THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015
NGUỒNG GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DUY THỨC HỌC
I. DẪN NHẬP:
1. Lý Do Chọn Đề Tài:
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
3. Phương pháp nghiêm cứu:
4. Đóng góp của đề tài:
II. NỘI DUNG:
1. Các tổ luận sư duy thức học:
2. Căn Cứ các kinh sách Sau Ðây Lập Ra Duy Thức Tông:
3. học thuyết:
4. Chủ Trương Của Duy Thức Tông:
5. Kết Quả Tu Chứng:
6. Lợi Ích Thiết Thực Trong Khi Học Và Tu Duy Thức
7. duy thức học và các tông phái:
7.1. duy thức học và câu xá luận:
7.2. duy thức học và thành thật học:
7.3. duy thức học và thiền học:
7.4. duy thức họcv à tịnh độ tông:
7.5. duy thức học và luật tông:
8. Sự phát triển của Duy thức tông:
8.1. Sự phát triển của hệ thống Duy thức học tại Trung Hoa:
8.2. Sự phát triển của hệ thống duy thức tại Ấn Độ:
8.3. Sự Truyền Thừa và Phát Triển Tông Duy Thức Tại Đài Loan:
9. Duy thức học và dòng cảm biến tâm thức:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
NGUỒNG GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
DUY THỨC HỌC
I. DẪN NHẬP:
Như tất cả dòng sông dù có dài và rộng cách mấy thì đều có một nơi để quay về.Tuy mỗi nhánh sông có thể tùy vào hoàn cảnh địa lý mà xuôi dòng.Nhưng sự kết thúc của một dòng chảy là quay về với biển cả.Trong Phật giáo cũng như thế, tuy có nhiều bộ phái được hình thành và phát triển sau khi đức Phật nhập diệt.Những quan điểm về tu tập, phương pháp hành trì và những nguyên nhân khách quan khác đã dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong quá trình phái triển của giáo đoàn.Sự phân chia ấy đã tạo ra những bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của Phật giáo, chúng ta không thể phủ nhận những bất đồng quan kiến của từng bộ phái.Nhưng có thể nhìn nhận một cách khác quan rằng phân chia không phải là suy tàn mà phân chia để phát triển.
1. Lý Do Chọn Đề Tài:
Là một học viên đã biết suy nghĩ và tiếp thu ý kiến của Giáo sư, người viết thấy có nhiều vấn đề mà mình chưa hiểu và chưa được biết tường tận, nên người viết mạo muội mang khả năng và suy nghĩ khiêm tốn của mình đã học được để tìm hiểu về sự khác biệt và tương đồng của phật giáo nguyên thủy và phật giáo địa thừa.
Tuy nhiên, với khả năng hạn hẹp của mình không sao tránh khỏi những sai sót, người viết kính mong được Giáo sư và các bậc cao minh chỉ dạy thêm để sau này có dịp người viết sẽ thực hiện tốt hơn.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Như tất cả dòng sông dù có dài và rộng cách mấy thì đều có một nơi để quay về.Tuy mỗi nhánh sông có thể tùy vào hoàn cảnh địa lý mà xuôi dòng.Nhưng sự kết thúc của một dòng chảy là quay về với biển cả.Trong Phật giáo cũng như thế, tuy có nhiều bộ phái được hình thành và phát triển sau khi đức Phật nhập diệt.Những quan điểm về tu tập, phương pháp hành trì và những nguyên nhân khách quan khác đã dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong quá trình phái triển của giáo đoàn.Sự phân chia ấy đã tạo ra những bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của Phật giáo, chúng ta không thể phủ nhận những bất đồng quan kiến của từng bộ phái.Nhưng có thể nhìn nhận một cách khác quan rằng phân chia không phải là suy tàn mà phân chia để phát triển.
3. Phương pháp nghiêm cứu:
Dùng để viết luận văn này là phương pháp luận khoa học lịch sử, những quan điểm của phật giáo nguyên thủy và đại thừa.Người viết sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, đi điền dã và khai thác những tư liệu của các sách nghiên cứu.
Việc thực hiện luận văn đúng theo quy định của Học viện Phật giáo Việt nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TT. GS. TS Thích Viên Trí, Giáo viên thỉnh giảng bộ môn phật giáo nguyên thủy và đại thừa tại Học viện mà người viết đã được học. Khi cần thiết, người viết sẽ thỉnh giáo quý Thượng Tọa tại Học Viện.
4. Đóng góp của đề tài:
Duy thức và Trung quán là hai trường phái lớn, triển khai tư tưởng Ðại thừa đến cực điểm của triết học Phật giáo vào những thế kỷ II đến thế kỷ VI tại Ấn Ðộ. Duy thức được biết qua Phạn ngữ bằng 3 từ: 1) Cittamàtra, chủ trương tất cả đều do tâm, duy tâm; 2) Yogacàra, gồm 2 từ Du-già và hạnh, đề xướng hành trì du-già, quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện Bồ tát; 3) Vijnanaptivàda, học thuyết cho rằng tất cả vạn vật đều do thức hiện khởi, duy thức. Cả ba từ này được dùng cùng nghĩa với nhau, tuy rằng về sau, do các bộ luận chuyên về "duy thức" của Thế Thân, Vijnanaptivàda được phỗ biến hơn và chấp nhận như là tên gọi cho triết thuyết của tông này (Vijnanaptimatràtavàda). Trong khi đó, Cittamàtra hầu như không còn được nhắc tới, còn Yogàcàra được dùng xen lẫn với Vijnanaptivàda như là đồng nghĩa. Trong khi Trung quán chú trọng về biện chứng bằng trí tuệ thì Du-già đặt trọng tâm vào việc hành trì thiền định; cả hai đều nhằm mục đích nhận chân thực tánh của hiện hữu.
Tuy rằng sự ra đời của trường phái Duy thức được xem là xiển dương và phát huy triết lý Ðại thừa đến cực điểm, nhưng căn bản tư tưởng của nó, cũng như của Trung quán, bắt nguồn từ truyền thống sớm nhất của Phật giáo, tức ngay vào thời Ðức Phật tại thế, khi Ngài dạy trong kinh Pháp Cú, rằng "Tâm làm chủ, Tâm dẫn đầu, Tâm tạo tác tất cả các pháp", rằng Thức vốn có bản tánh thanh tịnh, v.v... Tâm do đó rất quan trọng trong Phật giáo ngay từ thời nguyên thủy. Có thể nói rằng tất cả các học phái của Phật giáo, tại Ấn Ðộ cũng như tại Trung Hoa, cũng đều xây dựng triết thuyết trên vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của Tâm.
II. NỘI DUNG:
1. Các tổ luận sư duy thức học:
Thế Thân (Vasubandhu) và người anh là Vô Trước (Asanga), sống khoảng thế kỷ IV, được xem là hai khuôn mặt vĩ đại, đã chủ xướng, hệ thống hóa và xiển dương triết lý Duy thức khiến chỉ trong một thời gian ngắn, học phái này được phỗ biến rộng rãi và lôi cuốn một số luận sư tài danh khác, đương thời cũng như các thế kỷ sau, nhập cuộc và khởi đầu cho một số luận sớ, sớ giải, v.v..., hoặc tán thành và triển khai thêm, hoặc biện bác, phủ quyết, v.v... với học thuyết này.
Thế Thân (315-395 sdl) nỗi tiếng qua hai quyển luận ngắn, luận thuyết rằng tất cả đều duy chỉ là thức (Duy thức Nhị thập tụng và Duy thức Tam thập tụng, Vimsatikà- và Trimsikà-vijnịapti-kàrikà), cùng một quyển nhỏ khác, nói về ba tánh của hiện hữu, tức tam tự tánh (Trisvabhàva-nirdesa), hay còn gọi là Tam vô tự tánh luận (Trinisvabhàva-sàstra). Truyền thuyết cho rằng sau khi được người anh khác mẹ là Vô Trước thuyết phục theo Ðại thừa, Thế Thân mới viết các luận trên để bày tỏ quan điểm mới và phủ nhận ý hướng Tiểu thừa được biết qua bộ A-tì-đạt-ma Câu-xá luận (Abhidharma-kosa-bhàsya) cũng vô cùng nỗi tiếng của ngài. Thật ra, là một triết gia lỗi lạc, càng lớn tuỗi thì kinh nghiệm tâm linh càng thâm sâu và tư tưởng triết lý càng cao rộng, cho nên các bộ luận trên chỉ là thành quả triển khai đương nhiên của nhà luận sư tài ba này mà thôi.
Vô Trước là tác giả của Bồ tát địa (Bodhisattvabhùmi), A-tì-đạt-ma Tạp tập luận (Abhidharmasamuccàya), và Du-già sư địa luận (Yogàcàryà-bhùmi-sàstra), viết theo quan niệm Duy thức.
Thầy của Vô Trước là luận sư Di Lặc (Maitreyanàtha), một nhân vật lịch sử, mà các học giả ngày nay như giáo sư Giuseppe Tucci đã có ý kiến rằng ngài mới chính là người xiển dương và là sáng tổ của Duy thức tông; tài năng của ngài không kém Long Thọ, tuy rằng tên tuỗi và niên đại của ngài lại ít người biết đến. Theo truyền thống Tây Tạng, ngài là tác giả 5 bộ luận, mà nỗi tiếng nhất là Biện trung biên luận tụng (Madhyànta-vibhàga-kàrika), luận giải về sự phân biệt giữa trung đạo đối với các cực đoan; cùng với Ðại thừa trang nghiêm (Mahàyànasùtra-lankàra), Hiện chứng trang nghiêm (Abhisamayàlamkàra) v.v...
Ðại diện trường phái Duy thức tại Ấn Ðộ có Sthiramàti (An Huệ, sống khoảng thế kỷ VI), vốn là đại đệ tử của Gunamàti, Ðức Huệ, người sáng lập trung tâm Valabhì, trong khi Dharmapàla, Pháp Hộ (530-591), người có công xác lập vị trí của trung tâm Ðại học Nàlandà với khuynh hướng xiển dương Duy thức, là hai trung tâm học thuật Phật giáo nỗi tiếng đương thời. Pháp Hộ chủ trương Duy thức tuyệt đối, trong khi An Huệ có ý muốn dung hòa quan điểm "thực tướng" của Nagarjuna (Long Thọ) với quan niệm "nhất thiết duy tâm tạo" của Duy thức. Ngoài ra còn có đệ tử Thế Thân là Dignàga (Trần Na), và đệ tử Trần Na là Dharmakìrti (Pháp Xứng); cả hai dựa trên quan điểm nội hàm luận lý học của Thế Thân về tương liên giữa nhận thức về đối tượng để xiển dương Nhân minh học (Hetuvidyà), một phương pháp tranh luận bằng lý luận, logic.
Tại Trung Hoa, Duy thức được xiển dương bởi ngài Huyền Tráng và đệ tử là Khuy Cơ (K'uei-chi, 632-685), người được xem như là sáng tổ Duy thức hay Pháp Tướng tông (Fa-hsiang), một trong 8 tông phái lớn của Phật giáo Trung Hoa. Ngài Huyền Tráng (Hsuan-tsang, 596-664) sau khi dịch Duy thức Nhị thập tụng và nhất là Duy thức Tam thập tụng, bèn hội ý tất cả mười bản luận giải của các luận sư Ấn Ðộ về Duy thức Tam thập tụng để viết Thành Duy thức luận (Vijnịapti-màtratà-siddhi), làm căn bản triết thuyết cho Pháp Tướng tông Trung Hoa. Ngoài ra còn có Ðại Thừa Ðăng, một đại sư người Việt Nam, cùng với Khuy Cơ được xem như là hai đại đệ tử đã cộng tác với Huyền Tráng trong công trình dịch thuật các bộ luận về Duy thức này, cho thấy tài năng của một đại sư Việt Nam mà tên tuỗi chưa được giới học thuật Phật giáo Việt Nam trước đây chú ý.
2. Căn Cứ các kinh sách Sau Ðây Lập Ra Duy Thức Tông:
Như tất cả các tôn phái khác, Duy-thức tôn cũng căn-cứ vào căn luận của Phật mà được thành lập ra. Ðó là 6 bộ kinh và 11 bộ luận sau đây:
Sáu bộ kinh là:
1.- Kinh Giãi-thâm-mật
2.- Kinh Hoa-nghiêm
3.- Kinh Như-lai xuất hiện công-đức trang-nghiêm
4.- Kinh A-tỳ-đạt-ma
5.- Kinh Lăng-nghiêm
6.- Kinh Hậu-nghiêm (hay Mật-nghiêm).
Mười một bộ luận là:
1.-Luận Du-già Sư-địa
2.- Luận Hiển-dương Thánh-giáo
3.- Luận Ðại-thừa Trang-nghiêm
4.- Luận Nhiếp Ðại-thừa
6.- Luận Thập-địa-kinh
7.- Luận Phân-biệt Du-già
8.- Luận Quán Sở-duyên-duyên
9.- Luận Duy-thức Nhị-thập-tụng
10.- Luận Biện-trung-biên
11.- Luận Tạp-luận
Vị sáng lập ra Duy-thức chính là Bồ Tát Di-lặc. Ðức-Di-Lặc sau khi tu chứng được Duy-thức, đã ýwng theo lời thỉnh-cầu của Ngài Vô-trước, nói Luận Du-già Sư-địa.
Hai vị có công lớn trong việc phát-triển tôn này ở Ấn Ðộ là hai anh em nhà Vô-trước và Ngài Thế-thân. Ngài Vô-trước dựa theo bộ '' Du-già Sư-địa '' làm ra bộ luận ''Hiển-dương Thánh-giáo '', và '' Nhiếp Ðại-thừa ''. Ngài Thế-thân lại có công đức lớn lao hơn nữa, tomtăts lại nghĩa lý Duy-thức, lảma bộ luận '' Duy-thức tam thập tụng ''. Về sau, có mười vị Ðại Luận-sư, sớ giải bộ Duy-thức tam-thập tụng, làm thành mười bộ luận chính về Duy-thức .
Ðến đời Ðường, Ngài Huyền-trang từ Trung Hoa sang Ấn Ðộ thỉnh kinh và tham-cứu về Phật Giáo. Môn học sở trường của Ngài là Duy-thức. Sau khi trở về Trung Hoa, Ngài lượm-lặt tinh-hoa của 10 bộ đailuận nói trên, dịch thành Hán-văn, dưới nhan đề là: '' Thành Duy-thức Luận '', gồm cả thảy 10 quyển. Ngài Khuy-cơ là đệ-tử lớn của Ngài Huyền-trang sớ-giải thêm rỏ nghĩa-lý bộ '' Thành Duy-thức Luận '' làm ra thành 60 quyển, dưới nhan đề là '' Thành Duy-thức thuật-ký ''.
Tóm lại, ở Ấn Ðộ, vị có công lớn nhất trong sự phát huy Duy-thức tôn là Ngài Thế-thân. Còn ở Trung Hoa, vị có công lớn nhất trong việc truyền bá Duy-thức tôn là Ngài Huyền-trang.
Về phương diện sách vở dạy về Duy-thức, từ xưa đến nay được các học giả xem là chánh-tôn Duy-thức, thì có ba bộ sau đây:
1.- Ðại-thừa Bá pháp minh môn luận (tatc giả là Ngài Thế-thân). Nội dung bộ luận này giải-thích các danh từ chuyên-môn của Duy-thức, nói rỏ 100 pháp và hai món vô-ngã. Người học Duy-thức nếu không học bộ luận này trước, thì không dễ gì hiếu được Duy-thức (bộ luận này đã được dịch ra tiếng Việt và chúng tôi lấy nhan đề là: Duy-thức nhập môn).
2.- Duy-thức tam thập tụng (cũng do Ngài Thế-Thân tạo ra). Trong bộ luận này Ngài Thế-Thân dùng 30 bài tụng để giải thích về nghĩa lý chánh của Duy-thức, luận này chia làm bốn phần:
a). Phần thứ nhất nói về ba chức năng-biến:
-Thức năng-biến thứ nhất là thức A-lai-da (thức tứ tám).
-Thức năng-biến thứ hai là thức Mạt-na (thức thứ bảy).
-Thức năng-biến thứ ba là sáu thức năng trước.
b). Phần thứ hai nói về các tâm-sở:
-Biến-hành (5 món)
-Biệt-cảnh (5 món)
-Thiện (11 món)
-Căn-bổn phiền-não (6 món)
-Tùy phiền-não (20 món)
-Bất-định (4 món).
c). Phần thứ ba giải-đáp các nghi vấn:
-Làm sao biết được phận-vi sanh-khởi của các thức?
-Nếu không có ngoại cảnh, thì sao có sanh tử và các sự phân biệt?
-Nếu không có ngoại cảnh, thì sao có chúng hữu-tình sanh-tử?
-Nếu chỉ thức, tạo sao Phật lại nói có ba tánh?
-Nếu có ba tánh, tại sao Phật nói ba món vô-tánh?
d).Phần thứ tư nói về đệ tu Duy-thức:
Từ khi phát tâm tu Duy-thức cho đến khi chứng được Duy-thức tánh thành Phật, hành-giả phải trải qua năm địa vị, thứ lớp như sau đây:
-Vị Tư-lương (như lương thực cửa người đi đường).
-Vị gia hạnh (gia công tấn hàng).
-Vị thông-đạt (thấu suốt đường lối).
-Vị tu-tập (tu-hành tập-luyện).
-Vị cứu cánh (đến cùng tột địa vị tu chứng).
3.- Bát-thức qui-cũ tụng (tác giả là Ngài Huyền-trang). Nội dung của quyển này, Ngài Huyền-trang dùng 12 bài tụng để toát yếu lại nghĩa-lý Duy-thức, gồm có bốn phần:
a). Phần thứ nhất nói về năm thức đầu
b). Phần thứ hai nói về thức thứ sáu .
c). Phần thứ ba nói về thức thứ bảy
d). Phần thứ tư nói về thức thứ tám.
Mỗi một phần có ba bài tụng, hai bài tụng đầu nói hành-tướng các thức, khi hành-giả còn ở địa vị phàm-phu; bài tụng thứ ba nói hành-tướng các thức, khi lên quả-vị Thánh.
Tóm lại, ba bộ luận trên này, người muốn học Duy-thức, khôngthể bỏ qua được.
3. học thuyết:
3.1. Bốn điểm quan yếu của học thuyết Duy thức:
a. tất cả hiện hữu chỉ là do thức, duy thức (vijnanapti-màtratà);
b. tất cả do vì tạng thức (àlayavijnanana) hiện khởi;
c. thức có ba tự tánh (tri-svabhàva), mà sau khi phân tích, thật ra lại là ba vô tự tánh;
d. tương liên giữa ba tự tánh và ba thân Phật (trikàya).
Theo Duy thức, a-lại-da huân tập các hạt giống (chủng tử, bìja) trong quá khứ, từ đó sinh khởi các hiện tượng tâm thức do vì chủng tử chín muồi theo tác động của nghiệp (nghiệp quả). Chúng tác động nhau tạo nên ảo ảnh mà chúng ta cho là thật. Cảm nhận của con người do đó bị nhiễm ô, khiến phát sinh ra ấn tượng về một cái "ta". Ấn tượng này là sai lầm, vì chỉ có sự cảm nhận (thức), chứ không có "người" cảm nhận; do vì sai lầm bám víu vào cái ngã cho nên phải đau khổ. Sự cảm nhận, hay nhận thức ngoại cảnh, được phân tích là vốn không có tự tánh (ba tự tánh). Để không còn bị thức chuyển hiện, ta phải hành trì Du-già để chuyển thức thành trí, chuyển ba tự tánh thành ba thân Phật.
Duy thức học hay Duy thức tông chủ trương mọi hiện tượng đều chỉ là thức, là cảm nhận của tâm, ngoài thức đang cảm nhận thì không có gì hiện hữu, không có một đối tượng khách thể, độc lập. Thế gian chỉ là ảo ảnh (màyà), hay tợ cảnh, bởi vì tất cả hiện thể đều không bền vững, không có tự thể (vô ngã), và không tồn tại (vô thường). Tâm thức, bị ảnh hưởng của vô minh (avidyà), tin vào những gì mà nó tiếp xúc, trong cả hai trạng thái tỉnh giấc và ngủ mơ, cho rằng đối tượng thật sự hiện hữu bên ngoài nó, trong khi thật ra, chỉ vì cái tâm thức đó phóng thể, hay là hiện ra (tập khởi), cho nên thấy như là thế gian như là hiện hữu, vậy thôi. Chủ thể, cái ta, do đó không có thật; và khách thể, thế giới bên ngoài, cũng không có thật.
Trước khi giác ngộ, sự hiểu biết của chúng ta chỉ là mớ kiến thức thu thập qua kinh nghiệm, đọc sách, học hỏi khi giao tiếp với thế giới hàng ngày của chúng ta mà tập thành. Một khi tri kiến đó tập trung vào nơi giác ngộ, thì tri kiến này bắt đầu chuẩn bị để tiếp nhận trí căn bản (Căn bản trí). Cần nhắc lại, trí tuệ là sự hiểu biết nhất nguyên, nhận biết sự vật là như thật, như là chính nó, không có phân biệt chủ thể và đối thể, không phê phán, không có nhận thức nhị nguyên chen vào. Trí tuệ này siêu việt ngôn từ, văn cú, khái niệm; hoàn toàn là sự biết thanh tịnh rằng Chân như là căn bản của thực tại. Trí căn bản này nảy sinh Trí hậu đắc (Hậu đắc trí) là một hình thức thanh tịnh của trí tuệ phát sinh khi không còn phân biệt, nhưng chưa đạt đến giác ngộ giải thoát, cho nên đó gọi là "trí thế gian đã thanh tịnh". Đây là trí cần thiết phải có để có thể phân biệt tất cả các pháp, mà không vướng mắc dính chấp vào chúng hay bởi chúng, nên có thể loại bỏ mọi mê lầm về hiện tượng giả tá do thức tạo thành. Đức Phật dùng trí hậu đắc này để thuyết pháp độ sinh mà không thấy có người được độ, cho nên thong dong tự tại, đi lại không còn buộc ràng, là bậc Như Lai. Trí hậu đắc này giải thích hành vi, hoạt động của bậc sau khi đã giác ngộ, vẫn có thể đối diện với tất cả những hình danh sắc tướng của ngoại tại trong thế gian huyễn hóa này.
Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa (hay Ứng) thân. Chỉ có thân thứ 3, Pháp thân (Dharmakàya) là chân thật. Báo thân và Hóa thân (Nirmànakàya, Transformation body) chỉ là những biểu hiện của Pháp thân, và là những hiện thể dùng làm phương tiện tương đối tương đương với thức còn mê muội, chưa giác ngộ.
4. Chủ Trương Của Duy Thức Tông:
Chủ-trương của Duy-thức tôn là phá trừ vọng chấp ngã, pháp (biến kế sở chấp), bằng cách chỉ cho chúng sanh thấy tất cả các pháp đều nương nơi thức hiện ra (y-tha khởi), và mục dích cuối cùng lá đưa chúng sanh trở về với tánh chân thật (viên-thành thật). Thế-giới hiện-tượng này này, vì mê-mờ, chúng ta tưởng là chắc thật, nhưng hteo chủ trương của Duy-thức học, thì vũ-trụ vạn-hữu đều là Duy-thức biến-hiện. Cũng như sơn hà, đại địa trong cảnh chiêm bao, không có cảnh vật ấy.
Vậy, nếu chỉ cho chúng sanh thấy được một cách rỏ ràng, vũ-trụ vạn-hữu do thức biến-hiện ra như thế nào, thì chắc chắn chúng sanh sẽ không còn chấp thật ngã, thật pháp nữa. Cũng như khi biết cảnh vật trong chiêm bao là do tâm chiêm-báoanh ra thì không còn mê muội nơi cảnh chiêm-bao nữa. Mà không còn chiêm-bao tức đã thức-tỉnh. Cũng thế, khi không còn chấp thật ngã, thật pháp nữa, tất sẽ thấy được cảnh chân-thật của vũ-trụ vạn-hữu, (tánh viên thành-thật) . đó là chủ trương của Duy-thức tôn.
Nói một cách vắn tắt, chủ trương của Duy-thức tôn là quy vũ-trụ vạn-hữu trở về Duy-thức tướng, rồi từ Duy-thức tướng trở về Duy-thức tánh (tâm chơn-như hay tánh viên-giác).
5. Kết Quả Tu Chứng:
a). Hành-giả : sau khi đã dày công tu luyện pháp mê vọng, năm thức trước của chúng tánh là nhãn, nhĩ, tỹ, thiềt và thân thức, duyên với cảnh giới năm trần là sắc, thanh, hương, vị và xúc trần;nhờ thế mà chúng ta mới thấy được sắc, nghe được tiếng , ngữi được mùi, nếm được vịvà cảm giác được cảnh giới chung quanh. Nhưng cái giá trịvà tầm hoạt động cũng như công dụng của năm thức ấyât nhỏ hẹp và thường hay sai lạc, nhận giả làm thật. Do đó, chúng ta tạo ra các nghiệp sanh tử luân hồi, quay cuồng trong lục đạo. Ðối với người tu Duy-thức khi đã thành tựu rồi, thì năm thức này chuyển ra thành cái trí" thành sở tác", nghĩa là cái trí này có những công năng vô cùng rộng lớn như thị hiện thần thông biến hóa, hiện ra ba món hóa thân, đẻ tùy theo căn cơ của chúng sanh mà hóa dộ.
b). Diệu quán sát trí:khi đang còn ở trong mê thức thứ sảucghi biết so đo, tính toán trong phạm vi nhỏ hẹp, tầm hoạt động không thể bao quát cùng khắp được . do đó nên nó thường hay sai kạc, lầm lẫn, và lôi kéo thân và miệng làm nhiều điều tội lỗi, tạo ra các nghiệp sanh tử luân hồi. Ðến khi đã chứng được Duy-thức quả rồi, thì cái thức thứ sáu nàychuyển thành cái trí diệu quan sát, nghĩa làcái trí quan sát rát là mầu nhiệm, có thể thấy được hằng sang thế giới; trong mỗi thế giớ thấy được toàn thể chúng sanh, trong mỗi chúng sanh thấy được bao ngạc nhiêu tâm niệm v.v...Và nhờ sự quan sát huyền diệu rốt ráo như thế mà tùy theo nguyện vọng, taam lý, làm lợi lạc cho chúng sanh.
c). Bình đẳng tánh trí: Trong khi mê, thức thứ bảy chấp kiến phần của thức thứ tám là ngã. Khi đã chấp "ngã" tất nhiên chỉ biết có ngã là quan trọng nhất, và mọi ý nghĩ, mọi hành động, mọi lời nói gì cũng đều quy tụ chung quanh cái ngã. Diều gì thích hợp với cái ngã thì yêu thương, chiều chuộng, cưng dưỡng, diều gì trái với cái ngã thì khinh ghét,hất hũi, chà đaạp. Do đó, gaay ra không biết bao nhiêu là bất công, bất bình đẵng làm xáo trộn, điêu đứng phá hũy cõi trần gian này. Ðến khi chứng được Duy-thức quả, thức thứ bảy này không còn chấp ngã nữa, mà chỉ thấy mình và người , cho đến lòai vật đều như nhau. Khi đã có được trí bình đẵng rồithi sẽ dùng tâm từ bi hiện đủ phương tiện, để tùy theo căn cơ mỗi loài mà hóa độ, làm cho chúng sanh đều được giải thoát.
d). Ðại viên cảnh trí: Khi còn mê-mờ bị thức thứ Bảy chấp ngã và bị các chủng-từ phiền-não hữu-lậu, nhiễm-ô chi-phối, nên thức thứ Tám không được sáng suốt thanh-tịnh. Ðến khi nhờ tu-hành, chứng được Duy-thức tánh, thì thức thứ Tám này trở thành như một cái gương lớn được lau chùi sạch bụi-bặm, có thể phản chiếu khắp cả mười phương thế-giới, nên gọi là ''Ðại viên cảnh trí''.
6. Lợi Ích Thiết Thực Trong Khi Học Và Tu Duy Thức
Kết quả thu hoạcgh được như trên, hành-giả tất phải trải qua nhiều kiếp tu-hành. Nhưng chúng ta đừng thấy con đường đi qáu xa-xôi, diệu vợi mà nản chí. Vã lại không phải đợi đến khi thu hoạch được kết-quả cuối cùng mới nhận chân được sự lợi ích của pháp môn này. Ngay trong khi đang tu học, môn Duy-thức này cũng đã đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích thiết thực cho đời sống hiện tại rồi.
1.- Chúng ta tự biết được mình một cách rỏ-ràng: Từ hồi nào đến giờ, chúng cho ta thân tâm này là của tánh, tưởng rằng chúng ta đã hiểu rõ bản thân tánh nhiều lắm. Nhưng nghĩ cho kỹ, chúng ta chỉ biết sơ sài về ta mà thôi. Về thân xác này, chúng ta chỉ thấy được những bộ phận ở bên ngoài như mặt, mũi, tay, chân v.v...Muốn biết các bộ-phận bên trong, chúng ta tất phải học khoa phẩu thuật.
Về tâm-tánh chúng ta lại càng dốt hơn nữa. Nhiều khi chúng ta tưởng hiểu rõ nội tâm của mình, kỳ thật đã lầm nhiều lắm. Vậy muốn rõ biết tâm-tánh một cách rõ ràng, chúng ta hãy tu học Duy-thức. Như phần trên đã nói. Duy-thức học đã phân tích, chia-chẻ một cách tường tận, tỉ-mỉ, tâm-lý của chúng ta , liệt kê ra thành nhiều loại; mỗi loại có tên riêng, hành-tướng, công-năng, phạm-vi hoạt-động khác nhau như thế nào. Học Duy-thức, chúng ta thấy được phần nội tâm một cách rỏ ràng như người cầm gương soi, thấy tất cả những gì ở trên mặt. Chúng ta sẽ biết rõ những tâm-niệm xấu-xa để diệt-trừ (tu tâm), những tánh-tình tốt đẹp để bồi dưỡng (dưỡng tánh). Do đó, chúng ta sẽ trở thành người hiền lương, đạo-đức.
2.- Chúng ta thấy được cái chánh-phủ nội tâm của chúng ta: Tâm-lý của mỗi người mới xem qua thật vô cùng phức-tạp; nhưng nếu suy nghiệm cho kỹ, chúng ta thấy vẫn có một tố chức gần giống như một liên bang; các Tâm-vương khác như một vị Tổng-thống của liên bang; các Tâm-vương khác như các vị đứng đầu của tiểu-banh; các tâm-sở Biến-hành như một vị Bộ-trưỏng; các Tâm-sở Biệt-cảnh như các vị Tỉnh-trưởng, Quận-trưởng; các Tâm-sở Bất-định như các vị dân-biểu không đảng phái; các Tâm-sở Thiện như các vị công-thần liêm-khiết hay các vị công-chức tân tâm vì dân vì nước; các Tâm-sở phiền nảo như những tham quan ô lại, hay cướp dựt lưu manh v.v... con các chủng-tử (thiện, ác, vô ký) thì như toàn thể dân chúng trong liên bang.
7. duy thức học và các tông phái:
Trước hết chúng ta đề cập Duy Thức Học quan hệ với hai học phái Tiểu Thừa và sau đó sẽ so sánh Duy Thức Học quan hệ đến các tông phái Đại Thừa.
7.1. duy thức học và câu xá luận:
Câu Xá là tên của một bộ luận và nguồn gốc của tên này gọi cho đủ là A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận Trung Hoa dịch là Đối Pháp Tạng Luận (Luận về đối tượng Pháp Tạng). Nội dung của Câu Xá Luận nhằm thuyết minh Nhân Không Pháp Hữu làm tông chỉ. Bộ luận này rất quý trọng nơi việc nghiên cứu Phật Học. Người nghiên cứu Phật Học, trước hết phải học tập Câu Xá Luận. Câu Xá Luận vừa là đầu mối, vừa là cơ sở, mà cũng vừa là phương pháp nhập môn, là tuần tự của sự chứng nghiệm, của sự tín giải một cách rõ ràng và cụ thể. Kinh luận thường nói, học Phật và tu hành là để đoạn trừ phiền não và cắt đứt sanh tử. Nội dung bộ luận này đều căn cứ trên các bộ Kinh A Hàm, các bộ Luật và nhất là các bộ Luận của phái Hữu Bộ để thành lập. Câu Xá Luận trình bày vấn đề đoạn trừ phiền não và cắt đứt sanh tử rất có mạch lạc. Người sơ cơ học tập Phật Pháp, nếu như không chịu nghiên cứu bộ luận này để khai mở đầu tiên mà lại đi tham học giáo lý Đại Thừa thì người đó rốt cuộc thiếu hẳn căn bản tư tưởng, nguyên vì giáo lý Đại Thừa đều căn cứ nơi Tiểu Thừa để thành tập. Nói chung, giáo lý trong các kinh luận của Tiểu Thừa thì trình bày rất rõ ràng và ngược lại giáo lý trong các kinh luận của Đại Thừa thì phần nhiều trình bày quá tổng quát. Yếu nghĩa của ba Tạng Kinh Tiểu Thừa đều hàm chứa trong bộ luận này. Câu Xá Luận không những chỉ thuyết minh rốt ráo của Phật Pháp mà lại còn trình bày rõ ràng một loại triết học tông giáo của Ấn Độ. Tại Ấn Độ, bộ luận này được gọi là Thông Minh Luận. Vào thời Lương và thời Trần, thuộc Kỷ Nguyên 548, ngài Chân Đế đến Trung Quốc dịch Câu Xá Luận. Ngài là người nghiên cứu và chứng đắc kim chỉ nam của A Tỳ Đàm. Đến đời Đường, ngài Huyền Trang dịch các bộ luận mới gọi là Tân Luận. Sự nghiệp nghiên cứu của ngài Huyền Trang rất thạnh hành một thời và ngài trước tác rất nhiều tác phẩm. Những tác phẩm của ngài có tiếng tâm như là Phổ Quang Ký, Pháp Bảo Lưu, Viên Huy Tụng Sớ,..v..v..... Về sau, sự sùng thượng Đại Thừa và việc chú sớ bị thất truyền là lý do cũng tại không có người nghiên cứu đến. Phải nên biết rõ, Duy Thức Học và Câu Xá Học rất quan hệ với nhau như máu thịt và xương cốt.
7.2. duy thức học và thành thật học:
Thành Thật cũng là tên của một bộ luận. Tác giả của bộ luận này là Ha Lê Bạt Ma, người Trung Ấn. Nội dung của bộ Thành Thật Luận bàn về Lý Không và Lý Không này so với học thuyết Tánh Không Duyên Khởi của Tam Luận thì không giống nhau. Tương truyền rằng, chỗ thuyết minh lý không nơi bộ Thành Thật Luận của hệ phái Kinh Bộ trước tác chỉ nói lên được nghĩa Thiên Không của Tiểu Thừa. Đến đời Diêu Tần, ngài La Thập dịch bộ luận này thành chữ Hán để lưu truyền về sau. Bộ luận này đã được nhiều người truyền bá và tu tập. Các học giả sở dĩ một thời chuyên về Thành Thật Luận là để thành lập một tông phái và họ đã hoàn thành một học phái. Sự hoàn thành học phái của tông Thành Thật được thấy chú sớ rất nhiều trong Kinh Lục gồm 24 loại. Thế nên biết rằng Tông này rất thạnh hành một thời. Từ đấy trong Phật Học, Thành Thật Luận thật là trọng yếu. Bộ luận này kể từ ngài La Thập trở về sau có người phê phán cho là Đại Thừa và có người phê phán cho là Tiểu Thừa. Trong sử truyện, sự tranh luận vấn đề trên có hơi nhiều. Điển hình như “ các học giả từ ngài Trí Nghỉ Kiết Tạng trở về trước đều cho Thành Thật Luận là bộ Luận của Đại Thừa, cho đến một ít nhân vật như ngài Tăng Nhu Huệ và thứ nữa như ba đại Pháp Sư của nhà Lương đều không cho Thành Thật Luận là Tiểu Thừa. Cho đến các học giả Tam Luận nhìn các học giả Thành Thật Luận cho là những bậc thầy của Đại Thừa Thành Thật Luận. Nhưng đến ngài Kiết Tạng (học giả của Tam Luận) ở trong Tam Luận Huyền Nghĩa, ngài dùng Thập Nghĩa chứng minh bộ Thành Thật Luận là nguyên thủy. Thêm nữa ngài Trí Nghỉ Huệ Viễn cũng cho bộ Thành Thật Luận là nguyên thủy. Từ đó các bộ luận được san định nhằm để minh định những loại nào là thuộc về luận của Tiểu Thừa” . Thành Thật Luận sở dĩ bị ghép vào loại Thiểu Thừa là do không có người trước thuật mà ở đây không phải do các học giả Tam Luận phê bình và thêm nữa đời sau Thành Thật Luận lại không có người nghiên cứu đến.
Lý Không của Thành Thật Luận, theo quan điểm của Thành Duy Thức Luận thì thuộc về loại Thiên Không và nó không phải là cái Không thuộc Trung Đạo cứu cánh. Tông Thành Thật cùng với Duy Thức quan hệ hơi ít. Học thuyết Nhị Đế: có và không, sanh và diệt, một và khác,..v..v.... của Thành Thật Luận nếu căn cứ nơi rốt ráo Trung Đạo thì cũng có thể giống như giáo nghĩa Tam Tánh và Nhị Đế,..v..v.... của Duy Thức
7.3. duy thức học và thiền học:
Thiền Tông là cốt tủy của Phật Học Trung Quốc. Đại sư Thái Hư đã nói: “Tánh chất đặc biệt của Phật Học Trung Quốc thì ở nơi Thiền Tông.” Thiền Học Trung Quốc bắt đầu từ nơi ngài An Thế Cao của nhà Hán. Mãi đến đời Tấn và đời Tống, ngài La Thập và ngài Bồ Đề Lưu Chi mới dịch các sách thuộc về yếu chỉ của pháp Thiền. Pháp Thiền từ đây lần lần thạnh hành. Nguyên do, Phật pháp vốn xem trọng ở nơi tu chứng và coi thường ở nơi học lý. Trong sự tu chứng, pháp Thiền đương nhiên là công phu bậc nhất. Pháp Thiền thì thuộc về Tâm Học Tăng Thượng trong ba môn học Tăng Thượng. Nắm lấy vấn đề xét tâm tu chứng chính là một trong ba môn học vô lậu. Vì thế các cao tăng của Tây Vực khi đến Trung Quốc đều trao truyền pháp Thiền. Đến đời Lưu Tống (khoảng năm 470 – 475), ngài Bồ Đề Đạt Ma, người Nam Ấn Độ đến Trung Quốc tự mình truyền thọ Thiền Học cho hậu thế. Thiền Học Trung Quốc từ đó phát sanh một loại Thiền biến hóa. Từ Bồ Đề Đạt Ma trở về trước, Thiền Tông Trung Quốc không có kiến lập hệ phái truyền thừa chánh thống và khi đến ngài Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Quốc trở về sau, Thiền Tông Trung Quốc mới có kiến lập lịch sử truyền thừa, đồng thời cũng có quy định rõ ràng phương pháp dụng công tu tập. Ngài Bồ Đề Đạt Ma trụ nơi Thiếu Lâm Tự tại Trung Nguyên, trải qua chín năm diện bích, tự mình tu chứng, tự mình truyền thọ học đồ (đệ tử). Nhờ vậy Thiền Tông Trung Quốc tôn vinh ngài Bồ Đề Đạt Ma là Sơ Tổ. Chúng ta cũng nên cần biết đạo lý của Thiền Tông Trung Quốc. Pháp Thiền kể từ Bồ Đề Đạt Ma trở về trước thì có sử dụng Kinh Giáo. Đến ngài Lục Tổ Huệ Năng trở về sau, Thiền Tông Trung Quốc phần lớn không căn cứ trên Kinh Giáo, không lập văn tự và đơn độc tham cứu một câu thoại đầu hoặc một loại công án để tâm trực chỉ tự ngộ bổn tánh. Cho nên pháp Thiền này được gọi là Giáo Ngoại Biệt Truyền của Kiến Tánh Thành Phật, hoặc gọi là Siêu Giáo Đốn Ngộ Thiền mà cũng gọi là Tổ Sư Thiền. Theo họ quan niệm, Văn Học chỉ là một loại dây leo rễ má và Kinh Giáo cũng chỉ là một thứ giày cỏ rách nát, tất cả đều là vật chướng ngại của sự trực ngộ bổn tánh. Mãi đến đệ tử đời thứ hai (Mã Tổ) của Lục Tổ Huệ Năng trở về sau, Thiền Học Trung Quốc lại trở thành một thứ Thiền hoàn toàn vượt ra ngoài Phật và vượt ra ngoài Tổ, nghĩa là thứ Thiền không có Phật và không có Tổ. Thiền này được gọi là Thiền Siêu Phật Tổ. Đây cũng là tinh thần của Thiền Học Trung Quốc. Cảnh giới của Thiền Học Siêu Phật Siêu Tổ đạt đến là Đăng Phong Tạo Cực (Lên đỉnh núi tạo dựng Thế Giới Cực Lạc).
7.4. duy thức họcv à tịnh độ tông:
Tịnh Độ Tông là một tông phái thuộc tín ngưỡng dân gian và tông phái này có thế lực rất lớn tại Trung Quốc. Từ xưa đến nay tông phái Tịnh Độ hoằng truyền không dứt. Tịnh Độ Tông được thành lập vào thời đại nhà Tấn và hiển đạt nhất từ khi ngài Huệ Viễn (334 – 416) thành lập Hội Liên Xã tại Lô Sơn. Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc có thể nói khởi điểm từ đó. Ngài Huệ Viễn nhơn sự loạn lạc tại Tương Dương cùng với ngài Đạo An mang đồ chúng tỵ nạn tại Lô Sơn và liền chấn hưng lại Phật Học Nam Triều. Ngài Huệ Viễn không những có địa vị trong Phật Giáo mà danh tiếng về đạo đức và văn chương của ngài có ảnh hưởng rộng lớn trong giới học thuật đương thời. Tại Lô Sơn, ngài một mặt tự mình nghiên cứu kinh giáo và đặc biệt là đề xướng học thuật Tỳ Đàm. Hơn nữa ngài cũng thông suốt ba Tạng Kinh của nguyên thủy và Bát Nhã. Ngoài ra, ngài lại còn đề xướng niệm Phật. Các bậc cao hiền ẩn sĩ đương thời như Lưu Quý Thị,..v..v.... cùng với các bậc xuất gia như Pháp Sư Phổ Tế,..v..v.... gồm tất cả là mười tám người cùng theo ngài chia nhau thiết lập từng xã Niệm Phật, gọi là Tịnh Độ Liên Xã. Tại Lô Sơn, mười tám vị này được gọi là Thập Bát Hiền và họ chuyên môn xiển dương Thiền Niệm Phật. Tịnh Độ Tông kể từ ngày thành lập trở về sau, nhờ Pháp sư La Thập dịch kinh A Di Đà, cho nên người ta theo và hành trì lại càng hưng thạnh.
Đến thời Triệu Tống, Tịnh Độ Tông và Thiền Tông bài xích lẫn nhau như nước với lửa và không thể tha thứ cho nhau được. Người tham thiền thì không chấp nhận niệm Phật và người niệm Phật cũng không hứa khả tham thiền. Thiền Tông có ra Thiền Quy: “Người nào nếu như niệm Phật một câu thì bị phạt gánh nước rửa Thiền Đường và phải súc miệng ba ngày”. Cho thấy, tình hình nghiêm trọng giữa Thiền và Tịnh không thể dung hòa với nhau được.
Lúc bấy giờ, Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ đề xướng “Thiền Tịnh Song Tu” và dùng Tịnh Độ đánh vào môn đình của Thiền Tông. Thiền sư chủ trương, cốt yếu của người niệm Phật là tham thiền và cốt yếu của người tham thiền là niệm Phật. Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ lúc bấy giờ rất có tiếng tăm và cũng vì chủ trương Thiền Tịnh Song Tu cho nên môn nhơn tín đồ theo Thiền sư rất đông. Theo Thiền sư, mình và mọi người đều là Thiền giả cũng nên cấp thiết thực hành niệm Phật. Thiền Tịnh Song Tu có bốn khoa đơn giản làm phương châm và trong bốn khoa này, hai câu rất có danh tiếng là: “Có Thiền có Tịnh Độ, dụ như cọp mọc sừng”. Người tu hành nếu thực tập tăng cường thêm tín niệm và giải thoát. Nhờ sự đề xướng của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ, Thiền Tịnh Song Tu được truyền thừa liên tục cho đến ngày nay. Cũng vì lý do trên, Thiền Tông Trung Quốc có thể nói trở thành một thứ Thiền biến hóa.
7.5. duy thức học và luật tông:
Chiếu theo Phật Pháp, giới luật không nên lập tông phái riêng, nguyên vì không luận học Thiền, học Tịnh, học Giáo, không luận tăng già hay thế tục, mọi người phàm là tín đồ quy y Phật Pháp đều phải hiểu rõ và hành trì giới luật. Giới Luật là con đường đạo để làm người, làm bậc siêu nhân và cũng là để kiến lập Đại Từ Điển căn bản của Phật Pháp. Giới Luật không nên thiên lệch và phải nên phổ biến tuân hành. Chỉ tại vào thời triều đại nhà Đường, Luật Sư Đạo Tuyên ở núi Chung Nham là người đạo đức, văn chương, trì luật nổi tiếng, có thể động đến thiên địa và cảm đến quỷ thần. Ngài nghiên cứu tinh thông luật học và dựa trên Tứ Phần Luật Tạng chánh thức thành lập Luật Tông. Nổi bật hơn hết, Luật Sư Đạo Tuyên là người thành công lớn nhất trong Phật Giáo Sử Trung Quốc. Thật ra, người đầu tiên hoằng dương Luật Tứ Phần chính là Luật Sư Trí Thủ. Luật Sư Đạo Tuyên là đệ tử kế thừa. Đồng thời với Đạo Tuyên, hai Luật Sư là Tướng Bộ Pháp Lệ và Đông Tháp Hoài Tố cũng hoằng truyền Luật Tạng. Cho nên người đời thường gọi Đạo Tuyên, Pháp Lệ và Hoài Tố là ba Luật Gia đời Đường. Trong ba Luật Gia này, chỉ Nam Sơn Luật của Đạo Tuyên nhờ lý do đặc biệt truyền bá không dừng. Ngài Đạo Tuyên nghiên cứu về Luật Học tinh tế và phi thường, đồng thời trước tác sách cổ về Luật Tông gồm có năm Đại Bộ. Điểm đặc biệt của ngài Đạo Tuyên trong sự nghiên cứu tinh tế và phi thường về Luật Học như:
“Thứ nhất, ngài kiến lập Hóa Giáo và Chế Giáo (cũng gọi là Hóa Giáo và Hành Giáo):”
“a- Hóa Giáo: nghĩa là ngài dựa theo các kinh luận Đại Thừa và nguyên thủy, trong đó gồm có bốn bộ A Hàm,..v..v..... để chú thích Pháp Môn Định Huệ.”
“b-Chế Giáo: nghĩa là ngài cũng dựa theo các Luật Giáo của Đại Thừa và nguyên thủy, trong đó có Tứ Phần Luật,..v..v..... để chú thích Pháp Môn Giới Học.”
8. Sự phát triển của Duy thức tông:
Tông Duy thức xuất hiện tại Ấn Độ, chính nơi đây tông phái này đã phát triển vào thế kỷ thứ sáu công nguyên,.Ngài Di Lặc được coi là sơ tổ của tông phái này. Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân), người Tây Bắc Ấn đã hệ thống hóa và phát triển tư tưởng ba giáo nghĩa về Tàng thức, Tam tướng và Tam thân Phật. Khi tác phẩm Tam thập tụng của Bồ tát Thế thân xuất hiện đánh dấu một bướt ngoặc phát triển của Tông phái này, giáo nghĩa của Duy thức đã được Ngài tóm tắt trong tác phẩm Tam Thập Tụng. Có mười tác phẩm luận giải tam thập tụng mà về sau Ngài Huyền Trang khi phiên dịch từ bản Phạn sang chữ Hán thì đã đặt tên là thành Duy Thức Luận.
Duy thức Tông biến mất khỏi đất nước Ấn Độ khi chịu chung số phận Phật giáo bị tàn diệt vào khoảng 1.100 sau T.L.Các nhà đại học giả đã truyền Duy thức tông qua Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ...Trung Hoa là đất nước tiếp nhận giáo nghĩa Duy thức do hai bậc đại trí huệ là Paramàrtha (500-569) từ Ujjayini đến Đông Ấn năm 546 sau T.L và Ngài Huyền Trang khi du hoc ở đại học Na-lan-da trở về nước (khoảng 650).Cũng chính từ ngài Huyền Trang mà tên gọi Duy Thức Tông đã được biết đến.Ngài Huyền Trang đã tóm tắt giáo lý Duy thức của Ngài trong tác phẩm Thành Duy Thức Luận.Đây là bản luận mà Ngài Huyền Trang chủ yếu ăn cứ nhiều nhất vào ngài Dharmapàla (Hộ Pháp), Trụ trì chùa Nalanđà (Na-lan-đà), và tương đối coi nhẹ chín vị khác. Ngài Khuy Cơ chính là nhân vật có nhiều sớ giải quan trọng đối với Duy thức, Ngài là vị đệ tử ưu tú nhất của Ngài Huyền Trang. Khuy Cơ Đại Sư viết nhiều bộ luận và một bộ bách khoa từ điển về giáo lý Đại Thừa, đây cũng chính là thời kỳ tông Duy thức được truyền bá mạnh mẽ khắp lục địa Trung Hoa và trở thành một tông phái lớn thời bấy giờ. Chẳng bao lâu thì thì duy thức được chia ra làm hai , một ngành ở phương Bắc và một ngành ở phương Nam, đến thời nhà Nguyên thì Tông duy thức bị thất truyền..Đến năm 653 Duy thức truyền bá tới Nhật bản và được biết đến với tên Pháp Tướng Tông. Trong thời đại Tempyo với sự cố gắng truyền bá của Đại sư Sojo Gien pháp tướng tông đã phát triển khắp xứ Nhật Bản. Đến nay thì tông phái này chỉ là một tông phái nhỏ, với với 44 chùa và 700 tăng sĩ.
8.1. Sự phát triển của hệ thống Duy thức học tại Trung Hoa:
Hệ thống Duy Thức học được truyền tới Trung Hoa vào thế kỷ thứ 6 AD. Tuy nhiên, Bộ Du - Già đã được truyền tới sớm hơn, tức vào thế kỷ thứ 5 AD. Từ bản dịch Kinh Thập Địa Bồ Tát của Ngài Hộ Pháp ( 385-433) và ngài Đức Tuệ ( 367-431) có thể nói đây là những tác phẩm Du- Già đầu tiên được dịch sang tiếng Trung Hoa. Ngài Gunabhadra ( 394-460) đã dịch Kinh Lăng Già và Kinh Giải Thâm Mật, ngài Hộ Pháp đã dịch tác phẩm Thập Địa Kinh Luận.
Có hai dòng truyền hệ thống duy thức vào Trung Hoa. 1. vào năm 513 bởi Bồ Đề Lưu Chi mang vào, đưa đến sự thành lập trường phái Thế Luận vào năm 563. và 2. Bởi Ngài Chân Đế đưa đến sự thành lập trường phái Nhiếp Luận. Đến năm 659 ngài Huyền Trang đã thiết lập sự phát triển của trường phái Pháp Tướng Tôn hay còn gọi là Duy Thức Tôn.
Suốt từ năm 508-512 AD, Ba Tăng sĩ người ấn độ là Lặc Na Ma Đề(Ratnamati) Bồ Đề Lưu Chi và Phật Đà Phiến Đa( Buddhasanta) đã dịch Thập địa Kinh Luận và một bản luận giải trên tác phẩm này của Ngài Thế Thân. Trên tác phẩm này trường phái Tam Luận Tông được thành lập. Vào năm 513 Bồ Đề Lưu Chi đã bắt đầu dịch bộ kinh Lăng Già. Trong lúc đó Bồ Đề Lưu Chi và ngài Lặc Na Ma Đề có một vài sự bất đồng trên nguồn gốc triết lý của Thập Địa Kinh Luận, điều đó dẫn đến sự chi rẻ trong trường phái này. Đệ tử của Bồ Đề Lưu Chi là Ngài Tao-Chung đã phát triển lời dạy của thầy mình đến phía bắc của thành phố có tên là Quảng Châu. Nhánh này được biết như là Tam luận tông miền Bắc. Huệ Quảng ( 467-536) đệ tử của Ngài Lặc Na Ma Đề đã giải thích quan điểm của thầy mình ở phía nam của Quảng Châu, nhánh này được biết như là trường phái Tam luận tông miền Nam. Tam Luận tông phía bắc có thể nói được phồn thịnh sớm hơn vì Tao-Chung là một đại sư nổi tiếng của trường phái này và thâu nhận hàng ngàn đệ tử. Tuy nhiên, về sau ảnh hưởng của ngài không được nhiều người biết đến. Trong khi đó, Tam Luận Tông phía nam có học trò của ngài Huệ Quảng là Pháp Thượng ( 490-580) và học trò của Pháp Thượng là Huệ Viễn ( 523-592) trở thành nhân vật nổi tiếng của trường phái này.
Tam Luận Tông biện minh trên giáo lý duy thức rằng những gì được hiểu biết của thế giới bên ngoài là do thức, cấu trúc của bảy thức ( mạt na và tiền lục thức) có nhiệm vụ ủng hộ thức thứ 8 alaya. Và thừa nhận thức thứ 8 alaya như là thức chân thật trong khi đó bảy thức trước như là thức không thật. Trong lĩnh vực của thức alaya cốt lõi của của sự còn lại là không biến đổi trong mọi thứ thay đổi, nó là phương diện tuyệt đối của vũ trụ, lĩnh vực hoạt động hay sự biểu hiện của alaya thức là phương diện của vũ trụ. Thế giới hiện tượng biểu hiện bị nhiễm ô hay trong sạch tùy thuộc trên sự nhiễm ô hay trong sạch của alaya thức. Trong điều kiện alay thức bị nhiễm ô thì nó dính líu đến hạt giống ô nhiễm. Trong điều kiện thanh tịnh alay thâu nhận đạo đức theo sau sự tu tập và trở nên giải thoát ra khỏi các điều ô nhiễm.
8.2. Sự phát triển của hệ thống duy thức tại Ấn Độ:
Việc phân tích và hệ thống hoá lại lời dạy của Đức Phật làm xuất hiện bốn trường phái chính trong tư tưởng triết học Phật giáo tại ấn độ. Đó là : Nhứt Thiết Hữu Bộ ( Vaibhasika) Kinh Lượng Bộ ( Sautrantika), Du-Già ( Yogacara) và Trung Quán ( Madhyamika).
Học thuyết Duy thức được phát triển từ trường phái Du- già và bác bỏ lại các dòng triết học đương thời đó chính là hai lý thuyết cực đoan, một là mọi thứ đều hiện hữu của nhứt thiết hữu bộ, hai là mọi thứ đều rổng không của trường phái Trung quán. Học thuyết duy thức thiết lập sự thật của thức và chỉ có thức là duy nhất, trên hết và loại bỏ sự hiện hữu của ngoại cảnh bên ngoài thức. Đây chính là con đường trung đạo được giảng dạy bởi Đức Phật.
Trong một số kinh điển đại thừa Phật giáo bao gồm giáo lý Duy thức học, ở đó kinh Giải Thâm Mật bảo rằng lời dạy của Đức Phật nói bản chất của vạn pháp là không có thật. Lời dạy trên khẳng định một sự thật tuyệt đối, đó là sự thấy biết của trí huệ bực Thánh. Giải Thâm Mật giải thích rằng, sự phủ nhận hiện hữu của vạn pháp đã được dạy trong kinh Bát Nhã không có nghĩa là sự vật không hiện hữu hay tướng trạng của sự hiện hữu. Mà chúng hiện hữu trong lý nhân duyên sanh và chuổi mắc xích nhân quả trong sự liên hệ của nó. Sự thật tuyệt đối là bản chất của tất cả các pháp riêng biệt, đó là bản thể của các yếu tố. Trên bề mặt tưởng tượng của vạn pháp xuất hiện và có mặt vì có sự phân biệt của cái tên gọi, mà nó được đặt cho nó bởi ý nghĩ suy diễn của chúng ta. Chúng không có sự thật về sự phân biệt mà chỉ là sự quy ước và không phải là bản chất tự nhiên của vạn pháp. Đây là thực chất không thật của vạn pháp.
Trong kinh Giải Thâm Mật nói thêm rằng lý thuyết trong kinh Bát Nhã về Bất sanh và bất diệt…đã được dạy trong sự liên hệ với sự thật tuyệt đối. Sự thật tuyệt đối ( Parinispanna) hay còn gọi là Niết bàn, nó chính là bản chất của vạn pháp (dharmata), Như Lai ( Tathata) và tánh không (Sunyata). Nó là vô thỉ và vô chung không bao giờ thay đổi. Tâm là sự sở hữu tất cả các hạt giống được gọi là a lại da thức ( còn gọi là tàng thức) hay a đàn na thức ( thức của sự chiếm đoạt) . Trong a lại da thức, hạt giống được sinh trưởng xuyên qua sự gắn bó tham gia và ghi dấu của ý niệm tiềm tàng. Trong kinh Giải Thâm Mật cũng có đề cập đến ý niệm ( idea).
Trong kinh Lăng Già dạy rằng Duy Thức được giải thích trong Thập Địa Kinh Luận rằng: “ ba cõi không thật , chỉ do thức tạo ra”. Nó thiết lập cái không thật của thế giới và sự thật tuyệt đối của tâm và đưa ra ba phương diện của sự nhận thức đó là: A lại da thức, Mạt na thức, và Thức của sáu giác quan, được gọi là Tám thức. A lại da thức là thức căn bản, nó được đồng nghĩa với sự thật tuyệt đối trong Niết bàn. Còn bảy thức kia là tưởng tượng ( ảo) và bị bỏ lại sau khi đạt được niết bàn. Do bị ảnh hưởng bởi vô minh ( avidya) nhiều thức khác nhau xuất hiện vì chủ thể và đối tượng vượt ra ngoài Thức tạng ( the store consciousness) nhưng sự thật còn lại do tiền lục thức chuyển tiếp tất cả tính hai mặt ( nhị nguyên) của chủ quan và khách quan.
Thức A lại da được so sánh với nước đại dương và trên bề mặt sóng là 7 thức trước. Tức là năm giác quan, thức thứ 6 căn bản trên tâm, thức thứ bảy là thức nhiễm ô hay Klistamanas bị khuấy động của vô minh ( avidya) cuốn đi mà không có chổ dừng lại. Nhưng chiều sâu của đại dương hay nền móng ( lớp đáy) của đại dương vẫn cứ liên tục, ở đây có nghĩa là alaya là kho chứa của tất cả trí huệ cả hai tuyệt đối và tương đối. Alaya thức là bản chất trong sạch và được đồng nhất với sự thật tuyệt đối.
8.3. Sự Truyền Thừa và Phát Triển Tông Duy Thức Tại Đài Loan:
Phật Giáo Đài Loan nhìn lại có thể đến đời Minh Mạc Vĩnh Lịch(tức Vua Thanh Thuận đời nhà Thanh trị vì). Do có quan hệ về nhân duyên và địa thế, nên người Xuất Gia của Đài Loan được đến từ tỉnh Mân(tên gọi khác của tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc. Cho nên trong các Tông Phái đều có thể nói là (Tổ Tự Phúc Kiến, Luật Y Cổ Sơn) trong cách hành trì phần nhiều là lấy (Thiền Tịnh hợp nhất) dung hợp các Tông Phái. Bởi vậy, hơn 200 năm Phật Giáo thời Thanh Qúy, không có tên gọi:(Duy Thức Tông)
Ban đầu Ngài Huyền Trang đời nhà Đường, kế đến Ngài Khuy Cơ khai sáng ra:(Tông Duy Thức) sớm trãi qua đời nhà Nguyên, sau đó pháp phái truyền thừa bị thất truyền.(gần đây xem tư liệu, được biết năm Dân Quốc thứ 40 Ngài pháp sư Tam Huệ ở thôn Khước Sáng, xã Tiêm Sơn , huyện Đài Bắc, kiến lập chùa Phước Huệ. Sau đó tiếp nhận chùa Sùng Thọ, và đồng thời cũng tiếp nhận chùa Quảng Thiện. Hai ngôi chùa này được truyền thừa từ pháp phái Hiền Thủ Tông và Từ Ân Tông. Mà hai ngôi chùa này lấy đó làm cách hành trì. Nhưng lại giảng kinh, niệm Phật, tu trì Tịnh Độ. Bởi vậy, Phật giáo Đài Loan không có Tông Phái của Duy Thức)
Tại Đài Loan, niên hiệu Quang Phục về sau, là sớm nhất có Tông Duy Thức hoằng truyền tại đây. Là được truyền lại từ Ngài Từ Hàng pháp sư ở Singapore.
Ngài Từ Hàng pháp sư họ Ngải, tên Kế Minh, tự là Sản Tài. Người làng Kiến Ninh tỉnh Phúc Kiến. Ngài sinh năm Quang Tự thứ 21(công nguyên1895)
Năm lên 10 tuổi cha mẹ Ngài qua đời, còn lại một mình, Ngài về sống với bà Ngoại. Năm 13 tuổi, Ngài bắt đầu đi đến thôn kế bên huyện Thái Ninh núi Nga Mi đảnh lễ Ngài Tự Trung Hòa Thượng làm thầy thế phát Xuất Gia. Mùa Thu năm sau Ngài thọ cụ túc giới tại chùa Năng Nhơn, huyện Cửu Giang. Đầy đủ giới thể, Ngài hành khước tham vấn khắp nơi. Học Thiền với Ngài Viên Anh Hòa Thượng, học Kinh với Ngài Đế Nhàn Pháp Sư, học Tịnh Độ với Lão Hòa Thượng Độ Ách và còn tham học với các bậc Danh Tăng Già Lam khác.
Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ 16,(1927)Ngài Từ Hàng Pháp Sư đến tham học tại Hạ Môn(tên của Thành Phố Thuộc Tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc)Ngài vào học tại Phật Học Viện Mân Nam. Sau một học kỳ, vì có nguyên nhân nên Ngài thôi học để nhận lời mời thỉnh cầu Trụ Trì Chùa Nghinh Giang. Ngài cảm thấy thân làm Trụ Trì, nhưng lại không thông đạt kinh điển, thì không giúp ích gì được cho Phật pháp, thế là Ngài quyết tâm cố gắng khổ học. Ngài đã từng đến Phật học viện Võ Xướng giảng dạy, sau được Đường Đại Viên biên soạn thành tập (Duy Thức Giảng Nghĩa) lúc rãnh rỗi Ngài lấy ra đọc lại, rồi ngẫm nghĩ, rốt cuộc Ngài cũng tường tận về Duy Thức.
Năm Dân Quốc thứ 15(1926), Ngài Từ Hàng Pháp Sư tạm thời nhường việc trụ trì đến Hồng Kông giảng kinh. Cũng từ nhân duyên đó, Ngài từ Hồng Kông đến Ngưỡng Quang(Thủ Đô của Miến Điện)trú trong tháp của chùa Long Hoa. Sau khi ở Ngưỡng Quang 3 năm được hội cư sĩ Phật Giáo như: Binh Hoằng Truyền, Trần Hoằng Tuyên vv.... hộ trì, thành lập (Trung Quốc Phật Giáo Hội) Ngài đảm nhiệm vai trò Đạo Sư. Sau đó, Ngài chuyển đến Tinh Ma hoằng hóa được 10 năm. Ngài đi khăp các nơi Tinh Ma giảng kinh thuyết pháp. Trong thời gian này Ngài kiến lập hội Phật Học khắp các nơi của Singapo như: Học Viện Bồ Đề Tịnh Châu, Học Viện Bồ Đề Tân Thành, Tân Long Dữ, Ma Lục Giáp, Kiết Lông Ba.
Năm Dân Quốc thứ 37(1948)Ngài Từ Hàng được Hòa Thương Diệu Qủa Thỉnh đến chùa Viên Quang ở Thành Phố Trung Lịch, Huyện Đài Bắc, Đài Loan giúp đỡ giảng dạy Phật Học Viện.
Năm Dân Quốc thứ 38(1949)Tại Trung Quốc có biến cố chính trị, các Học Tăng trẻ tìm đến Đài Loan lánh nạn, phần nhiều nương vào Ngài làm y chỉ sư. Sau đó, Ngài chấn chỉnh lại việc học cho Chư Tăng Đài Loan. Tại Tịch Chỉ(Đài Bắc)thành lập Di Lặc nội viện, quy tụ đại chúng giảng giải và học tập Kinh Điển. Đồng thời, còn khai giảng các khóa Kinh Luận về Đại Thừa như: Lăng Nghiêm, Duy Thức, Nhân Minh Luận v.v...Ngoài ra, Ngài còn đến các vùng xa xôi thuyết giảng, thuyết lý viên dung, dụ giải tường tận. Năm Dân Quốc thứ 43(1954)Ngài thị tịch, thọ 60 tuổi.
9. Duy thức học và dòng cảm biến tâm thức:
Học Duy Thức Học để vận dụng thực hành là tôn chỉ hàng đầu cuả người tu Phật. Trên cơ sở những yếu lý trong Duy Thức Học, quán chiếu sự vận hành, những quy luật biến hóa của Thức, giản trạch và chuyên nhất vào sự thực hành, gạn đục khơi trong; nếu không sẽ quay cuồng trong sự tạo tác( sanh y) và sự giải thoát sẽ khó có được trong tầm tay.
Khi nói: “ Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” tức chúng ta đang đề cập tính chi phối áp đặt chủ quan cuả thức lên đối cảnh. Thực tế, cơ chế vận hành của thức nhập nhằng và vô cùng linh hoạt. Ảnh tượng để có cảm nhận của chủ thể vốn bị chi phối bởi nhiều nguồn tác động và năng lực mạnh yếu của mỗi yếu tố: duyên, căn, trần, thức, sự tư lượng, quá trình tồn lưu, v.v…
Phải xác định tính cần thiết của những thông tin có được từ “bộ lọc_thức” đối với đời sống con người. Nó góp vào sự tự điều chỉnh cuả cơ thể, tạo ra những phản ứng tích cực làm nền tảng cho sự tồn tại một cá thể sống. Chẳng hạn, khi độ ẩm không khí tăng gây cảm giác nóng bức( do sự thoát hơi nước qua da bị hạn chế đưa đến thân nhiệt khó thoát ra ngoài ), cảm giác về nhiệt độ lúc đó gọi là nhiệt độ cảm biến( không phải nhiệt độ thực). Sự tư lượng lúc đó là tợ tỷ lượng ; sự cảm thọ nghiêng về khổ thọ(thuộc thân căn), từ đó phát sanh ý thức vượt thoát khỏi trạng thái hiện tại.
Sự đa mang trong thế giới nhận thức của chủ thể được thể hiện dưới dạng phán đoán ( discrimination) và nhận thức( comprehension). Đi từ hình thái tánh cảnh (thế giới như chính nó) mà có đới chất cảnh ( thế giới được phản ánh từ cơ sở ban đầu) và độc ảnh cảnh ( ảnh tượng tái hiện độc lập). Nếu một khi những phán đoán nhận thức xa rời thực tại ( mộng trung ý thức) lại có duyên tồn tại đồng hành và chi phối phần lớn thời gian sống, sinh hoạt của chủ thể, gây ra những hiệu ứng thiêú cơ sở thực tế trong ý niệm, ngôn ngữ, hành vi, dẫn đến sự lạc chuẩn của chủ thể, chúng ta sẽ có hiện tượng bệnh lý_bệnh hoang tưởng ( một hình thái của vô minh ).
Để đánh giá về các vấn đề : con người, xã hội, tự nhiên,v.v…chủ thể buộc phải vận dụng những kỹ năng tiếp cận. Ý thức lúc đó lập tức nhận được sự tiếp ứng đối chiếu từ các chủng tử ( thiện_ác_vô ký) câu sanh( từ tàng thức)đồng giao thoa với tâm thái hiện tại : tiếp cận( xúc), phát khởi( tác ý), lãnh hội( thọ), ký ức( tưởng), suy ngẫm(tư). Năm Biến hành thẩm thấu lan truyền đồng thời tẩm nhuộm màu sắc lên sự tái cấu trúc đối cảnh. Sự kết luận sau đó( tam lượng) và nuôi dưỡng ( tam cảnh) đưa chủ thể nhận thức vào những cách hành xử hay tri kiến tương ứng, vậy mới có quan điểm và chủ trương; chính kiến và đối sách,v.v…Nếu sự nhận thức bị khúc xạ bởi các yếu tố xúc tác là các phiền não sẽ gây hiệu ứng méo mó trong nhận thức và hành xử(Yêu nhau câu sáu bửa ba, ghét nhau cau sáu bửa ra làm mười! )
Học Duy Thức Học để vận dụng thực hành là tôn chỉ hàng đầu cuả người tu Phật. Trên cơ sở những yếu lý trong Duy Thức Học, quán chiếu sự vận hành, những quy luật biến hóa của Thức, giản trạch và chuyên nhất vào sự thực hành, gạn đục khơi trong; nếu không sẽ quay cuồng trong sự tạo tác( sanh y) và sự giải thoát sẽ khó có được trong tầm tay.
III. KẾT LUẬN:
Chúng ta đã trình bày xong những điểm chính yếu của Duy-thức tôn giáo hay Pháp tướng tôn. tất nhiên, với phạm vi những bài luận này, chúngta không thể đi sâu vào chi tiết, trình bày một cách rộng rải, đầy đủ hơn. Quý vị nào muốn nghiên cứu sâu xa về môn học này, xin hãy tim trước tiên ba bộ sách chính tông của Duy-thức là: Ðại-thừa Bá Phát minh môn luận (Duy-thức nhập môn),Duy-thức Tam Thập Tụng và Bát Thức Quy Củ tụng; sau đósẽ nghiên cứu thêm những tập sách khác hiện đã xuất bản rất nhiều ở Việt-Nam .
Tuy thế, sau khi xem qua nội dung bài này, quý vị có thể quyết định được con đường tu hành của quý vị rồi. Nếu quý vị thấy đây là một con đường tu hành thích hợp và thiết thực lợi ích đối với mình thì xin hãy hạ thủ công phu ngay, nghĩa là ngày đem quan sát kiểm thảo tâm thức của mình. Như quý vị đã biết, trong mỗi chúng ta đều có sáu đầu đảng giải quyết là sáu món Căn bản phiền não. Sáu đầu đảng này lại có hai mươi tên bộ hạ nguy hiểm là 20 Tùy phiền não. Chính bọn giặc cướp này, từ vô thỉ đến nay phá hoại chúng ta vô cùng vô tận, làm cho chúng ta điêu đứng và trầm luân trong biển khổ sanh tử luân hồi. Nếu ngày nay biết được sự tàn phá của chúng, quyết tâm diệt trừ, không cho chúng hoành hành,chắc chắn cuộc đời chúng ta an cư lạc nghiệp.
Hơn nữa, bên cạnh những bọn giặc cướp ấy, chúng ta còn có những anh hùng nghĩa sĩ, chuyên làm các việc thiện là 11 món tâm sở thiện. Với những vị hảo hán này, chúng ta phải luôn luôn ân cần trọng đãi, khuyến khích cổ võ để cho họ càng thêm hăng hái và mạnh mẽ làm các việc lành.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1.NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000.
2. Phạm Kim Khánh dịch, Đức phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009.
3. NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000.
4TT Thích Viên Trí biên soạn, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2007.
5.NT Thích nữ Trí Hải dịch, Đức Phật đã dạy những gì, Nxb Tôn Giáo, 2000.
6.HT Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Ban Tu Thư Đại Học Vạn hạnh, 1969.
7. HT. Thích Phước Sơn dịch, Ấn Độ Phật Học Nguyên Lưu Lược Giảng, Nxb Phương Đông, 2011.
8. HT. Thích Minh Châu dịch, Trường Bộ Kinh, Nxb Tôn Giáo, 2001, tr. 85.
9. HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh, Tập I, Kinh Đoạn Tận Ái, Nxb Tôn Giáo, 2003.
10. HT Thích Quảng Độ dịch, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Bxb Ban tu thư đại học Vạn Hạnh, 1969, tr. 207-208.
11. TT Thích Viên Trí, Phật Giáo Nguyên Thủy Và Phật Giáo Đại Thừa, Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ.
12. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009.
Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2015
ỨNG DỤNG ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO TRONG HỌC ĐƯỜNG NGÀY NAY
ỨNG DỤNG ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO
TRONG HỌC ĐƯỜNG NGÀY NAY
I. DẪN NHẬP:
Trong đời sống xã hội, con người chịu ảnh hưởng bởi môi trường văn hóa mà trong đó họ sống và hoạt động. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng, nó là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh và bản sắc của dân tộc đó. Tổ chức cũng vậy, nó cũng có một truyền thống mang đậm dấu ấn văn hóa mà ta tạm gọi là văn hóa tổ chức. Văn hóa tổ chức là một yếu tố rất quan trọng mà nhà quản lý cần xây dựng và duy trì nhằm tạo động lực đưa đơn vị phát triển nhanh và bền vững. Nhìn một cách tổng thể, văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị và chuẩn mực chung được biểu hiện thành những nguyên tắc sống, những nguyên tắc ứng xử có tác dụng chỉ dẫn hành vi của cá nhân trong tổ chức đó. Đối với trường học, văn hóa tổ chức có thể được gọi là văn hóa học đường. Vậy văn hoá học đường là gì? Có thể hiểu đó là những quan niệm, chuẩn mực quy định cách xử sự giao tiếp giữa người học với nhau, giữa trò với thầy và ngược lại; là cách học và tiếp thu kiến thức. Văn hoá còn được thể hiện qua triết lí giáo dục của nhà trường, qua hành vi giao tiếp, cách ăn mặc, cách ứng xử với cảnh quan môi trường...
Văn hóa học đường là môi trường rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ trở thành những con người sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp. Vấn đề xây dựng văn hóa học đường phải được coi là có tính sống còn đối với từng nhà trường, vì nếu học đường mà thiếu văn hóa thì không thể làm được chức năng chuyển tải những giá trị kiến thức và nhân văn cho thế hệ trẻ.
II. NỘI DUNG:
1. Bức tranh học đường vì sao "tối"?
Công bằng mà nói thì hành vi đánh nhau của học sinh, kể cả của nữ sinh thời nào cũng có. Nếu đó chỉ là sự bộc phát nhất thời hay cách giải quyết mâu thuẫn theo cách "trẻ con" thì không có gì đáng bận tâm. Tuy nhiên hiện nay hành vi đánh nhau của học sinh ngày càng gia tăng về mức độ và tính nghiêm trọng ngày càng cao. Đã từng có những vụ án mạng từ chốn học đường với những lý do không đâu vào đâu.
Điều đáng nói là hiện tượng đánh nhau không chỉ có ở học sinh THPT mà kể cả những học sinh đang học THCS với tuổi đời còn rất nhỏ. Hành vi này có chiều hướng gia tăng về số lượng, tần số xuất hiện và có nguy cơ lây lan trên diện rộng và nên cần được nhìn nhận đây thực sự là một hiện tượng xã hội rất đáng lo ngại.
Ngoài ra cũng có nhiều ý kiến cho rằng các em học sinh hiện nay thiếu vắng sự quan tâm chăm sóc của gia đình. Nhiều bậc cha mẹ quá chú tâm vào việc kiếm tiền và chu cấp đầy đủ về vật chất cho con, mà không quan tâm đến tâm tư, suy nghĩ của con cái. Điều này vô tình khiến các em cảm thấy cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình. Tương đồng với ý kiến này, có người còn cho rằng chính người lớn chúng ta đang quá bạo lực với các em, từ đó các em sẽ sẵn sàng bạo lực với các bạn cùng trang lứa khi có cơ hội.
Bất kể xã hội nào, từ xã hội phong kiến đến xã hội hiện đại, để xây dựng một xã hội trong sạch, mang tính nhân văn thì đều cần phải có những chuẩn mực đạo đức nhất định. Và quan trọng nhất là các chuẩn mực đạo đức ấy phải hợp với lẽ đời, hợp với thuần phong mỹ tục của mỗi dân tộc thì mới mong sản sinh ra một thế hệ nhân văn, biết yêu thương con người, biết dùng tình yêu thương để đối xử với nhau trong cuộc sống hàng ngày.
1.1. Đạo đức học sinh suy đồi do đâu?
Trách nhiệm không ai khác một phần do gia đình các em. Gia đình chính là nền tảng chủ lực định hướng cho nhận thức đạo đức các em. Chính sự thờ ơ, không quan tâm, uốn nắn từ nhỏ đã dẫn đến sự sai lệch trong đạo đức dẫn đến những hành động đáng tiếc xảy ra. Cha mẹ sống hòa thuận, dành nhiều thời gian chăm sóc, yêu thương và quan tâm đến việc nuôi dạy con cái thì trẻ sẽ có phẩm chất đạo đức tốt. Còn đối với những gia đình thiếu sự quan tâm giáo dục, bỏ rơi con cái thì phần lớn con cái họ khó trở thành những người có nhân cách tốt”.
Bên cạnh đó, nhà trường cũng chưa thực sự quan tâm tới học sinh và cũng có những sai phạm trong cách uốn nắn giáo dục. Việc chửi bới, lăng mạ học sinh là điều hoàn toàn sai trái trong định hướng học sinh đi lên trong học tập. Khi trẻ đi học, bên cạnh sự giáo dục đạo đức, lối sống ở gia đình, thì việc giáo dục đạo đức, lối sống ở nhà trường cũng rất quan trọng. Phẩm chất, đạo đức, nhân cách của thầy cô giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ trong quá trình rèn luyện nhân cách cho trẻ.
Xã hội ngày càng xuất hiện nhiều cám dỗ khiến các em dễ sa vào con đường
1.2. vai trò của nhà trường- vai trò chỉ đường:
Theo phương châm giáo dục của nhà trường : “Vẫn biết tròn là khôn nhưng nguyện lấy vuông làm mẫu”, trong suốt những năm qua, kim chỉ nam trong giáo dục của trường vẫn kiên trì theo quan điểm: “Coi trọng giáo dục đạo đức” với mục tiêu “ Vì hạnh phúc gia đình, vì tiến bộ xã hội, thầy mẫu mực, trò chăm ngoan học giỏi”. Trong quá trình phát triển và hội nhập hôm nay, quan điểm giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh luôn cần sự đổi mới để góp phần xây dựng văn hóa học đường lành mạnh trong sáng phù hợp với môi trường giáo dục của thời đại toàn cầu hóa. Trong những năm gần đây, hưởng ứng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, nhà trường đã xây dựng 5 văn hóa: Văn hóa chào, văn hóa xếp hàng, văn hóa đọc, văn hóa tiết kiệm, văn hóa bảo vệ môi trường để góp phần đổi mới hình thức giáo dục đạo đức Năm văn hóa.
1.3. vai trò của giáo viên- vai trò dẫn lối:
Vai trò của người thầy rất quan trọng trong xây dựng văn hóa học đường. Chức năng, nhiệm vụ của thầy cô giáo không chỉ dừng lại ở truyền thụ kiến thức, kỹ năng mà quan trọng hơn cả là chức năng “trồng nhân”. Đặc biệt đối với trường Nguyễn Siêu luôn nhận thấy vai trò người giáo viên chủ nhiệm trong việc xây dựng văn hóa lớp học, trường học.
Hiện trạng về sự dân chủ trong học sinh , đặc biệt sự đòi hỏi của cha mẹ học sinh ở các trường ngoài công lập đã khiến nhiều ứng xử văn hóa giao tiếp trong học đường mất đi tôn chỉ “tôn sự trọng đạo”. Vì vậy, vai trò của người giáo viên là người trực tiếp tiếp xúc với học sinh và cha mẹ học sinh sẽ góp phần dẫn lối cho các chủ trương của nhà trường. Chú trọng đến những yếu tố ảnh hưởng đến sự tín nhiệm của học trò đối với giáo viên, nhà trường luôn khắc sâu khẩu hiệu “mỗi thầy cô giáo là tấm gương sáng đạo đức tự học và sáng tạo” cho học sinh noi theo. Vì vậy, để sáu văn hóa trở thành thói quen trong nếp sống hàng ngày thì chính các thầy cô của trường cũng đã và đang rèn luyện.
1.4. vai trò của cha mẹ học sinh- vai trò đồng hành:
muốn được hình thành như một thói quen văn hóa thì theo chúng tôi, góp phần không nhỏ là “Nếp nhà”. Nhà trường luôn coi trọng phối kết hợp giáo dục đạo đức giữa gia đình và nhà trường. Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên liên lạc và chia sẻ thông tin, thông báo chủ trương, hoạt động của nhà trường và kết quả học tập, rèn luyện đạo đức của học sinh qua hệ thống tin nhắn tổng đài, email, website để cha mẹ học sinh có thể đồng hành cùng nhà trường. Điều quan trọng là nhà trường đã gửi được thông điệp giáo dục qua đó nhận được sự ủng hộ, tiếng nói chung đồng trách nhiệm trong việc giáo dục học sinh của cha mẹ học sinh. Cá biệt còn có những bậc cha mẹ học sinh quan tâm đến giáo dục và trước những thực trạng tệ nạn học đường, họ đã lo lắng và đề xuất các giải pháp cùng nhà trường tháo gỡ. Vì vậy khi tuyên truyền thực hiện sáu văn hóa trong nhà trường cha mẹ học sinh đã ưởng ứng và đã có nhiều gia đình quan tâm chú ý rèn các kỹ năng xã hội này cho học sinh ngay tại nhà. Ví dụ như ở nhà các con biết “đi thưa về chào”, biết xếp hàng ở nơi công cộng, trong quán ăn, khi qua đường… Đặc biệt, văn hóa sử dụng thiết bị điện tử thông minh ngày nay đang ăn sâu lan tỏa với tốc độ chóng mặt ở mọi nơi mọi lúc. Để có những biện pháp giáo dục cho học sinh có văn hóa sử dụng và xử lý thông tin trên mạng thì vai trò phối kết hợp giữa nhà trường, giáo viên, và cha mẹ học sinh là cực kỳ cần thiết quan trọng. Hiện tại vấn nạn “facebook” thiếu văn minh, học sinh bộc lộ sự tha hóa đạo đức (thậm chí chửi bố mẹ, giáo viên, bạn bè… bằng ngôn từ mà chúng gọi là “teen”) làm đau đầu và là nỗi lo lắng quan tâm của toàn xã hội. Chúng tôi thiết nghĩ các nhà giáo dục, các nhà cung cấp mạng, các nhà tâm lý học, một số cha mẹ học sinh nên tổ chức các buổi hội thảo để chia sẻ và tìm biện pháp ngăn chặn văn hóa xấu, định hướng tìm kiếm và phân loại thông tin văn hóa đúng đắn phù hợp với từng lứa tuổi. Cái gốc tệ nạn học đường trong giai đoạn hiện nay được bắt nguồn và lan tỏa nhanh chóng trong học sinh chính từ mạng xã hội mà điển hình là facebook. Vì vậy, việc quản lý ngăn chặn bằng cách “CẤM” thực sự rất khó kiểm soát, theo chúng tôi nên có bài học định hướng giáo dục học sinh ngay từ nhỏ để có văn hóa giao tiếp ứng xử ngay trên thế giới ảo online của học sinh.
2. Các giải pháp khắc phục tệ nạn xã hội trong học đường:
Trước thực trạng vấn đề tệ nạn xã hội gắn với tội phạm trong giới trẻ, bạo lực học đường... xã hội đang rất quan tâm đến các giải pháp đột phá của Ngành Giáo dục để góp phần giải quyết tận gốc vấn đề.
Vấn đề câu hỏi đặt ra là: Thực trạng vấn đề tệ nạn xã hội gắn với tội phạm của giới trẻ xảy ra còn nhiều: Hành xử giang hồ, bạo lực học đường, thậm chí cướp trong học đường... Cùng với đó là sự vô cảm, mất nhân tính - vấn đề rất cấp thiết và rất khó giải quyết, cần có thời gian và sự phối hợp nhiều ngành
Công tác giáo dục đạo đức trong học sinh, sinh viên trong những năm vừa qua đã có những đổi mới, tiến bộ và thu được những kết quả tốt, nhiều tấm gương học sinh nghèo vượt khó vươn lên trong học tập, nhiều tấm gương trong tu dưỡng, trong hoạt động cộng đồng, có cả những tấm gương đã hy sinh thân mình vì việc nghĩa làm lay động tình người.
- Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh, đang trong giai đoạn phát triển mạnh về thể chất và tâm lý, muốn tự khẳng định mình và hiếu động, cho nên có những hành động không đúng như xã hội mong muốn.
- Sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường kéo theo những mặt tiêu cực tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ.
- Những hành vi bạo lực xuất hiện nhiều trong đời sống xã hội, ngay trong gia đình, trong cộng đồng, xuất hiện tràn ngập trong phim ảnh, Internet, sách báo cũng tạo nên những khó khăn trong việc giải quyết bạo lực và giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên.
- Về phía nhà trường và ngành Giáo dục: Phương pháp và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên còn hạn chế, chưa tạo được sự lôi cuốn chủ động, chưa tạo nên xúc cảm sâu sắc cho học sinh; Giáo dục đạo đức, lối sống bằng nêu những tấm gương tốt của những người xung quanh, của thầy, cô giáo và trong xã hội chưa được nhiều;
Việc phối kết hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong việc quản lý học sinh, sinh viên, đảm bảo môi trường an ninh cho học tập cũng như rèn luyện chưa được chặt chẽ; Việc giáo dục kỹ năng sống chưa thực sự đi vào chiều sâu và thiếu nhiều các điều kiện cần thiết để triển khai; Công tác tư vấn tâm lý cho học sinh đã có bước đầu nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
2.1. Cần thay đổi cách dạy đạo đức trong học đường:
Đạo đức học đường hiện nay là vấn đề đáng lo ngại. Không phải ngẫu nhiên mà tại nhiều cuộc Hội thảo, hội nghị liên quan đến giáo dục có rất nhiều chuyên gia, học giả, nhà khoa học bày tỏ sự lo lắng về vấn đề này trong trường học.
Trước hết phải thay đổi việc dạy Đạo đức trong nhà trường, bởi đây là vấn đề mấu chốt để chấn hưng giáo dục. “Chúng ta thường nói trí, thể, mỹ phải đi liền với nhau. Rõ ràng đạo đức bao giờ cũng được đặt lên trước. Không phải ngẫu nhiên mà trong hầu hết các trường học đều có câu “Tiên học lễ, hậu học văn”, nghĩa là học sinh phải học lễ nghĩa trước, sau đó mới học văn hóa. Vì thế, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh là một vấn đề hết sức quan trọng”.
Đã đến lúc, ngành giáo dục đào tạo cần phải có những thay đổi, không thể giữ mãi cách dạy và học như hiện nay. Như Phó Chủ tịch nước đã từng nhấn mạnh “Sản phẩm đào tạo phải thay đổi, giáo dục đào tạo phải thay đổi. Các bậc học phải tìm ra khiếm khuyết ở chỗ nào để tìm cách khắc phục, phải chỉ thẳng ra chứ không thể nói chung chung”.
Đây cũng là mong mỏi của đa số người dân làm sao đưa được nền giáo dục nước nhà ra khỏi tình trạng yếu kém, bất cập hiện nay, để con em chúng ta được học tập, rèn luyện trở thành chủ nhân của đất nước, thành những con người có đạo đức, kiến thức, sống có ích cho gia đình và xã hội.
2.2. Giáo dục đạo đức cần thế “kiềng ba chân”.
Nhiều trường phổ thông cho thấy có vấn đề như nhiều bài học ôm đồm, không sát thực tế trong môn Đạo đức, Giáo dục công dân ở bậc học phổ thông. Việc dạy tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức vào các môn học khác cũng chưa thực sự hiệu quả…
Thực tế trong các trường học, tiết Giáo dục công dân chỉ chiếm chưa đến 4% thời lượng các môn học, trong khi vấn đề rèn đức, rèn người lại là vấn đề quan trọng hàng đầu. Vì vậy bên cạnh việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua môn học này, nhà trường phải kết hợp với các bộ môn khác cùng các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể...
Có một quan niệm sai lầm cho rằng dạy và học đạo đức chỉ cần thông qua môn đạo đức và giáo dục công dân. Thực tế, kiến thức trong những môn học nào cũng có tính giáo dục, vấn đề là người dạy biết lồng ghép trong mỗi bài học để định hướng tư tưởng cho học sinh. Đã đến lúc thay vì dạy học sinh những bài học đạo đức xa vời, các nhà trường cần giáo dục cho các em về lòng nhân ái, bao dung, độ lượng hay giáo dục về các chuẩn mực đạo đức trong quan hệ xã hội. Cần tìm ra các hình thức sinh hoạt hiệu quả, tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh.
Cũng như vậy, để giáo dục đạo đức cho con em mình, mỗi gia đình cần giữ gìn đạo đức, nề nếp gia phong, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, là tấm gương cho con cái noi theo.
Xây dựng môi trường giáo dục tốt với thế “kiềng ba chân” gia đình- nhà trường- xã hội, sẽ là biện pháp hữu hiệu nhất để giáo dục đạo đức học sinh trong xu thế hiện nay.
2.3. Giáo dục đạo đức học sinh qua thiết chế văn hóa trường học:
"Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Theo đó thiết chế văn hóa trường học góp phần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo.
Xây dựng thiết chế văn hóa trường học thể hiện bản sắc tốt đẹp của nhà trường XHCN Việt Nam. Văn hóa trường học là động lực nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức học sinh, góp phần quan trọng hình thành nhân cách, tâm hồn trong sáng của các thế hệ học sinh. Xây dựng thiết chế văn hóa trường học vừa là mục tiêu, nội dung, phương châm, phương pháp giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường.
Văn hóa trường học tạo môi trường lành mạnh để hình thành kỹ năng sống cho học sinh và sức mạnh tổng hợp về vai trò, trách nhiệm của gia đình, xã hội tham gia quá trình giáo dục, nhất là việc chăm lo giáo dục đạo đức học sinh. Thực tế ở những trường có sáng tạo xây dựng thiết chế văn hóa học đường đều có tác dụng nâng cao vị thế, uy tín của nhà trường với cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương.
Xây dựng thiết chế văn hóa trường học bảo đảm được bản sắc trường ra trường, thầy ra thầy, trò ra trò. Tiêu chí của một trường có bản sắc văn hóa là cơ ngơi nhà trường khang trang, đẹp, văn minh, xanh, sạch. Từ cổng trường đến các lớp học, đường đi lối lại bố trí khoa học, có tính thẩm mỹ. Trường có sân chơi, bãi tập, vườn hoa cây cảnh, các phòng thư viện, phòng đọc sách, phòng truyền thống, phòng đồ dùng dạy học…
2.4. Tiêu chí đánh giá đạo đức của học sinh hiện nay:
Để khắc phục những nhược điểm trên, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh về rèn luyện đạo đức, trong khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa thay đổi nội dung đánh giá đạo đức của học sinh, theo chúng ta các trường cần thay đổi cách đánh giá đạo đức của học sinh phổ thông theo phương pháp sau:
Đối với học sinh tiểu học
TT Nội dung đánh giá Điểm tối đa HS tự đánh giá Lớp đánh giá
1 Thực hiện đầy đủ và có kết quả học tập; chấp hành nội quy nhà trường; đi học đều và đúng giờ; giữ gìn sách vở và đồ dùng học tập. 25
2 Hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, kính trọng, lễ phép với thầy giáo, cô giáo, nhân viên và người lớn tuổi; đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ bạn bè và người có hoàn cảnh khó khăn 20
3 Có ý thức rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh cá nhân 15
4 Tham gia các hoạt động tập thể trong và ngoài giờ lên lớp; giữ gìn, bảo vệ tài sản nơi công cộng; tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường; thực hiện trật tự an toàn giao thông 20
5 Góp phần bảo vệ và phát huy truyền thống của nhà trường và địa phương 20
Tổng 100
Trong năm tiêu chí đánh giá đạo đức học sinh tiểu học thì tiêu chí thứ nhất phải đạt điểm cao nhất, vì đạt được tiêu chí này sẽ góp phần hoàn thành tốt các tiêu chí khác.
TT Nội dung đánh giá Điểm tối đa HS tự đánh giá Lớp đánh giá
1 Luôn kính trọng người trên, thầy giáo, cô giáo, cán bộ và nhân viên nhà trường; thương yêu và giúp đỡ các em nhỏ tuổi; có ý thức xây dựng tập thể, đoàn kết với các bạn, được các bạn tin yêu; 25
2 Tích cực rèn luyện thân thể, có lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị, khiêm tốn, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường. 15
3 Hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ học tập, cố gắng vươn lên trong học tập. 25
4 Thực hiện nghiêm túc nội quy nhà trường; chấp hành tốt luật pháp, quy định về trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao thông; tích cực tham gia đấu tranh, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và tiêu cực trong học tập, kiểm tra, thi cử. 20
5 Tham gia đầy đủ các hoạt động giáo dục quy định trong Kế hoạch giáo dục, các hoạt động chính trị, xã hội do nhà trường tổ chức; tích cực tham gia các hoạt động của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; chăm lo giúp đỡ gia đình 15
Tổng 100
III. KẾT LUẬN:
Có thể nói trong xã hội ngày nay, đạo đức của một bộ phận học sinh đang xuống cấp đến mức báo động. Sự sa sút về đạo đức, nhân cách của học sinh đang thách thức năng lực giáo dục của người thầy. Điều này đã đặt ra một bài toán cho các trường sư phạm phải chú ý đến việc nâng cao năng lực giáo dục cho đội ngũ giáo viên tương lai để giúp họ sau khi ra trường sẽ trở thành những nhà giáo dục hơn là những người thày dạy chữ. Mặt khác, đối với giáo viên phổ thụng, đòi hỏi họ phải thực sự là một nhà giáo dục đầy tâm huyết, kiên nhẫn, song cần lắm những quyền lực và công cụ đủ mạnh để làm cho HS biết sợ mà cố gắng rèn luyện, tu dưỡng. Nếu không, sự "nhờn thuốc" qua các hình thức trách phạt kể trên không thể chữa trị được những học sinh hư.
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho mỗi cá nhân và cộng đồng tồn tại phát triển. Sống trong xã hội, ai cũng phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình và cộng đồng, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: người có tài mà không có đức là người vô dụng, còn người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Nếu một cá nhân có trình độ và năng lực chuyên môn rất cao nhưng không có đạo đức tốt sẽ gây ra nhiều thảm họa về tệ nạn xã hội, rơi vào nạn tham ô, lãng phí, hoặc vì lợi ích của bản thân bất chấp thủ đoạn bất lương và những việc làm phi pháp nhằm công kích hại người khác. Ngược lại, người có đủ tài đức khi làm bất kì việc gì họ cũng nghĩ đến lợi ích chung, đặt lợi ích của tập thể và xã hội lên cao; tạo sự dung hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Học sinh là thế hệ trẻ và chủ nhân tương lai của đất nước, là nguồn nhân lực cơ bản nhất thúc đẩy sự thành bại của mỗi quốc gia. Vì vậy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là rất quan trọng. Nó góp phần xây dựng thành công con người mới xã hội chủ nghĩa để phát triển đất nước.
Tài liệu tham khảo
1.Makarenko.A.C.(1976) giáo dục trong thực tiễn, NXB thanh niên Hà Nội.
2.Makarenko.A.C (1984) tuyển tập các tác phẩm Sư phạm, NXB giáo dục Hà Nội.
3. Thời của nhà giáo...vô trách nhiệm , (Báo Dân trí 22/12/2012).
4. Nguyễn Thị Thu Huyền. Có những cái tát làm học sinh nên người.
5. Nguyễn Trung Nguyên. Phạt học sinh - có còn hiệu quả.
6. (Nguồn: http//www. Tuoitre.vn ngày 13/3/2014)
7. Xem Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh: Truyền thống dân tộc và nhân loại. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 63.
8. Hồ Chí Minh. Toàn tập. Tập 4. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr. 30.
9. Xem Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chí Minh. Tập 3. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr. 276-279, 235.
ỨNG DỤNG ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO TRONG VIỆC SỰ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THỜI HIỆN ĐẠI
ỨNG DỤNG ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO TRONG
VIỆC SỰ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN THỜI HIỆN ĐẠI
I. DẪN NHẬP:
Đạo đức là thước đo thang giá trị của con người mọi thời đại. Những giá trị đạo đức không bao giờ thay đổi, có chăng là chỉ thay đổi cách nhìn về giá trị ấy. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ nơi cuộc sống hiện đại. Cuộc sống hiện đại đã làm cho con người có những cách nhìn mới về những giá trị đạo đức. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tân tiến mang lại cho con người nhiều tiện nghi thoải mái. Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho con người nhiều nỗi phiền toái, và còn lấy mất khỏi con người nhiều giá trị cao đẹp – vốn là những điều quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lý tưởng sống của con người.
Những phương tiện khoa học kỹ thuật vốn không tốt cũng không xấu. Nó tốt hay xấu là phụ thuộc vào người sử dụng nó. Thế nhưng, những phương tiện khoa học kỹ thuật, hay nói một cách nôm na hơn là cuộc sống hiện đại đã làm cho con người, nhất là những người trẻ, có những thay đổi cách nhìn về giá trị đạo đức.
Giới trẻ ngày nay có cách nhìn về cuộc sống, con người, thời đại và về những giá trị đạo đức khác những người xưa nhiều. Đạo đức truyền thống đối với họ không phải là điều bắt buộc nữa. Thứ đạo đức đó đối với họ đã trở thành những món đồ cổ rồi. Phải chăng bây giờ lớp trẻ đang sống thiếu đạo đức? Một vấn nạn không dễ trả lời.
Những giá trị cao đẹp vốn đã tồn tại bao đời, đang thiếu vắng nơi một bộ phận các bạn trẻ hôm nay. Là con người hoài vọng cho một tương lai sáng lạn, một đất nước giàu và đẹp, cho một tương lai nhân loại tươi sáng hơn, ai lại không băn khoăn, ưu tư trước những thách đố của thời đại, trong đó có vấn đề giá trị đạo đức nơi người trẻ, hay nói một cách thực tế hơn là nhân cách của giới trẻ.
Hằng ngày, chúng ta có thể xem thấy hay đọc được trên các phương tiện thông tin đại chúng những mảnh đời tươi trẻ đang sa vào vũng lầy của tội phạm, tiêm chích… rồi rơi vào tuyệt vọng. Mang lấy kiếp người, không ai tránh khỏi đau khổ, nhưng có những cái đau đáng tôn trọng, có những cái đau đáng thương, có những cái đau để rèn luyện nhân đức con người và cũng có những cái đau chỉ mang lại thêm đau khổ. Những cái đau đớn do ngoại cảnh đem đến cho ta không nói làm gì, điều đáng nói ở đây là có những cái đau mình biết là do mình tạo nên, nhưng vẫn lao vào đó để chuốc lấy cũng như mang đến cho người khác thì thật đáng trách. Phải làm gì đây để quét sạch những cọng rác làm dơ bẩn sân chơi của cuộc đời?
Dòng đời vẫn ngược xuôi tất bật, ngồi yên một mình trong phòng để suy nghĩ cũng không xong, mà nếu dạo quanh phố phường một vòng thì thấy toàn là những “điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Nhìn những người trẻ sống vất vưởng bên dòng đời, tôi cảm thấy ưu tư, xót xa cho những số phận phũ phàng tang thương đó. Đây là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu này: một là để hiểu hơn thực trạng của đời sống người trẻ; hai là để hun nóng những ưu tư trong con tim mình nhằm có một hướng đi cho tương lai dâng hiến.
Đạo đức ngày nay bao gồm nhiều lĩnh vực, chứ không gói gọn trong cách học làm người: Đạo đức sinh học, đạo đức trong kinh doanh, đạo đức trong chính trị, đạo đức trong nhà trường, đạo đức trong tôn giáo… mỗi một trong những nền đạo đức này nói lên một khía cạnh nào đó của cuộc sống con người. Giá trị của chúng khác nhau, tuy nhiên, chúng có một điểm chung là con người. Giá trị đạo đức thực là cái bảo đảm cho một cuộc sống hạnh phúc hơn, sung mãn hơn.
“Giá trị đạo đức nơi người trẻ hôm nay” không phải là một đề tài mới mẻ đối với quần chúng, vì thực tế đã có nhiều người viết và viết đến nơi đến chốn. Trong phạm vi và giới hạn của bài tiểu luận này, người viết không có tham vọng trình bày một cách rốt ráo mọi góc cạnh của đạo đức cũng như những thay đổi về giá trị đạo đức nơi người trẻ hôm nay; người viết chỉ mong, qua tiểu luận này, nói lên những suy tư của mình về hiện tình sống của người trẻ cũng như là để tìm hiểu sâu hơn những gì đang diễn ra nơi họ.
II. NỘI DUNG:
1. ĐẠO ĐỨC VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC TRONG ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI:
1.1. Đạo đức là gì ?
Để hiểu đạo đức là gì, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu từ nguyên của nó đã. Trong tiếng Việt, nghĩa của từ “đạo đức” và “luân lý” gần giống nhau. Để hiểu rõ nội dung của đạo đức cần đi tìm ý nghĩa của từ đạo đức và luân lý. Theo “Hán – Việt Từ điển” của Đào Duy Anh, đạo đức bao gồm “Nguyên lý tự nhiên là đạo, được vào trong lòng người là đức – Cái lý pháp người ta nên noi theo”. (Đào Duy Anh, 1957) Theo Từ điển Tiếng Việt thì từ “đạo đức” là “những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà có” (Minh Tân - Thanh Nghi - Xuân Lãm, 1999). Còn từ “luân lý” có nghĩa là “những quy tắc về quan hệ đạo đức giữa người với người trong xã hội” (Minh Tân-Thanh Nghi-Xuân Lãm, 1999).
Theo “Từ điển Phật học Huệ Quang” của Thích Minh Cảnh, “đạo đức” là “nguyên lý thiện ác, chánh tà có liên quan đến hành vi của nhân loại” (Thích Minh Cảnh, ?). Hữu Ngọc - Dương Phú Hiếp - Lê Hữu thì quan niệm “đạo đức hay luân lý là một trong những hình thái sớm nhất của xã hội, bao gồm những nguyên lý (đạo lý), quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng”. (Hữu Ngọc - Dương Phú Hiếp - Lê Hữu, 1987, tr. 145). Cũng những tác giả này, họ định nghĩa về môn học này như sau: “Đạo đức học hay luân lý học là khoa học triết học nghiên cứu đạo đức - làm rõ vai trò nguồn gốc và sự phát triển của đạo đức trong lịch sử cũng như cơ sở lý luận của những hệ thống đạo đức cụ thể” (Ibid.).
1.2. Vai trò đạo đức trong cuộc sống con người:
Giả như con người không có nền đạo đức nào làm chuẩn mực để hướng dẫn những hành vi của mình thì con người cũng giống như bao nhiêu sinh vật khác vậy, không hơn không kém. Con người khác với con vật là ở chỗ, con người có tình yêu thương được thể hiện trong quan hệ giữa người với người. Những tiêu chuẩn hướng dẫn hành vi giúp con người sống đúng với hữu thể có lý trí và linh hồn. Một xã hội mà trong đó con người không tôn trọng nhau, nghĩa là không được xây dựng trên những giá trị đạo đức thì xã hội ấy không còn là xã hội đúng như tên gọi của nó nữa. Một xã hội trong đó mọi người tôn trọng nhau, cư xử với nhau có trên có dưới thì xã hội đó mới thực là xã hội của con người.
“Đạo đức là cốt ở sống hợp với bản tính của con người. Các triết gia không đồng ý với nhau, khi cần phải định bản tính của con người là gì, điều này tuỳ thuộc vào quan niệm siêu hình của từng môn phái; nhưng tất cả đều đồng ý mà quả quyết rằng đời sống đạo đức là cốt ở sự thực hiện cứu cánh của con người đúng theo chân bản tính của nó. Như thế, đạo đức không phải là gò ép con người và làm cho nó suy giảm, trái lại, đạo đức là làm nảy nở tất cả những gì có giá trị nơi con người. Vậy đạo đức rất là quan hệ; không có đạo đức, người ta có thể làm một kỹ sư hay một thương gia tài giỏi, nhưng không có đạo đức thì không thể trở nên một con người hoàn hảo và không thể phát triển tất cả những gì cao quý tốt đẹp của bản thân chúng ta”.
1.3. Đạo Đức là một Sản Phẩm của Quá Trình Tiến Hóa Tự Nhiên:
Trong vũ trụ có sẵn những giá trị “chân thiện mỹ” tự nhiên mà con người ai cũng có thể cảm nhận và ngưỡng mộ. Thí dụ như thương yêu đồng loại, bảo vệ gia đình, mến kính cha mẹ, chăm sóc con cái v.v. Con người có thể truyền dạy và thực hành các giá trị chân thiện mỹ nầy không cần tôn giáo.
Hầu hết trong giáo điều của mọi tôn giáo đều có bao gồm một số những giá trị chân thiện mỹ nầy. Những giá trị chân thiện mỹ trong các tôn giáo đều tương tự nhau, mặc dù người ta có thể khoát cho chúng những lớp áo có màu sắc và hình dạng khác nhau.
Gần đây đã có nhiều chương trình khảo cứu về ảnh hưởng của tôn giáo trên cung cách của con người. Người ta muốn thử tìm hiểu xem tôn giáo có những ích lợi gì cho con người và tôn giáo có thật sự làm cho một người trở thành có đạo đức hay không.
Từ những cuộc nghiên cứu nầy, có nhiều chứng cớ hỗ trợ quan điểm nói rằng tiêu chuẩn đạo đức có thể tự xảy sinh từ tâm thức mỗi người và không cần phải xuất nguồn từ tôn giáo.
Hầu như có thể nói rằng chúng ta sinh ra với những nhận định cơ bản đâu là sai đâu là đúng đã có sẵn trong đầu. Không tôn giáo hay hệ thống tín ngưỡng nào có thể làm thay đổi những giác quan cảm nhận việc sai đúng cơ bản nầy trong mỗi người cả.
Hơn nữa, trong những tập thể tiền sử (cũng như trong xã hội ngày nay), một cá nhân được nhiều người yêu chuộng thường có nhiều lợi điểm trong đời sống hằng ngày. Vì thế dần dần mọi người đều đi đến một nhận xét rằng "làm điều tốt sẽ đem lại điều tốt cho chính mình". Từ nhận xét nầy, một sự kiện quan trọng khác xảy ra: con người dần dần nhận biết rằng "lúc nào cũng có người quan sát và phán xét xem việc mình làm có tốt hay xấu". Có nghĩa là hành vi và tư cách của một người hầu như luôn luôn bị củng cố và kềm chế bởi những áp lực chung quanh của tập thể. Từ những áp lực xã hội nầy, tiêu chuẩn đạo đức thành hình.
Nói cách khác, đạo đức thành hình vì mọi người từ thời cổ đại dần dần có một khái niệm chung về những điều gì là xấu, những điều gì là tốt. Việc có đạo đức là một điều có ích lợi, và được khuyến khích, vì người có đạo đức thường đem lại và nhận được nhiều điều tốt từ những người chung quanh.
Đạo đức tôn giáo thành hình là vì cái quan niệm "có ai đó ngó chừng từng hành động của mỗi người" được dần dần biến cải thành ý niệm "có một ai đó siêu hìnhngó chừng từng hành động của mỗi người".
1.4. Giá trị đạo đức và sự biểu hiện của nó trong đời sống xã hội:
Trong xã hội có giai cấp, tư tưởng đạo đức thống trị trong xã hội là tư tưởng đạo đức của giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế. Giai cấp giữ địa vị thống trị về kinh tế dựa vào bộ máy nhà nước để tuyên truyền, giáo dục và thể chế hoá tư tưởng đạo đức của mình thành những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức, biến nó trở thành thước đo đánh giá, điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong xã hội, phù hợp với lợi ích của nó.
Giá trị, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu nó là cái mà do nó đã làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, được mọi người thừa nhận. Người ta có thể phân chia giá trị thành: giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị riêng, giá trị chung, giá trị xã hội. Có quan điểm cho rằng giá trị là cái vốn có của khách thể, nhưng mỗi chủ thể lại có thể đánh giá, xem xét nó trên những góc độ khác nhau, đưa đến những quan niệm khác nhau về giá trị. Theo chúng tôi, quan điểm đó không đúng, bởi khi nói đến giá trị là nói đến cái được mọi người thừa nhận, phù hợp với lợi ích của xã hội. Tuy nhiên, giá trị cũng là phạm trù có tính lịch sử.
Xuất phát từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu giá trị đạo đức là cái được con người lựa chọn và đánh giá, xem nó như là việc làm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương.
Lợi ích xã hội là tiêu chuẩn khách quan của các giá trị đạo đức, do đó chỉ khi nào những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ thì mới có giá trị. Như vậy, giá trị đạo đức được xác định bởi mức độ phù hợp của chúng đối với yêu cầu của tiến bộ xã hội. Song lợi ích xã hội và yêu cầu của tiến bộ xã hội lại có tính lịch sử, nghĩa là mỗi giai đoạn phát triển xã hội lại có những yêu cầu về lợi ích và sự tiến bộ của nó, chính vì vậy mà giá trị đạo đức cũng có tính lịch sử. Ph.Ăngghen cho rằng lời răn đạo đức "không được trộm cắp" chỉ có giá trị ở các xã hội có chế độ sở hữu tư nhân về động sản, còn "trong một xã hội mà mọi động cơ đẩy tới trộm cắp đều bị loại trừ, do đó đần dần hầu như chỉ cô những người mắc bệnh tinh thần mới phạm tội trộm cắp, thì một nhà truyền bá đạo đức nào muốn trịnh trọng tuyên bố cái chân lý vĩnh cửu: không được trộm cắp, sẽ bị người ta chê cười".
Trong quá trình hoạt động sinh sống, mỗi cá nhân không chỉ mưu cầu lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, mà còn mưu cầu sự tiến bộ của bản thân và đều muốn được dư luận xã hội ca ngợi, biểu đương. Do đó, những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức xã hội trở thành mục tiêu, thành những định hướng cho hoạt động cá nhân của nó. Những hành vi đạo đức có tính chất lặp đi lặp lại, tạo nên các quan hệ đạo đức tương đối ổn định và nó thường xuyên được duy trì, củng cố bằng dư luận xã hội sẽ trở thành thói quen, tập quán, truyền thống đạo đức trở thành nhân tố trực tiếp tác động đến sự hình thành đạo đức của thế hệ người tiếp theo. Như vậy, giá trị đạo đức trong trường hợp này được hình thành, phát triển ra sao luôn phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức được tuyên truyền, giáo đục trong xã hội.
Tự giáo dục đạo đức của cá nhân, trước hết thế hiện ở chỗ, môi cá nhân thông qua sự tự phán xét của lương tâm về hành vi của mình để củng cố các chuẩn mực đạo đức cá nhân, để đạt tới hành vi ứng xử phù hợp với các chuẩn mực đạo đức đó. Mặt khác, dựa vào dư luận xã hội, họ tự điều chỉnh hành vi và điều chỉnh ngay cả những chuẩn mực đạo đức cá nhân khi nhận thấy nó sai lệch với chuẩn mực xã hội. Giá trị đạo đức trong trường hợp này được xác định phụ thuộc vào sự nhạy cảm, sự cầu thị của chủ thể trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho phù hợp với tư tưởng, chuẩn mực đạo đức của xã hội.
Nhận thức đạo đức ớ trình độ kinh nghiệm hoặc tình cảm đạo đức gắn liền với hoạt động thực tiễn, với các quan hệ đạo đức của xã hội và luôn chịu ảnh hưởng của dư luận, tập quán, truyền thống đạo đức. Quá trình này hình thành nên ớ chủ thể đạo đức nhưng hình ảnh, những "thần tượng" được coi là chuẩn mực trực tiếp cho việc đánh giá, điều chỉnh hành vi đạo đức của họ. Chẳng hạn, một đứa trẻ thường thông qua việc quan sát những hành vi ứng xử cửa bố mẹ nó vời bạn bè, với nhưng người thân trong gia đình, với công việc... nó cũng sẽ làm như bố mẹ đã làm trước đây.
1.5. chuẩn mực đạo đức tác động của nền kinh tế thị trường:
Sự xuống cấp về đạo đức xã hội như đã nói đang diễn ra chính là kết quả của những biến động, biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta. Vậy quá trình biến động và biến đổi đó đã diễn ra như thế nào?
Đạo đức, lối sống là những vấn đề cốt lõi trong đời sống văn hóa của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc. Sự ổn định hay không ổn định, phát triển hay suy thoái của các quốc gia thường có quan hệ trực tiếp với vấn đề đạo đức xã hội. Để hình thành những chuẩn mực đạo đức và lối sống tốt đẹp, đòi hỏi một thời gian khá dài, có khi phải vài ba thế hệ. Nhưng để phá bỏ những chuẩn mực có giá trị và thay vào đó những phản giá trị thì chỉ cần một thời gian rất ngắn.
Việc xây dựng đạo đức và lối sống có văn hóa hiện nay không thể không bắt đầu bằng sự nhận diện các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Lịch sử dạy chúng ta rằng để giải quyết những vấn đề hiện tại của đời sống xã hội, không thể không trở về với những bài học của quá khứ của cha ông. Mặt khác, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và của xu thế toàn cầu hóa với tính hai mặt của nó, mỗi người Việt Nam cần nhận biết chúng ta là ai và từ đâu tới. Không nhận biết được những điều đó thì làm sao có thể xác định hướng đi của chúng ta sẽ về đâu. Nhận diện được các giá trị truyền thống cũng là điều kiện tham chiếu cực kỳ quan trọng để nắm bắt được những biến động, biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội đang diễn ra.
Vấn đề đặt ra là từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường đến nay, sau những năm vận hành và tìm tòi những lộ trình phù hợp, chúng ta vẫn chưa hiểu thật đầy đủ cả về lý luận lẫn thực tiễn nền kinh tế đó. Tình hình đó dẫn tới một thực tế là: trong khi chúng ta chưa phát huy hết mặt tích cực của kinh tế thị trường, thì mặt tiêu cực của nó lại thao túng, ảnh hưởng trên cả lĩnh vực sản xuất vật chất và sự sáng tạo, sàng lọc các giá trị tinh thần, đạo đức. Tình hình càng trở nên phức tạp hơn, khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang phải đối diện là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Điều này nhiều học giả trên thế giới đã nhận định: toàn cầu hóa kinh tế hiện nay thực chất là toàn cầu hóa kinh tế tư bản chủ nghĩa. Khi kinh tế thị trường bị chủ nghĩa tư bản chi phối, thì đương nhiên nó sẽ hy sinh phần xã hội cho kinh tế, nó duy trì sự phân hóa giàu nghèo, tạo nên sự sa sút về đạo đức và sự tha hóa con người...
Trong khi các quan hệ ngoài xã hội đang suy giảm, thì gia đình là bến đỗ của con người cũng đang bị lung lay, xung đột vì các lợi ích cá nhân. Xu thế giải thể gia đình nhiều thế hệ diễn ra trên thế giới cũng đang tác động tới nước ta. Mối quan hệ ràng buộc các thành viên gia đình trong một tổ ấm đang bị đe dọa. Nhiều vụ ly hôn, ly thân, hôn nhân ngoài giá thú, hôn nhân thử nghiệm xuất hiện làm mất đi tính chất thiêng liêng trong quan hệ gia đình cùng với sự gia tăng nạn bạo hành gia đình, bạo lực học đường đã làm cho xã hội bất an, tác động trực tiếp đến thế hệ trẻ.
1.6. Đạo đức thời khát tiền:
Khi nhiều người bắt đầu hành xử không còn giống như các phép tắc luân lý truyền thống thì đó là biểu hiện xã hội đã thay đổi đáng kể về cấu trúc. Lúc dư luận bắt đầu bàn đến điều đúng cái sai trong cuộc sống hằng ngày chính là quá trình hình thành của một định chế mới về đạo đức.
Mỗi mô hình sản xuất, mỗi loại hình xã hội, mỗi cộng đồng dân tộc và địa phương theo bề dày lịch sử đã hình thành nên những hệ chuẩn đạo đức khác nhau mà nay khi toàn cầu hóa kéo sát họ lại với nhau khiến mỗi cá nhân ngơ ngác lạc lối. Sự hiểu biết về sự hình thành và thay đổi của tư duy xã hội sẽ giúp mỗi chúng ta biết cách đọc biển chỉ đường và bản đồ địa hình để tự tin đi trên con đường luân lý - tức là đạo đức - của mình và xã hội.
Xung đột giữa các nền văn minh càng nguy hiểm hơn, có thể dẫn đến chiến tranh, khi mà trong một nền văn minh phụ nữ thoải mái mặc bikini ôm bạn trai chụp hình khoe trên mạng, còn trong một nền văn minh khác phụ nữ bị cấm đi xem đá bóng và phạm luật phải ngồi tù.
Đúng sai tùy theo không gian và thời gian chỉ mang tính tương đối và mỗi con người phải chấp nhận để thích nghi hay chọn con đường cải tạo để xây dựng môi trường sống phù hợp cho bản thân, con cái sau này.
Đạo đức trong kinh doanh là một trong số những môn tự chọn trong giáo trình đào tạo ngành quản trị, với nội dung tương tự như vừa trình bày.
Các công ty đa quốc gia luôn nằm giữa các mâu thuẫn về đạo đức giữa các cộng đồng và nền văn minh mà họ hoạt động. Rửa tiền hay hối lộ là chuyện bình thường hay thậm chí bắt buộc phải làm ở một số nơi thì lại là hành động bị trừng phạt bằng rất nhiều tiền ở một số nơi khác. Đạo đức thời nay không còn đơn thuần là giá trị xã hội, mà được đo bằng rất nhiều tiền - hàng trăm triệu USD như một án phạt gần đây đối với một tập đoàn tài chính đa quốc gia có chi nhánh ở Việt Nam.
Mỗi khi làm điều gì vô đạo đức, người ta dễ dàng tự thanh minh rằng đó là để kiếm cơm. Điều này không có gì lạ vì như thời Trung cổ, dân châu Âu có thể dễ dàng đến nhà thờ bỏ một đồng xu vào hộp để mua một tờ giấy xóa tội, cũng như bây giờ người Việt ta bỏ chút tiền lễ đến chùa cúng sao giải hạn.
Trào lưu đạo đức trong một xã hội thông tin thường chịu ảnh hưởng mạnh từ các nhân vật nổi tiếng hay tùy thuộc vào hệ thống khoa giáo. Tiêu chuẩn đạo đức có thể phát xuất từ một người, rồi thông qua gia đình và tổ dân phố, hay thông qua sinh viên và những người xin chữ ông đồ, hay nhờ thuyết giảng như một con đường tín ngưỡng, hoặc là từ một nhóm dân sự qua các kênh thông tin và mạng lưới liên lạc sẽ lan truyền dần vào xã hội.
Sự thay đổi cũng có thể là kết hợp của tất cả yếu tố đã nêu, như từ vận động đến luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm, hay từ hiệp ước quốc tế về quyền trẻ em đến việc thức tỉnh xã hội về vấn nạn bạo lực trong trường học, hoặc là thái độ của xã hội đối với người đồng tính luyến ái.
1.7. Chỉ số trách nhiệm xã hội:
Một trong số những trách nhiệm xã hội của người trí thức chính là duy trì và phát triển luân lý đạo đức cộng đồng. Một trong số những trách nhiệm xã hội của người kinh doanh là giúp người trí thức có thể tập trung vào công tác cộng đồng, và một trong số những trách nhiệm xã hội của người làm chính trị là xây dựng cơ cấu để thực hiện các tư tưởng dân sinh đó.
Một trong số những trách nhiệm xã hội của công dân là thực hiện các cam kết mà số đông trong xã hội đã thông qua, và một trong số những trách nhiệm xã hội của phụ huynh và thầy cô giáo là dạy dỗ, đào tạo một thế hệ trẻ biết ý thức về luân lý đạo đức và trách nhiệm xã hội.
Một giai đoạn dài sống trong nền kinh tế bao cấp tạo ra thói quen dựa dẫm vào hệ thống, còn những năm tháng đổi mới đề cao chuyện vượt rào, cho nên bây giờ là lúc xã hội Việt Nam phải xây dựng ý thức về trách nhiệm cộng đồng.
Việc xây dựng đạo đức phải bắt đầu từ chính những người làm nhiệm vụ giám sát hành vi trong hệ thống, mà trong ví dụ này là cảnh sát giao thông, phải bị đuổi việc và trừng phạt bằng cách ngồi tù ngay lập tức khi ăn hối lộ, vì chính họ là yếu tố làm băng hoại đạo đức nặng nề nhất, như đã phân tích ở trên.
Phát triển lối tư duy này vào cộng đồng thì những kẻ lợi dụng chức vụ trong bộ máy nhà nước để tham nhũng chính là thế lực phá hoại đạo đức xã hội kinh khủng nhất và cần bị trừng phạt nặng để chấn chỉnh lại.
2. GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC NƠI NGƯỜI TRẺ HÔM NAY:
Đạo đức là thước đo thang giá trị của con người mọi thời đại. Những giá trị đạo đức không bao giờ thay đổi, có chăng là chỉ thay đổi cách nhìn về giá trị ấy. Điều này chúng ta sẽ thấy rõ nơi cuộc sống hiện đại. Cuộc sống hiện đại đã làm cho con người có những cách nhìn mới về những giá trị đạo đức. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật tân tiến mang lại cho con người nhiều tiện nghi thoải mái. Tuy nhiên, nó cũng mang lại cho con người nhiều nỗi phiền toái, và còn lấy mất khỏi con người nhiều giá trị cao đẹp – vốn là những điều quan trọng trong việc hình thành nhân cách, lý tưởng sống của con người.
Những phương tiện khoa học kỹ thuật vốn không tốt cũng không xấu. Nó tốt hay xấu là phụ thuộc vào người sử dụng nó. Thế nhưng, những phương tiện khoa học kỹ thuật, hay nói một cách nôm na hơn là cuộc sống hiện đại đã làm cho con người, nhất là những người trẻ, có những thay đổi cách nhìn về giá trị đạo đức.
Giới trẻ ngày nay có cách nhìn về cuộc sống, con người, thời đại và về những giá trị đạo đức khác những người xưa nhiều. Đạo đức truyền thống đối với họ không phải là điều bắt buộc nữa. Thứ đạo đức đó đối với họ đã trở thành những món đồ cổ rồi. Phải chăng bây giờ lớp trẻ đang sống thiếu đạo đức? Một vấn nạn không dễ trả lời.
Những giá trị cao đẹp vốn đã tồn tại bao đời, đang thiếu vắng nơi một bộ phận các bạn trẻ hôm nay. Là con người hoài vọng cho một tương lai sáng lạn, một đất nước giàu và đẹp, cho một tương lai nhân loại tươi sáng hơn, ai lại không băn khoăn, ưu tư trước những thách đố của thời đại, trong đó có vấn đề giá trị đạo đức nơi người trẻ, hay nói một cách thực tế hơn là nhân cách của giới trẻ.
Hằng ngày, chúng ta có thể xem thấy hay đọc được trên các phương tiện thông tin đại chúng những mảnh đời tươi trẻ đang sa vào vũng lầy của tội phạm, tiêm chích… rồi rơi vào tuyệt vọng. Mang lấy kiếp người, không ai tránh khỏi đau khổ, nhưng có những cái đau đáng tôn trọng, có những cái đau đáng thương, có những cái đau để rèn luyện nhân đức con người và cũng có những cái đau chỉ mang lại thêm đau khổ. Những cái đau đớn do ngoại cảnh đem đến cho ta không nói làm gì, điều đáng nói ở đây là có những cái đau mình biết là do mình tạo nên, nhưng vẫn lao vào đó để chuốc lấy cũng như mang đến cho người khác thì thật đáng trách. Phải làm gì đây để quét sạch những cọng rác làm dơ bẩn sân chơi của cuộc đời?
2.1. Phát triển mà không kèm với đạo đức phát triển là nỗi đau cho nhân loại:
Đây là những câu của bậc đạo cao đức trọng mà chúng ta cần phải nằm lòng. Chúng ta cho con em có cái ăn cái mặc, mà đạo đức lại không có, không biết trách nhiệm, lương tâm cũng không thì sẽ như thế nào?
Chúng ta đừng có trách ai cả, đó là do cả 1 quá trình dài trong vấn đề hướng dẫn về giáo dục, về đạo đức và nhiều thứ. Chúng ta đã xem nhẹ và bây giờ dẫn đến những hậu quả đáng tiếc này. Bây giờ, chúng ta cải thiện lại cũng chưa muộn, bắt đầu từ những lớp trẻ 5, 10 tuổi, hãy hướng con em chúng ta đến chùa hay là dạy về đạo đức, dạy về lễ giáo. Ngoài việc cho con cái ăn, cái mặc, nuôi lớn cái thân, rồi phải nuôi lớn cái đầu nữa, chứ nuôi thân mà không nuôi cái đầu thì chỉ lớn con, nguy hiểm.
Cho nên, việc hướng dẫn giáo dục những thế hệ tương lai là trách nhiệm của những người đi trước. Đừng bao giờ để nước tới chân rồi mới nhảy. Trong xã hội hiện tại, khi giới trẻ đã rơi vào sai lầm quá nhiều rồi thì trách cứ nó cái gì? Đó là kết quả của một quá trình dài bị bỏ quên trong việc hướng dẫn đạo đức. Có câu: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Trước trách mình sau rồi hãy trách người. Và mỗi hành động sai lầm của giới trẻ, người lớn và thế hệ trước phải tự trách mình đã quên đi vấn đề dạy dỗ đạo đức.
Giáo dục trẻ thơ là vô cùng quan trọng vì đó là thế hệ rường cột ở tương lai, nền tảng của gia đình và đất nước. Không thể tạo một giới trẻ thiếu đạo đức và bệnh hoạn về tinh thần như vậy. Một giới trẻ không có đạo đức, yếu đuối, hèn nhát, chỉ biết ăn chơi và hưởng thụ như vậy vô cùng nguy hiểm. Chúng ta cần phải nhận ra tầm quan trọng và đẩy mạnh việc giáo dục đạo đức cho giới trẻ ngay từ bây giờ.
2.2. Giá trị đạo đức:
Giá trị là cái làm cho một vật trở nên đáng ao ước hay đáng giá. Chữ giá trị nhấn mạnh tới khía cạnh chủ quan và tương đối của sự vật nhiều hơn khía cạnh khách quan và tuyệt đối. Nó không chỉ ra sự tốt lành nội tại của một vật mà đúng hơn cho thấy vật đó được con người đánh giá như thế nào; nó không chỉ sự hoàn hảo nội tại của một vật mà đúng hơn cho thấy chỗ đứng của vật đó trong thứ tự các sự vật, quen gọi là thang giá trị. Từ ngữ “giá trị” được các nền triết học luân lý chủ quan và tương đối thích dùng hơn chữ “tốt”. Các Kitô hữu cũng có thể sử dụng từ ngữ ấy, miễn là trong từ đó phải hàm chứa khái niệm về một tiêu chuẩn khách quan.
Từ đây, chúng ta có thể suy ra, giá trị đạo đức là những phẩm chất làm cho con người tốt đẹp, sống có ý nghĩa.
Giới trẻ là tương lai của Giáo Hội và của nhân loại. Đó là câu khẳng định nhiều người đã biết. Nhưng đối diện với thực tế thì ai cũng thấy lo lắng cho tương lai ấy. Liệu nó có tốt đẹp như người ta tưởng không? Còn cứ như thực tế hiện nay thì nhân loại sẽ đi tới đâu, khi giới trẻ sống thực dụng chỉ chạy theo những giá trị vật chất, còn giá trị tinh thần thì hơi sức đâu nữa mà tìm kiếm. Họ hình như không có những vấn nạn hiện sinh: Tại sao tôi ra đời, tôi ra đời để làm gì, đâu là giá trị của cuộc sống… Họ đang sống thiếu lý tưởng, thiếu tương lai.
2.3. Thay đổi cơ cấu gia đình:
Gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Gia đình là ngôi trường đầu tiên của con người, mà từ đó những đứa trẻ học được những nhân đức làm người. Từ khi cơ cấu kinh tế có sự thay đổi thì gia đình cũng có sự thay đổi. Xã hội có tác động lên gia đình bao nhiêu thì gia đình cũng ảnh hưởng lên đời sống con cái bấy nhiêu. Nếu một gia đình ổn định, trong đó các thế hệ cùng chung sống hài hoà với nhau, thì người trẻ sẽ ít có những thay đổi về giá trị đạo đức, hay nói cách khác, giới trẻ sống trong gia đình đó sẽ rập theo nếp sống của cha ông họ. Còn những gia đình nào không có tính ổn định về cơ cấu thì quan niệm của người trẻ về đạo đức có thay đổi. Gia đình nào sống hạnh phúc, trong đó cha mẹ và con cái sống hài hoà với nhau, thì người trẻ sẽ cảm nhận được những giá trị cao đẹp như: hạnh phúc, lắng nghe nhau, tha thứ cho nhau, chấp nhận những khác biệt của nhau, yêu thương nhau, nâng đỡ nhau… Còn những gia đình nào không có được hạnh phúc thì con cái sẽ không có nhận định đúng đắn về những giá trị đạo đức như: yêu thương, nâng đỡ, hoà thuận… Từ chỗ đó, họ dễ rơi vào tình trạng chán đời, thất vọng: bỏ nhà đi bụi, sống bê tha, sống bất cần đời. Trong xã hội hiện đại, do hoàn cảnh kinh tế và công ăn việc làm, nên các thành viên trong gia đình phải tự lo nghề lo nghiệp để kiếm sống. Vì thế, thời gian dành cho nhau là rất ít, dẫn đến cơ cấu gia đình thay đổi. Gia đình ngày nay không còn là gia đình đóng như xưa nữa, mà là gia đình mở nghĩa là các thành viên có những mối tương quan với xã hội khác nhau.
2.3.1. Gia đình sống định cư ở nông thôn:
Cuộc sống của họ quanh quẩn trong một phạm vi nhỏ, hằng ngày chỉ gặp mấy người, cùng đi làm, cùng chơi và cùng sống trong một thôn xóm. Do hoàn cảnh như thế, nên con người trong làng xóm đã quen với những sinh hoạt, những sinh hoạt này cứ lặp đi lặp lại, ít khi có thay đổi. Vì thế, người trẻ cũng ít có thay đổi về cách sống, về đạo đức, nghĩa là không có khoảng cách giữa họ và cha ông họ, nếu có thì cũng không đáng kể. Một xã hội như thế, giá trị truyền thống sẽ được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác.
2.3.2. Những gia đình sống ở thành phố:
Khoảng cách về đạo đức giữa các thành phần thì có sự cách biệt, những người trẻ sẽ có quan niệm về giá trị đạo đức khác hơn, mặt khác họ có những cái nhìn mới về thời cuộc sống cũng như những giá trị đạo đức hơn người trẻ ở nông thôn. Cuộc sống ở thành phố cao hơn ở nông thôn về nhiều mặt, như kinh tế, nhận thức và hưởng thụ. Con người ở thành phố không còn có giới hạn trong một phạm vi làng xóm, mà ở thành phố phạm vi đó được mở rộng ra. Con người ở thành phố cũng có nhiều mối quan hệ hơn vì công việc, vì nhu cầu cuộc sống. Các gia đình sống ở thành phố có nhiều xáo trộn hơn, chứ không thuần tuý như ở nông thôn. Do đó, quan niệm của con người ở thành phố nói chung và người trẻ nói riêng đều thay đổi. Thanh niên ở thành phố không còn quan tâm nhiều đến những giá trị truyền thống, mà thay vào đó họ có nhiều quan niệm mới hơn. Vì thế, việc thay đổi quan niệm về đạo đức xảy ra nơi họ cũng là điều dễ hiểu.
2.3.3. Vì những thay đổi về cơ cấu gia đình:
Cơ cấu gia đình thay đổi kéo theo những biến đối về những giá trị đạo đức truyền thống của gia đình. Những truyền thống tốt đẹp đó nằm trong những nền văn hoá của các dân tộc, nằm trong những phong tục tập quán có từ ngàn xưa. Đối với những người trẻ, điều lành mạnh thì khó học, nhưng những điều sai quấy thì họ lại nắm bắt rất nhanh. Và ngày nay xu thế này đang bao trùm lên khắp xã hội. Sống trong thời bùng nổ thông tin, con người trong chốc lát có thể nắm bắt được những thông tin quan trọng, và thông tin ấy chẳng mấy chốc đã lan đi khắp nơi. Một diễn viên điện ảnh ăn mặc kỳ quặc mới hôm qua, hôm nay đã có biết bao người trẻ học đòi bắt chước thời trang của diễn viên đó rồi. Họ tiếp thu những cái mới rất nhanh, hơn cả ngựa phi nước đại: “Chưa bao giờ tui bán đồ Hàn Quốc sướng như bây giờ. Bao nhiêu cũng hết, không sợ ngậm hàng! (…) Tui đâu có ngờ đám trẻ bây giờ nó đổi gu nhanh như vậy!”.
Còn những điều đẹp thì họ lại không nghĩ tưởng đến, mà ngược lại, lại cho đó là những điều lỗi thời. Do ảnh hưởng của xu thế thời đại, đại bộ phận giới trẻ đã thay đổi cách suy nghĩ, họ không nghĩ như các bậc cha anh của họ nữa. Ngay cả đạo đức, họ cũng đã quan niệm khác các thế hệ đi trước. Phải chăng họ tiến bộ hơn các bậc tiền bối? Hay họ chỉ nhất thời suy nghĩ nông nổi thôi? “Hết Hồng Kông tới Titanic, rồi tới Hàn Quốc, mệt quá! Hổng lẽ người ta cứ chạy vòng vòng không định hướng theo giới trẻ xứ người – không rõ mình đang làm gì! (…) Tivi vừa chiếu “Ngôi sao may mắn”. Không biết sắp tới có là thời trang Nhật…”
2.4. Phương tiện thông tin đại chúng:
người giàu thông tin như hôm nay. Có thể nói các phương tiện thông tin đại chúng đã làm thay đổi nhiều mặt của cuộc sống con người trong đó quan trọng nhất là nhận thức của họ. Nhờ vào thông tin đại chúng, con người có thể liên lạc với nhau dễ dàng và nhanh chóng, đồng thời nắm bắt được những thông tin quan trọng trong nháy mắt. Lượng thông tin càng ngày càng tăng và có chất lượng hơn, vì thế khoảng cách giữa nước này và nước khác về nhận thức đối với cuộc sống là không đáng kể. Người ta nói thời đại này là thời đại thông tin, ai mà đói thông tin, người đó là người lạc hậu, quả là đúng như vậy! Và chính thông tin đã làm cho con người, nhất là người trẻ có nhiều quan điểm khác hẳn người xưa, trong đó có cách nhìn về những giá trị đạo đức.
“Hoàn cầu hóa thông tin cũng bao hàm hoàn cầu hóa những khuyết điểm và tật xấu. Thị trường quốc tế và xa lộ thông tin cống hiến cho người trẻ nhiều món hàng và khả năng chọn lựa tất cả những gì mình muốn, ‘thượng vàng hạ cám’ đủ loại và đủ cách. Hôm nay không thể, và trong nhiều trường hợp không khôn ngoan, chủ trương kiểm soát hay kiểm duyệt những gì đang phổ biến qua hệ thống truyền thông xã hội hiện đại. Vấn đề là làm sao nội tâm hóa và ý thức hóa những giá trị đạo đức trong lương tâm cá nhân cũng như ý thức tập thể làm như phương thế hữu hiệu nhất để chống lại ảnh hưởng tiêu cực của hoàn cầu hóa. Mỗi một người được tự do chọn lựa, nhưng cần huấn luyện làm sao để họ biết chọn lựa và lấy quyết định một cách tự do dựa trên những giá trị đạo đức, những xác tín cá nhân và những sức mạnh tinh thần.”
2.4.1. Trình độ học vấn:
Ngày xưa, chuyện đến trường là mơ ước của con cái nhà giàu. Nhưng ngày nay, học hành là nhu cầu cần thiết phổ thông rồi. Người ta không chỉ muốn học xong tú tài mà còn muốn học nhiều, cao hơn để có địa vị xã hội. Hơn nữa, một nhu cầu nữa thấy rõ trong xã hội thông tin này, đó là nhu cầu “tự học” hay “tự đào tạo”. Ngày này, học không chỉ là chuyện phải có thầy, phải đến trường nữa, mà thay vào đó là ý thức tự vươn lên. Trình độc học vấn được nâng lên nhiều. Nếu ai không cập nhật thông tin và kiến thức hằng ngày thì người ấy sẽ lạc hậu và sẽ bị loại ra khỏi sân khấu cuộc chơi. Mỗi khi trình độ học vấn được nâng cao thì nhận thức về thời cuộc cũng thay đổi. Mà rõ ràng là người trẻ hôm nay được học nhiều hơn, được tiếp xúc với nhiều tiến bộ khoa học hơn người xưa thì chắc chắn họ có nhiều thay đổi về cách nhìn thế giới, con người và thời cuộc.
2.4.2. Đô thị:
Kể từ vài thập niên trở lại đây, nhịp đổ phát triển đô thị đến chóng mặt. Nhà nhà, phố phố và thành thành, mọi người đang nỗ lực xây dựng cầu cống, đường sá, nhà cửa… để bắt kịp tiến trình phát triển cho dân giàu nước mạnh. Người người nhất là lớp thanh niên ở nông thôn đang đổ xô về thành phố để kiếm việc làm và để có cuộc sống sung túc hơn. Điều này kéo theo bao nhiêu vấn đề nhức nhối khác cho xã hội. Khi những người này chân ướt chân ráo từ thôn quê ra thành phố, họ như lạc vào cõi tiên dưới trần, bỡ ngỡ trước bao điều xa lạ của xã hội. Hơn nữa, lại xa gia đình và tầm kiểm soát của bố mẹ, họ dễ rơi vào con đường hư hỏng. Từ chỗ sống khép kín nơi thôn quê, người trẻ ra thành phố như bị choáng ngợp bởi những phương tiện vật chất, họ dễ bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc đời. Từ cuộc sống khô hạn, họ như được một cơn mưa đổ xuống, họ đưa hết lòng ra để hưởng nếm. Thực tế cho ta thấy là rất nhiều bạn trẻ đã không làm chủ được mình trước những lời mời mọc của xã hội thị thành. Nhìn vào thực tế ở TP.HCM, chúng ta cũng thấy được tình trạng sống của giới trẻ thành phố và ở thôn quê lên thành phố.
2.4.3. Nghề nghiệp:
Xã hội công nghiệp làm cho con người năng động hơn, biết thích nghi nhanh với những hoàn cảnh và lối sống mới. Không giống như xã hội lúa nước thời xưa, con người chỉ biết sống với những đường cày, đồng ruộng; ngày nay, con người đã chế tạo ra nhiều loại máy móc để thay thế cho sức người, làm nhiều công việc để phục vụ cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Thế giới ngày càng đa dạng về công ăn việc làm thì cũng đòi hỏi con người phải có nhiều nghề nhiều nghiệp hay nhiều kỹ xảo nghề nghiệp hơn.
“Tư bản nhân văn là nhân tố cơ bản của phát triển trong tương lai, bởi vì cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đòi hỏi tính năng động, sáng kiến và công nhân có tay nghề cao. Khi chúng ta quả quyết rằng máy vi tính là biểu tượng của văn minh mới, dĩ nhiên không phải là máy vi tính mà chính là con người sáng chế, điều khiển và vận dụng máy vi tính vào hoạt động sản xuất mới là nhân tố quyết định của xã hội tương lai”.
Lao động có vai trò giáo dục con người rất lớn. Lao động làm cho con người vinh quang. Lao động cũng giúp con người phát triển cá tính và nhân cách. Tuy nhiên, ngày nay, con người đang mải mê vì công việc mà không lo đến nhân cách của mình. Họ cứ lo kiếm tiền và kiếm cách cho có thật nhiều tiền bất chấp mọi thủ đoạn. Họ không quan tâm đến những việc đó có ảnh hưởng đến nhân cách của mình hay không. Đó là nguy cơ của con người hiện đại hôm nay.
3. ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO XÂY DỰNG XÃ HỘI CHÂN THIỆN MỸ:
Tam tạng Kinh điển nhằm giáo dục con người sửa đổi từ đức tính xấu trở thành đạo đức tốt. Đạo đức Phật giáo nhằm thiết lập một xã hội chân thiện mỹ, từ một xã hội bạo động thành một xã hội hòa bình, từ những tư tưởng tiêu cực, bi quan yểm thế trở về lý tưởng tích cực, lạc quan năng động và tốt đẹp. Đạo đức Phật giáo là một lối sống thực hành mang lại an lạc hạnh phúc cho con người trong cuộc sống hiện tại và giải thoát trong tương lai chứ không phải niềm tin suông. Tam tạng Kinh điển của Phật giáo không ngoài mục đích. Muốn cho xã hội hoạt động trật tự và tốt đẹp bằng cách xây dựng đạo đức con người trong tất cả đoàn thể của xã hội (như: cơ quan, trường học, doanh nghiệp, gia đình...) thì đòi hỏi mỗi cá nhân cần áp dụng theo luật pháp của Nhà nước và giới luật Phật chế, thực hành đời sống tâm linh theo lời Phật dạy để diệt trừ tham-sân-si bằng ba phương pháp Giới-Định-Tuệ. Giới diệt trừ tâm tham, Định diệt trừ tâm sân, Tuệ diệt trừ tâm si để tam nghiệp (thân, khẩu, ý) hằng thanh tịnh. Tu tập năm giới là để biểu lộ lòng từ bi, tình thương đến tất cả chúng sinh, ngăn chặn trực tiếp đến sát hại sinh mạng, còn những giới khác ngăn chặn gây mất hạnh phúc đến người khác và thúc liễm thân tâm được thanh tịnh niệm ác khỏi phát sinh.
3.1. Tinh thần xây dựng đời sống lành mạnh có đạo đức cho người xuất gia:
Trong hầu hết các kinh tạng Pàli, thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Ðại thừa, đức Phật luôn luôn khuyên các vị đệ tử của Ngài hãy sống trong tinh thần giới luật, lấy giới luật làm thầy, vì nó là nền tảng để xây dựng một nếp sống cộng đồng hài hòa lành mạnh, có đạo đức, và nó cũng là nấc thang đầu tiên để cho người xuất gia tiến sâu vào con đường tuệ giác. Chúng ta hãy lắng nghe lờqi dặn dò tâm huyết của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn: "Các thầy Tỷ kheo sau khi ta diệt độ, các thầy phải trân trọng, tôn kính tịnh giới, như người mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy". Người giữ giới luật được đức Phật ví như người mù mắt được sáng lại, người nghèo mà được vàng ngọc. Phải chăng đức Phật quá thổi phồng, để cao giới luật? Thưa không, Ngài không bao giờ có ý định lừa dối hay gạt gẫm chúng ta. Cuộc sống và lời dạy của Ngài đã chứng minh điều đó, sở dĩ Ngài dạy như thế, vì Ngài muốn chúng ta giảm bớt khổ đau trong cuộc sống để được sự bình an như Ngài. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta phải tự giác tuân thủ một số nguyên tắc, đó là giới luật. Là người xuất gia cũng không ngoài mục đích trên, nhưng hạnh phúc của người xuất gia là loại hạnh phúc vĩnh cửu trong sự thanh tịnh và giải thoát, không còn các cấu nhiễm thế gian, nhưng muốn được giải thoát giác ngộ, hành giả không thể không hành trì giới, định, tuệ, tiến trình này có thể nói là con đường độc nhất để đi đến Niết Bàn. Vì vậy cho nên đức Phật dạy các Tỷ kheo muốn được giải thoát giác ngộ phải thực hành 250 giới. Tỷ kheo ni có 348 giới. Ðó là nguyên tắc để xây dựng một đời sống xuất gia với ý hướng cầu giải thoát.
3.2. Tinh thần xây dựng đời sống lành mạnh, có đạo đức cho người tại gia:
Ðức Phật xây dựng đời sống xuất gia là như vậy, còn đối với đời sống của người tại gia còn nhiều ràng buộc gia đình thì đức Phật xây dựng như thế nào? Ðể trả lời câu hỏi này, chúng ta chỉ cần rút ra nguyên tắc đầu tiên là biết tàm quí trong bảy nguyên tắc trên đã làm tôn chỉ cho người tại gia thực hiện. Nguyên tắc này khá quan trọng trong việc xây dựng một xã hội lành mạnh, sống có đạo đức. Theo đức Phật, nguồn gốc sâu xa của mọi tệ nạn xã hội là con người đã đánh mất đức tính tàm quí, tức là không còn biết hổ thẹn đối với hành vi sai lầm của mình. Như vậy, khi con người không còn biết hổ thẹn thì người ấy có thể làm bất cứ điều ác nào. Hình ảnh đức Phật dạy tôn giả La Hầu La, khi Tôn giả vừa 7 tuổi, tạ tại rừng Am-ba-la (rừng xoài) thật cảm động. Ngài khuyên La Hầu La khi làm một thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiập nào, nếu thân, khẩu, ý nghiệp ấy đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai thì thân nghiệp ấy, khẩu nghiệp ấy, ý nghiệp ấy là bất thiện. La Hầu La chớ nên làm, nếu đã lỡ làm thì phải biết hổ thẹn, sám hối đối với nghiệp ấy. Ngài còn thận trọng hơn nữa, khuyên La Hầu La không nên nói láo, dù nói để mà chơi. Ðức Phật quả là nhà giáo dục vĩ đại, không những Ngài chỉ khuyên dạy những người ở lứa tuổi trưởng thành có sự hiểu biết, mà Ngài còn quan tâm chăm sóc đến tuổi trẻ, giáo dục và xây dựng chúng khi còn tuổi ấu thơ. Ngài quan niệm rằng, tâm hồn của tuổi ấu thơ giống như tờ giấy trắng, nếu như tờ giấy ấy dư, được nhà họa sĩ tài hoa vẽ lên ấy những bông hoa tươi đẹp, thì nó sẽ tô điểm cho cuộc đời thêm sắc. Ngược lại, tờ giấy ấy nếu kẻ bất tài vô dụng bôi lên đó những vết mực đen vô nghĩa thì nó trở thành cái vô dụng và làm xấu xã hội. Ðức tính hổ thẹn rất cần thiết cho những ai muốn trở thành con người tốt, con người có đời sống lành mạnh có đạo đức, nó là nền mống cơ bản để xây dựng một xã hội lành mạnh. Thiết nghĩ, những tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tuổi trẻ tiến sâu vào con đường sa đọa, vì con người đã đánh mất đức tính hổ thẹn hay xem thường đức tính này. Ðó là nguồn gốc sâu xa xuất hiện mọi tệ nạn xã hội. Là con người không làm sao tránh khỏi những sai lầm, nhưng cái quan trọng, khi chúng ta phạm phải sai lầm, chúng ta có biết phục thiện hay không, chúng ta có biết hổ thẹn và sửa đổi những sai lầm ấy không. Thái độ phục thiện hay không phục thiện để phân biệt giữa người ngu và kẻ trí, giữa người thiện và người bất thiện, giữa người làm tồi bại xã hội và người xây dựng xã hội.
3.3. Tinh thần bất bạo động từ, bi, hỷ, xã như là đạo đức:
Từ bi là động lực chính đã thúc đẩy đức Phật đi tìm đạo giải thoát để cứu độ chúng sinh. Đức Phật không thể ngồi yên nhìn sự đau khổ hoành hành trong đời sống. Nghị lực, sức chịu đựng dẻo dai bền chặt của đức Phật trong khi vượt bao gian lao, khổ cực để tìm đạo cũng chính vì tình thương lớn lao đối với chúng sinh vậy. “Người tu hành bồ tát phải lấy từ bi làm gốc. Cây bồ đề lớn mạnh nhờ bám sâu gốc rễ trong đất. Kẻ tu hành lấy từ bi lợi lạc hữu tình làm lẽ sống”. Giáo lý của đức Phật tuy nhiều kể không xiết, tựu trung đều nhắm đến ba điểm chính: Bi – Trí – Dũng. Mở rộng tình thương, mở rộng trí tuệ, mở rộng nghị lực, mở rộng cho đến khi nào không còn thấy có biên giới nữa là thành Phật. Đức Phật chủ trương thuyết vô ngã, quyết đập tan cái ta giả dối, cũng chính để chúng ta nhận rõ mình với người là một, ta với không phải ta vẫn như nhau, để chúng ta đừng nhận thấy ta là của riêng ta, chỉ thương ta và ghét người không thương ta. Như thế, thuyết vô ngã, tu hạnh vô ngã là những phương tiện để thực hiện tình thương rộng lớn vô biên, là từ, bi, hỷ, xã. Chính đức Phật đã nói: “Ta nguyện đem thân ta chịu hết hằng hà sa số đau khổ của chúng sanh. Vì ta nguyện tế độ cho chúng sanh, nên ta mới nguyện thành Phật”. Rõ ràng muốn thành Phật để cứu độ chúng sanh, chứ không phải cứu độ chúng sanh để thành Phật. Vì chứa chấp tình thương bao la thế nên Phật đã có những lời dạy đệ tử có thể làm phương châm cho người đời. “Không nên lấy oán báo oán, chỉ nên lấy ân báo oán”. “Trong thế gian này chẳng phải lấy oán trừ được oán, chỉ lấy nhẫn mới trừ được oán”. Lại nữa, đức Phật dạy chư đệ tử thực hiện pháp lục hòa trong đời sống hàng ngày, trong các mối quan hệ hổ tương của cuộc sống. Khi một mình vân du hóa đạo phương xa, phải tôn trọng tín ngưỡng của các tôn giáo khác cũng như các phong tục tập quán của mỗi một dân tộc hay bất cứ một địa phương nào, một xứ sở nào. Ngài đề cao và tôn trọng mọi tôn giáo, cũng như các hệ tư tưởng lấy lợi lạc chúng sinh làm cứu cánh, lấy hạnh phúc chúng sanh làm mục đích. Niết bàn của Phật giáo được định nghĩa như là lợi lạc cứu cánh, hạnh phúc cứu cánh. Đạo Phật lại nhấn mạnh, hạnh phúc cứu cánh phải đạt tới bằng tâm từ, bi, hỷ, xã. Tính chất từ, bi, hỷ, xã lại đồng nghĩa với bất bạo động, hòa bình. Nếu Niết-bàn là hạnh phúc cứu cánh của người tu hành theo đạo Phật thì lòng từ bi, từ mẫn, hỷ xã, hòa bình bất bạo động là con đường, phương tiện, dẫn đến mục tiêu đó. Hạnh phúc an lạc không phân biệt ranh giới, màu da, dân tộc, đất nước đối với bất cứ ai, vì vậy mà đạo Phật mang sứ mạng đoàn kết hòa hợp giữa mọi dân tộc trên thế giới.
3.4. Tinh thần giới luật là nền tảng của đạo đức:
Đức Phật khuyên các Phật tử tại gia nên sống giữ năm giới, làm mười điều thiện, “để ngay trong hiện tại, khỏi tâm khổ tâm ưu, trong khi lâm chung, tâm không rối loạn và sau khi mạng chung, được sanh thiện thủ thiên giới”. Giới được xây dựng trên quan niệm rộng rãi về tình yêu phổ quát thương xót đối với tất cả mọi loài, là nền tảng đạo đức căn bản của giáo lý đạo Phật. Kinh Đại Bát Niết Bàn, số 16 Trường bộ nói lên năm điều nguy hiểm cho người gia chủ nếu phạm giới sống trái giới luật. Một là sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Hai là bị tiếng dữ đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, đi vào với tâm thần sợ hãi bối rối. Bốn là khi mạng chung sẽ bị chết với tâm thần rối loạn. Năm là sau khi mạng chung sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ địa ngục. Trái lại, người giữ giới luật tức là sống đạo đức, được năm sự lợi ích. Một là sẽ có tiền của dồi dào vì sống không phóng dật. Hai là tiếng tốt đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Bốn là khi mạng chung, chết với tâm không rối loạn. Năm là khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh vào thiên thủ thiên giới. Với những Kinh dẫn chứng trên chúng ta có thể thấy đạo đức Phật giáo liên quan mật thiết đến giới luật. Có được giới luật vững chắc thì có được đạo đức toàn diện. Đạo đức Phật giáo chính là một nếp sống hành trì giới luật đưa đến hạnh phúc và an lạc, ngay trong đời này và đời sau. Đây chính là một nếp sống chứ không phải là lời dạy luân lý, hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động.
3.7. nguyên nhân suy thoái đạo đức xã hội:
Phật giáo phân tích những vấn đề bạo động suy thoái đạo đức trong xã hội bắt nguồn từ bản năng tham ái (ái dục) của người là nguyên nhân làm mất cân bằng xã hội, tâm tham đứng đầu trong ba căn bản phiền não tham (rāga) sân (dveṣa) và si (moha), sinh ra sát hại sinh mạng, trộm cướp, tà dâm, nói dối… Do vậy đức Phật dạy rằng: "Này các Tỳ kheo, do dục vọng làm duyên, nên vua tranh chấp với vua, Sát đế lợi tranh chấp với Sát đế lợi, Bà la môn tranh chấp với Bà la môn, gia chủ tranh chấp với gia chủ, cha mẹ, anh em, bè bạn tranh chấp lẫn nhau. Khi chúng đã dấn thân vào sự tranh chấp, chúng đánh nhau bằng tay, ném nhau bằng đá, đập nhau bằng gậy và chém nhau bằng gươm. Do đó, chúng bị tử thương, hoặc ngắc ngư quằn quại.". Do sự thiếu hiểu biết khi con người gây tổn thương và khổ đau đến người khác để đeo đuổi tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình (sự hài lòng và sở hữu của cá nhân), hạnh phúc thật sự đến từ cảm giác nội tâm bình an và sự thiểu dục tri túc, muốn đạt được phải thông qua sự tu tập lòng vị tha (từ bi) để loại trừ lòng ích kỷ tham lam, tất cả chúng ta đều là con người, chúng ta tìm kiếm hạnh phúc để cố gắng tránh xa khổ đau Theo lời dạy của Đức Phật, tư tưởng chấp ngã là một sự mơ hồ trừu tượng, niềm tin sai lầm, nó không có thật. Sự chấp ngã ấy sinh ra tư tưởng sai lầm về ý niệm “tôi” và “của tôi” tham lam ích kỷ, chấp chặt, thù hận, ác ý, tự phụ, kiêu ngạo, tất cả những phiền não này nguyên nhân của bạo động dẫn đến vấn đề xung đột cá nhân, chiến tranh giữa các quốc gia, tóm lại từ ý niệm sai lầm này tạo nên tất cả tội ác và gây bất an trong cuộc đời. 3.8. Phật giáo với việc xây dựng đạo đức, lối sống : Có thể nói sự xuống cấp về đạo đức đang trở thành một vấn nạn của toàn xã hội. Trước yêu cầu phát triển của đất nước, sự cần thiết phải xây dựng một nền tảng đạo đức mới cho xã hội trên cơ sở kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống đã được đặt ra. Là một trong những thành tố tạo nên nền văn hoá dân tộc trong suốt hàng nghìn năm, Phật giáo ngày nay vẫn lưu giữ những giá trị tích cực có thể góp phần xây dựng đạo đức lối sống cho con người Việt Nam. Tính hướng thiện của Phật giáo là một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo; tư tưởng bình đẳng, hoà bình của Phật giáo phù hợp với xu hướng hoà đồng liên kết giữa các dân tộc trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay; lòng từ bi, bác ái góp phần cứu giúp người hoạn nạn, giữ vững tinh thần là lành đùm lá rách của dân tộc, triết lý vô thường, vô ngã giúp con người giảm bớt cái tôi vị kỷ…. Những giá trị tích cực đó của Phật giáo càng được nhân lên với những hành động cụ thể, như kẻ đói được cho ăn, kẻ rách được cho mặc, người ốm đau bệnh tật được chăm sóc,…. Giáo lý nhà Phật khuyên con người luôn nhớ đến “đạo hiếu”, lấy chữ hiếu làm đầu: “hạnh hiếu là hạnh Phật, tâm hiếu là tâm Phật”, “muôn việc ở thế gian không gì hơn công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ”. Thêm vào đó, những không gian chùa chiền của Phật giáo luôn thu hút con người tìm về chốn tĩnh tâm, nơi chiêm nghiệm và cảm nhận…. Tất cả những điều đó là những giá trị tích cực, thiết thực góp phần giáo háo con người, giúp cho thế hệ trẻ vững bước trước những cám dỗ của cuộc đời, khích lệ họ quan tâm đến số phận của cộng đồng, sống lương thiện, coi trọng tính nhân bản, coi trọng thiên nhiên…. Bên cạnh đó, lối sống Phật giáo nêu cao tinh thần “cư trần lạc đạo” đã góp phần xây dựng lối sống có trách nhiệm với một ý thức không tham quyền cố vị, không bám lấy lợi ích vật chất, sống thanh cao tự tại. Bởi theo định nghĩa của đức Phật, tham và sân là hai năng lực tiêu cực mạnh mẽ nhất trong tâm thức của con người, chúng che khuất tầm nhìn và làm nhiễu loạn sự phán đoán của ta, cho nên, cũng theo Ngài, diệt trừ được tâm sân, đích thực là một thành tựu to lớn nhất của con người. Như thế Phật giáo đã góp những gái trị văn hoá tích cực vào việc xây dựng đạo đức lối sống cho con người, nhất là cho tầng lớp trẻ hiện nay.
III. KẾT LUẬN:
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, lịch sử nhân loại bước sang một trang mới với những thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng và ngay cả cách sống nữa. Phải chăng chiến tranh là nguyên nhân dẫn đến những đổi thay đó? Chiến tranh có một phần là sự thật trong những biến đổi xã hội đó. Có lẽ nguyên nhân chính là tốc độ đô thị hoá, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật… ẩn đằng sau những mặt tích cực là những điều khiến các nhà chức trách, những người có tâm huyết phải bận tâm suy nghĩ. Đó là phẩm giá con người, là nhân cách của giới trẻ, là lối sống bất cần đời của những con người không lý tưởng. Cuộc sống hiện đại ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách của con người trẻ hôm nay. Vâng chính xã hội tiêu thụ và kiếm tiền hôm nay đã biến người trẻ thành những con người máy.
“Ở trong xã hội tiêu thụ, con người biến thành những hạng tiêu dùng hàng hoá cho các tư bản kỹ nghệ, trở thành nạn nhân của các thủ đoạn quảng cáo, mệt mỏi chạy theo tiện nghi, không còn lý tưởng nào khác là ăn và ngủ và làm tình. Như thế, cuộc sống con người cứ mải quay quắt chạy theo đồng tiền, và kiếm tiền được cũng chỉ là để tiêu thụ, cung ứng cho một cuộc sống vật chất vốn không bao giờ đạt tới thoả mãn”.
Đạo đức là chất liệu tạo nên những hệ giá trị riêng có của con người và xã hội loài người. Đạo đức Phật giáo ngoài những nguyên tắc siêu thế, thanh cao, còn bao hàm những chuẩn mực thiết thực, không khô cứng, có thể kiểm nghiệm hiệu năng ngay bây giờ và tại đây. Mười chuẩn mực đạo đức vừa nêu tuy chưa phải là tất cả, nhưng nếu như được thực thi, thì nhất định quả ngọt sẽ đong đầy. Tóm lại qua sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng, vai trò Phật giáo rất quan trọng cho vấn đề phát truyển xã hội, nếu bất kỳ một quốc gia nào áp dụng theo nền tảng đạo đức Phật giáo thì chắc chắn rằng sẽ mang đến một quốc gia hưng thịnh chấm dứt tệ nạn xã hội, một xã hội chân thiện mỹ. Để làm được điều đó không phải chuyện dễ, đòi hỏi những nhà lãnh đạo quốc gia phải làm gương áp dụng thực hành trước theo lý tưởng và đạo đức mà Đức Phật đã thiết lập ra, dân chúng sẽ noi gương theo, như tấm gương của Đại đế Asoka là một minh chứng Ngoài ra trách nhiệm Tăng sĩ cũng rất quan trọng phải có trách nhiệm chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết hướng dẫn Phật tử tu hành bằng những khóa tu để giáo dục đạo đức tuổi trẻ nhận rõ tác hại của tâm tham, sân, và si Nhờ những khóa tu ở các tự viện hiện nay, giúp các em trẻ học hỏi giáo lý, thực tập thiền định để tâm ôn hòa và có niềm tin vững chắc về nhân quả thì chắc chắn các em không bao giờ phạm pháp rơi vào vòng lao lý. Mỗi người tự ý thức tu hành chấn chỉnh đạo đức cho mình để hoàn thiện nhân cách làm người là góp phần xây dựng xã hội văn minh tốt đẹp, hòa bình, và an lạc.
TÀI LIÊU THAM KHẢO:
1. Thích Minh Châu dịch-Kinh Tương Ưng Bộ I, II, III, IV, V- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1993.
2. Thích Minh Châu dịch-Tăng Chi Bộ Kinh I- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam- 1996.
3. Thích Minh Châu dịch-Trung Bộ Kinh I, II, III- Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1992.
4. Thích Minh Châu dịch-Kinh Trường Bộ I-Viện nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1996.
5. Thích Minh Châu -Chánh Pháp Và Hạnh Phúc- NXB Tơn Giáo 2001.
6. Thích Minh Châu-Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-1998.
7. Đinh Văn Đỗ- Giáo Dục Cộng Đồng-q.1- Kiến Tạo.
8. Lâm Ngữ Đường-Tinh Hoa Xử Thế-NXB Đồng Nai 1996.
9. Nhiều Tác Giả-Giáo Dục Phật Giáo Trong Thời Hiện Đại-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-NXB Tp. Hồ Chí Minh.
10. Thích Nữ Trí Hải chuyển dịch-Thanh Tịnh Đạo-Buddhaghosa- NXB Tơn Giáo 2001.
11. Nhất Hạnh-Hiệu Lực Cầu Nguyện- Lá Bối Xuất Bản.
12. Nguyên Hồng-Giáo Dục Học Phật Giáo- NXB Tơn Giáo. Thích Phước Sơn biên soạn-Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu- NXB Tơn Giáo 2004.
13. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Huy-Giáo Dục Học Đại Cương- NXB Giáo Dục 2000.
14. Thích Thiện Siêu-Vơ Ngã Là Niết Bàn- NXB Tơn Giáo 2000.
15. HT Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng I, VNCPHVN ấn hành, 1993.
16. HT Thích Minh Châu (dịch),Tăng Chi bộ kinh I, II, ĐTKVN, 1996,\.
17. HT Thích Minh Châu (dịch), Trường bộ kinh I,II, VNCPHVN ấn hành, 1991.
18. HT Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tứ Niệm Xứ, Trung bộ I, VNCPHVN ấn hành, 1991.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)