THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015

ỨNG DỤNG ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO TRONG VIỆC SỰ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THỜI HIỆN ĐẠI

ỨNG DỤNG ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO TRONG VIỆC SỰ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THỜI HIỆN ĐẠI I. DẪN NHẬP: Đạo đức là thước đo thang giá trị của con người mọi thời đại. Những giá trị đạo đức không bao giờ thay đổi, có chăng là chỉ thay đổi cách nhìn về giá trị ấy. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ nơi cuộc sống hiện đại. Cuộc sống hiện đại đã làm cho con người có những cách nhìn mới về những giá trị đạo đức. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tân tiến mang lại cho con người nhiều tiện nghi thoải mái. Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho con người nhiều nỗi phiền toái, và còn lấy mất khỏi con người nhiều giá trị cao đẹp – vốn là những điều quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lý tưởng sống của con người. Những phương tiện khoa học kỹ thuật vốn không tốt cũng không xấu. Nó tốt hay xấu là phụ thuộc vào người sử dụng nó. Thế nhưng, những phương tiện khoa học kỹ thuật, hay nói một cách nôm na hơn là cuộc sống hiện đại đã làm cho con người, nhất là những người trẻ, có những thay đổi cách nhìn về giá trị đạo đức. Giới trẻ ngày nay có cách nhìn về cuộc sống, con người, thời đại và về những giá trị đạo đức khác những người xưa nhiều. Đạo đức truyền thống đối với họ không phải là điều bắt buộc nữa. Thứ đạo đức đó đối với họ đã trở thành những món đồ cổ rồi. Phải chăng bây giờ lớp trẻ đang sống thiếu đạo đức? Một vấn nạn không dễ trả lời. Những giá trị cao đẹp vốn đã tồn tại bao đời, đang thiếu vắng nơi một bộ phận các bạn trẻ hôm nay. Là con người hoài vọng cho một tương lai sáng lạn, một đất nước giàu và đẹp, cho một tương lai nhân loại tươi sáng hơn, ai lại không băn khoăn, ưu tư trước những thách đố của thời đại, trong đó có vấn đề giá trị đạo đức nơi người trẻ, hay nói một cách thực tế hơn là nhân cách của giới trẻ. Hằng ngày, chúng ta có thể xem thấy hay đọc được trên các phương tiện thông tin đại chúng những mảnh đời tươi trẻ đang sa vào vũng lầy của tội phạm, tiêm chích… rồi rơi vào tuyệt vọng. Mang lấy kiếp người, không ai tránh khỏi đau khổ, nhưng có những cái đau đáng tôn trọng, có những cái đau đáng thương, có những cái đau để rèn luyện nhân đức con người và cũng có những cái đau chỉ mang lại thêm đau khổ. Những cái đau đớn do ngoại cảnh đem đến cho ta không nói làm gì, điều đáng nói ở đây là có những cái đau mình biết là do mình tạo nên, nhưng vẫn lao vào đó để chuốc lấy cũng như mang đến cho người khác thì thật đáng trách. Phải làm gì đây để quét sạch những cọng rác làm dơ bẩn sân chơi của cuộc đời? Dòng đời vẫn ngược xuôi tất bật, ngồi yên một mình trong phòng để suy nghĩ cũng không xong, mà nếu dạo quanh phố phường một vòng thì thấy toàn là những “điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Nhìn những người trẻ sống vất vưởng bên dòng đời, tôi cảm thấy ưu tư, xót xa cho những số phận phũ phàng tang thương đó. Đây là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu này: một là để hiểu hơn thực trạng của đời sống người trẻ; hai là để hun nóng những ưu tư trong con tim mình nhằm có một hướng đi cho tương lai dâng hiến. Đạo đức ngày nay bao gồm nhiều lĩnh vực, chứ không gói gọn trong cách học làm người: Đạo đức sinh học, đạo đức trong kinh doanh, đạo đức trong chính trị, đạo đức trong nhà trường, đạo đức trong tôn giáo… mỗi một trong những nền đạo đức này nói lên một khía cạnh nào đó của cuộc sống con người. Giá trị của chúng khác nhau, tuy nhiên, chúng có một điểm chung là con người. Giá trị đạo đức thực là cái bảo đảm cho một cuộc sống hạnh phúc hơn, sung mãn hơn. “Giá trị đạo đức nơi người trẻ hôm nay” không phải là một đề tài mới mẻ đối với quần chúng, vì thực tế đã có nhiều người viết và viết đến nơi đến chốn. Trong phạm vi và giới hạn của bài tiểu luận này, người viết không có tham vọng trình bày một cách rốt ráo mọi góc cạnh của đạo đức cũng như những thay đổi về giá trị đạo đức nơi người trẻ hôm nay; người viết chỉ mong, qua tiểu luận này, nói lên những suy tư của mình về hiện tình sống của người trẻ cũng như là để tìm hiểu sâu hơn những gì đang diễn ra nơi họ. II. NỘI DUNG: 1. ĐẠO ĐỨC VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI: 1.1. Đạo đức là gì ? Để hiểu đạo đức là gì, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu từ nguyên của nó đã. Trong tiếng Việt, nghĩa của từ “đạo đức” và “luân lý” gần giống nhau. Để hiểu rõ nội dung của đạo đức cần đi tìm ý nghĩa của từ đạo đức và luân lý. Theo “Hán – Việt Từ điển” của Đào Duy Anh, đạo đức bao gồm “Nguyên lý tự nhiên là đạo, được vào trong lòng người là đức – Cái lý pháp người ta nên noi theo”. (Đào Duy Anh, 1957) Theo Từ điển Tiếng Việt thì từ “đạo đức” là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có” (Minh Tân - Thanh Nghi - Xuân Lãm, 1999). Còn từ “luân lý” có nghĩa là “những quy tắc về quan hệ đạo đức giữa người với người trong xã hội” (Minh Tân-Thanh Nghi-Xuân Lãm, 1999). Theo “Từ điển Phật học Huệ Quang” của Thích Minh Cảnh, “đạo đức” là “nguyên lý thiện ác, chánh tà có liên quan đến hành vi của nhân loại” (Thích Minh Cảnh, ?). Hữu Ngọc - Dương Phú Hiếp - Lê Hữu thì quan niệm “đạo đức hay luân lý là một trong những hình thái sớm nhất của xã hội, bao gồm những nguyên lý (đạo lý), quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng”. (Hữu Ngọc - Dương Phú Hiếp - Lê Hữu, 1987, tr. 145). Cũng những tác giả này, họ định nghĩa về môn học này như sau: “Đạo đức học hay luân lý học là khoa học triết học nghiên cứu đạo đức - làm rõ vai trò nguồn gốc và sự phát triển của đạo đức trong lịch sử cũng như cơ sở lý luận của những hệ thống đạo đức cụ thể” (Ibid.). 1.2. Vai trò đạo đức trong cuộc sống con người: Giả như con người không có nền đạo đức nào làm chuẩn mực để hướng dẫn những hành vi của mình thì con người cũng giống như bao nhiêu sinh vật khác vậy, không hơn không kém. Con người khác với con vật là ở chỗ, con người có tình yêu thương được thể hiện trong quan hệ giữa người với người. Những tiêu chuẩn hướng dẫn hành vi giúp con người sống đúng với hữu thể có lý trí và linh hồn. Một xã hội mà trong đó con người không tôn trọng nhau, nghĩa là không được xây dựng trên những giá trị đạo đức thì xã hội ấy không còn là xã hội đúng như tên gọi của nó nữa. Một xã hội trong đó mọi người tôn trọng nhau, cư xử với nhau có trên có dưới thì xã hội đó mới thực là xã hội của con người. “Đạo đức là cốt ở sống hợp với bản tính của con người. Các triết gia không đồng ý với nhau, khi cần phải định bản tính của con người là gì, điều này tuỳ thuộc vào quan niệm siêu hình của từng môn phái; nhưng tất cả đều đồng ý mà quả quyết rằng đời sống đạo đức là cốt ở sự thực hiện cứu cánh của con người đúng theo chân bản tính của nó. Như thế, đạo đức không phải là gò ép con người và làm cho nó suy giảm, trái lại, đạo đức là làm nảy nở tất cả những gì có giá trị nơi con người. Vậy đạo đức rất là quan hệ; không có đạo đức, người ta có thể làm một kỹ sư hay một thương gia tài giỏi, nhưng không có đạo đức thì không thể trở nên một con người hoàn hảo và không thể phát triển tất cả những gì cao quý tốt đẹp của bản thân chúng ta”. 1.3. Đạo Đức là một Sản Phẩm của Quá Trình Tiến Hóa Tự Nhiên: Trong vũ trụ có sẵn những giá trị “chân thiện mỹ” tự nhiên mà con người ai cũng có thể cảm nhận và ngưỡng mộ. Thí dụ như thương yêu đồng loại, bảo vệ gia đình, mến kính cha mẹ, chăm sóc con cái v.v. Con người có thể truyền dạy và thực hành các giá trị chân thiện mỹ nầy không cần tôn giáo. Hầu hết trong giáo điều của mọi tôn giáo đều có bao gồm một số những giá trị chân thiện mỹ nầy. Những giá trị chân thiện mỹ trong các tôn giáo đều tương tự nhau, mặc dù người ta có thể khoát cho chúng những lớp áo có màu sắc và hình dạng khác nhau. Gần đây đã có nhiều chương trình khảo cứu về ảnh hưởng của tôn giáo trên cung cách của con người. Người ta muốn thử tìm hiểu xem tôn giáo có những ích lợi gì cho con người và tôn giáo có thật sự làm cho một người trở thành có đạo đức hay không. Từ những cuộc nghiên cứu nầy, có nhiều chứng cớ hỗ trợ quan điểm nói rằng tiêu chuẩn đạo đức có thể tự xảy sinh từ tâm thức mỗi người và không cần phải xuất nguồn từ tôn giáo. Hầu như có thể nói rằng chúng ta sinh ra với những nhận định cơ bản đâu là sai đâu là đúng đã có sẵn trong đầu. Không tôn giáo hay hệ thống tín ngưỡng nào có thể làm thay đổi những giác quan cảm nhận việc sai đúng cơ bản nầy trong mỗi người cả. Hơn nữa, trong những tập thể tiền sử (cũng như trong xã hội ngày nay), một cá nhân được nhiều người yêu chuộng thường có nhiều lợi điểm trong đời sống hằng ngày. Vì thế dần dần mọi người đều đi đến một nhận xét rằng "làm điều tốt sẽ đem lại điều tốt cho chính mình". Từ nhận xét nầy, một sự kiện quan trọng khác xảy ra: con người dần dần nhận biết rằng "lúc nào cũng có người quan sát và phán xét xem việc mình làm có tốt hay xấu". Có nghĩa là hành vi và tư cách của một người hầu như luôn luôn bị củng cố và kềm chế bởi những áp lực chung quanh của tập thể. Từ những áp lực xã hội nầy, tiêu chuẩn đạo đức thành hình. Nói cách khác, đạo đức thành hình vì mọi người từ thời cổ đại dần dần có một khái niệm chung về những điều gì là xấu, những điều gì là tốt. Việc có đạo đức là một điều có ích lợi, và được khuyến khích, vì người có đạo đức thường đem lại và nhận được nhiều điều tốt từ những người chung quanh. Đạo đức tôn giáo thành hình là vì cái quan niệm "có ai đó ngó chừng từng hành động của mỗi người" được dần dần biến cải thành ý niệm "có một ai đó siêu hìnhngó chừng từng hành động của mỗi người". 1.4. Giá trị đạo đức và sự biểu hiện của nó trong đời sống xã hội: Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng đạo đức thống trị trong xã hội là tư tưởng đạo đức của giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế. Giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế dựa vào bộ máy nhà nước để tuyên truyền, giáo dục và thể chế hoá tư tưởng đạo đức của mình thành những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, biến nó trở thành thước đo đánh giá, điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong xã hội, phù hợp với lợi ích của nó. Giá trị, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu nó là cái mà do nó đã làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, được mọi người thừa nhận. Người ta có thể phân chia giá trị thành: giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị riêng, giá trị chung, giá trị xã hội. Có quan điểm cho rằng giá trị là cái vốn có của khách thể, nhưng mỗi chủ thể lại có thể đánh giá, xem xét nó trên những góc độ khác nhau, đưa đến những quan niệm khác nhau về giá trị. Theo chúng tôi, quan điểm đó không đúng, bởi khi nói đến giá trị là nói đến cái được mọi người thừa nhận, phù hợp với lợi ích của xã hội. Tuy nhiên, giá trị cũng là phạm trù có tính lịch sử. Xuất phát từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu giá trị đạo đức là cái được con người lựa chọn và đánh giá, xem nó như là việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương. Lợi ích xã hội là tiêu chuẩn khách quan của các giá trị đạo đức, do đó chỉ khi nào những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ thì mới có giá trị. Như vậy, giá trị đạo đức được xác định bởi mức độ phù hợp của chúng đối với yêu cầu của tiến bộ xã hội. Song lợi ích xã hội và yêu cầu của tiến bộ xã hội lại có tính lịch sử, nghĩa là mỗi giai đoạn phát triển xã hội lại có những yêu cầu về lợi ích và sự tiến bộ của nó, chính vì vậy mà giá trị đạo đức cũng có tính lịch sử. Ph.Ăngghen cho rằng lời răn đạo đức "không được trộm cắp" chỉ có giá trị ở các xã hội có chế độ sở hữu tư nhân về động sản, còn "trong một xã hội mà mọi động cơ đẩy tới trộm cắp đều bị loại trừ, do đó đần dần hầu như chỉ cô những người mắc bệnh tinh thần mới phạm tội trộm cắp, thì một nhà truyền bá đạo đức nào muốn trịnh trọng tuyên bố cái chân lý vĩnh cửu: không được trộm cắp, sẽ bị người ta chê cười". Trong quá trình hoạt động sinh sống, mỗi cá nhân không chỉ mưu cầu lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, mà còn mưu cầu sự tiến bộ của bản thân và đều muốn được dư luận xã hội ca ngợi, biểu đương. Do đó, những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức xã hội trở thành mục tiêu, thành những định hướng cho hoạt động cá nhân của nó. Những hành vi đạo đức có tính chất lặp đi lặp lại, tạo nên các quan hệ đạo đức tương đối ổn định và nó thường xuyên được duy trì, củng cố bằng dư luận xã hội sẽ trở thành thói quen, tập quán, truyền thống đạo đức trở thành nhân tố trực tiếp tác động đến sự hình thành đạo đức của thế hệ người tiếp theo. Như vậy, giá trị đạo đức trong trường hợp này được hình thành, phát triển ra sao luôn phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức được tuyên truyền, giáo đục trong xã hội. Tự giáo dục đạo đức của cá nhân, trước hết thế hiện ở chỗ, môi cá nhân thông qua sự tự phán xét của lương tâm về hành vi của mình để củng cố các chuẩn mực đạo đức cá nhân, để đạt tới hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức đó. Mặt khác, dựa vào dư luận xã hội, họ tự điều chỉnh hành vi và điều chỉnh ngay cả những chuẩn mực đạo đức cá nhân khi nhận thấy nó sai lệch với chuẩn mực xã hội. Giá trị đạo đức trong trường hợp này được xác định phụ thuộc vào sự nhạy cảm, sự cầu thị của chủ thể trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho phù hợp với tư tưởng, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Nhận thức đạo đức ớ trình độ kinh nghiệm hoặc tình cảm đạo đức gắn liền với hoạt động thực tiễn, với các quan hệ đạo đức của xã hội và luôn chịu ảnh hưởng của dư luận, tập quán, truyền thống đạo đức. Quá trình này hình thành nên ớ chủ thể đạo đức nhưng hình ảnh, những "thần tượng" được coi là chuẩn mực trực tiếp cho việc đánh giá, điều chỉnh hành vi đạo đức của họ. Chẳng hạn, một đứa trẻ thường thông qua việc quan sát những hành vi ứng xử cửa bố mẹ nó vời bạn bè, với nhưng người thân trong gia đình, với công việc... nó cũng sẽ làm như bố mẹ đã làm trước đây. 1.5. chuẩn mực đạo đức tác động của nền kinh tế thị trường: Sự xuống cấp về đạo đức xã hội như đã nói đang diễn ra chính là kết quả của những biến động, biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta. Vậy quá trình biến động và biến đổi đó đã diễn ra như thế nào? Đạo đức, lối sống là những vấn đề cốt lõi trong đời sống văn hóa của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc. Sự ổn định hay không ổn định, phát triển hay suy thoái của các quốc gia thường có quan hệ trực tiếp với vấn đề đạo đức xã hội. Để hình thành những chuẩn mực đạo đức và lối sống tốt đẹp, đòi hỏi một thời gian khá dài, có khi phải vài ba thế hệ. Nhưng để phá bỏ những chuẩn mực có giá trị và thay vào đó những phản giá trị thì chỉ cần một thời gian rất ngắn. Việc xây dựng đạo đức và lối sống có văn hóa hiện nay không thể không bắt đầu bằng sự nhận diện các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Lịch sử dạy chúng ta rằng để giải quyết những vấn đề hiện tại của đời sống xã hội, không thể không trở về với những bài học của quá khứ của cha ông. Mặt khác, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và của xu thế toàn cầu hóa với tính hai mặt của nó, mỗi người Việt Nam cần nhận biết chúng ta là ai và từ đâu tới. Không nhận biết được những điều đó thì làm sao có thể xác định hướng đi của chúng ta sẽ về đâu. Nhận diện được các giá trị truyền thống cũng là điều kiện tham chiếu cực kỳ quan trọng để nắm bắt được những biến động, biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội đang diễn ra. Vấn đề đặt ra là từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường đến nay, sau những năm vận hành và tìm tòi những lộ trình phù hợp, chúng ta vẫn chưa hiểu thật đầy đủ cả về lý luận lẫn thực tiễn nền kinh tế đó. Tình hình đó dẫn tới một thực tế là: trong khi chúng ta chưa phát huy hết mặt tích cực của kinh tế thị trường, thì mặt tiêu cực của nó lại thao túng, ảnh hưởng trên cả lĩnh vực sản xuất vật chất và sự sáng tạo, sàng lọc các giá trị tinh thần, đạo đức. Tình hình càng trở nên phức tạp hơn, khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang phải đối diện là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Điều này nhiều học giả trên thế giới đã nhận định: toàn cầu hóa kinh tế hiện nay thực chất là toàn cầu hóa kinh tế tư bản chủ nghĩa. Khi kinh tế thị trường bị chủ nghĩa tư bản chi phối, thì đương nhiên nó sẽ hy sinh phần xã hội cho kinh tế, nó duy trì sự phân hóa giàu nghèo, tạo nên sự sa sút về đạo đức và sự tha hóa con người... Trong khi các quan hệ ngoài xã hội đang suy giảm, thì gia đình là bến đỗ của con người cũng đang bị lung lay, xung đột vì các lợi ích cá nhân. Xu thế giải thể gia đình nhiều thế hệ diễn ra trên thế giới cũng đang tác động tới nước ta. Mối quan hệ ràng buộc các thành viên gia đình trong một tổ ấm đang bị đe dọa. Nhiều vụ ly hôn, ly thân, hôn nhân ngoài giá thú, hôn nhân thử nghiệm xuất hiện làm mất đi tính chất thiêng liêng trong quan hệ gia đình cùng với sự gia tăng nạn bạo hành gia đình, bạo lực học đường đã làm cho xã hội bất an, tác động trực tiếp đến thế hệ trẻ. 1.6. Đạo đức thời khát tiền: Khi nhiều người bắt đầu hành xử không còn giống như các phép tắc luân lý truyền thống thì đó là biểu hiện xã hội đã thay đổi đáng kể về cấu trúc. Lúc dư luận bắt đầu bàn đến điều đúng cái sai trong cuộc sống hằng ngày chính là quá trình hình thành của một định chế mới về đạo đức. Mỗi mô hình sản xuất, mỗi loại hình xã hội, mỗi cộng đồng dân tộc và địa phương theo bề dày lịch sử đã hình thành nên những hệ chuẩn đạo đức khác nhau mà nay khi toàn cầu hóa kéo sát họ lại với nhau khiến mỗi cá nhân ngơ ngác lạc lối. Sự hiểu biết về sự hình thành và thay đổi của tư duy xã hội sẽ giúp mỗi chúng ta biết cách đọc biển chỉ đường và bản đồ địa hình để tự tin đi trên con đường luân lý - tức là đạo đức - của mình và xã hội. Xung đột giữa các nền văn minh càng nguy hiểm hơn, có thể dẫn đến chiến tranh, khi mà trong một nền văn minh phụ nữ thoải mái mặc bikini ôm bạn trai chụp hình khoe trên mạng, còn trong một nền văn minh khác phụ nữ bị cấm đi xem đá bóng và phạm luật phải ngồi tù. Đúng sai tùy theo không gian và thời gian chỉ mang tính tương đối và mỗi con người phải chấp nhận để thích nghi hay chọn con đường cải tạo để xây dựng môi trường sống phù hợp cho bản thân, con cái sau này. Đạo đức trong kinh doanh là một trong số những môn tự chọn trong giáo trình đào tạo ngành quản trị, với nội dung tương tự như vừa trình bày. Các công ty đa quốc gia luôn nằm giữa các mâu thuẫn về đạo đức giữa các cộng đồng và nền văn minh mà họ hoạt động. Rửa tiền hay hối lộ là chuyện bình thường hay thậm chí bắt buộc phải làm ở một số nơi thì lại là hành động bị trừng phạt bằng rất nhiều tiền ở một số nơi khác. Đạo đức thời nay không còn đơn thuần là giá trị xã hội, mà được đo bằng rất nhiều tiền - hàng trăm triệu USD như một án phạt gần đây đối với một tập đoàn tài chính đa quốc gia có chi nhánh ở Việt Nam. Mỗi khi làm điều gì vô đạo đức, người ta dễ dàng tự thanh minh rằng đó là để kiếm cơm. Điều này không có gì lạ vì như thời Trung cổ, dân châu Âu có thể dễ dàng đến nhà thờ bỏ một đồng xu vào hộp để mua một tờ giấy xóa tội, cũng như bây giờ người Việt ta bỏ chút tiền lễ đến chùa cúng sao giải hạn. Trào lưu đạo đức trong một xã hội thông tin thường chịu ảnh hưởng mạnh từ các nhân vật nổi tiếng hay tùy thuộc vào hệ thống khoa giáo. Tiêu chuẩn đạo đức có thể phát xuất từ một người, rồi thông qua gia đình và tổ dân phố, hay thông qua sinh viên và những người xin chữ ông đồ, hay nhờ thuyết giảng như một con đường tín ngưỡng, hoặc là từ một nhóm dân sự qua các kênh thông tin và mạng lưới liên lạc sẽ lan truyền dần vào xã hội. Sự thay đổi cũng có thể là kết hợp của tất cả yếu tố đã nêu, như từ vận động đến luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm, hay từ hiệp ước quốc tế về quyền trẻ em đến việc thức tỉnh xã hội về vấn nạn bạo lực trong trường học, hoặc là thái độ của xã hội đối với người đồng tính luyến ái. 1.7. Chỉ số trách nhiệm xã hội: Một trong số những trách nhiệm xã hội của người trí thức chính là duy trì và phát triển luân lý đạo đức cộng đồng. Một trong số những trách nhiệm xã hội của người kinh doanh là giúp người trí thức có thể tập trung vào công tác cộng đồng, và một trong số những trách nhiệm xã hội của người làm chính trị là xây dựng cơ cấu để thực hiện các tư tưởng dân sinh đó. Một trong số những trách nhiệm xã hội của công dân là thực hiện các cam kết mà số đông trong xã hội đã thông qua, và một trong số những trách nhiệm xã hội của phụ huynh và thầy cô giáo là dạy dỗ, đào tạo một thế hệ trẻ biết ý thức về luân lý đạo đức và trách nhiệm xã hội. Một giai đoạn dài sống trong nền kinh tế bao cấp tạo ra thói quen dựa dẫm vào hệ thống, còn những năm tháng đổi mới đề cao chuyện vượt rào, cho nên bây giờ là lúc xã hội Việt Nam phải xây dựng ý thức về trách nhiệm cộng đồng. Việc xây dựng đạo đức phải bắt đầu từ chính những người làm nhiệm vụ giám sát hành vi trong hệ thống, mà trong ví dụ này là cảnh sát giao thông, phải bị đuổi việc và trừng phạt bằng cách ngồi tù ngay lập tức khi ăn hối lộ, vì chính họ là yếu tố làm băng hoại đạo đức nặng nề nhất, như đã phân tích ở trên. Phát triển lối tư duy này vào cộng đồng thì những kẻ lợi dụng chức vụ trong bộ máy nhà nước để tham nhũng chính là thế lực phá hoại đạo đức xã hội kinh khủng nhất và cần bị trừng phạt nặng để chấn chỉnh lại. 2. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC NƠI NGƯỜI TRẺ HÔM NAY: Đạo đức là thước đo thang giá trị của con người mọi thời đại. Những giá trị đạo đức không bao giờ thay đổi, có chăng là chỉ thay đổi cách nhìn về giá trị ấy. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ nơi cuộc sống hiện đại. Cuộc sống hiện đại đã làm cho con người có những cách nhìn mới về những giá trị đạo đức. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tân tiến mang lại cho con người nhiều tiện nghi thoải mái. Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho con người nhiều nỗi phiền toái, và còn lấy mất khỏi con người nhiều giá trị cao đẹp – vốn là những điều quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lý tưởng sống của con người. Những phương tiện khoa học kỹ thuật vốn không tốt cũng không xấu. Nó tốt hay xấu là phụ thuộc vào người sử dụng nó. Thế nhưng, những phương tiện khoa học kỹ thuật, hay nói một cách nôm na hơn là cuộc sống hiện đại đã làm cho con người, nhất là những người trẻ, có những thay đổi cách nhìn về giá trị đạo đức. Giới trẻ ngày nay có cách nhìn về cuộc sống, con người, thời đại và về những giá trị đạo đức khác những người xưa nhiều. Đạo đức truyền thống đối với họ không phải là điều bắt buộc nữa. Thứ đạo đức đó đối với họ đã trở thành những món đồ cổ rồi. Phải chăng bây giờ lớp trẻ đang sống thiếu đạo đức? Một vấn nạn không dễ trả lời. Những giá trị cao đẹp vốn đã tồn tại bao đời, đang thiếu vắng nơi một bộ phận các bạn trẻ hôm nay. Là con người hoài vọng cho một tương lai sáng lạn, một đất nước giàu và đẹp, cho một tương lai nhân loại tươi sáng hơn, ai lại không băn khoăn, ưu tư trước những thách đố của thời đại, trong đó có vấn đề giá trị đạo đức nơi người trẻ, hay nói một cách thực tế hơn là nhân cách của giới trẻ. Hằng ngày, chúng ta có thể xem thấy hay đọc được trên các phương tiện thông tin đại chúng những mảnh đời tươi trẻ đang sa vào vũng lầy của tội phạm, tiêm chích… rồi rơi vào tuyệt vọng. Mang lấy kiếp người, không ai tránh khỏi đau khổ, nhưng có những cái đau đáng tôn trọng, có những cái đau đáng thương, có những cái đau để rèn luyện nhân đức con người và cũng có những cái đau chỉ mang lại thêm đau khổ. Những cái đau đớn do ngoại cảnh đem đến cho ta không nói làm gì, điều đáng nói ở đây là có những cái đau mình biết là do mình tạo nên, nhưng vẫn lao vào đó để chuốc lấy cũng như mang đến cho người khác thì thật đáng trách. Phải làm gì đây để quét sạch những cọng rác làm dơ bẩn sân chơi của cuộc đời? 2.1. Phát triển mà không kèm với đạo đức phát triển là nỗi đau cho nhân loại: Đây là những câu của bậc đạo cao đức trọng mà chúng ta cần phải nằm lòng. Chúng ta cho con em có cái ăn cái mặc, mà đạo đức lại không có, không biết trách nhiệm, lương tâm cũng không thì sẽ như thế nào? Chúng ta đừng có trách ai cả, đó là do cả 1 quá trình dài trong vấn đề hướng dẫn về giáo dục, về đạo đức và nhiều thứ. Chúng ta đã xem nhẹ và bây giờ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc này. Bây giờ, chúng ta cải thiện lại cũng chưa muộn, bắt đầu từ những lớp trẻ 5, 10 tuổi, hãy hướng con em chúng ta đến chùa hay là dạy về đạo đức, dạy về lễ giáo. Ngoài việc cho con cái ăn, cái mặc, nuôi lớn cái thân, rồi phải nuôi lớn cái đầu nữa, chứ nuôi thân mà không nuôi cái đầu thì chỉ lớn con, nguy hiểm. Cho nên, việc hướng dẫn giáo dục những thế hệ tương lai là trách nhiệm của những người đi trước. Đừng bao giờ để nước tới chân rồi mới nhảy. Trong xã hội hiện tại, khi giới trẻ đã rơi vào sai lầm quá nhiều rồi thì trách cứ nó cái gì? Đó là kết quả của một quá trình dài bị bỏ quên trong việc hướng dẫn đạo đức. Có câu: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Trước trách mình sau rồi hãy trách người. Và mỗi hành động sai lầm của giới trẻ, người lớn và thế hệ trước phải tự trách mình đã quên đi vấn đề dạy dỗ đạo đức. Giáo dục trẻ thơ là vô cùng quan trọng vì đó là thế hệ rường cột ở tương lai, nền tảng của gia đình và đất nước. Không thể tạo một giới trẻ thiếu đạo đức và bệnh hoạn về tinh thần như vậy. Một giới trẻ không có đạo đức, yếu đuối, hèn nhát, chỉ biết ăn chơi và hưởng thụ như vậy vô cùng nguy hiểm. Chúng ta cần phải nhận ra tầm quan trọng và đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức cho giới trẻ ngay từ bây giờ. 2.2. Giá trị đạo đức: Giá trị là cái làm cho một vật trở nên đáng ao ước hay đáng giá. Chữ giá trị nhấn mạnh tới khía cạnh chủ quan và tương đối của sự vật nhiều hơn khía cạnh khách quan và tuyệt đối. Nó không chỉ ra sự tốt lành nội tại của một vật mà đúng hơn cho thấy vật đó được con người đánh giá như thế nào; nó không chỉ sự hoàn hảo nội tại của một vật mà đúng hơn cho thấy chỗ đứng của vật đó trong thứ tự các sự vật, quen gọi là thang giá trị. Từ ngữ “giá trị” được các nền triết học luân lý chủ quan và tương đối thích dùng hơn chữ “tốt”. Các Kitô hữu cũng có thể sử dụng từ ngữ ấy, miễn là trong từ đó phải hàm chứa khái niệm về một tiêu chuẩn khách quan. Từ đây, chúng ta có thể suy ra, giá trị đạo đức là những phẩm chất làm cho con người tốt đẹp, sống có ý nghĩa. Giới trẻ là tương lai của Giáo Hội và của nhân loại. Đó là câu khẳng định nhiều người đã biết. Nhưng đối diện với thực tế thì ai cũng thấy lo lắng cho tương lai ấy. Liệu nó có tốt đẹp như người ta tưởng không? Còn cứ như thực tế hiện nay thì nhân loại sẽ đi tới đâu, khi giới trẻ sống thực dụng chỉ chạy theo những giá trị vật chất, còn giá trị tinh thần thì hơi sức đâu nữa mà tìm kiếm. Họ hình như không có những vấn nạn hiện sinh: Tại sao tôi ra đời, tôi ra đời để làm gì, đâu là giá trị của cuộc sống… Họ đang sống thiếu lý tưởng, thiếu tương lai. 2.3. Thay đổi cơ cấu gia đình: Gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Gia đình là ngôi trường đầu tiên của con người, mà từ đó những đứa trẻ học được những nhân đức làm người. Từ khi cơ cấu kinh tế có sự thay đổi thì gia đình cũng có sự thay đổi. Xã hội có tác động lên gia đình bao nhiêu thì gia đình cũng ảnh hưởng lên đời sống con cái bấy nhiêu. Nếu một gia đình ổn định, trong đó các thế hệ cùng chung sống hài hoà với nhau, thì người trẻ sẽ ít có những thay đổi về giá trị đạo đức, hay nói cách khác, giới trẻ sống trong gia đình đó sẽ rập theo nếp sống của cha ông họ. Còn những gia đình nào không có tính ổn định về cơ cấu thì quan niệm của người trẻ về đạo đức có thay đổi. Gia đình nào sống hạnh phúc, trong đó cha mẹ và con cái sống hài hoà với nhau, thì người trẻ sẽ cảm nhận được những giá trị cao đẹp như: hạnh phúc, lắng nghe nhau, tha thứ cho nhau, chấp nhận những khác biệt của nhau, yêu thương nhau, nâng đỡ nhau… Còn những gia đình nào không có được hạnh phúc thì con cái sẽ không có nhận định đúng đắn về những giá trị đạo đức như: yêu thương, nâng đỡ, hoà thuận… Từ chỗ đó, họ dễ rơi vào tình trạng chán đời, thất vọng: bỏ nhà đi bụi, sống bê tha, sống bất cần đời. Trong xã hội hiện đại, do hoàn cảnh kinh tế và công ăn việc làm, nên các thành viên trong gia đình phải tự lo nghề lo nghiệp để kiếm sống. Vì thế, thời gian dành cho nhau là rất ít, dẫn đến cơ cấu gia đình thay đổi. Gia đình ngày nay không còn là gia đình đóng như xưa nữa, mà là gia đình mở nghĩa là các thành viên có những mối tương quan với xã hội khác nhau. 2.3.1. Gia đình sống định cư ở nông thôn: Cuộc sống của họ quanh quẩn trong một phạm vi nhỏ, hằng ngày chỉ gặp mấy người, cùng đi làm, cùng chơi và cùng sống trong một thôn xóm. Do hoàn cảnh như thế, nên con người trong làng xóm đã quen với những sinh hoạt, những sinh hoạt này cứ lặp đi lặp lại, ít khi có thay đổi. Vì thế, người trẻ cũng ít có thay đổi về cách sống, về đạo đức, nghĩa là không có khoảng cách giữa họ và cha ông họ, nếu có thì cũng không đáng kể. Một xã hội như thế, giá trị truyền thống sẽ được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác. 2.3.2. Những gia đình sống ở thành phố: Khoảng cách về đạo đức giữa các thành phần thì có sự cách biệt, những người trẻ sẽ có quan niệm về giá trị đạo đức khác hơn, mặt khác họ có những cái nhìn mới về thời cuộc sống cũng như những giá trị đạo đức hơn người trẻ ở nông thôn. Cuộc sống ở thành phố cao hơn ở nông thôn về nhiều mặt, như kinh tế, nhận thức và hưởng thụ. Con người ở thành phố không còn có giới hạn trong một phạm vi làng xóm, mà ở thành phố phạm vi đó được mở rộng ra. Con người ở thành phố cũng có nhiều mối quan hệ hơn vì công việc, vì nhu cầu cuộc sống. Các gia đình sống ở thành phố có nhiều xáo trộn hơn, chứ không thuần tuý như ở nông thôn. Do đó, quan niệm của con người ở thành phố nói chung và người trẻ nói riêng đều thay đổi. Thanh niên ở thành phố không còn quan tâm nhiều đến những giá trị truyền thống, mà thay vào đó họ có nhiều quan niệm mới hơn. Vì thế, việc thay đổi quan niệm về đạo đức xảy ra nơi họ cũng là điều dễ hiểu. 2.3.3. Vì những thay đổi về cơ cấu gia đình: Cơ cấu gia đình thay đổi kéo theo những biến đối về những giá trị đạo đức truyền thống của gia đình. Những truyền thống tốt đẹp đó nằm trong những nền văn hoá của các dân tộc, nằm trong những phong tục tập quán có từ ngàn xưa. Đối với những người trẻ, điều lành mạnh thì khó học, nhưng những điều sai quấy thì họ lại nắm bắt rất nhanh. Và ngày nay xu thế này đang bao trùm lên khắp xã hội. Sống trong thời bùng nổ thông tin, con người trong chốc lát có thể nắm bắt được những thông tin quan trọng, và thông tin ấy chẳng mấy chốc đã lan đi khắp nơi. Một diễn viên điện ảnh ăn mặc kỳ quặc mới hôm qua, hôm nay đã có biết bao người trẻ học đòi bắt chước thời trang của diễn viên đó rồi. Họ tiếp thu những cái mới rất nhanh, hơn cả ngựa phi nước đại: “Chưa bao giờ tui bán đồ Hàn Quốc sướng như bây giờ. Bao nhiêu cũng hết, không sợ ngậm hàng! (…) Tui đâu có ngờ đám trẻ bây giờ nó đổi gu nhanh như vậy!”. Còn những điều đẹp thì họ lại không nghĩ tưởng đến, mà ngược lại, lại cho đó là những điều lỗi thời. Do ảnh hưởng của xu thế thời đại, đại bộ phận giới trẻ đã thay đổi cách suy nghĩ, họ không nghĩ như các bậc cha anh của họ nữa. Ngay cả đạo đức, họ cũng đã quan niệm khác các thế hệ đi trước. Phải chăng họ tiến bộ hơn các bậc tiền bối? Hay họ chỉ nhất thời suy nghĩ nông nổi thôi? “Hết Hồng Kông tới Titanic, rồi tới Hàn Quốc, mệt quá! Hổng lẽ người ta cứ chạy vòng vòng không định hướng theo giới trẻ xứ người – không rõ mình đang làm gì! (…) Tivi vừa chiếu “Ngôi sao may mắn”. Không biết sắp tới có là thời trang Nhật…” 2.4. Phương tiện thông tin đại chúng: người giàu thông tin như hôm nay. Có thể nói các phương tiện thông tin đại chúng đã làm thay đổi nhiều mặt của cuộc sống con người trong đó quan trọng nhất là nhận thức của họ. Nhờ vào thông tin đại chúng, con người có thể liên lạc với nhau dễ dàng và nhanh chóng, đồng thời nắm bắt được những thông tin quan trọng trong nháy mắt. Lượng thông tin càng ngày càng tăng và có chất lượng hơn, vì thế khoảng cách giữa nước này và nước khác về nhận thức đối với cuộc sống là không đáng kể. Người ta nói thời đại này là thời đại thông tin, ai mà đói thông tin, người đó là người lạc hậu, quả là đúng như vậy! Và chính thông tin đã làm cho con người, nhất là người trẻ có nhiều quan điểm khác hẳn người xưa, trong đó có cách nhìn về những giá trị đạo đức. “Hoàn cầu hóa thông tin cũng bao hàm hoàn cầu hóa những khuyết điểm và tật xấu. Thị trường quốc tế và xa lộ thông tin cống hiến cho người trẻ nhiều món hàng và khả năng chọn lựa tất cả những gì mình muốn, ‘thượng vàng hạ cám’ đủ loại và đủ cách. Hôm nay không thể, và trong nhiều trường hợp không khôn ngoan, chủ trương kiểm soát hay kiểm duyệt những gì đang phổ biến qua hệ thống truyền thông xã hội hiện đại. Vấn đề là làm sao nội tâm hóa và ý thức hóa những giá trị đạo đức trong lương tâm cá nhân cũng như ý thức tập thể làm như phương thế hữu hiệu nhất để chống lại ảnh hưởng tiêu cực của hoàn cầu hóa. Mỗi một người được tự do chọn lựa, nhưng cần huấn luyện làm sao để họ biết chọn lựa và lấy quyết định một cách tự do dựa trên những giá trị đạo đức, những xác tín cá nhân và những sức mạnh tinh thần.” 2.4.1. Trình độ học vấn: Ngày xưa, chuyện đến trường là mơ ước của con cái nhà giàu. Nhưng ngày nay, học hành là nhu cầu cần thiết phổ thông rồi. Người ta không chỉ muốn học xong tú tài mà còn muốn học nhiều, cao hơn để có địa vị xã hội. Hơn nữa, một nhu cầu nữa thấy rõ trong xã hội thông tin này, đó là nhu cầu “tự học” hay “tự đào tạo”. Ngày này, học không chỉ là chuyện phải có thầy, phải đến trường nữa, mà thay vào đó là ý thức tự vươn lên. Trình độc học vấn được nâng lên nhiều. Nếu ai không cập nhật thông tin và kiến thức hằng ngày thì người ấy sẽ lạc hậu và sẽ bị loại ra khỏi sân khấu cuộc chơi. Mỗi khi trình độ học vấn được nâng cao thì nhận thức về thời cuộc cũng thay đổi. Mà rõ ràng là người trẻ hôm nay được học nhiều hơn, được tiếp xúc với nhiều tiến bộ khoa học hơn người xưa thì chắc chắn họ có nhiều thay đổi về cách nhìn thế giới, con người và thời cuộc. 2.4.2. Đô thị: Kể từ vài thập niên trở lại đây, nhịp đổ phát triển đô thị đến chóng mặt. Nhà nhà, phố phố và thành thành, mọi người đang nỗ lực xây dựng cầu cống, đường sá, nhà cửa… để bắt kịp tiến trình phát triển cho dân giàu nước mạnh. Người người nhất là lớp thanh niên ở nông thôn đang đổ xô về thành phố để kiếm việc làm và để có cuộc sống sung túc hơn. Điều này kéo theo bao nhiêu vấn đề nhức nhối khác cho xã hội. Khi những người này chân ướt chân ráo từ thôn quê ra thành phố, họ như lạc vào cõi tiên dưới trần, bỡ ngỡ trước bao điều xa lạ của xã hội. Hơn nữa, lại xa gia đình và tầm kiểm soát của bố mẹ, họ dễ rơi vào con đường hư hỏng. Từ chỗ sống khép kín nơi thôn quê, người trẻ ra thành phố như bị choáng ngợp bởi những phương tiện vật chất, họ dễ bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc đời. Từ cuộc sống khô hạn, họ như được một cơn mưa đổ xuống, họ đưa hết lòng ra để hưởng nếm. Thực tế cho ta thấy là rất nhiều bạn trẻ đã không làm chủ được mình trước những lời mời mọc của xã hội thị thành. Nhìn vào thực tế ở TP.HCM, chúng ta cũng thấy được tình trạng sống của giới trẻ thành phố và ở thôn quê lên thành phố. 2.4.3. Nghề nghiệp: Xã hội công nghiệp làm cho con người năng động hơn, biết thích nghi nhanh với những hoàn cảnh và lối sống mới. Không giống như xã hội lúa nước thời xưa, con người chỉ biết sống với những đường cày, đồng ruộng; ngày nay, con người đã chế tạo ra nhiều loại máy móc để thay thế cho sức người, làm nhiều công việc để phục vụ cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Thế giới ngày càng đa dạng về công ăn việc làm thì cũng đòi hỏi con người phải có nhiều nghề nhiều nghiệp hay nhiều kỹ xảo nghề nghiệp hơn. “Tư bản nhân văn là nhân tố cơ bản của phát triển trong tương lai, bởi vì cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đòi hỏi tính năng động, sáng kiến và công nhân có tay nghề cao. Khi chúng ta quả quyết rằng máy vi tính là biểu tượng của văn minh mới, dĩ nhiên không phải là máy vi tính mà chính là con người sáng chế, điều khiển và vận dụng máy vi tính vào hoạt động sản xuất mới là nhân tố quyết định của xã hội tương lai”. Lao động có vai trò giáo dục con người rất lớn. Lao động làm cho con người vinh quang. Lao động cũng giúp con người phát triển cá tính và nhân cách. Tuy nhiên, ngày nay, con người đang mải mê vì công việc mà không lo đến nhân cách của mình. Họ cứ lo kiếm tiền và kiếm cách cho có thật nhiều tiền bất chấp mọi thủ đoạn. Họ không quan tâm đến những việc đó có ảnh hưởng đến nhân cách của mình hay không. Đó là nguy cơ của con người hiện đại hôm nay. 3. ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO XÂY DỰNG XÃ HỘI CHÂN THIỆN MỸ: Tam tạng Kinh điển nhằm giáo dục con người sửa đổi từ đức tính xấu trở thành đạo đức tốt. Đạo đức Phật giáo nhằm thiết lập một xã hội chân thiện mỹ, từ một xã hội bạo động thành một xã hội hòa bình, từ những tư tưởng tiêu cực, bi quan yểm thế trở về lý tưởng tích cực, lạc quan năng động và tốt đẹp. Đạo đức Phật giáo là một lối sống thực hành mang lại an lạc hạnh phúc cho con người trong cuộc sống hiện tại và giải thoát trong tương lai chứ không phải niềm tin suông. Tam tạng Kinh điển của Phật giáo không ngoài mục đích. Muốn cho xã hội hoạt động trật tự và tốt đẹp bằng cách xây dựng đạo đức con người trong tất cả đoàn thể của xã hội (như: cơ quan, trường học, doanh nghiệp, gia đình...) thì đòi hỏi mỗi cá nhân cần áp dụng theo luật pháp của Nhà nước và giới luật Phật chế, thực hành đời sống tâm linh theo lời Phật dạy để diệt trừ tham-sân-si bằng ba phương pháp Giới-Định-Tuệ. Giới diệt trừ tâm tham, Định diệt trừ tâm sân, Tuệ diệt trừ tâm si để tam nghiệp (thân, khẩu, ý) hằng thanh tịnh. Tu tập năm giới là để biểu lộ lòng từ bi, tình thương đến tất cả chúng sinh, ngăn chặn trực tiếp đến sát hại sinh mạng, còn những giới khác ngăn chặn gây mất hạnh phúc đến người khác và thúc liễm thân tâm được thanh tịnh niệm ác khỏi phát sinh. 3.1. Tinh thần xây dựng đời sống lành mạnh có đạo đức cho người xuất gia: Trong hầu hết các kinh tạng Pàli, thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Ðại thừa, đức Phật luôn luôn khuyên các vị đệ tử của Ngài hãy sống trong tinh thần giới luật, lấy giới luật làm thầy, vì nó là nền tảng để xây dựng một nếp sống cộng đồng hài hòa lành mạnh, có đạo đức, và nó cũng là nấc thang đầu tiên để cho người xuất gia tiến sâu vào con đường tuệ giác. Chúng ta hãy lắng nghe lờqi dặn dò tâm huyết của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn: "Các thầy Tỷ kheo sau khi ta diệt độ, các thầy phải trân trọng, tôn kính tịnh giới, như người mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy". Người giữ giới luật được đức Phật ví như người mù mắt được sáng lại, người nghèo mà được vàng ngọc. Phải chăng đức Phật quá thổi phồng, để cao giới luật? Thưa không, Ngài không bao giờ có ý định lừa dối hay gạt gẫm chúng ta. Cuộc sống và lời dạy của Ngài đã chứng minh điều đó, sở dĩ Ngài dạy như thế, vì Ngài muốn chúng ta giảm bớt khổ đau trong cuộc sống để được sự bình an như Ngài. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta phải tự giác tuân thủ một số nguyên tắc, đó là giới luật. Là người xuất gia cũng không ngoài mục đích trên, nhưng hạnh phúc của người xuất gia là loại hạnh phúc vĩnh cửu trong sự thanh tịnh và giải thoát, không còn các cấu nhiễm thế gian, nhưng muốn được giải thoát giác ngộ, hành giả không thể không hành trì giới, định, tuệ, tiến trình này có thể nói là con đường độc nhất để đi đến Niết Bàn. Vì vậy cho nên đức Phật dạy các Tỷ kheo muốn được giải thoát giác ngộ phải thực hành 250 giới. Tỷ kheo ni có 348 giới. Ðó là nguyên tắc để xây dựng một đời sống xuất gia với ý hướng cầu giải thoát. 3.2. Tinh thần xây dựng đời sống lành mạnh, có đạo đức cho người tại gia: Ðức Phật xây dựng đời sống xuất gia là như vậy, còn đối với đời sống của người tại gia còn nhiều ràng buộc gia đình thì đức Phật xây dựng như thế nào? Ðể trả lời câu hỏi này, chúng ta chỉ cần rút ra nguyên tắc đầu tiên là biết tàm quí trong bảy nguyên tắc trên đã làm tôn chỉ cho người tại gia thực hiện. Nguyên tắc này khá quan trọng trong việc xây dựng một xã hội lành mạnh, sống có đạo đức. Theo đức Phật, nguồn gốc sâu xa của mọi tệ nạn xã hội là con người đã đánh mất đức tính tàm quí, tức là không còn biết hổ thẹn đối với hành vi sai lầm của mình. Như vậy, khi con người không còn biết hổ thẹn thì người ấy có thể làm bất cứ điều ác nào. Hình ảnh đức Phật dạy tôn giả La Hầu La, khi Tôn giả vừa 7 tuổi, tạ tại rừng Am-ba-la (rừng xoài) thật cảm động. Ngài khuyên La Hầu La khi làm một thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiập nào, nếu thân, khẩu, ý nghiệp ấy đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai thì thân nghiệp ấy, khẩu nghiệp ấy, ý nghiệp ấy là bất thiện. La Hầu La chớ nên làm, nếu đã lỡ làm thì phải biết hổ thẹn, sám hối đối với nghiệp ấy. Ngài còn thận trọng hơn nữa, khuyên La Hầu La không nên nói láo, dù nói để mà chơi. Ðức Phật quả là nhà giáo dục vĩ đại, không những Ngài chỉ khuyên dạy những người ở lứa tuổi trưởng thành có sự hiểu biết, mà Ngài còn quan tâm chăm sóc đến tuổi trẻ, giáo dục và xây dựng chúng khi còn tuổi ấu thơ. Ngài quan niệm rằng, tâm hồn của tuổi ấu thơ giống như tờ giấy trắng, nếu như tờ giấy ấy dư, được nhà họa sĩ tài hoa vẽ lên ấy những bông hoa tươi đẹp, thì nó sẽ tô điểm cho cuộc đời thêm sắc. Ngược lại, tờ giấy ấy nếu kẻ bất tài vô dụng bôi lên đó những vết mực đen vô nghĩa thì nó trở thành cái vô dụng và làm xấu xã hội. Ðức tính hổ thẹn rất cần thiết cho những ai muốn trở thành con người tốt, con người có đời sống lành mạnh có đạo đức, nó là nền mống cơ bản để xây dựng một xã hội lành mạnh. Thiết nghĩ, những tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tuổi trẻ tiến sâu vào con đường sa đọa, vì con người đã đánh mất đức tính hổ thẹn hay xem thường đức tính này. Ðó là nguồn gốc sâu xa xuất hiện mọi tệ nạn xã hội. Là con người không làm sao tránh khỏi những sai lầm, nhưng cái quan trọng, khi chúng ta phạm phải sai lầm, chúng ta có biết phục thiện hay không, chúng ta có biết hổ thẹn và sửa đổi những sai lầm ấy không. Thái độ phục thiện hay không phục thiện để phân biệt giữa người ngu và kẻ trí, giữa người thiện và người bất thiện, giữa người làm tồi bại xã hội và người xây dựng xã hội. 3.3. Tinh thần bất bạo động từ, bi, hỷ, xã như là đạo đức: Từ bi là động lực chính đã thúc đẩy đức Phật đi tìm đạo giải thoát để cứu độ chúng sinh. Đức Phật không thể ngồi yên nhìn sự đau khổ hoành hành trong đời sống. Nghị lực, sức chịu đựng dẻo dai bền chặt của đức Phật trong khi vượt bao gian lao, khổ cực để tìm đạo cũng chính vì tình thương lớn lao đối với chúng sinh vậy. “Người tu hành bồ tát phải lấy từ bi làm gốc. Cây bồ đề lớn mạnh nhờ bám sâu gốc rễ trong đất. Kẻ tu hành lấy từ bi lợi lạc hữu tình làm lẽ sống”. Giáo lý của đức Phật tuy nhiều kể không xiết, tựu trung đều nhắm đến ba điểm chính: Bi – Trí – Dũng. Mở rộng tình thương, mở rộng trí tuệ, mở rộng nghị lực, mở rộng cho đến khi nào không còn thấy có biên giới nữa là thành Phật. Đức Phật chủ trương thuyết vô ngã, quyết đập tan cái ta giả dối, cũng chính để chúng ta nhận rõ mình với người là một, ta với không phải ta vẫn như nhau, để chúng ta đừng nhận thấy ta là của riêng ta, chỉ thương ta và ghét người không thương ta. Như thế, thuyết vô ngã, tu hạnh vô ngã là những phương tiện để thực hiện tình thương rộng lớn vô biên, là từ, bi, hỷ, xã. Chính đức Phật đã nói: “Ta nguyện đem thân ta chịu hết hằng hà sa số đau khổ của chúng sanh. Vì ta nguyện tế độ cho chúng sanh, nên ta mới nguyện thành Phật”. Rõ ràng muốn thành Phật để cứu độ chúng sanh, chứ không phải cứu độ chúng sanh để thành Phật. Vì chứa chấp tình thương bao la thế nên Phật đã có những lời dạy đệ tử có thể làm phương châm cho người đời. “Không nên lấy oán báo oán, chỉ nên lấy ân báo oán”. “Trong thế gian này chẳng phải lấy oán trừ được oán, chỉ lấy nhẫn mới trừ được oán”. Lại nữa, đức Phật dạy chư đệ tử thực hiện pháp lục hòa trong đời sống hàng ngày, trong các mối quan hệ hổ tương của cuộc sống. Khi một mình vân du hóa đạo phương xa, phải tôn trọng tín ngưỡng của các tôn giáo khác cũng như các phong tục tập quán của mỗi một dân tộc hay bất cứ một địa phương nào, một xứ sở nào. Ngài đề cao và tôn trọng mọi tôn giáo, cũng như các hệ tư tưởng lấy lợi lạc chúng sinh làm cứu cánh, lấy hạnh phúc chúng sanh làm mục đích. Niết bàn của Phật giáo được định nghĩa như là lợi lạc cứu cánh, hạnh phúc cứu cánh. Đạo Phật lại nhấn mạnh, hạnh phúc cứu cánh phải đạt tới bằng tâm từ, bi, hỷ, xã. Tính chất từ, bi, hỷ, xã lại đồng nghĩa với bất bạo động, hòa bình. Nếu Niết-bàn là hạnh phúc cứu cánh của người tu hành theo đạo Phật thì lòng từ bi, từ mẫn, hỷ xã, hòa bình bất bạo động là con đường, phương tiện, dẫn đến mục tiêu đó. Hạnh phúc an lạc không phân biệt ranh giới, màu da, dân tộc, đất nước đối với bất cứ ai, vì vậy mà đạo Phật mang sứ mạng đoàn kết hòa hợp giữa mọi dân tộc trên thế giới. 3.4. Tinh thần giới luật là nền tảng của đạo đức: Đức Phật khuyên các Phật tử tại gia nên sống giữ năm giới, làm mười điều thiện, “để ngay trong hiện tại, khỏi tâm khổ tâm ưu, trong khi lâm chung, tâm không rối loạn và sau khi mạng chung, được sanh thiện thủ thiên giới”. Giới được xây dựng trên quan niệm rộng rãi về tình yêu phổ quát thương xót đối với tất cả mọi loài, là nền tảng đạo đức căn bản của giáo lý đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn, số 16 Trường bộ nói lên năm điều nguy hiểm cho người gia chủ nếu phạm giới sống trái giới luật. Một là sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Hai là bị tiếng dữ đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, đi vào với tâm thần sợ hãi bối rối. Bốn là khi mạng chung sẽ bị chết với tâm thần rối loạn. Năm là sau khi mạng chung sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ địa ngục. Trái lại, người giữ giới luật tức là sống đạo đức, được năm sự lợi ích. Một là sẽ có tiền của dồi dào vì sống không phóng dật. Hai là tiếng tốt đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Bốn là khi mạng chung, chết với tâm không rối loạn. Năm là khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh vào thiên thủ thiên giới. Với những Kinh dẫn chứng trên chúng ta có thể thấy đạo đức Phật giáo liên quan mật thiết đến giới luật. Có được giới luật vững chắc thì có được đạo đức toàn diện. Đạo đức Phật giáo chính là một nếp sống hành trì giới luật đưa đến hạnh phúc và an lạc, ngay trong đời này và đời sau. Đây chính là một nếp sống chứ không phải là lời dạy luân lý, hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động. 3.7. nguyên nhân suy thoái đạo đức xã hội: Phật giáo phân tích những vấn đề bạo động suy thoái đạo đức trong xã hội bắt nguồn từ bản năng tham ái (ái dục) của người là nguyên nhân làm mất cân bằng xã hội, tâm tham đứng đầu trong ba căn bản phiền não tham (rāga) sân (dveṣa) và si (moha), sinh ra sát hại sinh mạng, trộm cướp, tà dâm, nói dối… Do vậy đức Phật dạy rằng: "Này các Tỳ kheo, do dục vọng làm duyên, nên vua tranh chấp với vua, Sát đế lợi tranh chấp với Sát đế lợi, Bà la môn tranh chấp với Bà la môn, gia chủ tranh chấp với gia chủ, cha mẹ, anh em, bè bạn tranh chấp lẫn nhau. Khi chúng đã dấn thân vào sự tranh chấp, chúng đánh nhau bằng tay, ném nhau bằng đá, đập nhau bằng gậy và chém nhau bằng gươm. Do đó, chúng bị tử thương, hoặc ngắc ngư quằn quại.". Do sự thiếu hiểu biết khi con người gây tổn thương và khổ đau đến người khác để đeo đuổi tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình (sự hài lòng và sở hữu của cá nhân), hạnh phúc thật sự đến từ cảm giác nội tâm bình an và sự thiểu dục tri túc, muốn đạt được phải thông qua sự tu tập lòng vị tha (từ bi) để loại trừ lòng ích kỷ tham lam, tất cả chúng ta đều là con người, chúng ta tìm kiếm hạnh phúc để cố gắng tránh xa khổ đau Theo lời dạy của Đức Phật, tư tưởng chấp ngã là một sự mơ hồ trừu tượng, niềm tin sai lầm, nó không có thật. Sự chấp ngã ấy sinh ra tư tưởng sai lầm về ý niệm “tôi” và “của tôi” tham lam ích kỷ, chấp chặt, thù hận, ác ý, tự phụ, kiêu ngạo, tất cả những phiền não này nguyên nhân của bạo động dẫn đến vấn đề xung đột cá nhân, chiến tranh giữa các quốc gia, tóm lại từ ý niệm sai lầm này tạo nên tất cả tội ác và gây bất an trong cuộc đời. 3.8. Phật giáo với việc xây dựng đạo đức, lối sống : Có thể nói sự xuống cấp về đạo đức đang trở thành một vấn nạn của toàn xã hội. Trước yêu cầu phát triển của đất nước, sự cần thiết phải xây dựng một nền tảng đạo đức mới cho xã hội trên cơ sở kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống đã được đặt ra. Là một trong những thành tố tạo nên nền văn hoá dân tộc trong suốt hàng nghìn năm, Phật giáo ngày nay vẫn lưu giữ những giá trị tích cực có thể góp phần xây dựng đạo đức lối sống cho con người Việt Nam. Tính hướng thiện của Phật giáo là một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo; tư tưởng bình đẳng, hoà bình của Phật giáo phù hợp với xu hướng hoà đồng liên kết giữa các dân tộc trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay; lòng từ bi, bác ái góp phần cứu giúp người hoạn nạn, giữ vững tinh thần là lành đùm lá rách của dân tộc, triết lý vô thường, vô ngã giúp con người giảm bớt cái tôi vị kỷ…. Những giá trị tích cực đó của Phật giáo càng được nhân lên với những hành động cụ thể, như kẻ đói được cho ăn, kẻ rách được cho mặc, người ốm đau bệnh tật được chăm sóc,…. Giáo lý nhà Phật khuyên con người luôn nhớ đến “đạo hiếu”, lấy chữ hiếu làm đầu: “hạnh hiếu là hạnh Phật, tâm hiếu là tâm Phật”, “muôn việc ở thế gian không gì hơn công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ”. Thêm vào đó, những không gian chùa chiền của Phật giáo luôn thu hút con người tìm về chốn tĩnh tâm, nơi chiêm nghiệm và cảm nhận…. Tất cả những điều đó là những giá trị tích cực, thiết thực góp phần giáo háo con người, giúp cho thế hệ trẻ vững bước trước những cám dỗ của cuộc đời, khích lệ họ quan tâm đến số phận của cộng đồng, sống lương thiện, coi trọng tính nhân bản, coi trọng thiên nhiên…. Bên cạnh đó, lối sống Phật giáo nêu cao tinh thần “cư trần lạc đạo” đã góp phần xây dựng lối sống có trách nhiệm với một ý thức không tham quyền cố vị, không bám lấy lợi ích vật chất, sống thanh cao tự tại. Bởi theo định nghĩa của đức Phật, tham và sân là hai năng lực tiêu cực mạnh mẽ nhất trong tâm thức của con người, chúng che khuất tầm nhìn và làm nhiễu loạn sự phán đoán của ta, cho nên, cũng theo Ngài, diệt trừ được tâm sân, đích thực là một thành tựu to lớn nhất của con người. Như thế Phật giáo đã góp những gái trị văn hoá tích cực vào việc xây dựng đạo đức lối sống cho con người, nhất là cho tầng lớp trẻ hiện nay. III. KẾT LUẬN: Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, lịch sử nhân loại bước sang một trang mới với những thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng và ngay cả cách sống nữa. Phải chăng chiến tranh là nguyên nhân dẫn đến những đổi thay đó? Chiến tranh có một phần là sự thật trong những biến đổi xã hội đó. Có lẽ nguyên nhân chính là tốc độ đô thị hoá, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật… ẩn đằng sau những mặt tích cực là những điều khiến các nhà chức trách, những người có tâm huyết phải bận tâm suy nghĩ. Đó là phẩm giá con người, là nhân cách của giới trẻ, là lối sống bất cần đời của những con người không lý tưởng. Cuộc sống hiện đại ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách của con người trẻ hôm nay. Vâng chính xã hội tiêu thụ và kiếm tiền hôm nay đã biến người trẻ thành những con người máy. “Ở trong xã hội tiêu thụ, con người biến thành những hạng tiêu dùng hàng hoá cho các tư bản kỹ nghệ, trở thành nạn nhân của các thủ đoạn quảng cáo, mệt mỏi chạy theo tiện nghi, không còn lý tưởng nào khác là ăn và ngủ và làm tình. Như thế, cuộc sống con người cứ mải quay quắt chạy theo đồng tiền, và kiếm tiền được cũng chỉ là để tiêu thụ, cung ứng cho một cuộc sống vật chất vốn không bao giờ đạt tới thoả mãn”. Đạo đức là chất liệu tạo nên những hệ giá trị riêng có của con người và xã hội loài người. Đạo đức Phật giáo ngoài những nguyên tắc siêu thế, thanh cao, còn bao hàm những chuẩn mực thiết thực, không khô cứng, có thể kiểm nghiệm hiệu năng ngay bây giờ và tại đây. Mười chuẩn mực đạo đức vừa nêu tuy chưa phải là tất cả, nhưng nếu như được thực thi, thì nhất định quả ngọt sẽ đong đầy. Tóm lại qua sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng, vai trò Phật giáo rất quan trọng cho vấn đề phát truyển xã hội, nếu bất kỳ một quốc gia nào áp dụng theo nền tảng đạo đức Phật giáo thì chắc chắn rằng sẽ mang đến một quốc gia hưng thịnh chấm dứt tệ nạn xã hội, một xã hội chân thiện mỹ. Để làm được điều đó không phải chuyện dễ, đòi hỏi những nhà lãnh đạo quốc gia phải làm gương áp dụng thực hành trước theo lý tưởng và đạo đức mà Đức Phật đã thiết lập ra, dân chúng sẽ noi gương theo, như tấm gương của Đại đế Asoka là một minh chứng Ngoài ra trách nhiệm Tăng sĩ cũng rất quan trọng phải có trách nhiệm chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết hướng dẫn Phật tử tu hành bằng những khóa tu để giáo dục đạo đức tuổi trẻ nhận rõ tác hại của tâm tham, sân, và si Nhờ những khóa tu ở các tự viện hiện nay, giúp các em trẻ học hỏi giáo lý, thực tập thiền định để tâm ôn hòa và có niềm tin vững chắc về nhân quả thì chắc chắn các em không bao giờ phạm pháp rơi vào vòng lao lý. Mỗi người tự ý thức tu hành chấn chỉnh đạo đức cho mình để hoàn thiện nhân cách làm người là góp phần xây dựng xã hội văn minh tốt đẹp, hòa bình, và an lạc. TÀI LIÊU THAM KHẢO: 1. Thích Minh Châu dịch-Kinh Tương Ưng Bộ I, II, III, IV, V- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1993. 2. Thích Minh Châu dịch-Tăng Chi Bộ Kinh I- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam- 1996. 3. Thích Minh Châu dịch-Trung Bộ Kinh I, II, III- Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1992. 4. Thích Minh Châu dịch-Kinh Trường Bộ I-Viện nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1996. 5. Thích Minh Châu -Chánh Pháp Và Hạnh Phúc- NXB Tơn Giáo 2001. 6. Thích Minh Châu-Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-1998. 7. Đinh Văn Đỗ- Giáo Dục Cộng Đồng-q.1- Kiến Tạo. 8. Lâm Ngữ Đường-Tinh Hoa Xử Thế-NXB Đồng Nai 1996. 9. Nhiều Tác Giả-Giáo Dục Phật Giáo Trong Thời Hiện Đại-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-NXB Tp. Hồ Chí Minh. 10. Thích Nữ Trí Hải chuyển dịch-Thanh Tịnh Đạo-Buddhaghosa- NXB Tơn Giáo 2001. 11. Nhất Hạnh-Hiệu Lực Cầu Nguyện- Lá Bối Xuất Bản. 12. Nguyên Hồng-Giáo Dục Học Phật Giáo- NXB Tơn Giáo. Thích Phước Sơn biên soạn-Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu- NXB Tơn Giáo 2004. 13. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Huy-Giáo Dục Học Đại Cương- NXB Giáo Dục 2000. 14. Thích Thiện Siêu-Vơ Ngã Là Niết Bàn- NXB Tơn Giáo 2000. 15. HT Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng I, VNCPHVN ấn hành, 1993. 16. HT Thích Minh Châu (dịch),Tăng Chi bộ kinh I, II, ĐTKVN, 1996,\. 17. HT Thích Minh Châu (dịch), Trường bộ kinh I,II, VNCPHVN ấn hành, 1991. 18. HT Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tứ Niệm Xứ, Trung bộ I, VNCPHVN ấn hành, 1991.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét