo đức là một hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng chi phối hành vi đạo đức được chấp nhận bởi xã hội. Chúng là hệ thống các phương pháp, cách thức thực hiện một việc gì đó theo một quy tắc chính thức được chấp nhận rộng rãi và có tác dụng điều chỉnh hành vi xã hội của một cá nhân, nhóm người hay xã hội. Chuẩn mực đạo đức phản ánh những kết quả nghiên cứu về bản chất tự nhiên của đạo đức, luân lý, nhân cách, về sự lựa chọn về mặt đạo đức của con người, về cách thể hiện triết lý đạo đức. Chuẩn mực đạo đức thường được thể hiện thành những quy tắc hay chuẩn mực hành vi của các thành viên một xã hội, nhóm cá nhân, tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp. Khi đó, chuẩn mực đạo đức chính là tiêu chuẩn hành vi đạo đức của tổ chức. Đây là hình thức vận dụng phổ biến nhất của các chuẩn mực đạo đức trong thực tiễn. Chuẩn mực đạo đức thường được những người quản lý các tổ chức, doanh nghiệp vận dụng vào thực tiễn quản lý, không phải bởi nó quan trọng hơn sứ mệnh công ty. Chuẩn mực đạo đức được coi là biện pháp thực hành cần thiết để điều hành một tổ chức trong một xã hội hỗn tạp, nơi mà các khái niệm đạo đức đóng vai trò quan trọng. Chuẩn mực đạo đức khác biệt với các chuẩn mực luân lý (moral code) ở chỗ, chuẩn mực luân lý thường được sử dụng ở phạm vi lớn hơn cho một nền văn hoá, một một tôn giáo hay một xã hội. Chuẩn mực đạo đức là các giá trị, triết lý hành động được chắt lọc từ các chuẩn mực luân lý vận dụng trong những hoàn cảnh nhất định cho một phạm vi hẹp hơn các đối tượng và mối quan hệ. 1.3. đạo đức phật giáo giúp con người hướng thiện: Với triết lý từ bi, hỷ xả, khuyến khích con người hướng thiện, Phật giáo đã đi vào lòng người, có tác dụng hoàn thiện nhân cách đạo đức con người và hướng tới một xã hội bác ái, góp phần tích cực vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế đã chứng minh Phật giáo tích cực tham gia các hoạt động từ thiện như: xây dựng trung tâm nuôi dưỡng những trẻ mồ côi; thành lập viện dưỡng lão, chăm sóc, nuôi dưỡng người già cô đơn không nơi nương tựa, cứu trợ người dân vùng thiên tai, mở lớp tình thương dạy chữ cho các cháu không có điều kiện đến trường, lập phòng khám từ thiện, tổ chức cai nghiện, giúp đỡ những mảnh đời éo le tái hoà nhập cuộc sống… Nói về những điển hình tín đồ, phật tử theo đạo Phật đã làm cho xã hội thì rất rất nhiều. Chính việc làm cụ thể đó kêu gọi và vận động hàng trăm nghìn tấm lòng từ bi của mọi người cùng đoàn kết giúp đỡ những cuộc đời không may mắn. Sức lan toả đạo đức và triết lý Phật giáo một phần chủ yếu là do các tăng ni, phật tử có nhân cách đạo đức trong sạch, thanh tao thực hiện. Chính nhân cách đó đã cảm hoá con người góp phần xây dựng những giá trị đạo đức và lối sống cho con người Việt Nam. Đạo Phật đã tạo dựng cho các tín đồ, Phật tử một niềm tin vào luật nhân quả, vào vô thường, vô ngã… Niềm tin ấy sẽ chi phối ý thức đạo đức của con người, không chỉ ảnh hưởng đối với Phật tử mà còn lan toả và tác động đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Nó tạo ra cho con người một sức mạnh tinh thần để vượt lên cám dỗ vật chất, những trắc trở trong cuộc sống, hướng họ vào một lý tưởng sống tốt đẹp, vị tha. Tình thương và lòng nhân ái có thể giúp con người hạn chế bớt tính ích kỷ, từ bỏ tham, sân, si cốt lõi của những thói xấu, những mâu thuẫn, xung đột và bạo hành trong xã hội. Hành vi đạo đức của những người có tín ngưỡng tôn giáo bị chi phối bởi niềm tin tôn giáo, khiến con người có thái độ thành kính, thực hiện một cách tự giác, nghiêm túc những điều Phật dạy trong đời sống. Hiện nay, ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các thành phố lớn, trong các ngày lễ của Phật giáo, người đi chùa rất đông. Những người đến chùa thuộc đủ mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không chỉ là các cụ già mà còn có đông đảo những thanh thiếu niên, sinh viên, tri thức, những người buôn bán và cả cán bộ, công nhân, viên chức… Đa số người dân hiện nay tuy mức độ khác nhau nhưng đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo(5). 1.4. hạnh phức con người và đạo đức phật giáo: Khi Ngài tuyên bố: "Này các tỷ-kheo, xưa cũng như nay Ta chỉ nói nên sự khổ và diệt khổ" (Trung Bộ I, 140), lời tuyên bố xác nhận Ngài chỉ dạy cho loài người biết đến khổ và sự diệt khổ trong suốt 45 năm qua thuyết pháp của Ngài. Chúng ta được biết trong kinh Chuyển Pháp Luân, bản kinh đầu tiên của Ngài thuyết giảng cho 5 vị trước kia cùng tu khổ hạnh với Ngài. Ngài đã tuyên bố: "Ðây là khổ, đây là khổ cần phải được biết, đây là khổ đã được biết. Ðây là khổ tập, đây là khổ tập cần được đoạn diệt, đây là khổ tập đã được đoạn diệt. Đây là khổ diệt, đây là khổ diệt cần phải chứng ngộ, đây là khổ diệt đã được chứng ngộ. Đây là con đường đưa đến khổ diệt, đây là con đường khổ diệt cần phải hành trì , đây là con đường khổ diệt đã được hành trì. " Không những vậy ngài còn khuyên những đệ tử xuất gia của Ngài: "Này các Tỷ-kheo hãy du hành, vì hạnh phúc của quần sanh, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư thiên và loài người". (Tương Ưng I, 128). Những lời tuyên bố trên của đức Phật nêu rõ hoài bão tha thiết của Ngài là cứu khổ độ sanh, diệt khổ ưu, đem lại hỷ lạc cho tất cả loài hữu tình. Và như vậy chúng ta có thể định nghĩa, đạo đức Phật giáo là một nếp sống đem lại hạnh phúc và an lạc cho mọi loài chúng sinh, đặc biệt là loài người chúng ta. Cần đặc biệt nhấn mạnh đây là một nếp sống, không phải là những lời dạy luân lý hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động. Và nếp sống ấy cần phải đem ra hành trì, thực hiện, không phải để lễ bái cầu xin. Có thực hiện người hành trì mới hưởng được hạnh phúc an lạc, thiết thực hiện tại và ngay trong đời này (sandithiko akàliko), có thể thấy biết được (ehipassiko), không phải là một cảnh giới thiên đường xa xăm tưởng tượng. 1.5. giá trị cuộc sống: Giá trị là cái làm cho một vật trở nên đáng ao ước hay đáng giá. Chữ giá trị nhấn mạnh tới khía cạnh chủ quan và tương đối của sự vật nhiều hơn khía cạnh khách quan và tuyệt đối. Nó không chỉ ra sự tốt lành nội tại của một vật mà đúng hơn cho thấy vật đó được con người đánh giá như thế nào; nó không chỉ sự hoàn hảo nội tại của một vật mà đúng hơn cho thấy chỗ đứng của vật đó trong thứ tự các sự vật, quen gọi là thang giá trị. Từ ngữ “giá trị” được các nền triết học luân lý chủ quan và tương đối thích dùng hơn chữ “tốt”. Các Kitô hữu cũng có thể sử dụng từ ngữ ấy, miễn là trong từ đó phải hàm chứa khái niệm về một tiêu chuẩn khách quan. Từ đây, chúng ta có thể suy ra, giá trị đạo đức là những phẩm chất làm cho con người tốt đẹp, sống có ý nghĩa. Giới trẻ là tương lai của Giáo Hội và của nhân loại. Đó là câu khẳng định nhiều người đã biết. Nhưng đối diện với thực tế thì ai cũng thấy lo lắng cho tương lai ấy. Liệu nó có tốt đẹp như người ta tưởng không? Còn cứ như thực tế hiện nay thì nhân loại sẽ đi tới đâu, khi giới trẻ sống thực dụng chỉ chạy theo những giá trị vật chất, còn giá trị tinh thần(6) thì hơi sức đâu nữa mà tìm kiếm. Họ hình như không có những vấn nạn hiện sinh: Tại sao tôi ra đời, tôi ra đời để làm gì, đâu là giá trị của cuộc sống… Họ đang sống thiếu lý tưởng, thiếu tương lai. 1.6. chánh niệm và đạo đức: Sự phát triển của thiền định một phần nào nhờ vào những nghiên cứu khoa học dẫn chứng những hiệu qủa của thiền định trên sức khỏe, bao gồm những tác dụng dương tính của thiền trên chức năng của bộ não Từ kết qủa của những nghiên cứu này, các chuyên viên y tế càng khuyến khích bệnh nhân nên tìm đến thiền định hầu giúp vượt qua những chướng ngại do các bệnh trạng của thân và tâm. Những khóa học về chánh niệm xuất phát từ truyền thống Phật giáo nhưng lại hoàn toàn biến thành phương pháp trị liệu thực tiễn trong dân gian(7). Trước hết, có nhiều nghiên cứu khoa học về bộ não, chú trọng vào những xúc cảm như hạnh phúc và tình thương; đặc biệt người ta bắt đầu tìm đến với khoa học hay các khoa học gia, thay vì đến các tôn giáo, để tư vấn ý nghĩa dẫn đến một đời sống hạnh phúc và tình thương. Thứ đến là quan sát về ý niệm bản ngã và những đường hướng mà thiền định có thể làm thay đổi quan niệm đạo đức của con người. 2. TINH THẦN XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG CHO NGƯỜI TẠI GIA: Ðức Phật xây dựng đời sống xuất gia là như vậy, còn đối với đời sống của người tại gia còn nhiều ràng buộc gia đình thì đức Phật xây dựng như thế nào? Ðể trả lời câu hỏi này, chúng ta chỉ cần rút ra nguyên tắc đầu tiên là biết tàm quí trong bảy nguyên tắc trên đã làm tôn chỉ cho người tại gia thực hiện. Nguyên tắc này khá quan trọng trong việc xây dựng một xã hội lành mạnh, sống có đạo đức. Theo đức Phật, nguồn gốc sâu xa của mọi tệ nạn xã hội là con người đã đánh mất đức tính tàm quí, tức là không còn biết hổ thẹn đối với hành vi sai lầm của mình. Như vậy, khi con người không còn biết hổ thẹn thì người ấy có thể làm bất cứ điều ác nào. Hình ảnh đức Phật dạy tôn giả La Hầu La, khi Tôn giả vừa 7 tuổi, tạ tại rừng Am-ba-la (rừng xoài) thật cảm động. Ngài khuyên La Hầu La khi làm một thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiập nào, nếu thân, khẩu, ý nghiệp ấy đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai thì thân nghiệp ấy, khẩu nghiệp ấy, ý nghiệp ấy là bất thiện. La Hầu La chớ nên làm, nếu đã lỡ làm thì phải biết hổ thẹn, sám hối đối với nghiệp ấy. Ngài còn thận trọng hơn nữa, khuyên La Hầu La không nên nói láo, dù nói để mà chơi. Ðức Phật quả là nhà giáo dục vĩ đại, không những Ngài chỉ khuyên dạy những người ở lứa tuổi trưởng thành có sự hiểu biết, mà Ngài còn quan tâm chăm sóc đến tuổi trẻ, giáo dục và xây dựng chúng khi còn tuổi ấu thơ. Ngài quan niệm rằng, tâm hồn của tuổi ấu thơ giống như tờ giấy trắng, nếu như tờ giấy ấy dư, được nhà họa sĩ tài hoa vẽ lên ấy những bông hoa tươi đẹp, thì nó sẽ tô điểm cho cuộc đời thêm sắc. Ngược lại, tờ giấy ấy nếu kẻ bất tài vô dụng bôi lên đó những vết mực đen vô nghĩa thì nó trở thành cái vô dụng và làm xấu xã hội. Ðức tính hổ thẹn rất cần thiết cho những ai muốn trở thành con người tốt, con người có đời sống lành mạnh có đạo đức, nó là nền mống cơ bản để xây dựng một xã hội lành mạnh. Thiết nghĩ, những tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tuổi trẻ tiến sâu vào con đường sa đọa, vì con người đã đánh mất đức tính hổ thẹn hay xem thường đức tính này. Ðó là nguồn gốc sâu xa xuất hiện mọi tệ nạn xã hội. Là con người không làm sao tránh khỏi những sai lầm, nhưng cái quan trọng, khi chúng ta phạm phải sai lầm, chúng ta có biết phục thiện hay không, chúng ta có biết hổ thẹn và sửa đổi những sai lầm ấy không. Thái độ phục thiện hay không phục thiện để phân biệt giữa người ngu và kẻ trí, giữa người thiện và người bất thiện, giữa người làm tồi bại xã hội và người xây dựng xã hội. 2.1. vai trò đạo đức trong cuộc sống: Giả như con người không có nền đạo đức nào làm chuẩn mực để hướng dẫn những hành vi của mình thì con người cũng giống như bao nhiêu sinh vật khác vậy, không hơn không kém. Con người khác với con vật là ở chỗ, con người có tình yêu thương được thể hiện trong quan hệ giữa người với người. Những tiêu chuẩn hướng dẫn hành vi giúp con người sống đúng với hữu thể có lý trí và linh hồn. Một xã hội mà trong đó con người không tôn trọng nhau, nghĩa là không được xây dựng trên những giá trị đạo đức thì xã hội ấy không còn là xã hội đúng như tên gọi của nó nữa. Một xã hội trong đó mọi người tôn trọng nhau, cư xử với nhau có trên có dưới thì xã hội đó mới thực là xã hội của con người. “Đạo đức là cốt ở sống hợp với bản tính của con người. Các triết gia không đồng ý với nhau, khi cần phải định bản tính của con người là gì, điều này tuỳ thuộc vào quan niệm siêu hình của từng môn phái; nhưng tất cả đều đồng ý mà quả quyết rằng đời sống đạo đức là cốt ở sự thực hiện cứu cánh của con người đúng theo chân bản tính của nó. Như thế, đạo đức không phải là gò ép con người và làm cho nó suy giảm, trái lại, đạo đức là làm nảy nở tất cả những gì có giá trị nơi con người. Vậy đạo đức rất là quan hệ; không có đạo đức, người ta có thể làm một kỹ sư hay một thương gia tài giỏi, nhưng không có đạo đức thì không thể trở nên một con người hoàn hảo và không thể phát triển tất cả những gì cao quý tốt đẹp của bản thân chúng ta”. 2.2. tính xã hội và nhân bản của đạo đức phật giáo: Nếp sống đạo đức Phật giáo không thể thực hiện với những người sống một mình trong rừng sâu, xa lánh xã hội và mọi người. Tuy rằng, có không ít người do chưa thấu hiểu đạo Phật, cho rằng đạo Phật chủ trương một cuộc sống tách rời xã hội và thế giới hiện thực. Nếu nghiên cứu với thái độ không thành kiến các giới luật mà Đức Phật chế định cho hàng tại gia cũng như xuất gia, dưới ánh sáng của kinh điển Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Đại thừa, chúng ta thấy rất rõ tính xã hội, tính nhân bản thể hiện đầy đủ trong những giới luật đó. Ngoài tình thương, sự thông cảm với nỗi khổ đau và bất hạnh của tất cả chúng sanh, của mọi người, người Phật tử còn trau dồi lòng hỷ xả tức là thái độ sẵn sàng chia sẻ niềm vui với tất cả mọi chúng sanh, mọi người, và nhất là tâm buông xả không chấp thủ, không vướng mắc bất cứ điều gì. Cho nên dù hình thức bố thí là thế nào, là bố thí của cải, hay bố thí pháp (pháp thí), người Phật tử chỉ có một động cơ mà thôi thúc tức là lòng từ bi hỷ xả như đã nói. Một yếu tố nữa thúc đẩy người Phật tử thực hiện hạnh bố thí không mệt mỏi là trí tuệ. Với con mắt trí tuệ, người Phật tử không thấy sự khác biệt giữa mình và mọi người, mọi chúng sanh. Đó là quan điểm vô ngã, là tinh túy của đạo đức và triết lý Phật giáo. Chủ thuyết vô ngã hướng dẫn mọi hành vi ứng xử của người Phật tử, xuất gia hay tại gia. 2.3. sống đạo đức là trách nhiệm của chúng ta: Trước hết, đạo đức là vấn đề lớn và cần được hiểu là vấn đề chung, đòi hỏi sự quan tâm thực hành của mọi người như là giải pháp mang lại hạnh phúc cho tự thân, gia đình và xã hội. Tất nhiên, đạo đức không phải tự nhiên mà có, cũng như hạnh phúc không phải tự dưng mà có nếu không được nuôi dưỡng. Đạo đức cũng không ở trong từ ngữ hoa mỹ được định nghĩa thế này hay thế khác như món trang sức cho trí tưởng tượng. Đạo đức là một nếp sống và là nếp sống thiện, bỏ ác làm lành, được thể hiện qua các thái độ sống, cung cách ứng xử và tiếp xúc hằng ngày của con người, từ đấy hạnh phúc được biểu lộ. Do đó, đạo đức có thể được xem là đồng nghĩa với hạnh phúc và cần được nuôi dưỡng như chính hạnh phúc vậy. Quả thực, người biết nuôi dưỡng đạo đức là người biết nắm bắt hạnh phúc vậy. Hơn thế, đạo đức còn là trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với tự thân cũng như đối với gia đình và xã hội, vì lẽ, đạo đức là hạnh phúc và việc xây dựng hạnh phúc cho tự thân, gia đình và xã hội là trách nhiệm của mỗi người sống nếp sống đạo đức, tức là người có trách nhiệm cao trong các mối quan hệ với gia đình và xã hội. Thiếu mất tinh thần trách nhiệm này, nghĩa là nếp sống thiếu đạo đức, thì chẳng những tự thân người có chịu bất hạnh, mà ngay cả gia đình và xã hội người ấy đang sống cũng chịu thiệt thòi, chịu bất hạnh do cuộc sống của vị ấy gây ra. Tục ngữ Việt Nam ta nói câu: "Một con sâu làm rầu nồi canh" hẳn đã nói lên được ý nghĩ này. 2.4. đạo phật và nền trật tự đạo đức: Trước hết, chúng ta đã ý thức được tầm cỡ có tính cách toàn cầu của một số vấn đề bức xúc đang đối mặt với chúng ta. Như vậy, chúng ta sẽ biết được làm thế nào để huy động trí tuệ và sức mạnh của nhân dân thế giới để giải quyết một cách tốt đẹp những vấn đề đó. Thí dụ các vấn đề chiến tranh và hòa bình, vấn đề xây dựng một nền trật tự kinh tế mới, một nền trật tự đạo đức mới cho thế giới, vấn đề bảo vệ môi trường của chúng ta. Tầm cỡ của những vấn đề này vượt qua biên giới các quốc gia các dân tộc, vượt ngoài tầm tay của các người chuyên môn, của các người có quyền lực. Một vấn đề như chiến tranh và hòa bình, quan hệ đến sự sống còn của nhân loại không thể giao phó cho một số nhà quân sự và nhà chính trị. Đó là lý do giải thích tại sao các phong trào hòa bình thế giới đã và đang lôi cuốn vào hàng ngũ của mình một số rất đông các tầng lớp dân chúng. Gần hết các nước trên thế giới, tất cả các lục địa, dân tộc tuổi tác, nghề nghiệp, xu hướng chính trị và các hệ phái tôn giáo đã và đang tham gia vào các phong trào ấy. Chỉ có một lực lượng bảo vệ hòa bình, hùng hậu và năng động như thế, mới có sức mạnh để chặn đứng sự nguy hiểm của một cuộc chiến tranh hạt nhân, chiến đấu chống lại những thế lực hiếu chiến nguy hiểm, và bảo đảm sự chiến thắng của hòa bình và tiến bộ. Chỉ có một cái nhìn toàn cầu đối với vấn đề chiến tranh và hòa bình mới có thể đem lại cho các phong trào hòa bình thế giới một thắng lợi lịch sử như vậy. Hiểm họa của một chiến tranh toàn cầu(8) đã huy động được nhân dân thế giới chống lại sự hiện hữu của chiến tranh. Những năm cuối của thế kỷ XX đã và đang chứng kiến những bước đi lịch sử, tiến tới một kỷ nguyên không có vũ khí hạt nhân và không có vũ khí hóa học. Nhưng chúng ta không được buông lơi cảnh giác. Dầu cho hiểm họa của một chiến tranh hạt nhân được chận đứng lại, nhưng các chiến tranh cục bộ với tất cả sự biểu hiện tàn khốc và phi nhân vẫn còn tồn tại. Bạo lực chánh trị và quân sự vẫn diễn ra giữa một số quốc gia, giữa nhân dân sắc tộc khác nhau, cho đến giữa những dân tộc cùng tôn thờ lý tưởng giống nhau, cùng một ý thức hệ chính trị như nhau. Trong những năm gần đây, sự quan hệ giữa các quốc gia đã có một sự thay đổi lớn theo chiều hướng tốt đẹp. Chung sống hòa bình thông cảm lẫn nhau, đối thoại hơn là đối đầu, thị trường thay vì chiến trường. Còn trong tình hình chính trị, nội bộ của nhiều nước cũng có xu hướng tốt đẹp mở rộng dân chủ, tránh áp đặt và áp lực trong lãnh vực văn hóa và tư tưởng, coi trọng và thông cảm đối với những tư tưởng dị biệt. Chúng tôi tha thiết hy vọng rằng tiến trình dân chủ hóa và nhân bản hóa chính trị trong mối quan hệ giữa các nước, cũng như trong tình hình nội bộ mỗi nước, sẽ được tăng cường và đi sâu hơn nữa từ nay cho đến năm 2000. Như vậy, chúng ta chuẩn bị cho một kỷ nguyên thật sự hòa bình, hòa bình cho toàn thể hành tinh, không phải chỉ cho một số khu vực, hòa bình cho toàn thể loài người, không phải chỉ cho dân chúng sống trong một vài địa danh. Mọi hình thức chiến tranh, không phải chỉ chiến tranh hạt nhân, cần phải loại bỏ. Tất cả mọi biểu hiện bạo lực cần phải bị diệt trừ một cách vĩnh viễn. Chúng ta thấy, và đây là một bài học thứ hai của chúng ta, mọi vấn đề bức xúc và nguy kịch có tánh cách toàn cầu cần phải giải quyết với cái nhìn toàn cầu và với lực lượng toàn cầu, và cần phải giải quyết một cách sâu sắc, triệt để từ bên trong nội tâm của mọi người, và chính ở đây, đạo Phật với môn tâm lý học nội quán và nội tâm đặc sắc của mình, có thể có phần đóng góp. Trước tiên, đạo Phật hoan nghênh mọi phong trào hòa bình và động viên mọi Phật tử tích cực tham gia vào các phong trào đó. Vì bảo vệ hòa bình tức là bảo vệ sự sống, là thực hiện giới sát sanh, giới cấm hàng đầu của đạo đức Phật giáo. Đạo Phật nhất định chống lại mọi chiến tranh xâm lược, vì chiến tranh xâm lược bao giờ cũng kèm theo tước đoạt đất đai và tài sản, xâm phạm vào công việc nội bộ của nước khác và dân tộc khác. Đây là phạm vào hai giới cấm(9) quan trọng của đạo đức Phật giáo: Cấm lấy của không cho và cấm những hành động bất thiện. Đạo Phật phủ nhận mọi hành động và mọi biểu hiện bạo lực, dưới bất cứ lý do nào, trừ trường hợp tự vệ chính đáng. 2.5. tinh thần bất bạo động từ, bi, hỷ, xã, nhứt là đạo đức: Từ bi là động lực chính đã thúc đẩy đức Phật đi tìm đạo giải thoát để cứu độ chúng sinh. Đức Phật không thể ngồi yên nhìn sự đau khổ hoành hành trong đời sống. Nghị lực, sức chịu đựng dẻo dai bền chặt của đức Phật trong khi vượt bao gian lao, khổ cực để tìm đạo cũng chính vì tình thương lớn lao đối với chúng sinh vậy. “Người tu hành bồ tát phải lấy từ bi làm gốc. Cây bồ đề lớn mạnh nhờ bám sâu gốc rễ trong đất. Kẻ tu hành lấy từ bi lợi lạc hữu tình làm lẽ sống”. Giáo lý của đức Phật tuy nhiều kể không xiết, tựu trung đều nhắm đến ba điểm chính: Bi – Trí – Dũng. Mở rộng tình thương, mở rộng trí tuệ, mở rộng nghị lực, mở rộng cho đến khi nào không còn thấy có biên giới nữa là thành Phật. Đức Phật chủ trương thuyết vô ngã, quyết đập tan cái ta giả dối, cũng chính để chúng ta nhận rõ mình với người là một, ta với không phải ta vẫn như nhau, để chúng ta đừng nhận thấy ta là của riêng ta, chỉ thương ta và ghét người không thương ta. Như thế, thuyết vô ngã, tu hạnh vô ngã là những phương tiện để thực hiện tình thương rộng lớn vô biên, là từ, bi, hỷ, xã. Chính đức Phật đã nói: “Ta nguyện đem thân ta chịu hết hằng hà sa số đau khổ của chúng sanh. Vì ta nguyện tế độ cho chúng sanh, nên ta mới nguyện thành Phật”. Rõ ràng muốn thành Phật để cứu độ chúng sanh, chứ không phải cứu độ chúng sanh để thành Phật. Vì chứa chấp tình thương bao la thế nên Phật đã có những lời dạy đệ tử có thể làm phương châm cho người đời. “Không nên lấy oán báo oán, chỉ nên lấy ân báo oán”. “Trong thế gian này chẳng phải lấy oán trừ được oán, chỉ lấy nhẫn mới trừ được oán”. Lại nữa, đức Phật dạy chư đệ tử thực hiện pháp lục hòa trong đời sống hàng ngày, trong các mối quan hệ hổ tương của cuộc sống. Khi một mình vân du hóa đạo phương xa, phải tôn trọng tín ngưỡng của các tôn giáo khác cũng như các phong tục tập quán của mỗi một dân tộc hay bất cứ một địa phương nào, một xứ sở nào. Ngài đề cao và tôn trọng mọi tôn giáo, cũng như các hệ tư tưởng lấy lợi lạc chúng sinh làm cứu cánh, lấy hạnh phúc chúng sanh làm mục đích. Niết bàn của Phật giáo được định nghĩa như là lợi lạc cứu cánh, hạnh phúc cứu cánh. Đạo Phật lại nhấn mạnh, hạnh phúc cứu cánh phải đạt tới bằng tâm từ, bi, hỷ, xã. Tính chất từ, bi, hỷ, xã lại đồng nghĩa với bất bạo động, hòa bình. Nếu Niết-bàn là hạnh phúc cứu cánh của người tu hành theo đạo Phật thì lòng từ bi, từ mẫn, hỷ xã, hòa bình bất bạo động là con đường, phương tiện, dẫn đến mục tiêu đó. Hạnh phúc an lạc không phân biệt ranh giới, màu da, dân tộc, đất nước đối với bất cứ ai, vì vậy mà đạo Phật mang sứ mạng đoàn kết hòa hợp giữa mọi dân tộc trên thế giới. 2.6. phật giáo với việc xây đựng đạo đức và lối sống: Có thể nói sự xuống cấp về đạo đức đang trở thành một vấn nạn của toàn xã hội. Trước yêu cầu phát triển của đất nước, sự cần thiết phải xây dựng một nền tảng đạo đức mới cho xã hội trên cơ sở kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống đã được đặt ra. Là một trong những thành tố tạo nên nền văn hoá dân tộc trong suốt hàng nghìn năm, Phật giáo ngày nay vẫn lưu giữ những giá trị tích cực có thể góp phần xây dựng đạo đức lối sống cho con người Việt Nam. Tính hướng thiện của Phật giáo là một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo; tư tưởng bình đẳng, hoà bình của Phật giáo phù hợp với xu hướng hoà đồng liên kết giữa các dân tộc trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay; lòng từ bi, bác ái góp phần cứu giúp người hoạn nạn, giữ vững tinh thần là lành đùm lá rách của dân tộc, triết lý vô thường, vô ngã giúp con người giảm bớt cái tôi vị kỷ…. Những giá trị tích cực đó của Phật giáo càng được nhân lên với những hành động cụ thể, như kẻ đói được cho ăn, kẻ rách được cho mặc, người ốm đau bệnh tật được chăm sóc,…. Giáo lý nhà Phật khuyên con người luôn nhớ đến “đạo hiếu”, lấy chữ hiếu làm đầu: “hạnh hiếu là hạnh Phật, tâm hiếu là tâm Phật”, “muôn việc ở thế gian không gì hơn công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ”. Thêm vào đó, những không gian chùa chiền của Phật giáo luôn thu hút con người tìm về chốn tĩnh tâm, nơi chiêm nghiệm và cảm nhận…. Tất cả những điều đó là những giá trị tích cực, thiết thực góp phần giáo háo con người, giúp cho thế hệ trẻ vững bước trước những cám dỗ của cuộc đời, khích lệ họ quan tâm đến số phận của cộng đồng, sống lương thiện, coi trọng tính nhân bản, coi trọng thiên nhiên…. Bên cạnh đó, lối sống Phật giáo nêu cao tinh thần “cư trần lạc đạo” đã góp phần xây dựng lối sống có trách nhiệm với một ý thức không tham quyền cố vị, không bám lấy lợi ích vật chất, sống thanh cao tự tại. Bởi theo định nghĩa của đức Phật, tham và sân là hai năng lực tiêu cực mạnh mẽ nhất trong tâm thức của con người, chúng che khuất tầm nhìn và làm nhiễu loạn sự phán đoán của ta, cho nên, cũng theo Ngài, diệt trừ được tâm sân, đích thực là một thành tựu to lớn nhất của con người. Như thế Phật giáo đã góp những gái trị văn hoá tích cực vào việc xây dựng đạo đức lối sống cho con người, nhất là cho tầng lớp trẻ hiện nay. 3. ĐẠO ĐỨC NGƯỜI XUẤT GIA: Ngày nay, người xuất gia có chút ít tri thức, thì đã vội vàng tập tành học cách chú giải, khảo cứu, biên chép… chẳng khác nào những thư sinh nhà Nho chuyên làm con mọt sách. Người có tri thức trình độ hơn chút nữa, thì tầm chương trích cú những lời dạy của cổ nhân, vay mượn một cách máy móc, biên chép lại thành sách rồi cho là của mình; nắm bắt những thứ cặn bả, vụn vặt như ngói gạch phế thải... của chư vị Tổ sư đã bỏ đi, vậy mà cứ cho là của mình sáng tác; thật đúng là làm trò thả hình bắt bóng, chẳng được gì cả, ngược lại còn làm trò cười cho kẻ trí! Những hạng người này, giảng kinh thuyết pháp nghe hùng hồn lắm, mỗi chữ mỗi câu đều phảng phất như lời chư Phật, chư Tổ, rất cao minh, nhưng khảo sát lại hành vi của họ thì chẳng khác nào những kẻ phàm phu tục tử. Thời kỳ mạt pháp, những hạng người bại hoại như vậy thật nhiều lắm! Từ bỏ mọi sự nhiễm ô của thế tục, gọi là xuất gia. Xuất gia, điều đầu tiên phải nói đến là sự thanh cao và giản dị, cho nên, thiện hạnh thứ nhất mà người tu phải noi theo học tập là Thanh tố. Nhưng thanh cao mà không nghiêm chính thì chỉ là cái thói làm cao của kẻ cuồng sĩ. Người học Phật nhất định phải thâu nhiếp ba nghiệp thân, khẩu, ý cho thanh tịnh thì mới có cơ hội thành tựu đạo nghiệp, cho nên điều thiện hạnh thứ hai phải học là Nghiêm chính. Hành vi nghiêm chính cần phải nương nhờ thầy chỉ dạy, mới tránh khỏi sai lầm. Người thầy là bậc mô phạm, nuôi dạy ta thành người, cho nên điều thiện hạnh thứ ba là phải Tôn sư. Có cha mẹ sanh ta, nuôi ta lớn khôn, sau mới có thể tiếp nhận sự giáo dục của thầy, quên mất công ơn cha mẹ là bất hiếu, vong bản. Vả lại, giới hạnh luật nghi tuy rất nhiều, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là hiếu hạnh, cho nên, thiện hạnh thứ tư là Hiếu thân. Kẻ trung thần xuất thân từ người con hiếu. Đạo lý trung hiếu(10) phải vẹn toàn, chỉ biết có tình thân, không biết có ân quân chủ, quốc gia thì đó là hành vi của người tự tư tự lợi. Trong sách có ghi: “một người có phước, vạn dân đều nhờ”, là ý nói khi có một bậc quân chủ đức độ nhiếp chính thì quốc thới dân an, chúng ta nhờ vậy mà có thể được xuất gia, tự do đi lại khắp núi rừng sông suối để ẩn cư tu tập. Ân quốc gia cũng thật lớn thay! Cho nên, điều thiện hạnh thứ năm là phải trung thành với đất nước, Trung quân. Nhưng nếu chỉ biết đến đạo lý trung quân, tức là chỉ giao tiếp qua lại với các cấp chính quyền lãnh đạo, mà không quan tâm đến nhân dân, những người tín chủ đã ủng hộ mình tu tập thì cũng không tròn đạo lý. 3.1. nguồn gốc đạo đức phật giáo: Đạo đức Phật giáo dựa căn bản trên Giới-Định-Tuệ và được soi sáng bởi lý duyên khới, tứ đế, nhân quả-Luân hồi và vô ngã... trong bài phát biểu này tôi chỉ nêu lên nguồn gốc và mục đích của Giới nhằm giải đáp phần nào thắc mắc của các Phật tử, các nhà nghiên cứu khi đề cập đến vấn đề Giới luật của đạo Phật. Người ta thường hỏi có phải đạo đức Phật giáo là một thứ đạo đức duy tâm và mục đích của nó là xây dựng hạnh phúc cho thế giới bên kia? Câu hỏi thứ 2: Giới luật của đạo Phật phải chăng là những giáo điều ràng buộc và hăm dọa tín đồ rằng ai phạm giới sẽ đọa địa ngục? Những vấn đề này cần phải được giải đáp, có thể chúng ta mới thấy được chân giá trị đích thực của nên đạo đức Phật giáo. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni(11) sau khi thành đạo dưới cội Bồ Đề, đã quyết định trở về với xã hội và cuộc sống của con người bình thường. Mục đích giáo hóa của Đức Phật nhằm đem lại sự an lạc, hạnh phúc cho con ngờưi. Những gì đức Phật giảng dạy đều bắt nguồn từ cuộc sống, từ hoàn cảnh và con người c ụ thể. Cũng vậy đức Phật chế ra giới luật nhằm xây dựng một nền đạo đức làm nền tảng cho sự thăng tiến tâm linh và hạnh phúc cho nhân loại. Tại vườn Lộc Uyển, đức Phật chuyển bánh xe pháp luân lần đầu tiên trên thế gian này. Sau bài thuyết pháp ấy, 5 vị Sa môn nhóm Tôn giả Kiều Trần Như là những người bạn cũ của Ngài từ bỏ con đường tu khổ hạnh ép xác, cả 5 vị xin qui y và sau đó đều đắc quả A La Hán là quả vị tối thượng trong hành đệ tử Phật. Đó là 5 vị đệ tử đầu tiên xuất gia của Phật và cũng là giáo đoàn Tăng già Phật giáo đầu tiên, cơ sở cho giáo hội sau này. Từ đó, bất cứ ở đâu đức Phật đặt chân đến đều để lại dấu ấn của từ bi và trí tuệ. với nhân cách siêu việt và lòng từ vô lượng, Ngài đã thu phuc#273;ược lòng người. Do đó, đệ tử của Ngài (xuất gia cũng như tại gia) mỗi ngày mỗi đông. Vào năm thứ 3 sau ngày đức Phật thành đạo, Vua Bimbisàra nước Ma Kiệt Đà sau khi quy y đã dâng cúng Phật rừng Trúc Lâm. Trong đó nhà vua cho xây cất đầy đủ tiện nghi để dùng làm tịnh xá. Có thể nói đây là trú xứ đầu tiên, mở đầu một giai đoạn mới, một manh nha của việc cư trú có tính cách định cư, khác với lối sống lang thanh của các đoàn Sa môn lúc bấy giờ. Trong mùa an cư này, cả 1000 cị tỷ kheo cùng chung sống tại Trúc Lâm là một đặc điểm khác biệt đối với các đoàn Sa môn khác thời bấy giờ. Có lẽ do sự chung giữa các Tỳ kheo, một ít giới luật có tính các nhẹ nhàng với hình thức "điều nên làm và điều không nên làm" được đức Phật nêu ra. Qua kinh nghiệm cuộc sống và sự chúng nghiệm tâm linh trên cuộc hành trình tìm kiếm hạnh phúc, dựa vào hoàn cảnh, căn tánh và mục đích hướng đến cuộc sống khác nhau của chúng sanh, đức Phật đã thi thiết ra nhiều cấp độ, chuẩn mực đạo đức: Đối với hàng Xuất gia có 250 giới của Tỳ kheo, 348 giới của Tỳ kheo ni; đối với hàng tại gia có 5 giới và 10 thiện giới, đồng thời có 58 giới Bồ tát cho cả Xuất gia và tại gia Bồ tát. Sự thật hiển nhiên, Giới luật của đạo Phật không phải là những giáo điều được mặc khải bởi thần linh hay một đáng siêu nhiên nào; nó cũng không phải là những điều do đức Phật tự ý đặt ra để răn đe hay ràng buộc tín đồ. Vì lòng từ bi, vì hạnh phúc cho chúng sanh đức Phật chế ra giới luật, mỗi giới luật được chế ra, đức phật dều dựa vào 3 điều kiện thực tế và khách quan nhất đó là: Thời-Xứ-Vị, tức là những qui luật phép tắc do Phật chế định đều là những qui định được đề ra sau khi các sự kiện đã phát sinh. Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta hãy lấy một ví dụ, như giới"Tam y" chẳng hạn, tức theo luật mỗi Tỳ kheo phải có đủ 3 tấm áo: Thượng-Trung-Hạ. Nguyên nhân đức Phật chế ra 3 y là vì ngày xưa Ngài du hành từ Phệ Xá Ly đến Bạt Da La Tháp, nữa đường gặp thời tiết giá buốt, vào ban đêm Ngài phải mặc 3 tấm áo mới đủ ấm, do kinh nghiệm ấy mà Phật chế giới Tam y. Qua đó cho ta thấy mỗi giới luật đức Phật chế ra đều dựa trên sự kiện thực tế của cuộc sống. Ngài không tự nhiên đặt ra nhiều giới luật bắt chúng ta hành trì, chính là do hạnh nghiệp hữu lậu của chúng sanh mà đức Phật chế ra giới luật nhằm ngăn ngừa các ác bất thiện pháp, giúp hành giả được thanh tịnh, làm nền tảng cho sự phát triển tâm linh thẳng đến niềm hạnnh phúc an vui tịch tịnh. Lý do đức Phật chế giới được Ngài nêu trước các vị đệ tử xuất gia sau khi có sự việc trưởng lão Tu Đề Na( Sudina) vi phạm trường hợp mà đức Phật dạy là rất trầm trọng. Mười lý do này đức Phật nhắc lại trong Tăng Chi bộ kinh (Anguttara Ni kàya) và khi đức Phật trả lời trưởng lão Upalì về mục đích truyền dạy giới bổn (patimokkha) : 1/ Để Tăng già được mỹ mãn. 2/ Để Tăng già được an lạc. 3/ Để chế ngự các Tỳ kheo khó chế ngự. 4/ Để chúng Tỳ kheo được an ổn hòa thuận 5/ Để chế ngự các lậu hoặc trong hiện tại. 6/ Để ngăng ngừa các lậu hoặc đời sau 7/ Để tạo tin tưởng cho những người ít tin tưởng 8/ Để tăng đức tin cho những ngườii có lòng tin 9/ Để Chánh pháp được vững bền 10/ Để phù trợ cho luật. 3.2. nghĩ về đạo đức phật giáo: "Đạo đức Phật giáo - với những giới luật (nguyên tắc trong cuộc sống cao đẹp) mang tính chất quy luật đặc thù (thập nhị nhân duyên, biến chuyển theo vòng lưu chuyển và hoàn diệt), trong thực tế vẫn nằm trong Định luật chung (lý duyên khởi) - trong cùng hệ thống cơ cấu xây dựng trên nền tảng lý luận của một phương pháp luận đúng đắn, liên kết nhiều mặt quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy, hợp nhất thành một nguồn trí tuệ sáng suốt, hướng dẫn con người trong mọi hoạt động nhận thức một cách tốt nhất những vấn đề cần thiết trong cuộc sống..." Một bộ phận khá rộng rãi dư luận xã hội thường nhìn giáo lý nhà Phật như một hệ thống tín ngưỡng tôn giáo đặt niềm tin vào một lẽ sống đạo đức (luân lý) có tính nhân bản chung chung. Nhưng đứng trước kho tàng tư tưởng Phật học mênh mông hết sức phong phú và thâm sâu còn chứa đựng nhiều tiềm ẩn, các nhà tu hành và bác học uyên thâm trên thế giới đã đưa ra nhiều cách luận giải rất khác nhau: Có khuynh hướng chấp nhận cho đây chỉ đơn thuần là một hệ thống tín ngưỡng tôn giáo, có khuynh hướng nặng nề ý nghĩa luân lý (đạo đức) và cũng có khuynh hướng đặt nặng về khía cạnh triết lý... Riêng trong giới Phật giáo, cũng có nhiều cách nhìn khác nhau. Không ít những nhà tu hành thuần thành cho rằng tìm hiểu thực chất của giáo lý nhà Phật không phải là vấn đề quan trong. 3.3. tiêu chuẩn đạo đức phật giáo: Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, có khả năng duy trì kỷ cương quốc gia, khiến quốc gia không rối loạn, bảo vệ an toàn cho đời sống nhân dân, xã hội. Lễ giáo mà Trung Quốc xưa kia lập ra, gọi là “tứ duy bát đức”, nhân luân “ngũ thường”, đều là kỳ vọng xây dựng nên một quốc gia thái bình thịnh thế “trung thứ nhân nghĩa” và phép tắc trật tự. Với Phật giáo, toàn bộ nội dung tư tưởng Phật dạy là lấy con người làm gốc, gắn bó mật thiết với đời sống nhân quần xã hội, như Phật đà từng hướng dẫn phép trị nước cho các vị vua Tần-bà-sa-la, Ba-tư-nặc, A-xà-thế…, đó là “đạo đức chính trị”; Ngài giảng dạy và truyền thụ những nguyên tắc sống chung trong cùng một gia đình cho Thiện Sinh Tử, Ngọc Da Nữ, chính là “đạo đức gia đình”; Phật đà từng dùng thi kệ khuyên dạy cách tiêu xài đồng tiền, đại để nói rằng: vốn liếng, của cải kiếm được của mình nên chia làm bốn phần, một phần gọi là phí dụng hàng ngày trong gia đình, một phần dự trữ để dự phòng nhỡ có xảy ra bất trắc gì, một phần giúp đỡ bà con quyến thuộc hay những thân hữu, một phần bố thí vun đắp phúc đức”, chỉ dẫn người đời sử dụng đồng tiền đúng đắn, chính là “đạo đức của cải”. Chuẩn mực đạo đức Phật giáo, bao hàm các quy phạm luân lý của thế gian, cả đến tu hành thánh hiền xuất thế gian. 3.4. tinh thần xây dựng đời sống đạo đức cho người xuất gia: Trong hầu hết các kinh tạng Pàli, thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Ðại thừa, đức Phật luôn luôn khuyên các vị đệ tử của Ngài hãy sống trong tinh thần giới luật, lấy giới luật làm thầy, vì nó là nền tảng để xây dựng một nếp sống cộng đồng hài hòa lành mạnh, có đạo đức, và nó cũng là nấc thang đầu tiên để cho người xuất gia tiến sâu vào con đường tuệ giác. Chúng ta hãy lắng nghe lờqi dặn dò tâm huyết của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn: "Các thầy Tỷ kheo sau khi ta diệt độ, các thầy phải trân trọng, tôn kính tịnh giới, như người mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy". Người giữ giới luật được đức Phật ví như người mù mắt được sáng lại, người nghèo mà được vàng ngọc. Phải chăng đức Phật quá thổi phồng, để cao giới luật? Thưa không, Ngài không bao giờ có ý định lừa dối hay gạt gẫm chúng ta. Cuộc sống và lời dạy của Ngài đã chứng minh điều đó, sở dĩ Ngài dạy như thế, vì Ngài muốn chúng ta giảm bớt khổ đau trong cuộc sống để được sự bình an như Ngài. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta phải tự giác tuân thủ một số nguyên tắc, đó là giới luật. Là người xuất gia cũng không ngoài mục đích trên, nhưng hạnh phúc của người xuất gia là loại hạnh phúc vĩnh cửu trong sự thanh tịnh và giải thoát, không còn các cấu nhiễm thế gian, nhưng muốn được giải thoát giác ngộ, hành giả không thể không hành trì giới, định, tuệ, tiến trình này có thể nói là con đường độc nhất để đi đến Niết Bàn. Vì vậy cho nên đức Phật dạy các Tỷ kheo muốn được giải thoát giác ngộ phải thực hành 250 giới. Tỷ kheo ni có 348 giới. Ðó là nguyên tắc để xây dựng một đời sống xuất gia với ý hướng cầu giải thoát. 4. TINH THẦN GIỚI LUẬT LÀ NỀN TẢNG CỦA ĐẠO ĐỨC: Đức Phật khuyên các Phật tử tại gia nên sống giữ năm giới, làm mười điều thiện, “để ngay trong hiện tại, khỏi tâm khổ tâm ưu, trong khi lâm chung, tâm không rối loạn và sau khi mạng chung, được sanh thiện thủ thiên giới”. Giới được xây dựng trên quan niệm rộng rãi về tình yêu phổ quát thương xót đối với tất cả mọi loài, là nền tảng đạo đức căn bản của giáo lý đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn, số 16 Trường bộ nói lên năm điều(12) nguy hiểm cho người gia chủ nếu phạm giới sống trái giới luật. Một là sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Hai là bị tiếng dữ đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, đi vào với tâm thần sợ hãi bối rối. Bốn là khi mạng chung sẽ bị chết với tâm thần rối loạn. Năm là sau khi mạng chung sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ địa ngục. Trái lại, người giữ giới luật tức là sống đạo đức, được năm sự lợi ích. Một là sẽ có tiền của dồi dào vì sống không phóng dật. Hai là tiếng tốt đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Bốn là khi mạng chung, chết với tâm không rối loạn. Năm là khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh vào thiên thủ thiên giới. Với những Kinh dẫn chứng trên chúng ta có thể thấy đạo đức Phật giáo liên quan mật thiết đến giới luật. Có được giới luật vững chắc thì có được đạo đức toàn diện. Đạo đức Phật giáo(13) chính là một nếp sống hành trì giới luật đưa đến hạnh phúc và an lạc, ngay trong đời này và đời sau. Đây chính là một nếp sống chứ không phải là lời dạy luân lý, hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động. 4.1. nguyên tắc đạo đức của người con phật: -- Để đảm bảo đời sống đạo đức, văn hóa, trí huệ, hạnh phúc, an lạc, giải thoát của người Phật tử; -- Để thực hành và phát huy tinh thần khế lý, khế cơ, ứng thế độ sanh, thắp sáng mãi thông điệp từ bi cứu khổ của đức Phật; -- Căn cứ tinh thần ứng dụng giáo lý qua tám mươi bốn ngàn pháp môn, nhằm xây dựng một tịnh độ cho tự thân, gia đình và xã hội; Điều 1: Trước khi đi theo đạo Phật, bạn cần phải tìm hiểu, suy tư lời Phật dạy và luật tắc đạo đức này. Chỉ khi nào bạn nhận thấy rằng đạo Phật là lý tưởng, là chân lý, là sự sống, là sự trưởng thành đạo đức và trí tuệ, bạn hãy phát nguyện trở về sống với gia đình của đạo Phật. Điều 2: Người Phật tử nên đến với đạo Phật bằng thái độ chánh kiến, chánh tư duy; vâng giữ và thực hành lời vàng Phật dạy, phù hợp với nếp sống chánh pháp, góp phần làm trong sạch và an lạc xã hội. Điều 3: Người Phật tử là người sống phù hợp và trung thành với lý tưởng chánh pháp, thể hiện đạo đức, văn hóa, trí tuệ, hạnh phúc, an lạc và giải thoát của bản thân, gia đình và xã hội ngay hiện tại và về sau. Ngũ giới, Thập thiện: Ngũ giới của Phật giáo là “đạo đức căn bản” làm người, nên phải tuân thủ giữ gìn; Thập thiện là “đạo đức tăng thượng” tịnh hóa nội tâm, thăng hoa nhân cách; nhân quả nghiệp báo là “đạo đức thiện ác” bất biến của thế gian. Hình phạt nghiêm khắc, cố nhiên có thể nhận được tác dụng tích cực nhất thời, nhưng vốn không phải là cách làm rốt ráo. Phật giáo lấy Ngũ giới, Thập thiện xem là chuẩn mực đạo đức nhân bản, khởi xướng “chớ làm các việc xấu, hãy làm những việc tốt”, không xâm phạm thân thể, tiền của, danh dự, tôn nghiêm của người khác, sửa đổi triệt để lòng người, khiến nhân luân cương thường có trật tự, làm cho nếp sống xã hội trở nên lương thiện. Ngũ giới, Thập thiện chính là chuẩn mực đạo đức của Phật giáo. 4.2. đạo đức thông qua việc thực tập giới luật căn bản: Phật giáo, một tôn giáo lớn với tinh thần từ bi hỉ xã- vô ngã vị tha – tốt đời đẹp đạo luôn trăn trở và đồng hành với sự nghiệp giáo dục đạo đức nhân cách của con người. Trên tinh thần đó, Phật giáo trong nhiều thế kỷ qua đã có nhiều đóng góp trong việc truyền bá những phẩm hạnh cao quý nhằm giúp con người trở về nếp sống lành mạnh. Đặc biệt dưới thời nhà Trần, chính đức vua Trần Nhân Tông đã ứng dụng giáo lý Phật Đà vào công cuộc an dân trị quấc và đã đem lại rất nhiều sự thái bình cho đất nước. Giáo lý căn bản trong Phật giáo nhằm xây dựng một con người có đầy đủ phẩm chất đạo đức đó chính là sự thực tập theo năm điều giới: không sát sanh, không trộn cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu. Đây không phải là sự ràng buộc làm cho con người cảm thấy khó chịu mà đây chính là những hàng rào bảo vệ cho những cái ác, cái xấu không có cơ hội đi vào làm tổn hại đến ta, nó củng được ví như những điều luật quy định hướng dẫn người đi đường cần tuân thủ, nếu vượt qua điều lệ này ắt hẳn sẽ có những tai nạn xảy ra. Nếu chúng ta nhìn nhận cho kỷ thì dễ thấy rằng những tệ nạn phát xuất bên ngoài xã hội củng tương đồng với những gì mà giới luật nhà Phật răng dạy. 4.3. chín chuẩn mực đạo đức của phật giáo: Mười chuẩn mực đạo đức cơ bản của Phật giáo - Đạo đức Phật giáo y cứ vào giới luật. Những chuẩn mực đạo đức bổ sung đó, theo sự phân định của một số bộ luật Phật giáo, thì đôi khi được xem là giới không quan trọng (khinh giới), có lúc được xem là những phép ứng xử (học pháp) giữa người với người Từ thực tiễn đời sống, để đạo đức Phật giáo dễ dàng lan tỏa. Trong vô vàn những chuẩn mực đạo đức Phật giáo được thể hiện rải rác trong các bộ kinh, luật, luận. 4.3.1. Khiêm hạ: Trước hết, khiêm hạ là một hành xử đạo đức vắng bóng tự ngã, dẹp tan kiêu mạn. Thứ hai, khiêm hạ là thể hiện sự tôn trọng kẻ dưới và kính nhường người trên. Biết tôn trọng lẫn nhau trong giao tiếp, ứng xử là sự thể hiện đẳng cấp đạo đức. Thứ ba, khiêm hạ không có nghĩa là hạ thấp mình mà còn có nghĩa tự khẳng định bản thân, là tôn trọng chính mình trong yên lặng tỉnh giác. Trong nghĩa này, khiêm hạ gần với lòng tự trọng. Đó cũng là điều được Đức Phật huấn thị: Hãy học các dòng nước/ Từ khe núi vực sâu/ Nước khe núi chảy ồn/ Biển lớn động im lặng/ Cái gì trống kêu to/ Cái gì đầy yên lặng/ Ngu như ghè vơi nước/ Bậc trí như ao đầy. Có thể thấy, một trong những chuẩn mực ứng xử của người học Phật là thái độ khiêm hạ, định tĩnh, nhu nhuyến, thong dong và vững chãi trước dòng xoáy của bản ngã và sở hữu của bản ngã. 4.3.2. Tàm quý: Phật _ta thì tàm là tự hổ với mình và quý là thẹn với người. Trong nghĩa được sử dụng rộng rãi, thì tàm quý là sự hổ thẹn với chính mình cũng như với người khác. Hổ thẹn là năng lượng đạo đức có tác dụng trong nhiều phương diện. Trong lãnh vực tu tập, nhờ lòng hổ thẹn thôi thúc, khi nghĩ về công lao giáo hóa của chư Phật, Bồ-tát, của các bậc Thánh tăng, nên nỗ lực tu tập. lời dạy của ngài Quy Sơn: Họ cũng là trượng phu, ta đây cũng như vậy, cũng là một dạng thức khuyến tu dựa trên hiệu ứng của lòng hổ thẹn. Do bởi nghĩa này nên kinh điển gọi hổ thẹn là hai pháp trong sáng, trắng sạch. Trong liên hệ đời thường,đạo đức của gia đình, xã hội được hình thành cũng nhờ lòng biết hổ thẹn. Nói theo kinh Trung bộ, nếu một người không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm Là con người, phải biết hổ thẹn. Không biết hổ thẹn thì chưa phải là con người đúng nghĩa. Chính bởi điều này, chuẩn mực đạo đức hổ thẹn được Đức Phật khẳng định là hai pháp có khả năng che chở cho thế giới. 4.3.3. Trung thực: Trung thực là một chuẩn mực đạo đức được nhiều người mến mộ, tin yêu. Người trung thực luôn hứa hẹn một tương lai rộng mở. Trung thực biểu hiện qua nhiều dạng thức và quan hệ; mà ở đây, trung thực với chính mình và với tha nhân là hai tính chất chủ yếu. Trước hết, cần phải trung thực với chính mình. Trung thực với chính mình là ý thức rõ ràng về tất cả các phương diện của bản thân như: khả năng, điều kiện, mặt mạnh cũng như mặt yếu, sở thích cũng như điều không ưa. Thứ hai, trung thực với tha nhân. Đây là tiền đề để xây dựng niềm tin trong mọi mối quan hệ. Khi trung thực thì được người tin tưởng, và lòng tin là yếu tố quyết định sự bền vững cho mọi mối quan hệ giữa người với người. Đó cũng là điều được Đức Phật xác quyết: Ở đời này, lòng tin/ Tối thắng cho con người. Mở rộng ý nghĩa này có thể thấy, trong quan hệ thầy trò, vợ chồng, cha con, bạn bè… thì sự tin tưởng lẫn nhau quyết định đến hạnh phúc, bình yên cũng như tính bền vững của các mối quan hệ. Sống mà không tin nhau là hoạt cảnh của địa ngục. Và muốn tin nhau thì phải trung thực, không dối nhau. Ở nghĩa này, không trung thực hay lừa dối nhau là cửa ngõ của tội ác. Chính vì vậy, trong kinh Phật thuyết như vậy, Đức Phật đã khẳng định rất mạnh mẽ: Phàm một người nào đã vi phạm một pháp, Ta nói rằng không có ác nghiệp nào vị ấy không làm được. Thế nào là một pháp? Này các Tỳ-kheo, tức là rõ biết mà nói láo. Trung thực hay không dối nhau là một chuẩn mực đạo đức cơ bản, là chất kết dính của mọi mối quan hệ, là yếu tố thành công trong mọi hoạt động của con người. 4.3.4. Kiên định: Kiên định là ý chí, là sự vững vàng trong quyết định, trong dự tính, trong mối quan hệ, trong lý tưởng hay con đường đã chọn. Tùy theo bối cảnh cụ thể mà kiên định được hiểu khác nhau. Chuẩn mực đạo đức kiên định quyết định tính cách, năng lực, giá trị… của con người. Kiên định là sự nhất quán trong pháp tu. Với Đức Phật, đại thệ nguyện bên cội Bồ-đề trước đêm chứng đạo là sự thể hiện cho sự kiên định vững vàng: Cho dù da thịt, gân xương trở nên khô cằn, máu trong thân này dẫu có cạn kiệt, nhưng nếu không đạt đạo, Ta quyết không rời chỗ này. Có thể sự nỗ lực đó là đỉnh điểm của một tiến trình, nhưng qua đó đã cho thấy sự kiên định rất cần trên mọi chặng đường tu tập. Từ thệ nguyện của Đức Phật, liên hệ với con đường mà chúng ta đã và đang chọn hiện nay… Hơn thế, sự khác biệt giữa chúng sanh và Bồ-tát liên quan thâm thiết đến chuẩn mực kiên định này. Vì lẽ, trước hiện thực đau khổ, cả hai đều phát nguyện như nhau, tuy nhiên, yếu tố căn bản tạo nên sự khác biệt, chính là sự kiên định của mỗi bên. Trong cuộc sống đời thường, kiên định rất cần trong mọi mối quan hệ. Trong bối cảnh này, chuẩn mực kiên định có thể được hiểu là tấm lòng trung thành, chung thủy, sắt son với tổ chức, với bạn bè. Đó cũng là điều được Đức Phật xác quyết trong kinh Tăng chi: Chính trong thời gian bất hạnh mới biết được sự trung kiên của một người, phải trong một thời gian dài không thể không khác được. Dù trên bước đường tu hay trong thực tiễn đời sống, chuẩn mực đạo đức kiên định luôn được ca ngợi và vinh danh. Kiên định là dấu son trong phẩm hạnh cần có của một con người. 4.3.5. Không phóng dật: Trong những lời dặn dò thống thiết của Đức Phật trước khi Niết-bàn(14), thì không phóng dật là huấn thị thấm đẫm yêu thương. Không phóng dật là không buông lung, không chạy theo dục vọng, siêng năng tu tập các pháp lành. Đây là chuẩn mực đạo đức quan trọng, được đề cập trong nhiều bản kinh. Trên phương diện tu tập, không phóng dật là yếu tố quyết định sự thành công của mọi pháp hành. Vì lẽ, thu thúc lục căn, không chạy theo ngũ dụclà nghĩa thứ nhất của không phóng dật. Do vậy, không phóng dật còn mang nghĩa tồn vong không những trong tu tập mà liên quan đến mọi dạng thức sinh tồn. Ở phương diện thứ hai, không phóng dật đồng nghĩa với tinh tấn, là siêng năng. Cần phải thấy, nhận thức được việc lành là điều quan trọng tuy nhiên đưa nhận thức vào thực tiễn đời sống là do bởi siêng năng. Siêng năng tạo nên sự thăng hoa, thành công trong mọi lãnh vực và là quán hạnh dung thông giữa pháp thế gian và pháp xuất thế. 4.3.6. Nhẫn nhục: Nhẫn nhục là sự chịu đựng, chấp nhận những khổ đau, bứcbách, hủy nhục, khó chịu… do các điều kiện bên ngoài đem đến, nhưng tâm tư vẫn an tịnh. Đây là một phẩm chất đạo đức được thể hiện trong nhiều cấp độ. Phật giáo Đại thừa(15) xem nhẫn nhục là một trong sáu hạnh quan trọng của con đường Bồ-tát. Trước hết, trước những thách thức của điều kiện tự nhiên cũng như những tác động của con người, muốn tồn tại, cần phải biết an hòa và nhẫn nhịn. Tức là tạm an với điều kiện sống tự nhiên và nhẫn nhịn trong sự va đập, tương tác với môi trường xã hội. Thứ hai, trong cuộc sống đời thường, đôi khi nhằm chuyển hóa người, thì nhẫn nhục cần thể hiện trong giới hạn nhất định. Thứ ba, nhẫn nhục là sức mạnh. Sức mạnh đây chính là sức mạnh làm chủ bản thân mình. Vì một khi thực hiện được hạnh nhẫn nhục, chứng tỏ một năng lực tu tập hùng mạnh. Nhờ năng lực đó, mới có thể kiểm soát tâm mình. Vì chiến thắng bản thân mình là chiến công oanh liệt nhất. Nhẫn nhục là nhịn được những điều khó nhịn mà tâm vẫn an ổn, tuy là chuẩn mực đạo đức, nhưng mang ý nghĩa như một kỹ năng sống hướng thượng, thanh cao. 4.3.7. Biết ơn: Biết ơn được hiểu ở đây bao hàm cả việc báo ơn. Theo kinh Tăng chi, người biết ơn là một trong hai hạng người khó tìm được ở đời. Trong liên hệ duyên khởi, để hình thành con người, thì phải thọ nhận nhiều công ơn. Trong vô vàn những công ơn, theo kinh Đại thừa bổn sinh tâm địa quán, phẩm Báo ân, thì có bốn ơn cơ bản: ơn cha mẹ, ơn những người liên hệ quanh ta, ơn quốc gia và ơn Tam bảo. Sự hiện sinh của một con người là do cha mẹ. Từ việc kế thừa nền tảng vật chất, cho đến nuôi dưỡng, kiện toàn tri thức, dựng vợ gả chồng, trao của thừa tự và hướng con về đường lành. Thực sự, khó có thể kể hết cũng như báo đáp công lao của cha mẹ. do sự hỗ trợ của nhiều người: từ thầy tổ, thân hữu, láng giềng, dòng họ... Nhận thức rõ về các công ơn đã thọ nhận, là thái độ sống đúng mực của một người trưởng thành. Thứ ba, được sống và sống ổn định, an toàn là phước báo của con người. Vì một khi môi trường sống được đảm bảo, thì hạnh phúc mới vững bền và có thể an tâm hoàn thành sở nguyện. Sự đảm bảo về môi trường sống là do sự quan tâm, nỗ lực và hy sinh của giới chức lãnh đạo quốc gia. Nhận thức đúng về điều này để hành xử cho hợp lẽ, là tâm thế đúng mực. Cuối cùng, sở dĩ hiểu được bản thân, nhận ra con đường hạnh phúc, có được phương tiện phù hợp với điều kiện nghiệp lực của mình, là do diệu hạnh của Tam bảo. Nếu như cha mẹ, bạn bè, thầy tổ, quốc gia có thể giúp ta vơi khổ và hạnh phúc trong một đời, thì Tam bảo có thể giúp ta vĩnh viễn thoát khổ và an lành trong nhiều kiếp. Và do vậy, người đệ tử Phật phải nhớ ơn và nỗ lực báo đáp thâm ân Tam bảo. Biết ơn là chất liệu dệt nên phẩm hạnh của một con người. Nhận thức đúng và đầy đủ về các ơn cũng như nỗ lực báo đáp bằng những gì có thể, là chuẩn mực đạo đức tối cần của một người học Phật. 4.3.8. Buông xả: Buông bỏ mọi điều lo nghĩ, sống với thực tại hiện tiền thì hạnh phúc gõ cửa. Điều này được Đức Phật chỉ dạy trong kinh: Quá khứ không truy tìm/ Tương lai không ước vọng/ Quá khứ đã đoạn tận/ Tương lai lại chưa đến/ Chỉ có pháp hiện tại/ Tuệ quán chính ở đây. Hạnh buông xả còn là một dạng thức biểu hiện cho tâm thương yêu. Vì lẽ, nhờ buông xả nên dễ dàng tha thứ lỗi lầm của người, tạo cho kẻ có lỗi một cơ may đểphục thiện. Buông xả còn giúp người ta trở nên rộng rãi, không ích kỷ, nhỏ nhenMuốn có được một cuộc sống đúng nghĩa và trọn vẹn thì phải học cách buông bỏ, xả ly. Buông xả không những giúp thanh lọc tâm, mà còn là phương thức vươn lên bằng cách từ bỏ những hiểu biết bất toàn, khiếm khuyết. 4.3.9. Dấn thân: Dấn thân là sự phát tâm vì lợi ích của tha nhân, trong một số trường hợp phải chấp nhận sự hy sinh, mất mát. Dấn thân là hành động mang tâm nguyện Bồ-tát,vì đó là sự phát tâm đem lại lợi ích cho nhiều người. Dấn thân là phát tâm Bồ-đề, được dẫn khởi từ sự lập nguyện, phát tâm. Vì nguyện lập thì có thể độ chúng sanh, tâm phát thì Phật đạo có thể thành. Ở nghĩa này, Đức Phật là minh chứng cao cả cho sự lập nguyện, dấn thân: Ta mang cỏ munja/ Vững thay, đây đời sống/ Thà Ta chết chiến trận/(16) Tốt hơn, sống thất bại. Công cuộc tự chuyển hóa mình cũng đồng thời là một quá trình nỗ lực, dấn thân. Dấn thân là hành động mang tâm nguyện Bồ-tát. Vì cuộc đời vốn dĩ đầy bất hạnh và lắm khổ đau, người mang tâm nguyện Bồ-tát luôn nỗ lực bằng những gì có thể, nhằm làm vơi khổ cho đời Đạo Phật mang nghĩa vị tha, và dấn thân là một biểu hiện tạm quên đi bản ngã. Dấn thân là sự tận hiến cho đời mà không nghĩ về tư lợi. Trong nhiều cách thức nhiếp hóa mọi người được đề cập trong kinh Duy Ma Cật, thì việc làm lợi lạc cho tha nhân . Dấn thân biểu lộ của dũng khí, lưu xuất từ cơ sở tâm thương yêu và thể hiện bằng con mắt tuệ.Chỉ có như vậy hạnh dấn thân mới đem đến hạnh phúc, an lạc cho nhiều người. 4.4. tự nguyện, lạc quan và tích cực: Phật giáo nhằm tới việc lập quân bình cho đạo đức, chiêm nghiệm và trí huệ trên con đường tâm linh của mình. Người theo đạo Phật không thể hiện đạo đức như phương tiện để đạt tới cứu cánh. Họ biến các hành động công đức thành một yêu cầu thiết yếu cho kẻ sẽ thành tựu sự giác ngộ(17). Nói đúng hơn, vì mọi sự đều phát sinh trong tùy thuộc vào các điều kiện, người Phật giáo cho rằng căn bản đạo đức là điều kiện làm cho các đặc điểm khác của con đường đạo có khả năng phát sinh. Ðiểm nổi bật thú vị so với các tôn giáo độc thần là ngũ giới của Phật giáo không có tính cách như các điều răn được ban cho bởi một thần linh ngoại tại đi kèm với lời hăm dọa rằng nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt. Ngũ giới đơn giản chỉ là bản tóm lược của Ðức Phật về một kiểu sống để cho từ trong con người nổi lên từ bi và trí huệ. Tuy có sẵn những lời chỉ dẫn ấy nhưng người Phật tử có tự do quyết định cách áp dụng nào tốt nhất cho hoàn cảnh cá nhân của mình, trong sự thừa nhận rằng mỗi khoảnh khắc và mỗi biến cố của mỗi người là cá biệt. Dĩ nhiên, cần phải nhìn đạo đức học Phật giáo dưới ánh sáng của lý thuyết về nghiệp báo(18). Những dự tính tự nguyện tự chúng quyết định các trạng thái tương lai — và chính ý định mới đáng kể chứ chưa phải là hành vi thể hiện dự tính ấy — cho dù hệ quả nghiệp báo có khả năng nghiêm trọng hơn một khi ý định ấy đã được thực hiện. 4.5. xậy dựng nếp sống theo lộ trình giới-định-huệ: Giới trong Phật giáo không phải là một hệ thống giáo lí mang tính giáo điều, cũng không phải là những luật lệ có tính chất áp đặt. Nó là những nguyên tắc sống phù hợp với tình cảm của con người và chuẩn mực đạo đức xã hội. Giới, được dịch từ chữ “śila” của tiếng Phạn, có nghĩa là: “phòng phi chỉ ác”. Giới trong Phật giáo được ví như là hàng rào ngăn ngừa mọi hành vi cử chỉ sai trái, tội lỗi của con người; chỉnh đốn tác phong và oai nghi của con người; giúp con người có đời sống mà bên ngoài thì trang nghiêm thân tướng, bên trong thì đầy đủ đức độ. Như vậy, giới chính là điều kiện giúp con người sống xứng đáng với một con người, giúp cho “tính người” trong mỗi con người được thể hiện một cách trọn vẹn. Định trong Phật giáo là phương pháp rèn luyện kỉ luật tâm linh. Người hành trì định không phải nhằm mục đích đạt được thần thông để phi hành tự tại, mà là để loại trừ các cấu uế của tự tâm, làm chủ không để tâm chạy theo các dục tình bên ngoài. Tuệ trong Phật giáo là nhờ vào sự tu tập thiền định mà có. Tuệ nầy không giống như trí thông minh thông thường của thế gian. Người có trí tuệ không phải là người có kiến thức uyên bác, học rộng hiểu nhiều, mà là người có cái nhìn đúng đắn, không lầm lạc: “Chân thật biết chân thật, không chân biết không chân”. Trong kinh Di giáo, đức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của Tuệ: “Các thầy tỳ-kheo, nếu có trí tuệ thì không tham trước, thường tự soi sáng, tránh khỏi lỗi lầm, ở trong chánh pháp người ấy có thể giải thoát. Nếu không như vậy thì chẳng những không phải là người xuất gia cũng không phải là người thế tục, không biết gọi là gì”. Quả là một phương pháp hoàn mãn, một con đường cao quý. Đây là con đường mà tự thân con người có thể thực hiện được bằng tất cả khả năng của mình ngang qua việc hành trì Giới, Định, Tuệ mà không phải nhờ vào một thế lực ngoại tại nào. Cho nên trong Phật giáo, thành tựu trọn vẹn Giới Định Tuệ tức là sống trọn với tinh thần Trung đạo, và như vậy là hành giả đã xây dựng một nếp sống đẹp hoàn mãn ngay trong cuộc đời nầy. 4.6. đạo đức của giải thoát: Khi bàn đến đạo đức, triết học lại nổi lên câu hỏi cơ bản: "Nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức là gì và đâu là giá trị của các nguyên tắc ấy?". Câu hỏi kép gồm hai vế ấy có vế đầu liên hệ đến tâm lý học và vế sau liên hệ đến siêu hình học. Những tranh cãi thuộc vế đầu là: Nguyên tắc đạo đức là do kinh nghiệm hay do kế thừa, hay do xã hội, do lý trí, do bẩm sinh, và chi tiết hơn liên hệ đến lòng trắc ẩn, tự kỷ, vị tha, trách nhiệm, bổn phận... Những tranh cãi thuộc vế thứ hai là: Giá trị của các nguyên tắc đạo đức có thể quy vào một không? Giá trị tuyệt đối là gì, lý tưởng, thượng đế...? Từ đó đạo đức học bị chia thành nhiều loại như đạo đức học duy nghiệm, duy lý, duy nghiệm lý, rồi lại bị chia thành các phái như chủ nghĩa hoan lạc, khoái cảm, duy dụng, duy nhiên, duy cảm v.v... Ước vọng có một đạo đức học đúng đắn, hiệu nghiệm và phổ quát cho mọi người luôn luôn là chính đáng. Cái yêu cầu ấy còn mạnh mẽ hơn với lòng yêu tuyệt đối luôn bùng cháy trong con người và khiến con người quay tìm đạo đức học trong tôn giáo. Nhưng tôn giáo thường đầy rẫy những luận giải siêu hình; nó thiết lập các giáo điều, nó ra mệnh lệnh, nó đòi hỏi sự tuân phục, thuần tín ở đấng tối cao... Phật giáo không phải là một tôn giáo theo nghĩa ấy và đạo đức học của Phật giáo có thể là đạo đức học cho mọi người. Xác định nền tảng của đạo đức học Phật giáo là giải thoát, ta có thể dễ dàng giải đáp câu hỏi cơ bản đã nêu trên: Giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức. Thực ra mệnh đề này là kết quả của sự lập luận rằng: Do khổ, do kinh nghiệm khổ mà nảy sinh ra cái nguyên tắc đạo đức cơ bản là sự diệt khổ, thoát khổ, đẩy đưa đến sự diệt khổ tuyệt đối, cứu cánh, đấy là giải thoát tối hậu, Niết bàn. Giải thoát là mặt bên kia (mặt tích cực trong ý nghĩa đạo đức) của khổ đau, giải thoát và khổ đau là hai mặt của một thực tại đang hiện hữu tại đây, giờ đây. Vậy thay vì bảo giải thoát là nguồn gốc của các nguyên tắc đạo đức, ta có thể bảo khổ cũng là nguồn gốc ấy. Từ đây vế thứ hai của câu hỏi cũng được dễ dàng giải đáp : "Giải thoát là giá trị tối hậu đích thực của các nguyên tắc đạo đức." 5. GIỚI LUẬT LÀ NỀN TẢNG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO Trong xã hội ngày nay, mọi giá trị về khoa học kĩ thuật, văn hóa, chính trị, các học thuyết tôn giáo đều chịu ảnh hưởng tương tác, Phật giáo lại càng không ngoại lệ. Phật giáo xuất hiện và tồn tại trên thế gian vì muốn làm vơi bớt nỗi đau thương của nhân loại và hơn thế nữa là hướng dẫn mọi người trong việc kiến tạo đời sống an lạc căn cứ trên nền tảng đạo đức, trí tuệ và từ bi. Lật lại sách sử, hình ảnh các vị Thiền sư, nhất là vào thời Lý, Trần luôn sống đúng lời dạy của đức Phật: “Này các Tỳ -kheo! Hãy du hành vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và loài người”, và hành động theo chuẩn mực đạo đức được xây dựng trên nền tảng giới luật. Trong đó, năm giới là nền tảng đạo đức vững chãi nhất để bảo vệ hòa bình, an lạc và đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Đây là lối sống thiết thực, thể hiện sự bình đẳng, nhân bản, dân chủ và cũng là nền đạo đức chuẩn mực của con người sống trên hành tinh này. Giá trị toàn cầu của nó đã được các nhà đạo đức học, xã hội học, triết học trên thế giới công nhận. Ông Albert Schweitzer, nhà triết học người Đức viết “đức Phật đã sáng tạo ra nền đạo đức nội tâm hoàn thiện qua năm điều răn cấm đầu tiên của Ngài và là một trong những nhà đạo đức học vĩ đại kỳ tài nhất mà thế giới có được”. Thật vậy, không sát sanh là nuôi dưỡng lòng từ bi, tôn trọng lẽ công bằng nhân đạo đối với đồng loại và tất cả chúng sanh, nhờ đó mà xua tan bóng tối sân hận và ganh ghét. Trong tâm thức mỗi người nếu thiếu căn bản đạo đức này, dù có nói đạo đức cao siêu đến đâu cũng chỉ là lời nói suông, là người mất nhân tính và hủy hoại lương tri. Bởi vì “Ai cũng sợ gươm đao, ai cũng thích sống còn.” Bởi vì, khổ đau do sự sát hại gây ra, nếu chúng ta biết phát triển lòng từ bi, lấy đó làm nguồn năng lượng để bảo vệ con người, cỏ cây, cầm thú, và đất đá, thì khả năng làm vơi nhẹ và chuyển hóa khổ đau rất lớn. Khi thấy được nỗi khổ thì tâm Bi phát sinh trong ta. Với tình thương, năng lượng của chúng ta được sinh ra từ tuệ giác. Khi chúng ta không có sự hiểu biết đúng đắn về một hoàn cảnh hay một con người, suy nghĩ của ta có thể lầm lạc và gây ra hoang mang, tuyệt vọng, giận hờn, hay thù hận. Vì thế, chúng ta luôn nuôi dưỡng chánh niệm mỗi ngày và tưới tẩm những hạt giống bình an trong ta và trong những người xung quanh, ta sẽ trở nên sống động, và có thể giúp cho chính mình cũng như những người khác đạt đến sự bình an. Sự sống thật quý giá, vậy mà trong đời sống hằng ngày, chúng ta thường bị cuốn theo những quên lãng, giận hờn, và lo lắng, đắm chìm trong quá khứ, và không có khả năng tiếp xúc với sự sống trong giờ phút hiện tại. Khi chúng ta thật sự sống động, những gì ta làm hay tiếp xúc đều là phép lạ. Thực tập chánh niệm tức là quay trở về với sự sống trong giờ phút hiện tại. Khi chúng ta biết trân quý cái đẹp của sự sống, chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì trong khả năng mình để bảo vệ cả cuộc đời. 5.1. định nghĩa giới luật: Giới học : Giới tiếng Phạn là SiLa, phiên âm thành Thi La. Trung Hoa dịch là Thanh Lương (mát mẻ). Do công năng hành giả giữ gìn Giới nên ngăn ngừa ba nghiệp bất thiện của thân, khẩu, ý. Giới còn gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa(19) phiên âm từ tiếng Phạn Pàtimokha có nghĩa là hướng đến. Nghĩa bóng là hành giả cần nương về nội tâm tu hành tìm ra con đường giải thoát. Giải thoát có hai nghĩa: Biệt giải thoát và Biệt biệt giải thoát. Luật theo tiếng Phạn là Vinàya phiên âm là Tỳ Nại Da. Trung Hoa dịch là điều phục, có hai nghĩa : nghĩa đen là “khử” là “chân”, nghĩa bóng là loại bỏ bao nhiêu các việc xấu quấy để giữ lại cho cái chơn, cho nên gọi là hàng phục tâm. Chấm dứt tâm vọng động, đừng cho tâm phát khởi, nên gọi là chân tâm. Như hàng phục giới liền sanh trí huệ. Luật cũng dịch là Thiện Trị vì hành giả khéo chế ngự các hạnh bất thiện của mình, còn điều phục hết thảy bất thiện hạnh cho chúng sanh. Như vậy Giới luật còn nghĩa rộng là hòa hợp chúng, sống trong đoàn thể thanh tịnh tăng luôn biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Cũng là nền tảng muôn pháp lành, điều phục nghiệp xấu ác của thân khẩu ý, đoạn trừ phiền não của tham, sân, si. Nhờ Giới học mà hành giả tu hành đạt quả Tịch diệt Niết Bàn. Giới Luật : dựa trên công dụng mà có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng nghĩa chính của Giới Luật là phân định phán đoán của các tội khinh, trọng, khai, giá, trì phạm để ngăn ngừa những tội lỗi của thân tâm. Bởi thế mới nói Giới luật của đức Thế Tôn chế ra chỉ là “Tùy phạm tùy kiết”. Nghĩa là có người gian gốc độ khác nhau mà hành trì. Hơn nữa, ranh giới giữa người vi phạm và người tuân thủ pháp luật cách nhau chỉ một niệm đúng sai, vậy cần phải có chuẩn mực để phân định rõ ràng. Cũng thế, trong Đoàn thể tu hành Phật giáo cũng cần phải sử dụng đến Giới luật để phân minh, khinh, trọng tùy theo hành giả vi phạm lỗi lầm, nên thỉnh Thế Tôn Kiết Giới. 5.2. Giới luật là nền tảng của người xuất gia: Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí huệ. Khi Đức Phật còn tại thế, hàng đệ tử nương đạo phong của Ngài tu tập mà chứng ngộ. Bởi trí tuệ siêu việt của ngài đã cảm hóa nhân sinh rất có hiệu quả. Do vậy chúng ta càng tự hào biết chừng nào khi nhân loại hòa nhập vào giáo lý thậm thâm vi diệu. Do vậy, Đạo Phật rất cần sự có mặt của Tu sĩ vừa có Giới hạnh, vừa có trình độ Phật học lẫn thế học thật vững vàng mới cùng nhau xây dựng ngôi nhà Chánh Pháp mãi mãi trường tồn, chúng Tăng hưng thịnh. Quả thật, chỉ có Giới luật mới đưa con người lên Bi – Trí - Dũng để đạt đến Chân - Thiện - Mỹ. Đạo Phật có một sức sống dồi dào bất động, sức sống ấy là Chánh Pháp cũng chính là Giới. Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí huệ. Bởi Giới luôn tạo chất keo kết nối giữa con người và cuộc đời có cùng một giải pháp, một phương thức đượm nhuần thắm mãi, uốn nắn hàng con Phật trở thanh người mẫu toàn diện trong quá trình tu tập. Vì hoài bão của người xuất gia là “phục vụ chúng sanh tức cúng dường chư Phật” mà nó đã thể hiện qua những công tác từ thiện xã hội như : Cứu trợ đồng bào lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn, thăm nuôi bệnh nhân ở những trại cùi, đem lại ánh sáng cho người mù, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa v.v…Như thế xã hội là một tổng hợp nhiều cá nhân, gia đình, đoàn thể, sự thanh bình tốt đẹp của xã hội chỉ có thể thành tựu và duy trì trên nền tảng của pháp luật đặc biệt hơn là Giới luật. Pháp luật mang tính răn đe người phạm pháp và bảo vệ người lương thiện. Còn Giới luật là cơ sở của đời sống cao thượng, tự đưa mình vào khuôn phép Đạo đức, Giới luật mang tinh chất cảm hóa nét đẹp xã hội và nhận thức trí tuệ với tinh thần tự giác cao. Chính vì thế cho nên nói rằng Giới luật làm nền tảng cho xã hội hướng thượng. Như vậy, tinh thần Giới luật của Phật giáo làm nền tảng cho xã hội vươn lên về mọi mặt, có công năng rõ ràng là tạo được niềm tin cho mọi người, điều hòa được sinh hoạt của tập thể, đem lại an lạc cho mình, cho người trong hiện tại và tương lai. Nếu hạnh phúc là đối tượng mà nhân loại mãi đi tìm thì hẳn đúng là Giới luật là những gì mà người ta cần nắm bắt trên đường đi đến nơi ấy. Vì thế chúng ta nên loại bỏ hết thảy ngộ nhận về Giới luật của Phật giáo, để tiến lại gần hơn với nó và tinh tấn hành trì như nắm giữ hạnh phúc của chính bản thân mình. 5.3. giới luật là nền tảng đạo đức nhân sinh: Giáo hội Phật giáo Việt Nam chúng ta với truyền thống gắn bó với xã hội và Dân tộc, chúng ta mỗi cá nhân phải có lý tưởng và trách nhiệm là phải đóng góp và xây dựng nền giáo dục đó ngày càng lớn mạnh thêm. Qua đó, với tinh thần toàn giác của đức Phật, Ngài đã thấy được bản chất như thật của vạn sự vạn hữu, và tuyên bố cho chúng ta thấy được sự thật này, nhưng vì bị vô minh che lấp nên chúng sanh không hiểu hết được lời Phật dạy. Ngày nay, khi khoa học phát triển thì một số lời dạy của đức Phật đã được chứng minh bằng khoa học. Như đức Phật dạy: “Trong một bát nước có tám vạn bốn mươi loại vi trùng”(20) ngày nay khoa học dùng kính hiển vi cũng thấy có vô số vi trùng. Những dẫn chứng trên không có nghĩa là chứng minh lời dạy của đức Phật bằng khoa học mà để nhấn mạnh một điều rằng : những lời đức Phật dạy đều là chân lý, nó phù hợp với mọi hoàn cảnh, xã hội, nó vượt ngoài không gian và thời gian. Cho nên, chân lý đó nhằm để giải thích mà chẳng nhắm vào mục đích giải thoát cho chúng sanh. Hơn 25 thế kỷ qua, Phật giáo giữ một vị trí độc tôn(21), xây dựng một nền văn hóa có giá trị ở mọi thời đại. Cũng như ở Việt Nam, chúng ta có các nhà vua đồng thời là Phật tử thuần thành, còn về Phật giáo thì có các Tăng sĩ có trình độ học vấn, vừa có trình độ tu chứng. Do đó, tinh thần đạo Phật, giáo lý Từ bi, Trí tuệ và những tư tưởng cứu thế của đức Phật đã ảnh hưởng sâu đậm vào phong tục văn hóa của nước ta. Thế nên, để xây dựng một xã hội văn minh, Phật giáo với tinh thần nhập thế và mọi dấu chân xưa của các vị Bồ tát lấy khổ đau làm niềm vui cho bản thân, có như vậy chúng ta mới làm sống dậy dòng sinh hoạt trí tuệ thực chứng của đức Phật đã khơi mở 25 thế kỷ qua. 5.4. tác dụng của giới luật: Đặc tính của Giới là đem sự an vui hạnh phúc cho mình và cho người, điều hòa được sinh hoạt tập thể của Tăng già(22), tạo niềm tin cho kẻ khác, đem lại lợi ích an lạc giải thoát cho tự thân người hành trì Giới luật. Vì thế, đề cập đến lợi ích của Giới, cho nên đức Phật dạy rằng : có 5 điều lợi ích cho những ai giữ Giới và sống đúng theo Giới luật ấy là : - Những người giữ Giới sống theo Giới luật sẽ có tiền của, tài sản rất nhiều vì sống không phóng dật. - Người giữ giới sống theo Giới luật được tiếng tốt đồn xa. - Người giữ giới sống theo Giới luật, khi đi vào các hội chúng nào người ấy đi vào với tâm không sợ hãi, không bối rối. - Người giữ giới sống theo Giới luật, sau khi chết tâm hồn vị ấy không rối loạn. - Nguời giữ giới sống theo Giới luật, sau khi thân hoại mạng chung sẽ sanh vào thiện thú Thiên giới. Qua lời dạy của đức Phật, chúng ta thấy lợi ích của Giới luật vô cùng lớn lao đối với những ai hành trì nó. Là một Tu sĩ chúng ta không thể thiếu Giới, vì một người thiếu Giới hạnh thì không thể nào làm cho chư Thiên hoan hỷ được, mà còn trở thành kẻ ngoan cố đối với các bạn đồng phạm hạnh. Người ấy đau khổ khi phạm Giới, vì bị chỉ trích và hối hận khi thấy người giữ giới tán dương. Người ấy vô giá trị vì không đem lại quả báo tốt đẹp cho các thí chủ. Người khó làm cho sạch như thùng phân dơ lâu năm, như một khúc gỗ mục trên giàn lửa. Vì không phải người xuất gia cũng không phải cư sĩ mặc dù tự xưng là Tỳ kheo mà không phải là Tỳ kheo, cũng giống như con lừa đi theo bầy bò. Người ấy luôn luôn nóng nảy nhìn tất cả mọi người như kẻ thù của mình, dù người ấy có thể là học rộng hiểu biết nhiều nhưng người ấy không đáng được các bậc đồng phạm hạnh cung kính. Cho nên, trong kinh Phạm Võng đã dạy: “Nếu Phật tử có tín tâm xuất gia thọ trì Tịnh giới của Phật, mà lại cố ý hủy phạm Giới mình đã thọ thì người đó không được thọ sự cúng dường của đàn việt, cũng không được phép đi trên đất của quốc vương, không được uống nước của quốc vương, đi đâu cũng bị năm ngàn đại quỷ chặn ngăn trước mặt, quỷ nói với nahu rằng “đây là đại tặc”. Nếu vào phòng xá thành ấp nào thì bị quỷ chà quét dấu chân của người đó, tất cả mọi người đều mắng rằng “Ngươi là giặc trong Phật pháp”. Tất cả chúng sanh không muốn nhìn thấy. Người phạm Giới không khác gì súc sinh, không khác gì khúc gỗ”. 5.5. Giới luật là cơ bản đạo đức thế gian: 5.5.1 Đối với cá nhân: Đây là việc rất cần thiết cho những người Phật tử khi đã quy y Tam bảo, thọ trì ngũ giới. Giáo hội Phật giáo nói chung và Tăng Ni chúng ta nói riêng là phải cần tạo điều kiện cho Phật tử tham gia những lớp học giáo lý, những buổi thuyết giảng tại chùa để cho họ hiểu rõ tinh thần quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng của một Phật tử. Chúng ta cần nhắc nhở họ thọ trì năm Giới căn bản(23) của người Phật tử tại gia. Cho nên, chúng ta hãy nhìn lại hàng Phật tử tại thành phố có đầy đủ phương tiện nào là sách vở, trường lớp học giáo lý, thầy hướng dẫn để cho Phật tử có cơ hội tiếp cận giáo lý của đức Phật nhiều hơn. Còn các Phật tử ở các tỉnh vùng sâu vùng xa, có tỉnh thì được quý thầy hướng dẫn, có Tỉnh quận huyện khác Phật tử có muốn tu học nhưng không có ai để hướng dẫn. Có người cho rằng với truyền thống tín ngưỡng của ông cha để lại, người nông dân mến mộ đạo, nhưng vì không có Tăng Ni tu hành đúng chánh pháp để nương tựa vô tình để họ tin theo những thầy đồng bóng, mê tín dị đoan, cho nên làm cho Phật giáo không thể phát triển được. Với tinh thần từ bi, hỷ xả, vô ngã, vị tha của Phật giáo, nếu mọi người biết quay về quy y với Phật thì những tệ nạn của xã hội sẽ giảm dần. Vì nếu mọi người đều là Phật tử phải biết tôn trọng giới luật và tôn trọng luật pháp của nhà nước thì họ sẽ sống và làm việc đúng theo năm nguyên lý đạo đức căn bản của nhà Phật đó là : 1. Không sát sanh : Bỏ sát sanh nhằm tôn trọng tánh bình đẳng phát triển tâm từ bi bằng cách phải tôn trọng sự sống và quyền sống căn bản của mọi người, để giữ mình và người, sống một cuộc sống an lành và cũng để đoạn trừ nghiệp báo trả vay trong vòng luân hồi sanh tử. 2. Không trộm cướp : Nhằm tôn trọng quyền sở hữu tài sản của mọi người, không tham nhũng lạm quyền, không hối lộ quyền lợi riêng tư, phát triển tâm từ, thực hành hạnh bố thí bằng cách góp tự mình hoặc kêu gọi mọi người nên nhường cơm xẻ áo để cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt, tham gia các hội từ thiện, kiến tạo xã hội công bằng văn minh giàu mạnh. 3. Không tà dâm : Bản thân không phải hao tổn thần khí, khỏi sợ ai bàn tán dở hay, mọi nguời đều tín nhiệm và tin cậy, bản thân trinh bạch, khiến người tự quý mến, tự mình được an ổn mà còn xây dựng gia đình được hạnh phúc, với nếp sống yêu thương lẫn nhau, vợ chồng ăn ở thủy chung đến trọn đời trọn kiếp. 4. Không nói dối : Nhằm tôn trọng sự thật để xây dựng niềm tin cho nhau. Trong các quan hệ song phuơng từ gia đình đến xã hội, và từ người lãnh đạo đến nguời thừa hành, đồng thời tạo cơ sở chính xác cho niềm tin tuyệt đối và phải tôn trọng những lời phát biểu có tính cách xây dựng, hòa cảm có lợi mình lợi người. Bởi lẽ, một lời nói có thể xây dựng đoàn kết làm quốc gia phồn vinh, trái lại cũng một câu nói có thể gây ra chia rẽ làm đổ vỡ. 5. Không uống rượu : Vì những thứ ấy làm cho trí tuệ mê mờ, có thể bệnh hoạn suy yếu, làm cho mọi người thấy khinh thường, trong lúc say sưa gây ảnh hưởng không những đến bản thân mà còn ảnh hưởng đến con cái về sau. Trái lại, nếu không uống rượu bản thân điềm đạm bình tĩnh, thân thể khỏe mạnh, đối với mọi người đều được quý kính, sanh con thông minh sáng suốt. Đó là lợi ích bản thân ngay trong hiện tại, nếu về sau không sát sanh thì thân tráng kiện sống lâu. Không trộm cướp thì thân thể đẹp đẽ. Không nói dối thì đi đến đâu cũng được mọi người yêu mến. Không uống rượu thì trí tuệ sáng suốt. Qua năm Giới này, nếu Phật tử nào giữ đúng là một nguồn hạnh phúc của gia đình, cũng là nếp sống văn minh của xã hội. 5.5.2. Với tinh thần ngũ Giới: Mỗi cá nhân phải sống làm việc đúng năm nguyên lý Đạo đức nhân bản sau đây : a. Phải tôn trọng nhân bản, nhân quyền, tức sự sống, quyền được sống bình đẳng căn bản của mỗi nguời trên bình diện “Giới Không Sát Sinh” để giữa mình và người chung sống chung hưởng một nếp sống hòa bình, chấm dứt mọi hình thức chiến tranh. Bởi vì : “Đau thương khói lửa ngập tràn Cũng vì hiếu sát tương tàn lẫn nhau”. b. Phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản của mỗi người, không tham nhũng lạm quyền đều dựa trên cơ sở “Giới Không Trộm Cắp” lường gạt và hối lộ công tư. Nghĩa là sống, làm việc và hưởng thụ công bằng hợp tình hợp lý. Vì vậy : “Không tham, không gạt, không lường Đó là cuộc sống bình thường thế nhân” c. Phải quý trọng nếp sống hôn nhân, yêu thương và trân trọng lẫn nhau trên tiêu chuẩn bình đẳng. Nghĩa là vợ chồng ăn ở với nhau phải có thủy có chung cho tới ngày răng long đầu bạc, chồng không trăng hoa, vợ không ngoại tình đây là thể hiện trên bình diện “Giới không tà dâm” với tinh thần một chồng một vợ, có như vậy mới có được một cuộc sống ấm êm và hạnh phúc. Bởi người xưa có câu “Thuận vợ, thuận chồng tát bể đông cũng cạn.” Cho nên : “Trăm năm trong đạo vợ chồng Tà dâm không phạm, chữ “đồng” cùng ghi” d. Phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu, những lời nói có tinh thần xây dựng và cảm hóa có lợi cho mình, cho người. Bởi vì một lời hay một ý đẹp có thể xây dựng sự đoàn kết, làm xã hội phồn vinh, làm cho quốc gia hưng thịnh. Trái lại cũng có một câu nói có thể gây ra chia rẽ nội bộ, làm tan vỡ một tổ chức, làm suy yếu sự hùng mạnh của một quốc gia, làm thiệt hại cho cả Dân tộc. Bởi vì lẽ đó nên Giới luật của nhà Phật dạy chúng ta không nên dùng lời lẽ dối trá điêu ngoa, hung bạo, thô tục hay dùng lời lẽ trau chuốt nhằm bóp méo sự thật, trước mặt không khen, sau lưng không chê, để chứng tỏ thâm tâm và ngôn ngữ của mình đều trong sáng, nói lên tinh thần của “Giới không vọng ngữ” đó là thể hiện cách sống lịch sự, có văn hóa giáo dục đối nội cũng như đối ngoại. “Giữ lời như giữ đôi tròng (mắt) Giữ tâm thanh tịnh, giữ lòng thẳng ngay”. e. Không nên trà đình tửu quán hội họp ăn chơi bừa bãi và càng không được dùng các chất làm say người, làm kích thích tinh thần cao độ đầy thú tính như : cần sa, ma túy cá loại hồng phiến, bạch phiến v.v… bởi vì các chất ấy làm mờ trí huệ, thiếu sự suy xét trong cách nghĩ cách làm. Nhờ có thế, nó không làm cho chúng ta bị bê tha, rượu chè hút sách lãng phí cuộc đời tổn hại nhân phẩm. Đồng thời góp phần làm cho xã hội văn minh tiến bộ. “Mất giống trí tuệ thông minh Bởi vì uống rượu khó gìn bổn tâm”. 5.5.3. Với tinh thần thập thiện: Thập thiện tức là 10 điều lành có từ ba nghiệp: Thân, khẩu, ý mà ra. - Thân nghiệp : có 3 : không giết hại lẫn nhau, không trộm cắp, không tà dâm. - Khẩu nghiệp : có 4 : không nói dối, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời hung ác, không thêu dệt thêm bớt để bóp méo sự thật. - Ý nghiệp : có 3 : không tham lam, không sân hận, không si mê. Trên đây là mười điều thiện, khi mỗi người làm được mười điều ấy rồi thì gia đình hạnh phúc, xã hội an vui, quốc gia hưng thạnh, thế giới hòa bình an lạc. Vì vậy, trong Kinh An Lạc(24) đức Phật dạy rằng:“Con người là tối thắng vì có khả năng chứng được Vô thượng Bồ đề và chuyển được Y báo Chánh báo làm cho thù thắng trang nghiêm”. Như vậy chính con người tạo ra Thiên đường, cũng chính con người tạo ra địa ngục. Đã thấy rõ trọng tâm rồi chúng ta cần phải nỗ lực phát triển khả năng và định đoạt mọi vấn đề liên quan đến con người xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. 5.5.4. Đối với cộng đồng: Nếu một công dân nào sống trong cộng đồng xã hội mà biết giữ đúng năm giới của nhà Phật thì gia đình đó hạnh phúc trên thuận dưới hòa. Nếu mọi người trong xã hội biết ứng dụng triệt để sẽ là một xã hội văn minh chan hòa sự cảm thông và thương mến. Cho nên, xã hội biết hướng dẫn mọi người quy y, biết giữ giới đó là việc làm đúng với đường hướng giáo dục của Phật giáo. Vì Phật giáo lấy con người làm trung tâm giáo hóa, đó là những con người hiện đang có mặt ở trên thế gian này. Mục đích của đạo Phật là giáo dục con người đầy đủ đạo đức, chuyển hóa họ từ xấu đến tốt, từ mê trở thành giác, vì thế vấn đề đạo đức không thể thiếu ở mỗi con người chúng ta. 5.6. Giới luât là nền tảng đạo đức xuất thế gian: 5.6.1. Đối với tự thân tu sĩ: Việc tu trì Giới luật là vô cùng quan trọng, vì ai tu tập Giới luật được chừng nào thì chứng đạt được chừng ấy. Ai tu tập trọn vẹn thì chứng được trọn vẹn. Giới luật là tự thể giải thoát của Pháp thân không tận diệt của Phật. Y theo Pháp thân này thì siêu độ hai thứ trở ngại : trở ngại vì có phiền não và trở ngại vì không thiện căn, cho nên giữ Giới thì viễn ly được lỗi lầm của ba nghiệp mà thành tựu được ba nghiệp giải thoát (thân giới, khẩu giới và ý giới). Người xuất gia cũng như người lữ khách, muốn đến đích giải thoát thực chứng Niết Bàn, cho nên chúng ta cần phải tinh tấn và trang bị đủ tư lương. Tư lương của người xuất gia là Giới, Định, Huệ, trong đó Giới là bước đi đầu tiên. Đó là lý do vì sao luật quy định Tỳ kheo “năm hạ về truớc phải chuyên học và tinh tường về Giới luật, năm hạ về sau mới được nghiên cứu giáo lý và tham thiền”. Nếu thiếu xót Giới luật thì Định – Huệ không thể phát sanh. Người ta thường nói chiếc áo chưa thể làm nên ông thầy tu. Thật vậy, chúng ta hãy nghe ngài Trí Húc nói : “Nếu thân xuất gia mà tâm không thanh bạch giữ đạo, phạm hạnh cao xa, bủa lòng từ bi ra khắp tất cả, thì đó là ăn trộm hình thức của Phật, tội thêm một lớp nữa, không thể không biết”. Điều chính yếu ở đây là tư cách đối với bản thân của nguời xuất gia, trừ những người vì mục đích lợi dưỡng và ngụy trang thì không kể. Tất cả những người xuất gia đều phải hướng đến mục đích cao thượng đó là giải thoát và giác ngộ. Không phải tất cả đều có thể thành đạt mục đích ngay trong đời này, nhưng cuộc sống thanh bạch và giới hạnh là nền tảng nâng cao phẩm giá của nguời xuất gia. Ngay từ khi bước vào chùa, việc đầu tiên của ngừoi xuất gia là học và hành “Tỳ Ni Nhật Dụng” là thiết yếu, những sự thiết yếu áp dụng hằng ngày để chấp trì Giới luật. Tác dụng của việc trì kệ chú là để diệu hóa đời sống và mở rộng tâm nguyện trong đời sống hằng ngày. Đối với bản thân người xuất gia thì phải thể hiện được đời sống tâm linh giải thoát, ở trên môi luôn nở nụ cười hiền hòa, bước những bước đi an lạc và giải thoát. Đó mới chính là hình bóng của nguời xuất gia tượng trưng cho nền đạo đức từ bi và giải thoát. 5.6.2. Đối với Tăng già: Tất cả những hoạt động Phật sự đòi hỏi nơi Tăng già, hay đúng hơn là bổn phận Phật giáo, vì “Phật giáo xương minh do Tăng già hoằng hóa”, nhưng là Tăng già trong xã hội để có thể hoằng truyền Chánh pháp, thì phải được đào tạo cả về Phật học lẫn thế học. Về Phật học, Tăng đoàn phải tạo điều kiện tiếp cận tài liệu và trí thức về sự phát triển và xây dựng xã hội. Sự thành tựu của khoa học kỹ thuật, tâm lý học thanh thiếu niên, các lãnh vực trọng yếu về sự tồn tại của nhân loại, xu hướng quốc tế hóa mọi lãnh vực hiện đại và tương lai. Nói chung hàng Tăng sĩ phải được đào tạo cả Phật học lẫn thế học, vì muốn đem đạo vào đời thì phải hiểu được cuộc đời, nên chúng ta phải nghiên cứu thêm những sách vở bên ngoài. Về Phật học thì Tăng già là rường cột duy trì kỷ cương xuất thế của đạo, nên điều tiên quyết là phải đầy đủ Giới, Định, Tuệ. Đối với Giới Luật Phật giáo, trước hết sẽ được bộc lộ qua oai nghi của một Tăng sĩ. Chính oai nghi đó là biểu tượng là sự thể hiện rõ lời dạy bảo của đức Phật, cho nên chúng ta được thấm nhuần và hiểu biết đúng đắn. Tuy chưa thể hiện bằng lời nói và việc làm nhưng qua cử chỉ oai nghi mà Phật tử đã nhìn thấy rõ và học ở Tăng già bao điều tốt đẹp, Tăng là mô phạm của Giới luật. Tuy nhiên, sống thì phải làm việc tu dưỡng, ăn uống và nghỉ ngơi, giữa cuộc sống và môi truờng sống, song chúng ta phải thực hiện lòng từ bi và trí tuệ để đối trị hai chứng bệnh là chấp ngã và chấp pháp. Nếu không thì cái chủ quan hai đối tượng ấy lại sinh ra tham lam, oán ghét và si mê, vì thế chúng ta phải thực hành Giới luật, Thiền định và Trí tuệ để diệt trừ chúng. Nghĩa là chúng ta phải sống sao cho có nề nếp, bình tĩnh và sáng suốt ngay trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, đó cũng là một trong những biện chứng thực tiễn của đạo Phật. Chúng ta muốn thành tựu tốt đẹp trong chủ trương làm cho đạo Phật trường tồn phát triển, trong mục đích cứu khổ độ sanh, trước hết chúng ta phải tự giác, tiến đến giác tha và sau cùng cả mình và người đều đạt tới giác ngộ và giải thoát. Và chúng ta phải làm thế nào để cho mọi nguời sống trong thế giới điên đảo biết tìm đến Tăng già, vì Tăng già là những người có lòng từ bi rộng lớn sẵn sàng chia xẻ niềm vui với họ và tận tình giúp đỡ họ. 5.6.3. Với tinh thần lục hòa: Chúng ta càng mở rộng tình thương đối với mọi người cùng sống chung trong tập thể “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Hay những đồng bào cùng sinh trưởng trong một quốc gia đúng như câu ca dao dân gian : “Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy là khác giống, nhưng chung một giàn”(25) Do đó mọi người có bổn phận đầu tư những kiến thức của mình, đóng góp những ý kiến hay, ứng dụng Giới luật và Luật pháp cho hài hòa, bàn bạc những việc hữu ích cho nghĩa tình càng thêm khắn khít. Ai cũng được phân phát những quyền lợi thật công bằng thì mọi người đều hăng hái đóng góp xây dựng cho tập thể, cho xã hội được thành công, cho quốc gia được giàu mạnh. Bởi mỗi người được thừa hưởng những di sản tinh thần và vật chất của tiền nhân lưu lại hay của mỗi thời đại tạo nên, tất nhiên phải có trách nhiệm làm cho nó được trường tồn và phát triển hơn lên. Vì vậy tinh thần Lục hòa còn thật sự giúp cho trật tự an sinh xã hội và tinh thần đoàn kết nội bộ của các tổ chức Tôn giáo hay cơ quan đoàn thể được vững vàng trong tình thương tương thân tương ái tương trợ lẫn nhau. 5.6.4. Với tinh thần giới luật xuất gia: Các Giới luật xuất gia đã giúp cho Tăng Ni chân chánh trở thành những người mẫu mực để làm chỗ dựa tinh thần xứng đáng cho tín đồ, làm gương sáng cho đời, làm lợi ích cho xã hội hiện tại cũng như trong tương lai. Những vị giữ gìn Giới luật thanh tịnh(26), tất nhiên được Giới đức trang nghiêm, thành bậc mô phạm cho mọi người. Những vị này một khi tư duy nói năng và làm việc, chắc chắn đều đem lại lợi ích cao thượng và thiết thực cho mọi người xung quanh. Đặc biệt với tinh thần Lợi tha và bổn nguyện của Bồ tát giới đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến với các Tăng Ni, Phật tử, làm cho họ phát tâm đại từ bi, sẵn sàng xả thân, xả của đem tài vật ra làm việc công ích cho xã hội nước nhà. Vì hoài bão của người xuất gia là “phục vụ chúng sanh tức cúng dường chư Phật” mà nó đã thể hiện qua những công tác từ thiện xã hội như : Cứu trợ đồng bào lũ lụt, thiên tai, hỏa hoạn, thăm nuôi bệnh nhân ở những trại cùi, đem lại ánh sáng cho người mù, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa v.v… Như thế xã hội là một tổng hợp nhiều cá nhân, gia đình, đoàn thể, sự thanh bình tốt đẹp của xã hội chỉ có thể thành tựu và duy trì trên nền tảng của pháp luật đặc biệt hơn là Giới luật. Pháp luật mang tính răn đe người phạm pháp và bảo vệ người lương thiện. Còn Giới luật là cơ sở của đời sống cao thượng, tự đưa mình vào khuôn phép Đạo đức, Giới luật mang tinh chất cảm hóa nét đẹp xã hội và nhận thức trí tuệ với tinh thần tự giác cao. Chính vì thế cho nên nói rằng Giới luật làm nền tảng cho xã hội hướng thượng. Tóm lại tinh thần Giới luật của Phật giáo làm nền tảng cho xã hội vươn lên về mọi mặt, có công năng rõ ràng là tạo được niềm tin cho mọi người, điều hòa được sinh hoạt của tập thể, đem lại an lạc cho mình, cho người trong hiện tại và tương lai. Nếu hạnh phúc là đối tượng mà nhân loại mãi đi tìm thì hẳn đúng là Giới luật là những gì mà người ta cần nắm bắt trên đường đi đến nơi ấy. Vì thế chúng ta nên loại bỏ hết thảy ngộ nhận về Giới luật của Phật giáo, để tiến lại gần hơn với nó và tinh tấn hành trì như nắm giữ hạnh phúc của chính bản thân mình. 5.7. Giới luật làm cho phật pháp hưng thịnh: Bài tụng kết Kinh nói : “Trong đời vua là lớn, các sông, biển là to, các sao trăng là sáng, các Thánh Phật là cao. Tất cả trong các Luật, Giới kinh là trên hết”. Chính vì Ba la đề mộc xoa quan trọng và thù thắng như vậy nên Đạo pháp hưng thịnh hay suy vi đều không ngoài phạm vi của giới luật. Ngày nay trên bước đường hành đạo, người tu hành gặp những khó khăn hay những điều bất như ý thường hay thở than “đời mạt pháp mà” với một thái độ hết sức tiêu cực, đôi khi chán nản nữa. Mạt pháp có nghĩa là Chánh pháp đã bị suy vong, suy vong từ hình thức đến nội dung, từ nhận thức đến hành trì. Ý thức tới chánh pháp đã tới thời cùng mạt, ai mà chẳng buồn, chẳng nản. Thế nhưng mạt pháp từ đâu mà đến? Từ xã hội bên ngoài hay từ sự phát triển của văn minh nhân loại? Quá khứ trên 2.500 năm của Phật giáo ở các nơi đã chứng tỏ Phật giáo có một mạng sống vĩnh viễn. Động lực chính yếu để Phật giáo hiện hữu là do nhu cầu sống của con người. Vì thế, dù xã hội có thay đổi thế nào đi chăng nữa thì Phật pháp vẫn có mặt, bởi vì con người vẫn còn nhu cầu sống. Như thế, xã hội và văn minh của nhân loại không thể làm cho Chánh pháp đi vào thời cùng mạt được. Giới hạnh của người tu liên quan đến sự thịnh suy của Phật Pháp một cách mật thiết. Chính vì thế, khi đức Thích Ca sắp vào Niết Bàn vẫn còn ân cần tha thiết nhắc các đệ tử trong Kinh Di giáo(27) : “Này các Tỳ kheo, sau khi ta diệt độ, các Thầy phải trân trọng tôn kính tịnh Giới, như mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết Tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu Ta ở đời thì cũng không khác gì Tịnh giới ấy”. Âm hưởng của lời dạy ấy đã vượt không gian và thời gian, tồn tại đến ngày nay và trong chúng ta, không ai không biết câu : “Tỳ ni Tạng trụ, Phật Pháp diệc trụ, Tỳ ni Tạng diệt, Phật Pháp diệc diệt”. (Giới luật còn hành, Phật pháp cũng còn. Giới luật không còn hành, Phật pháp cũng mất). Bởi thế, đức Thế Tôn chế ra các Giới luật. Nó không phải bắt buộc các đệ tử phục tùng mệnh lệnh của Ngài, mà để ngăn ngừa các nghiệp từ ý nghĩ đến hành động, hầu thánh hóa đời sống chúng đệ tử. Cho nên, một thầy Tỳ kheo giới hạnh thanh tịnh là bản sao chụp lại của đời sống thánh giả A La hán một cách rõ ràng và hiện thực. Đó là mảnh đất tốt để tăng trưởng thiện pháp, là nền tảng để tiến bộ tâm linh, để phát triển những nhận thức chân chính, thấy được lẽ thật của cuộc đời. Vị có Giới luật trang nghiêm là nơi an ổn cho thế gian nương nhờ, là một thành viên tích cực làm cho Phật pháp hưng thịnh. Còn Giới luật không được nghiêm trì thì chúng đệ tử của Phật sẽ là một cộng đồng ô hợp, có khi còn tai hại cho xã hội nữa. Người xuất gia mà không giữ gìn giới luật thì không thể nào phân biệt được đâu là người xuất gia, đâu là kẻ thế tục. Như vậy, chỉ có Giới luật mới tạo nên đức hạnh của người tu, mới xây dựng được những người tu hành thành những chiến sĩ trên mặt trận đạo đức, tạo nền tảng cho Phật Pháp hưng thịnh. Một người xuất gia cống hiến trọn đời mình cho lý tưởng, gởi trọn đời mình cho vị Thầy. Nếu Thầy không đủ đức độ và trình độ hướng dẫn mà nhận đệ tử thì trái với Giới luật, dẫn đến sự suy đồi của Đạo Pháp, có tội nặng hơn tên đồ tể vì nhận chìm người đệ tử vào trong ác đạo. Như thế, muốn độ người xuất gia, Thầy phải hội đủ hai yếu tố vật chất và tinh thần. Đó là cung cấp cho đệ tử một đời sống vật chất theo chế độ “Tam thường bất túc” (là ba sự nhu cầu hằng ngày như ăn, mặc, ngủ không được quá sung túc, thừa thải) và hướng dẫn đệ tử giữ gìn Giới luật, học tập Kinh điển, tu tập thiền định. Trong Luật dạy rõ, một Tỳ kheo muốn thâu nhận một đệ tử xứng đáng là một thành viên của Tăng đoàn để tạo nên sự hưng thịnh của đạo pháp, phải hội đủ các tiêu chuẩn sau : Tuổi đạo phải đủ mười hạ. Phải biết rõ ràng các trường hợp trì và phạm, khinh và trọng về Giới luật. Kiến thức phải rộng rãi. Có khả năng giải quyết những tâm tư khúc mắc của đệ tử. Có khả năng đoạn trừ tà kiến cho đệ tử. Được Tăng chấp nhận và tác pháp Yết ma sức chúng. Tóm lại : Giới luật là mạng sống của thân cây Phật pháp, là sanh mạng của người xuất gia, thiếu nó Phật pháp sẽ tàn lụi, người xuất gia không thành người tu giải thoát, nên Luật Thiện kiến ghi lại lời Phật bảo tôn giả A Nan : “Sau khi ta diệt độ, có 5 yếu tố khiến cho Chánh pháp được cửu trụ : 1. Giới luật còn ở đời thì Phật pháp cửu trụ, vì Giới luật là bậc Thầy cao cả của đại chúng. 2. Còn có Luật sư ở đời thì Phật pháp cửu trụ, vì có người thông đạt hai bộ luật và chủ trì được tạng Luật. 3. Ở đời có ít nhất 5 vị trì Luật(28) thì có thể làm cho Phật pháp cửu trụ, vì Tăng bảo còn thì Tam bảo không dứt mất, hễ có 5 vị trì Luật ở xứ sở nào thì xứ sở đó hưng thịnh 500 năm. 4. Nếu ở đô thị có được 10 vị Tỳ kheo trì Luật, ở biên địa có 5 vị Tỳ kheo thanh tịnh thì có thể làm cho Phật pháp cửu trụ, vì làm được việc truyền Giới đúng pháp. 5. Nếu có 20 vị Tỳ kheo thanh tịnh thì Phật pháp cửu trụ vì làm được việc giải tội đúng pháp cho những vị phạm Giới. Tuy Giới luật là hình thức, nhưng nếu không có nó thì không còn tiếp nối được Tăng bảo. Do đó, ở biên địa dù chỉ có 5 vị trì luật, ở trung ương chỉ có 10 vị trì luật, cũng có thể làm cho chánh pháp cửu trụ vì Tăng bảo không bị đoạn tuyệt và sự truyền trao chánh Giới không dứt mất. Như thế, nếu thượng tọa là bậc thù thắng trong chúng, cả nước đều tôn sùng mà không trì Giới, không am hiểu Luật nghi để khuyên nhắc đoàn hậu tấn, cũng không làm mô phạm cho đại chúng, tất nhiên Chánh pháp hoại diệt. Qua những phần trình bày trên, Giới luật chính là nền tảng cho sự hưng thịnh Phật pháp, đem lại an lạc, hạnh phúc lâu dài cho mình, cho người trong hiện tại và trong tương lai. Không những thế, nó còn là thềm thang để cho con người đi về đường thiện lành, nên nó liên quan đến đạo đức. III. KẾT LUẬN: Đạo Phật và đoàn thể cộng đồng Tăng lữ được tồn tại ngày nay đều do sống trong khuôn vàng thước ngọc của luật nghi quy giới. Phạm hạnh và tri túc là phương châm nằm lòng ngay từ bước đầu nhập đạo, bởi có trưởng dưỡng đạo tâm mới trang nghiêm Giáo hội. Đó cũng chính là tinh thần lục hòa, con đường bát chánh đạo. Giá trị đạo đức luôn được thăng hoa bằng đèn thiền đuốc tuệ. Mục đích giới luật của Phật giáo là hòa nhập giữa giới và trí tuệ trong nhân gian. Bởi giới cũng như đóa hoa sen sống giữa bùn nhơ nước đục vẫn tinh khiết, vươn lên không có mùi tanh mà còn tỏa ra mùi hương thơm ngát. Như trong kinh Pháp Cú(29) có dạy: “Hương các loài hoa sen Không ngược theo chiều gió Nhưng hương người đức hạnh Ngược gió khắp tung bay”. Hơn bao giờ hết Giới – Định – Tuệ là hệ thống giáo lý cứu khổ của đức Phật, vẫn luôn hữu dụng có giá trị giáo dục đạo đức tâm lý trong sáng thực tế và toàn bích hổ tương tác động lẫn nhau cho con người. Bởi vì Giới luật đức Phật chế ra không phải nói suông vô ích, mà vô cùng có ý nghĩa để củng cố phát huy đạo đức, mở rộng lòng từ trong Giáo đoàn Tăng già, giữ vững hạnh lành cho Phật tử tại gia và cộng đồng xã hội nhân loại. Thế nên, trong Kinh Đại Bát Niết Bàn đức Phật dạy rằng : “Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lợi ích lớn, Huệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị hạnh phúc lớn, Tâm cùng tu với Huệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc tức dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu”. . Đức Phật luôn đề cao an lạc hạnh phúc tinh thần đời sống, đầy đủ Giới đức, Tâm đức và Tuệ đức, một đời sống tránh xa hai cực đoan, không hành hạ thân xác sống khổ hạnh, không hưởng thọ dục lạc, một nếp sống giới hạnh cao đẹp mà mọi người từ phương Đông – Tây, nam nữ, già trẻ, xuất gia tại gia đều nương Giới mà trọn vẹn. Hoài vọng của đức Phật khi xiển dương Chánh pháp là đem đến sự trật tự, đạo đức và công bằng trong xã hội. Muốn đáp ứng khát vọng hạnh phúc ấy mà không có đạo đức, thì khổ đau vẫn tồn tại mãi. Thế nên Giới xây dựng cho hàng xuất gia lẫn tại gia một nếp sống đạo đức, mà đỉnh cao của nếp sống đạo đức ấy là sự giải thoát an lạc nhất. Để trao dồi giới hạnh mỗi tu sĩ phải chú trọng trong việc học kinh luật. Bởi vì: “Kinh luật không rõ thì mất cái thần của giới thì huệ nhơn đâu mà tỏ ngộ. Luật không phải là Thiền, nhưng hành giả muốn tham thiền phải lấy kinh luật làm phép tắc. Bởi “Kinh là lời của Phật, Thiền là tâm của Phật, Luật là hạnh của Phật. Với bản nguyện mang lợi lạc cho chúng sanh, Phật thị hiện thuyết pháp nhiệm mầu khiến chúng sanh lìa khổ được vui. Chúng ta với trách nhiệm “Thừa Như Lai xứ hành Như Lai sự” chúng ta nên lấy bản nguyện của Phật làm bản nguyện của chính mình. Muốn vậy trước tiên phải học những điều đức Phật dạy, hành những gì Ngài đã làm thì chúng ta mới có đủ tư lương hoằng pháp lợi sanh báo Phật ân đức. Giới như nước thiên nhiên trong lành, bồi bổ dinh dưỡng cho nguồn sống an lạc khắp mọi chúng sanh. Phật pháp như biển cả, có khả năng dung chứa tất cả nước của sông ngòi thành một vị mặn, lời dạy của Đức Phật bao dung tất cả giáo lý thành một sự giác ngộ giải thoát. Bởi Giới làm cương lĩnh thống nhất, giáo hóa tiền đồ Phật giáo, vì vậy Giới luật làm sự sống còn của giáo lý. Điều này chứng minh Giới dã làm tăng thêm nguồn sinh lực của Tăng già xưa cũng như thế hệ ngày nay. Do đó, con người từ đây sống chan hòa trong ánh sáng trí huệ và hương ấm tình thương trọn vẹn đúng nghĩa thăng hoa. Chính lúc này đây, Giáo pháp ngày càng trở nên sống động, đa dạng phong phú bằng nhiều phương tiện khác nhau, đi thẳng vào cuộc đời gắn liền với xã hội, tích cực góp phần thể hiện vai trò chức năng của Phật giáo. Vận dụng giáo lý khế cơ, khế lý trong Kinh – Luật – Luận trở thành một ngọn đèn trong sáng, một cây đời mãi mãi xanh tươi. Vai trò Phật giáo rất quan trọng cho vấn đề phát truyển xã hội, nếu bất kỳ một quốc gia nào áp dụng theo nền tảng đạo đức Phật giáo thì chắc chắn rằng sẽ mang đến một quốc gia hưng thịnh chấm dứt tệ nạn xã hội, một xã hội chân thiện mỹ. Để làm được điều đó không phải chuyện dễ, đòi hỏi những nhà lãnh đạo quốc gia phải làm gương áp dụng thực hành trước theo lý tưởng và đạo đức mà Đức Phật đã thiết lập ra, dân chúng sẽ noi gương theo, như tấm gương của Đại đế Asoka là một minh chứng Ngoài ra trách nhiệm Tăng sĩ cũng rất quan trọng phải có trách nhiệm chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết hướng dẫn Phật tử tu hành bằng những khóa tu để giáo dục đạo đức tuổi trẻ nhận rõ tác hại của tâm tham, sân, và si Nhờ những khóa tu ở các tự viện hiện nay, giúp các em trẻ học hỏi giáo lý, thực tập thiền định để tâm ôn hòa và có niềm tin vững chắc về nhân quả thì chắc chắn các em không bao giờ phạm pháp rơi vào vòng lao lý. Mỗi người tự ý thức tu hành chấn chỉnh đạo đức cho mình để hoàn thiện nhân cách làm người là góp phần xây dựng xã hội văn minh tốt đẹp, hòa bình, và an lạc. TÀI LIÊU THAM KHẢO: 1. Thích Minh Châu dịch-Kinh Tương Ưng Bộ I, II, III, IV, V- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1993. 2. Thích Minh Châu dịch-Tăng Chi Bộ Kinh I- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam- 1996. 3. Thích Minh Châu dịch-Trung Bộ Kinh I, II, III- Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1992. 4. Thích Minh Châu dịch-Kinh Trường Bộ I-Viện nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1996. 5. Thích Minh Châu -Chánh Pháp Và Hạnh Phúc- NXB Tơn Giáo 2001. 6. Thích Minh Châu-Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-1998. 7. Đinh Văn Đỗ- Giáo Dục Cộng Đồng-q.1- Kiến Tạo. 8. Lâm Ngữ Đường-Tinh Hoa Xử Thế-NXB Đồng Nai 1996. 9. Nhiều Tác Giả-Giáo Dục Phật Giáo Trong Thời Hiện Đại-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-NXB Tp. Hồ Chí Minh. 10. Thích Nữ Trí Hải chuyển dịch-Thanh Tịnh Đạo-Buddhaghosa- NXB Tơn Giáo 2001. 11. Nhất Hạnh-Hiệu Lực Cầu Nguyện- Lá Bối Xuất Bản. 12. Nguyên Hồng-Giáo Dục Học Phật Giáo- NXB Tơn Giáo. Thích Phước Sơn biên soạn-Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu- NXB Tơn Giáo 2004. 13. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Huy-Giáo Dục Học Đại Cương- NXB Giáo Dục 2000. 14. Thích Thiện Siêu-Vơ Ngã Là Niết Bàn- NXB Tơn Giáo 2000. 15. HT Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng I, VNCPHVN ấn hành, 1993. 16. HT Thích Minh Châu (dịch),Tăng Chi bộ kinh I, II, ĐTKVN, 1996. 17. HT Thích Minh Châu (dịch), Trường bộ kinh I,II, VNCPHVN ấn hành, 1991. 18. HT Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tứ Niệm Xứ, Trung bộ I, VNCPHVN ấn hành, 1991. 19. Bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu, Trung Bộ, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành - Kinh Pháp Cú - ấn hành 1990. 20.Tuệ Đăng(dịch), Giới luật học cương yếu, Nxb Tp. HCM, 2000. 21.Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, quyển 1, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2004. 22.Thích Nhất Hạnh, Để có một tương lai, Nxb Lá Bối. 23.Thích Thanh Kiểm, Luật học đại cương, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2001. 24.Thích Đổng Minh, Luật tỳ kheo giới bổn sớ nghĩa, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2004. 25.Thích Hành Trụ, Luật tứ phần giới bổn, Nxb Tp.HCM, 1999. 26.Thích Minh Thông, Đại cương giới Tỳ kheo, lưu hành nội bộ. 27.Viên Trí, Ý nghĩa giới luật, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2004. 28.Thích Thiện Siêu, Cương yếu giới luật, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2002. 29.Thích Phước Sơn (dịch), Luật Ma Ha Tăng Kỳ, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2003. 30.Thích Phước Sơn, Một số vấn đề giới luật, Nxb Phương Đông,Tp. HCM, 2006. 31. Kinh An Lạc - Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán Tạng - Kinh thứ 23. 32. KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Dịch Từ Hán Sang Việt: Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh Tịnh Xá Minh Đăng Quang, Hoa Kỳ Xuất Bản 1990, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội, 2009. 33. KINH DI GIÁO Đoàn Trung Còn và Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải Nhà xuất bản: Tôn giáo

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét