THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
LÒNG TỪ VÀ PHƯƠNG TIỆN HUYỀN XẢO TRONG ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN
NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. LÒNG NHÂN ĐẠO ĐỨC:
1.1. Tiêu chuẩn về đạo đức:
1.2. Siêu Đạo đức học:
1.3. Khái quát về đạo đức học Phật giáo:
2. CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN PHẬT GIÁO:
2.1. Khiêm hạ:
2.2. Tàm quý:
2.3. Trung thực:
2.4. Kiên định:
2.5. Không phóng dật:
2.6. Nhẫn nhục:
2.7. Biết ơn:
2.8. Buông xả:
2.9. Dấn than:
2.10. Tiết tháo:
3. ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO XÂY DỰNG XÃ HỘI CHÂN THIỆN MỸ:
3.1. Tinh thần xây dựng đời sống lành mạnh có đạo đức cho người xuất gia:
3.2. Tinh thần xây dựng đời sống lành mạnh, có đạo đức cho người tại gia:
3.3. Giáo dục đạo đức trong gia đình:
3.4. Rèn luyện đạo đức cho giới trẻ:
3.5. Tinh thần bất bạo động từ, bi, hỷ, xã như là đạo đức:
3.6. Tinh thần giới luật là nền tảng của đạo đức:
3.7. nguyên nhân suy thoái đạo đức xã hội:
3.8. Phật giáo với việc xây dựng đạo đức, lối sống :
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIÊU THAM KHẢO:
LÒNG TỪ VÀ PHƯƠNG TIỆN HUYỀN XẢO TRONG
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO PHÁT TRIỂN
I. DẪN NHẬP:
Chuẩn mực đạo đức của một thế hệ phản ánh thế giới tinh thần, trình độ văn minh của thế hệ đó. Tiêu chuẩn đạo đức chính là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất, giá trị nhất mà con người đã tích luỹ được trong quá trình phát triển nền văn hoá nhân loại
Trong mối quan hệ vô cùng phong phú và phức tạp với thế giới xung quanh con người phải luôn luôn giao tiếp. Nếu thái độ, hành vi của họ phù hợp với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng; phù hợp với hạnh phúc và tiến bộ chung của xã hội thì con người đó được đánh giá là có đạo đức. Ngược lại, hành vi thái độ của họ không phù hợp, gây tổn hại tới lợi ích người khác thì bị xã hội lên án, chê trách và bị coi là thiếu đạo đức.
Chuẩn mực đạo đức của một thế hệ phản ánh thế giới tinh thần, trình độ văn minh của thế hệ đó. Tiêu chuẩn đạo đức chính là sự kết tinh những gì tinh tuý nhất, giá trị nhất mà con người đã tích luỹ được trong quá trình phát triển nền văn hoá nhân loại.
Chuẩn mực đạo đức giúp con người điều chỉnh những mối quan hệ hiện hữu giữa con người với thế giới xung quanh, những mối quan hệ đó phụ thuộc vào đặc điểm của chế độ xã hội nên đạo đức luôn mang tính giai cấp. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó quan hệ mật thiết với các hình thái ý thức xã hội khác như chính trị, hệ thống quan điểm, tư tưởng, thể hiện lợi ích căn bản của một giai cấp nhất định.
Đạo đức cũng gắn bó với pháp luật, nó cùng có mục đích, nhiệm vụ nhằm điều chỉnh đánh giá các mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh.
Đạo đức và pháp luật cùng chống lại cái ác, làm điều thiện, xây dựng cuộc sống bình yên, tươi đẹp.
Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dưới dạng đối lập sau: Thiện và ác; Có lương tâm và bất lương; Có trách nhiệm và vô trách nhiệm; Có hiếu và bất hiếu; Có nghĩa và bất nghĩa…
Các giá trị đạo đức kế thừa và phát triển các đức tính tốt đẹp: Tính ngay thẳng và lòng trung thực; Tính nguyên tắc và sự kiên tâm; Tính khiêm tốn và sự lễ độ; Tính hào hiệp và sự tế nhị; Tính tiết kiệm và sự giản dị; Lòng dũng cảm và phẩm chất anh hùng…
Đạo đức là tổng hợp các qui tắc, tiêu chuẩn chỉ đạo mối quan hệ giữa con người với con người trong một cộng đồng, một xã hội nói chung. Cho dù ở giai đoạn nào của lịch sử thì nét chung của đạo đức vẫn là hướng tới cái thiện, chống lại cái ác, hướng tới quan hệ đẹp đẽ giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội; đồng thời cũng là khẳng định sự tự tu dưỡng giáo dục của mỗi cá nhân. Từ xa xưa ông cha ta đã rất coi trọng và đề cao giáo dục đạo đức của con người. Bác Hồ của chúng ta cũng đã từng nói: “Có Đức mà không có Tài thì làm việc gì cũng khó, có Tài mà không có Đức là người vô dụng”. Bác còn chỉ rõ: “Dạy cũng như học phải chú trọng cả Đức lẫn Tài. Đức là đạo đức cách mạng, đó là cái gốc rất quan trọng”.
II. NỘI DUNG:
1. LÒNG NHÂN ĐẠO ĐỨC:
Có lòng nhân đạo đức … Là biết thương người thương vật, như tất cả con người chúng ta đều biết, loài người là một thứ sinh vật sống bằng tình cảm. Sự sai biệt giữa loài người và những sinh động vật khác cũng chính do tình cảm mà ra … Con người nếu không có được một nếp sống tình cảm, nghĩa là đi ra ngoài định luật của lương tri tức nhiên lúc đó con người sẽ không còn là con người nữa.
Đời sống tình cảm của loài người đã làm thành một thứ chất liệu quan yếu và cần thiết vô cùng … Đời sống con người, nếu mất tình cảm tự nhiên con người sẽ trở nên hung bạo, tàn nhẫn vô cùng … Chính nhờ tình cảm đó đã giúp cho người thương mến người khác, cá nhân này cảm mến cá nhân kia và những nguồn mến thương nhỏ mọn ấy kết tinh thành những thứ tình thương bao la rộng lớn khác.
Có lòng nhân đạo đức … Kết tinh bằng tình thương con người giữa con người với nhau, cùng chung sống trong xã hội tương trợ lẫn nhau, gánh vác cho nhau, chia sẽ cùng nhau sống trong tình cảm tình thương mến đó tạo thành tình thân mật … Đi ra ngoài xã hội tình yêu mến làng quê, xứ sở cùng ngôn ngữ, cùng tập quán, nói một thứ tiếng tự coi nhau như những người thân và đem lòng thương mến giúp đỡ, tình cảm ấy là tình yêu đất nước quê hương việt nam.
Trong lãnh vực xử thế … Con người cần phải phát huy lòng nhân đạo đức của mình đối với mọi người sống chung quanh ta, khi chúng ta bắt gặp một cảnh khổ, dù là cảnh khổ ấy không phải của chung quanh chúng ta gánh chịu … Song chớ nên coi đó là một sự chiến thắng của một cá nhân mà trái lại chúng ta nên tìm cách giúp đỡ những con người ấy thoát khổ.
Phật học tinh hoa xử thế quan trọng chưa phải chỉ nhắm vào cách chinh phục lòng người mà đủ …Thực sự của phật học tinh hoa xử thế là phải làm sao đối xử vẹn toàn giữa người và người, đó mới chính là một nghệ thuật lòng nhân đạo đức … Đắc nhân tâm đã khó mà chinh phục được sự thương yêu của người đời lại càng khó hơn … Nếu chúng ta có tài chinh phục được người khác, mà không biết giúp đỡ cho người thì cũng bằng thừa. Chủ đích của đời sống là làm sao mang tình thương yêu gieo rắc khắp nơi để đánh đổi lấy sự tin yêu của người đời ngoại cuộc, đó mới thật là một nghệ thuật xử thế ở đời vậy … Chinh phục được mọi người ai cũng cho là khó, nhưng tạo tình thương, lòng nhân đạo đức, sự thông cảm giữa con người với con người lại càng khó hơn … Điều kiện duy nhất để tạo sự kính yêu và mến phục đối với quần chúng tốt nhất là phải làm sao phát huy lòng nhân đạo đức đến cuối cùng và tột độ vậy.
1.1. Tiêu chuẩn về đạo đức:
Đạo đức học là một môn học cần tới tư duy, lý tính. Đạo đức học có mục đích tìm ra cái gì là cái cần làm, cái gì là cái không nên làm, không được làm. “What is the right thing to do?”. Khi nói đến đạo đức học tiêu chuẩn “normative ethic”. Thì chúng ta phải nói tới tiêu chuẩn khổ - vui. Những cái gì đem lại cái khổ thì chúng ta không nên làm. Những cái gì đem lại cái vui thì ta có thể làm. Đó là một trong những tiêu chuẩn. Nhưng tiêu chuẩn đó không tuyệt đối. Có những cái nhìn qua thì tưởng là khổ nhưng kỳ thực nó không phải là khổ. Tuỳ theo cách nhìn của mình mà cái đó là khổ hay không khổ. Ví dụ như chùi cầu tiêu, chùi cầu tiêu là khổ hay vui? Có những nơi dân cư rất nghèo khổ, họ không có cầu tiêu tiện lợi như mình để chùi. Có người có cầu tiêu nhưng hết xà bông nên không chùi được, có người có xà bông nhưng không có thời gian để chùi. Vì vậy cho nên đối với những người đó chùi cầu tiêu là một hạnh phúc. Có cầu tiêu để chùi, để rồi có cầu tiêu sạch mà đi thì trong khi chùi có thể có hạnh phúc. Còn nếu mình nói rằng “Mình như thế này mà phải đi chùi cầu tiêu à?” nghĩ thế thì tự nhiên mình đau khổ, buồn bực. Thành ra cái khổ hay là cái vui nó tuỳ theo mỗi người.
1.2. Siêu Đạo đức học:
Người ta đã nói rằng tiêu chuẩn đạo đức học normative ethics và tìm cách để nói rõ ra cái gì đáng làm, cái gì không nên làm để có hạnh phúc. Nhưng mà siêu đạo đức học đặt lại tất cả các vấn. Anh nói chánh thì thế nào gọi là chánh ? Anh nói tà thì thế nào được gọi là tà ? Anh nói khổ thì thế nào gọi là khổ ? Anh nói vui thì thế nào gọi là vui? Anh nói mê cái gì gọi là mê? Anh nói ngộ thế nào gọi là ngộ? Vì vậy đòi hỏi nền siêu đạo đức học này thế nào cũng phải đưa tới cái thấy bất nhị, cái thấy tương tức của đạo Phật. Đứng về phương diện siêu đạo đức học thì có những nhận thức là ngữ nghĩa học - Semantic. Có ngành gọi là nhận thức luận – epistemology. Nó có ngành bản thể học – ontology. Cho nên trong đạo Phật có rất đầy đủ. Đạo Phật nói về cái danh, tức là danh từ. Đạo Phật nói về nhận thức luận, tức là cái đó mình có thể nhận thức được không hay là không nhận thức được, nhận thức bằng lý luận hay nhận thức bằng trực giác ? Cái đó là bản thể học, nó là nền tảng của tất cả mọi cái. Khi đọc Tâm Kinh Bát Nhã vào mỗi buổi sáng là mình đang tiếp xúc với cái bản thể học. Nếu không nắm vững được cái thấy bất nhị, cái thấy tương tức của Tâm Kinh thì mình không thể thiết lập được một nền đạo đức dựa trên tuệ giác của đạo Phật được. Cho nên khi nghiên cứu về đạo đức học Phật giáo mình cũng có thể trình bày theo cái thấy của các nhà triết học bên ngoài. Tức là mình phải trình bày cái meta ethic (tương tức) của đạo Bụt, mình phải trình bày cái normative ethic (tiêu chuẩn đạo đức học) của đạo Bụt. Mình phải trình bày cái applied ethic (đạo đức học ứng dụng) của đạo Bụt. Khi tân tu lại giới bổn 5 giới hay 14 giới thì mình phải sử dụng cái thấy của mình về cả 3 lĩnh vực đó. Mình sẽ cố gắng làm thế nào để cho 5 giới hay là 14 giới được trình bày mà những người không phải là Phật tử cũng có thể chấp nhận, có thể hiểu được. Đây là công trình mà Đức Thế Tôn muốn chúng ta tiếp nối. Tại vì nền đạo đức Phật giáo mà Ngài đã xướng xuất cách đây đã 2500 năm, Ngài chưa hoàn tất, Ngài chỉ có 45 năm để làm việc ấy. Trước khi Ngài mất, Ngài dặn Thầy Anan là phải tiếp tục công trình đó. Chúng ta đang sống trong thời đại có rất nhiều vấn đề. Chúng ta phải làm công việc này, tu bổ lại giới bổn, và chúng ta không thể nào làm được nếu chúng ta không nắm được bản ý của Đức Thế Tôn. Vì vậy cho nên khoá tu này là một cơ hội để cho tất cả chúng ta có thể ngồi lại với nhau, để làm thử công việc đó. Cống hiến cho thế giới một đề nghị về một nền đạo đức toàn cầu.
1.3. Khái quát về đạo đức học Phật giáo:
Có thể nói toàn bộ kinh điển Phật giáo là một trình bày đạo đức học. Khi tuyên bố mục đích tối hậu của mọi hành động đạo đức là để giải thoát khỏi khổ đau, Phật giáo đưa ra những lý lẽ phân tích về con người về khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ, hạnh phúc tối hậu và con đường thoát khổ, đó là bốn Thánh Đế. Trong khi tìm đạo lớn, đức Phật quả quyết:
“Ta sẽ đem lại ánh sáng trí tuệ cho cuộc đời đang bị bóng tối che phủ. Ta sẽ giải thoát cuộc đời khỏi sự già chết và mọi sự đau khổ”. Khi đã thành đạo Ngài tuyên bố: “Nước biển chỉ có một vị mặn, giáo lý của ta chỉ có một vị là vị giải thoát”.
Mục đích của mọi hành động là nhằm để giải thoát, sự giải thoát tối hậu, vô ngã, Niết bàn. Đức Thế Tôn đã thiết lập một nền đạo đức toàn diện chuyển hóa con người từ xấu trở thành tốt, từ ác thành thiện, từ mê lầm trở thành giác ngộ. Toàn bộ giáo lý của Ngài chỉ vì mục đích mang hạnh phúc cho chúng sanh. Điều này thể hiện qua lời khuyên của Đức Phật: “Hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lợi ích, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và cho loài người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỳ kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, và hậu thiện có nghĩa, có văn, hãy tuyên thuyết phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh”
Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh: “Một đời sống đạo đức, là một đời sống hạnh phúc”. Như vậy, đạo đức được hiểu đồng nghĩa với hạnh phúc, đạo đức này phù hợp với mọi căn cơ, mọi không gian và thời gian, mang đầy tính nhân bản thực tiễn và rất thực tại.
Nền đạo đức Phật giáo được thể hiện phong phú và đa dạng trong khắp giáo lý của Phật giáo, tùy chủ thể nhận thức và phương pháp tiếp cận mà mỗi người nhận định khác nhau về giá trị đạo đức.
2. CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN PHẬT GIÁO:
Từ thực tiễn đời sống, để đạo đức Phật giáo dễ dàng lan tỏa, thì việc làm sáng tỏ những chuẩn mực đạo đức Phật giáo là yêu cầu bức thiết. Trong vô vàn những chuẩn mực đạo đức Phật giáo được thể hiện rải rác trong các bộ kinh, luật, luận, sớ giải… người viết tạm thời đề xuất mười chuẩn mực đạo đức cơ bản. Đó là: khiêm hạ, tàm quý, trung thực, kiên định, không phóng dật, nhẫn nhục, biết ơn, buông xả, dấn thân và tiết tháo.
2.1. Khiêm hạ:
Trước hết, khiêm hạ là một hành xử đạo đức vắng bóng tự ngã, dẹp tan kiêu mạn. Kiêu mạn là một tập khí sâu dày của chúng sanh nói chung. Kinh Tăng chi nêu ra ba thứ kiêu mạn căn bản. Và theo Đức Phật, chỉ những ai chinh phục được tự ngã thì mới có thể nhiếp phục lòng kiêu mạn.
khiêm hạ là thể hiện sự tôn trọng kẻ dưới và kính nhường người trên. Biết tôn trọng lẫn nhau trong giao tiếp, ứng xử là sự thể hiện đẳng cấp đạo đức.
khiêm hạ không có nghĩa là hạ thấp mình mà còn có nghĩa tự khẳng định bản thân, là tôn trọng chính mình trong yên lặng tỉnh giác. Trong nghĩa này, khiêm hạ gần với lòng tự trọng. Có thể thấy, một trong những chuẩn mực ứng xử của người học Phật là thái độ khiêm hạ, định tĩnh, nhu nhuyến, thong dong và vững chãi trước dòng xoáy của bản ngã và sở hữu của bản ngã.
2.2. Tàm quý:
Theo Đại thừa bách pháp minh môn luận giải thì tàm là tự hổ với mình và quý là thẹn với người. Trong nghĩa được sử dụng rộng rãi, thì tàm quý là sự hổ thẹn với chính mình cũng như với người khác. Hổ thẹn là năng lượng đạo đức có tác dụng trong nhiều phương diện.
Trong lãnh vực tu tập, nhờ lòng hổ thẹn thôi thúc, khi nghĩ về công lao giáo hóa của chư Phật, Bồ-tát, của các bậc Thánh tăng, nên nỗ lực tu tập. Trong mười lý do phát tâm Bồ-đề, tất cả đều có liên quan đến lòng hổ thẹn đối với ân đức lớn lao mà ta đã thọ nhận. Chính nhờ lòng hổ thẹn này thúc đẩy mà chúng ta nỗ lực tiến tu. Không biết hổ thẹn, khó lòng thăng tiến trong tu tập. Chiêm nghiệm sâu thêm lời dạy của ngài Quy Sơn: Họ cũng là trượng phu, ta đây cũng như vậy, cũng là một dạng thức khuyến tu dựa trên hiệu ứng của lòng hổ thẹn.
Trong liên hệ đời thường, đạo đức của gia đình, xã hội được hình thành cũng nhờ lòng biết hổ thẹn. Nhờ hai pháp này nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ…
Là con người, phải biết hổ thẹn. Không biết hổ thẹn thì chưa phải là con người đúng nghĩa. Chính bởi điều này, chuẩn mực đạo đức hổ thẹn được Đức Phật khẳng định là hai pháp có khả năng che chở cho thế giới.
2.3. Trung thực:
Trung thực là một chuẩn mực đạo đức được nhiều người mến mộ, tin yêu. Người trung thực luôn hứa hẹn một tương lai rộng mở. Trung thực biểu hiện qua nhiều dạng thức và quan hệ; mà ở đây, trung thực với chính mình và với tha nhân là hai tính chất chủ yếu.
Trước hết, cần phải trung thực với chính mình. Thiết tưởng điều này không cần phải bàn cãi. Mặc dù vậy, khi khảo sát sâu, mới thấy rõ đôi khi ta chưa trung thực với chính mình. Trung thực với chính mình là ý thức rõ ràng về tất cả các phương diện của bản thân như: khả năng, điều kiện, mặt mạnh cũng như mặt yếu, sở thích cũng như điều không ưa… Ẩn dụ một người đứng trên hồ nước, thì có thể nhận ra các con ốc, con sò, đàn cá bơi lội… với điều kiện hồ nước đó trong và lặng. Việc thắp sáng ý thức về những điều kiện của bản thân cũng như thế. Từ sự nhận thức rõ ràng này và thái độ chấp nhận đúng hiện trạng của bản thân, là sự khởi đầu cho thái độ sống trung thực với chính mình. Trung thực với chính mình có ảnh hưởng nhất định đến sự thành công của bản thân.
trung thực với tha nhân. Đây là tiền đề để xây dựng niềm tin trong mọi mối quan hệ. Khi trung thực thì được người tin tưởng, và lòng tin là yếu tố quyết định sự bền vững cho mọi mối quan hệ giữa người với người.
Trung thực hay không dối nhau là một chuẩn mực đạo đức cơ bản, là chất kết dính của mọi mối quan hệ, là yếu tố thành công trong mọi hoạt động của con người.
2.4. Kiên định:
Kiên định là ý chí, là sự vững vàng trong quyết định, trong dự tính, trong mối quan hệ, trong lý tưởng hay con đường đã chọn. Tùy theo bối cảnh cụ thể mà kiên định được hiểu khác nhau. Chuẩn mực đạo đức kiên định quyết định tính cách, năng lực, giá trị… của con người.
Có thể sự nỗ lực đó là đỉnh điểm của một tiến trình, nhưng qua đó đã cho thấy sự kiên định rất cần trên mọi chặng đường tu tập. Từ thệ nguyện của Đức Phật, liên hệ với con đường mà chúng ta đã và đang chọn hiện nay, có thể nhận ra những bất cập do vì không kiên định. Bởi lẽ, trong những pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy, mỗi pháp hành có những yêu cầu khác biệt nhau, sự dao động trong pháp môn tu đôi khi phải trả giá bằng thời gian của cả đời người. Hơn thế, sự khác biệt giữa chúng sanh và Bồ-tát liên quan thâm thiết đến chuẩn mực kiên định này. Vì lẽ, trước hiện thực đau khổ, cả hai đều phát nguyện như nhau, tuy nhiên, yếu tố căn bản tạo nên sự khác biệt, chính là sự kiên định của mỗi bên.
Trong cuộc sống đời thường, kiên định rất cần trong mọi mối quan hệ. Trong bối cảnh này, chuẩn mực kiên định có thể được hiểu là tấm lòng trung thành, chung thủy, sắt son với tổ chức, với bạn bè, với người phối ngẫu.
2.5. Không phóng dật:
Trong những lời dặn dò thống thiết của Đức Phật trước khi Niết-bàn, thì không phóng dật là huấn thị thấm đẫm yêu thương. Không phóng dật là không buông lung, không chạy theo dục vọng, siêng năng tu tập các pháp lành. Đây là chuẩn mực đạo đức quan trọng, được đề cập trong nhiều bản kinh.
Trên phương diện tu tập, không phóng dật là yếu tố quyết định sự thành công của mọi pháp hành. Vì lẽ, thu thúc lục căn, không chạy theo ngũ dục là nghĩa thứ nhất của không phóng dật. Hình ảnh con dã can gầy gò chực chờ con rùa cử động được ghi lại trong kinh Tương ưng là ẩn dụ sinh động về việc thu thúc các căn. Bởi lẽ, chỉ cần con rùa thò bất cứ một thân, phần nào ra, thì dã can sẽ tóm lấy. Do vậy, không phóng dật còn mang nghĩa tồn vong không những trong tu tập mà liên quan đến mọi dạng thức sinh tồn. Ở phương diện thứ hai, không phóng dật đồng nghĩa với tinh tấn, là siêng năng. Cần phải thấy, nhận thức được việc lành là điều quan trọng tuy nhiên đưa nhận thức vào thực tiễn đời sống là do bởi siêng năng. Siêng năng tạo nên sự thăng hoa, thành công trong mọi lãnh vực và là quán hạnh dung thông giữa pháp thế gian và pháp xuất thế.
2.6. Nhẫn nhục:
Nhẫn nhục là sự chịu đựng, chấp nhận những khổ đau, bức bách, hủy nhục, khó chịu… do các điều kiện bên ngoài đem đến, nhưng tâm tư vẫn an tịnh. Đây là một phẩm chất đạo đức được thể hiện trong nhiều cấp độ. Trong kinh Trung bộ, hình ảnh kẻ đạo tặc dùng cưa, cưa tay chân nhưng hành giả vẫn không khởi sân tâm hay phẫn, não, là sự thể hiện của một phẩm chất nhẫn nhục cao tột. Phật giáo Đại thừa xem nhẫn nhục là một trong sáu hạnh quan trọng của con đường Bồ-tát.
Trước hết, trước những thách thức của điều kiện tự nhiên cũng như những tác động của con người, muốn tồn tại, cần phải biết an hòa và nhẫn nhịn. Tức là tạm an với điều kiện sống tự nhiên và nhẫn nhịn trong sự va đập, tương tác với môi trường xã hội. Nhẫn để mà sống chính là nghĩa này.
nhẫn nhục là sức mạnh. Sức mạnh đây chính là sức mạnh làm chủ bản thân mình. Vì một khi thực hiện được hạnh nhẫn nhục, chứng tỏ một năng lực tu tập hùng mạnh. Nhờ năng lực đó, mới có thể kiểm soát tâm mình. Vì chiến thắng bản thân mình là chiến công oanh liệt nhất.
2.7. Biết ơn:
Biết ơn được hiểu ở đây bao hàm cả việc báo ơn. Theo kinh Tăng chi, người biết ơn là một trong hai hạng người khó tìm được ở đời. Trong liên hệ duyên khởi, để hình thành con người, thì phải thọ nhận nhiều công ơn. Trong vô vàn những công ơn, theo kinh Đại thừa bổn sinh tâm địa quán, phẩm Báo ân, thì có bốn ơn cơ bản: ơn cha mẹ, ơn những người liên hệ quanh ta, ơn quốc gia và ơn Tam bảo.
Sự hiện sinh của một con người là do cha mẹ. Từ việc kế thừa nền tảng vật chất, cho đến nuôi dưỡng, kiện toàn tri thức, dựng vợ gả chồng, trao của thừa tự và hướng con về đường lành. Thực sự, khó có thể kể hết cũng như báo đáp công lao của cha mẹ.
Biết ơn là chất liệu dệt nên phẩm hạnh của một con người. Nhận thức đúng và đầy đủ về các ơn cũng như nỗ lực báo đáp bằng những gì có thể, là chuẩn mực đạo đức tối cần của một người học Phật.
2.8. Buông xả:
Buông xả là nghệ thuật ứng xử trong các mối quan hệ, là sự buông bỏ những ý nghĩ mừng vui, lo khổ đồng thời nỗ lực từ bỏ các tật xấu tích lũy từ nhiều đời.
Trước hết, lo nghĩ thường gắn với phiền muộn, nhất là lo nghĩ vẩn vơ, không liên hệ đến thiện pháp. Buông bỏ mọi điều lo nghĩ, sống với thực tại hiện tiền thì hạnh phúc gõ cửa.
Trong thực tế đời sống, đôi khi cũng khó tránh khỏi việc lo nghĩ về những điều do cuộc sống đặt ra. Tuy nhiên, học cách buông bỏ những điều nhỏ nhặt, thì đôi khi gặt hái những kết quả lớn lao. Biết buông bỏ, biết hy sinh là tiền đề dẫn đến mọi sự thành tựu.
Không những thế, biết cách buông bỏ những ký ức liên hệ đến khổ đau là một liệu pháp điều phục tâm tích cực. Vì có những chuyện u hoài xảy ra trong quá khứ xa xưa, nhưng tâm tư cứ giữ chặt, và nỗi đau đôi khi tái hiện về, làm cho người quằn quại, tái tê. Buông xả những chuyện không hay là một trong những cách thức giữ gìn nhựa sống cho chính mình.
2.9. Dấn thân:
Dấn thân là sự phát tâm vì lợi ích của tha nhân, trong một số trường hợp phải chấp nhận sự hy sinh, mất mát. Dấn thân là hành động mang tâm nguyện Bồ-tát, vì đó là sự phát tâm đem lại lợi ích cho nhiều người.
Dấn thân là phát tâm Bồ-đề, được dẫn khởi từ sự lập nguyện, phát tâm. Vì nguyện lập thì có thể độ chúng sanh, tâm phát thì Phật đạo có thể thành. Ở nghĩa này, Đức Phật là minh chứng cao cả cho sự lập nguyện, dấn thân: Ta mang cỏ munja/ Vững thay, đây đời sống/ Thà Ta chết chiến trận/ Tốt hơn, sống thất bại. Công cuộc tự chuyển hóa mình cũng đồng thời là một quá trình nỗ lực, dấn thân.
Dấn thân là hành động mang tâm nguyện Bồ-tát. Vì cuộc đời vốn dĩ đầy bất hạnh và lắm khổ đau, người mang tâm nguyện Bồ-tát luôn nỗ lực bằng những gì có thể, nhằm làm vơi khổ cho đời. Dấn thân không đồng nghĩa với sự liều mạng, quên thân. Dấn thân theo chuẩn mực Phật dạy phải dựa trên cơ sở của sức mạnh, tình thương và trí tuệ. Chỉ có như vậy thì sự dấn thân mới tròn đầy ý nghĩa, và giảm đi những tổn thất không đáng có trong khi thực thi hạnh nguyện giúp đời.
Một khi sở dục đang lên ngôi, cái ác đang chờ chực, ngấp nghé, thì cuộc đời cần lắm sự lập nguyện, dấn thân. Dấn thân biểu lộ của dũng khí, lưu xuất từ cơ sở tâm thương yêu và thể hiện bằng con mắt tuệ. Chỉ có như vậy hạnh dấn thân mới đem đến hạnh phúc, an lạc cho nhiều người.
2.10. Tiết tháo:
Tiết tháo là khí tiết, là danh dự và phẩm vị của con người. Sống đúng với chuẩn mực đạo đức cơ bản của một con người, theo những nguyên tắc đạo đức làm nền tảng nào đó, được gọi là tiết tháo.
Phẩm chất của một con người gồm một cái tên để phân biệt, cộng với những phẩm hạnh đạo đức tương ưng. Giữ gìn phẩm hạnh đạo đức riêng có đồng nghĩa với việc giữ gìn tiết tháo. Một khi phải sống trong sự tương giao, đối đãi, khi chuyện nhục vinh, danh lợi vẫn có khả năng chi phối con người, thì việc giữ gìn tiết tháo là vấn đề mang nhiều ý nghĩa nhân bản, nhân văn. Trong hệ quy chiếu tương đối của đạo đức thế gian, thì tiết tháo vẫn đóng một vai trò quan trọng. Không nên lẫn lộn giữa các hệ quy chiếu khác nhau để xét đoán vấn đề.
3. ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO XÂY DỰNG XÃ HỘI CHÂN THIỆN MỸ:
Tam tạng Kinh điển nhằm giáo dục con người sửa đổi từ đức tính xấu trở thành đạo đức tốt. Đạo đức Phật giáo nhằm thiết lập một xã hội chân thiện mỹ, từ một xã hội bạo động thành một xã hội hòa bình, từ những tư tưởng tiêu cực, bi quan yểm thế trở về lý tưởng tích cực, lạc quan năng động và tốt đẹp. Đạo đức Phật giáo là một lối sống thực hành mang lại an lạc hạnh phúc cho con người trong cuộc sống hiện tại và giải thoát trong tương lai chứ không phải niềm tin suông. Tam tạng Kinh điển của Phật giáo không ngoài mục đích.
Muốn cho xã hội hoạt động trật tự và tốt đẹp bằng cách xây dựng đạo đức con người trong tất cả đoàn thể của xã hội (như: cơ quan, trường học, doanh nghiệp, gia đình...) thì đòi hỏi mỗi cá nhân cần áp dụng theo luật pháp của Nhà nước và giới luật Phật chế, thực hành đời sống tâm linh theo lời Phật dạy để diệt trừ tham-sân-si bằng ba phương pháp Giới-Định-Tuệ.
Giới diệt trừ tâm tham, Định diệt trừ tâm sân, Tuệ diệt trừ tâm si để tam nghiệp (thân, khẩu, ý) hằng thanh tịnh. Tu tập năm giới là để biểu lộ lòng từ bi, tình thương đến tất cả chúng sinh, ngăn chặn trực tiếp đến sát hại sinh mạng, còn những giới khác ngăn chặn gây mất hạnh phúc đến người khác và thúc liễm thân tâm được thanh tịnh niệm ác khỏi phát sinh.
3.1. Tinh thần xây dựng đời sống lành mạnh có đạo đức cho người xuất gia:
Trong hầu hết các kinh tạng Pàli, thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Ðại thừa, đức Phật luôn luôn khuyên các vị đệ tử của Ngài hãy sống trong tinh thần giới luật, lấy giới luật làm thầy, vì nó là nền tảng để xây dựng một nếp sống cộng đồng hài hòa lành mạnh, có đạo đức, và nó cũng là nấc thang đầu tiên để cho người xuất gia tiến sâu vào con đường tuệ giác. Chúng ta hãy lắng nghe lờqi dặn dò tâm huyết của đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn:
"Các thầy Tỷ kheo sau khi ta diệt độ, các thầy phải trân trọng, tôn kính tịnh giới, như người mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy".
Người giữ giới luật được đức Phật ví như người mù mắt được sáng lại, người nghèo mà được vàng ngọc. Phải chăng đức Phật quá thổi phồng, để cao giới luật? Thưa không, Ngài không bao giờ có ý định lừa dối hay gạt gẫm chúng ta. Cuộc sống và lời dạy của Ngài đã chứng minh điều đó, sở dĩ Ngài dạy như thế, vì Ngài muốn chúng ta giảm bớt khổ đau trong cuộc sống để được sự bình an như Ngài. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta phải tự giác tuân thủ một số nguyên tắc, đó là giới luật.
Là người xuất gia cũng không ngoài mục đích trên, nhưng hạnh phúc của người xuất gia là loại hạnh phúc vĩnh cửu trong sự thanh tịnh và giải thoát, không còn các cấu nhiễm thế gian, nhưng muốn được giải thoát giác ngộ, hành giả không thể không hành trì giới, định, tuệ, tiến trình này có thể nói là con đường độc nhất để đi đến Niết Bàn. Vì vậy cho nên đức Phật dạy các Tỷ kheo muốn được giải thoát giác ngộ phải thực hành 250 giới. Tỷ kheo ni có 348 giới. Ðó là nguyên tắc để xây dựng một đời sống xuất gia với ý hướng cầu giải thoát.
3.2. Tinh thần xây dựng đời sống lành mạnh, có đạo đức cho người tại gia:
Ðức Phật xây dựng đời sống xuất gia là như vậy, còn đối với đời sống của người tại gia còn nhiều ràng buộc gia đình thì đức Phật xây dựng như thế nào?
Ðể trả lời câu hỏi này, chúng ta chỉ cần rút ra nguyên tắc đầu tiên là biết tàm quí trong bảy nguyên tắc trên đã làm tôn chỉ cho người tại gia thực hiện. Nguyên tắc này khá quan trọng trong việc xây dựng một xã hội lành mạnh, sống có đạo đức.
Theo đức Phật, nguồn gốc sâu xa của mọi tệ nạn xã hội là con người đã đánh mất đức tính tàm quí, tức là không còn biết hổ thẹn đối với hành vi sai lầm của mình. Như vậy, khi con người không còn biết hổ thẹn thì người ấy có thể làm bất cứ điều ác nào.
Hình ảnh đức Phật dạy tôn giả La Hầu La, khi Tôn giả vừa 7 tuổi, tạ tại rừng Am-ba-la (rừng xoài) thật cảm động. Ngài khuyên La Hầu La khi làm một thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiập nào, nếu thân, khẩu, ý nghiệp ấy đưa đến tự hại, hại người, hại cả hai thì thân nghiệp ấy, khẩu nghiệp ấy, ý nghiệp ấy là bất thiện. La Hầu La chớ nên làm, nếu đã lỡ làm thì phải biết hổ thẹn, sám hối đối với nghiệp ấy. Ngài còn thận trọng hơn nữa, khuyên La Hầu La không nên nói láo, dù nói để mà chơi. Ðức Phật quả là nhà giáo dục vĩ đại, không những Ngài chỉ khuyên dạy những người ở lứa tuổi trưởng thành có sự hiểu biết, mà Ngài còn quan tâm chăm sóc đến tuổi trẻ, giáo dục và xây dựng chúng khi còn tuổi ấu thơ. Ngài quan niệm rằng, tâm hồn của tuổi ấu thơ giống như tờ giấy trắng, nếu như tờ giấy ấy dư, được nhà họa sĩ tài hoa vẽ lên ấy những bông hoa tươi đẹp, thì nó sẽ tô điểm cho cuộc đời thêm sắc. Ngược lại, tờ giấy ấy nếu kẻ bất tài vô dụng bôi lên đó những vết mực đen vô nghĩa thì nó trở thành cái vô dụng và làm xấu xã hội.
Ðức tính hổ thẹn rất cần thiết cho những ai muốn trở thành con người tốt, con người có đời sống lành mạnh có đạo đức, nó là nền mống cơ bản để xây dựng một xã hội lành mạnh. Thiết nghĩ, những tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tuổi trẻ tiến sâu vào con đường sa đọa, vì con người đã đánh mất đức tính hổ thẹn hay xem thường đức tính này. Ðó là nguồn gốc sâu xa xuất hiện mọi tệ nạn xã hội.
Là con người không làm sao tránh khỏi những sai lầm, nhưng cái quan trọng, khi chúng ta phạm phải sai lầm, chúng ta có biết phục thiện hay không, chúng ta có biết hổ thẹn và sửa đổi những sai lầm ấy không. Thái độ phục thiện hay không phục thiện để phân biệt giữa người ngu và kẻ trí, giữa người thiện và người bất thiện, giữa người làm tồi bại xã hội và người xây dựng xã hội.
3.3. Giáo dục đạo đức trong gia đình:
Đức Phật dạy về đạo đức của người Phật tử tại gia với những ngôn ngữ rất bình dị, Ngài dạy cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái, đạo làm con, đạo vợ chồng, mối quan hệ bạn bè, thân quyến, giữa chủ và tớ, phận sự đối với tôn giáo.
Hơn hai ngàn năm trăm năm trước Đức Phật dạy về năm bổn phận căn bản của cha mẹ đối với con cái như sau:
- “Ngăn ngừa con khỏi những điều bất thiện;
- Khuyến khích, động viên con làm những điều lành;
- Cho con học nghề nghiệp;
- Hướng con đến một cuộc hôn nhân thích hợp;
- Trao truyền sản nghiệp (vật chất và những giá trị văn hoá truyền thống) cho con một cách đúng
Con cái cần phải biết ơn cha mẹ, tự có trách nhiệm với chính mình và với cha mẹ dưới năm điểm căn bản
- Cha mẹ đã nuôi dưỡng ta, ta phải nâng đỡ cha mẹ;
- Ta phải thay cha mẹ chu toàn bổn phận;
- Ta phải giữ truyền thống gia đình;
- Ta phải xứng đáng là người thừa kế;
- Ta phải làm phước để hồi hướng công đức đến cha mẹ.”
Những lời dạy này vẫn có giá trị thiết thực ngay trong thời đại của chúng ta, nếu tất cả các bậc cha mẹ ghi nhớ và thực hành những lời dạy này chắc chắn rằng gia đình sẽ bớt xung đột, xã hội sẽ bớt được rất nhiều tệ nạn, và cuộc sống nói chung sẽ bớt được nhiều rủi ro và khổ đau không cần thiết. Con cái cần phải biết ơn cha mẹ, tự có trách nhiệm với chính mình và với cha mẹ.
Đức Phật đã thiết lập hệ thống đạo đức khuyến khích người cư sĩ tại gia sống chân chính, và chu toàn trách nhiệm bổn phận một cách tốt đẹp trong các mối quan hệ nhằm xây dựng một xã hội chân thiện mỹ (văn mình và lành mạnh).
3.4. Rèn luyện đạo đức cho giới trẻ:
Giới trẻ luôn mải mê chạy theo cuộc sống mà quên đi yếu tố đạo đức tâm linh. Đạo đức chính là nền tảng để xây dựng một con người, một khi nền tảng bị lung lay thì làm sao có thể kiến tạo được một con người rường cột cho xã hội ? Một khi bị khủng hoảng, giới trẻ sẽ không còn nơi nương dựa vững chắc, đó chính là lý do hình thành những tệ nạn trong xã hội, tiêu cực trong cuộc sống. Do vậy, vai trò của phật giáo rất là quan trọng trong đời sống xã hội, vì nó giử gìn và phát huy đạo đức ở từng con người, yêu cầu của Phật giáo là cần phải giáo dục cho giới trẻ có một trình độ hiểu biết tư duy phân biệt rõ, tốt xấu hư thực và có khả năng kiểm soát các hành vi của chính mình bằng những bài pháp sinh động, cụ thể và phù hợp với mọi lứa tuổi. Cho nên đưa đạo Phật đến với tuổi trẻ, giúp cho các em tự tìm đường đi cho mình, tự quy định những giá trị sống thực cho chính đời mình. Tuổi trẻ cần được học hỏi để sống với tinh thần bao dung và đạt được giá trị hạnh phúc an vui khi theo đạo Phật, ứng dụng lời Phật dạy, luôn điều chỉnh hành vi và thái độ tiêu cực, để cho con người sống lạc quan và thấy rõ bản chất có ý nghĩa của cuộc đời, tuổi trẻ phải dũng mãnh sống hạnh phúc không bi quan, không bao giờ có tư tưởng đầu hàng khi đối mặt với những khó khăn, không phụ thuộc vào sự may rủi để hưởng thụ. Tất cả hoàn toàn phụ thuộc vào trí tuệ và phương pháp tu dưỡng và nhân cách sống của chính mình.
Tăng, Ni có vai trò thiết yếu không thể thiếu trong đời sống giới trẻ. Muốn vậy, chúng ta phải đáp ứng được nhu cầu của giới trẻ đó là hiểu rõ tâm tư tình cảm và nhu cầu của giới trẻ tùy từng độ tuổi và tùy theo căn cơ của các em. Một khi đã nắm rõ nhu cầu của giới trẻ rồi, bước tiếp theo chúng ta cần đưa ra nhiều loại hình sinh hoạt Phật giáo phong phú và đa dạng, cần dạy cho chúng các giáo lý căn bản của Phật giáo như: Luật nhân quả, luân hồi, nghiệp báo… Thanh thiếu niên là lứa tuổi đang đứng trước ngưỡng cửa của hôn nhân, nên chúng ta cần tổ chức những buỗi hội thảo về hạnh phúc gia đình cho các em tham dự, để cho các em nhận thức được gia đình chính là nền tảng xã hội.
3.5. Tinh thần bất bạo động từ, bi, hỷ, xã như là đạo đức:
Từ bi là động lực chính đã thúc đẩy đức Phật đi tìm đạo giải thoát để cứu độ chúng sinh. Đức Phật không thể ngồi yên nhìn sự đau khổ hoành hành trong đời sống. Nghị lực, sức chịu đựng dẻo dai bền chặt của đức Phật trong khi vượt bao gian lao, khổ cực để tìm đạo cũng chính vì tình thương lớn lao đối với chúng sinh vậy.
“Người tu hành bồ tát phải lấy từ bi làm gốc. Cây bồ đề lớn mạnh nhờ bám sâu gốc rễ trong đất. Kẻ tu hành lấy từ bi lợi lạc hữu tình làm lẽ sống”.
Giáo lý của đức Phật tuy nhiều kể không xiết, tựu trung đều nhắm đến ba điểm chính: Bi – Trí – Dũng. Mở rộng tình thương, mở rộng trí tuệ, mở rộng nghị lực, mở rộng cho đến khi nào không còn thấy có biên giới nữa là thành Phật.
Đức Phật chủ trương thuyết vô ngã, quyết đập tan cái ta giả dối, cũng chính để chúng ta nhận rõ mình với người là một, ta với không phải ta vẫn như nhau, để chúng ta đừng nhận thấy ta là của riêng ta, chỉ thương ta và ghét người không thương ta. Như thế, thuyết vô ngã, tu hạnh vô ngã là những phương tiện để thực hiện tình thương rộng lớn vô biên, là từ, bi, hỷ, xã.
Chính đức Phật đã nói: “Ta nguyện đem thân ta chịu hết hằng hà sa số đau khổ của chúng sanh. Vì ta nguyện tế độ cho chúng sanh, nên ta mới nguyện thành Phật”. Rõ ràng muốn thành Phật để cứu độ chúng sanh, chứ không phải cứu độ chúng sanh để thành Phật. Vì chứa chấp tình thương bao la thế nên Phật đã có những lời dạy đệ tử có thể làm phương châm cho người đời.
“Không nên lấy oán báo oán, chỉ nên lấy ân báo oán”. “Trong thế gian này chẳng phải lấy oán trừ được oán, chỉ lấy nhẫn mới trừ được oán”.
Lại nữa, đức Phật dạy chư đệ tử thực hiện pháp lục hòa trong đời sống hàng ngày, trong các mối quan hệ hổ tương của cuộc sống. Khi một mình vân du hóa đạo phương xa, phải tôn trọng tín ngưỡng của các tôn giáo khác cũng như các phong tục tập quán của mỗi một dân tộc hay bất cứ một địa phương nào, một xứ sở nào. Ngài đề cao và tôn trọng mọi tôn giáo, cũng như các hệ tư tưởng lấy lợi lạc chúng sinh làm cứu cánh, lấy hạnh phúc chúng sanh làm mục đích.
Niết bàn của Phật giáo được định nghĩa như là lợi lạc cứu cánh, hạnh phúc cứu cánh. Đạo Phật lại nhấn mạnh, hạnh phúc cứu cánh phải đạt tới bằng tâm từ, bi, hỷ, xã. Tính chất từ, bi, hỷ, xã lại đồng nghĩa với bất bạo động, hòa bình. Nếu Niết-bàn là hạnh phúc cứu cánh của người tu hành theo đạo Phật thì lòng từ bi, từ mẫn, hỷ xã, hòa bình bất bạo động là con đường, phương tiện, dẫn đến mục tiêu đó. Hạnh phúc an lạc không phân biệt ranh giới, màu da, dân tộc, đất nước đối với bất cứ ai, vì vậy mà đạo Phật mang sứ mạng đoàn kết hòa hợp giữa mọi dân tộc trên thế giới.
3.6. Tinh thần giới luật là nền tảng của đạo đức:
Đức Phật khuyên các Phật tử tại gia nên sống giữ năm giới, làm mười điều thiện, “để ngay trong hiện tại, khỏi tâm khổ tâm ưu, trong khi lâm chung, tâm không rối loạn và sau khi mạng chung, được sanh thiện thủ thiên giới”.
Giới được xây dựng trên quan niệm rộng rãi về tình yêu phổ quát thương xót đối với tất cả mọi loài, là nền tảng đạo đức căn bản của giáo lý đạo Phật.
Kinh Đại Bát Niết Bàn, số 16 Trường bộ nói lên năm điều nguy hiểm cho người gia chủ nếu phạm giới sống trái giới luật. Một là sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng dật. Hai là bị tiếng dữ đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, đi vào với tâm thần sợ hãi bối rối. Bốn là khi mạng chung sẽ bị chết với tâm thần rối loạn. Năm là sau khi mạng chung sẽ bị sanh vào khổ cảnh, ác thú, đọa xứ địa ngục. Trái lại, người giữ giới luật tức là sống đạo đức, được năm sự lợi ích. Một là sẽ có tiền của dồi dào vì sống không phóng dật. Hai là tiếng tốt đồn xa. Ba là đi vào hội chúng nào, tâm thần không sợ hãi, không bối rối. Bốn là khi mạng chung, chết với tâm không rối loạn. Năm là khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh vào thiên thủ thiên giới.
Với những Kinh dẫn chứng trên chúng ta có thể thấy đạo đức Phật giáo liên quan mật thiết đến giới luật. Có được giới luật vững chắc thì có được đạo đức toàn diện. Đạo đức Phật giáo chính là một nếp sống hành trì giới luật đưa đến hạnh phúc và an lạc, ngay trong đời này và đời sau. Đây chính là một nếp sống chứ không phải là lời dạy luân lý, hạnh kiểm cần phải theo một cách máy móc thụ động.
3.7. nguyên nhân suy thoái đạo đức xã hội:
Phật giáo phân tích những vấn đề bạo động suy thoái đạo đức trong xã hội bắt nguồn từ bản năng tham ái (ái dục) của người là nguyên nhân làm mất cân bằng xã hội, tâm tham đứng đầu trong ba căn bản phiền não tham (rāga) sân (dveṣa) và si (moha), sinh ra sát hại sinh mạng, trộm cướp, tà dâm, nói dối…
Do vậy đức Phật dạy rằng: "Này các Tỳ kheo, do dục vọng làm duyên, nên vua tranh chấp với vua, Sát đế lợi tranh chấp với Sát đế lợi, Bà la môn tranh chấp với Bà la môn, gia chủ tranh chấp với gia chủ, cha mẹ, anh em, bè bạn tranh chấp lẫn nhau. Khi chúng đã dấn thân vào sự tranh chấp, chúng đánh nhau bằng tay, ném nhau bằng đá, đập nhau bằng gậy và chém nhau bằng gươm. Do đó, chúng bị tử thương, hoặc ngắc ngư quằn quại.".
Do sự thiếu hiểu biết khi con người gây tổn thương và khổ đau đến người khác để đeo đuổi tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình (sự hài lòng và sở hữu của cá nhân), hạnh phúc thật sự đến từ cảm giác nội tâm bình an và sự thiểu dục tri túc, muốn đạt được phải thông qua sự tu tập lòng vị tha (từ bi) để loại trừ lòng ích kỷ tham lam, tất cả chúng ta đều là con người, chúng ta tìm kiếm hạnh phúc để cố gắng tránh xa khổ đau
Theo lời dạy của Đức Phật, tư tưởng chấp ngã là một sự mơ hồ trừu tượng, niềm tin sai lầm, nó không có thật. Sự chấp ngã ấy sinh ra tư tưởng sai lầm về ý niệm “tôi” và “của tôi” tham lam ích kỷ, chấp chặt, thù hận, ác ý, tự phụ, kiêu ngạo, tất cả những phiền não này nguyên nhân của bạo động dẫn đến vấn đề xung đột cá nhân, chiến tranh giữa các quốc gia, tóm lại từ ý niệm sai lầm này tạo nên tất cả tội ác và gây bất an trong cuộc đời.
3.8. Phật giáo với việc xây dựng đạo đức, lối sống :
Có thể nói sự xuống cấp về đạo đức đang trở thành một vấn nạn của toàn xã hội. Trước yêu cầu phát triển của đất nước, sự cần thiết phải xây dựng một nền tảng đạo đức mới cho xã hội trên cơ sở kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống đã được đặt ra.
Là một trong những thành tố tạo nên nền văn hoá dân tộc trong suốt hàng nghìn năm, Phật giáo ngày nay vẫn lưu giữ những giá trị tích cực có thể góp phần xây dựng đạo đức lối sống cho con người Việt Nam. Tính hướng thiện của Phật giáo là một trong những nguồn gốc của chủ nghĩa nhân đạo; tư tưởng bình đẳng, hoà bình của Phật giáo phù hợp với xu hướng hoà đồng liên kết giữa các dân tộc trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay; lòng từ bi, bác ái góp phần cứu giúp người hoạn nạn, giữ vững tinh thần là lành đùm lá rách của dân tộc, triết lý vô thường, vô ngã giúp con người giảm bớt cái tôi vị kỷ…. Những giá trị tích cực đó của Phật giáo càng được nhân lên với những hành động cụ thể, như kẻ đói được cho ăn, kẻ rách được cho mặc, người ốm đau bệnh tật được chăm sóc,…. Giáo lý nhà Phật khuyên con người luôn nhớ đến “đạo hiếu”, lấy chữ hiếu làm đầu: “hạnh hiếu là hạnh Phật, tâm hiếu là tâm Phật”, “muôn việc ở thế gian không gì hơn công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ”. Thêm vào đó, những không gian chùa chiền của Phật giáo luôn thu hút con người tìm về chốn tĩnh tâm, nơi chiêm nghiệm và cảm nhận…. Tất cả những điều đó là những giá trị tích cực, thiết thực góp phần giáo háo con người, giúp cho thế hệ trẻ vững bước trước những cám dỗ của cuộc đời, khích lệ họ quan tâm đến số phận của cộng đồng, sống lương thiện, coi trọng tính nhân bản, coi trọng thiên nhiên…. Bên cạnh đó, lối sống Phật giáo nêu cao tinh thần “cư trần lạc đạo” đã góp phần xây dựng lối sống có trách nhiệm với một ý thức không tham quyền cố vị, không bám lấy lợi ích vật chất, sống thanh cao tự tại. Bởi theo định nghĩa của đức Phật, tham và sân là hai năng lực tiêu cực mạnh mẽ nhất trong tâm thức của con người, chúng che khuất tầm nhìn và làm nhiễu loạn sự phán đoán của ta, cho nên, cũng theo Ngài, diệt trừ được tâm sân, đích thực là một thành tựu to lớn nhất của con người. Như thế Phật giáo đã góp những gái trị văn hoá tích cực vào việc xây dựng đạo đức lối sống cho con người, nhất là cho tầng lớp trẻ hiện nay.
III. KẾT LUẬN:
Đạo đức là chất liệu tạo nên những hệ giá trị riêng có của con người và xã hội loài người. Đạo đức Phật giáo ngoài những nguyên tắc siêu thế, thanh cao, còn bao hàm những chuẩn mực thiết thực, không khô cứng, có thể kiểm nghiệm hiệu năng ngay bây giờ và tại đây. Mười chuẩn mực đạo đức vừa nêu tuy chưa phải là tất cả, nhưng nếu như được thực thi, thì nhất định quả ngọt sẽ đong đầy.
Tóm lại qua sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng, vai trò Phật giáo rất quan trọng cho vấn đề phát truyển xã hội, nếu bất kỳ một quốc gia nào áp dụng theo nền tảng đạo đức Phật giáo thì chắc chắn rằng sẽ mang đến một quốc gia hưng thịnh chấm dứt tệ nạn xã hội, một xã hội chân thiện mỹ.
Để làm được điều đó không phải chuyện dễ, đòi hỏi những nhà lãnh đạo quốc gia phải làm gương áp dụng thực hành trước theo lý tưởng và đạo đức mà Đức Phật đã thiết lập ra, dân chúng sẽ noi gương theo, như tấm gương của Đại đế Asoka là một minh chứng
Ngoài ra trách nhiệm Tăng sĩ cũng rất quan trọng phải có trách nhiệm chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết hướng dẫn Phật tử tu hành bằng những khóa tu để giáo dục đạo đức tuổi trẻ nhận rõ tác hại của tâm tham, sân, và si
Nhờ những khóa tu ở các tự viện hiện nay, giúp các em trẻ học hỏi giáo lý, thực tập thiền định để tâm ôn hòa và có niềm tin vững chắc về nhân quả thì chắc chắn các em không bao giờ phạm pháp rơi vào vòng lao lý.
Mỗi người tự ý thức tu hành chấn chỉnh đạo đức cho mình để hoàn thiện nhân cách làm người là góp phần xây dựng xã hội văn minh tốt đẹp, hòa bình, và an lạc.
TÀI LIÊU THAM KHẢO:
1. Thích Minh Châu dịch-Kinh Tương Ưng Bộ I, II, III, IV, V- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1993.
2. Thích Minh Châu dịch-Tăng Chi Bộ Kinh I- Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam- 1996.
3. Thích Minh Châu dịch-Trung Bộ Kinh I, II, III- Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1992.
4. Thích Minh Châu dịch-Kinh Trường Bộ I-Viện nghiên cứu Phật Học Việt Nam 1996.
5. Thích Minh Châu -Chánh Pháp Và Hạnh Phúc- NXB Tơn Giáo 2001.
6. Thích Minh Châu-Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-1998.
7. Đinh Văn Đỗ- Giáo Dục Cộng Đồng-q.1- Kiến Tạo.
8. Lâm Ngữ Đường-Tinh Hoa Xử Thế-NXB Đồng Nai 1996.
9. Nhiều Tác Giả-Giáo Dục Phật Giáo Trong Thời Hiện Đại-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-NXB Tp. Hồ Chí Minh.
10. Thích Nữ Trí Hải chuyển dịch-Thanh Tịnh Đạo-Buddhaghosa- NXB Tơn Giáo 2001.
11. Nhất Hạnh-Hiệu Lực Cầu Nguyện- Lá Bối Xuất Bản.
12. Nguyên Hồng-Giáo Dục Học Phật Giáo- NXB Tơn Giáo. Thích Phước Sơn biên soạn-Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu- NXB Tơn Giáo 2004.
13. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Huy-Giáo Dục Học Đại Cương- NXB Giáo Dục 2000.
14. Thích Thiện Siêu-Vơ Ngã Là Niết Bàn- NXB Tơn Giáo 2000.
15. HT Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng I, VNCPHVN ấn hành, 1993
16. HT Thích Minh Châu (dịch),Tăng Chi bộ kinh I, II, ĐTKVN, 1996
17. HT Thích Minh Châu (dịch), Trường bộ kinh I,II, VNCPHVN ấn hành, 1991
18. HT Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tứ Niệm Xứ, Trung bộ I, VNCPHVN ấn hành, 1991
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét