THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

PHẬT GIÁO THỜI GUPTA

PHẬT GIÁO THỜI GUPTA I. DẪN NHẬP: Trong tiến trình phát triển của lịch sử các quốc gia trên thế giới, ấn Độ được xem là một trong những hiện tượng đặc biệt. Là một quốc gia lớn thuộc khu vực châu á, ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại, là thế giới của những điều huyền bí, kỳ diệu, phong phú ngàn đời, là quê hương của tôn giáo và triết học. Nền văn minh ấn Độ có quan hệ chặt chẽ với nền văn hoá của nhiều quốc gia trên thế giới, có sức lan toả ra bên ngoài trong đó có Việt Nam chúng ta. Trong sự kỳ bí và phong phú của lịch sử ấn Độ, lịch sử phong kiến ấn Độ góp phần quan trọng tạo nên sự đặc biệt và hết sức thu hút. ở đó có rất nhiều đề tài và phạm vi cần tìm hiểu, nghiên cứu và phám phá. Thời kỳ lịch sử phong kiến của ấn Độ được tính từ thế kỷ IV đến thế kỷ XVIII. Chừng ấy thời gian không phải là dài so với sự hình thành và phát triển của một quốc gia, nhưng đối với một hình thái kinh tế – xã hội, một thể chế chính trị cụ thể thì nó không phải là ngắn. Trong đó từ thế kỷ IV đến thế kỷ VII là thời kỳ hình thành và bước đầu củng cố chế độ phong kiến dưới hai vương triều Gúpta và Hácsa; từ thế kỷ VII đến thế kỷ thứ XII thời kỳ phong kiến phân tán; từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV lịch sử ấn Độ thuộc sự trị vì của vương triều Hồi giáo Đêli và từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII ấn Độ thuộc sự điều hành của vương triều Môgôn. Chừng đấy thôi đã phác hoạ một cách khá đầy đủ diện mạo đa dạng của lịch sử các triều đại phong kiến ấn Độ Đóng vai trò là vương triều mở đầu và định hình những bước đi cơ bản cho chế độ phong kiến ở ấn Độ, vương triều Gúpta và Hácsa (từ thế kỷ IV đến thế kỷ VII) đã có những đóng góp và dấu ấn đậm nét cho sự phát triển của các vương triều phong kiến ở giai đoạn sau. Là vương triều tiên phong, đặt nền móng cho lịch sử phong kiến ấn Độ, vương triều Gúpta đ• gặp phải không ít những khó khăn và thách thức. Vượt qua tất cả những khó khăn và thách thức bước đầu ấy, vương triều Gúp ta, dưới sự trị vì của các vị vua kế tiếp đã đạt được những thành tựu rực rỡ đưa chế độ phong kiến ấn Độ bước vào quá trình phong kiến hoá. Trên cơ sở của những thành tựu bước đầu ấy, vương triều Hácsa đã tiếp những bước đi vững chắc, đưa chế độ phong kiến ấn Độ bước vào một thời kỳ phát triển mới, xác lập có mặt của nó trong lịch sử ấn Độ. II. NỘI DUNG: 1. THỜI ĐẠI GUPTA (320 – 550): 1.1. Sự Thịnh Suy: Đại sư Nghĩa Tịnh đến Ấn vào khoảng năm 672, sau HT Huyền Trang đến hơn 40 năm, và đã nghe nói đến danh hiệu vua ‘Maharaja Sri-Gupta’ của vương quốc Magadha xây một tăng viện gần Mrigasikhavana khoảng ‘500 năm trước’ cho những vị sư chiêm bái đến từ Trung quốc tạm trú. Các học giả về sau không đối chiếu được với lịch sử Ấn, và họ cho rằng Nghĩa Tịnh chỉ phỏng đoán theo cảm quan tôn giáo mà thôi. Nhưng ngày nay người ta đã chứng minh được đó là thời đại Gupta dựa vào bộ Bhagwatam. Dòng Gupta khởi đầu từ xứ Bengal, theo các ghi chú tại ngôi tháp "Varendra Mrigashihavan Stupa" trên đồi ở Nepal, rồi sau đó trở thành tiểu vương từ xứ Prayaga, Đông Uttar Pradesh, bây giờ là Allahabad từ năm 240 TL. Vị tiểu vương đầu tiên là Sri-Gupta khoảng từ 240-280 TL. Bản bia ký bằng đồng ở Poona (gần Bombay bây giờ) do công chúa Prabhavati Gupta (con gái của Chandragupta-II về sau) ghi rằng Sri-Gupta là Adhiraja của Gupta. Vua kế vị là Ghatotkacha (280-319) mà bia ký cũng còn có truy hiệu là Đại vương (Maharaja). Đến triều thứ ba, khoảng năm 320 vua Chandra Gupta I (320-335) dựa vào hôn nhân với công chúa Kumaradevi dòng Licchavi xứ Magadha (Ma-Kiệt-Đà) đã làm cho lãnh thổ bành trướng thêm; xưng là Đại đế (maharajadhiraja). Kể từ đó các triều đại Gupta mới trở nên vẻ vang, và lịch sử Ấn ghi về thời đại Gupta chỉ kể từ đây. Sự xâm lăng của Hung nô đã nhanh chóng đưa triều đại Gupta đến chỗ sụp đổ vì đã kéo theo sự xâm nhập ồ ạt của dân các bộ lạc biên cương từ Trung Á, cộng thêm kinh tế Ấn bị suy thóai trầm trọng do mất quyền kiểm sóat đường tơ lụa, con đường thương mãi huyết mạch. Điều đáng lưu ý ở đây là hậu duệ của dân Hung nô vốn chạy thoát được về mạn Kashmir đã dần thích ứng với xã hội và nền văn hóa mới để sau này biến dạng thành giống Rajputs. Vua kế vị là Kumara Gupta-II (476-477) không lưu lại được thành tích gì. Thời gian trị vì của ba triều sau này quá ngắn tổng cộng chỉ khoảng 10 năm nên sử liệu hiếm hoi. Và từ đấy việc truyền thừa các ngôi vua cũng không được ghi lại rõ ràng. Xứ Magadha cứ suy yếu dần và nội loạn cứ xảy ra mãi. Theo bia ký Apshad ở Adityasena thì vua vua Kumara Gupta II, rồi vua Damodara Gupta đã đánh bại được kẻ phản loạn Isanavarman – một dũng tướng đã từng có công đánh đuổi quân Andhra, Sulika, Gauda và rợ Hung, đã được vinh danh trên bia ký Haraha. Về sau vua Mahasena Gupta lại còn dẹp được quân phiến loạn Susthivarman. Người ta được biết thêm tên 14 vị vua nối tiếp nhau trong vòng hơn nửa thế kỷ là Budha Gupta (477-495), Tathagata Gupta, Krishna Gupta, Harsha Gupta, Jivita Gupta-I, Kumara Gupta-III, Damodara Gupta, Mahasena Gupta, Madhava Gupta and Deva Gupta-II, Adityasena, Deva Gupta-III, Jiva Gupta-III. Các triều này cũng chẳng lưu lại công trạng gì vẻ vang cả cho đến vị vua cuối là Vishnu Gupta thì thời đại Gupta chấm dứt khoảng 550. Sau khi thời đại Gupta suy sụp thì các thế lực nội bộ tranh nhau ngôi bá vương trong một thời gian khá dài. Trong đó đáng kể là Valabhi, Gujarata, Nandipuri, Maukhari của xứ Magadha, tiểu vương hậu Guptas ở Malwa cạnh Magadha, các xứ Bengal, Nepal, và Kamarupa trong thung lũng Assam. Đến đầu thế kỷ thứ 7, các thế lực đối kháng rốt lại gom vào trong tay của hai dòng họ đáng kể là Shashanka vua của xứ Gauda (Hạ Bengal) sau khi chiếm được xứ Orissa liền sáp nhập phần lớn lãnh thổ trong thung lũng sông Hằng; và dòng họ Puspabhukti ở vùng bắc Delhi đang hùng mạnh; mãi đến thời vua Harsavardhana mới thống trị được thiên hạ. 1.2. Thời kì Gupta là thời kì định hình và phát triển văn hóa truyền thống Ấn Độ: Đến đầu Công nguyên, miền Bắc Ấn Độ đã được thống nhất lại, bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ phát triển cao và rất đặc sắc của lịch sử Ấn Độ - thời Vương triều Gúp-ta. Cùng với sự truyền bá Phật giáo và lòng tôn sùng đối với Phật, người ta đã làm nhiều ngôi chùa hang bằng cách đục đẽo hang đá thành hàng chục ngôi chùa rất kì vĩ, là những công trình kiến trúc đá rất đẹp và rất lớn. Cùng với chùa là những pho tượng Phật điêu khắc bằng đá hoặc trên đá. Người Ấn Độ sớm có chữ viết, như chữ cổ vùng sông Ấn có từ 3000 năm trước Công nguyên, chữ cổ vùng sông Hằng có khoảng từ 1000 năm trước Công nguyên. Ban đều là kiểu chữ đơn giản Bra-mi (Brahmi), được dùng để khắc trên cột A-sô-ca, rồi sáng tạo thành hệ chữ Phạn (Sanskrit), được hoàn thiện từ thời A-sô-ca cả chữ viết và ngữ pháp. Ngôn ngữ Phạn dùng phổ biến dưới thời Gúp-ta trong việc viết bia. Ngôn ngữ và văn tự phát triển là điều kiện để chuyển tải, truyền bá văn học, văn hoá Ấn Độ. Vương triều này do vua Gúp-ta lập, có vai trò tổ chức kháng cự, không cho các tộc ở Trung Á xâm lấn từ phía tây - bắc, thống nhất miền Bắc Ấn Độ; tiếp đó, tần công chiếm cao nguyên Đê-can, làm chủ gần như toàn bộ miền Trung Ấn Độ. Vương triều Gúp-ta có 9 đời vua, trải qua gần 150 năm (319 – 467) vẫn giữ được sự phát triển và nét đặc sắc, cả dưới thời Hậu Gúp-ta (467 – 606) và Vương triều Hác-sa tiếp theo (606 – 647), tức là từ thế kỉ IV đến thế kỉ VII. Nét đặc sắc nổi bật của thời kỳ này là sự định hình và phát triển của nền văn hoá truyền thống ở Ấn Độ. Thời Gúp-ta đã có những công trình kiến trúc, tượng, những tác phẩm vno tuyệt vời, làm nền tảng cho văn hoá truyền thống Ấn Độ, có giá trị vĩnh cửu xuyên suốt thời gian lịch sử của loài người. 1.3. Di sản của thời đại Gupta: Ngày nay người ta biết nhiều về thời đại này dựa vào đồng tiền cỗ, bia ký, đền đâi, và các tác phẩm cổ văn Sanskrit. Tuy lãnh thổ của Ấn dưới triều đại này không rộng lớn bằng vào thời Maurya và dòng Gupta kéo dài được 200 năm, nhưng nói chung đã được các nhà sử học xem là thời đại cổ điển hòang kim của nước Ấn. Các ngành văn học, nghệ thuật, y học, thiên văn, toán học, kiến trúc, đạo học và triết học của Ấn khởi sắc; kinh tế sung mãn nên các đô thị được phát triển và giàu có. Tương tự nhiều thời đại trước, các tiên vương thì theo đạo BLM giáo nhưng đến các triều sau thì sùng bái và hổ trợ PG. Vua Kumara Gupta I đã cho xây dựng và bảo hộ cho PHV Nalanda. Rồi về sau vua Narasimha Gupta đã nhường ngôi cho con mà vào Nalanda làm tăng sĩ. BLM giáo và PG hình như có sự pha trộn dưới thời này. Dù vậy, xã hội Ấn dưới thời Gupta ban đầu vẫn còn nặng về với nề nếp trật tự theo đẳng cấp phân biệt của Bà-la-môn giáo. Dưới thời Gupta văn chương Sanskrit đạt đến cao điểm; văn học PG thường được viết bằng Pali trước đây đều được dịch ra Sanskrit; hai mươi tám hang động của các tăng sĩ ở Ajanta với những bích họa tuyệt tác đầy sáng tạo linh động cũng được tạo ra. Ajanta nằm ở phía tây Maharashtra, một phần của vương quốc Vakataka đồng minh với Gupta. Nghệ thuật và văn học PG cũng đạt đến tuyệt đỉnh dưới thời này qua những lò mỹ nghệ danh tiếng Mathura và Sarnath, và từ đó lan tràn sang các hãi đảo ĐNA và Miến-điện, Xiêm-la, Thủy chân lạp, Lào và Lâm Ấp. Kiến trúc đền đài, điêu khắc và luyện kim đạt đến một nghệ thuật rất cao. Trụ sắt ở Meharulli, Delhi – mà nhiều học giả cho là do vua Chandra Gupta II cho dựng lên - dù đến nay đã hơn 16 thế kỷ vẫn còn đứng trơ trơ không rĩ sét. Thế nhưng đến nay những đền đài xây dựng vào thời này như Vaishnavite Tigawa ở Jabalpur vào năm 415, ngôi khác ở Deogarhnear Jhansi xây năm 510, và Bhita ở bang Uttar Pradesh hầu hết đều hoang tàn đổ nát. Nhiều văn hào, thi gia, luận gia đạo sĩ trứ danh như Harishena, Vasubandhu (Thế Thân), Asangha (Vô Trứ), Kalidasa, Dandi, Visakhadatta, Shudraka, và Bharavi cũng xuất hiện vào thời này. Những kinh sớ (shastras), truyền thuyết luận (puranas) tôn giáo nổi tiếng cũng đều được sáng tác, kể cả cuốn kinh về nghệ thuật yêu đương nổi danh ‘Kama Sutra’. Nhà thơ Sanskrit vĩ đại Kalidasa của Ấn với hai tác phẩm Meghdoot và Kumarsanhita cũng đã phục vụ dưới triều Chandra Gupta II. Riêng về toán học, Varahamihira đã đưa ra khái niệm về số lẽ, vô cực trong khảo luận ‘Bhrihatasamhita’. Đồng thời biểu hiện của con số từ 1 đến số 9, và số ‘không’ (zero: lấy từ dấu hiệu vòng tròn ‘0’ viên mãn tượng trưng cho pháp không của PG) đã được phát kiến vào thời này, mà về sau người Á-rập truyền qua phương tây đã dần thay thế hệ thống số của La-mã. Các nhà thiên văn Aryabhatta đã khám phá ra số pi và đã chứng minh được quả đất có hình tròn vào năm 499. Họ cũng đã tính được lịch theo mặt trời có 365.358 ngày và sự chuyển dịch của các hành tinh một cách tương đối chính xác. 2. PHẬT GIÁO DƯỚI TRIỀU ĐẠI GUPTA VÀ HẬU GUPTA: Đầu thế kỷ thứ IV TL minh chứng sự khởi nguyên của triều đại Gupta đã đánh dấu một thời kỳ quan trọng về lịch sử chính trị cũng như tôn giáo của Ấn Độ cổ đại. Theo các sử liệu khắc ghi trên đá, vua Gupta hay còn gọi ‘Srìgupta, niên hiệu Mahaaraaja, đúng là người đã thành lập triều đại Gupta. Trong thời kỳ này, Phật giáo trở nên nổi bật trong số các tôn giáo. Vào đầu thế kỷ thứ V TL, ngài Pháp Hiển đã sống nhiều năm ở vương quốc của vua Chandragupta II, con của vua Samudragupta. Mặt dù sử ký của Ngài bao gồm nhiều dữ kiện phong phú về sự truyền bá Phật giáo trong quần chúng vào thời vua Chandragupta II, nhưng nhật ký của Ngài vẫn không đề cập tới tên của bất kỳ một vua nào. Tuy thế, sử ký của Ngài chắc chắn nhuốm màu Phật giáo dưới triều đại vua Chandragupta. Ngài Pháp Hiển mô tả là Ngài đã tìm thấy 2Tu viện thuộc Tăng sĩ của cả hai hệ phái, Đại thừa và Tiểu thừa tại Pàt.aliputra . Nhiều Tăng sĩ cư trú trong cả hai Tu viện cùng một lúc con số lên đến 600 hoặc 700 vị và các Ngài rất nổi tiếng uyên bác trong lãnh vực học thuật đến nỗi các bài thuyết giảng của các Ngài thường được các sinh viên và các thính giả bốn phương đến nghe. Ngài Pháp Hiển học ngôn ngữ Sanskrit trong suốt thời gian 3 năm tại Paa.taliputa và Ngài đã phát hiện nhiều bản sao chép từ những thánh điển về giới luật của nhiều trường phái khác nhau. Ngài vui mừng vô cùng khi được những bản sao này. Kế đó, Ngài cung cấp thêm tư liệu về buổi lễ diễn hành hình tượng rực rỡ vào ngày 8 tháng 2 tại kinh đô Pàt.aliputra. Ngài viết: “Được sự ngưỡng mộ nồng nhiệt của đông đảo quần chúng, lễ diễn hành tượng Phật lộng lẫy được chở trên 20 chiếc xe ngựa lớn, sặc sỡ, cùng với các ca kỹ và nhạc công hàng năm, vào ngày 8 tháng 2.” Và Ngài kể thêm rằng: “Những buổi lễ diễn hành tương tự thường được tổ chức ở nhiều vùng khác nhau trong nước.” Những người hành hương Trung Hoa còn đề cập đến 4 điện Phật được trang trí 4 phía kinh đô Pàt.aliputra. Mỗi bên gồm có một tượng Phật ngồi và một tượng Bồ-tát đứng. Ngài Pháp Hiển đưa ra nhiều sử liệu có liên quan đến chính quyền của vua Chandragupta II. Từ sử liệu của ngài Pháp Hiển, chúng ta thấy rằng không có người nào phạm giới sát sanh, uống rượu hay dùng tỏi, hành. Không có ai nuôi lợn hoặc gà, vịt và cũng không có một cửa tiệm thịt nào hay những người làm nghề đồ tể ở những nơi chợ búa. Dựa trên sử ký của ngài Pháp Hiển, chúng ta có thể kết luận rằng, Phật giáo rất thịnh hành trong vương quốc của vua Chandragupta II. Căn cứ theo sử ký của Ngài Huyền Trang, một vài bằng chứng rõ ràng liên quan đến tầm quan trọng của Phật giáo trong vương quốc vua Gupta. Ngài cho biết tên của vua ‘Sakraaditya, mà theo các nhà nghiên cứu, ông chính là vua Puragupt Vikrama Prakaa’sadity, anh ruột của vua Skandagupta. Vua này là người ủng hộ Phật giáo rất đắc lực. Ông kính tin Tam Bảo, tức là, Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo và đã xây dựng một Tu viện tại Nàlandà. Narasi.mhagupta Baalaaditya, là vua kế vị thuộc triều đại Gupta, sau vua Purugupta và có công rất lớn trong việc đóng góp vào tiến trình phát triển Phật giáo trong vương quốc của ông. Đối với Phật giáo, nhà vua đã tỏ ra thiện cảm sâu sắc trong việc xây dựng tại Nàlandà thuộc thủ phủ của Ma-kiệt-đà (Maghadha), một trung tâm nghiên cứu Phật giáo ở phía Bắc Ấn Độ và một ngôi Chùa bằng gạch có độ cao hơn 300 feet=91,44m. Các sử liệu của những nhà hành hương Trung Hoa chỉ cho chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của nhiều trung tâm Phật giáo lớn như Pàtaliputa, Mathurà, Sàrnàth, ‘Bodh Gayàø và Nàlandà trong suốt thời gian thống trị của triều đại Gupta. Cùng với sự phát triển của Phật giáo, những hoạt động về văn học cũng bắt đầu phát triển dưới sự hỗ trợ đắc lực của các vua Gupta. Chúng ta thấy rằng trong khoảng thời gian đó, một số lượng lớn về những trước tác Pàli và Sanskrit đã được nhiều nhà học giả soạn thảo và cũng trong giai đoạn đó, tư tưởng của Phật giáo và các ý tưởng triết học thuộc Phật giáo Tiểu thừa và Đại thừa phát triển. Ngài Vô Trước (Asa.nga), ngài Thế Thân (Vasubandhu), ngài Trần Na (Dinnàga) và ngài Bhavaviveka quả là những học giả nổi bật nhất. Những trước tác văn học của các Ngài không những làm phong phú cho nền văn-triết học Phật giáo bằng ngôn ngữ Sanskrit, mà còn tạo một dấu hằn trong lĩnh vực văn học vào thế kỷ IV, V, & VI TL. Adityasena là vị vua hùng cường nhất của triều đại hậu Gupta.(31) Từ những sử ký của Hwui-Li, chúng ta biết được Adityasena là một tín đồ Phật giáo, chính những sự đóng góp đáng kể của ông, nên ông đã có một vị trí nổi bật trong lịch sử Phật giáo thuộc triều đại hậu Gupta. Hwui-li kể rằng: “Vua Adityasena đã xây dựng một ngôi Chùa khác bên cạnh ngôi Chùa cũ mà bây giờ mới hoàn thành. Nhiều vị Tu sĩ từ miền Nam đã coi giữ ngôi Chùa này.” Hwui-li còn nói thêm rằng ngôi Chùa Tohina Trung Hoa do vua Mahàràja, còn được gọi là ‘Srìgupta xây dựng. Nhưng khu đất này hiện nay được chuyển giao cho vua thuộc miền Đông Ấn Độ, tước hiệu của ông là Devavarmaa, nhưng người ta nói rằng ông muốn giao lại khu đất Chùa và hiến cúng trong trường hợp bất kỳ vị Tăng sĩ Trung Hoa nào đến. Ông R.C.Majumdar đã cho rằng vua Devavarmaa cũng là vua Devakha.dga thuộc miền Đông xứ Bengal và cũng là người cùng thời với ngài Hwui-li. Nhưng Radha-Govinda-Basak lại nghĩ rằng vua Devavarmaa chính là vua Devagupta III, con của vua Adityasena, là vua trị vì phía Đông Ấn Độ khi Ngài Hwui-li viếng thăm vùng đất này. Dường như, vị vua này là một Tín đồ thuần thành của Phật giáo. 2.1. thời hoàng kim của phật giáo: Trong khoảng thời gian đó, Chandragupta I (không nên lộn với Chadragupta Maurya, cũng gọi là Chandragupta I) đã sáng lập triều đại các vua bản thổ Gupta. Người kế vị ông, Samudragupta, trị vì năm chục năm, nổi danh là một trong những minh quân bậc nhất suốt trong mấy ngàn năm lịch sử Ấn Độ. Ông thiên đô từ Pataliputra tới Ayodhya, chỗ xưa kia của Rama[2] trong thần thoại; xua quân và phái các quan thu thuế vô miền Bengale, miền Assam, miền Népal và miền Nam Ấn, ông dùng số tiền các nước chư hầu nộp cống để phát triển văn học, tôn giáo, khoa học và nghệ thuật. Chính ông, khi nào không cầm quân thì làm thơ và chơi đàn, vào hạng có tài. Con trai ông, Vikamaditya (Mặt trời của Uy quyền) tiến xa hơn nữa về võ bị cũng như về văn hóa, nâng đỡ kịch tác gia danh tiếng Kalidasa và qui tụ được ở kinh đô Ujjaïn một đám đông thi sĩ, triết gia, nghệ sĩ, bác học, học giả ưu tú. Dưới hai triều vua đó, Ấn Độ đạt tới một trình độ văn minh chưa hề có từ thời Phật Thích Ca và một sự thống nhất chính trị ngang với các triều đại Açoka và Akbar. Trong tập kí sự về lần qua Ấn thỉnh kinh ở đầu thế kỉ thứ V sau Công nguyên, nhà sư Pháp Hiển đã ghi lại ít nét về văn minh Gupta. Ông là một trong số nhiều nhà sư Trung Hoa qua Ấn Độ trong thời đại hoàng kim đó, mà số người hành hương đó còn ít hơn số các thương nhân, sứ thần từ đông hoặc từ tây vượt các dãy núi cao để vô Ấn Độ, có người từ La Mã tới, làm cho Ấn được cái lợi tiếp xúc với các phong tục và tư tưởng ngoại quốc. Sau khi liều mạng vượt qua được các tỉnh phía Tây Trung Hoa, nhà sư Pháp Hiển ngạc nhiên rằng ở Ấn Độ, người ta yên ổn đi khắp nơi được, không gặp một tên trộm cướp, không bị ngăn cản, ức hiếp. Ông cho chép trong tập nhật kí rằng ông mất sáu năm mới tới Ấn Độ, ở Ấn sáu năm nữa, rồi mất ba năm nữa để trở về Trung Hoa theo đường biển, đi ngang qua Tích Lan và Java. Ông thán phục sự giàu có, thịnh vượng, đức hạnh và hạnh phúc của dân Ấn, thán phục sự tự do mà họ được hưởng về phương diện xã hội và tôn giáo. dưới triều đại Gupta. Họ phục hồi lại truyền thống văn học thời tiền - Thích Ca và đương làm cho tiếng Sanscrit thành một thứ “thế giới ngữ” cho khắp các nhà trí thức Ấn Độ. Nhờ ảnh hưởng của họ và nhờ sự khuyến khích, bảo trợ của Triều đình, mà các anh hùng ca Mahabharata và Ramayana được viết thành hình thức lưu lại hiện nay. Cũng ở dưới triều đại đó, nghệ thuật Phật giáo đạt tới mức cao nhất nhờ các bích hoạ trong các hang Ajanta. III. KẾT LUẬN: Quá trình phong kiến hoá của lịch sử phong kiến ấn Độ độ diễn ra với một tốc độ hết sức nhanh như các quốc gia khác trên thế giới nhưng nó diễn ra mạnh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị và xã hội… và để lại những thành tựu hết sức to lớn. Những thành tựu ấy không chỉ là tiền đề, là nền tảng để xác lập chế độ phong kiến ở ấn Độ, mà đó còn là những giá trị to lớn về mặt vật chất và tinh thần trong lịch sử ấn Độ, thúc đẩy sự phát triển của một quốc gia thuộc vùng Nam á. Quá trình phong kiến hoá chính là sự chuyển tiếp từ thời kỳ cổ đại sang trung đại và dường như tất cả các quốc gia trên thế giới đều tuân theo quy luật tồn tại ấy của lịch sử. Đó là sự chuyển tiếp tuần tự theo đúng bản chất nguyên lý của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội. Thế nhưng ở ấn Độ quá trình chuyển tiếp đó đã xuất hiện tính chất đặc trưng. Tính bền vững của công xã nông thôn và chế độ đẳng cấp đã làm cho con đường hình thành chế độ phong kiến ở ấn Độ mang những nét khác biệt. Con đường ấy không thuần như lịch sử các quốc gia khác. Chính sự không thuần ấy là một trong những lý do gợi nên cho bản thân tôi sự tò mò muốn khám phá. Là quê hương của những nền văn minh cổ xưa và rực rỡ của nhân loại ấn Độ được đạt được rất nhiều những thành tựu trong tiến trình phát triển của mình dưới thời cổ đại. Vậy mà trong bước chuyển mình của lịch sử, các quốc gia khác lần lượt được xác lập cho mình một hình thái kinh tế - xã hội mới (chế độ phong kiến) và đưa nó vào quỹ đạo của sự phát triển thì ấn Độ mới bước đầu định hình những bước đi cơ bản cho chế độ phong kiến. Vậy vì sao một trung tâm văn minh lớn và có nhiều thành tựu như ấn Độ lại có diễn trình phát triển đặc biệt như vậy? Ngày nay, việc nhìn nhận, tìm hiểu quá khứ là một phạm trù có ý nghĩa, dù đấy không phải là việc mà ai cũng có thể làm được. Tìm hiểu lịch sử, một mặt đánh thức quá khứ trong môi trường cá nhân nhưng mặt khác nhìn lại quá khứ, những gì đã qua chúng ta còn mong muốn tìm thấy, trong đó có những bài học kinh nghiệm quý báu để hướng xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, thịnh vượng hơn. Với Việt Nam chúng ta, cùng với sự tồn tại và diễn tiến của vương triều Gúpta – Hácsa, lịch sử chúng ta rơi vào tay của triều đình phong kiến phương Bắc, chế độ phong kiến Việt Nam chưa được xác lập. Vì thế việc tìm hiểu về quá trình phong kiến hoá dưới hai vương triều Gúpta và Hácsa sẽ cho chúng ta một cái nhìn tổng thể, bao quát, khách quan về quá trình hình thành một quốc gia phong kiến thực thụ cũng như những đặc trưng của nó, để từ đó chúng ta có những bước đi phù hợp với điều kiện của chính mình. Mặt khác, là một sinh viên thuộc chuyên ngành nghiên cứu lịch sử, thì việc tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu về quá trình phong kiến hoá dưới hai vương triều Gúpta – Hácsa sẽ giúp cho cá nhân có một cái nhìn đúng, khách quan và khoa học về quá trình xác lập chế độ phong kiến và diễn trình phát triển của nó, đó sẽ là hành trang bền vững, có ý nghĩa cho công việc nghiên cứu, tìm hiểu của tôi trong tương lai. Đấy là tất cả những cơ sở, lý do để tôi chọn đề tài khoá luận “Tìm hiểu quá trình phong kiến hoá dưới hai vương triều Gúpta và Hácsa”. Bao trùm lên tất cả với một truyền thống hoà bình, hữu nghị, hợp tác nhân dân ấn Độ được tạo lập cho mình những mối quan hệ đa chiều, với tất cả các quốc gia trên thế giới. Tìm hiểu về lịch sử ấn Độ qua một đề tài cụ thể, thuộc một triều đại cụ thể, tôi không hy vọng có thể khám phá ra những điều mới, những nét riêng mang tính khoa học, và phát hiện mà tôi chỉ mong thông qua việc tìm hiểu một đề tài cụ thể, thấy được một điều gì đó khái quát hơn, bao trùm hơn và hy vọng đề tài sẽ có tính thực tiễn, có giá trị sử dụng. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1/ HT. Thích Thiện Hoa, Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ (TP Hồ Chí Minh: Nxb Tôn Giáo),1966. 2/ HT Thích Thanh Kiểm. Lịch sử Phật Giáo Ấn Độ (TP Hồ Chí Minh:Nxb TP Hồ Chí Minh), 1993. 3/Pháp Sư Thánh Nghiêm,Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ, dịch. Thích Tâm Hải (TP Hồ Chí Minh: Nxb Phương Đông), 1997. 4/ Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận (TP Hồ Chí Minh: Nxb Phương Đông), 2005. 5/ Trần Trúc Lâm, Những hộ pháp vương của Phật giáo trong lịch sử Ấn độ (TP Hồ Chí Minh: NXB Phương Đông), 2007. Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo sử luận, Nxb Phương Đông, tp. Hồ Chí Minh, 2005, tr. 229.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét