THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

NGUYÊN NHÂN SỰ PHÂN CHIA BỘ PHÁI CỦA PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ

NGUYÊN NHÂN SỰ PHÂN CHIA BỘ PHÁI CỦA PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ I. DẪN NHẬP: Phật Giáo Ấn Độ là một nền văn minh có một không hai trên hành tinh này, và đã đưa nhân loại đi đến một chân trời mới mẻ về sự nhận thức. Thế nhưng, sau khi đức thế Tôn nhập diệt thì Phật Giáo Ấn Độ lại chuyển sang một bước ngoặc mới, chính những bước ngoặc này đã làm cho Phật Giáo đi đến một giai đoạn khác hẳn. Đó chính là sự phân chia Bộ Phái và có những bất đồng về quan điểm của Giới Luật. Chính vì những bất đồng đó đã đẩy Phật Giáo đi đến một sự phật chia có một không hai trong lịch sử, nền tản của Phật Giáo Ấn Độ không còn nguyên vẹn như thời vàng son khi Phật còn tại thế. II. NỘI DUNG: 1. Khái quát bối cảnh Tăng Đoàn sau khi Phật nhập diệt: Sau khi sự kiện trọng đại Đức Thế Tôn nhập Niết bàn thì bối cảnh tăng đoàn có những rắc rối xảy ra, và chính những rắc rối này mà Phật Giáo Ấn Độ đã có những phân hóa rất nhiều trong hàng ngũ Tỳ Kheo. Bởi vì trước khi Phật nhập Niết Bàn thì đã có rất nhiều vị Tỷ Kheo xin nhập diệt trước vì không muốn nhìn thấy cảnh bậc thầy vĩ đại của mình ra đi. Trong khi đó, sự thị tịch của Thế Tôn đã mang lại sự trống vắng và đau khổ đối với tấc cả Phật Giáo đồ thì lại có những dấu hiệu gây bức xúc trong hàng ngũ Tăng Đoàn. Đại loại như trường hợp của Tỳ Kheo Subbadda, ông ta đã vui mừng vì sự ra đi của Phật, ý của ông rằng từ nay không còn sự ràng buộc của một đấng đạo sư nghiêm khắc nữa. Chính vì thế Ngài Ca Diếp đã rất lo lắng và coi lời nói của Subbadda như là một lời cảnh báo về tình trạng suy đồi đạo đức, và nó có thể xảy ra trong hàng ngũ Tăng Đoàn trong khi Đức Phật không còn nữa. Từ đó, Ngài Ca Diếp đã vận động kiết tập kinh điển nhằm mục đích ổn định lại niềm tin của Tăng, Ni – Tín đồ. Bởi vì Ngài nghe tin đồn rằng : “ Sau khi Tôn Giả Xá Lợi Phất Nhập diệt thì đã có 80.000 Tỷ Kheo cũng nhập diệt theo. Khi Tôn Giả Mục Kiền Liên thị tịch thì cũng có 70.000 Tỳ kheo thị tịch và đã có hơn 18.000 vị thị tịch khi nghe Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, do vậy lời nói của Phật có nguy cơ tan theo mây khói ”. Chính vì thế mà Ngài vận động cho cuộc kiết tập kinh điển nhằm ôn lại những lời dạy của Phật khi ngài còn tại thế. 1. Tình hình nội bộ Tăng Đoàn: Như chúng ta đã biết, sau khi Phật tịch diệt thì tình hình nội bộ Tăng Đoàn có những biến động khủng khiếp từ những cá nhân. Từ đó, tạo ra sự xung đột tư tưởng lẫn nhau và gây nên những điều khiến cho Tăng Đoàn rơi vào một chiều hướng bị phân hóa. Chính vì vậy mà Tăng Đoàn cần có những nghị sự về vấn đề tương lai của Phật Giáo thời bấy giờ. Bởi vì lúc đó trong Tăng Đoàn không còn sự hiện diện của Phật để hướng dẫn tinh thần cho mọi người, khiến cho họ bị chao đảo về mặt tinh thần cọng thêm sự lo lắng về tương lai của các bậc Trưởng Lão về những điều Phật dạy. Khi Ngài Ca Diếp nghe được những tin đồn không không có chiều hướng tích cực thì Ngài cảm thất rất đau buồn và triệu tập Tăng Chúng để kiết tập lại những lời mà Phật đã dạy. Cho nên sự ra đời kỳ kiết tập thứ nhất được tiến hành. Ở Kỳ kiết tập này với mục đích là ổn định niềm tin của tín đồ đối với Tăng Đoàn và thiết lập lại toàn bộ những lời Phật dạy. 1.1. Những dấu hiệu suy thoái đạo đức: Sau khi phật nhập diệt thì có một số vị Tăng cảm thấy vui mừng khi mình không còn bị ràng buộc bởi bậc thầy của mình như trường hợp của Tỳ Kheo Subhadha… Đây là một dấu hiệu suy thoái đạo đức nghiêm trọng đối với Tăng Đoàn. Tỳ Kheo ấy nói rằng: “Thôi, đủ rồi thưa các ngài, đừng có than khóc thảm thiết nữa! Nay chúng ta đã thoát khỏi sự kiềm chế của Đại Sa Môn. Chúng ta sẽ không còn bị Đại Sa Môn làm bực mình bằng việc nói rằng: “cái này hợp với các người, hay cái này không hợp với các người”. Nhưng nay chúng ta có thể làm bất cứ gì chúng ta thích và những gì không thích chúng ta sẽ không làm”. Trên phương diện căn bản thì đây là một điều hết sức nghiêm trọng trong lĩnh vực đạo đức thời bấy giờ. 1.2. Sự chia rẽ tư tưởng từ lần kiết tập thứ hai: Sau những diễn biến từ những dấu hiệu suy thoái đó đã dẫn đến đại hội kiết tập lần thứ nhất. Sau kỳ đại hội đó khoảng hơn một thế kỷ thì lại xuất hiện sự xung đột tư tưởng giữa các Trưởng Lão thủ cựu và nhóm Tỳ Kheo Bạt Kỳ về mười điều phi pháp. Nhóm Tỳ Kheo Bạt Kỳ đưa ra mười điều phi pháp để áp dụng trong cuộc sống, và chính điều này đã dẫn đến sự xung đột. Nghĩa là các Trưỡng Lão Tỳ Kheo cho rằng đó là những điều đi ngược lại với Giới Luật của Phật chế. Từ đó, cuộc vận động của Ngài Yasa đưa đến kỳ đại hội kiết tập lần hai được thành lập. Đây là kỳ đại hội có quy mô rộng lớn và liên quan về vấn đề giới luật. Kết quả cuối cùng thì đại hội đều thống nhất mười điều của nhóm Tỳ Kheo Bạt Kỳ là không phù hợp với chánh pháp. Hệ quả là nhóm Tỳ Kheo Bạt Kỳ tức giận và dẫn một số Tỳ Kheo rời bỏ đi nơi khác. Đây là dấu mốc chia rẽ thành bộ phái. 1.3. Bước ngoặt sự ra đời Bộ Phái Phật Giáo: Sau khi Phật diệt độ khoảng hơn 100 năm thì trong giáo đoàn của Phật giáo đã xảy ra nhiều vấn đề mang tính phân hóa, sự phân hóa đó được tựu trung từ những câu chuyện rất đơn giản nhưng lại rất phức tạp. Bởi vì ở bất cứ thời điểm nào cũng có những xung đột cá nhân và tập thể. Tựu trung lại thì trong thời điểm đó vấn đề thành lập một hệ thống quản lý chưa có và chưa thống nhất tư tưởng, thành ra từng nhóm Tỳ Kheo bảo thủ ý kiến của riêng mình nên dẫn đến những hệ quả chia rẽ. Bước ngoặt ra đời của Bộ Phái bắt nguồn từ những xung đột như đã nêu ở trên. Hơn nữa, sau khi các kỳ đại hội thành lập xong thì trong hàng ngũ Tăng chúng có khuynh hướng đề cao sự hiểu biết và thiền định nhưng lại không chú trọng về Giới Luật. Đồng thời các bộ phái vì những nguồn lợi về mặt kinh tế nên đã tập trung tại các khu vực như Vesaly, Rajagaha, Kosambi,… đó là những vùng có nền kinh tế ổn định. Do đó, hiện tượng cát cứ lãnh địa xuất hiện để tạo nguồn cấp dưỡng lương thực lâu dài, và đây cũng là một trong những điều đưa đến sự chia rẽ Tăng Đoàn. 2. Lý do phân chia bộ phái của Phật Giáo Ấn Độ: Trong quá trình của ba kỳ kiết tập kinh điển như đã nêu ở trên đó tuy không phải là nguyên nhân chính gây nên sự phân chia bộ phái của Phật Giáo Ấn độ, nhưng cũng có những mâu thuẩn trong Tăng Đoàn thời bấy giờ. Để tìm hiểu rõ hơn thì chúng ta tìm hiểu qua những yếu tố dưới đây. 2.1. Mầm mống dẫn đến sự phân phái: Tiền đề của sự phân chia bộ phái được các nhà nghiên cứu sử liệu qua hai câu chuyện như thế này. Tuy rằng xem như không có chuyện gì gọi là to tác, thế nhưng nó cũng nằm trong những nguyên nhân gây nên sự phân chia bộ phái. -2.1.1. Chuyện Kosambi: câu chuyện này xảy ra giữa hai vị trưởng lão, một vị chuyên về Kinh và một vị chuyên về Luật. Chỉ vì ngài Dhammadhara phạm một lỗi lầm nhỏ nhặt nhưng vị trưỡng lão chuyên về Luật lại chỉ trích lỗi ấy giữa chúng đệ tử của mình và sự việc ấy đã làm tổn thương lòng tự trọng của Dhammadhara. Do đó, mâu thuẩn giữa đôi bên gia tăng một cách trầm trọng. Chính Đức Phật đã đến hòa giải nhưng hai bên vẫn không chấp nhận cho đến khi Phật bỏ vào rừng độc cư một mình thì họ mới nhận ra những khiếm khuyết của mình. Tuy không thể xem đây là chuyện Phá Hòa Hợp Tăng, nhưng dù sao việc này cũng có thể xem ấy là mầm móng chia rẽ Tăng Đoàn. Đây chỉ là những câu chuyện tuy nhỏ nhặc nhưng lại đưa đến một hệ quả không phải là nhỏ. 2.1.2. Chuyện Devadatta: (Đề Bà Đạt Đa) Đây là chuyện liên quan đến Giới Luật và Devadatta đã yêu cầu Phật bắt buộc chúng Tỷ Kheo phải sống theo năm điều kiện, nhưng đức Phật cho đó là sự ràng buộc không mang lại lợi ích giait thoát. Từ đó, Devadatta bất mãn và dẫn một số Tỳ Kheo rời khỏi Tăng Đoàn. Qua hai câu chuyện trên đó cho chúng ta một nhận xét rằng: Nền giáo dục ngày nay không có vấn đề nào khác hơn là con người giáo dục. Cũng chính vì thế mà nền giáo dục Phật Giáo thời bấy giờ cũng đã xảy ra những điều không mấy hay ho, để rồi dẫn đến sự phân chia ranh giới của hàng ngũ Tăng Đoàn. 2.2. Nguyên nhân: Những nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự phân chia bộ phái cũng lắm phức tạp, trên thực tế Tăng Đoàn là một tổ chức tôn giáo trong có có cả Xuất Gia và Tại Gia. Và tổ chức này không buộc ai phải làm thế này hay thế khác mà là trên tinh thần tự nguyện và tự giác của mỗi người. Do đó, chúng ta có thể tìm hiểu qua những nguyên nhân. 2.1. Khiếm khuyết vai trò lãnh đạo: Thực ra thì trong một tổ chức nào cũng có một người lãnh đạo tối cao cả, riêng đối với Tăng Đoàn thời bấy giờ thì không chú trọng vấn đề lãnh đạo. Bởi vì đức Phật có dạy rằng: “Hãy tự nương tựa mình và nương tựa pháp…Tự mình làm chổ nương tựa cho chính mình chứ không tìm cầu ai khác…”. Tuy nhiên, với tinh thần tự nguyện thì mỗi người tự đặt mình dưới sự chỉ dạy và lãnh đạo của một Tỳ Kheo trưởng lão có Giới – Tâm – Tuệ Đức. Nhưng trên thực tế thì vai trò tượng trưng này chỉ có hữu hiệu đến vấn đề tâm linh chứ thực sự bị hạn chế đến những quyết định mang tính nhất quán về sự đoàn kết hòa hợp mỗi khi có mâu thuẩn xảy ra. Đây cũng là điểm then chốt tạo ra vấn đề phân chia bộ phái của Phật Giáo Ấn Độ. 2.2. Yếu tố chuyên môn hóa hệ văn điển Pàli: Trên thực tế quá trình chuyên môn hóa này không phải do sự sắp đặt ngẫu nhiên. Bởi vì thời bấy giờ chữ viết chưa có và Tăng đoàn chia ra từng nhóm học thuộc lòng những lời Phật dạy. Và mỗi nhóm chuyên môn một mảng về Kinh hay về Luật. Khi từng nhóm nghiên cứu chuyên môn như thế thì hẳn nhiên sự quan tâm và hứng thú với vấn đề nghiên cứu như vậy nên người ta sẽ không thể không bảo thủ kiến giải của mình. Ví dụ như nhóm chuyên ngành Kinh thì họ cho rằng Kinh là tối thượng là hay nhất và nhóm chuyên về Luật cũng vậy. Từ đó, hệ văn điển được chuyên môn hóa thành ra gây nên những xung đột tư tưởng là điều đương nhiên không thể tránh khỏi. 2.3. Ảnh hưởng tư tưởng từ những bậc thầy nổi tiếng: Thời gian khi Phật còn tại thế thì trong Tăng Đoàn có những vị nổi tiếng xuất sắc như Xá Lợi Phất – Mục Kiền Liên – Ưu Ba Li…v…v…là những vị đại diện hướng dẫn tâm linh cho mọi người mỗi khi Phật vắng mặt. Tuy rằng những bậc thầy này chưa bằng Phật, nhưng tầm ảnh hưởng đối với đồ chúng cũng không ít. Cũng chính từ đó mà các học trò tôn vinh và sùng kính bậc thầy của mình là chuyện rất bình thường, cũng có thể nói rằng mỗi cá nhân mang một tư tưởng hướng đạo riêng, chính những dòng tư tưởng đó được học trò tiếp thu và bị ảnh hưởng là điều đương nhiên. Đó cũng là một trong những nguyên nhân xảy ra xung đột tư tưởng và nền móng đưa đến sự phân phái. 2.4. Khiếm khuyết nền tảng Giới Luật: Một nguyên nhân nữa gây nên sự phân chia bộ phái liên quan đến vấn đề Giới Luật. Nghĩa là ngoài những nguyên nhân được nêu ở trên thì khuynh hướng tu tập của hàng ngũ Tỳ Kheo lại thiêng về việc đề cao Trí Tuệ và chú trọng Thiền Định, nhưng điều hết sức quan trọng đó là nền tảng Giới Luật lại không được nghiêm trì một cách nghiêm túc. Bởi vì Giới Luật là căn bản của người Xuất Gia trên con đường đi đến giải thoát giác ngộ. Nếu bỏ đi yếu tố này thì coi như sự tu tập của chúng ta không còn giá trị đích thực. Từ đó tạo ra một hệ tư tưởng riêng biệt và chính điều này dẫn đến tình trạng phân chia bộ phái. III. KẾT LUẬN: Đối với nền Phật Giáo Ấn Độ đó là một nền văn hóa – tư tưởng rất độc đáo và đã đóng góp cho nhân loại một cái nhìn thông thoáng hơn về con người và vũ trụ. Nhưng cũng chính từ nền tư tưởng này đã tạo không ít thăng trầm trong sự phát triển và duy trì nó. Bởi vì, một khi nền văn hóa thay đổi thì tư tưởng con người cũng theo đó mà thay đổi không ngừng nghĩ. Chính những thay đổi về văn hóa – tư tưởng đó đã đưa Phật Giáo Ấn Độ chia cắt ra thành từng bộ phái khác nhau. Hơn nữa, mỗi thời kỳ đều có một cách nhìn nhận khác nhau cũng tạo nên sự khác biệt, vì vậy muốn phát huy và đưa những tư tưởng ấy vào lòng người thì những nhà lãnh đạo cũng tìm cách để đáp ứng nhu cầu cho đời sống vật chất lẫn tinh thần của con người. Cho nên, sự chia cắt hệ tư tưởng là điều không thể tránh được. Như chúng ta đã thấy: Phật Giáo Ấn Độ phân chia thành nhiều bộ phái như thế cũng đều bắt nguồn từ những tư tưởng khác nhau, chính những điều đó đã làm cho nền Phật Giáo tại Ấn Độ thời bấy giờ phân liệt thành nhiều hệ tư tưởng. Mỗi một hệ tư tưởng mang một dấu ấn khác biệt mặc dầu giáo lý của Phật chỉ có một vị. Trong sự phân chia đó đã có những nguyên nhân, những lý do, cũng như những vấn đề mang tính hình thức tạo ra một bước ngoặc mới cho trào lưu tư tưởng Phật Giáo. Do đó, cách thức phát triển và duy trì nền tảng tư tưởng không phải là một vấn đề dung dị. Qua những gì như đã trình bày ở trên, cho chúng ta một cái nhìn về Phật Giáo Ấn Độ xưa, cũng như cái nhìn về nền Phật Giáo hiện tại để thấy rằng. Phật Giáo không phải là một tôn giáo dựa trên giáo điều mà cốt yếu ở chổ là phải làm sao để phát huy tư tưởng bằng cách đưa nhân loại đi đến con đường giải thoát khổ đau. Cái đáng quan tâm nhất đó là cách giáo dục. Giáo dục làm sao cho con người hiểu về tôn giáo một cách khách quan chứ không phải nhìn nhận ở một phiến diện nào đó. Bởi vì những tư tưởng phiến diện đó dẫn đến một cái nhìn ấu trĩ và không mang tính thiết thực. Đồng thời, chúng ta phải làm sao để tránh những tình trạng phân hóa nền tư tưởng một cách đáng tiếc. THƯ MỤC THAM KHẢO: a. Thích Viên Trí – Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận – NXB Phương Đông – năm 2006 b. Thích Thanh Kiểm – Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ - NXB Tôn Giáo – năm 2006 C. HT. Thích Thanh Kiểm, Lược Sử Phật Giáo Ấn Ðộ, Vạn Hạnh, Sàigòn, 1963 Cao Hữu Ðính, Văn Học Sử Phật Giáo, Hương Sen, Việt Nam, 1996 HT. Thích Thiền Tâm, Phật Học Tinh Yếu, Thiên thứ nhất, Việt Nam, 1999 ÐÐ. Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Việt Nam, 1999 ÐÐ. Thích Tâm Hải, Phật Học Cơ Bản, Tập 2, Việt Nam, 1999

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét