THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Sáu, 4 tháng 12, 2015

TÌM HIỂU CÁC MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH

TÌM HIỂU CÁC MỐI QUAN HỆ GIA ĐÌNH XÃ HỘI QUA KINH GIÁO THỌ THI CA LA VIỆT “ Trong các nhóm xã hội, các cá nhân luôn luôn thiết lập các mối quan hệ với các cá nhân khác.”. Tính chất quan hệ đó như một quy luật khách quan mà dù muốn hay không, con người vẫn phải chịu sự tác động, chi phối của nó. Hơn nữa, con người vốn dĩ có khuynh hướng và nhu cầu thiết lập quan hệ với tha nhân để sinh tồn, phát triển và thăng hoa. Trong cuộc sống, chẳng mấy ai không mong nối được một nhịp cầu bằng hữu tương giao hay vun đắp tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình, xã hội! Một quốc gia được vinh dự đứng trên trường quốc tế, được yên ổn sống trong khung cảnh hưng thịnh, phú cường là nhờ ở những người công dân có lương tâm, có hiểu biết và biết thực hành các nghĩa vụ của mình. Một gia đình ấm cúng sống trong sự hòa thuận, tin yêu, vui vẻ không thể không đòi hỏi các nghĩa vụ của từng thành viên trong gia đình đó. Do những lý do trên mà Đức Phật của chúng ta đã thuyết bài kinh “Giáo thọ Thi Ca La Việt” nhằm nhắc chàng thanh niên Singàlaka làm tốt bổn phận và trách nhiệm của mình đối với tự thân, gia đình, xã hội thay vì lạy sáu phương hết sức mơ hồ như lời phó chúc của phụ thân. Bài kinh do Đức Phật trực tiếp nói cho thanh niên Singàlaka cách nay hơn 25 thế kỷ nhưng nội dung vẫn tuyệt đối căn bản và cần thiết cho con người ngày hôm nay, nhằm xây dựng cuộc sống hạnh phúc an lạc cho bản thân, gia đình, xã hội. Ngày nay, con người đã tiến rất xa trên con đường tiến hóa, đã tạo ra những phương tiện sản xuất hiện đại để phục vụ cho đời sống vật chất và những đòi hỏi ngày càng cao của nhân loại. Mặc khác, đời sống tinh thần của con người đã và đang có những “dấu hiệu” xuống cấp trầm trọng. Đứng trước tình hình đó, chúng tôi thấy rằng trong kho tàng giáo lý của nhà Phật có rất nhiều bài kinh rất căn bản, nếu được áp dụng vào thời đại ngày nay có thể cứu vãn được tình thế “nguy kịch này”, và nhất là bài kinh “Giáo thọ Thi Ca La Việt”. Đây là một bài kinh mang đậm tính nhân văn trong Phật giáo, hướng dẫn và giáo dục con người về cung cách cư xử, về những bổn phận và những trách nhiệm đối với chính bản thân cũng như những người xung quanh. Nếu ai thực hiện được những lời dạy của Đức Thế Tôn trong bài kinh này chắc chắn người đó sẽ có được một cuộc sống hạnh phúc, an vui trong hiện tại cũng như các đời sống ở tương lai. Do tính ưu việt của bài kinh, tác giả không ngần ngại, dù kiến thức về Phật học còn hạn chế, khả năng hành trì chưa “vững chãi”, bắt tay vào nghiên cứu bài kinh với hy vọng sẽ góp thêm một cái nhìn mới về đạo Phật – một đạo Phật rất thực tế lạc quan vì con người và cuộc đời chứ không phải một đạo Phật bi quan yếm thế như người đời xưa nay vẫn nghĩ. Đây là một đề tài mang tính “thời sự” vì nó liên quan đến đời sống của mỗi người. Do đó, khi thực hiện đề tài này, tác giả nghĩ rằng đây là một vấn đề luôn luôn mới mẻ, hấp dẫn đối với những ai còn khao khát đi tìm cái hay cái đẹp trong cuộc sống. Do tính chất “cấp thiết” và tính “thời sự” của vấn đề muôn thuở của con người, chắc chắn đề tài này sẽ cống hiến những hiểu biết và cảm nhận giá trị - tinh hoa của đạo Phật - cho từng cá nhân và cho sự tiến bộ xã hội nói chung. Đứng về mặt cá nhân, chúng ta phải thấy rằng bài kinh này đã đang và sẽ nâng phẩm giá của con người lên tầm cao của thời đại. Bởi vì chính sự tương tác của các mối quan hệ sẽ khẳng định chúng ta trong lòng xã hội. Giá trị của con người không nằm trong vị trí hay địa vị xã hội mà nằm trong hành động (đạo đức) và cung cách ứng xử (trí tuệ) của anh ta đối với xã hội. Vấn đề của chúng ta là nhìn nhận, sống và hành động như thế nào mà thôi! Đứng về mặt xã hội, mọi người đều bình đẳng với nhau không có sự phân biệt về vị trí địa vị. Trong xã hội không có sự cao thấp trong công việc và vị trí của mình. Bất kỳ chúng ta ở vị trí nào nếu chúng ta làm đúng với vai trò của vị trí đó thì chính chúng ta sẽ nuôi dưỡng được panânâa (trí tuệ) và karùna (từ bi). Từ đó chúng ta hành động để làm lợi mình, lợi người đưa đến an lạc cho bản thân và xã hội. Vì vậy, Phật giáo như một phương thức ứng nhân xử thế thắm đượm tình người, một cách sống hoàn toàn thiết thực với đời thường, mà chưa được giới thiệu một cách đầy đủ. Nói khác đi, đạo Phật không chỉ hướng dẫn con đường siêu thế mà còn có khả năng giới thiệu cho con người ( dù Phật tử hay không phải là Phật tử) những phương thức xây dựng tốt đẹp, hữu ích trong các mối quan hệ ở trong gia đình, và ngoài xã hội. Một đạo Phật hoàn toàn dành cho cuộc sống đời thường mà trước hết là dành cho giới Phật tử tại gia. 1.2.1. Quan hệ giữa cha mẹ và con cái 1.2.2. Quan hệ giữa vợ và chồng 1.3. Tìm hiểu các mối quan hệ xã hội 1.3.1. Quan hệ giữa thầy – trò 1.3.2. Quan hệ giữa bạn bè 1.3.3. Quan hệ giữa chủ – người làm công 1.3.4. Quan hệ giữa tại gia – xuất gia 2.1. Ý nghĩa của các mối quan hệ gia đình 2.1.1. Ý nghĩa của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái 2.1.1.1 Cha mẹ đối với con cái a. Ngăn chặn con làm việc ác b. Khuyên dạy con làm việc lành c. Tạo dựng nghề nghiệp chân chánh cho con cái d. Xây dựng gia thất xứng đáng cho con cái e . Truyền trao gia tài cho con cái đúng thời 2.1.1.2. Con cái đối với cha mẹ a. Tôi sẽ nuôi dưỡng cha mẹ b. Làm tròn bổn phận đối với cha mẹ c. Giữ gìn danh dự và truyền thống gia đình. d. Bảo vệ tài sản thừa tự e. Lo chu toàn tang lễ cho cha mẹ đúng pháp 2.1.2. Ý nghĩa của mối quan hệ giữa vợ và chồng 2.1.2.1. Vợ đối với chồng : a. Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình. b. Khéo tiếp bà con bên chồng c. Trung thành với chồng d. Khéo giữ tài sản của chồng 2.1.2.2. Chồng đối với vợ a. Kính trọng vợ b. Không bất kính đối với vợ c . Trung thành với vợ d. Giao quyền hành cho vợ d. Sắm đồ nữ trang cho vợ 2.2. Ý nghĩa của các mối quan hệ ngoài xã hội 2.2.1. Quan hệ giữa tại gia – xuất gia 2.2.1.1. Tu Sĩ Đối Với Cư Sĩ ( Tín Đồ) a. Ngăn họ làm điều ác b. Khuyến khích họ làm điều thiện c. Thương xót họ với tâm từ bi d. Dạy họ những điều chưa nghe và làm cho thanh tịnh điều đã được nghe. e. Làm cho thanh tịnh điều đã được nghe 2.2.1.2. Tín đồ đối với tu sĩ a. Có lòng từ trong hành động về thân b. Có lòng từ trong hoạt động về lời c. Có lòng từ trong hoạt động về ý d. Mở rộng cửa để đón các vị ấy e. Cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết. 2. Qua những gì vừa được trình bày trên, đạo hiếu của Phật giáo bao gồm đạo làm cha mẹ và đạo làm con cái. Năm nguyên tắc đạo đức của đạo làm cha mẹ và năm nguyên tắc đạo đức của đạo làm con trong kinh Thiện Sanh có thể được xem là những chuẩn mực, khuôn vàng thước ngọc cho các mối quan hệ của cha mẹ và con cái trong một xã hội tiến bộ và văn minh. Người viết nghĩ rằng đạo hiếu tích cực và toàn diện như vậy nên được đưa vào giảng dạy trong các cấp bậc của học đường để phục hưng và chấn chỉnh một nền đạo đức bị suy thoái hiện nay, do thiếu ánh sáng từ bi và trí tuệ của đạo Phật. Nếu năm nguyên tắc đạo làm cha mẹ nên được phổ biến rộng rãi trong các hội bô lão và các hội phụ huynh thì năm nguyên tắc đạo làm con nên được truyền bá trong các câu lạc bộ thanh thiếu niên, trong các hội đoàn sinh viên học sinh, để các bậc làm cha mẹ xứng đáng là cha mẹ và để các người con xứng đáng là những người con. 2.Bên cạnh đó, trong mối quan hệ vợ – chồng, Đức Phật khuyên người chồng có năm bổn phận đối với vợ và ngược lại người vợ cũng có năm bổn phận đối với chồng. Mỗi cương vị có năm điều khoảng như vậy đã được Đức Phật sắp đặt theo một trật tự nhất định trước sau, sự liên hệ chặt chẽ trong từng điều một không phải là ngẫu nhiên mà có một dụng ý hết sức tinh tế, từng vấn đề tương ứng nhau, cho ta thấy sự cân bằng trong đời sống giữa hai người, và tạo ra một đạo luật mà chúng ta có thể gọi đó là đạo phu thê, là đạo vợ chồng theo quan điểm của Phật giáo. Nếu cả hai bên thực hiện tốt đẹp bổn phận trách nhiệm của mình, thì mối quan hệ giữa vợ chồng sẽ trổ hoa an lạc, hạnh phúc gia đình đầm ấm, vui tươi. Đức Phật gọi điều đó là : “ Phương tây được che chở, trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi”. Ngược lại, nếu vợ chồng không được “ trong ấm, ngoài êm”, thì điều đó không chỉ người đương cuộc khổ đau mà có gây ra cho xã hội biết bao cảnh đau lòng, xót xa, nhất là con cái của họ. Ngay trong xã hội Việt Nam chúng ta hiện nay, những người vợ có học thức, đạo đức và có tư cách, họ có thể cảm thấy tự hào, vinh dự khi được xã hội ca tụng là vì bình đẳng với chồng, là ngang hàng với chồng không nhỉ ? Và tại sao các cô gái hiện nay vẫn luôn ao ước lựa chọn một tấm chồng hơn mình “ một cái đầu”, điều này nói lên ý nghĩa về khả năng, sự hiểu biết của người chồng, làm điểm tựa tinh thần và cuộc sống cho người phụ nữ rất quan trọng mà ai trong chúng ta cũng không thể phủ nhận được. Như thế, cái cũ thì đã sang trang, còn cái mới vẫn chưa phải phù hợp với người Việt Nam cho lắm. Trong bối cảnh đó, người viết mong rằng, đạo phu thê mà Đức Phật giới thiệu trên đây sẽ góp phần không nhỏ cho việc xây dựng một chuẩn mực, một đạo lý vợ chồng của người Việt Nam, cho người Việt Nam trong thời đại mới. Một đạo lý vợ chồng đậm đà tính dân tộc, phù hợp với đà tiến bộ trên thế giới. 4. Từ mối quan hệ tu sĩ - cư sĩ trên đây chúng ta có thể nhận xét rằng, tu sĩ hay tôn giáo phải thực sự đóng góp hữu ích cho tín đồ, cho cuộc đời về phương diện tâm linh, đạo đức. Và tín đồ phải hỗ trợ tôn giáo, tu sĩ về phương tiện vật chất đó một sự hỗ tương hữu ích. Thứ hai là không có một điều lợi ích tốt đẹp nào cho đời mà không phải là mục đích của tôn giáo. Nói khác đi, tôn giáo tồn tại chỉ duy nhất vì lợi ích cho cuộc đời. Trái lại những hỗ trợ của cuộc đời dành cho đạo thật sự có ích cho đời nhiều hơn, nếu không muốn nói là tự giúp. Cho nên làm hại cho đạo mà thật sự là làm tổn thương cho đời và tự hại. Thứ ba là đạo và đời như hai mặt của một thực thể thống nhất. Đúng ra là hai phần của một con người không hơn, không kém. Cuối cùng là trong quan hệ đạo-đời, tu sĩ-cư sĩ cho thấy rằng, sự cầu xin hay ban ân là một điều khá xa lạ trong tôn giáo, ít ra là theo quan điểm mà Đức Phật đã nêu ra trên đây. Một vấn đề có tính chất lịch sử dân tộc mà người viết muốn nêu ở đây là: dân tộc chúng ta rất có lòng bao dung đối với các tôn giáo khi họ đến quê hương này, như Phật, Lão, Nho; kể cả Thiên Chúa Giáo và một số đạo giáo khác. Theo quan điểm của Đức Phật là chúng ta nên: “ Mở rộng cửa để đón các vị ấy”. Dân tộc Việt Nam đã làm tròn bổn phận đối với tôn giáo. Trái lại, tôn giáo cũng từng làm tròn trách nhiệm của họ đối với dân tộc rõ nét nhất là dưới thời Lý, thời Trần. Đặc biệt là Phật giáo đã từng là “cốt lõi” cho mọi phát triển xã hội lúc bấy giờ trong cả hai triều đại nhà Lý và nhà Trần. Và chỉ duy nhất hai triều đại đó là phú cường nhất, là thời đại vàng son nhất trong suốt thời kỳ phong kiến Việt Nam. Ngày nay người viết cũng hy vọng rằng, tôn giáo và dân tộc chúng ta cũng sẽ làm được những gì vẻ vang, phú cường cho quê hương Việt Nam như đã từng có trong lịch sử nước nhà. 5. Từ những gì đã nêu ở trên cho thấy rằng, những chuẩn mực mà Đức Phật đưa ra trong những mối quan hệ này rất hữu ích và đầy tính nhân văn. Nếu xã hội tuân thủ những nguyên tắc đó thì sẽ làm giảm đi những xung đột, mâu thuẩn giữa đôi bên, đặc biệt là những thiệt hại cho chính bản thân mỗi người và cho cả xã hội.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét