THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

đức phật

on đường thực nghiệm tâm linh Đạo Phật tuy được nhận thức là một tôn giáo nhưng kỳ thực không giống phần lớn các tôn giáo khác của nhân loại. Đạo Phật có phần triết học và khoa học của mình nhưng cũng không phải vì thế mà được xem là một triết học hay một khoa học. Để có thể đàm luận dễ dàng thiết tưởng chúng ta nên tìm biết qua sự liên hệ giữa Phật giáo, triết học và khoa học. Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo đến trước triết học và khoa học, và có liên hệ rất mật thiết với thần thoại. Thần thoại là kết quả của khuynh hướng giải thích và giải quyết của trí óc con người cổ thời về các hiện tượng trong vũ trụ. Tuy triết học và khoa học cũng nhắm đến mục đích giải thích sự vật để làm nền tảng cho hành động, triết học và khoa học vẫn không có được những liên hệ chặt chẽ với thần thoại như là tôn giáo. Triết học khi chưa tách rời ra khỏi thần học thì chưa xứng đáng được gọi là triết học mà chỉ là một khí cụ của thần học. Thần học chỉ là để biện minh và thích nghi cho tôn giáo vào xã hội. Bản chất và khuynh hướng giải thích của tôn giáo về tự nhiên giới và nhân sự giới không xa với bản chất và khuynh hướng thần thoại làm ấy. Những gì tôn giáo nói ra đều được xem như là chính thức dựa trên sự khai mở của thần linh và vì vậy căn bản của tôn giáo là đức tin. Triết học cũng muốn có một cái nhìn tổng quát như tôn giáo nhưng muốn được vô tư hơn và duy lý hơn. Nhưng đến khoa học thì cái nhìn trở thành chi li, tuy được dựng trên thực nghiệm chắc chắn. Đứng giữa tôn giáo và khoa học và không xây dựng trên yếu tố tín ngưỡng, triết học muốn luôn luôn nương vào thực nghiệm khoa học để tìm chân đứng cho vững chãi trong khi vươn cánh tới những chân trời mà khoa học không hoặc chưa nhìn thấy được, những chân trời mà tôn giáo tự cho là đã biết rồi. Thế nên triết học đóng vai trò trung gian, một mặt dựa trên các phát minh khoa học bài xích những ngây thơ sai lạc của một số các tôn giáo, nâng đỡ và khích lệ cho các tôn giáo nào mà chủ trương phù hợp sự thực, một mặt nêu ra và thuyết minh những điều khoa học không biết đến hoặc chưa biết đến: những điều này, tuy còn ở trong phạm vi lý tưởng nhưng có thể là đối tượng sau này của khoa học thực nghiệm. Và cũng vì mang sứ mạng khảo sát tín ngưỡng và hướng dẫn phát minh, triết học được xem như là một động cơ xúc tiến cho sự gạn lọc của tôn giáo và sự tiến bộ của khoa học. Đạo Phật không phải là một tôn giáo theo nghĩa những chân lý thần khải không thể kiểm điểm mà chỉ có thể tiếp nhận bằng đức tin. Đạo Phật trước hết là những phương tiện chỉ dẫn thực nghiệm tâm linh để khám phá thực tại. Kinh sách có giá trị như những đồ biểu hướng dẫn và phương pháp thiền quán có giá trị như một con tàu để đưa người hành giả tới bến bờ hiểu biết và để thực hiện sự hiểu biết ấy trong sự sống bản thân và sự sống xã hội. Chữ budh có nghĩa là hiểu biết do đó có chữ buddha, người hiểu biết, và sau này chữ buddhism, con đường của sự hiểu biết. Hiểu biết ở đây không phải là cái hiểu biết sách và kinh điển mà là bản thân của chính thực tại hiện rõ dưới khả năng trí tuệ bát nhã (prajna) chỉ có thể đạt đến do công phu tu tập thiền quán. Người Phật tử không khởi hành bằng một mớ vốn liếng kiến thức siêu hình không có nền tảng thực nghiệm, mà bằng những nhận thức được thực nghiệm bảo đảm. Người Phật tử không bắt đầu bằng một đức tin có tính cách may rủi mà bằng một sự cân nhắc cẩn thận những nguyên lý và những phương pháp do đạo Phật đề nghị. Đạo Phật mời con người thí nghiệm những phương pháp của nó: điều này chứng tỏ đạo Phật khác hẳn các tôn giáo mà trong đó ý niệm về "theo thử" được xem như là bất tín và phạm thượng. Theo nguyên tắc đạo Phật, một cá nhân nào đó khi muốn bứơc vào con đường thực nghiệm, phải khảo sát những nhận thức mà đạo Phật xem như là căn bản, rồi khi đã chấp nhận những nhận thức ấy thì kiểm điểm lại nguyên tắc thực hành rút ra từ những nhận thức kia. Khi đã kiểm nhận kỹ lưỡng rồi, cá nhân ấy mới bên bước vào con đường thực nghiệm với thái độ cương quyết nhưng hết sức tỉnh táo, khách quan. Nếu sự thực nghiệm không mang lại kết quả thì phải bắt đầu trở lại, và nếu quả thực phương thức đề nghị không thích hợp thì phải bỏ đi để chọn một phương thức khác. Tuy nhiên không phải người Phật tử nào cũng đi được con đường đó. Có những người mà vì căn cơ yếu đuối hơn nên phải chọn một trong những con đường thi thiết của đạo Phật; chữ thi thiết đây có nghĩa là những phương tiện thích hợp với căn tính của những người không đủ sức một mình một ngựa xông pha trên đường thực nghiệm. Và cũng vì vậy trong tám vạn bốn ngàn nẻo vào chân lý, có những nẻo để dành cho đức Tin. Giáo lý Tịnh độ chẳng hạn, là một giáo lý căn cứ trên đức Tin và thích hợp với một số người không phải nhỏ. Và số người nhờ cửa ngõ Tịnh độ để bước lên ngưỡng cửa Thiền cũng không phải là không đáng kể. Tuy nhiên vì đạo Phật luôn luôn chú trọng thực nghiệm và lý trí nên đức Tin của người Phật tử không phải là một đức tin vô điều kiện. Theo sự tiến hóa của tâm linh, đối tượng của niềm tin càng ngày càng thay đổi, biến chuyển để đi đến sáng tỏ. Và khi đối tượng của tin tưởng trở thành sáng tỏ thì chủ thể tin tưởng cũng đã trở nên vững chãi và sáng tỏ lắm rồi. Tin ở đây là một quá trình tiến bộ. Đạo Phật không phải là một nền triết học, bởi vì đạo Phật không có ý định miêu tả và giải thích thực tại bằng những hệ thống tư tưởng dựa trên căn bản suy luận và khái niệm. Đạo Phật cho rằng trên một căn bản như thế, công việc miêu tả và giải thích thực tại là một công việc không thể thực hiện được: chỉ có thể bằng thực nghiệm tâm linh, diệt trừ cố chấp, vô minh và phát triển trí tuệ bát nhã thì còn người mới trực nhận được chân lý của thực tại. Tuy nhiên, nhận định sự cấn thiết của những đồ án hướng dẫn công cuộc thực hiện trí tuệ bát nhã, đạo Phật thi thiết những giáo lý mới nhìn qua thì in tuồng như là những giải quyết có tính cách triết học nhưng kỳ thực chỉ là những phương tiện hướng dẫn, những bản đồ, những "ngón tay chỉ mặt trăng." Đạo Phật không phải là một khoa học vì đạo Phật không sử dụng cùng những khí cụ của khoa học để đi đến một cái nhìn có tính cách phân tích chi li về sự vật. Nhưng trên con đường thực nghiệm tâm linh, đạo Phật có tinh thần vô tư và tôn trọng thực nghiệm như khoa học. Khí cụ của Phật học là khả năng phản tỉnh, tham thiền, trực nhận thực tại. Nói tóm lại đạo Phật không phải là tôn giáo, không phải là triết học, không phải là khoa học nhưng trong đạo Phật ta có thể tìm thấy cả các yếu tôn giáo, triết học và khoa học. Ngoài các yếu tố đó còn có những tính chất đặc biệt của Phật học không tìm thấy trong tôn giáo, triết học và khoa học. Nói đến thực nghiệm tâm linh là nói đến nền tảng căn bản của đạo Phật. Bởi vì đạo Phật cho rằng thiếu sự tiếp xúc của con người và những nguyên lý mầu nhiệm của thực tại thì mọi hình thái của sự sống phải mang tính cách khổ đau và tàn tạ (dukkha). Thế cho nên ở thời nào thiếu chứng ngộ thiếu sự khám phá thì ở thời ấy giáo pháp suy mạt, và sự sống nghèo khổ. Nơi những con người đạt đạo, sức sống tràn trề rạt rào và thấm nhuần trong mọi sinh hoạt xã hội. Ở nơi người đạt đạo, tỏa chiếu nghệ thuật linh động của sự sống, nghệ thuật ấy soi sáng cho đường lối nhân sinh của địa phương và thời đại. Mọi sinh hoạt xã hội cần được xây dựng trên cái nhìn bao quát và khế hợp căn cơ của người đạt đạo. Cho nên đạo Phật không những chỉ là thực nghiệm tâm linh mà lại còn là sự thể hiện trên cuộc sống những nguyên lý linh động đạt tới do công trình khám phá thực tại của những thực nghiệm ấy. Những ai không có đủ điều kiện để làm nhà đạt đạo thì vẫn có diễm phúc được thừa hưởng những khám phá của nhà đạt đạo. Nhìn vào đời sống của người đạt đạo và ánh sáng chân lý tỏa rạng nơi cuộc đời ấy, mọi người biết rằng họ có thể đặt niềm tin nơi những khám phá kia và cùng nhau xây dựng nếp sinh hoạt của địa phương và thời đại họ theo sự hướng dẫn của ý thức đạo đức sống động ấy. Như thế ta thấy có hai hạng người theo đạo Phật: hạng thứ nhất, rất ít, gồm những người tự dấn thân vào con đường khám phá, và hạng thứ hai rất đông, thừa hưởng những khám phá ấy để xây dựng sự sống. Ta cũng nên nhớ rằng sự khám phá phải được liên tục thực hiện bởi vì thực tại thì linh động và xã hội thì luôn luôn biến chuyển: những khám phá cũ có khi không còn thích hợp với xã hội mới. Đức tin của con người nơi sự khám phá của những người đạt đạo - trong đó có đức Phật - tuy cũng là đức tin nhưng quả thật không giống với đức tin có tính cách rủi may của rất nhiều tôn giáo khác. Nó được hình thành bởi nhận xét ít nhiều có tính cách thực nghiệm, và trong đó yếu tố lý trí đóng một vai trò quan trọng. Để hiểu rõ thêm về bản chất của đức tin trong đạo Phật, ta nên đọc lại đoạn này trong kinh Kalama. Một hôm, các vị hoàng tử xứ Kalama đến bạch Phật: "Thưa Ngài, trong khi các vị đệ tử dòng họ Thích cho rằng giáo lý của Phật là đúng. Vậy thì các nhà truyền giáo khác cũng cho rằng giáo lý của họ là đúng. Vậy chúng tôi biết nghe ai ?." Phật trả lời: "Này các hoàng tử Kalama, đừng vội công nhận một điều gì dù điều đó là điều người ta hay nói. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều ấy phù hợp với nội giáo. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều đó mình rất ưa thích. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều đó phù hợp với chủ trương của mình. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều ấy do một người có uy tín nói ra. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều ấy được nhiều người đáng kính trọng tuyên bố." "Này các hoàng tử Kalama, khi nào các ông nhận biết bằng lý trí các ông rằng một cái gì đó là bất thiện, là đang chê trách, là bị kẻ thức giả phủ nhận, và nếu đem cái ấy ra mà công nhận và thực hành theo thì sẽ mua lấy đau khổ và tan nát thì các ông hãy bác bỏ nó đi." "Và khi nào các ông nhận biết rằng lý trí các ông rằng một cái gì đó là thiện, là Ðức Phật Là Bậc Thầy Các Nhà Khoa Học Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn. Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Từ chỗ giác ngộ này, đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh. Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm. Về vũ trụ - Ðức Phật ra đời trên sáu thế kỷ trước công nguyên, còn các nhà khoa học được biết đến, mới có từ thế kỷ thứ 18 sau công nguyên. Thế mà ở thời kỳ ấy, đức Phật nhìn trong vũ trụ thấy thế giới không thể kể hết, nên trong kinh thuộc Hán tạng có những câu "Hằng hà sa số thế giới", nghĩa là thế giới nhiều như cát sông Hằng (Ganges), hoặc câu "vi trần sát" nghĩa là cõi nước (sát) nhiều như nhũng hạt vi trần. Ðến nay các nhà thiên văn học nhờ viễn vọng kính nhìn thấy trong bầu hư không có không biết cơ man là thế giới. Vô số ngôi sao lấp lánh hiện trên nền trời trong lúc ban đêm, mà mắt chúng ta nhìn thấy được; là những hành tinh (thế giới), còn không biết có bao nhiêu hành tinh khác quá xa mắt không thể nhìn thấy được. Chính đây là bằng chứng cụ thể, nhờ khoa học giúp chúng ta hiểu được lời Phật dậy cách đây trên 25 thế kỷ: Lại nữa, có lần Ðức Phật cùng các thầy tỳ kheo đi vào rừng, nhìn thấy những lá rơi lả tả và những lá vàng uá sắp về cành, đồng thời có nhũng chòi non vừa nẩy lộc và những mầm vừa nhú khỏi vỏ cây, Ngài dạy các Tỳ Kheo: Thế giới đang hoại, sắp hoại và đang thành cũng như lá cây trong rừng đang rụng, sắp rụng và đang nẩy chồi, sắp nẩy chồi".Vì thế, đức Phật thường dạy thế giới có bốn thời :Thành, trụ, hoại, không." Ngày nay các nhà khoa học cũng thừa nhận thế giới phải trải qua bốn thời kỳ như thế. Ðây là cái nhìn thích hợp giữa Phật học và khoa học mà cách cách nhau thời gian qúa xa. Về vạn vật - Vạn vật sinh thành và hoại diệt trên đời, dưới con mắt trí tuệ của đức Phật đều do "duyên khởi". Duyên khởi là nhân duyên sinh khởi, không có một vật nào hình thành mà không do các duyên nhóm họp. Nếu nói sự vật ngẫu nhiên tự thành, hoặc có bàn tay mầu nhiệm nào tạo dựng đều không đúng sự thật. Ðức Phật xác nhận vạn vật do nhân duyên tụ họp thì thành, nhân duyên ly tán thì hoại. Sự thành hoại cuả vạn vật đều do duyên, là chỗ thấy như thật của đức Phật. Bởi thế trong kinh Phật thường dạy "Các pháp do duyên khởi, không có thực thể, các pháp do duyên khởi, không có cố định". Không có thực thể là thuyết "vô ngã". Không có cố định là thuyết "vô thường", mà trong kinh thường nói "chư hành vô thường, chư pháp vô ngã". Không khi nào có một nhân đơn thuần thành hình một vật, cũng không khi nào có sự bất ngờ sinh ra một vật, mà phải đủ duyên mới thành. Vì vậy đức Phật không chấp nhận thuyết "nhất nhân" và thuyết "vô nhân". Với sự thực này, ngày nay khoa học đã làm sáng tỏ, chúng ta không còn gì phải nghi ngại. Hơn nữa, trước mắt chúng ta thấy vô vàn sự vật, nếu đem ra phân tích đều do nhân duyên hợp thành, không có vật nào tự thành hay do một cái gì đó làm thành. Sự thật hiển nhiên này càng làm sáng tỏ lời đức Phật dạy. Chúng ta thấy rõ Phật học và khoa học tuy thời gian cách xa mà không có giới tuyến ngăn cách. Về con người - Khi Phật còn tại thế, Ngài nhìn trong bát nước thấy vô số vi trùng, trong kinh Hán tạng có câu "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng" Nghĩa là Phật nhìn trong bát nước thấy tám muôn ngàn (84000) vi trùng. Ngày nay nhờ kính hiển vi, các nhà khoa học thấy trong nước có nhiều vi trùng. Lại nữa, Phật nhìn thấy trong thân người thấy vô số vi trùng, trong Hán tạng có câu "nhơn thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú" Nghĩa là trong thân người có vô số vi trùng đang trú ẩn bên trong. Ðiều này ngày nay chúng ta chỉ cần có chút ít kiến thức khoa học là không còn nghi ngờ gì nữa. Nghiệp lực - Nếu không có một đấng nào an bày, muôn vật làm sao được sanh thành, hoại diệt và sinh hoạt trong một trật tự nhất định? Nhà Phật nói "do sức nghiệp thúc đẩy và thu hút mọi vật hình thành, khi mãn nghiệp thì hoại diệt. Cũng như do động lực của nghiệp nên mọi vật sinh hoạt trong một trật tự nhất định" Nghiệp là động lực lôi cuốn các duyên tụ họp lại thành hình sự vật; khi sức nghiệp mãn các duyên ly tán thì sự vật hoại diệt. Nghiệp có khả năng cuốn hút sự vật quay cuồng trong quĩ đạo nhất định. Ngày nay các nhà khoa học đã nói do sức quay và sức hút của mọi vật trong vũ trụ, các hành tinh trong bầu vũ trụ hoặc lớn hoặc nhỏ đều quay cuồng trong hư không và trong một quỹ đạo nhất định. Cho đến nhỏ như một hạt nguyên tử cũng quay cuồng và xoắn chặt vào nhau mà thành hình muôn vật. Ðộng lực quay và hút này do nghiệp lực tạo nên. Nghiệp là đông lực lôi cuốn theo thói quen, đồng thời cảm ứng với vật khác đồng tính nên bị thu hút. Do nghiệp chi phối nên con người và muôn vật trên thế gian được thành hình và sinh hoạt trong một phạm vi nhất định nào đó, khi sức nghiệp mãn con người và muôn vật theo đó hoại diệt. Song nghiệp có thể chuyển đổi được, không phải cứng nhắc cố định, vì nó là động lực. Tuy nhiên thuyết nghiệp báo luân hồi đã có trước thời đức Phật, xuất phát từ các kinh Phệ Ðà (Véda); song với tinh thần tôn trọng chân lý, đức Phật xét thấy đúng sự thật liền ứng dụng đem dậy đệ tử tu hành. Trong đó, đức Phật có sửa đổi những phần lệch lạc theo quan niệm Bà la Môn giáo để lý thuyết này được hoàn chỉnh hơn. Vì vậy, ngày nay mọi người đều thừa nhận thuyết nghiệp báo luân hồi là của đạo Phật. Ðạo Phật đặt trọng tâm ở con người - Chỗ thấy biết của đức Phật đúng sự thật, hợp chân lý, nên trải qua thời gian dài mà không sai chạy hay lạc hậu. Ðức Phật không dùng cái thấy biết tuyệt vời ấy để phân tích ngoại cảnh, sử dụng ngoại cảnh phục vụ con người. Ngài chỉ dùng cái thấy ấy biết ấy để soi sáng thẳng vào con người, để thấy biết con người tường tận từ thể xác lẫn tinh thần. Biết rõ con người rồi, đức Phật dạy cách sống đúng tư cách con người, đồng thời chuyển hoá thân tâm đẻ được an lạc trong hiện tại và mãi sau kia. Có lần đức Phật cùng các thầy Tỳ kheo đi vào rừng Simma, Ngài dùng tay nắm một nắm lá cây đưa lên hỏi các thầy Tỳ kheo" "Lá cây trong tay ta nhiều hay lá lá cây trong từng nhiều?" Các thầy Tỳ kheo thưa :"Lá cây trong tay Thế Tôn rất ít so với lá cây trong rừng" Ðức Phật dạy "Cũng thế, cho ta thấy biết nhiều như lá cây trong rừng, những điều ta dạy các ông ít như lá cây trong nắm tay ta" Ðiều này khiến chúng ta thấy rõ, dù việc ấy đúng sự thật mà không cần thiết cho sự đào tạo xây dựng con người được an vui hạnh phúc hiện tại và mai sau, Phật vẫn không đem ra chỉ dạy. Phật chỉ dạy những điều cấp thiết để giải quyết mọi khổ đau cho kiếp sống con người. Vì tuổi thọ con người quá ngắn (60--70 năm) không đủ thì giờ để học hiểu hết mọi điều trên thế gian này. Phần hệ trọng nhất nơi con người là tinh thần. Tinh thần sai sử thể xác tạo thành nghiệp lành nghiệp dữ, cảm thọ quả khổ, vui ở hiện tại và vị lai. Cho nên bao nhiêu lời khuyên răn của Phật đều đặt nặng sự chuyển hoá nội tâm của con người. Con người nội tâm được trong sáng thì đời sống hiện tại đầy đủ ý nghĩa, sau khi kết thúc cuộc đời mọi sự sáng trong tươi đẹp đang sẵn sàng chờ chực. Ðây là trọng tâm cứu khổ chúng sinh của đức Phật Thích Ca, cũng là của đạo Phật. Ðạo Phật chủ trương giác ngộ, giải thoát, từ bi, bình đẳng - Ðức Phật do giác ngộ nên thành Phật, suốt đời giáo hoá của Ngài cũng lấy giác ngộ làm trọng tâm. Người tu Phật mà thiếu giác ngộ là không phải người đệ tử chân chính của đạo Phật. Khổ đau gốc từ vô minh, muốn hết khổ đau phải dứt sạch vô minh. Chỉ có ánh sáng giác ngộ mới dẹp tan được màn vô minh, ngoài giác ngộ ra không còn cách nào dẹp được vô minh. Như chỉ có ánh sáng mới dẹp được bóng tối, ngoài ánh sáng không có cái gì dẹp được bóng tối. Vô minh không tan thì đayu khổ làm sao hết được. Vì thế, phương pháp duy nhất để cứu khổ chúng sinh là giác ngộ. Ðây là nguyên nhân đạo Phật lấy giác ngộ làm chủ yếu. Nhờ giác ngộ con người mới giản trạch được điều chân lẽ ngụy, thấy rõ cái gì trói buộc, cái gì tự d, nên chọn được lối sống thích ứng lẽ thật, phù hợp với tinh thần tự do. Tự do đây không có nghĩa đòi hỏi bên ngoài, nơi kẻ khác mà tụ chiến thắng những dục vọng đê hèn của mình, hàng phục được vọng tưởng điên đảo của nội tâm. Ðúng với câu đức Phật dạy: Thắng một vạn quân không bằng thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt". Tinh thần tự do của đạo Phật là làm chủ toàn vẹn thể xác lẫn tinh thần của chính mình. Ðó là tự do tuyệt đối, cũng là giải thoát của Phật dạy. Ðem vui và giải khổ cho chúng sanh là lòng từ bi của đạo Phật. Muốn cho mọi người hết khổ được vui, tu sĩ Phật Giáo lúc nào cũng đưa cao ngọn đuốc chánh pháp cho mọi người mồi, để cùng thắp sáng trong căn nhà tăm tối muôn đời của mình. Bản thân mình, người tu sĩ phải chiến thắng phiền não để làm mẫu mực và chỉ dạy người dẹp trừ phiền não. Vô số khổ đau của chúng sanh đều phát xuất từ si mê và phiền não. Thiếu thốn vật chất là đau khổ đã đành, có khi thừa mứa vật chất người ta vẫn đau khổ như thường. Cho nên trí tuệ là hòn ngọc quý để đổi lấy của cải và sự nghiệp, trí tuệ là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta tránh khỏi lạc lối lầm đường. Dứt một phần phiền não, chúng ta được một phần an lạc, hoàn toàn sạch phiền não thì còn gì làm phiền lụy chúng ta. Sau khi mở sáng con mắt trí tuệ và dứt sạch phiền não, con người mới được an vui tự tại đầy đủ. Người tu sĩ Phật giáo tha thiết cứu khổ chúng sanh bằng cách tận lực chỉ dạy cho mọi người được trí tuệ và tự do. Phật giáo chỉ nhìn chúng sanh đều bình đẳng trong bản tánh, chỉ có sai khác trên nghiệp tướng. Nghiệp tướng là cái sinh diệt biến động, bản tánh chưa bao giờ sinh diệt đổi thay. Cái sanh diệt biến động là tạm bợ, đã tạm bợ dù sai khác thế mấy cũng không quan trọng. Chính cái quan trọng là bản tánh thường hằng của chúng sanh. Cho nên đức Phật thường dạy "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật", đó là lối nhìn bình đẳng của Phật giáo. Thấy thấu suốt được lẽ này, chúng ta sẽ dứt được tâm tự cao ngã mạn và không còn dám khinh thường một ai. Ðây là nền tảng đạo đức chân thật, nên Bồ tát Thường Bất Khinh thấy ai cũng nói "Tôi không dám khinh các ngài, các ngài sẽ thành Phật". Ðã sẵn có tánh Phật thì người nào tu mà chẳng được, chỉ do chưa thức tỉnh và lười nhác mà thôi. Do cái nhìn thấu suốt này, người tu theo đạo Phật không bai giờ có tâm kỳ thị với bất cứ nhóm nào, cũng không có tâm khinh khi miệt thị ai. Ðạo Phật lấy giác ngộ làm gốc rễ, lấy giải thoát làm hoa trái, lấy từ bi và bình đẳng làm nhựa sống. Bốn yếu tố này rất thiết thân với nhân loại văn minh. Bất cứ nền văn minh chân chính nào đòi hỏi con người phải có đủ trí tuệ sáng suốt, thong thả tự do, tình thương làm vơi cạn đau khổ cho con người, bình đẳng không chấp nhận giai cấp, không kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, màu da. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này, dù nói văn minh vẫn chưa thực sự văn minh. Ðứng từ góc độ này mà nhìn, chúng ta thấy đức Phật đã quả thực đi trước các nhà BÀI HỌC TỪ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT. Cuộc đời của đức Phật rất vĩ đại, vô vàn những điều hay, chúng ta không tài nào học hết được. Lý do đầu tiên là mình không thể biết hết để học. Chưa có ai dám tự nhận mình là người biết hết những điều hay của đức Phật. Chúng ta chỉ nhận biết được phần nào thôi cho nên khó học hết. Một lý do nữa là những điều được nghe, được học, được hiểu, nhưng chúng ta không dễ hiểu hết thâm ý đức Phật muốn chỉ trong đó. Và điều thứ ba, thí dụ như quý vị đang ở Đà Nẵng, làm công việc ồn ào, chưa bao giờ ra cảnh núi rừng thanh vắng như thế này thì chúng ta không thể nào hình dung ra hay cảm nhận được cảm giác thanh tịnh giống như mấy hôm mình đã ở lại đây. Chỉ có ai ra đến đây rồi thì mới cảm nhận hết được. Cũng thế, nếu chưa ở trong cảnh giới của Phật thì chúng ta sẽ không thể thấy hết để học theo. Chỉ có Phật mới biết đến cảnh giới Phật. Nếu chưa như thế thì không dễ hiểu thấu hết thâm ý của Phật, cho nên khó học hết những điều hay từ đức Phật. Chừng nào chưa thành Phật, ngày đó chúng ta chưa thể học hết những bài học từ cuộc đời đức Phật muốn dạy mình. Mới biết, bài học từ cuộc đời đức Phật rất lớn lao. Cho nên hôm nay trong phạm vi hạn hẹp, chúng ta chỉ học những bài học gần gũi, bình dị, vừa sức chúng ta có thể hiểu biết, cảm nhận và ứng dụng được. 1. Duy ngã độc tôn. Có lẽ phần đông quý vị có hiểu biết về lịch sử cuộc đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho nên quý Thầy không nhắc lại. Chỉ ôn sơ qua một vài điểm để chúng ta học theo thôi. Ngài là một vị thái tử tên Tất-đạt-đa, hay còn gọi là Sĩ-đạt-ta, có nghĩa là “người được toại nguyện”. Vì qua bao nhiêu mong mỏi, vua Tịnh Phạn mới có được một vị thái tử duy nhất, Vua rất quý cho nên nhân đó đặt tên. Vừa mới ra đời, Thái tử đi trên bảy hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói: Thiên thượng, thiên hạ, Duy ngã độc tôn. Nhất thiết thế gian, Sanh, lão, bệnh, tử. Nghĩa là “Trên trời, dưới trời, chỉ ta là hơn hết. Tất cả thế gian đều bị chi phối bởi sanh, già, bệnh và chết”. “Chỉ ta hơn hết”, chữ TA không phải là cái ngã thể sanh diệt, không phải là cái thân tứ đại này, mà chữ TA ở đây là trí giác, là Phật tâm, là sự giác ngộ. Khi vừa ra đời, điều đầu tiên Ngài tuyên bố cho mọi người biết, trên trời, dưới trời, chỉ có con người giác ngộ, chỉ có sự giác ngộ là trên hết. Ngoài ra, tất cả những thứ khác chỉ thuộc về sanh, già, bệnh, chết, tức là chỉ thuộc về vô thường, biến hoại, không thật, không có gì đáng trân quý. Cụ thể hơn, lìa sự giác ngộ thì làm gì cũng rơi vào vô thường, biến hoại, huyễn hóa. Có lần, quý Thầy gặp một anh nọ bảo rằng: “Sanh ra trên đời, ai cũng có một lý tưởng riêng và lý tưởng nào cũng tốt.” Tất cả chúng ta đều có lý tưởng riêng và mỗi lý tưởng đều có mặt tốt của nó. Nhưng nếu nói tất cả đều tốt thì có vẻ chung chung nên quý Thầy chưa hài lòng lắm. Chúng ta cần phải trắc nghiệm, kiểm tra lại lý tưởng sống của mình để không bị nhầm. Cụ thể mỗi một chúng ta đều có quyền chọn cho mình một lý tưởng sống và hằng ngày chúng ta đang sống với lý tưởng đó. Nhưng lý tưởng đó nó có đủ lớn để bảo kê cho cuộc đời mình hay không? Điều này quý vị có thể kiểm nghiệm qua ba trường hợp: 1/ Khi gặp một điều vui, trong lòng quý vị có được vẫn bình thường như không có chuyện gì xảy ra hay không? Nếu vẫn bình thường thì lý tưởng sống nó mới đủ lớn để bảo kê cho mình được. Bởi lẽ khi vui quá là không bình thường, là động tâm. Mà tâm động thì chúng ta sẽ yếu. Tâm yếu thì dễ bị chi phối, không tự chủ, đưa đến khổ đau. Còn đưa đến khổ đau thì lý tưởng ấy chưa bảo vệ cho mình được. Ví dụ chúng ta đang hào hứng, hăng say với một công việc nào đó mình cho là quan trọng, là hay. Bỗng dưng có ai đó phản bác, chặn lại, làm ngược đi với những ý tưởng của mình, chúng ta sẽ bất mãn, bực bội, bỏ cuộc. Ngược lại, cũng một công việc đó, nhưng mình làm trong an tỉnh. Nhỡ có ai đó chặn lại, chúng ta sẽ bình tỉnh, tìm cách thuyết phục, vượt qua, phương án ấy sẽ được khả thi, đưa đến thành công tốt đẹp. Như vậy, hào hứng, hăng say nó chỉ được một chiều. Nhưng vì là tướng động nên làm cho mình yếu, không đủ sức để vượt qua chướng ngại. An tỉnh mới đủ sức vượt qua những thử thách rào cản trong cuộc sống. Cũng thế, gặp cảnh vui mà chúng ta vui được thì đó là động tâm. Lâu ngày tâm động này thành thói quen, thành sức mạnh cho nên khi gặp cảnh khổ chúng ta cũng không tự chủ được và cũng sẽ khổ não. Bởi vậy khi gặp cảnh vui mà chúng ta động tâm vui được thì khi buồn chúng ta cũng sẽ động tâm và buồn được, các khổ từ đó có ra. Nếu người sống với một lý tưởng nào đó mà khi gặp chuyện vui họ vẫn bình thường, vui một cách nhẹ nhàng, lặng lẽ, tâm mình không động. Chính năng lực không động này cho ta một sức giác rất lớn, các khổ não không còn giá trị, chúng ta luôn được an vui. Chính lý tưởng giác ngộ đó sẽ đủ tư cách chuẩn xác, bảo kê cho đời mình không bị khổ. 2/ Thứ hai, lý tưởng chúng ta sống làm sao phải đủ sức, khi gặp cảnh khổ, chúng ta vẫn bình thường không khổ, hay ít khổ, không khổ nhiều đến nỗi quá sức chịu đựng. Được vậy, lý tưởng ấy mới có lợi ích, mới đủ tư cách bảo kê cho mình được. Ví dụ sáng sớm thức dậy gặp chuyện không như ý. Lên công sở thì gặp việc bực bội. Một lúc sau lại gặp chuyện không vui, rồi những chuyện vớ vẩn đâu đâu nó lại ùa đến làm mình khó chịu. Một lúc mình bị đụng một chút, cho đến chiều thì chúng ta sẽ bị căng thẳng, bức rức, yếu mỏi vô cùng. Khi mỏi mệt thì tâm mình càng trở nên suy yếu, càng gia tăng sự căng thẳng và bực bội. Càng căng thẳng, bực bội thì lại tâm mình lại càng bị suy yếu đi. Cứ như thế nỗi bực bội mỗi lúc một lớn và đưa đến khổ đau. Nếu vừa có một niệm khó chịu, chúng ta chấn chỉnh ngay thì tâm mình sẽ trở lại trạng thái an ổn ban đầu, điều khó chịu thứ hai, thứ ba không có chỗ tiếp nối, chúng ta được an tịnh. Như vậy không ai, không điều gì có thể làm cho mình khổ đau được. Ngay một niệm đầu đó chúng ta soi lại, hóa giải thì tâm mình trở nên an tĩnh, sức giác từ đó có ra. Theo thời gian sức giác ngộ này lớn mạnh, các khổ tự nhiên được tiêu trừ, chúng ta được an vui mãi mãi. Cho thấy, chính sức giác ngộ này là một lý tưởng đủ lớn để bảo vệ cho mình an vui miên viễn được. 3/ Và tiêu chí cuối cùng là lý tưởng sống suốt cả đời đó làm sao để khi chúng ta nhắm mắt lìa đời, mình cảm thấy bình thường, ổn định, không có gì xao xuyến, lo âu, hoang mang hay sợ hãi... Nói như thế không phải sống để chờ chết, để phục vụ cho cái chết. Nhưng vì chết là một điều ai cũng cảm thấy lớn lao và sợ sệt, cho nên đem nó ra để đo lường với lý tưởng của mình xem, lý tưởng ấy đã đủ lớn để làm chủ được sự sống chết hay chưa. Với sự giác ngộ, chư Phật, chư vị Tổ sư, các vị tiền bối đã minh chứng hùng hồn cho một sự ra đi an nhiên, tự tại. Mới thấy, sức giác ngộ lớn lao đến dường nào! Nếu một lý tưởng ổn định, đủ lớn để bảo kê được ba tiêu chí trên thì quý vị đã chọn được cho mình một lý tưởng đúng, chuẩn xác. Ngược lại, nếu chọn một lối sống mà khi gặp ba sự việc trên, chúng ta còn bị nó chi phối thì lý tưởng kia không bảo kê được cho mình. Đó là chúng ta đã chọn một lối sống không thiết thực có lợi, là một lý tưởng chưa được xác đáng. Khi người con muốn xin một điều gì đó ở bố mẹ, chúng thường nhìn nét mặt, ánh mắt bố mẹ hôm đó được vui không. Nếu đang vui thì biết lòng đang an ổn, sẽ sẵn sàng cho. Một buổi sáng thức dậy với một tâm thái an ổn, nhẹ nhàng thì mọi việc hanh thông. Sự việc có đến như thế nào mình cũng cảm thấy bình thường và giải quyết rất trôi chảy. Ngược lại, bằng một tâm thái không ổn định, bấn loạn, bực bội thì gặp điều gì cũng dễ bực, làm gì hỏng đấy. Mới thấy tâm thái lặng lẽ ấy cần thiết cho cuộc sống của chúng ta như thế nào. Giác ngộ là tâm thái tự lắng sáng một cách tuyệt đối. Người luôn sống bằng tâm giác sáng, lặng lẽ, không động đó là người giác ngộ. Người ấy sẽ có một nguồn an lạc vô biên. Sống bằng tâm giác đó thì nó đủ lớn để tất cả cảnh trở nên bình thường, không còn đủ sức chi phối con người giác ngộ ấy. Mới thấy, sự giác ngộ là trên hết. Đó là tinh thần đức Phật đã nói: “Duy ngã độc tôn.” 1/ Với cảnh vui: Nếu hằng ngày, ở mọi hành động quý vị luôn luôn sống bằng tâm phẳng lặng, giác sáng, không manh động quá. Lâu ngày tập thành thói quen, tự nó sẽ tạo thành một nguồn năng lượng vô hình, tạo nên sức mạnh cần thiết. Khi gặp cảnh vui, chúng ta cũng không dễ động. Ngay khi không động thì người mình vững vàng, sáng suốt, tỉnh tại, lạc an, tươi vui. Từ đó nhìn cái gì cũng tươi mát, tâm mình rộng hơn, nhìn ai cũng bằng tâm cởi mở, dễ cho ra hơn... Điều đó đã minh chứng được một lý tưởng sống đã phục vụ tốt cho mình và người, là một lý tưởng đúng nghĩa. 2/ Với cảnh khổ: Cũng sống bằng tâm phẳng lặng, giác sáng, an lạc vô biên đó. Khi gặp cảnh khổ, cảnh trái ý nghịch lòng, tất cả cảnh ấy không đủ lớn để làm cho chúng ta khổ được. Vậy là sự giác ngộ đã bảo kê được cho mình rồi. 3/ Với cái chết: Trong bất cứ trường hợp nào, ở bất cứ nơi đâu, chúng ta luôn luôn sống bằng tâm lặng lẽ, giác sáng, an vui suốt cả một đời như vậy. Cho đến khi sắp nhắm mắt lìa đời, sức sống ấy rất lớn, bỗng dưng chúng ta cảm thấy chuyện sống chết rất bình thường, cái chết không còn đủ sức chi phối chúng ta nữa. Thật sự an nhiên, tĩnh tại. Nếu sức huân hằng ngày còn ít, chưa đủ mức để được như thế thì lực ấy cũng khiến chúng ta cảm thấy tỉnh sáng, an ổn. Thấy thân này không phải thật là mình, cảnh này không phải cố định của mình, cuộc sống chỉ là một khoảng gá mượn để thực hành việc giác ngộ... Khi đó tâm mình tự lặng an, sáng suốt, biết hướng đi. Mới thấy, chính sự giác ngộ đã bảo kê cho chúng ta được an ổn khi sắp lìa đời. Đảm bảo được ba điều kiện đó thì mới đúng nghĩa một lý tưởng, một điều mà ai trong đời cũng thấy cần phải hướng đến. Sống được như vậy là sức sống của một người giác ngộ. Sức sống giác ngộ ấy có giá trị vô biên cho mình và mọi người cho nên sự giác ngộ là trên hết. Đức Phật đã nói, trên trời, dưới trời, cả cõi nước này, đối với tất cả mọi thứ, chỉ có sự giác ngộ là trên hết. Ngoài ra, không giác ngộ, rời tâm giác mà sống, mà làm thì tất cả chỉ là rơi vào sanh diệt, vô thường, không đưa đến một cuộc sống chắc chắn an lạc, an toàn, an vui tuyệt đối. Đó là điều rất trọng yếu, khi vừa ra đời đức Phật đã tuyên bố, đã nói cho chúng ta nhận biết trước để hướng đến. Đó là cái chính yếu, cái gốc. Nếu học được, nắm bắt và sống được ngay cái gốc này thì mọi việc đã được hoàn thành. Nếu chưa như thế thì đức Phật chỉ từng bước cho chúng ta nhận thấy. Khi lớn lên, ngài là người văn võ song toàn. Những lúc ra khỏi hoàng thành, chứng kiến bốn cảnh sanh, già, bệnh, chết, thái tử ý thức sâu sắc về lẽ vô thường, về nỗi khổ kiếp người nên đã phát chí hướng thượng, phát tâm xuất gia. 2. Sự sống là khổ. Một lần đi xem lễ hạ điền, thái tử ngồi dưới tán cây nhìn các nông dân cày ruộng. Khi cày đất lên, côn trùng bò lúc nhúc, chim chóc sà xuống gắp ăn. Thấy vậy, thái tử tư duy, thấm nghiệm, cảm nhận, thấy ra được một sự thật. Con này sống từ sự chết chóc đau đớn của con kia. Con này được một miếng ngon thì con kia phải mất mạng, phải đau đớn vô kể. Sự sống con này là cái chết của con kia, cho nên Ngài thấy sự sống quá là đau khổ. Cùng trước cảnh ấy, nếu chúng ta lăng xăng, lộn xộn, tâm thái đang loạn động thì khó thấy ra, khó thấm nghiệm và giác ngộ được như Ngài. Huống chi với một tâm quá thô tháo, không được hiền thiện, chính mình làm những việc ăn sống uống tươi thì làm sao, biết bao giờ mới có được cảm nhận đó! Bằng tâm tĩnh lặng, với tâm từ bi nên ngài thấy rõ và thương cho những con bị chết lẫn con sống. Ngài ý thức rằng, sự sống là khổ cho nên nói sanh là khổ. Ngày xưa, quan niệm ăn chay chưa có. Nhưng khi thấy cảnh con này ăn con kia thì thái tử đã thấy thương tâm, đã thấy là tạo khổ đau cho nhau rồi. Bây giờ tinh thần ăn chay đã được mọi người biết đến rất rộng rãi, nhiều người thích ăn chay. Thế nhưng vẫn có không ít người không chấp nhận việc ăn chay. Có người vẫn nói “vật dưỡng nhân”, con vật sanh ra để phục vụ mình, cho mình ăn chứ việc gì phải ăn chay. Cái nhìn như thế là chưa đồng cảm với mọi loài, là trái chiều với cái nhìn của thái tử xưa kia. Khi thấy con chim ăn côn trùng là thái đã thương tâm rồi. Chúng ta đi ăn tươi nuốt sống những con vật mà không hề biết đến sự đau đớn của nó, còn nói động vật dưỡng nhân, vậy là chúng ta khá ích kỷ, từ tâm của mình còn bị khuất lấp. Nếu thực sự con vật sinh ra để nuôi dưỡng chúng ta thì con gà, con heo... nó sẽ tự nguyện đến mời chúng ta làm thịt nó để ăn. Nhưng trên thực tế có con gà, con heo nào tự nguyện chạy tới nói, tôi sinh ra để phụng dưỡng con người, quý vị cứ giết tôi mà ăn đi, có con nào đến nói với chúng ta như vậy không? Hay quý vị bắt để làm thịt thì nó la thất thanh? Chúng ta rượt bắt thì nó hoảng sợ và chạy trốn? Sợ tức là sợ đau. Nó không sẵn sàng cho mình làm thịt, nhưng mình lại cưỡng bức giết nó để mình được ăn. Vậy là chúng ta bức ép nó chứ có con vật nào tự nguyện cho chúng ta giết đâu mà bảo là nó sinh ra để nuôi dưỡng mình! Nếu nói vật dưỡng nhân là đúng thì quý Thầy sẽ nói “nhân dưỡng hổ”, tức là con người sinh ra để con cọp nó ăn. Vậy có quý vị nào tình nguyện đến trước miệng hổ để nó có một bữa ngon miệng no nê không? Hay nghe nói đã sợ, thấy con cọp sổng chuồng đã lo chạy trốn bán mạng? Gặp cọp chúng ta hoảng sợ bỏ chạy như thế nào thì con gà, con heo, con vịt thấy chúng ta cầm cái dao, nó cũng hoảng sợ và bỏ chạy như thế. Tỉnh táo một chút, sáng suốt một chút, mạnh mẽ một chút để nhìn lại cho trung thực thì sẽ thấy, khi bị đâm mổ, mình bị đớn đau, sợ hãi như thế nào thì con vật nó cũng bị đớn đau, hốt hoảng như thế ấy. Chúng ta không nỡ vì mình mà để cho nó phải khổ đau, cho nên không nỡ giết nó. Nghĩ được như vậy thì lòng từ bi của mình được phát triển, cho nên ăn chay để tăng trưởng lòng từ bi là vậy. Ngoài ra, không giết chóc thì không mắc nợ mạng sống, không bị bệnh hiểm nghèo, chết yểu hay đớn đau. Ngày trước chưa biết ăn chay, quý vị có thể giết heo, mổ trâu, làm gà, làm vịt... Đủ duyên đi chùa, ăn chay, sống đời hiền thiện, tu tập. Thời gian sau tình cờ thấy ai đó mổ gà thì mình cảm thấy khó chịu, không nhìn được. Nghe kể những chuyện đâm trâu giết bò, chúng ta cảm thấy ghê tởm, kinh khủng, khó chịu... Quý thầy khuyên không nên đập muỗi, giết kiến... như thế sẽ mắc nợ thân mạng sống của nó, bị quả báo không tốt. Tập lâu thành quen, một thời gian sau nhỡ có muỗi cắn, quý vị thấy thương nó, tội cho nó và không nỡ đập nó. Tương tự, nhỡ đạp một con kiến mình cũng cảm thấy bất nhẫn quá. Ngày trước còn ở Trúc Lâm Đà Lạt, khi đi làm công tác chung, quý Thầy kéo chiếc xe bò (xe cộ) vô tình cán vào cây thông con bên lề đường. Hòa Thượng Tôn sư nói “Sao mà mấy chú bất nhẫn như vậy. Cây thông đang sống như vậy mà không tránh ra, lại nhẫn tâm cán lên cho nó chết”. Hòa Thượng tôn sư thì thương đến cả cây thông con. Còn chúng ta có khi con người với nhau vẫn còn thương nhau không nổi. Như thế, lòng từ bi của mình lớn được bao nhiêu? Chỉ có tỉnh táo, soi xét lại thì chúng ta mới học hết hạnh giác ngộ của các Ngài. Đến một cây thông con Hòa thượng tôn sư cũng thấy tội nghiệp, không nở làm tổn thương nó. Ngày xưa có khi mình cũng giết gà, giết vịt. Nhưng tu tập thời gian thì chúng ta cảm thấy thương cho chúng sanh, không nỡ đập muỗi hay đụng đến con kiến. Mới thấy, khi yên tĩnh, ăn chay, tu tập thiện tâm lâu ngày thành quen rồi thì tự nhiên chúng ta không làm được những việc xấu ác. Đó là dấu hiệu cho thấy thiện căn của chúng ta đã được tăng trưởng. Thiện căn tăng trưởng thì chắc chắn chúng ta sẽ được đi trên con đường an lành, an ổn. Nếu không khéo tu tập thì ác pháp tăng trưởng, đưa đến con đường xấu ác và phải bị khổ não thôi. Nếu biết soi xét lại mình, khéo léo sửa đổi từ những hành vi nhỏ nhặt của mình, sự tu tập sẽ có hiệu quả rõ rệt. Một sự chiêm nghiệm nữa cũng dễ thấy lắm. Xưa kia mới lớn lên, chưa được học đạo, chưa biết ăn chay, chúng ta ăn mặn, có khi ăn cả những món máu me tươi sống. Nhưng khi biết học đạo, ăn chay lâu ngày rồi, hôm nào ai đó dọn cái chén ăn mặn mà rửa không sạch, chúng ta nghe mùi tanh thấy không dễ chịu chút nào. Lịch sự nín hơi để ăn cho hết bữa, nhưng và cơm vào miệng là tự nó muốn ói ra ngoài. Nghe giết súc vật, tự nhiên mình cảm thấy khó chịu. Nghe đến đồ mặn là đã cảm thấy rùng rợn. Nhưng nếu hồi còn ăn mặn, máu tanh tươi sống chúng ta cũng uống được nữa. Mới thấy, ăn chay sẽ làm cho tâm từ và căn lành của chúng ta tăng trưởng một cách rõ ràng. Tâm từ tăng trưởng, thiện pháp tăng trưởng thì chắc chắn chúng ta sẽ được an ổn. Sống được an ổn, vui tươi thì chết cũng sẽ được an vui. Đó là điều nghiễm nhiên, chắc chắn, thấy được, không nhọc ai phải cầu nguyện cho mình nữa. Rất rõ ràng! Mặt khác, có nhiều người cho rằng ăn chay sẽ suy dinh dưỡng, không thông minh. Ở Nhật, người ta nuôi hai con chó để thí nghiệm. Một con cho ăn chay từ nhỏ và con kia thì ăn mặn. Khi trưởng thành, người ta thả cho hai con đấu nhau. Ban đầu con ăn mặn rất hùng hổ. Nó vồ vập, dữ tợn. Ngược lại con ăn chay thì có vẻ điềm đạm, nhẹ nhàng. Khi cắn nhau một đỗi, con ăn mặn có vẻ đuối sức, gục ngã. Còn con ăn chay thì rất dẻo dai, bền bĩ và nó chiến thắng. Như vậy, khi chúng ta ăn chay, nhìn thấy người hiền từ, nhẹ nhàng thì người khác ngỡ là yếu đuối, nhưng thật chất rất bền bĩ. Còn ăn mặn thì thấy như là mạnh bạo, nhưng chỉ là thoáng chớp rồi vụt tắt thôi chứ không thực sự mạnh mẽ. Có lúc vì cái chất tanh hôi đó nó làm cho mình nổi hung khí, cảm thấy anh hùng lắm, dám cầm dao, cầm gậy, chửi mắng, đấu tranh,... Nhưng tới khi gặp chuyện buồn chút xíu thì xìu như cọng bún thiu, sống không nỗi. Như vậy gọi là anh hùng được sao! Dám mạnh mẽ với chiến thắng thì cũng phải dám mạnh mẽ trước những thất bại, dám mạnh mẽ chấp nhận những điều mình không ưa, dám mạnh mẽ đối diện với những nỗi buồn của lòng mình nữa thì mới xứng đáng được gọi là anh hùng chứ. Đằng này khi làm ăn lời được năm bảy chục triệu thì vênh váo, anh hùng, đắc thắng, như là mạnh mẽ lắm. Khi thất trận không còn đồng xu nào thì đi đâu cũng thở ra thở vô như muốn chết cho rồi, sống không nổi. Vậy mà gọi là anh hùng được sao! Có được một số tài sản kha khá thì thích sống theo kiểu đẳng cấp. Nhưng biểu vô bếp nấu cơm hoặc đi lau chùi nhà vệ sinh thì phản ứng, ngán ngẫm, bực bội, không làm được. Một sự việc nhỏ nhoi như vậy cũng đủ cản bước của chân của mình được thì chí khí anh hùng nằm ở chỗ nào? Mới thấy, sự vồ vập, động đậy, háo thắng, hung hãn không phải là cái mạnh. Có những người là người mẹ, là chị trong gia đình lúc nào cũng điềm đạm, nhẹ nhàng, khoan thai, vui vẻ, sẵn sàng sẻ chia, xem ra như là mềm yếu. Nhưng khi anh chàng con trai anh hùng cái thế bị thất trận, buồn bã trở về nhà thì lại tìm đến mẹ mình, chị mình để tâm sự, cần mẹ và chị vỗ về, sẻ chia. Mới thấy, sự điềm đạm, nhẹ nhàng là cái dẻo dai, cái chịu đựng tốt, chỗ an toàn, vững chãi để người khác nương về chứ không phải yếu đuối. Một người mạnh mẽ thực sự là khi gặp thuận cảnh hay nghịch cảnh, lúc chiến thắng hay thất bại họ đều bình thảng, nhẹ nhàng, tươi tỉnh. Như một con chó ăn chay, tuy nhẹ nhàng nhưng nó lại được chiến thắng. Mặc khác cũng cho chúng ta thấy ra một điều nữa, sức khỏe của người ăn chay không phải thô tháo, vồ vập nhưng rất bền bĩ, dẻo dai. Kế nữa, nếu nói người ăn chay không được thông minh bằng người ăn mặn, vậy thì quý vị nhìn lại thấy quý Thầy ở đây có ai ngu dại không. Có thể quý thầy không thông minh hơn ai, nhưng hiện tại mình thông minh hơn mình lúc chưa biết tu, lúc còn ăn cá thịt. Chúng ta không nên nghe theo một chiều lý thuyết suy luận chưa được kiểm chứng mà phải nhìn vào kết quả thực tiễn. Khi thấy con này ăn con kia, con này giết chết con kia để được sống, bằng tâm tĩnh lặng, tâm từ, thái tử thấy sự sống là đau khổ. Như vậy, con chết bị đau đớn, mất mạng nên khổ đã đành, nhưng con còn sống, con được ăn nó vẫn không thoát khỏi các khổ đau. Bởi lẽ khi bị cắn giết, con chết nó chưa sẵn sàng chết cho con kia ăn. Trong cơn đớn đau mất mạng, nó rất oán hận. Ôm lòng đớn đau, căm phẩn, oán hận mà chết thì kiếp sau nó sẽ tìm cách báo thù lại. Con được ăn kia rồi cũng sẽ phải đau khổ, chứ không phải thiếu suy nghĩ, chỉ biết được ngon miệng rồi cho là an ổn đâu! Nếu không biết trông xa hiểu rộng, chỉ nhìn cái thiển cận trước mắt mà sống ẩu, làm càng rồi cho là an ổn, cuối cùng phải chịu lấy khổ đau. Chịu nhìn lại chung quanh một chút, chúng ta sẽ thấy còn khá nhiều người than vãn vì sao tôi quá khổ. Không biết rằng, khổ đó là do mình đã lỡ tạo nhiều điều không tốt từ quá khứ, hôm nay đủ duyên thành quả khổ và mình phải gánh chịu. Có người than, không biết vì sao tôi sinh con ra giống như sinh quỷ, không chịu nghe lời, phá phách đủ thứ... làm tôi khổ não, sống không nỗi với con. Thế gian có quá nhiều điều khổ đau, không thể kể hết. Đây là mẫu chuyện có thật tại Việt Nam. Có người vào chùa bạch với một vị Hòa Thượng, không biết vì sao thằng con trai của con nó phá phách quá, không nghe lời bố mẹ, quậy phá lung tung từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Đến khi lớn lên một chút thì nó còn đòi cầm dao đâm ba nó. Hằng ngày nó rất thích giết ba nó nhưng không biết vì sao như vậy. Hòa thượng bảo, quý vị nghiệm kỹ, nhớ lại coi, trước đó có tạo duyên gì nghịch không? Nếu lỡ tạo thì nên thành tâm sám hối rồi sẽ qua khỏi. Về nhà quý vị chiêm nghiệm lại một hồi, liên kết tư tưởng lại mới nhớ ra, lúc bà mẹ mang thai, trong nhà có giết chết một con chó. Có lẽ con chó này hận quá cho nên mới đầu thai lên để trả thù lại. Giống như một người đã bị giết, vì bực quá nên họ muốn trả thù, phá trở lại và lớn lên đòi giết ông già mình. Nghe lời Hòa thượng, cả nhà thành tâm sám hối, tu tập, làm các việc thiện, khởi tâm từ, không oán trách bực bội nữa. Thời gian sau, thằng con bỗng nhiên hiền hậu trở lại rồi nó bị bệnh và qua đời. Nó ra đời chỉ vì lòng uất hận muốn đòi lại cái nợ này thôi. Nhưng thấy gia đình này tu giỏi, tâm giận nó được chuyển hóa, hỷ xả, không còn uất hận, không đòi nợ nữa và nó ra đi. Cho thấy rằng, con chó bị giết chết thì nó khổ đã đành. Chúng ta là người chủ động giết nó cũng bị khổ luôn. Cứ ngỡ giết hại súc vật được một bữa ngon miệng là sung sướng, nhưng không ngờ khi bị nó đầu thai lên phá lại rồi cũng bị khổ nhiều hơn như thế nữa. Cho nên khi con này giết con kia để ăn thì con bị giết đã khổ, con được ăn đó cũng sẽ khổ về sau. Thế gian vẫn thường nói, kiến ăn cá thì cá sẽ ăn kiến. Vua Trần Thái Tông cũng dạy, hắn ăn mày, mày ăn hắn, kiếp kiếp trả nhau, đời đời thù nhau, mãi không có ngày thôi dứt. Đâu cần đợi đến kiếp sau. Trong hiện đời, quý thầy đã chứng kiến và nghe kể lại nhiều người cả đời hành nghề mổ trâu, giết bò, mổ heo... Đến khi cuối đời đau đớn dữ dội, la ó như con trâu bò hoặc heo đang bị thọc huyết, nằm treo hai chân lên cửa sổ mà không chết được. Có người tư vấn, một người trong nhà đặt cái chậu bên dưới và đặt con dao ngang cổ người bệnh để tượng trưng như đang cắt cổ hứng máu thì người kia mới chết được. Báo ứng, nổi khổ ai cũng trông thấy rõ ràng, tại sao vì sự sống của mình để cho kẻ khác phải chết như vậy mà không hay biết. Sống như thế sẽ đưa đến khổ đau cho cả hai. Cho nên trước cảnh đó, thái tử đã thấm nghiệm và thấy rõ rằng, sự sống là khổ. Khi đã thấm sâu điều đó, Ngài không còn yên lòng để sống một cuộc đời thụ hưởng trong cung thành nữa và bắt đầu nhen nhúm ý chí muốn phát tâm xuất trần. Ở đây chúng ta đã học được bài học, sự sống là khổ. Trước mọi hoàn cảnh, nếu bình tâm, tỉnh trí, quán xét thì chúng ta sẽ thấy ra được nhiều điều. 3. Già là khổ. Cảnh thứ hai, một lần đi ra khỏi cổng thành, thái tử thấy một người già khô gầy, dung nhan tiều tụy, khí lực yếu ớt, mọi thứ không còn gì cả, chỉ còn một nỗi khổ đau chồng chất. Thái tử quán xét và ý thức sâu sắc, rồi đây mình cũng sẽ già nua, yếu ớt và tàn tạ như vậy. Càng chiêm nghiệm, càng thấm thía sâu sắc, ngài không còn tâm trạng an ổn để sống trong hoàng cung nữa, nuôi chí xuất trần, cứu khổ. Hằng ngày chung quanh mình, không thiếu những người già nua yếu đuối như thế. Nhưng phần đông chúng ta ít ai nghĩ đến có ngày mình cũng sẽ già, hoặc thấy đó như một sự nghiễm nhiên nên ý chí xuất trần còn yếu hoặc chưa có. Không chỉ như vậy, có khi thấy người già rù rờ chậm chạp, bỏ trước quên sau, ăn nói không chuẩn, đau ốm không yên..., chúng ta không có sự cảm thông, kính mến, còn cảm thấy chán ngán, bực bội, chê bai đủ thứ, mất hết tính người. Cho nên quý cụ già mới có bài thơ tự than vãn mình: Rù rờ đổ vỡ thiệt là hư Chẳng biết mần răng được nữa chừ! Ăn uống vãi rơi làm họ bực Vào ra đụng chạm thấy mình dư. Người thân gặp lại chừng quên hết Bỏ trước, quên sau kiếm mệt đừ. Ai ngỡ ngày nay ra thế ấy Xưa kia lỗi lạc một tay cừ! Thấy người già mà không biết soi xét lại để biết mình rồi cũng sẽ già, để có sự thâm cảm mà còn khinh thường, chê bai, đó là chúng ta chưa có được cái nhìn như Phật. Thấy người khác già thì biết rằng, rồi mình cũng sẽ già, từ đó có sự cảm thông sâu sắc với người già yếu, tôn trọng, kính mến, quan tâm giúp đỡ. Đồng thời quyết tâm sống và tu tập để thoát khỏi sự chi phối khổ sở của tuổi già. Đó là cái nhìn của người tỉnh giác, có trí tuệ. Ngược lại, hằng ngày chung quanh mình luôn gặp những người già, nhưng thấy như là việc của người khác, còn mình thì không nhớ là sẽ già, cho nên không có sự thông cảm, thương yêu, kính trọng mà còn bực bội, chê bai. Đó là cái nhìn hời hợt, không tỉnh táo, sáng suốt, là người mê. Nhưng mà giác hay mê là do chúng ta. Chỉ cần tỉnh táo để đủ sáng thấy lại, từ đó có sự cảm thông, rồi yêu thương, kính trọng và quyết tâm tu tập để có đủ định lực, thoát khỏi sự chi phối của các khổ về già. Mỗi người chúng ta đều có quyền nhìn nhận, suy nghĩ và thực hành được điều đó. Đó là chúng ta đã biết học theo hạnh giác ngộ của đức Phật. Chúng ta còn có một bài học thứ hai về cảnh già nữa. Có những người lớn tuổi già yếu rồi, nhưng khi ngồi với nhau nói toàn những chuyện anh hùng của thuở trước mà không hề nhớ mình đã già yếu. Thời trẻ tôi vác một lúc hai bao xi măng lên núi, đánh một lần mười thằng lực sĩ phải gục ngã... Kể say sưa một hồi hào khí nổi dậy mạnh mẽ như mình đang còn thanh niên vậy. Chút xíu tê chân đứng dậy không nổi. Cố gắng một đỗi mới đứng lên được thì đi run run gần té, mới biết mình đã già. Đang già mà vẫn không chịu biết mình già, vậy là chưa học được bài học giác ngộ như Phật. Nếu khéo nhìn lại, thấy mình đã già yếu. Cả đời hy sinh cho gia đình và xã hội như thế là đã đủ. Bây giờ có muốn làm thêm cũng không được. Tốt nhất là nên lo chuyện tu tập của mình là vừa rồi. Chuyện nhà cửa, sự nghiệp công danh, chuyện lo con cháu giao lại cho lớp trẻ. Mỗi người sinh ra đời đều có nhân duyên phước đức riêng. Con cháu nó mạnh mẽ, thông minh hơn mình ngày xưa nhiều, không cần phải lo nghĩ nữa. Bây giờ chỉ dốc tâm tu tập, kiếm chút ít tư lương, tích tạo phước đức để ngày ra đi được an ổn. Nhìn thẳng vào sự thật và nghĩ được như vậy sẽ có lợi hơn. Làm được như vậy là chúng ta đã biết học theo hạnh giác ngộ của đức Phật. Lúc còn trai tráng, thái tử đang là một người có đầy đủ tất cả quyền uy, thế lực, văn võ song toàn. Vậy mà khi thấy người già thì liền biết mình rồi cũng sẽ già nua và yếu ốm như người kia. Thấy rõ cuộc đời không có gì đáng để gọi là vui cho nên Ngài quyết chí xuất trần. Nhìn nhận, chiêm nghiệm và thấu tột được như vậy là chú TÍNH HUYỀN SỬ VÀ CHÍNH SỬ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT Sương Mai Có thể nói, tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử người sáng lập đạo Phật là ước muốn, niềm trăn trở của nhiều học giả. Cho đến nay đã có hàng triệu tác phẩm viết về cuộc đời cũng như sự nghiệp giáo hóa của Người. Đó không chỉ là những bài nghiên cứu của những người con Phật về Người cha lành kính mến, mà đó còn là những tác phẩm của các tác giả chưa từng theo đạo Phật nhưng đã một lần được nghe qua công hạnh của Người. Để giúp cho hàng Phật tử hiểu sâu hơn về lịch sử đức Phật, tôi xin trình bày đôi nét về tính huyền sử và chính sử của cuộc đời đức Ngài. Huyền sử hay còn gọi huyền thoại là những yếu tố lịch sử mang tính chất mờ ảo, không hiện thực. Đó có thể là một sự phi thường, sự mầu nhiệm mang yếu tố tâm linh, nhằm để cải tạo niềm tin của tín đồ về một sự linh ứng, ngay cả các nhà khoa học cũng khó có thể giải thích các vấn đề trên, chúng ta chỉ có thể nói rằng: “Pháp nhĩ như thị” (Pháp vốn như thế). Lịch sử của mọi tôn giáo đều có tính chất huyền sử và chính sử. Có thể nói rằng không có một tôn giáo nào không có yếu tố huyền sử. Huyền sử là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc hình thành tôn giáo. Nói về lịch sử Đức Phật không thể bỏ quên những yếu tố tạo nên tính huyền sử như hình ảnh đức Phật sanh ra đi bảy bước và nói rằng: “Thiên thượng Thiên hạ duy ngã độc tôn”, Kinh Vị Tằng Hữu nói: khi Bồ-tát từ cõi trời Tusita đi vào bào thai hoàng hậu thế giới chuyển động, hay khi Phật thành đạo Tam thiên Đại thiên trỗi nhạc cúng dường… Đó là những yếu tố tạo nên niềm tin về một bậc Thánh nhân ra đời. Chính sử hay còn gọi là lịch sử, thông sử, là những sự việc có thật đã diễn ra trên cuộc đời và được các nhà khoa học chứng minh tính xác thực của nó theo từng tháng năm. Đó là những sự thật không thể chối cãi, không thể phủ nhận. Có thể nói rằng rất ít giáo chủ của một Tôn giáo là một con người. Nhưng đức Phật là một con người có thật, Ngài là con của vua Suddhodana và hoàng hậu Maha Maja, vương quốc Sakya, kinh thành Ca-tỳ-la-vệ. Lịch sử chính là quãng thời gian, quá trình hoạt động của một con người. Cụ thể hơn yếu tố lịch sử xác định chắc chắn cho chúng ta biết lịch sử đức Phật, thông qua niên đại theo từng cột mốc sự kiện cũng như những quá trình tiếp diễn từ thuở niên thiếu đến lúc xuất gia, thành đạo và sau cùng là nhập Niết-bàn. Qua lịch sử, chúng ta biết được rằng đức Phật là một con người có thật, Ngài đã trải qua tất cả những nỗi thống khổ mà chúng sanh đã và đang trải qua, những sự thay đổi về tâm sinh lý, vật lý trong thân thể và tâm thức. Ngài cũng sống cuộc sống như bao người và khi lớn lên Ngài cũng có vợ rồi có con. Vì vậy, có nhiều người cho rằng bởi đức Phật cũng như mỗi chúng ta nên Ngài cũng là một con người rất đỗi tầm thường, chẳng có gì vĩ đại. Ta nên hiểu rằng chỉ có những người bị đau đầu, đau bụng mới biết được cảm giác của sự đau như thế nào? Cũng thế, Đức Phật đã trải qua mọi khổ đau trong cuộc sống nên Ngài hiểu được chúng sanh đang cần gì, muốn gì, từ đó tìm ra phương thuốc thoát khỏi nỗi khổ đau bao la ấy. Nhờ những kinh nghiệm, sự trải nghiệm thực tế Ngài nhận chân được sự vô thường, giả tạm của cuộc đời để rồi tìm cầu con đường thoát khổ. Đó chính là yếu tố tạo nên những ý nghĩa và giá trị cao cả. Qua tính lịch sử, giúp chúng ta nhận ra rằng sự xuất gia của thái tử là một sự từ bỏ vĩ đại. Đức Phật cũng là một con người, Ngài từng trải qua những sự phát triển về tâm sinh lý, vật lý như những con người theo từng thời kỳ phát triển. Chính vì thế, việc từ bỏ một thói quen vô cùng khó và cần phải có một khả năng chứng nhận thực sự mới có thể từ bỏ tất cả. Như chúng ta khi mất một vật gì quý báu, thân thương, là vật kỷ niệm như chiếc điện thoại, chiếc xe, thậm chí cây viết đẹp chúng ta đã buồn rầu, khổ sở, chỉ bấy nhiêu thôi đã là khó buông xả. Thử hỏi nếu trong số chúng ta khi được đặt vào vị trí của thái tử, có mấy ai làm được điều đó, hay là bị ngũ dục lạc làm đắm say. Thế nhưng, một vị Thái tử sống trong cung vàng điện ngọc được thọ hưởng bao nhiêu vinh hoa phú qúy, vợ đẹp con xinh, cung tần mỹ nữ, Ngài có thể là vị vua trong tương lai người giữ quyền lực trị vì một vương quốc. Trong khi danh lợi, quyền quý, giàu sang đang là ước muốn, mục đích hướng tới của bao người thì thái tử lại từ bỏ. Từ xưa đến nay đâu có một Đế vương nào chịu từ bỏ cuộc sống xa hoa, cung tần mỹ nữ, vợ đẹp con ngoan, trừ một Trần Nhân Tông của Việt Nam cách Phật 10 thế kỷ (Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con để vào tu tại núi Yên Tử năm Kỷ Hợi 1299). Trong thực tế con người đầy tham, sân, si, chấp ngã cho nên trước ngũ dục, ít người giữ được đạo đức vô ngã, vị tha. Thái tử Tất Đạt Đa thoát được hoàng cung là do thái tử quyết liệt chiến đấu chính với bản thân, với bao tình cảm ràng buộc của vua Tịnh Phạn, của Da Du, của người thân cận như Xa Nặc. Từ đó, chứng tỏ thái tử đã chiến thắng chính mình, chiến thắng khỏi mọi dục vọng tầm thường, giả dối những thứ mà chúng sanh vì mê mờ, dục vọng nên đeo mang, giành giật lấy. Được sinh ra trong một dòng tộc vua chúa không phải là chuyện dễ dàng, và đó là niềm khát khao của tất cả nhân loại. Khi có được mọi thứ, quyền điều hành trong tay thì thái tử lạ từ bỏ. Ngài đã có tất cả những gì mọi người không có nhưng rồi từ bỏ tất cả để tìm về một cái không mơ hồ, về một sự giải thoát bất tận. Còn chúng ta xuất gia với nhiều lý do, hoàn cảnh khác nhau, cũng có những vị xuất gia vì nhận thấy cuộc đời là khổ, nhưng cũng có nhiều vị xuất gia theo truyền thống gia đình, thậm chí có nhiều người vì thất vọng về một điều gì đó ngoài thế gian nên tìm vào nương tựa cửa Phật hay một số vị vì hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc trẻ mồ côi nên vào chùa, v.v.. Nhìn chung, vì sự thiếu thốn mà chúng ta vào chùa, có những người thiếu thốn về mặt vật chất và nhiều người thiếu thốn về mặt tinh thần. Có thể nói rằng, ta xuất gia không giống đức Phật, Ngài từ vị trí có đầy đủ tất cả, để rồi từ bỏ đi xuất gia để tìm cầu một sự giải thoát tối thượng, còn chúng ta thì sự tìm cầu từ không đến có. Đó chính là điểm sáng đặc biệt của Đức Phật, việc Ngài làm không ai có thể làm được. Trong quá trình học đạo, Đức Phật đã trải qua quá trình học đạo với hai đạo sư nổi tiếng thời bấy giờ với 6 năm khổ hạnh. Vấn đề đặt ra, vì sao đức Phật phải trải qua con đường ấy? Quá trình học đạo với hai đạo sĩ, là hai vị thiền sư đang được dân chúng tôn kính và ngưỡng mộ nhất lúc bấy giờ. Sau một thời gian tu tập, đức Phật chứng đắc được những cảnh thiền cao nhất mà hai vị đạo sư đã chứng. Sự kiện ấy, cho thấy bằng chính kinh nghiệm, sự thực chứng tu tập của mình. Thái tử đã trải qua tất cả những thứ mà chúng sanh đang tìm kiếm, ngợi ca và Ngài đạt lên tới đỉnh cao, những thứ mà dân chúng tôn vinh, sùng bái. Để đạt được quả vị giải thoát, thái tử cũng phải trải qua quá trình tu tập, cho thấy rằng thái tử là một con người thực sự. Cái gì trong cuộc đời cho rằng tốt đẹp, thái tử đã vượt qua và trải nghiệm, để rồi nói với cuộc đời rằng những quả vị ấy chưa đưa đến giải thoát. Đó là điều để cho cuộc đời phải suy nghĩ và đó cũng là ý nghĩa, giá trị của sự xuất gia tầm đạo. Cuộc sống của người xuất gia quý nhất là sự phát triển tâm linh không phải ở bằng cấp này nọ. Chúng ta học là để mở mang kiến thức, nhờ học mà ta biết đường lối đúng đắn để hành trì, tu tập nhằm xiển dương giáo lý Phật đà không nên chạy theo bằng cấp, chức vụ mà quên đi sự hành trì để nội tâm tăng trưởng. Đối với Phật tử, họ cần sự giáo hóa, phương pháp giải thoát mọi khổ đau và điều đó chỉ có được ở những vị có công năng tu tập nội tâm. Cũng như, Phật tử nương nhờ vào những oai nghi, đức hạnh của bậc xuất gia qua thân giáo, khẩu giáo để lấy đó làm tấm gương sáng cho hàng Phật tử noi theo. Thế nên, một người con Phật chúng ta cần phải noi theo đức tính và hạnh nguyện cao cả của Ngài, để xứng đáng là trưởng tử Như Lai “ tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”, cũng là đền đáp tứ ân, cứu giúp ba cõi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét