THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015
HÌNH ẢNH ĐỨC PHẬT THEO QUAN ĐIỂM ĐẠI THỪA
MỤC LỤC
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. đức phật đại thừa:
1.1. cõi tâm linh của đời người:
1.2. chức năng bù đắp tâm linh của đạo phật:
2. Quan điểm về đức phật:
2.1. Những bình diện của tâm linh:
2.2. Phật giáo và trách nhiệm đạo đức:
2.3. Phật giáo, toàn cầu hóa và tính hiện đại:
3. Ảnh hưởng Phật Giáo qua gốc độ nhân văn và xã hội :
3.1. Giá trị của Phật giáo trong thế giới hiện đại:
3.2. đức phật có mặt trên cuộc đời để dựng lại những gì đã nagx xuống:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
HÌNH ẢNH ĐỨC PHẬT THEO QUAN ĐIỂM ĐẠI THỪA
(dựa vào 4 chương tự chọn trong Phương Quảng Đại Trang Nghiêm kinh)
I. DẪN NHẬP:
Đối với sự phát triển của nhân loại trong thời đại hiện nay, Đạo Phật đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ một quốc độ muốn được phát triển ổn định cần phải được quân bình trên hai phương diện là tinh thần và vật chất. Tinh thần giúp ta nghệ thuật sử dụng vật chất sao cho hướng thượng, hướng thiện và bổ ích thực sự. Trái lại, vật chất phải chuyển tải một ý nghĩa cao thượng và lợi lạc. Nói đúng hơn, cuộc sống phải có văn hóa; tôn vinh văn hóa là hoàn toàn nhân bản.
Đức Phật là một chúng sanh độc nhất đã phấn đấu cho quả vị tự giác ngộ vô thượng. Không có một ai mà ngài xem như là bậc đạo sư của mình. Nhờ vào những nỗ lực cá nhân, Ngài tu tập hạnh Thập độ ba la mật: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, kiên định, từ tâm, xuất ly, chân thật và xả. Thông qua sự thanh tịnh tâm thức, ngài đã mở những cánh cửa đưa đến tất cả các tri kiến. Ngài chứng biết tất cả các pháp được biết, tu tập tất cả những pháp môn được tu tập và đoạn trừ tất cả các lậu hoặc phải được đoạn trừ. Thật vậy, trên cuộc đời này không có một bậc đạo sư nào có thể so sánh tương xứng với Ngài xét về lĩnh vực tu tập và chứng đắc quả vị.
“Trọng điểm của văn hóa bao gồm những tập truyền tư tưởng. Hệ thống văn hóa một mặt được coi như là sản phẩm của hành động, mặt khác là điều kiện thực thi các hành động”. Qua những lời phát biểu trên chứng tỏ văn hóa không thể thiếu trong mỗi dân tộc, cộng đồng. Nó hầu như là một hệ thống vận hành của xã hội. Văn hóa là nền tư tưởng liên hệ giữa cuộc sống con người với tạo hóa, từ đó những liên hệ giữa con người với con người được thiết lập. Với tầm quan trọng như vậy, chúng ta dễ dàng nhận biết rằng bất luận vấn đề nào, mỗi khi tầm quan trọng của nó càng cao, nếu không thận trọng thì sự hủy diệt của nó càng lớn.
II. NỘI DUNG:
1. đức phật đại thừa:
Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Đức Phật tại thế, Ngài là đấng toàn giác, toàn trí, hướng dẫn mọi người thăng hoa tri thức và đạo đức. Sau khi Phật diệt độ, nảy sanh nhiều quan niệm khác nhau về Ngài. Ở thời Phật giáo Nguyên thủy, khi sanh thân Phật không còn, người ta nghĩ Phật vẫn hiện hữu trong kinh tạng của Ngài lưu lại, gọi là giáo pháp Pháp thân. Quan niệm giáo pháp Pháp thân được Đại chúng bộ triển khai thành Tăng đoàn Pháp thân, nghĩa là Phật vẫn sống trong sinh hoạt của tập thể hòa hợp Tăng. Từ đó, mỗi người tin Phật, học Phật, thể hiện cuộc sống theo Phật thì Phật hiện hữu trong suy tư, trong việc làm của họ. Vì vậy có bao nhiêu người hướng tâm về Ngài, thì có bấy nhiêu Phật, dẫn đến hình thành tư tưởng thiên bá ức hóa thân Phật của Phật giáo Đại thừa. Theo tinh thần Đại thừa, Đức Phật Thích Ca là một ứng thân ở Ta bà, để khai thị cho chúng sanh con đường vào Phật tri kiến. Sau khi ứng thân Phật Niết bàn, những Tỳ kheo mang hình thức giống Phật và truyền bá chánh pháp, tiêu biểu cho Phật tại trần gian, gọi là hóa Phật.
1.1. cõi tâm linh của đời người:
Thật vậy, trên bước đường hoằng hóa độ sanh, với tri kiến thấy đúng như thật, Phật hiểu rõ khả năng, hoàn cảnh của từng người và tùy theo đó mà chỉ dạy; họ đều thăng hoa trên đường đạo hạnh, tăng trưởng phước lạc. Với nhân cách toàn thiện, trí tuệ toàn bích và đạo đức toàn mỹ, Đức Phật dễ dàng thành công trong việc giáo hóa. Báo thân hay hành vi đạo đức, không chút lỗi lầm và trí tuệ siêu tuyệt của Phật đã ảnh hưởng, tác động cho người, xây dựng thành một tập thể xuất gia và tại gia đạo đức, sáng suốt. Hướng dẫn và dung hóa một giáo đoàn gồm mười hai ngàn Tỳ kheo thuộc nhiều trình độ khác nhau, thành phần phức tạp, không phải là điều đơn giản. Trong tám mươi năm trụ thế, Đức Phật cảm hóa từ hàng vua chúa quyền quý, người giàu sang, học thức, cho đến người thứ dân nghèo khổ, thất học, từ người hiền lành đến kẻ sát nhân; tất cả đều được chuyển đổi, thăng tiến tốt đẹp. Từ Báo thân viên mãn, đầy đủ phước đức, trí tuệ, Đức Phật dùng vốn quý giá ấy để cấu tạo một thân thứ ba gọi là Pháp thân. Pháp thân không phải là cái gì siêu hình, trừu tượng ở trong hư không. Bằng trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri, Đức Phật biết rõ và vận dụng được nguyên lý tạo nên con người và thế giới. Từ đó, mọi vật, mọi hiện tượng trong trời đất, mọi việc của các loài đều không chướng ngại đối với Ngài. Và hơn thế nữa, Đức Phật chi phối toàn bộ các pháp, sử dụng chúng một cách tự tại; các pháp trở thành thân của Ngài. Đức Phật sử dụng Pháp thân chuyển hóa xã hội đương thời, lúc ấy sanh thân Phật trở thành Pháp thân, hay được coi là Pháp thân.
1.2. chức năng bù đắp tâm linh của đạo phật:
Nền tảng cơ bản của đạo Phật là thực nghiệm tâm linh. Tinh thần giải thoát cơ bản của đạo Phật là sự phản tỉnh nội tâm trên những thuộc tính nhân bản. Vì vậy, ảnh hưởng sâu sắc nhất của Phật giáo là đối với người Việt Nam hiện nay vẫn là ảnh hưởng tinh thần, tâm linh. Xét tới cùng, con người tìm đến tôn giáo chính là để thỏa mãn nhu cầu tâm linh, để chạy trốn khỏi nỗi cô đơn, nỗi sợ hãi sự ngưng đọng, trì trệ, thất bại trong cuộc đời, để được đáp ứng khát vọng giải thoát khỏi trạng thái chao đảo vì mất niềm tin, lạc hướng. Phật giáo đã thực hiện chức năng bù đắp tâm linh, khắc phục khoảng trống tâm tư bằng việc tạo dựng cho con người niềm tin vào chính bản thân mình. Một số tôn giáo không thừa nhân sự tồn tại của thế giới hiện hữu, từ đó phủ định khả năng của con người trong thế giới. Trong Phật giáo, mỗi con người là thượng đế, là Phật của chính mình. “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”. Đức Phật khẳng định: “Ngay trong chính thân này, ta nói có thế giới và con đường đi đến sự chấm dứt thế giới”. Đây là lời khẳng định vị trí, vai trò của con người trong thế giới, xua đi mặc cảm tự ti, yếu đuối trong con người.
2. Quan điểm về đức phật:
Để xác định tư cách siêu phàm của Đức Phật, nhiều quan niệm khác nhau kiến giải về Ngài đã được hình thành theo hướng nhìn về chiều sâu tâm linh. Trước kia, người ta nghĩ rằng Ngài xuất hiện trên cuộc đời này, bỏ ngôi vua đi tu, ngồi cội bồ-đề thành Phật; tức quan niệm Ngài vừa mới tu thành Phật. Nhưng nay, theo tinh thần Phật giáo phát triển, Đức Phật đã trải qua nhiều kiếp hành Bồ-tát đạo, tích lũy đạo hạnh và tri thức, nên hiện đời mới kết thành quả Vô thượng Đẳng giác. Kinh Bổn Sanh, Bổn Sự cũng nhằm nói lên quá trình tu Bồ-tát hạnh của Phật. Trên nền tảng ấy, dưới lăng kính Đại thừa Phật giáo, Đức Phật hiện hữu cao quý và trường tồn chính là vì Ngài đã thành tựu Báo thân. Nghĩa là Đức Phật không chỉ có nếp sống đơn thuần như một con người bình thường, nhưng cuộc đời Ngài là kết tinh của phước đức, trí tuệ và việc làm siêu việt. Ngài đã thành công trong việc giáo hóa là do đức hạnh và tri thức của Ngài đã tác động cho người thăng hoa thánh thiện. Từ căn bản nhận thức về Báo thân Phật hay thân phước đức, trí tuệ, kinh Hoa Nghiêm triển khai thêm, đưa ra quan niệm về Tỳ-lô-giá-na Pháp thân. Phật Tỳ-lô-giá-na tiêu biểu cho ánh sáng tuệ giác, có khả năng truyền thông khắp pháp giới, truyền đến tâm thức của tất cả chúng sanh mà không hề chướng ngại. Khi Tỳ-lô-giá-na Pháp thân chi phối đến đâu, chúng sanh tiếp nhận thì phát Bồ-đề tâm tu hành, ai cũng thành Phật. Với lý giải ấy, Phật không còn mang hình thức nào cố định, không có một cái gì không phải là Phật mới là Phật. Lý giải Pháp thân Tỳ-lô-giá-na biến chiếu, thể hiện vô tất cả loại hình. Từ loài người cho đến loài thú, kể cả cây cỏ, đều là Phật. Quan niệm một Đức Phật như thế quá bao la, khó nắm bắt. Từ đó, chuyển sang kinh Pháp Hoa, đưa ra quan niệm kết hợp Pháp thân Phật của Hoa Nghiêm với Báo thân Phật, để hình thành một Đức Phật thường trú, hiện hữu ở dạng thức gọi là thế gian thường trụ Tam bảo. Lý Hoa Nghiêm mà không có giải thích bổ sung của Pháp Hoa thì dễ làm chúng ta lầm tưởng Pháp thân Tỳ-lô-giá-na biến chiếu bàng bạc, vô ảnh vô hình. Nhưng kinh Pháp Hoa đã kéo ý niệm ấy trở lại thực tế; theo đó, Tỳ-lô-giá-na Pháp thân cũng phát xuất từ tứ đại ngũ uẩn thân. Vì Đức Phật cũng tu tập từ sanh thân tứ đại mà tạo thành Tỳ-lô-giá-na Pháp thân, và Ngài sử dụng Pháp thân ấy để tác động ngược lại chúng sanh. Nói khác, Ngài hiện hữu trên cuộc đời này, bên trong thân tứ đại hàm chứa một Báo thân viên mãn. Nghĩa là cuộc sống của Đức Phật tỏa sáng lòng từ bao la, đức hạnh cao quý, hiểu biết siêu quần, thể hiện thành những việc làm cứu đời, lợi ích cho người. Nhờ đó, chúng sanh mới hướng về Ngài và phát tâm tiến bước theo con đường giải thoát của Phật vạch ra. Đức Phật dùng Báo thân viên mãn đầy đủ phước đức trí tuệ để làm hạt nhân tạo thành Pháp thân Tỳ-lô-giá-na Phật. Tỳ-lô-giá-na Pháp thân hay ánh sáng trí tuệ rọi vào các pháp, điều động các pháp thành phương tiện giáo hóa của Như Lai, chuyển hóa xã hội đương thời. Ta chưa thành Phật vì không có Báo thân viên mãn, tức chưa đầy đủ phước đức trí tuệ, nên Pháp thân Tỳ-lô-giá-na Phật của ta không có tác dụng, gọi là Như Lai tại triền. Vì vậy, theo tinh thần Pháp Hoa, việc quan trọng trên bước đường tu là phải nuôi lớn Báo thân Phật của chính chúng ta, tức nỗ lực tu hành phát triển hiểu biết, đạo hạnh giống như Phật, bằng với Phật. Thấm nhuần sâu sắc tinh thần này, Nhật Liên thánh nhân được nhân dân Nhật kính trọng như Thượng Hạnh Bồ Tát, là một trong bốn vị Bồ-tát tùng địa dũng xuất của kinh Pháp Hoa. Ngài đả phá cực mạnh những ai tu hành mà chỉ lo cầu khẩn ông Phật bên ngoài. Vì càng chạy theo tìm kiếm cái gì ở ngoài ta, thì càng làm cho Phật bên trong ta ốm o, gầy mòn. Ngài đưa ra hình ảnh chim trong lồng lắng nghe tiếng chim bên ngoài hót mà nó hình dung ra bầu trời bao la, tự do, tươi mát. Chúng ta ví như chim trong lồng, gia công tu tập theo dấu chân Phật, để đánh thức được Phật tâm bên trong của chúng ta mới là việc chính yếu phải thực hiện. Thiết nghĩ, mặc dù có Phật lực gia bị cho ta trên bước đường vượt 500 do tuần đường hiểm, nhưng điều cốt lõi là chúng ta nương theo lực của Phật để cải tạo thân tâm ta, thăng tiến lên địa vị hiền thánh, không phải núp bóng Phật để Ngài che chở cho ta mãi mãi. Chẳng thể có sự chở che của bất cứ vị Thánh nào lại dành cho những con người ăn bám, giúp đỡ những tâm hồn hèn mọn. Với tinh thần huân tu để thành tựu thân thanh tịnh, hòa hợp, trang nghiêm bằng phước đức, trí tuệ ở ngay trên cuộc đời này, thể hiện rõ nét ý nghĩa thường trụ Tam bảo hiện hữu đầy đủ trong mỗi con người chúng ta.
2.1. Những bình diện của tâm linh:
Giáo lý tôn giáo phải là một phần gắn liền với đời sống của chúng ta, và không nên phân cách với đời sống. Có khi chúng ta đến nhà thờ hay chùa để cầu nguyện hay phát tâm, sùng tín, và rồi đi ra khỏi tôn nghiêm đó, đời sống của chúng ta không liên hệ gì đến tôn giáo đó nữa. Đây không phải là cách thực hành tôn giáo đúng đắn. Giáo nghĩa của tôn giáo phải gắn liền với chúng ta dù chúng ta đang ở nơi đâu. Giáo lý của tôn giáo mà chúng ta đã tin theo phải có mặt ngay trong đời sống của chúng ta để khi nào chúng ta thực sự cần có sự ban ơn hay sức mạnh nội tâm, những giáo lý đó sẽ có sẵn trong những lúc như vậy. Vì thế mỗi khi chúng ta gặp một sự khó khăn nào đó, những giáo lý đó sẽ có mặt, vì chúng luôn hiện diện. Chỉ khi nào tôn giáo trở thành một phần gắn liền với đời sống của chúng ta thì tôn giáo đó mới thực sự có hiệu quả.
Chúng ta cũng cần phải chứng nghiệm sâu xa hơn ý nghĩa và giá trị tinh thần của truyền thống tôn giáo mình theo, chúng ta cần phải biết những giáo lý đó không chỉ ở mức tri thức mà còn phải qua chứng nghiệm sâu xa. Có khi chúng ta hiểu những giáo lý tôn giáo khác nhau một cách phiến diện hay chỉ ở mức tri thức. Không có sự cảm nhận sâu xa hơn thì hiệu quả của tôn giáo sẽ bị giới hạn. Vậy chúng ta phải tu tập một cách chí thành và tôn giáo phải trở thành một phần của đời sống của chúng ta.
2.2. Phật giáo và trách nhiệm đạo đức:
Theo đức Phật, mục đích của đời sống không phải là hưởng thụ mà là sống tốt, sống lành mạnh, sống đạo đức, sống văn hóa và sống tâm linh để thấy được các giá trị tích cực của kiếp người. Đạo Phật có mặt là vì con người, phục vụ con người và giải quyết các vấn nạn con người. Để mang lại kết quả hòa bình và phát triển, theo đức Phật, đạo đức cá nhân và xã hội cần phải được tôn trọng tuyệt đối.
Hành vi thiện trên động cơ thiện được xem là mối quan tâm hàng đầu đối với đạo đức Phật dạy. Dù là các loài động vật hay thực vật, lòng từ bi, khoan dung chính trị và tôn giáo được xem là điểm son trong giáo pháp Phật mà con người cần phải áp dụng và ứng xử với nhau. Nương tựa tự thân, thực tập thiền định có khả năng chuyển hóa phiền não, giúp con người phát triển trí tuệ, nhờ đó từ bỏ mọi sự rắc rối và nghiệp chướng. Đây chính là nghệ thuật “sống theo chánh pháp”.
Phật giáo kêu gọi các ý thức trách nhiệm về hành vi đạo đức bản thân, gia đình, xã hội, cộng đồng, quốc gia và toàn thế giới. Không ai có thể tránh khỏi quả báo của một hành động đã đến lúc chín mùi, vấn đề là sự tùy thuộc vào các yếu tố thời gian và điều kiện. Một thông điệp khác là kêu gọi tinh thần nhân bản, tương thân tương ái, lánh dữ làm lành, phụng sự tha nhân trong các cảnh huống bất hạnh và khổ đau là đáng và nên thực hiện bằng tấm lòng vô ngã và vị tha. Niềm tin về kiếp sau có năng lực khai sáng các hành động đạo đức và nhân đạo của chúng ta ở kiếp này.
2.3. Phật giáo, toàn cầu hóa và tính hiện đại:
"Toàn cầu hóa" trong bối cảnh đa văn hóa không còn đơn thuần là sự kiện mà đã trở thành “một tiến trình,” mà tính tất yếu của nó đã trở thành vòng xoay của thiên niên kỷ thứ 3. Toàn cầu hóa đã tác động lên mọi phương diện của cuộc sống hiện đại từ triết học, chính trị, văn hóa, tôn giáo…
Khi nói về hiện đại, người ta thường nghĩ đến “toàn cầu hóa” và “hội nhập.” Khi hội nhập đã trở thành tiến trình tương tác thì toàn cầu hóa xuất hiện như một quy luật có tầm ảnh hưởng đa chiều. Hội nhập tạo ra hai chiều vào và ra, tiếp thu các giá trị tích cực mang tính hiện đại, đồng thời quảng bá các giá trị dân tộc vốn có với thế giới xung quanh.
3. Ảnh hưởng Phật Giáo qua gốc độ nhân văn và xã hội :
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học, ta thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùng đến kể cả những người ít học. Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này được phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo “tội nghiệp quá”. Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật Giáo. Theo Đạo Phật tội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước. Những nguyên đó (theo đạo Phật gọi đó là nhân duyên) khi chín mùi, thì đem lại kết quả. Mọi người điều nói tội nghiệp nhưng không phải nhiều người biết được đó là một từ ngữ nói lên một chủ thuyết rất căn bản của Phật :”thuyết nhân quả báo ứng” thuyết này cũng đi sâu vào nhận thức dân gian với những cách như “ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão”.
3.1. Giá trị của Phật giáo trong thế giới hiện đại:
Qua bức thông điệp của Đức Phật, chúng ta thấy rằng điều thiết yếu hiện nay là phải có một cách nhìn đúng đắn về các vấn đề cá nhân, xã hội và quốc tế. Sự tiến bộ của khoa học đã mang lại nhiều lợi ích cho nhân loại, nhưng đôi khi sự tiến bộ ấy cũng dẫn đến những hiểm họa khôn lường. Có một yếu tố tinh thần có thể khôi phục lại những sức mạnh mà những khám phá khoa học không thể tìm ra. Yếu tố tinh thần hay con đường tâm linh ấy đã được Jawaharlal Nehru, vị thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, đề cập như sau: “từ xung đột và chiến tranh người ta không thể tìm ra một con đường mới để cứu độ nhân loại ngoại trừ con đường mà ngày xưa một bậc đạo sư vĩ đại nhất đã chỉ ra cho thế giới. Vị đạo sư ấy chính là Đức Phật Gotama”. Phật giáo luôn nỗ lực xây dựng những mối quan hệ của nhân loại bằng cách khơi nguồn những giá trị luân lý đạo đức cao đẹp của loài người. Phật giáo giúp chúng ta khám phá ra bản chất đặc trưng của thế giới là vô thường, vô ngã và khổ đau.
3.2. đức phật có mặt trên cuộc đời để dựng lại những gì đã nagx xuống:
Triết lý đạo Phật không bao giờ đề cao vai trò độc tôn của một con người mà đề cao đến tinh thần tập thể. Với học thuyết hóa tâm, một người chỉ có hai bàn tay, nhưng kinh điển Đại Thừa đã tạo ra biểu tượng ngàn bàn tay. Ngàn bàn tay cùng nhau xây dựng công trình thì đó sẽ là công trình chung, công trình của một cộng đồng, một quốc gia, một xã hội, một thế giới. Ngôi chùa Phật giáo được gọi là ngôi chùa làng chứ không phải là chùa của các vị sư, sư cô và do đó tất cả mọi Tăng Ni Phật tử mỗi người đều có trách nhiệm bảo hộ, nuôi dưỡng để nó trở thành trung tâm văn hóa và đời sống tinh thần của những người có nhu cầu. Đó là yếu tố của sự xây dựng.
Dựng lại những gì bị ngã xuống đòi hỏi đến tinh thần thái độ rất lớn, bàn tay là chưa đủ, hóa thân của tập thể cũng chưa đủ, vì nếu các bàn tay đó luýnh huýnh, không có quan điểm, chủ trương, lập trường, khuynh hướng cụ thể, sẽ tạo ra sự rối loạn. Do đó học thuyết hóa của Phật giáo không dừng lại ở tinh thần tập thể mà quan trọng hơn là sự có mặt của tuệ giác, trí huệ nhận thức sáng suốt, sự hiểu biết, sự rộng lượng. Nó được hóa thân bằng ngàn con mắt khác nhau. Một mắt sẽ quán xuyến không đủ, một cái nhìn có thể gây hạn hẹp, quan điểm một người có thể trở thành cái gì đó rất độc tài. Cho nên nó phải là một chất xám tập thể và cao hơn, nó phải là tuệ giác cộng đồng, tuệ giác của tất cả mọi người.
Như Lai đã tạo ra một cộng đồng gồm bốn thành phần Thiện nam, Tín nữ, Xuất gia nam, Xuất gia nữ. Bốn thành phần này đóng bốn vai trò khác nhau. Giới tính nam và nữ có những khác biệt căn bản. Có những vai trò người nam làm hiệu quả hơn người nữ và ngược lại, hoặc có những vai trò người xuất gia làm thành công hơn người tại gia và ngược lại. Ấn Độ là đất nước mà thân thể của nó chỉ có một vai, vai đó của người nam. Người nữ thuộc bộ phận bị bỏ rơi, không có vai trò vị trí xã hội. Sinh hoạt của họ chỉ gắn liền với ngôi nhà, gắn liền với chồng con, trong sự phục vụ họ gắn liền với người giàu. Những điều đó đã làm cho xã hội Ấn Độ phát triển một cách không đồng đều. Sự xây dựng mà Như Lai mang lại cho cuộc đời này đã tạo ra sự an lạc. Đó là việc nhìn thấy được những đóng góp chung của tuệ giác từ các cá thể khác nhau. Chính vì thế, Như Lai đã giới thiệu thêm hình ảnh mới của một vị tâm linh mang tính người nữ. Vai trò xã hội lúc bấy giờ đã được bình đẳng hóa. Vai trò tâm linh, khả năng chứng đắc Giác Ngộ, những gì người nam làm được, người nữ cũng làm được. Xây dựng trên tinh thần và đạo lý như vậy là việc vô cùng khó, đặc biệt trong bối cảnh mà người nữ được quan niệm chỉ có hai chức năng phục vụ và sản xuất: sản xuất con cái, phục vụ chồng con. Người phụ nữ phải chịu rất nhiều nỗi khổ niềm đau từ nền tảng văn hóa sai lầm đó. Như Lai ra đời dựng lại những gì ngã xuống từ sự bất bình đẳng của nhân loại. Hình ảnh đó đòi hỏi chúng ta phải giải mã đúng.
III. KẾT LUẬN:
Con người có những khả năng tiềm tàng là điều không thể phủ nhận, nên hướng khả năng đó vào điều thiện, làm lợi ích cho cộng đồng. Có thể nói, cuộc sống vẫn diễn ra như quy luật của chính nó, nhưng điều làm cho nó có ý nghĩa chính là sự góp mặt của mỗi người trong chúng ta, với những yếu tố đan cài vô cùng sinh động và phức tạp của thiện-ác, của khổ đau-hạnh phúc…. Tuy nhiên, nó không phải là một mớ hỗn độn không thể nhận thức được, vì sao, vì nó không nằm ngoài bản thân chúng ta. Nếu chúng ta hướng tất cả mọi nỗ lực cho sự hoàn thiện chính mình, chúng ta sẽ nhanh chóng trở thành người thừa tự nghiệp. Không có một thế lực nào có thể cản trở chúng ta trên con đường đó. Có thể khổ đau hay hạnh phúc đang đón chờ chúng ta ở phía trước, nhưng đó không phải là vấn đề của riêng ta. Trong mọi tình huống có thể, chúng ta phải vận dụng hết khả năng của một người may mắn được sống trong nền văn hoá Phật giáo với đức tin nhân quả, nghiệp báo để làm cho quốc độ mà chúng ta đang sống không ngừng tốt đẹp hơn. Hãy nhận thức về mọi cảm thọ và khổ đau để chúng ta trở thành người làm chủ nghiệp, thừa tự nghiệp trong mọi điều kiện, đặc biệt trong hoàn cảnh đời sống “tâm linh” có nhiều biểu hiện bến tướng như hiện nay.
Và điều đáng lưu ý rằng, người Phật tử cần phải cảnh giác với các hiện tượng tâm linh có vẻ như có sự gần gũi nào đó với tín ngưỡng Phật giáo, bởi nếu không cẩn thận, đến một ngày nào đó, chính những quan niệm qua “thực nghiệm” (nói chuyện với người chết) của một số người truyền lại ấy sẽ khiến chúng ta rơi vào tà kiến "linh hồn bất tử", từ đó làm sai lệch hệ thống giáo lý hướng thiện và hướng thượng của Phật giáo. Vừa qua, xã hội rộ lên những tin đồn giật gân, gây hoang mang đều có liên quan đến vấn đề “ngoại cảm”, và một số “bài test” kiểm nghiệm khả năng “ngoại cảm” của những người ồn ào này đã cho ra những kết luận nhảm nhí, huyễn hoặc. Một xã hội mà người dân lúc nào cũng bị ám ảnh bởi “hồn cốt” là một xã hội thực sự không khoẻ mạnh và thiếu lành mạnh. Có thể có những nhà ngoại cảm có được những năng lực đặc biệt nào đó, nhưng rồi nó cũng sẽ mất đi theo thời gian. Điều đáng nói sự giao thoa trong lúc khả năng ngoại cảm mất đi thường dẫn đến những hệ quả của những “tiên đoán” gây hoang mang và đôi lúc rất nhảm nhí. Do đó, người Phật tử rất cần sự tỉnh táo và nên kính nhi viễn chi trước những hiện tượng này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1. ĐÀO DUY ANH, (1992) , Việt Nam văn hóa sử cương. NXB TP. HCM.
2. TOAN ÁNH, (1969) , Nếp cũ-tín ngưỡng Việt Nam, NXB Hoa Đăng, Sài Gòn,.
3. MINH CHI, (1994) , Tôn giáo học và tôn giáo vùng Đông Á, trường Đại học tổng hợp, TPHCM XB,.
4. MINH CHI, (1995) , Các vấn đề Phật học, Viện Nghiên Cứu Phật Học VN, XB.
5. MINH CHI, (tháng 12/1995), Về sự hội nhập của Phật giáo vào nên văn hóa VN, tạp chí Giao Điểm, Hoa Kỳ,.
6. MINH CHI, (tháng 1/1995) , Vai trò của tôn giáo trong sách lược phát triển của đất nước, tập văn thành đạo số 39, ban văn hóa Trung ương XB,.
7. MINH CHÂU VÀ MINH CHI, (1991) , Từ điển Phật Học Việt Nam, NXB TP. HCM khoa học xã hội, Hà Nội,.
8. THÍCH MÃN GIÁC, (1997) , Phật học, thiền học và thi ca... Tu thư đại học Vạn Hạnh,.
10. TRẦN VĂN GIÁP, (1968) , Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ thứ 13 (tiếng Pháp) Tuệ Sỹ dịch, Vạn Hạnh XB,.
11. NGUYỄN LANG, (1994) , Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I, II và III, NXB Hà Nội,.
12. NGUYỄN BÁ LĂNG, (1972) , Kiến trúc Phật giáo VN, tập I, Vạn Hạnh XB,.
13. TRẦN HỒNG LIÊN, (1996) , Phật giáo Nam Bộ từ thế kỷ 17 đến 1975, NXB TP. HCM,.
14. THÍCH NHẤT HẠNH, (1965) , Đạo Phật Hiện Đại hóa, lá bối XB, Sài Gòn,.
15. THÍCH THIỆN HOA, (1970) , 50 năm chấn hưng Phật giáo, tập I, Viện Hóa Đạo XB, Sài Gòn,.
16. THÍCH ĐỨC NHUẬN, (1969) , Phật học tinh hoa, một tổng hợp đạo lý, Vạn Hạnh XB, Sài Gòn,.
17. THÍCH ĐỨC NHUẬN, (1969) , Trao cho thời đại một nội dung Phật chất, Vạn Hạnh XB, Sài Gòn,.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét