THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

đức phật 1

TINH THẦN TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN QUA GIÁO LÝ VÀ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT A. Mở Đề Trong cuộc sống, con người theo dòng tư tưởng mà lưu bố sanh khởi những quan niệm, những học thuyết theo nhiều góc độ phương chiều biệt lập khác nhau. Nó ảnh hưởng vận hành theo từng thời kỳ, từng chế độ mà hình thành các chủ thiết và sự tuân thủ của từng nhóm đối tượng hoạt động theo mục tiêu tư tưởng ấy. Chẳng hạn như: có ngã, hoặc không có ngã, con người thường còn hay đoạn diệt, con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu, thế giời hữu biên hay vô biên v.v... Rồi tự kiến lập ý thức hành động tạo tác theo sự lý giải của mình nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tâm lý, vật lý, sinh lý thông qua hệ thống điều hành hình thức chính trị, văn hóa, tín ngưỡng... Để tồn tại giữa xã hội đa phương, đa chiều, con người luôn đấu tranh sinh tồn, bảo vệ giữa cá thể này với cá thể khác, giữa cộng đồng với thế giới, thiên nhiên vũ trụ được thống nhất gọi chung là “Tinh thần ý thức trách nhiệm”. Lịch sử xã hội con người luôn có sự vận hành biến đổi, thuận theo ước muốn tìm cầu của số đông thì gọi là phát triển, bằng ngược lại tư tưởng của số đông sẻ bị đả kích, đào thải. Đó cũng là hai cực đoan trong đó có sự hiện hữu của “ưa và ghét”. Như vậy, đối với Phật giáo, tinh thần trách nhiệm cá nhân có phụ thuộc sự tác động theo lối mòn của đại đa số người hay không? Nói đến tinh thần trách nhiệm cá nhân thì phải nói đến con người mà ở đây chủ thể là những người theo Phật giáo, bao hàm trách nhiệm tự thân và trách nhiệm cá nhân đối với tha nhân thế sự. Đó là trách nhiệm bổn phận đồng thời cũng có nghĩa “tự tác hườn tự thọ” tự chịu trách nhiệm về kết quả của cá nhân tạo tác. Tinh thần trách nhiệm Phật giáo nói chung, Đấng mô phạm của nhơn thiên nói riêng và xuyên suốt trong toàn bộ giáo lý của Ngài ở đây đã đạt đến đỉnh cao siêu việt của bậc vĩ nhân đã tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn cùng với tinh thần từ bi, bình đẳng, tất cả mọi người đều có Phật tánh, đều có dòng máu đỏ, nước mắt cùng mặn. Với trí tuệ siêu việt Ngài phát hiện ra chân lý và sử dụng phương tiện chuyển bánh xe Pháp Luân phổ tế khắp nhân gian, tùy theo căn tánh mà chúng sanh hưởng được pháp phần làm tự thân an lạc trang nghiêm tịnh độ Phật. B. Chánh Đề I. Trách nhiệm đối với tự thân Tinh thần tự giác, tự chủ 1. Nổ lực tu tập tự thân Sống giam mình trong cung vàng điện ngọc, thái tử Sĩ Đạt Ta vẫn không có chút sự thảnh thơi an lạc. Thế nhưng, với thời gian, do năng khiếu suy tư sâu sắcvà lòng thương người bẩm sanh, Thái tử không thể nào cam tâm một mình sống mãi trong nhung lụa, giữa một xã hội bất công, một thế giới đau khổ. Thái tử sớm giác ngộ về tính tạm thời, tầm thường của hạnh phúc vật chất thế gian và có ý chí xuất gia cầu đạo giải thoát, tìm ra con đường cứu vớt chúng sanh ra khỏi già, đau, chết và mọi nỗi bất hạnh khác của đời người. Một ngày nọ, Thái tử đi ra ngoài thành dạo chơi và lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với những sự thật đen tối và đáng sợ: Thái tử lần lượt gặp một người già yếu, một người bệnh tật, một xác chết và cuối cùng là một vị tu sĩ với dung sắc giải thoát, khoan thai đi trên đường. Thái tử nghiệm thấy mình dù là Thái tử con vua, cũng không thể thoát khỏi cảnh già, đau và chết; những hình ảnh siêu thoát của vị tu sĩ đã giúp Thái tử sớm thấy được con đường dẫn đến giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người, con đường dẫn tới cõi Niết bàn bất tử. Từ đó, Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo. Nhưng, một tin đến, khiến Thái Tử không vui: công chúa Yasodhara mới hạ sinh một con trai. Thái tử nói: “Một trở ngại (ràhu) đã được sanh, một ràng buộc đã xảy ra”. Nhân đó, ông nội, vua cha Suddhodana đặt tên cháu là Ràhula (La hầu la). Lâu đài, cung điện không còn là nơi ở thích hợp nữa cho Thái tử, lòng nặng trĩu tình thương chúng sanh chìm đắm trong bể khổ và Thái tử càng thêm quyết tâm xuất gia cầu đạo, tìm con đường cứu khổ cho muôi loài. Thế rồi vào một đêm Thái tử ra lệnh cho người nô bộc trong thành là Channa (Xa nặc) thắt con ngựa Kantaka (Kiền trắc). Trước khi xuất phát Thái tử đi dọc theo hành lang nội cung, đến trước phòng công chúa Yasodhara (Da du đà la) và người con trai đang ngủ thiếp. Thái tử hé cửa nhìn vào, Thái tử rất yêu thương người vợ và con trai của mình, nhưng đối với nhân loại đau khổ bất hạnh, lòng thương xót của Thái tử lại còn da diết hơn. Sau đó, Thái tử một mình lên ngựa ra đi, vượt khỏi hoàng thành, theo sau chỉ có người nô bộc trung thành Channa. Ra đi, Thái tử từ bỏ tất cả, phụ vương, ngai vàng, vợ và con, cuộc sống đầu đủ và hạnh phúc của một hoàng tử. Không phải là sự hy sinh từ bỏ của một người già, đau ốm, một người nghèo, bệnh tật, ngán ngẫm cuộc đời, mà là sự hy sinh từ bỏ của một vị hoàng tử đang tuổi thanh xuân, đang sống trong quyền quý giàu sang. Quả thật đó là một sự từ bỏ, hy sinh vĩ đại, có một không hai trong lịch sử loài người. Năm ấy, Thái tử tròn 29 tuổi. Khi tới bờ sông Anomà, Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Channa, lệnh cho Channa trở về. Còn Thái tử một mình ra đi, với bộ áo màu vàng đơn giản của người tu sĩ, từ nay cuộc sống không nhà của người xuất gia cầu đạo. Ngài không nơi ở cố định. Khi thì ngồi dưới bóng cây, khi thì nằm nghỉ qua đêm trong một hang đá. Chân không và đầu để trần, Ngài đi bình thản giữa nắng nóng cũng như trong sương đêm lạnh, tất cả mọi năng lực và ý chí của Ngài đều hướng tới lý tưởng cao cả tìm ra sự thật tối hậu, lý lẽ của sống và chết, ý nghĩa của nhân sinh, của cuộc đời, con đường dẫn tới giải thoát, cõi Niết bàn bất tử. Thời bấy giờ, tình hình chính trị tại các xứ ở Ấn Độ khá ổn định, nhiều nhà tri thức lỗi lạc, xuất gia tu đạo, trở thành đạo sư tâm linh với nhiều đệ tử theo học. Thái tử Si Đác Ta, trên đường đi tầm đạo, đã tới thụ giáo với hai đạo sư danh tiếng nhất thời bấy giờ là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta. Cả hai người đều tu theo phép Du già và đều chứng được những cấp thiền định cao nhất thời bấy giờ. Alara Kalama chứng được cấp thiền Vô sở hữu xứ, còn Uddaka Ramaputta thì chứng được cấp thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là hai cấp thiền thuộc Vô sắc giới, hai cấp thiền cao nhất mà tu sĩ Du già thời bấy giờ chứng đạt được. Nhưng chỉ một thời gian ngắn tu học, Thái tử cũng dễ dàng đạt được hai cấp thiền nói trên và được hai đạo sư mời ở lại cùng với họ lãnh đao chúng đệ tử. Thái tử biết rõ, các cấp thiền mà Ngài chứng được chưa phải là chân lý tối hậu, Niết bàn, sự chấm dứt sanh tử và mọi khổ đau. Cho nên, Ngài từ chối lịch sự, rồi lại lên đường tiếp tục cuộc hành trành cầu đạo của mình. Qua thực nghiệm, Ngài thấy chân lý tối hậu, Niết bàn, chấm dứt mọi đau khổ của sinh tử luân hồi, không thể cầu được ở bên ngoài, ở bất kỳ một bậc đạo sư nào. Chân lý tối hậu đó phải chính do Ngài tự tìm lấy, tự chứng ngộ lấy ở bên trong nội tâm của Ngài, không thể dựa vào một tha lực nào khác. Thái tử đến một nơi gọi là Uruvela, thị trấn của Senàni. ngài tìm được một khoảnh đất đẹp và mát, có con sông nhỏ chạy qua giữa bờ cát trắng. Gần đây, lại có làng nhỏ, có thể đi khất thực hàng ngày. Đúng là một nơi yên tĩnh, đẹp đẽ rất thích hợp với trầm tư mặc tưởng và tu tập thiền định. Cùng đến nơi đây tu tập với Thái tử còn có các tu sĩ Kondana (Kiều Trần Như), Bhadhya, Vappa, Mahanama và Asaji. Kondana vốn là vị đạo sĩ trẻ tuổi nhất trong số các đạo sĩ được vua Suddhodana mời tới kinh đô để xem tướng Thái tử, lúc Ngài mới đản sanh. Thời bấy giờ, ở Ấn Độ có tập tục và niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát, đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép xác. Cũng theo truyền thống đó, Thái tử cùng với năm người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép xác tới mức con người Thái tử gầy khô như bộ xương, đôi mắt sâu hoẵm xuống, sức khỏe giảm sút đến nỗi Ngài không còn đi vững được nữa. Ngài nghiệm thấy, càng kiên trì khổ hạnh, chân lý tối hậu như càng lùi ra xa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng suy yếu. ngài thấy rõ, khổ hạnh, ép xác không phải là con đường thoát khổ và cứu khổ. Thái tử quyết định ăn uống bình thường trở lại. Năm người bạn đồng tu vốn đặt niềm tin và hy vọng tuyệt đối vào Thái tử tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, bèn rời bỏ Thái tử đến vườn Nai ở Isipatana gần thành phố Banares để tiếp tục tu hành. Họ nói rằng, Thái tử Si Đác Ta đã trở về với cuộc sống tiện nghi và dục lạc vật chất. 2. Nổ lực hóa giải tự tâm Ở lại một mình, Thái tử quyết tâm tự mình phấn đấu để chứng ngộ chân lý tối hậu. Ngài lấy lại sức, nhờ uống bát sữa do một thôn nữ tên là Sujan cúng dường, sau đó Ngài tắm ở sông Neranjara (Ni Liên Thuyền). Tối đến, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala, sau này được đổi tên là cây Bồ đề, để đánh dấu sự kiện thành đạo vĩ đại của Ngài. Với tâm định tỉnh, nhu nhuyến, trong sáng như gương, Ngài suy tư về sống chết, về những nguyên nhân tích tập dẫn tới luân hồi sanh tử và con đường giải thoát, dẫn tới Niết bàn, Ngài nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của mình, một kiếp, hai kiếp cho tới hàng trăm ngàn kiếp. Ngài nhớ lại, thấy rõ các chu kỳ thành hoại của một thế giới, nhiều thế giới. Ngài thấy rõ các chúng sanh, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, thiện ác do mình tạo ra, luân hồi như thế nào trong các cõi sống, từ thời vô thủy cho tới ngày nay. Ngài thấy rõ, biết rõ tự bản thân Ngài đã đoạn trừ hết mọi tham ái, vô minh, đã được giải thoát và giác ngộ, và thành tựu đạo Vô thượng. Ngài đã thành Phật. Sau này, Đức Phật đã kể lại cho các đệ tử Tỳ kheo nghe về cảnh giới chứng ngộ của mình như sau: “Nầy các Tỳ kheo! Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ nguy hại của cái bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn... Tri và Kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa”. (Kinh Thánh Cầu, Kinh Trung Bộ I, 268) Như vậy, sau sáu năm gian khổ, kiên trì, không mệt mỏi, vào năm 35 tuổi Thái tử Si Đác Ta đã chứng ngộ chân lý cứu kinh vô thượng và trở thành Đức Phật, bậc Toàn giác mà sự xuất hiện là chuyện hy hữu nhất trên đời này. Từ nay, thế gian tôn xưng Ngài là Đức Phật Gotama hay là Đức Phật Thích Ca Cồ Đàm. Từ Pali, “Buddha” (Phật Đà) có chữ gốc “Buddh” là hiểu biết, giác ngộ chân lý tối hậu, cứu kinh. Sách Pali gọi Ngài là Sammà Sambuddha với nghĩa là bậc Toàn giác, không gì không biết, không thấy; bậc Thánh, không những giác ngộ đầy đủ cho bản thân mình mà còn giác ngộ đầy đủ cho tất cả mọi người khác, cho tất cả mọi chúng sanh. II. Tinh thần trách nhiệm đối với tha nhân 1. Vì lòng từ bi chuyển Pháp Luân Chuyển Pháp Luân là chuyển bánh xe Pháp, tức là truyền bá cho thế gian biết về đạo Pháp mà Phật đã chứng ngộ. Ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ đề, sau khi đã chứng quả giác ngộ vô thượng, Đức Phật có suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng nầy thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý ‘duyên khởi ra các pháp’ (Paticcasamuppada): sự kiện nầy thật khó thấy, tức là sự tịnh chỉ tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp thì các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta” (Trung Bộ I, 268 – 269). Nhưng rồi Đức Phật nhìn quanh một lượt khắp thế gian với con mắt trí tuệ và suy nghĩ rằng: “... Có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sinh ở thế giới khác và sự nguy hiểm là những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hay hồ sen trắng, sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, nầy các Tỳ kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sinh ở thế giới khác và sự nguy hiểm là những hành động lỗi lầm. Và nầy các Tỳ kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây: “Cửa bất tử rộng mở Cho những ai chịu nghe Hãy từ bỏ tin tâm Không chính xác của mình ...” (Trung Bộ I, 271) Rồi Đức Phật quyết định sẽ gióng lên tiếng trống của Pháp, sẽ chuyển bánh xe Pháp, sẽ tuyên bố với thế gian, với loài người và loài Trời, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đương đạo dẫn tới cõi bất tử, cõi Niết bàn. Thế là bánh xe Pháp bắt đầu chuyển. Như đã nói trên, năm tu sĩ, bạn đồng tu của Thái tử, ở Uruvela, nay vẫn tiếp tục khổ hạnh ở vườn Nai gần thành phố Benares. Họ rời bỏ Thái tử vì họ tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, giữa đường bỏ cuộc. Nhưng thực ra sau sáu năm tu khổ hạnh, Thái tử đã thực nghiệm và thấy rõ tất cả sự vô ích và vô lý của lối tu khổ hạnh, ép xác chỉ làm con người suy yếu về thân xác, mệt mỏi về tinh thần. Và Thái tử ở lại một mình, kiên trì, phấn đấu và cuối cùng đã giác ngộ thành Phật dưới gốc cây Bồ đề. Sau khi đã quyết định truyền bá đạo lý cứu khổ cho thế gian, vì lòng thương xót loài người và loài trời, Đức Phật nghĩ ngay tới hai vị thầy cũ của mình là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, nhưng cả hai ông này đều qua đời cách đây không lâu. Với Phật nhãn, Đức Phật thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của mình đang ở tại vườn Nai gần Benares và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo pháp của Ngài. Rồi Đức Phật lên đường đi Benares. Tại đây, ở vườn Nai gần Benares, Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho năm người bạn đồng tu ngày trước của mình. Sự kiện đáng ghi nhớ này diễn ra vào một ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau Đức Phật thành đạo. Sau này, nó được biểu trưng một cái bánh xe có hai con nai nâng đỡ hai bên. Hai con nai biểu trưng cho địa điểm thuyết pháp, vườn Nai cũng gọi là Lộc Uyển. Bánh xe – Dhammacakka – tức là bánh xe Pháp, sách Hán dịch là Pháp Luân. Cả đầu đề bài kinh là Dhammacakkappavattana có nghĩa là “chuyển bánh xe Pháp”. Trong bài kinh này, Đức Phật mở đầu bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một cực đoan là đam mê thú vui nhục dục thế gian, thực ra chỉ là những cái tầm thường, nhất thời, ngăn cản mọi tiến bộ tâm linh. Một cực đoan thứ hai là khổ hạnh, ép xác vì nó làm mệt mỏi tinh thần, mê mờ trí tuệ, do đó cũng có hại, vô ích. Đức Phật khuyến cáo nên rời bỏ hai cực đoan trên và theo con đường Trung Đạo dẫn tới cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ, sáng suốt và giải thoát tối hậu. Đó là con đường đạo tám nhánh nổi tiếng, sách Hán thường dịch là Bát Chánh Đạo: - Chánh tri kiến: Thấy biết chân chánh. - Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chánh, ý chí chân chánh. - Chánh ngữ: Nói năng chân chánh, tức là không nói dối, không nói ác, không nói chia rẽ, không nói lời vô nghĩa. - Chánh nghiệp: Hành động chân chánh, tức là không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không rượu chè. - Chánh mạng: Sinh sống bằng nghề chân chánh, không phải bằng nghề bất lương, như buôn bán lừa đảo, buôn vũ khí và thuốc độc, buôn bán nô tỳ... - Chánh tinh tấn: Siêng năng chân chánh, diệt bỏ điều bất thiện, làm mọi điều tốt lành. - Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh, không nghĩ nhớ điều tà vạy, ác xấu, mê lầm. - Chánh định: Tập trung tư tưởng chân chánh, không để tư tưởng tán loạn, chạy theo dục vọng. Con đường tám nhánh là con đường đạo chân chánh, dẫn tới chấm dứt mọi đau khổ, phát khởi trí tuệ, đưa đến Niết bàn, là sự giải thoát vĩnh viễn khỏi vòng sống chết luân hồi, là sự thanh tịnh tuyệt đối và an lạc tuyệt đối. Trong bài thuyết pháp đầu tiên này, Đức Phật giảng về bốn chân lý cao cả, cũng gọi là bốn chân lý Thánh, bởi vì chúng được phát hiện và tuyên thuyết bởi bậc thánh vĩ đại nhất là Đức Phật. Đó là chân lý về sự khổ (sách Hán gọi là Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập đế), chân lý về diệt khổ (Diệt đế), chân lý về con đường đạo diệt khổ (Đạo đế). Nghe xong bài thuyết pháp này, và một bài thứ hai có đầu đề “Anattalakkhana sutta”, bàn về thuyết vô ngã (không có cái Ta), năm vị tu sĩ ở vườn Lộc Uyển được giác ngộ và không bao lâu trở thành A la hán. 2. Tinh thần hướng dẫn khích lệ Thế Tôn xác nhận Thế Tôn chỉ là người chỉ đường còn mình phải làm lấy công việc của chính mình. Kinh Venak Moggallàna (Trung Bộ III) Kinh Đại Niết bàn (Trường bộ II, Hán tạng Bát Niết bàn) chép: Vào thời điểm sắp từ giã cuộc đời, Thế Tôn từ chối vai trò lãnh đạo tăng chúng khi Tôn giả A-nan xin Thế Tôn cho lời di giá của bậc lãnh đạo và Tôn giả băn khoăn rằng sau khi Thế Tôn nhập diệt Tăng chúng sẽ không có ai lãnh đạo. Thế Tôn dạy: “Nương tựa Pháp, Pháp lãnh đạo”. Pháp ở đây phải được hiểu là con đường đưa đến an lạc, hạnh phúc, giải thoát. Trọn bốn nươi lăm năm giáo hóa, Thế Tôn luôn luôn là người chỉ đường mà không bao giờ ra lệnh hoặc bắt ép ai tuân phục Ngài. Tinh thần hướng dẫn của Tâm lý giáo dục hiện đại, ngành giáo dục chính đạo, là tinh thần căn bản của giáo dục mới, nhân bản. Theo đó, một nhà giáo tốt phải là một hướng dẫn viên tâm lý. Như thế, chính Thế Tôn đã mở đường cho một nền giáo dục tiên tiến từ hơn hai mươi năm thế kỷ trước, qua tinh thần giáo dục hướng dẫn rất người, rất nhân bản trong thái độ hiểu biết. Bắc tạng nhìn Thế Tôn như một vị vua thầy thuốc, xem bệnh chúng sanh và cho thuốc. Đấy cũng chỉ là tinh thần chỉ đường. Ở Nikàya và A-hàm Thế Tôn đề cao phương pháp giáo hóa thần thông, qua thân giáo và khấn giáo, bằng quan sát và phân tích thực tế. Mục đích việc giảng dạy của Ngài là giúp người nghe tự mình nhận ra con đường và tự mình thực hiện con đường. Tinh thần giáo dục “hướng dẫn” vốn đã là một tinh thần giáo dục đặc sắc lại được Thế Tôn vận dụng khéo léo song song với sự khích lệ tâm lý, sự khích lệ mà con người cần như là dưỡng khí. Kinh Nikàya và A-hàm thường ghi lại: “Thế Tôn đã thuyết pháp và đã khích lệ làm cho mọi người đều được lợi ích. Cho đến các bậc Thánh hữu học vẫn còn cần được Thế Tôn khích lệ”. Các phẩm “Dược Thảo Dụ”, “Thọ Ký”, “Phổ Hiền” của Pháp Hoa cũng làm sống lại tinh thần khích lệ ấy của Thế Tôn. Đến giờ phút cuối cùng của cuộc sống này, Thế Tôn còn không quên khích lệ chư Tăng: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn lên, chớ có phóng dật”, và khích lệ vị thị giả thân quý của Ngài: “Này A-nan, chớ có sầu muộn, không bao lâu nữa Ông sẽ chứng đắc những gì chưa chứng đắc”. (Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ I, 1991). Từ chuyên môn của ngành Tâm lý giáo dục hiện đại gọi sự khích lệ ấy là “Encouragement” và nhắc nhở các nhà giáo, các nhà tâm lý trị liệu, đừng bao giờ quên rằng: Học trò của mình và thân chủ của mình đang cần sự khích lệ. Thật là lạ lùng, cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ Thế Tôn đã vận dụng thiện xảo sự khích lệ tâm lý trên đường giáo hóa của Ngài. 3. Nhân cách mô phạm Với ý nghĩa tài đức song toàn, là điều kiện cần thiết đủ để làm mô phạm cho đời, hướng dẫn mọi người tiến tu giải thoát. Do đó Đức Phật dạy: “Các tỳ kheo nếu thành tựu bảy pháp thì có thể làm lợi ích cho chúng sanh tại thế gian này. - Biết pháp tức là biết mười hai phần giáo - Biết nghĩa của pháp là biết ý nghĩa của mười hai phần giáo - Biết thời - Biết tiết độ tức là thiểu dục tri túc - Biết mình là biết về tín, giới, văn, thí, trí, biện tài giáo pháp và sở đắc. - Biết chúng hội là biết quần chúng đối tượng con người, biết sự hơn kém của người, chín bậc hơn kém (Trung A Hàm 1, Trường A Hàm 9). Kinh Niết Bàn nhấn mạnh “nếu các Bồ Tát thành tựu bảy thiện pháp này là đầy đủ phạm hạnh lợi lạc chúng sanh tại thế gian này. Các Đức Như Lai đều thấy: “Hết thảy chúng sanh trong pháp giới đều đầy đủ trí tuệ, đức tướng Như Lai, chỉ vì ngu si, mê hoặc, nên không tự biết. Tôi nay sẽ chỉ cho con đường chính, khiến con người dứt sạch các món vọng tưởng, chấp trược, tự chứng được trí tuệ rộng lớn của Như Lai, bình đẳng với chư Phật không sai khác”. Đây là cả một tôn chỉ mục đích của đạo Phật, đây là cả một chương trình làm người, hướng về lễ nghĩa, tâm đức và nhân đạo. 4. Trách nhiệm cá nhân đối với xã hội Dưới con mắt giác ngộ của Đức Phật, Ngài nhận thấy tất cả chúng sinh, loài người cũng là một trong đó đều bình đẳng về trí tuệ, đức tướng và đều là người thân thích với nhau. Đã là bình đẳng, là thân thích tất nhiên không bao giờ phân chia hay sát hại nhau, trái lại phải thương yêu, giúp đỡ nhau nếu là người hiểu biết. Người hiểu biết, một cử chỉ, một hành động đều hướng về từ bi, bình đẳng và không xa “từ bi bình đẳng”. “Từ” là hiền lành, là cho vui. “Bi” là thương xót, là cứu khổ. Cho vui, cứu khổ là một hành động quả cảm, mong đem lại lợi ích cho người, cho vật mà quên những lợi ích nhỏ nhen riêng mình. Người vui cũng như mình vui, người khổ cũng như mình khổ. Thấy người khổ ta tìm đủ phương tiện giúp đỡ họ bằng của cải, bằng lời hay lẽ phải, bằng sự an ủi hay sự hy sinh trong tinh thần vô tư và vô úy. Thấy người vui ta tán dương, khuyên cố gắng và khuyên đem sự vui đó hướng về lợi ích chung. “Bình” là quân bình. “Đẳng” là tề đẳng. Tất cả đều ngang bằng như nhau không hơn không kém. Loài người cũng như các sinh vật khác, cũng do nhân duyên phát sinh, cũng đủ cơ quan sinh hoạt, cũng ưa sống, sợ chết... có chi là khác nhau ở học vấn, địa vị, giai cấp chăng? Học vấn, địa vị, giai cấp chỉ là điều kiện, hoàn cảnh hay nhân quả tạo thành chứ không thể khác nhau ở lẽ sống. Vì máu ai cũng đỏ và mặn. Nhất là lẽ sống thì sự kiện ấy chỉ là sự phân công rõ rệt trong đời sống xã hội. Nếu không có người làm ruộng, lấy thóc đâu nuôi người công chức. Nếu không có người công chức thì sự an ninh đâu đem lại cho người làm ruộng. Nghĩa là “Tất cả đều bình đẳng”. Đã bình đẳng còn đâu là kẻ sang, người hèn, kẻ giàu, người nghèo, kẻ oán, người thân. Đã bình đẳng còn đâu là tranh chấp tương tàn, tương sát, mà chỉ còn biết thương nhau, yêu nhau, giúp đỡ nhau. Theo thuyết từ bi, bình đẳng, mất hết cả lễ, nghĩa, liêm, sĩ chăng? Không! Hiểu nghĩa vụ mình trong xã hội và làm đúng với nghĩa vụ ấy là “Lễ”. Đối với nhau tín – ái chân thật là “Nghĩa”. Biết tri túc theo hoàn cảnh mình là “Liêm”. Biết thẹn hổ khi mình có lỗi, biết mình không tiến tới mục đích cứu cánh làm người là “Sĩ”. Cho nên chỉ bốn chữ “từ bi, bình đẳng” là đầy đủ hết cả. 5. Trách nhiệm đối với môi trường Như chúng ta có thể nghĩ và thấy con người sinh ra để được hạnh phúc, chứ không phải để chịu khổ đau. Vì thế khuôn mẫu chân chánh về các hành động thiện phải được đặt nền tảng trên sự an lạc về tâm sinh lý và xã hội của loài người. Người ta cần phải lựa chọn giữa hai giá trị ấy. Để làm được điều này, họ cần phải quan tâm đến các điểm trọng yếu sau: - Hầu hết mọi giá trị của nền văn hóa nhân loại hiện hành đều được đặt trên căn bản tư duy hữu ngã (vị kỷ) hay vô minh (Avijjà), vì vậy chúng phải được soi rọi dưới ánh sáng của lý Duyên khởi (hay tư duy vô ngã: Vijjà). Nói cách khác, giáo lý Duyên khởi cần được phổ biến càng rộng càng tốt cho quần chúng trong thế giới giáo dục và xã hội, để cho một dòng văn hóa mới về bảo vệ môi trường có thể được thành lập. - Giáo lý Duyên khởi nói rằng “một” hiện hữu trong “tất cả” và “tất cả” hiện hữu trong “một”. Điều này có nghĩa là sự ô nhiễm hay rối loạn nơi này chính là sự ô nhiễm hay rối loạn ở các nơi khác trên thế giới. Điều này đòi hỏi mọi cá nhân, mọi tổ chức và mọi quốc gia có bổn phận và trách nhiệm bảo vệ môi trường đồng thời với sự tồn tại của nhân loại. - Chân lý Duyên khởi cần được thêm vào khoa Sinh thái học như một lý thuyết căn bản và phải được xem là triết lý và đạo đức môi trường. - Ngoài các điểm được đề nghị trên, lời kêu gọi đình chỉ mọi thí nghiệm hóa học và hạt nhân cần được lập đi lập lại nhiều lần. Cũng vậy đối với sự kêu gọi giới hạn việc sử dụng năng lượng hạt nhân vào các mục đích gọi là “hòa bình” và tạo ra một biện pháp an toàn cho việc tống khứ chất thải từ các xí nghiệp và công nghệ. - Các biện pháp hạn chế chất khí độc hại thoát ra trong không khí. - Điều quan trọng nhất là giúp mọi người hiểu biết và chế ngự tham ái hay dục vọng (tanhà) là nguyên nhân chính trong mọi nguyên nhân ô nhiễm môi trường. Điều này có nghĩa là sự giải thoát khỏi ô nhiễm trong tinh thần con người đòi hỏi giáo dục môi trường cho mọi cá nhân và bổn phận cùng trách nhiệm của mọi cá nhân. Nếu các dục vọng về cảm quan và giới tính cứ tăng mãi như hiện nay ,nghĩa là tham, sân, si tăng mãi thì không có phương cách gì bảo vệ môi trường được như chúng ta có thể thấy rõ từ giáo lý Duyên khởi: “Chỉ còn lại một điều là: suy tàn, khổ đau và hủy diệt dành cho mọi loài hữu tình trên thế giới”. III. Tinh thần chịu trách nhiệm tạo tác tự thân Nhân quả – vấn đề luân lý đạo đức Phật giáo: trước hết, giáo lý nhân quả dạy con người thức tỉnh trong các hành động tạo tác của mình để xa lánh các việc ác và nỗ lực làm các việc lành nhằm đem lại sự an vui, thanh bình cho cuộc sống. Giáo lý nhân quả chú trọng đến vấn đề thiện ác, tức là vấn đề luân lý đạo đức của con người nói chung và của hàng Phật tử nói riêng. Tuy nhiên, vấn đề trọng yếu của giáo lý nhân quả là ở chỗ nó đặt ra trách nhiệm cá nhân của mỗi con người đối với các điều kiện sống của con người ấy. Do đó, không thể quy uớc giáo lý nhân quả – tức luân lý đạo đức Phật giáo – theo khuôn mẫu ước lệ như luật pháp được ban hành trong xã hội. Chẳng hạn, một người phạm tội, luật pháp sẽ trừng phạt y khi hành vi phạm tội được xác định – nghĩa là y đã thực hiện điều tội lỗi. Trong khi, với đạo đức và luân lý, anh ta sẽ có tội ngay khi những ý niệm tội lỗi (xấu ác) phát sinh trong tâm của y, mặc dù đó chỉ là ý niệm chứ chưa phải là hành vi. Do đó, trách nhiệm cá nhân theo giáo lý nhân quả, ở đây là trách nhiệm cao nhất đối với thái độ tâm lý đạo đức của mỗi con người, mà không phải là trách nhiệm theo quy ước luật pháp trong xã hội. Trong một số trường hợp, những người khôn ngoan có thể chạy trốn pháp luật, nhưng với luân lý đạo đức,họ không thể chạy trốn lương tâm của chính mình. Vì thế, nếu đứng trên phương diện giáo dục, giáo lý nhân quả thực là một phương pháp giáo dục vô cùng lành mạnh và tích cực. Vì ngay từ đầu,tinh thần nhân quả đã đưa con người về với chính nó. Con người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những tư duy và hành động của chính mình. Hạnh phúc hay khổ đau là do mình tự tạo cho mình. Ở đây không hề có một sự trừng phạt hay ban thưởng nào, cũng không có một giáo điều hay tín lý nào có thể thiết lập trên cơ sở nhân quả của Phật giáo. Một nền luân lý đạo đức như thế, nhân bản và tích cực như thế, trí tuệ và đầy tình người như thế, nếu được áp dụng vào mỗi con người, gia đình, học đường và xã hội; ắt hẳn sẽ đưa đến một cuộc sống an lạc, hạnh phúc. Nhân quả – khởi điểm của tiến trình giải thoát: như đã đề cập, giáo lý nhân quả đặt trọng tâm vào vấn đề thiện – ác, chánh – tà, tốt – xấu v.v..., tức là các vấn đề liên quan đến đời sống đạo đức của con người. Tuy nhiên, đó cũng là điểm khởi đầu của con người để đi vào đạo. Nhưng đối với Phật giáo, sự giác ngộ và giải thoát không chỉ dừng lại ở lĩnh vực nhân quả – thiện ác,mà nó còn đi xa hơn nữa, đó là đi ra khỏi thế giới phân biệt, đối đãi giữa thiện – ác (thực tại giải thoát). Vì lẽ, Đức Phật dạy các pháp là vô ngã. Do đó, mọi sự phân biệt thiện – ác, chánh – tà... đều là sản phẩm của ý niệm vốn sanh khởi từ sự có mặt của ngã tưởng. Ở đây, điều tối quan trọng là hãy nỗ lực tư duy và nhận ra rằng không hề có mặt bất luận một ngã tưởng nào thực sự hiện hữu; tất cả là vô ngã. Khi nhận ra điều này nghĩa là đã bước lên đường để đi vào thế giới thực tại giải thoát – một thế giới vượt lên trên mọi ý niệm phân biệt, mọi ngã tưởng điên đảo,thế giới của sự thanh tịnh, xả ly và vô niệm. Tại đây, thần chết sinh tử của nhân quả không còn nữa,vì rằng khi ngã tưởng được buông bỏ thì tham ái và chấp thủ sẽ tiêu tan và khi ngã tưởng, tham ái và chấp thủ bị đoạn diệt thì trụ cột của thế giới tương quan nhân quả của nghiệp báo thiện ác đã bị sụp đổ; đây là ý nghĩa của Niết bàn tối thượng. C. Kết Luận Với sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn và một ý độ sanh dũng mãnh qua cuộc đời và giáo lý của Đức Phật; Ngài là một bậc vĩ nhân trên tất cả vĩ nhân, siêu nhân đứng trên mọi siêu nhân. Ngài thật đáng với danh xưng: Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi. Ngài hiện thân trên cõi nhân gian này là sự kết tinh vô vàn tinh hoa tuyệt mỹ của nhân loại. Đứng ở góc độ nào ta vẫn thấy được hiện thân của Ngài, đó là hiện thân của chân lý, của trí tuệ,từ bi, bình đẳng. Học tập ở Ngài là đi theo con đường Ngài đã đi, thực hành những gì Ngài đã dạy tinh tấn nỗ lực tu tập chuyển hóa thân tâm,thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh trên tinh thần từ bi bình đẳng vượt ngoài tầm thế gian nhân ngã bỉ thử. Theo dòng thời gian Phật giáo nhẹ nhàng lặng lẽ đi vào lòng người ở khắp mọi nơi trên thế giới, không đâu không có hình bóng của những người nối chí Phật. Thiết nghĩ lòng từ bi bao la, trí tuệ toàn giác, theo Phật dạy niềm tin chân chánh được củng cố và tăng trưởng, đó là động lực giúp cho người theo Phật giáo hướng đến giải thoát Niết bàn. ĐẠO LỰC CỦA MỘT BẬC GIÁC NGỘ vào đề: Con người sở dĩ có một vị trí đặc biệt trong các chủng loại động vật, là nhờ có một nhận thức về tư duy và có một tâm thức về linh học. Từ khi con người hiện hữu trên tinh cầu, vấn đề nhận thức được hoàn thiện từ sơ cơ cho đến tinh tường là nhờ trao đổi thông tin, giao tiếp và xử lý nhiều vấn nạn. Từ cơ bản đó, đối diện với ngoại cảnh, thiên nhiên cho đến uẩn khúc về tinh thần, con người phát sanh ra niềm tin vô hình, dùng những trừu tượng để ủy thác và giải tỏa những vấn nạn ngoài khả năng hiểu biết đương thời. Tôn giáo hoặc tín ngưỡng Thần linh đồng thời xuất hiện trong các bộ lạc. Chủ đạo tín ngưỡng cộng đồng được ủy thác cho một nhân cách đặc biệt chăm lo tế tự, là người môi giới giữa Thần linh và bộ tộc; Ngày càng phát sanh các hình thái, nghi lễ tế tự cho tín ngưỡng, tôn giáo có một tầm vóc trang trọng, tôn kính hơn. Nội dung: Mỗi quốc gia chủng tộc đều có nguồn sống cá biệt do thổ nhưỡng địa lý phát sanh. Những chủng tộc có nền văn hóa thâm thúy, sâu sắc đều có một tín ngưỡng tâm linh và tôn giáo đặc thù. Trên thế giới tuy có hàng vạn tôn giáo khác nhau, tựu chung có hai loại tín ngưỡng: tín ngưỡng Thần học và tín ngưỡng bản thể học. Tín ngưỡng Thần học cũng cho nhiều loại: Thượng đế, Thần thánh và các loại vô hình, Thần linh. Tín ngưỡng Bản thể học cũng có nhiều hình thức: tâm linh học, duy thức học, duy linh, Tự tánh học, bản ngã học, duy tâm... Những tín ngưỡng tâm linh khác hẳn với tín ngưỡng Thần linh. Trường phái tâm linh tin rằng mỗi cá thể có một năng lực tự do, có khả năng tự mình vượt thoát mọi hạn chế trong cuộc sống, trong khi đó, trường phái Thần linh đều tin vào quyền năng thiên nhiên, mọi sự đều ủy thác cho năng lực ngoại tại thông qua sự cầu nguyện, cúng kiến, khấn vái..làm đẹp lòng Thân linh. Trình độ bộ tộc thấp kém làm đẹp lòng Thần linh qua hiến tế máu thịt sinh mạng người hoặc thú vật. Trình độ cao hơn thì hiến tế thực phẩm hoa quả hoặc vật dụng tượng trưng cho máu thịt như lễ Misa của Ki Tô giáo hiện nay. Trường phái tâm linh có nhiều phương pháp thăng hoa tâm thức như Đạo học, Lão giáo, Tiên đạo của Trung Hoa cổ đại, như Yoga của Ấn độ xa xưa, khổ hạnh ép xác của các trường phái Ấn giáo; Tuy nhiên và duy nhất, trong các hành giả đương thời tìm hạnh phúc nơi cảnh giới sau khi xả bỏ nhân thân, sau 6 năm tầm cầu học hỏi và hành chứng, Gotama tự mình tìm ra con đường thực nghiệm quán chiếu, đã hoát nhiên đại ngộ dưới cội Bồ Đề, từ đó giáo pháp được lan tỏa như một bộ môn khoa học tâm linh, vượt thoát tính năng tôn giáo. Giá trị tâm linh: Sau những năm tháng miệt mài tìm cầu thực hiện các pháp ngoại đạo, Đức Phật đã ngạc nhiên thốt lên: - mọi chúng sanh đều có khả năng giác ngộ như ta, chỉ vì vô minh Tham -sân-si che ám tâm thức, bị dục vọng sai khiến nên mãi trôi lăn trong Tam giới! Chỉ cần không vướng mắc ngoại cảnh, lục căn không bị cám dỗ bởi lục trần, ý thức cuộc sống là vọng tưởng, không thật; cuộc sống và mọi vật đều vô thường, khổ, vô ngã. Vạn vật đều không có một bản thể cố định nên gọi là Không! vì không ý thức nên hành động, tư duy sai trái tạo nên nghiệp, từ nghiệp nên dẫn dắt trôi lăn sanh tử... Đó là giá trị đích thực về nhận thức của thân phận làm người mà đức Phật đã giác ngộ, để lại cho nhân loại một gia tài hiếm hoi và vô cùng giá trị. Từ sự chứng ngộ chơn tánh đó, mọi hành giả đều có cuộc sống mới, mọi hành vi, ngôn ngữ đều có một giá trị mô phạm, làm thân giáo cho muôn loài. Không riêng đức Phật Thích Ca sở chứng đưa đến thân-khẩu-ý thánh thiện mà tất cả hành giả tâm linh thực chứng đều có một giá trị hạnh đức , trí tuệ như nhau, là ngọn đuốc tâm linh tuyệt vời. Dĩ nhiên, không phải đột nhiên mà Gotama thành tựu tâm linh tuyệt dịu như thế; Ngài phải trãi qua vô lượng kiếp tô bồi phước báu, công đức qua công hạnh Bồ Tát để rồi, kiếp nầy chỉ là giọt nước cuối cùng tràn đầy ly nước mà thôi. Chánh báu đó tích lũy, thể hiện qua pháp tướng mà A Tư Đà tiên đoán hậu vận Ngài sẽ là một Chuyển Luân Thánh Vương hoặc là một vị Phật. Con đường đã định: Cho dù là phước báu, cũng đã là con đường đã định sẵn bởi đạo nghiệp, Thái tử Gotama không thoát khỏi nên giá trị tâm linh đã được thể hiện một cách ngoạn mục từ vương cung cho đến thứ dân, từ khổ hạnh cho đến đại ngộ, qua bao gian nan khổ hạnh đi đến thành công là một chặng đường tâm linh đầy gai góc, đã nở hoa giá trị tâm linh tuyệt vời có một không hai trên hành tinh sau hàng ngàn năm vẫn chưa có ai kế thừa ánh sáng đạo nghiệp như thế. Lúc sanh thời trong hoàng cung, Thái tử cũng lộ diện một tài năng về học vấn, một trí tuệ không có đối thủ, một sức khỏe phi thường, một lòng Từ vô hạng, một ứng xử vô song thì khi xuất gia tầm cầu chân lý, hành giả Gotama cũng vượt trội mọi mặt những vị thầy của mình, để rồi sau khi chứng ngộ, trở lại khai thông những bế tắt mà đồng đạo của Ngài đang gặp phải. Giáo lý: Khởi đầu cho một giáo lý vô ngã, tại Lộc Uyển, Đức Phật khai thị cho năm anh em Kiều Trần Như về một luận chứng cô đọng, sâu sắc nhưng thực tế, đó là bốn chân lý tuyệt vời về kiếp nhân sinh mà không một ai thoát khỏi từ lúc có mặt trong cỏi trần ai đến lúc ra khỏi vòng luân lưu hủy diệt: Khổ-Tập-Diệt-Đạo. Đây là sự khổ của kiếp sống, đây là nguyên nhân đưa đến cái khổ; đây là con đường hạnh phúc sau khi thoát khổ và đây là giải pháp đưa đến thoát khổ. Bốn chân lý trên đây nghe như đơn giản, thực tế hàm tàng cả một trí tuệ siêu việt, một giá trị tâm linh thực chứng mà bao thế hệ trước đó, các hành giả dày vò thân xác, khổ hạnh mà vẫn chưa thấy được ánh sáng giác ngộ le lói giữa u minh nhấn chìm cuộc sống nhân sinh. Để triển khai hệ thống giáo lý vô ngã, đức Phật đã dẫn dắt hành giả đi từ thấp đến cao; giúp cho tín chúng thấy được cái hư ảo của vật chất, cái sai lầm của nhận thức; dùng mọi phương tiện hư ảo để thoát khỏi hư ảo; Biết là hư ảo mà vẫn phải khép cuộc sống vào quy tắc mô phạm để khỏi vi phạm vào ý hệ hư ảo rồi trôi lăn theo hư ảo trầm luân. Giá trị tâm linh tuyệt vời trong kho tàng giáo lý duyên khởi không phạm vào một trong hai cực đoan thường tình. Nói về hư ảo mà vẫn sống trong hư ảo để chuyển hóa hư ảo. Không từ bỏ hư ảo để chạy theo một ảo tưởng khác, cũng không chìm sâu trong hư ảo khi cùng hư ảo bơi lội về bến chân như. Nghệ thuật trung đạo đã giúp giáo lý nhà Phật chuyển hóa cuộc sống mà không xa rời, từ bỏ cuộc sống. Tâm linh, ý hệ, cuộc sốngkhông rời nhau mà cũng chẳng xa nhau, từ một hợp thể phức tạp biến thành một đơn thể chân thật khai sanh một trí tuệ chắc thật. Từ một giá trị tâm linh đơn thuần chuyển hóa một hợp thể đa tạp trong tâm thức mọi hành giả mà chúng ta gọi là chuyển pháp luân. Không những Tứ Đế là giáo lý đầu tiên đức Phật đã chuyển pháp đầu tiên cho công cuộc giáo hóa; suốt 49 năm hành hóa, đức Phật vẫn không ra khỏi nguyên tắc: Thế gian pháp tức Phật Pháp, hoặc giả: Phật pháp tức bất định pháp,vì thế Phật pháp bất ly thế gian pháp.Đó là một giá trị tâm linh tuyệt vời mà chưa có giáo pháp nào bao hàm trọn vẹn như thế. Hầu hết các tôn giáo hiện nay, hoặc xem nhục dục là phương tiện đạt đến cứu cánh, hoặc từ bỏ cuộc sống thế gian để hướng đến cảnh giới mai sau. Hoặc chọn sự khổ hạnh hành xác để bù đắp tội lỗi quá khứ hy vọng Thần linh hỷ xả, cứu vớt cho về cảnh giới Thiên đàng...nghĩa là hầu hết chọn con đường cực đoan, biên kiến đưa đến cuộc sống thiếu thực tế. Phật giáo và xã hội khoa học thực dụng: Với những tiện nghi hiện nay và khoa học tiến bộ vượt trội, đã đẩy nhiều tôn giáo vào vị thế tỷ lệ nghịch với khoa học thực dụng. Hầu hết, con người chấp nhận khoa học và những thành tựu của khoa học là một bước tiến hiển nhiên của loài người không thể phủ bác, vì thế, một số tôn giáo cực đoan xem khoa học là tội lỗi, là mồi cám dỗ đưa loài người gần với hỏa ngục; thậm chí kết án và đỏi triệt tiêu các quốc gia văn minh tiến bộ, nhưng, nhà khoa học như : Albert Einseint - nhà bác học Vật Lý từng bảo: “Tôi là một người không tôn giáo. Nhưng nếu có Tôn giáo thì Tôi phải là một Phật tử. Vì những gì Tôi hiểu biết bây giờ thì mấy ngàn năm qua Kinh Phật đã nói hết rồi” “Tôn giáo tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu” Vượt lên mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm trọng thể gồm mọi phương diện trên. Trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có Đạo Phật đáp ứng đủ điều kiện đó. “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu được mọi nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo” “Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học” “Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt qua. Như vậy, Phật giáo không thể là một tôn giáonhư những tôn giáo thần linh, cũng không hẳn là bộ môn khoa học thực dụng, cũng không là môn tâm lý đạo đức xã hội, và cũng không là bất cứ mặt nào trong tổng thể cuộc sống, mà là tổng thể cuộc sống được chuyển hóa, được thăng hoa về lãnh vực tâm linh để tổng thể cuộc sống có một giá trị đích thực hơn là giá trị thực dụng hữu hạn của cuộc sống. Đó là giá trị tâm linh được thổi vào cuộc sống qua con đường giáo lý của đức Phật. Phật giáo và công cuộc hoằng hóa: Một gia tài đồ sộ và một giá trị tâm linh tuyệt vời của Phật giáo, mãi đến nay, qua lượng số tín đồ, đạo Phật vẫn là tôn giáo đứng vào hạng ba, hạng tư trên thế giới so với các tôn giáo Thần học. Tại sao? đặt câu hỏi tức là đã có đáp án tiểm ẩn. 1/ Phật giáo không chủ trương áp đặt 2/ Phật giáo không có giáo quyền, không có tín điều 3/ Phật giáo không chú trọng về lượng số tín đồ, không nặng về quyền lực (quyền lực tâm linh và quyền lực tôn giáo) 4/ Phật giáo tôn trọng tự quyết định của mỗi cá thể và nghiệp lực của từng cá nhân 5/ Vì Phật giáo đặt nặng việc hướng nội cá nhân nên xem nhẹ việc hướng ngoại của tổ chức. 6/ Phật giáo không chủ trương đối phó với chuớng duyên ngoại cảnh Khi Phật còn tại thế, việc truyền bá giáo lý còn tùy căn cơ mà nói pháp, thậm chí có những đối tượng Phật không cảm hóa được mà phải giao cho đệ tử Ngài cảm hóa; khi đi giáo hóa, không dùng thần thông, không sử dụng quyền lực, quyền lợi. Mỗi người đi một hướng, tận dụng tâm từ để giáo hóa, dù bị ngược đãi hành hung vẫn không chống trả bằng bạo lực. Đó là thời quá khứ, hiện nay, với phương tiện khoa học, Phật giáo một số quốc gia đã dùng tiện nghi sẵn có để truyền bá, bằng truyền hình, bằng băng đĩa, bằng phim ảnh sân khấu, bằng ca nhạc kịch nghệ...vì thế, ảnh hưởng Phật giáo ngày nay trên thế giới, một số quốc gia Thần học trước kia, nay nếm hương vị giải thoát, giải thoát sự kềm hãm của tổ chức tôn giáo, giải thoát những tri kiến chấp thủ của thế gian, giải thoát tâp quán xã hội...để bay bổng vào chân trời tự tại tâm linh, nên Phật giáo dễ được chấp nhận và bén rễ, phát triển nhanh chóng trong các xã hội thực dụng và tiện nghi khoa học. Chính vì thế mà Phật giáo được các tôn giáo tại Liên Hiệp Quốc chọn làm tôn giáo hòa bình của nhân loại. Vì là tôn giáo hòa bình nên việc phát triển chậm chạp nhưng không làm đổ máu chúng sanh. Phật giáo với hệ sinh thái: Không những sinh mạng con người, động vật được tôn trọng, mà ngay cả cỏ cây hoa lá cũng được bảo vệ; đệ tử Phật không được chặt phá cây, dẫm đạp lên cỏ cây một cách bừa bãi, vô cớ. Không đổ nước và chất bẩn vào dòng sông, không khạc nhổ lên cỏ cây, không dẫm đạp côn trùng, thậm chí một Sa Môn không được chết nơi xóm làng, phố thị nhà dân mà phải vào chốn núi non rừng thẳm... không uống nước khi chưa được lọc. Một Khất sĩ đi xin ăn như con ong hút mật hoa mà không là tổn hại phấn hoa, nhụy hoa. Đức Phật sinh ra vườn cây Lân Tỳ Ni, chứng đạo dưới cội Bồ Đề, Hoằng pháp nơi vườn Lộc Uyển, Nhập diệt trong rừng Sala. Ngụ nơi rừng Trúc; Cả cuộc đời Ngài gắn liến với môi trường xanh và luôn hòa nhập với hệ sinh thái Kết: Phong cách của một giáo chủ lớn như Đức Phật, luôn toát hiện lòng từ ái và trí tuệ vô biên; mọi hành trạng luôn thích hợp hài hòa với cuộc sống. Nguồn Tâm linh diệu vợi đó đã cảm hóa bao nghịch cảnh chướng duyên, từ Đề Bà Đạt Đa đến Vô Não, từ voi say đến kỹ nữ giả bụng chửa vu oan cho Phật; Từ bạo chúa như Asoka đến các vương cung hoàng tử, từ quý tộc đến giai cấp tiện dân; từ ngoại đạo đến tà giáo đều quy ngưỡng trước một năng lượng từ ái, vô úy và giải thoát của Ngài. Từ lúc ra đời đến khi nhập diệt, trên 80 năm, Ngài để lại cho nhân loại một giá trị tâm linh qua thân giáo, khẩu giáo và lời dạy đầy trí tuệ. Chỉ có một bậc chứng đắc hoàn toàn mới có cuộc đời hoàn hảo như thế. Giá trị tâm linh của một bậc đại giác luôn là gia tài quý báu cho nhân loại, giúp cho bao cuộc sống thăng hoa và giải tỏa những bế tắc cho đời người, đó là giá trị tuyệt vời của một tâm linh đã giác ngộ gần ba ngàn năm qu

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét