THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 30 tháng 11, 2015

NGUỒNG GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DUY THỨC HỌC

I. DẪN NHẬP: 1. Lý Do Chọn Đề Tài: 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài: 3. Phương pháp nghiêm cứu: 4. Đóng góp của đề tài: II. NỘI DUNG: 1. Các tổ luận sư duy thức học: 2. Căn Cứ các kinh sách Sau Ðây Lập Ra Duy Thức Tông: 3. học thuyết: 4. Chủ Trương Của Duy Thức Tông: 5. Kết Quả Tu Chứng: 6. Lợi Ích Thiết Thực Trong Khi Học Và Tu Duy Thức 7. duy thức học và các tông phái: 7.1. duy thức học và câu xá luận: 7.2. duy thức học và thành thật học: 7.3. duy thức học và thiền học: 7.4. duy thức họcv à tịnh độ tông: 7.5. duy thức học và luật tông: 8. Sự phát triển của Duy thức tông: 8.1. Sự phát triển của hệ thống Duy thức học tại Trung Hoa: 8.2. Sự phát triển của hệ thống duy thức tại Ấn Độ: 8.3. Sự Truyền Thừa và Phát Triển Tông Duy Thức Tại Đài Loan: 9. Duy thức học và dòng cảm biến tâm thức: III. KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO: NGUỒNG GỐC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DUY THỨC HỌC I. DẪN NHẬP: Như tất cả dòng sông dù có dài và rộng cách mấy thì đều có một nơi để quay về.Tuy mỗi nhánh sông có thể tùy vào hoàn cảnh địa lý mà xuôi dòng.Nhưng sự kết thúc của một dòng chảy là quay về với biển cả.Trong Phật giáo cũng như thế, tuy có nhiều bộ phái được hình thành và phát triển sau khi đức Phật nhập diệt.Những quan điểm về tu tập, phương pháp hành trì và những nguyên nhân khách quan khác đã dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong quá trình phái triển của giáo đoàn.Sự phân chia ấy đã tạo ra những bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của Phật giáo, chúng ta không thể phủ nhận những bất đồng quan kiến của từng bộ phái.Nhưng có thể nhìn nhận một cách khác quan rằng phân chia không phải là suy tàn mà phân chia để phát triển. 1. Lý Do Chọn Đề Tài: Là một học viên đã biết suy nghĩ và tiếp thu ý kiến của Giáo sư, người viết thấy có nhiều vấn đề mà mình chưa hiểu và chưa được biết tường tận, nên người viết mạo muội mang khả năng và suy nghĩ khiêm tốn của mình đã học được để tìm hiểu về sự khác biệt và tương đồng của phật giáo nguyên thủy và phật giáo địa thừa. Tuy nhiên, với khả năng hạn hẹp của mình không sao tránh khỏi những sai sót, người viết kính mong được Giáo sư và các bậc cao minh chỉ dạy thêm để sau này có dịp người viết sẽ thực hiện tốt hơn. 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài: Như tất cả dòng sông dù có dài và rộng cách mấy thì đều có một nơi để quay về.Tuy mỗi nhánh sông có thể tùy vào hoàn cảnh địa lý mà xuôi dòng.Nhưng sự kết thúc của một dòng chảy là quay về với biển cả.Trong Phật giáo cũng như thế, tuy có nhiều bộ phái được hình thành và phát triển sau khi đức Phật nhập diệt.Những quan điểm về tu tập, phương pháp hành trì và những nguyên nhân khách quan khác đã dẫn đến sự phân phái đầu tiên trong quá trình phái triển của giáo đoàn.Sự phân chia ấy đã tạo ra những bước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển của Phật giáo, chúng ta không thể phủ nhận những bất đồng quan kiến của từng bộ phái.Nhưng có thể nhìn nhận một cách khác quan rằng phân chia không phải là suy tàn mà phân chia để phát triển. 3. Phương pháp nghiêm cứu: Dùng để viết luận văn này là phương pháp luận khoa học lịch sử, những quan điểm của phật giáo nguyên thủy và đại thừa.Người viết sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, đi điền dã và khai thác những tư liệu của các sách nghiên cứu. Việc thực hiện luận văn đúng theo quy định của Học viện Phật giáo Việt nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TT. GS. TS Thích Viên Trí, Giáo viên thỉnh giảng bộ môn phật giáo nguyên thủy và đại thừa tại Học viện mà người viết đã được học. Khi cần thiết, người viết sẽ thỉnh giáo quý Thượng Tọa tại Học Viện. 4. Đóng góp của đề tài: Duy thức và Trung quán là hai trường phái lớn, triển khai tư tưởng Ðại thừa đến cực điểm của triết học Phật giáo vào những thế kỷ II đến thế kỷ VI tại Ấn Ðộ. Duy thức được biết qua Phạn ngữ bằng 3 từ: 1) Cittamàtra, chủ trương tất cả đều do tâm, duy tâm; 2) Yogacàra, gồm 2 từ Du-già và hạnh, đề xướng hành trì du-già, quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện Bồ tát; 3) Vijnanaptivàda, học thuyết cho rằng tất cả vạn vật đều do thức hiện khởi, duy thức. Cả ba từ này được dùng cùng nghĩa với nhau, tuy rằng về sau, do các bộ luận chuyên về "duy thức" của Thế Thân, Vijnanaptivàda được phỗ biến hơn và chấp nhận như là tên gọi cho triết thuyết của tông này (Vijnanaptimatràtavàda). Trong khi đó, Cittamàtra hầu như không còn được nhắc tới, còn Yogàcàra được dùng xen lẫn với Vijnanaptivàda như là đồng nghĩa. Trong khi Trung quán chú trọng về biện chứng bằng trí tuệ thì Du-già đặt trọng tâm vào việc hành trì thiền định; cả hai đều nhằm mục đích nhận chân thực tánh của hiện hữu. Tuy rằng sự ra đời của trường phái Duy thức được xem là xiển dương và phát huy triết lý Ðại thừa đến cực điểm, nhưng căn bản tư tưởng của nó, cũng như của Trung quán, bắt nguồn từ truyền thống sớm nhất của Phật giáo, tức ngay vào thời Ðức Phật tại thế, khi Ngài dạy trong kinh Pháp Cú, rằng "Tâm làm chủ, Tâm dẫn đầu, Tâm tạo tác tất cả các pháp", rằng Thức vốn có bản tánh thanh tịnh, v.v... Tâm do đó rất quan trọng trong Phật giáo ngay từ thời nguyên thủy. Có thể nói rằng tất cả các học phái của Phật giáo, tại Ấn Ðộ cũng như tại Trung Hoa, cũng đều xây dựng triết thuyết trên vấn đề hiện hữu hay không hiện hữu của Tâm. II. NỘI DUNG: 1. Các tổ luận sư duy thức học: Thế Thân (Vasubandhu) và người anh là Vô Trước (Asanga), sống khoảng thế kỷ IV, được xem là hai khuôn mặt vĩ đại, đã chủ xướng, hệ thống hóa và xiển dương triết lý Duy thức khiến chỉ trong một thời gian ngắn, học phái này được phỗ biến rộng rãi và lôi cuốn một số luận sư tài danh khác, đương thời cũng như các thế kỷ sau, nhập cuộc và khởi đầu cho một số luận sớ, sớ giải, v.v..., hoặc tán thành và triển khai thêm, hoặc biện bác, phủ quyết, v.v... với học thuyết này. Thế Thân (315-395 sdl) nỗi tiếng qua hai quyển luận ngắn, luận thuyết rằng tất cả đều duy chỉ là thức (Duy thức Nhị thập tụng và Duy thức Tam thập tụng, Vimsatikà- và Trimsikà-vijnịapti-kàrikà), cùng một quyển nhỏ khác, nói về ba tánh của hiện hữu, tức tam tự tánh (Trisvabhàva-nirdesa), hay còn gọi là Tam vô tự tánh luận (Trinisvabhàva-sàstra). Truyền thuyết cho rằng sau khi được người anh khác mẹ là Vô Trước thuyết phục theo Ðại thừa, Thế Thân mới viết các luận trên để bày tỏ quan điểm mới và phủ nhận ý hướng Tiểu thừa được biết qua bộ A-tì-đạt-ma Câu-xá luận (Abhidharma-kosa-bhàsya) cũng vô cùng nỗi tiếng của ngài. Thật ra, là một triết gia lỗi lạc, càng lớn tuỗi thì kinh nghiệm tâm linh càng thâm sâu và tư tưởng triết lý càng cao rộng, cho nên các bộ luận trên chỉ là thành quả triển khai đương nhiên của nhà luận sư tài ba này mà thôi. Vô Trước là tác giả của Bồ tát địa (Bodhisattvabhùmi), A-tì-đạt-ma Tạp tập luận (Abhidharmasamuccàya), và Du-già sư địa luận (Yogàcàryà-bhùmi-sàstra), viết theo quan niệm Duy thức. Thầy của Vô Trước là luận sư Di Lặc (Maitreyanàtha), một nhân vật lịch sử, mà các học giả ngày nay như giáo sư Giuseppe Tucci đã có ý kiến rằng ngài mới chính là người xiển dương và là sáng tổ của Duy thức tông; tài năng của ngài không kém Long Thọ, tuy rằng tên tuỗi và niên đại của ngài lại ít người biết đến. Theo truyền thống Tây Tạng, ngài là tác giả 5 bộ luận, mà nỗi tiếng nhất là Biện trung biên luận tụng (Madhyànta-vibhàga-kàrika), luận giải về sự phân biệt giữa trung đạo đối với các cực đoan; cùng với Ðại thừa trang nghiêm (Mahàyànasùtra-lankàra), Hiện chứng trang nghiêm (Abhisamayàlamkàra) v.v... Ðại diện trường phái Duy thức tại Ấn Ðộ có Sthiramàti (An Huệ, sống khoảng thế kỷ VI), vốn là đại đệ tử của Gunamàti, Ðức Huệ, người sáng lập trung tâm Valabhì, trong khi Dharmapàla, Pháp Hộ (530-591), người có công xác lập vị trí của trung tâm Ðại học Nàlandà với khuynh hướng xiển dương Duy thức, là hai trung tâm học thuật Phật giáo nỗi tiếng đương thời. Pháp Hộ chủ trương Duy thức tuyệt đối, trong khi An Huệ có ý muốn dung hòa quan điểm "thực tướng" của Nagarjuna (Long Thọ) với quan niệm "nhất thiết duy tâm tạo" của Duy thức. Ngoài ra còn có đệ tử Thế Thân là Dignàga (Trần Na), và đệ tử Trần Na là Dharmakìrti (Pháp Xứng); cả hai dựa trên quan điểm nội hàm luận lý học của Thế Thân về tương liên giữa nhận thức về đối tượng để xiển dương Nhân minh học (Hetuvidyà), một phương pháp tranh luận bằng lý luận, logic. Tại Trung Hoa, Duy thức được xiển dương bởi ngài Huyền Tráng và đệ tử là Khuy Cơ (K'uei-chi, 632-685), người được xem như là sáng tổ Duy thức hay Pháp Tướng tông (Fa-hsiang), một trong 8 tông phái lớn của Phật giáo Trung Hoa. Ngài Huyền Tráng (Hsuan-tsang, 596-664) sau khi dịch Duy thức Nhị thập tụng và nhất là Duy thức Tam thập tụng, bèn hội ý tất cả mười bản luận giải của các luận sư Ấn Ðộ về Duy thức Tam thập tụng để viết Thành Duy thức luận (Vijnịapti-màtratà-siddhi), làm căn bản triết thuyết cho Pháp Tướng tông Trung Hoa. Ngoài ra còn có Ðại Thừa Ðăng, một đại sư người Việt Nam, cùng với Khuy Cơ được xem như là hai đại đệ tử đã cộng tác với Huyền Tráng trong công trình dịch thuật các bộ luận về Duy thức này, cho thấy tài năng của một đại sư Việt Nam mà tên tuỗi chưa được giới học thuật Phật giáo Việt Nam trước đây chú ý. 2. Căn Cứ các kinh sách Sau Ðây Lập Ra Duy Thức Tông: Như tất cả các tôn phái khác, Duy-thức tôn cũng căn-cứ vào căn luận của Phật mà được thành lập ra. Ðó là 6 bộ kinh và 11 bộ luận sau đây: Sáu bộ kinh là: 1.- Kinh Giãi-thâm-mật 2.- Kinh Hoa-nghiêm 3.- Kinh Như-lai xuất hiện công-đức trang-nghiêm 4.- Kinh A-tỳ-đạt-ma 5.- Kinh Lăng-nghiêm 6.- Kinh Hậu-nghiêm (hay Mật-nghiêm). Mười một bộ luận là: 1.-Luận Du-già Sư-địa 2.- Luận Hiển-dương Thánh-giáo 3.- Luận Ðại-thừa Trang-nghiêm 4.- Luận Nhiếp Ðại-thừa 6.- Luận Thập-địa-kinh 7.- Luận Phân-biệt Du-già 8.- Luận Quán Sở-duyên-duyên 9.- Luận Duy-thức Nhị-thập-tụng 10.- Luận Biện-trung-biên 11.- Luận Tạp-luận Vị sáng lập ra Duy-thức chính là Bồ Tát Di-lặc. Ðức-Di-Lặc sau khi tu chứng được Duy-thức, đã ýwng theo lời thỉnh-cầu của Ngài Vô-trước, nói Luận Du-già Sư-địa. Hai vị có công lớn trong việc phát-triển tôn này ở Ấn Ðộ là hai anh em nhà Vô-trước và Ngài Thế-thân. Ngài Vô-trước dựa theo bộ '' Du-già Sư-địa '' làm ra bộ luận ''Hiển-dương Thánh-giáo '', và '' Nhiếp Ðại-thừa ''. Ngài Thế-thân lại có công đức lớn lao hơn nữa, tomtăts lại nghĩa lý Duy-thức, lảma bộ luận '' Duy-thức tam thập tụng ''. Về sau, có mười vị Ðại Luận-sư, sớ giải bộ Duy-thức tam-thập tụng, làm thành mười bộ luận chính về Duy-thức . Ðến đời Ðường, Ngài Huyền-trang từ Trung Hoa sang Ấn Ðộ thỉnh kinh và tham-cứu về Phật Giáo. Môn học sở trường của Ngài là Duy-thức. Sau khi trở về Trung Hoa, Ngài lượm-lặt tinh-hoa của 10 bộ đailuận nói trên, dịch thành Hán-văn, dưới nhan đề là: '' Thành Duy-thức Luận '', gồm cả thảy 10 quyển. Ngài Khuy-cơ là đệ-tử lớn của Ngài Huyền-trang sớ-giải thêm rỏ nghĩa-lý bộ '' Thành Duy-thức Luận '' làm ra thành 60 quyển, dưới nhan đề là '' Thành Duy-thức thuật-ký ''. Tóm lại, ở Ấn Ðộ, vị có công lớn nhất trong sự phát huy Duy-thức tôn là Ngài Thế-thân. Còn ở Trung Hoa, vị có công lớn nhất trong việc truyền bá Duy-thức tôn là Ngài Huyền-trang. Về phương diện sách vở dạy về Duy-thức, từ xưa đến nay được các học giả xem là chánh-tôn Duy-thức, thì có ba bộ sau đây: 1.- Ðại-thừa Bá pháp minh môn luận (tatc giả là Ngài Thế-thân). Nội dung bộ luận này giải-thích các danh từ chuyên-môn của Duy-thức, nói rỏ 100 pháp và hai món vô-ngã. Người học Duy-thức nếu không học bộ luận này trước, thì không dễ gì hiếu được Duy-thức (bộ luận này đã được dịch ra tiếng Việt và chúng tôi lấy nhan đề là: Duy-thức nhập môn). 2.- Duy-thức tam thập tụng (cũng do Ngài Thế-Thân tạo ra). Trong bộ luận này Ngài Thế-Thân dùng 30 bài tụng để giải thích về nghĩa lý chánh của Duy-thức, luận này chia làm bốn phần: a). Phần thứ nhất nói về ba chức năng-biến: -Thức năng-biến thứ nhất là thức A-lai-da (thức tứ tám). -Thức năng-biến thứ hai là thức Mạt-na (thức thứ bảy). -Thức năng-biến thứ ba là sáu thức năng trước. b). Phần thứ hai nói về các tâm-sở: -Biến-hành (5 món) -Biệt-cảnh (5 món) -Thiện (11 món) -Căn-bổn phiền-não (6 món) -Tùy phiền-não (20 món) -Bất-định (4 món). c). Phần thứ ba giải-đáp các nghi vấn: -Làm sao biết được phận-vi sanh-khởi của các thức? -Nếu không có ngoại cảnh, thì sao có sanh tử và các sự phân biệt? -Nếu không có ngoại cảnh, thì sao có chúng hữu-tình sanh-tử? -Nếu chỉ thức, tạo sao Phật lại nói có ba tánh? -Nếu có ba tánh, tại sao Phật nói ba món vô-tánh? d).Phần thứ tư nói về đệ tu Duy-thức: Từ khi phát tâm tu Duy-thức cho đến khi chứng được Duy-thức tánh thành Phật, hành-giả phải trải qua năm địa vị, thứ lớp như sau đây: -Vị Tư-lương (như lương thực cửa người đi đường). -Vị gia hạnh (gia công tấn hàng). -Vị thông-đạt (thấu suốt đường lối). -Vị tu-tập (tu-hành tập-luyện). -Vị cứu cánh (đến cùng tột địa vị tu chứng). 3.- Bát-thức qui-cũ tụng (tác giả là Ngài Huyền-trang). Nội dung của quyển này, Ngài Huyền-trang dùng 12 bài tụng để toát yếu lại nghĩa-lý Duy-thức, gồm có bốn phần: a). Phần thứ nhất nói về năm thức đầu b). Phần thứ hai nói về thức thứ sáu . c). Phần thứ ba nói về thức thứ bảy d). Phần thứ tư nói về thức thứ tám. Mỗi một phần có ba bài tụng, hai bài tụng đầu nói hành-tướng các thức, khi hành-giả còn ở địa vị phàm-phu; bài tụng thứ ba nói hành-tướng các thức, khi lên quả-vị Thánh. Tóm lại, ba bộ luận trên này, người muốn học Duy-thức, khôngthể bỏ qua được. 3. học thuyết: 3.1. Bốn điểm quan yếu của học thuyết Duy thức: a. tất cả hiện hữu chỉ là do thức, duy thức (vijnanapti-màtratà); b. tất cả do vì tạng thức (àlayavijnanana) hiện khởi; c. thức có ba tự tánh (tri-svabhàva), mà sau khi phân tích, thật ra lại là ba vô tự tánh; d. tương liên giữa ba tự tánh và ba thân Phật (trikàya). Theo Duy thức, a-lại-da huân tập các hạt giống (chủng tử, bìja) trong quá khứ, từ đó sinh khởi các hiện tượng tâm thức do vì chủng tử chín muồi theo tác động của nghiệp (nghiệp quả). Chúng tác động nhau tạo nên ảo ảnh mà chúng ta cho là thật. Cảm nhận của con người do đó bị nhiễm ô, khiến phát sinh ra ấn tượng về một cái "ta". Ấn tượng này là sai lầm, vì chỉ có sự cảm nhận (thức), chứ không có "người" cảm nhận; do vì sai lầm bám víu vào cái ngã cho nên phải đau khổ. Sự cảm nhận, hay nhận thức ngoại cảnh, được phân tích là vốn không có tự tánh (ba tự tánh). Để không còn bị thức chuyển hiện, ta phải hành trì Du-già để chuyển thức thành trí, chuyển ba tự tánh thành ba thân Phật. Duy thức học hay Duy thức tông chủ trương mọi hiện tượng đều chỉ là thức, là cảm nhận của tâm, ngoài thức đang cảm nhận thì không có gì hiện hữu, không có một đối tượng khách thể, độc lập. Thế gian chỉ là ảo ảnh (màyà), hay tợ cảnh, bởi vì tất cả hiện thể đều không bền vững, không có tự thể (vô ngã), và không tồn tại (vô thường). Tâm thức, bị ảnh hưởng của vô minh (avidyà), tin vào những gì mà nó tiếp xúc, trong cả hai trạng thái tỉnh giấc và ngủ mơ, cho rằng đối tượng thật sự hiện hữu bên ngoài nó, trong khi thật ra, chỉ vì cái tâm thức đó phóng thể, hay là hiện ra (tập khởi), cho nên thấy như là thế gian như là hiện hữu, vậy thôi. Chủ thể, cái ta, do đó không có thật; và khách thể, thế giới bên ngoài, cũng không có thật. Trước khi giác ngộ, sự hiểu biết của chúng ta chỉ là mớ kiến thức thu thập qua kinh nghiệm, đọc sách, học hỏi khi giao tiếp với thế giới hàng ngày của chúng ta mà tập thành. Một khi tri kiến đó tập trung vào nơi giác ngộ, thì tri kiến này bắt đầu chuẩn bị để tiếp nhận trí căn bản (Căn bản trí). Cần nhắc lại, trí tuệ là sự hiểu biết nhất nguyên, nhận biết sự vật là như thật, như là chính nó, không có phân biệt chủ thể và đối thể, không phê phán, không có nhận thức nhị nguyên chen vào. Trí tuệ này siêu việt ngôn từ, văn cú, khái niệm; hoàn toàn là sự biết thanh tịnh rằng Chân như là căn bản của thực tại. Trí căn bản này nảy sinh Trí hậu đắc (Hậu đắc trí) là một hình thức thanh tịnh của trí tuệ phát sinh khi không còn phân biệt, nhưng chưa đạt đến giác ngộ giải thoát, cho nên đó gọi là "trí thế gian đã thanh tịnh". Đây là trí cần thiết phải có để có thể phân biệt tất cả các pháp, mà không vướng mắc dính chấp vào chúng hay bởi chúng, nên có thể loại bỏ mọi mê lầm về hiện tượng giả tá do thức tạo thành. Đức Phật dùng trí hậu đắc này để thuyết pháp độ sinh mà không thấy có người được độ, cho nên thong dong tự tại, đi lại không còn buộc ràng, là bậc Như Lai. Trí hậu đắc này giải thích hành vi, hoạt động của bậc sau khi đã giác ngộ, vẫn có thể đối diện với tất cả những hình danh sắc tướng của ngoại tại trong thế gian huyễn hóa này. Phật có ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa (hay Ứng) thân. Chỉ có thân thứ 3, Pháp thân (Dharmakàya) là chân thật. Báo thân và Hóa thân (Nirmànakàya, Transformation body) chỉ là những biểu hiện của Pháp thân, và là những hiện thể dùng làm phương tiện tương đối tương đương với thức còn mê muội, chưa giác ngộ. 4. Chủ Trương Của Duy Thức Tông: Chủ-trương của Duy-thức tôn là phá trừ vọng chấp ngã, pháp (biến kế sở chấp), bằng cách chỉ cho chúng sanh thấy tất cả các pháp đều nương nơi thức hiện ra (y-tha khởi), và mục dích cuối cùng lá đưa chúng sanh trở về với tánh chân thật (viên-thành thật). Thế-giới hiện-tượng này này, vì mê-mờ, chúng ta tưởng là chắc thật, nhưng hteo chủ trương của Duy-thức học, thì vũ-trụ vạn-hữu đều là Duy-thức biến-hiện. Cũng như sơn hà, đại địa trong cảnh chiêm bao, không có cảnh vật ấy. Vậy, nếu chỉ cho chúng sanh thấy được một cách rỏ ràng, vũ-trụ vạn-hữu do thức biến-hiện ra như thế nào, thì chắc chắn chúng sanh sẽ không còn chấp thật ngã, thật pháp nữa. Cũng như khi biết cảnh vật trong chiêm bao là do tâm chiêm-báoanh ra thì không còn mê muội nơi cảnh chiêm-bao nữa. Mà không còn chiêm-bao tức đã thức-tỉnh. Cũng thế, khi không còn chấp thật ngã, thật pháp nữa, tất sẽ thấy được cảnh chân-thật của vũ-trụ vạn-hữu, (tánh viên thành-thật) . đó là chủ trương của Duy-thức tôn. Nói một cách vắn tắt, chủ trương của Duy-thức tôn là quy vũ-trụ vạn-hữu trở về Duy-thức tướng, rồi từ Duy-thức tướng trở về Duy-thức tánh (tâm chơn-như hay tánh viên-giác). 5. Kết Quả Tu Chứng: a). Hành-giả : sau khi đã dày công tu luyện pháp mê vọng, năm thức trước của chúng tánh là nhãn, nhĩ, tỹ, thiềt và thân thức, duyên với cảnh giới năm trần là sắc, thanh, hương, vị và xúc trần;nhờ thế mà chúng ta mới thấy được sắc, nghe được tiếng , ngữi được mùi, nếm được vịvà cảm giác được cảnh giới chung quanh. Nhưng cái giá trịvà tầm hoạt động cũng như công dụng của năm thức ấyât nhỏ hẹp và thường hay sai lạc, nhận giả làm thật. Do đó, chúng ta tạo ra các nghiệp sanh tử luân hồi, quay cuồng trong lục đạo. Ðối với người tu Duy-thức khi đã thành tựu rồi, thì năm thức này chuyển ra thành cái trí" thành sở tác", nghĩa là cái trí này có những công năng vô cùng rộng lớn như thị hiện thần thông biến hóa, hiện ra ba món hóa thân, đẻ tùy theo căn cơ của chúng sanh mà hóa dộ. b). Diệu quán sát trí:khi đang còn ở trong mê thức thứ sảucghi biết so đo, tính toán trong phạm vi nhỏ hẹp, tầm hoạt động không thể bao quát cùng khắp được . do đó nên nó thường hay sai kạc, lầm lẫn, và lôi kéo thân và miệng làm nhiều điều tội lỗi, tạo ra các nghiệp sanh tử luân hồi. Ðến khi đã chứng được Duy-thức quả rồi, thì cái thức thứ sáu nàychuyển thành cái trí diệu quan sát, nghĩa làcái trí quan sát rát là mầu nhiệm, có thể thấy được hằng sang thế giới; trong mỗi thế giớ thấy được toàn thể chúng sanh, trong mỗi chúng sanh thấy được bao ngạc nhiêu tâm niệm v.v...Và nhờ sự quan sát huyền diệu rốt ráo như thế mà tùy theo nguyện vọng, taam lý, làm lợi lạc cho chúng sanh. c). Bình đẳng tánh trí: Trong khi mê, thức thứ bảy chấp kiến phần của thức thứ tám là ngã. Khi đã chấp "ngã" tất nhiên chỉ biết có ngã là quan trọng nhất, và mọi ý nghĩ, mọi hành động, mọi lời nói gì cũng đều quy tụ chung quanh cái ngã. Diều gì thích hợp với cái ngã thì yêu thương, chiều chuộng, cưng dưỡng, diều gì trái với cái ngã thì khinh ghét,hất hũi, chà đaạp. Do đó, gaay ra không biết bao nhiêu là bất công, bất bình đẵng làm xáo trộn, điêu đứng phá hũy cõi trần gian này. Ðến khi chứng được Duy-thức quả, thức thứ bảy này không còn chấp ngã nữa, mà chỉ thấy mình và người , cho đến lòai vật đều như nhau. Khi đã có được trí bình đẵng rồithi sẽ dùng tâm từ bi hiện đủ phương tiện, để tùy theo căn cơ mỗi loài mà hóa độ, làm cho chúng sanh đều được giải thoát. d). Ðại viên cảnh trí: Khi còn mê-mờ bị thức thứ Bảy chấp ngã và bị các chủng-từ phiền-não hữu-lậu, nhiễm-ô chi-phối, nên thức thứ Tám không được sáng suốt thanh-tịnh. Ðến khi nhờ tu-hành, chứng được Duy-thức tánh, thì thức thứ Tám này trở thành như một cái gương lớn được lau chùi sạch bụi-bặm, có thể phản chiếu khắp cả mười phương thế-giới, nên gọi là ''Ðại viên cảnh trí''. 6. Lợi Ích Thiết Thực Trong Khi Học Và Tu Duy Thức Kết quả thu hoạcgh được như trên, hành-giả tất phải trải qua nhiều kiếp tu-hành. Nhưng chúng ta đừng thấy con đường đi qáu xa-xôi, diệu vợi mà nản chí. Vã lại không phải đợi đến khi thu hoạch được kết-quả cuối cùng mới nhận chân được sự lợi ích của pháp môn này. Ngay trong khi đang tu học, môn Duy-thức này cũng đã đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích thiết thực cho đời sống hiện tại rồi. 1.- Chúng ta tự biết được mình một cách rỏ-ràng: Từ hồi nào đến giờ, chúng cho ta thân tâm này là của tánh, tưởng rằng chúng ta đã hiểu rõ bản thân tánh nhiều lắm. Nhưng nghĩ cho kỹ, chúng ta chỉ biết sơ sài về ta mà thôi. Về thân xác này, chúng ta chỉ thấy được những bộ phận ở bên ngoài như mặt, mũi, tay, chân v.v...Muốn biết các bộ-phận bên trong, chúng ta tất phải học khoa phẩu thuật. Về tâm-tánh chúng ta lại càng dốt hơn nữa. Nhiều khi chúng ta tưởng hiểu rõ nội tâm của mình, kỳ thật đã lầm nhiều lắm. Vậy muốn rõ biết tâm-tánh một cách rõ ràng, chúng ta hãy tu học Duy-thức. Như phần trên đã nói. Duy-thức học đã phân tích, chia-chẻ một cách tường tận, tỉ-mỉ, tâm-lý của chúng ta , liệt kê ra thành nhiều loại; mỗi loại có tên riêng, hành-tướng, công-năng, phạm-vi hoạt-động khác nhau như thế nào. Học Duy-thức, chúng ta thấy được phần nội tâm một cách rỏ ràng như người cầm gương soi, thấy tất cả những gì ở trên mặt. Chúng ta sẽ biết rõ những tâm-niệm xấu-xa để diệt-trừ (tu tâm), những tánh-tình tốt đẹp để bồi dưỡng (dưỡng tánh). Do đó, chúng ta sẽ trở thành người hiền lương, đạo-đức. 2.- Chúng ta thấy được cái chánh-phủ nội tâm của chúng ta: Tâm-lý của mỗi người mới xem qua thật vô cùng phức-tạp; nhưng nếu suy nghiệm cho kỹ, chúng ta thấy vẫn có một tố chức gần giống như một liên bang; các Tâm-vương khác như một vị Tổng-thống của liên bang; các Tâm-vương khác như các vị đứng đầu của tiểu-banh; các tâm-sở Biến-hành như một vị Bộ-trưỏng; các Tâm-sở Biệt-cảnh như các vị Tỉnh-trưởng, Quận-trưởng; các Tâm-sở Bất-định như các vị dân-biểu không đảng phái; các Tâm-sở Thiện như các vị công-thần liêm-khiết hay các vị công-chức tân tâm vì dân vì nước; các Tâm-sở phiền nảo như những tham quan ô lại, hay cướp dựt lưu manh v.v... con các chủng-tử (thiện, ác, vô ký) thì như toàn thể dân chúng trong liên bang. 7. duy thức học và các tông phái: Trước hết chúng ta đề cập Duy Thức Học quan hệ với hai học phái Tiểu Thừa và sau đó sẽ so sánh Duy Thức Học quan hệ đến các tông phái Đại Thừa. 7.1. duy thức học và câu xá luận: Câu Xá là tên của một bộ luận và nguồn gốc của tên này gọi cho đủ là A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận. A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận Trung Hoa dịch là Đối Pháp Tạng Luận (Luận về đối tượng Pháp Tạng). Nội dung của Câu Xá Luận nhằm thuyết minh Nhân Không Pháp Hữu làm tông chỉ. Bộ luận này rất quý trọng nơi việc nghiên cứu Phật Học. Người nghiên cứu Phật Học, trước hết phải học tập Câu Xá Luận. Câu Xá Luận vừa là đầu mối, vừa là cơ sở, mà cũng vừa là phương pháp nhập môn, là tuần tự của sự chứng nghiệm, của sự tín giải một cách rõ ràng và cụ thể. Kinh luận thường nói, học Phật và tu hành là để đoạn trừ phiền não và cắt đứt sanh tử. Nội dung bộ luận này đều căn cứ trên các bộ Kinh A Hàm, các bộ Luật và nhất là các bộ Luận của phái Hữu Bộ để thành lập. Câu Xá Luận trình bày vấn đề đoạn trừ phiền não và cắt đứt sanh tử rất có mạch lạc. Người sơ cơ học tập Phật Pháp, nếu như không chịu nghiên cứu bộ luận này để khai mở đầu tiên mà lại đi tham học giáo lý Đại Thừa thì người đó rốt cuộc thiếu hẳn căn bản tư tưởng, nguyên vì giáo lý Đại Thừa đều căn cứ nơi Tiểu Thừa để thành tập. Nói chung, giáo lý trong các kinh luận của Tiểu Thừa thì trình bày rất rõ ràng và ngược lại giáo lý trong các kinh luận của Đại Thừa thì phần nhiều trình bày quá tổng quát. Yếu nghĩa của ba Tạng Kinh Tiểu Thừa đều hàm chứa trong bộ luận này. Câu Xá Luận không những chỉ thuyết minh rốt ráo của Phật Pháp mà lại còn trình bày rõ ràng một loại triết học tông giáo của Ấn Độ. Tại Ấn Độ, bộ luận này được gọi là Thông Minh Luận. Vào thời Lương và thời Trần, thuộc Kỷ Nguyên 548, ngài Chân Đế đến Trung Quốc dịch Câu Xá Luận. Ngài là người nghiên cứu và chứng đắc kim chỉ nam của A Tỳ Đàm. Đến đời Đường, ngài Huyền Trang dịch các bộ luận mới gọi là Tân Luận. Sự nghiệp nghiên cứu của ngài Huyền Trang rất thạnh hành một thời và ngài trước tác rất nhiều tác phẩm. Những tác phẩm của ngài có tiếng tâm như là Phổ Quang Ký, Pháp Bảo Lưu, Viên Huy Tụng Sớ,..v..v..... Về sau, sự sùng thượng Đại Thừa và việc chú sớ bị thất truyền là lý do cũng tại không có người nghiên cứu đến. Phải nên biết rõ, Duy Thức Học và Câu Xá Học rất quan hệ với nhau như máu thịt và xương cốt. 7.2. duy thức học và thành thật học: Thành Thật cũng là tên của một bộ luận. Tác giả của bộ luận này là Ha Lê Bạt Ma, người Trung Ấn. Nội dung của bộ Thành Thật Luận bàn về Lý Không và Lý Không này so với học thuyết Tánh Không Duyên Khởi của Tam Luận thì không giống nhau. Tương truyền rằng, chỗ thuyết minh lý không nơi bộ Thành Thật Luận của hệ phái Kinh Bộ trước tác chỉ nói lên được nghĩa Thiên Không của Tiểu Thừa. Đến đời Diêu Tần, ngài La Thập dịch bộ luận này thành chữ Hán để lưu truyền về sau. Bộ luận này đã được nhiều người truyền bá và tu tập. Các học giả sở dĩ một thời chuyên về Thành Thật Luận là để thành lập một tông phái và họ đã hoàn thành một học phái. Sự hoàn thành học phái của tông Thành Thật được thấy chú sớ rất nhiều trong Kinh Lục gồm 24 loại. Thế nên biết rằng Tông này rất thạnh hành một thời. Từ đấy trong Phật Học, Thành Thật Luận thật là trọng yếu. Bộ luận này kể từ ngài La Thập trở về sau có người phê phán cho là Đại Thừa và có người phê phán cho là Tiểu Thừa. Trong sử truyện, sự tranh luận vấn đề trên có hơi nhiều. Điển hình như “ các học giả từ ngài Trí Nghỉ Kiết Tạng trở về trước đều cho Thành Thật Luận là bộ Luận của Đại Thừa, cho đến một ít nhân vật như ngài Tăng Nhu Huệ và thứ nữa như ba đại Pháp Sư của nhà Lương đều không cho Thành Thật Luận là Tiểu Thừa. Cho đến các học giả Tam Luận nhìn các học giả Thành Thật Luận cho là những bậc thầy của Đại Thừa Thành Thật Luận. Nhưng đến ngài Kiết Tạng (học giả của Tam Luận) ở trong Tam Luận Huyền Nghĩa, ngài dùng Thập Nghĩa chứng minh bộ Thành Thật Luận là nguyên thủy. Thêm nữa ngài Trí Nghỉ Huệ Viễn cũng cho bộ Thành Thật Luận là nguyên thủy. Từ đó các bộ luận được san định nhằm để minh định những loại nào là thuộc về luận của Tiểu Thừa” . Thành Thật Luận sở dĩ bị ghép vào loại Thiểu Thừa là do không có người trước thuật mà ở đây không phải do các học giả Tam Luận phê bình và thêm nữa đời sau Thành Thật Luận lại không có người nghiên cứu đến. Lý Không của Thành Thật Luận, theo quan điểm của Thành Duy Thức Luận thì thuộc về loại Thiên Không và nó không phải là cái Không thuộc Trung Đạo cứu cánh. Tông Thành Thật cùng với Duy Thức quan hệ hơi ít. Học thuyết Nhị Đế: có và không, sanh và diệt, một và khác,..v..v.... của Thành Thật Luận nếu căn cứ nơi rốt ráo Trung Đạo thì cũng có thể giống như giáo nghĩa Tam Tánh và Nhị Đế,..v..v.... của Duy Thức 7.3. duy thức học và thiền học: Thiền Tông là cốt tủy của Phật Học Trung Quốc. Đại sư Thái Hư đã nói: “Tánh chất đặc biệt của Phật Học Trung Quốc thì ở nơi Thiền Tông.” Thiền Học Trung Quốc bắt đầu từ nơi ngài An Thế Cao của nhà Hán. Mãi đến đời Tấn và đời Tống, ngài La Thập và ngài Bồ Đề Lưu Chi mới dịch các sách thuộc về yếu chỉ của pháp Thiền. Pháp Thiền từ đây lần lần thạnh hành. Nguyên do, Phật pháp vốn xem trọng ở nơi tu chứng và coi thường ở nơi học lý. Trong sự tu chứng, pháp Thiền đương nhiên là công phu bậc nhất. Pháp Thiền thì thuộc về Tâm Học Tăng Thượng trong ba môn học Tăng Thượng. Nắm lấy vấn đề xét tâm tu chứng chính là một trong ba môn học vô lậu. Vì thế các cao tăng của Tây Vực khi đến Trung Quốc đều trao truyền pháp Thiền. Đến đời Lưu Tống (khoảng năm 470 – 475), ngài Bồ Đề Đạt Ma, người Nam Ấn Độ đến Trung Quốc tự mình truyền thọ Thiền Học cho hậu thế. Thiền Học Trung Quốc từ đó phát sanh một loại Thiền biến hóa. Từ Bồ Đề Đạt Ma trở về trước, Thiền Tông Trung Quốc không có kiến lập hệ phái truyền thừa chánh thống và khi đến ngài Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Quốc trở về sau, Thiền Tông Trung Quốc mới có kiến lập lịch sử truyền thừa, đồng thời cũng có quy định rõ ràng phương pháp dụng công tu tập. Ngài Bồ Đề Đạt Ma trụ nơi Thiếu Lâm Tự tại Trung Nguyên, trải qua chín năm diện bích, tự mình tu chứng, tự mình truyền thọ học đồ (đệ tử). Nhờ vậy Thiền Tông Trung Quốc tôn vinh ngài Bồ Đề Đạt Ma là Sơ Tổ. Chúng ta cũng nên cần biết đạo lý của Thiền Tông Trung Quốc. Pháp Thiền kể từ Bồ Đề Đạt Ma trở về trước thì có sử dụng Kinh Giáo. Đến ngài Lục Tổ Huệ Năng trở về sau, Thiền Tông Trung Quốc phần lớn không căn cứ trên Kinh Giáo, không lập văn tự và đơn độc tham cứu một câu thoại đầu hoặc một loại công án để tâm trực chỉ tự ngộ bổn tánh. Cho nên pháp Thiền này được gọi là Giáo Ngoại Biệt Truyền của Kiến Tánh Thành Phật, hoặc gọi là Siêu Giáo Đốn Ngộ Thiền mà cũng gọi là Tổ Sư Thiền. Theo họ quan niệm, Văn Học chỉ là một loại dây leo rễ má và Kinh Giáo cũng chỉ là một thứ giày cỏ rách nát, tất cả đều là vật chướng ngại của sự trực ngộ bổn tánh. Mãi đến đệ tử đời thứ hai (Mã Tổ) của Lục Tổ Huệ Năng trở về sau, Thiền Học Trung Quốc lại trở thành một thứ Thiền hoàn toàn vượt ra ngoài Phật và vượt ra ngoài Tổ, nghĩa là thứ Thiền không có Phật và không có Tổ. Thiền này được gọi là Thiền Siêu Phật Tổ. Đây cũng là tinh thần của Thiền Học Trung Quốc. Cảnh giới của Thiền Học Siêu Phật Siêu Tổ đạt đến là Đăng Phong Tạo Cực (Lên đỉnh núi tạo dựng Thế Giới Cực Lạc). 7.4. duy thức họcv à tịnh độ tông: Tịnh Độ Tông là một tông phái thuộc tín ngưỡng dân gian và tông phái này có thế lực rất lớn tại Trung Quốc. Từ xưa đến nay tông phái Tịnh Độ hoằng truyền không dứt. Tịnh Độ Tông được thành lập vào thời đại nhà Tấn và hiển đạt nhất từ khi ngài Huệ Viễn (334 – 416) thành lập Hội Liên Xã tại Lô Sơn. Tịnh Độ Tông tại Trung Quốc có thể nói khởi điểm từ đó. Ngài Huệ Viễn nhơn sự loạn lạc tại Tương Dương cùng với ngài Đạo An mang đồ chúng tỵ nạn tại Lô Sơn và liền chấn hưng lại Phật Học Nam Triều. Ngài Huệ Viễn không những có địa vị trong Phật Giáo mà danh tiếng về đạo đức và văn chương của ngài có ảnh hưởng rộng lớn trong giới học thuật đương thời. Tại Lô Sơn, ngài một mặt tự mình nghiên cứu kinh giáo và đặc biệt là đề xướng học thuật Tỳ Đàm. Hơn nữa ngài cũng thông suốt ba Tạng Kinh của nguyên thủy và Bát Nhã. Ngoài ra, ngài lại còn đề xướng niệm Phật. Các bậc cao hiền ẩn sĩ đương thời như Lưu Quý Thị,..v..v.... cùng với các bậc xuất gia như Pháp Sư Phổ Tế,..v..v.... gồm tất cả là mười tám người cùng theo ngài chia nhau thiết lập từng xã Niệm Phật, gọi là Tịnh Độ Liên Xã. Tại Lô Sơn, mười tám vị này được gọi là Thập Bát Hiền và họ chuyên môn xiển dương Thiền Niệm Phật. Tịnh Độ Tông kể từ ngày thành lập trở về sau, nhờ Pháp sư La Thập dịch kinh A Di Đà, cho nên người ta theo và hành trì lại càng hưng thạnh. Đến thời Triệu Tống, Tịnh Độ Tông và Thiền Tông bài xích lẫn nhau như nước với lửa và không thể tha thứ cho nhau được. Người tham thiền thì không chấp nhận niệm Phật và người niệm Phật cũng không hứa khả tham thiền. Thiền Tông có ra Thiền Quy: “Người nào nếu như niệm Phật một câu thì bị phạt gánh nước rửa Thiền Đường và phải súc miệng ba ngày”. Cho thấy, tình hình nghiêm trọng giữa Thiền và Tịnh không thể dung hòa với nhau được. Lúc bấy giờ, Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ đề xướng “Thiền Tịnh Song Tu” và dùng Tịnh Độ đánh vào môn đình của Thiền Tông. Thiền sư chủ trương, cốt yếu của người niệm Phật là tham thiền và cốt yếu của người tham thiền là niệm Phật. Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ lúc bấy giờ rất có tiếng tăm và cũng vì chủ trương Thiền Tịnh Song Tu cho nên môn nhơn tín đồ theo Thiền sư rất đông. Theo Thiền sư, mình và mọi người đều là Thiền giả cũng nên cấp thiết thực hành niệm Phật. Thiền Tịnh Song Tu có bốn khoa đơn giản làm phương châm và trong bốn khoa này, hai câu rất có danh tiếng là: “Có Thiền có Tịnh Độ, dụ như cọp mọc sừng”. Người tu hành nếu thực tập tăng cường thêm tín niệm và giải thoát. Nhờ sự đề xướng của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ, Thiền Tịnh Song Tu được truyền thừa liên tục cho đến ngày nay. Cũng vì lý do trên, Thiền Tông Trung Quốc có thể nói trở thành một thứ Thiền biến hóa. 7.5. duy thức học và luật tông: Chiếu theo Phật Pháp, giới luật không nên lập tông phái riêng, nguyên vì không luận học Thiền, học Tịnh, học Giáo, không luận tăng già hay thế tục, mọi người phàm là tín đồ quy y Phật Pháp đều phải hiểu rõ và hành trì giới luật. Giới Luật là con đường đạo để làm người, làm bậc siêu nhân và cũng là để kiến lập Đại Từ Điển căn bản của Phật Pháp. Giới Luật không nên thiên lệch và phải nên phổ biến tuân hành. Chỉ tại vào thời triều đại nhà Đường, Luật Sư Đạo Tuyên ở núi Chung Nham là người đạo đức, văn chương, trì luật nổi tiếng, có thể động đến thiên địa và cảm đến quỷ thần. Ngài nghiên cứu tinh thông luật học và dựa trên Tứ Phần Luật Tạng chánh thức thành lập Luật Tông. Nổi bật hơn hết, Luật Sư Đạo Tuyên là người thành công lớn nhất trong Phật Giáo Sử Trung Quốc. Thật ra, người đầu tiên hoằng dương Luật Tứ Phần chính là Luật Sư Trí Thủ. Luật Sư Đạo Tuyên là đệ tử kế thừa. Đồng thời với Đạo Tuyên, hai Luật Sư là Tướng Bộ Pháp Lệ và Đông Tháp Hoài Tố cũng hoằng truyền Luật Tạng. Cho nên người đời thường gọi Đạo Tuyên, Pháp Lệ và Hoài Tố là ba Luật Gia đời Đường. Trong ba Luật Gia này, chỉ Nam Sơn Luật của Đạo Tuyên nhờ lý do đặc biệt truyền bá không dừng. Ngài Đạo Tuyên nghiên cứu về Luật Học tinh tế và phi thường, đồng thời trước tác sách cổ về Luật Tông gồm có năm Đại Bộ. Điểm đặc biệt của ngài Đạo Tuyên trong sự nghiên cứu tinh tế và phi thường về Luật Học như: “Thứ nhất, ngài kiến lập Hóa Giáo và Chế Giáo (cũng gọi là Hóa Giáo và Hành Giáo):” “a- Hóa Giáo: nghĩa là ngài dựa theo các kinh luận Đại Thừa và nguyên thủy, trong đó gồm có bốn bộ A Hàm,..v..v..... để chú thích Pháp Môn Định Huệ.” “b-Chế Giáo: nghĩa là ngài cũng dựa theo các Luật Giáo của Đại Thừa và nguyên thủy, trong đó có Tứ Phần Luật,..v..v..... để chú thích Pháp Môn Giới Học.” 8. Sự phát triển của Duy thức tông: Tông Duy thức xuất hiện tại Ấn Độ, chính nơi đây tông phái này đã phát triển vào thế kỷ thứ sáu công nguyên,.Ngài Di Lặc được coi là sơ tổ của tông phái này. Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân), người Tây Bắc Ấn đã hệ thống hóa và phát triển tư tưởng ba giáo nghĩa về Tàng thức, Tam tướng và Tam thân Phật. Khi tác phẩm Tam thập tụng của Bồ tát Thế thân xuất hiện đánh dấu một bướt ngoặc phát triển của Tông phái này, giáo nghĩa của Duy thức đã được Ngài tóm tắt trong tác phẩm Tam Thập Tụng. Có mười tác phẩm luận giải tam thập tụng mà về sau Ngài Huyền Trang khi phiên dịch từ bản Phạn sang chữ Hán thì đã đặt tên là thành Duy Thức Luận. Duy thức Tông biến mất khỏi đất nước Ấn Độ khi chịu chung số phận Phật giáo bị tàn diệt vào khoảng 1.100 sau T.L.Các nhà đại học giả đã truyền Duy thức tông qua Trung Hoa, Tây Tạng, Mông Cổ...Trung Hoa là đất nước tiếp nhận giáo nghĩa Duy thức do hai bậc đại trí huệ là Paramàrtha (500-569) từ Ujjayini đến Đông Ấn năm 546 sau T.L và Ngài Huyền Trang khi du hoc ở đại học Na-lan-da trở về nước (khoảng 650).Cũng chính từ ngài Huyền Trang mà tên gọi Duy Thức Tông đã được biết đến.Ngài Huyền Trang đã tóm tắt giáo lý Duy thức của Ngài trong tác phẩm Thành Duy Thức Luận.Đây là bản luận mà Ngài Huyền Trang chủ yếu ăn cứ nhiều nhất vào ngài Dharmapàla (Hộ Pháp), Trụ trì chùa Nalanđà (Na-lan-đà), và tương đối coi nhẹ chín vị khác. Ngài Khuy Cơ chính là nhân vật có nhiều sớ giải quan trọng đối với Duy thức, Ngài là vị đệ tử ưu tú nhất của Ngài Huyền Trang. Khuy Cơ Đại Sư viết nhiều bộ luận và một bộ bách khoa từ điển về giáo lý Đại Thừa, đây cũng chính là thời kỳ tông Duy thức được truyền bá mạnh mẽ khắp lục địa Trung Hoa và trở thành một tông phái lớn thời bấy giờ. Chẳng bao lâu thì thì duy thức được chia ra làm hai , một ngành ở phương Bắc và một ngành ở phương Nam, đến thời nhà Nguyên thì Tông duy thức bị thất truyền..Đến năm 653 Duy thức truyền bá tới Nhật bản và được biết đến với tên Pháp Tướng Tông. Trong thời đại Tempyo với sự cố gắng truyền bá của Đại sư Sojo Gien pháp tướng tông đã phát triển khắp xứ Nhật Bản. Đến nay thì tông phái này chỉ là một tông phái nhỏ, với với 44 chùa và 700 tăng sĩ. 8.1. Sự phát triển của hệ thống Duy thức học tại Trung Hoa: Hệ thống Duy Thức học được truyền tới Trung Hoa vào thế kỷ thứ 6 AD. Tuy nhiên, Bộ Du - Già đã được truyền tới sớm hơn, tức vào thế kỷ thứ 5 AD. Từ bản dịch Kinh Thập Địa Bồ Tát của Ngài Hộ Pháp ( 385-433) và ngài Đức Tuệ ( 367-431) có thể nói đây là những tác phẩm Du- Già đầu tiên được dịch sang tiếng Trung Hoa. Ngài Gunabhadra ( 394-460) đã dịch Kinh Lăng Già và Kinh Giải Thâm Mật, ngài Hộ Pháp đã dịch tác phẩm Thập Địa Kinh Luận. Có hai dòng truyền hệ thống duy thức vào Trung Hoa. 1. vào năm 513 bởi Bồ Đề Lưu Chi mang vào, đưa đến sự thành lập trường phái Thế Luận vào năm 563. và 2. Bởi Ngài Chân Đế đưa đến sự thành lập trường phái Nhiếp Luận. Đến năm 659 ngài Huyền Trang đã thiết lập sự phát triển của trường phái Pháp Tướng Tôn hay còn gọi là Duy Thức Tôn. Suốt từ năm 508-512 AD, Ba Tăng sĩ người ấn độ là Lặc Na Ma Đề(Ratnamati) Bồ Đề Lưu Chi và Phật Đà Phiến Đa( Buddhasanta) đã dịch Thập địa Kinh Luận và một bản luận giải trên tác phẩm này của Ngài Thế Thân. Trên tác phẩm này trường phái Tam Luận Tông được thành lập. Vào năm 513 Bồ Đề Lưu Chi đã bắt đầu dịch bộ kinh Lăng Già. Trong lúc đó Bồ Đề Lưu Chi và ngài Lặc Na Ma Đề có một vài sự bất đồng trên nguồn gốc triết lý của Thập Địa Kinh Luận, điều đó dẫn đến sự chi rẻ trong trường phái này. Đệ tử của Bồ Đề Lưu Chi là Ngài Tao-Chung đã phát triển lời dạy của thầy mình đến phía bắc của thành phố có tên là Quảng Châu. Nhánh này được biết như là Tam luận tông miền Bắc. Huệ Quảng ( 467-536) đệ tử của Ngài Lặc Na Ma Đề đã giải thích quan điểm của thầy mình ở phía nam của Quảng Châu, nhánh này được biết như là trường phái Tam luận tông miền Nam. Tam Luận tông phía bắc có thể nói được phồn thịnh sớm hơn vì Tao-Chung là một đại sư nổi tiếng của trường phái này và thâu nhận hàng ngàn đệ tử. Tuy nhiên, về sau ảnh hưởng của ngài không được nhiều người biết đến. Trong khi đó, Tam Luận Tông phía nam có học trò của ngài Huệ Quảng là Pháp Thượng ( 490-580) và học trò của Pháp Thượng là Huệ Viễn ( 523-592) trở thành nhân vật nổi tiếng của trường phái này. Tam Luận Tông biện minh trên giáo lý duy thức rằng những gì được hiểu biết của thế giới bên ngoài là do thức, cấu trúc của bảy thức ( mạt na và tiền lục thức) có nhiệm vụ ủng hộ thức thứ 8 alaya. Và thừa nhận thức thứ 8 alaya như là thức chân thật trong khi đó bảy thức trước như là thức không thật. Trong lĩnh vực của thức alaya cốt lõi của của sự còn lại là không biến đổi trong mọi thứ thay đổi, nó là phương diện tuyệt đối của vũ trụ, lĩnh vực hoạt động hay sự biểu hiện của alaya thức là phương diện của vũ trụ. Thế giới hiện tượng biểu hiện bị nhiễm ô hay trong sạch tùy thuộc trên sự nhiễm ô hay trong sạch của alaya thức. Trong điều kiện alay thức bị nhiễm ô thì nó dính líu đến hạt giống ô nhiễm. Trong điều kiện thanh tịnh alay thâu nhận đạo đức theo sau sự tu tập và trở nên giải thoát ra khỏi các điều ô nhiễm. 8.2. Sự phát triển của hệ thống duy thức tại Ấn Độ: Việc phân tích và hệ thống hoá lại lời dạy của Đức Phật làm xuất hiện bốn trường phái chính trong tư tưởng triết học Phật giáo tại ấn độ. Đó là : Nhứt Thiết Hữu Bộ ( Vaibhasika) Kinh Lượng Bộ ( Sautrantika), Du-Già ( Yogacara) và Trung Quán ( Madhyamika). Học thuyết Duy thức được phát triển từ trường phái Du- già và bác bỏ lại các dòng triết học đương thời đó chính là hai lý thuyết cực đoan, một là mọi thứ đều hiện hữu của nhứt thiết hữu bộ, hai là mọi thứ đều rổng không của trường phái Trung quán. Học thuyết duy thức thiết lập sự thật của thức và chỉ có thức là duy nhất, trên hết và loại bỏ sự hiện hữu của ngoại cảnh bên ngoài thức. Đây chính là con đường trung đạo được giảng dạy bởi Đức Phật. Trong một số kinh điển đại thừa Phật giáo bao gồm giáo lý Duy thức học, ở đó kinh Giải Thâm Mật bảo rằng lời dạy của Đức Phật nói bản chất của vạn pháp là không có thật. Lời dạy trên khẳng định một sự thật tuyệt đối, đó là sự thấy biết của trí huệ bực Thánh. Giải Thâm Mật giải thích rằng, sự phủ nhận hiện hữu của vạn pháp đã được dạy trong kinh Bát Nhã không có nghĩa là sự vật không hiện hữu hay tướng trạng của sự hiện hữu. Mà chúng hiện hữu trong lý nhân duyên sanh và chuổi mắc xích nhân quả trong sự liên hệ của nó. Sự thật tuyệt đối là bản chất của tất cả các pháp riêng biệt, đó là bản thể của các yếu tố. Trên bề mặt tưởng tượng của vạn pháp xuất hiện và có mặt vì có sự phân biệt của cái tên gọi, mà nó được đặt cho nó bởi ý nghĩ suy diễn của chúng ta. Chúng không có sự thật về sự phân biệt mà chỉ là sự quy ước và không phải là bản chất tự nhiên của vạn pháp. Đây là thực chất không thật của vạn pháp. Trong kinh Giải Thâm Mật nói thêm rằng lý thuyết trong kinh Bát Nhã về Bất sanh và bất diệt…đã được dạy trong sự liên hệ với sự thật tuyệt đối. Sự thật tuyệt đối ( Parinispanna) hay còn gọi là Niết bàn, nó chính là bản chất của vạn pháp (dharmata), Như Lai ( Tathata) và tánh không (Sunyata). Nó là vô thỉ và vô chung không bao giờ thay đổi. Tâm là sự sở hữu tất cả các hạt giống được gọi là a lại da thức ( còn gọi là tàng thức) hay a đàn na thức ( thức của sự chiếm đoạt) . Trong a lại da thức, hạt giống được sinh trưởng xuyên qua sự gắn bó tham gia và ghi dấu của ý niệm tiềm tàng. Trong kinh Giải Thâm Mật cũng có đề cập đến ý niệm ( idea). Trong kinh Lăng Già dạy rằng Duy Thức được giải thích trong Thập Địa Kinh Luận rằng: “ ba cõi không thật , chỉ do thức tạo ra”. Nó thiết lập cái không thật của thế giới và sự thật tuyệt đối của tâm và đưa ra ba phương diện của sự nhận thức đó là: A lại da thức, Mạt na thức, và Thức của sáu giác quan, được gọi là Tám thức. A lại da thức là thức căn bản, nó được đồng nghĩa với sự thật tuyệt đối trong Niết bàn. Còn bảy thức kia là tưởng tượng ( ảo) và bị bỏ lại sau khi đạt được niết bàn. Do bị ảnh hưởng bởi vô minh ( avidya) nhiều thức khác nhau xuất hiện vì chủ thể và đối tượng vượt ra ngoài Thức tạng ( the store consciousness) nhưng sự thật còn lại do tiền lục thức chuyển tiếp tất cả tính hai mặt ( nhị nguyên) của chủ quan và khách quan. Thức A lại da được so sánh với nước đại dương và trên bề mặt sóng là 7 thức trước. Tức là năm giác quan, thức thứ 6 căn bản trên tâm, thức thứ bảy là thức nhiễm ô hay Klistamanas bị khuấy động của vô minh ( avidya) cuốn đi mà không có chổ dừng lại. Nhưng chiều sâu của đại dương hay nền móng ( lớp đáy) của đại dương vẫn cứ liên tục, ở đây có nghĩa là alaya là kho chứa của tất cả trí huệ cả hai tuyệt đối và tương đối. Alaya thức là bản chất trong sạch và được đồng nhất với sự thật tuyệt đối. 8.3. Sự Truyền Thừa và Phát Triển Tông Duy Thức Tại Đài Loan: Phật Giáo Đài Loan nhìn lại có thể đến đời Minh Mạc Vĩnh Lịch(tức Vua Thanh Thuận đời nhà Thanh trị vì). Do có quan hệ về nhân duyên và địa thế, nên người Xuất Gia của Đài Loan được đến từ tỉnh Mân(tên gọi khác của tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc. Cho nên trong các Tông Phái đều có thể nói là (Tổ Tự Phúc Kiến, Luật Y Cổ Sơn) trong cách hành trì phần nhiều là lấy (Thiền Tịnh hợp nhất) dung hợp các Tông Phái. Bởi vậy, hơn 200 năm Phật Giáo thời Thanh Qúy, không có tên gọi:(Duy Thức Tông) Ban đầu Ngài Huyền Trang đời nhà Đường, kế đến Ngài Khuy Cơ khai sáng ra:(Tông Duy Thức) sớm trãi qua đời nhà Nguyên, sau đó pháp phái truyền thừa bị thất truyền.(gần đây xem tư liệu, được biết năm Dân Quốc thứ 40 Ngài pháp sư Tam Huệ ở thôn Khước Sáng, xã Tiêm Sơn , huyện Đài Bắc, kiến lập chùa Phước Huệ. Sau đó tiếp nhận chùa Sùng Thọ, và đồng thời cũng tiếp nhận chùa Quảng Thiện. Hai ngôi chùa này được truyền thừa từ pháp phái Hiền Thủ Tông và Từ Ân Tông. Mà hai ngôi chùa này lấy đó làm cách hành trì. Nhưng lại giảng kinh, niệm Phật, tu trì Tịnh Độ. Bởi vậy, Phật giáo Đài Loan không có Tông Phái của Duy Thức) Tại Đài Loan, niên hiệu Quang Phục về sau, là sớm nhất có Tông Duy Thức hoằng truyền tại đây. Là được truyền lại từ Ngài Từ Hàng pháp sư ở Singapore. Ngài Từ Hàng pháp sư họ Ngải, tên Kế Minh, tự là Sản Tài. Người làng Kiến Ninh tỉnh Phúc Kiến. Ngài sinh năm Quang Tự thứ 21(công nguyên1895) Năm lên 10 tuổi cha mẹ Ngài qua đời, còn lại một mình, Ngài về sống với bà Ngoại. Năm 13 tuổi, Ngài bắt đầu đi đến thôn kế bên huyện Thái Ninh núi Nga Mi đảnh lễ Ngài Tự Trung Hòa Thượng làm thầy thế phát Xuất Gia. Mùa Thu năm sau Ngài thọ cụ túc giới tại chùa Năng Nhơn, huyện Cửu Giang. Đầy đủ giới thể, Ngài hành khước tham vấn khắp nơi. Học Thiền với Ngài Viên Anh Hòa Thượng, học Kinh với Ngài Đế Nhàn Pháp Sư, học Tịnh Độ với Lão Hòa Thượng Độ Ách và còn tham học với các bậc Danh Tăng Già Lam khác. Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ 16,(1927)Ngài Từ Hàng Pháp Sư đến tham học tại Hạ Môn(tên của Thành Phố Thuộc Tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc)Ngài vào học tại Phật Học Viện Mân Nam. Sau một học kỳ, vì có nguyên nhân nên Ngài thôi học để nhận lời mời thỉnh cầu Trụ Trì Chùa Nghinh Giang. Ngài cảm thấy thân làm Trụ Trì, nhưng lại không thông đạt kinh điển, thì không giúp ích gì được cho Phật pháp, thế là Ngài quyết tâm cố gắng khổ học. Ngài đã từng đến Phật học viện Võ Xướng giảng dạy, sau được Đường Đại Viên biên soạn thành tập (Duy Thức Giảng Nghĩa) lúc rãnh rỗi Ngài lấy ra đọc lại, rồi ngẫm nghĩ, rốt cuộc Ngài cũng tường tận về Duy Thức. Năm Dân Quốc thứ 15(1926), Ngài Từ Hàng Pháp Sư tạm thời nhường việc trụ trì đến Hồng Kông giảng kinh. Cũng từ nhân duyên đó, Ngài từ Hồng Kông đến Ngưỡng Quang(Thủ Đô của Miến Điện)trú trong tháp của chùa Long Hoa. Sau khi ở Ngưỡng Quang 3 năm được hội cư sĩ Phật Giáo như: Binh Hoằng Truyền, Trần Hoằng Tuyên vv.... hộ trì, thành lập (Trung Quốc Phật Giáo Hội) Ngài đảm nhiệm vai trò Đạo Sư. Sau đó, Ngài chuyển đến Tinh Ma hoằng hóa được 10 năm. Ngài đi khăp các nơi Tinh Ma giảng kinh thuyết pháp. Trong thời gian này Ngài kiến lập hội Phật Học khắp các nơi của Singapo như: Học Viện Bồ Đề Tịnh Châu, Học Viện Bồ Đề Tân Thành, Tân Long Dữ, Ma Lục Giáp, Kiết Lông Ba. Năm Dân Quốc thứ 37(1948)Ngài Từ Hàng được Hòa Thương Diệu Qủa Thỉnh đến chùa Viên Quang ở Thành Phố Trung Lịch, Huyện Đài Bắc, Đài Loan giúp đỡ giảng dạy Phật Học Viện. Năm Dân Quốc thứ 38(1949)Tại Trung Quốc có biến cố chính trị, các Học Tăng trẻ tìm đến Đài Loan lánh nạn, phần nhiều nương vào Ngài làm y chỉ sư. Sau đó, Ngài chấn chỉnh lại việc học cho Chư Tăng Đài Loan. Tại Tịch Chỉ(Đài Bắc)thành lập Di Lặc nội viện, quy tụ đại chúng giảng giải và học tập Kinh Điển. Đồng thời, còn khai giảng các khóa Kinh Luận về Đại Thừa như: Lăng Nghiêm, Duy Thức, Nhân Minh Luận v.v...Ngoài ra, Ngài còn đến các vùng xa xôi thuyết giảng, thuyết lý viên dung, dụ giải tường tận. Năm Dân Quốc thứ 43(1954)Ngài thị tịch, thọ 60 tuổi. 9. Duy thức học và dòng cảm biến tâm thức: Học Duy Thức Học để vận dụng thực hành là tôn chỉ hàng đầu cuả người tu Phật. Trên cơ sở những yếu lý trong Duy Thức Học, quán chiếu sự vận hành, những quy luật biến hóa của Thức, giản trạch và chuyên nhất vào sự thực hành, gạn đục khơi trong; nếu không sẽ quay cuồng trong sự tạo tác( sanh y) và sự giải thoát sẽ khó có được trong tầm tay. Khi nói: “ Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” tức chúng ta đang đề cập tính chi phối áp đặt chủ quan cuả thức lên đối cảnh. Thực tế, cơ chế vận hành của thức nhập nhằng và vô cùng linh hoạt. Ảnh tượng để có cảm nhận của chủ thể vốn bị chi phối bởi nhiều nguồn tác động và năng lực mạnh yếu của mỗi yếu tố: duyên, căn, trần, thức, sự tư lượng, quá trình tồn lưu, v.v… Phải xác định tính cần thiết của những thông tin có được từ “bộ lọc_thức” đối với đời sống con người. Nó góp vào sự tự điều chỉnh cuả cơ thể, tạo ra những phản ứng tích cực làm nền tảng cho sự tồn tại một cá thể sống. Chẳng hạn, khi độ ẩm không khí tăng gây cảm giác nóng bức( do sự thoát hơi nước qua da bị hạn chế đưa đến thân nhiệt khó thoát ra ngoài ), cảm giác về nhiệt độ lúc đó gọi là nhiệt độ cảm biến( không phải nhiệt độ thực). Sự tư lượng lúc đó là tợ tỷ lượng ; sự cảm thọ nghiêng về khổ thọ(thuộc thân căn), từ đó phát sanh ý thức vượt thoát khỏi trạng thái hiện tại. Sự đa mang trong thế giới nhận thức của chủ thể được thể hiện dưới dạng phán đoán ( discrimination) và nhận thức( comprehension). Đi từ hình thái tánh cảnh (thế giới như chính nó) mà có đới chất cảnh ( thế giới được phản ánh từ cơ sở ban đầu) và độc ảnh cảnh ( ảnh tượng tái hiện độc lập). Nếu một khi những phán đoán nhận thức xa rời thực tại ( mộng trung ý thức) lại có duyên tồn tại đồng hành và chi phối phần lớn thời gian sống, sinh hoạt của chủ thể, gây ra những hiệu ứng thiêú cơ sở thực tế trong ý niệm, ngôn ngữ, hành vi, dẫn đến sự lạc chuẩn của chủ thể, chúng ta sẽ có hiện tượng bệnh lý_bệnh hoang tưởng ( một hình thái của vô minh ). Để đánh giá về các vấn đề : con người, xã hội, tự nhiên,v.v…chủ thể buộc phải vận dụng những kỹ năng tiếp cận. Ý thức lúc đó lập tức nhận được sự tiếp ứng đối chiếu từ các chủng tử ( thiện_ác_vô ký) câu sanh( từ tàng thức)đồng giao thoa với tâm thái hiện tại : tiếp cận( xúc), phát khởi( tác ý), lãnh hội( thọ), ký ức( tưởng), suy ngẫm(tư). Năm Biến hành thẩm thấu lan truyền đồng thời tẩm nhuộm màu sắc lên sự tái cấu trúc đối cảnh. Sự kết luận sau đó( tam lượng) và nuôi dưỡng ( tam cảnh) đưa chủ thể nhận thức vào những cách hành xử hay tri kiến tương ứng, vậy mới có quan điểm và chủ trương; chính kiến và đối sách,v.v…Nếu sự nhận thức bị khúc xạ bởi các yếu tố xúc tác là các phiền não sẽ gây hiệu ứng méo mó trong nhận thức và hành xử(Yêu nhau câu sáu bửa ba, ghét nhau cau sáu bửa ra làm mười! ) Học Duy Thức Học để vận dụng thực hành là tôn chỉ hàng đầu cuả người tu Phật. Trên cơ sở những yếu lý trong Duy Thức Học, quán chiếu sự vận hành, những quy luật biến hóa của Thức, giản trạch và chuyên nhất vào sự thực hành, gạn đục khơi trong; nếu không sẽ quay cuồng trong sự tạo tác( sanh y) và sự giải thoát sẽ khó có được trong tầm tay. III. KẾT LUẬN: Chúng ta đã trình bày xong những điểm chính yếu của Duy-thức tôn giáo hay Pháp tướng tôn. tất nhiên, với phạm vi những bài luận này, chúngta không thể đi sâu vào chi tiết, trình bày một cách rộng rải, đầy đủ hơn. Quý vị nào muốn nghiên cứu sâu xa về môn học này, xin hãy tim trước tiên ba bộ sách chính tông của Duy-thức là: Ðại-thừa Bá Phát minh môn luận (Duy-thức nhập môn),Duy-thức Tam Thập Tụng và Bát Thức Quy Củ tụng; sau đósẽ nghiên cứu thêm những tập sách khác hiện đã xuất bản rất nhiều ở Việt-Nam . Tuy thế, sau khi xem qua nội dung bài này, quý vị có thể quyết định được con đường tu hành của quý vị rồi. Nếu quý vị thấy đây là một con đường tu hành thích hợp và thiết thực lợi ích đối với mình thì xin hãy hạ thủ công phu ngay, nghĩa là ngày đem quan sát kiểm thảo tâm thức của mình. Như quý vị đã biết, trong mỗi chúng ta đều có sáu đầu đảng giải quyết là sáu món Căn bản phiền não. Sáu đầu đảng này lại có hai mươi tên bộ hạ nguy hiểm là 20 Tùy phiền não. Chính bọn giặc cướp này, từ vô thỉ đến nay phá hoại chúng ta vô cùng vô tận, làm cho chúng ta điêu đứng và trầm luân trong biển khổ sanh tử luân hồi. Nếu ngày nay biết được sự tàn phá của chúng, quyết tâm diệt trừ, không cho chúng hoành hành,chắc chắn cuộc đời chúng ta an cư lạc nghiệp. Hơn nữa, bên cạnh những bọn giặc cướp ấy, chúng ta còn có những anh hùng nghĩa sĩ, chuyên làm các việc thiện là 11 món tâm sở thiện. Với những vị hảo hán này, chúng ta phải luôn luôn ân cần trọng đãi, khuyến khích cổ võ để cho họ càng thêm hăng hái và mạnh mẽ làm các việc lành. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1.NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 2. Phạm Kim Khánh dịch, Đức phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009. 3. NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 4TT Thích Viên Trí biên soạn, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2007. 5.NT Thích nữ Trí Hải dịch, Đức Phật đã dạy những gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 6.HT Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Ban Tu Thư Đại Học Vạn hạnh, 1969. 7. HT. Thích Phước Sơn dịch, Ấn Độ Phật Học Nguyên Lưu Lược Giảng, Nxb Phương Đông, 2011. 8. HT. Thích Minh Châu dịch, Trường Bộ Kinh, Nxb Tôn Giáo, 2001, tr. 85. 9. HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh, Tập I, Kinh Đoạn Tận Ái, Nxb Tôn Giáo, 2003. 10. HT Thích Quảng Độ dịch, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Bxb Ban tu thư đại học Vạn Hạnh, 1969, tr. 207-208. 11. TT Thích Viên Trí, Phật Giáo Nguyên Thủy Và Phật Giáo Đại Thừa, Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ. 12. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét