THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
GIỮA HỌC THUYẾT CỦA BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO CÓ GÌ TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT
NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. GIỚI THIỆU KHÁI LƯỢC VỀ BA LA MÔN GIÁO VÀ PHẬT GIÁO:
1.1. BỐI CẢNH XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI:
1.1.1. Về kinh tế:
1.1.2. về chính trị:
1.1.3. Về văn hóa:
1.2. BÀ LA MÔN GIÁO VÀ PHẬT GIÁO:
1.2.1. Bà La Môn giáo:
1.2.1.1. Giáo điển:
1.2.1.2. Tư tưởng Đạo Bà La Môn:
1.2.1.3. Tư tưởng Triết học Đạo Bà La môn:
1.2.1.4. Thực Tại Tối Cao Brahman:
1.2.1.5. Tự Ngã Atman:
1.3. PHẬT GIÁO:
1.3.1. Quá trình hình thành:
1.3.2. Vậy Ai là người khai sáng ra Phật giáo?
1.3.2.1. Kinh Điển Cơ Bản Của Phật Giáo:
1.3.2.2. Kinh tạng:
1.3.2.3. Luật Tạng:
1.3.2.4. Luận Tạng:
2. NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT VÀ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA TƯ TƯỞNG
ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO:
2.1. QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI:
2.1.1. Quan niệm về giá trị con người của Ấn độ giáo:
2.1.2. Quan điểm của Phật giáo về giá trị con người:
2.2. QUAN ĐIỂM VỀ LINH HỒN:
2.3. TƯ TƯỞNG NGHIỆP:
2.4. TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT:
2.4.1. Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ Bà la môn:
2.4.2. Tư tưởng giải thoát trong Phật giáo:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
GIỮA HỌC THUYẾT CỦA BÀ LA MÔN VÀ PHẬT GIÁO
CÓ GÌ TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT
I. DẪN NHẬP:
Nền đạo học phương đông đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức vô tận về vũ trụ và nhân sinh. Trong mấy ngàn năm qua, nền đạo học này đã và đang cống hiến cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức, về triết lý nhân sinh…. và nó như suối nguồn tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái tim con người trên khắp thế giới. Phương đông cũng là nơi cho ra đời nhiều tôn giáo nhất như Phật Giáo, Ấn độ giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, Hồi giáo…. Nền đạo học ấy đã và đang ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội.
Nói đến phương đông không thể không nhắc đến Ấn Độ. Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền triết học phương đông. Và cũng chính nơi đây đã khai sinh ra nhiều trường phái triết học và tôn giáo lớn trên thế giới “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết học” . Nói đến Ấn Độ người ta liền nghĩ ngay đến Phật giáo và Ấn Độ giáo. Đây là hai tôn giáo lớn của Ấn độ nói riêng và của nhân loại nói chung. Mặc dù ra đời cách đây hơn mấy nghìn năm, trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, sự nghiệt ngã của dòng thời gian…nhưng nó vẫn luôn mang tính thực tiễn cao và có thể đương đầu với mọi vấn đề của xã hội hiện đại; Như nhà vật lý học nổi tiếng người Có một điều chúng ta không thể phủ nhận là Ấn Độ giáo và Phật giáo đều ra đời tại Ấn độ nhưng về tư tưởng cũng như về giáo pháp có nhiều điểm khác biệt. Với mong muốn nghiên cứu về những điểm khác biệt ấy nên người viết mạnh dạn chọn đề tài “Những điểm khác biệt giữa tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Có thể nói đây là đề tài mới mẽ mà Giáo sư Minh Chi gợi ý và hướng dẫn. Với luận văn này, Người viết chỉ xem đây như là một công việc tự nghiên cứu, tìm hiểu cho chính bản thân mình và có thể chia sẻ một phần nào đó cho những ai muốn tiếp cận với hai tôn giáo ấy. Tuy nhiên, sự nỗ lực cũng có giới hạn, cho nên luận văn này không sao tránh khỏi những khuyết điểm , ngưỡng mong các bậc thiện tri thức từ bi chỉ giáo.
II. NỘI DUNG:
1. GIỚI THIỆU KHÁI LƯỢC VỀ BA LA MÔN GIÁO VÀ PHẬT GIÁO:
1.1. BỐI CẢNH XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI:
Ấn độ cổ đại là một bán đảo có diện tích lớn nằm ở miền Nam châu Á. Đông nam và tây nam giáp với Ấn độ dương; Phía bắc là dãy núi Hymalaya và có hai con sông lớn: sông Ấn và sông Hằng. Từ hai con sông này đã hình thành nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn hóa cổ xưa và rực rỡ nhất châu Á. Phía nam Ấn độ là cao nguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, cằn cõi, khô hạn, quanh năm nắng nóng.
Do vậy, khí hậu giữa các miền của Ấn độ không đồng nhất với nhau, có nơi quanh năm tuyết phủ, có nơi lại khô hạn, nắng nóng.
Thời cổ đại, Ấn độ có nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đông nhất và có vị trí quan trọng là tộc người Dravidiens ở phía nam và người Aryan sống ở phía bắc. Trong quá trình phát triển, có những quốc gia và các dân tộc khác bên ngoài xâm nhập vào Ấn độ rồi định cư như người Ba tư, Hi lạp….Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây dựng nên một nền văn minh vĩ đại cho nhân loại, thể hiện qua các mặt sau:
1.1.1. Về kinh tế:
Nông nghiệp lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu của người Ấn độ cổ đại. Họ biết đắp đê dẫn nước vào ruộng, biết dùng trâu cày và các công cụ bằng đồng….Ngoài ra ngành chăn nuôi cũng phát triển mạnh, các súc vật được nuôi thành từng đàn, từng bầy như ngựa, dê, lợn, gia cầm…..Vì nhu cầu cuộc sống nên nghề làm đồ gốm, đồ đồng cũng phát triển; từ đây quan hệ buôn bán, trao đổi xuất hiện ở hình thức sơ khai. Theo đà phát triển của xã hội, nghề thủ công nghiệp đã xuất hiện và gặt hái những thành tựu đáng kể “những thợ thủ công nghiệp đã tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội. Những nghề thủ công nghiệp phát đạt nhất thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa, nghề làm đồ gốm và đồ trang sức”.
1.1.2. về chính trị:
Vào khoảng 1500 đến 1000 năm trước CN, tộc người Aryan đã di cư vào Ấn độ. Lúc đầu họ sinh sống bằng nghề chăn nuôi, du mục. Khi tấn công và chiếm đoạt được nhiều vùng đồng bằng tươi tốt của người Dravidien, họ đã học tập được kỹ thuật canh tác của người dân bản xứ và thay đổi lối sống từ chăn nuôi du mục sang định cư làm ruộng. Về sau người Aryan tổ chức ra các công xã nông thôn và phân chia ruộng đất cho các thành viên trong công xã. Đứng đầu công xã là xã trưởng và hội đồng bô lão của công xã. Họ vừa là người quản lý công xã, vừa là người đại diện cho công xã giao thiệp với các cấp trên (tù trưởng, sau khi thành lập quốc gia là vua).
Khoảng 1000 đến 600 năm trước CN, thế lực người Aryan bành trướng dẫn đến kinh tế phát triển nhanh chóng, từ đây sự phân hóa giai cấp gay gắt tạo điều kiện hình thành các quốc gia. Như ở miền bắc Ấn độ, thế kỷ thứ VI trước CN có đến mười sáu quốc gia, hùng mạnh nhất là quốc gia Magadha ở hạ lưu sông Hằng.
Về sau, vương triều Magadha bị lật đổ, thành lập nên triều đại Maurya (312 trCN), Asoka đã thống nhất và kiểm soát toàn bộ Ấn độ. Sau khi Asoka mất vương triều này suy sụp và dẫn đến diệt vong vào năm 28 trCN. Ấn độ lại bị ngoại bang xâm lược, mãi đến thế kỷ IV thì mới mới được thống nhất dưới triều Gupta và triều đại Harsa.
1.1.3. Về văn hóa:
- Ngôn ngữ và chữ viết: khi người Aryan xâm nhập vào Ấn độ họ đã dùng tiếng nói của mình để sáng tác ra bộ Kinh Veda (ngôn ngữ Veda). Đến thế kỷ thứ IV trước công nguyên Panini đã sáng tác ra ngôn ngữ Sanskrit (ngôn ngữ này chỉ sử dụng trong tầng lớp quý tộc). Dân chúng mỗi vùng có một thứ tiếng khác nhau. Do vậy ở Ấn độ có rất nhiều ngôn ngữ bình dân như Pali (ngôn ngữ của Phật Giáo), tiếng Tamin của người Dravidien ở miền Nam Ấn.
- Thiên văn học: xuất hiện từ thời Veda, họ đã quy định được một tháng gồm ba mươi ngày, một năm gồm có mười hai tháng…. và phỏng đoán được trái đất hình cầu và quay quanh trục của nó. Cuối thế kỷ thứ V trước CN, Thiên văn học đã giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực.
- Toán học: người Ấn độ đã phát hiện ra chữ số thập phân và hình tượng các chữ số. Đặc biệt là họ đã tính được số Pi khá chính xác, biết được định lý Pitago, biết giải phương trình bậc hai, bậc ba….
- Y học: Người Ấn đã biết chữa bệnh bằng cách dùng các loại cây và các phương pháp trị bệnh đơn giản. Về sau y học ngày càng phát triển, họ đã biết điều trị bệnh lâm sàng một cách thuần thục và chính xác….
- Kiến trúc: nổi bật nhất là lối kiến trúc xây dựng chùa chiền, đền tháp.
- Văn học: dân Ấn đã sáng tác ra các áng văn chương bất hủ như bộ Veda và các bộ sử thi: Mahabharata, Ramayana…..đây là niềm tự hào của nền văn hóa Ấn độ.
1.2. BÀ LA MÔN GIÁO VÀ PHẬT GIÁO:
1.2.1. Bà La Môn giáo:
Đạo Bà La-Môn (Brahmanism) cũng gọi Ấn giáo hay Ấn Độ giáo (Hinduism), là đạo bản địa của người Ấn (Hindus), hình thành ở Ấn Độ khoảng năm 1.500 trước Công nguyên hoặc sớm hơn nữa, tức là có trước Phật giáo ít lắm cũng khoảng 10 thế kỷ. Không xác định ai là giáo chủ hay người mở đạo. Bậc chân sư đắc đạo hướng dẫn tâm linh cho tín đồ được gọi là guru.
Tôn giáo này chủ trương đa thần (polytheism). Trời hay Thượng đế của Ấn giáo là một Trimurti (tam vị nhất thể) gồm ba ngôi: Brahma (đấng sáng tạo), Vishnu (đấng bảo tồn), và Shiva (đấng hủy diệt).
Các bộ kinh chính viết bằng tiếng Sanskrit: Vedas (Phệ đà), Upanishads (Áo nghĩa thư), Bhagavad Gita (Chí tôn ca)…
Vũ trụ quan. Thực tại tuyệt đối sinh thành và bảo tồn vũ trụ, vạn vật được gọi là Brahman, có thể xem như tương đồng với khái niệm Đạo của Trung Hoa, hay Logos của Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ 5 trước Công nguyên.
Nhân sinh quan. Con người bị ràng buộc trong vòng vô minh (ngu dốt) và huyễn ảo nhưng lại có khả năng thoát khỏi chúng.
Đời người có 4 mục đích: dharma (hoàn thành các nghĩa vụ luân lý, luật pháp và tôn giáo); artha (mưu sinh và thành đạt trong xã hội); kama (thỏa mãn các ham muốn nhưng biết tiết chế và điều độ); moksa (giải thoát khỏi vòng luân hồi) bằng cách giải trừ hết các nghiệp (karma) vì khi chết mà vẫn còn nghiệp thì phải chịu tái sinh vào kiếp sau ở thế gian, tức là luân hồi (samsara).
Đời người phải trải qua 4 giai đoạn:
brahmacharga (học tập);
grhastha (lập gia đình, tạo sự nghiệp);
vanaprastha (hướng về tâm linh);
sanrgasu (thoát ly xã hội để tu hành).
Luân lý. Con người chịu 3 trọng ân: ơn trời, ơn thầy, ơn tổ tiên. Phải tu tập theo 3 con đường: karmamarga (phụng sự); jnanamarga (trí tuệ hay minh triết); bhaktimarga (sùng tín trời).
Giữ 10 giới răn: ahimsa (không giết chóc); satya (không nói dối); asteya (không trộm cắp); brahmacharya (không buông thả theo ham muốn); aparigraha (không tham lam); saucha (phải sạch sẽ, tinh khiết); santosha (biết bằng lòng); tapas (kỷ luật với bản thân); svadhyaya (phải học tập); ishvara pranidhana (vâng phục mệnh trời).
Nghi lễ. Có 5 thánh lễ chính: Mahashivarati (giữa tháng 2), Holi (trong mùa xuân), Ramnavami (cuối tháng 3), Dusserah (đầu tháng 11), và Diwali (giữa tháng 11). Tín đồ hành lễ tại nhà riêng và trong đền thờ.
1.2.1.1. Giáo điển:
Kinh Vệ Đà (Veda) xem như là cỗi gốc của Bà La Môn Giáo và là suối nguồn của nền văn minh Ấn. Trong kinh có những bản thánh ca để ca tụng các vị thần, như thần lửa, thần núi, thần sông ... Phần lớn ca tụng những vẻ đẹp huy hoàng, tưng bừng và mầu nhiệm của cuộc sống trong vũ trụ. Toàn thể bộ kinh gồm bốn tạng:
1. Rig Veda: thi tụng cái biết.
2. Yajur Veda: nghi thức tế tự.
3. Sama Veda: ca vịnh thần chú.
4. Atharva Veda: (triển khai ý nghĩa ba bộ kinh kia).
Tư tưởng chủ yếu của Vệ Đà được biến đổi từ Đa thần qua Nhất thần, từ Nhất thần sang lãnh vực Triết học ngang qua ba thời đại: Vệ Đà Thiên Thư (Veda), Phạm Thiên Thư (Brahmana) và Áo Nghĩa Thư (Upanishad).
1.2.1.2. Tư tưởng Đạo Bà La Môn:
Theo trình tự thời gian, tư tưởng Vệ Đà đã đạt tới quan niệm một đấng Thượng Đế hữu ngã sáng tạo vũ trụ và một bản thể tuyệt đối vô ngã làm cội nguồn chung cho vũ trụ. Tuy nhiên, trên đại thể, kinh Vệ Đà vẫn thiên trọng về quan niệm một đấng Thượng Đế hữu ngã hơn.
Thời Vệ Đà Thiên Thư, dân chúng sùng bái cúng tế để cầu xin sự trợ giúp của các thần linh, hình thức phần chính thuộc về Đa Thần giáo. Sang thời kỳ Phạm Thiên Thư, tín đồ chán việc tế lễ và thờ tự nhiều Thần, nên tuyển lọc lại vài vị Thần quan trọng để phụng thờ, sau thờ một Thần là đấng Phạm Thiên (Brahma), vị thần tối cao toàn năng, siêu việt, sáng tạo ra vạn vật vũ trụ. Thế là đối tượng tín ngưỡng của đa phần dân Ấn Độ chuyển từ Đa thần giáo sang Nhất thần giáo. Qua đến thời kỳ Áo Nghĩa Thư không chỉ giới hạn trong nghi thức tế tự, mà bao gồm môn triết học cao siêu.
Áo Nghĩa Thư là những bộ kinh luận được các giáo sĩ Bà La Môn trước tác nhằm khai triển nền giáo lý Vệ Đà trên phương diện triết học. Trong khi các kinh Vệ Đà chú trọng về nghi thức thờ phụng thì Áo Nghĩa Thư muốn tìm hiểu thêm về tự ngã và tự thể của con người và mối liên hệ của chúng với bản thể tuyệt đối của vũ trụ vạn vật. Nội dung căn bản của Áo Nghĩa Thư cho rằng con người, cũng như mọi chúng sinh đều có một tự thể bất sinh, bất diệt, thường tịch và vô trụ như Bản thể tuyệt đối, thường được gọi là Atman hay Tiểu ngã (một linh hồn bất diệt). Khi tự ngã của con người hay của chúng sinh chưa hoà nhập với Bản thể tuyệt đối (Brahman, đấng Phạm Thiên hay Đại Ngã), thì Tự ngã của con người vẫn còn phải luân hồi trong vòng sinh tử. Họ chủ trương “Brahma-Atman đồng nhất” và con người giải thoát là con người hoà đồng vào bản thể của vũ trụ. Tiểu Ngã hoà đồng với Đại Ngã vô biên trong một trạng thái hằng hữu vĩnh cửu.
Trên địa hạt xã hội, dân chúng Ấn Độ hồi đó được phân chia thành bốn giai cấp:
1. Hàng Tăng lữ thuộc giai cấp Bà La Môn (Brahman).
2. Vua chúa thuộc giai cấp Sát Đế Lỵ, (Kshastriya).
3. Thương buôn, nông phu và thợ thuyền (Vaisya).
4. Tiện dân bần cùng thuộc giai cấp Thủ Đà La (Sùdra).
5. Ba-ri-a (Pariah) giống người cùng khổ, bị coi như sống ngoài lề xã-hội loài người, bị các giai-cấp trên đối-xử như thú-vật, vô cùng khổ nhục, tối tăm.
Hệ thống giai cấp này theo chế độ cha truyền con nối, các người khác giai cấp không được cưới nhau, không được cùng nhau hành lễ tế tự và không được ăn chung bàn. Giai cấp Thủ Đà La là giai cấp cùng đinh bị khinh miệt và bị hành hạ, nên đời đời làm nô lệ phục vụ cho ba giai cấp trên. Giai cấp này bị khinh bỉ đến nỗi một người Thủ Đà La đến gần một giếng nước, thời giếng nước ấy xem như đã trở thành dơ bẩn, không dùng được cho ba giai cấp trên và người Thủ Đà La nào vi phạm tội ấy có thể bị ném đá cho đến chết. Chính sự kỳ thị này đã gây ra một tổ chức xã hội cực kỳ bất công. Cho đến cuối thế kỷ thứ 6 trước Tây lịch đẳng cấp Bà La Môn hoàn toàn ngự trị trên toàn thể dân chúng Ấn, họ hợp nhất quyền lực chính trị vào quyền lực tôn giáo, đặt thêm nhiều nghi lễ tế tự phiền toái để trói buộc dân chúng nhằm củng cố giai cấp thống trị. Thời kỳ này có nhiều luận chấp về Tự Ngã và nảy sinh nhiều phe phái, từ những luận chấp về quá khứ, về tương lai, cho đến luận chấp về hiện tại Niết Bàn. Tất cả các luận chấp này đều dựa vào sự xúc đối phân biệt của sáu giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thức).
1.2.1.3. Tư tưởng Triết học Đạo Bà La môn:
Vào thời kỳ đầu, với trình độ nhận thức con người còn thấp kém, tư tưởng triết học Bà-la-môn giáo chủ yếu dựa vào hình thức tế tự, mang tính chất đa thần. Vì họ tin tưởng rằng, nhờ những nghi thức tế lễ mà người ta có thể thông cảm với thần linh, được thần linh che chở và giúp đỡ cho giải thoát. Tới khi trình độ nhận thức ngày càng cao, con người bắt đầu ý thức về sự tồn tại của mình. Họ suy ngẫm về cuộc đời, số phận và đi tìm lẽ sống cho con người. Để đáp ứng nhu cầu đó nên tư tưởng triết học Upanishad đã ra đời. Đây là đỉnh cao của triết học Bà-la-môn giáo. Mọi tư tưởng của bất kỳ môn phái nào sau này, chúng ta sẽ không biết gì đến nơi đến chốn nếu không tìm hiểu cội nguồn của tất cả các hệ thống Upanishad. Vì vậy triết gia Schopenhauer đã thốt lên rằng: “Khắp thế giới không có gì lợi ích nâng cao tâm hồn con người bằng các Upanishad. Nó đã an ủi đời sống của tôi, nó sẽ an ủi tôi khi tôi chết”. Sự xuất hiện của Upanishad đánh dấu bước chuyển tiếp từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học. Tư tưởng đó được thể hiện trong các vấn đề chủ yếu sau:
1.2.1.4. Thực Tại Tối Cao Brahman:
“Cái gì là thực tại đầu tiên, duy nhất, tối cao, là căn nguyên của tất cả, mà khi nhận thức được nó người ta sẽ biết được mọi cái và có thể giải thoát được linh hồn con người khỏi mọi lo âu khổ não của cuộc đời”. Upanishad đã cho rằng:đó là “Tinh thần vũ trụ tối cao Brahman”. Brahman là thực tại có trước nhất và là thực thể duy nhất, tuyệt đối, tối cao, vĩnh viễn, vô danh vô sắc v.v… là bản thể của tất cả, ở ngoài mọi giới hạn của thời gian và không gian… Brahman là thực tại siêu việt khách quan, ở ngoài và ở trong con người. Chandogya Upanishad nói: “Toàn thể vũ trụ là Brahman” và cũng nói “cái ngã tiềm ẩn trong lòng ta, đó là Brahman”. Cả Mundak và Katha Upanishad đều xác nhận: “Tự ngã không thể đạt được bởi học vấn, trí tuệ hay kiến thức. Ngài có thể đạt được bởi người nào mà Ngài lựa chọn. Đối với người ấy Tự ngã tự thể hiện bản tính của mình”. Taittiriya Upanishad có nhắc đến lời dạy của đạo sĩ Varuna về Brahman cho con như sau:
“Cái ở đấy mọi sự vật sinh ra, cái ở đấy mọi sự vật sống được và cái ở đấy mọi sự vật trở về sau khi chết. Con hãy tự hiểu lấy, cái đó là Brahman”.
Như vậy, Brahman là nguyên lý siêu việt, thường tại, vô thủy vô chung, là quỹ đạo chi phối vạn vật theo một trật tự như là điều lý có sẵn. Trong khi đó, vạn vật là những thực tại hữu thủy, hữu chung, được điều lý và định hướng trong Brahman.
Brahman là một thực tại đồng nhất, vượt ngoài các ý niệm, các tổng số ý niệm; nhưng để lý giải cho những người chưa có trình độ thực nghiệm tâm linh thì phải mượn những ý niệm. Vì thế, Taittiriya Upanishad đã hình tượng hóa Brahman như một cái tổ chim có ba con chim nhô cái đầu ra là Viraj, Hiranya Garbha và Ishvara: “Khi tuyệt đối được quan niệm là độc lập, tự hữu thì gọi là Brahman. Khi được coi là hiện thân thành vũ trụ thì gọi là Hiranya garbha, khi được coi là thượng đế sáng tạo hữu ngã thì gọi là Ishvara. Ishvara trở thành Brahman, Vishnu và Shiva khi ba chức phận của Ngài được phân biệt”
Không thể miêu tả Brahamn, nhưng Mundaka Upanishad đã lấy hình tượng con nhện giăng tơ để miêu tả hành động sáng tạo và thu hồi của Brahamn như sau: “Cũng như con nhện giăng tơ và rút tơ về, cũng như cỏ sinh trên mặt đất, cũng như lông mộc trên thân người sống, thì nơi đây trong vũ trụ, phàm cái hữu tồn là xuất tự Bất di bất dịch”.
Bất lực trong việc miêu tả Brahman, Brihad Aranyaka Upanishad dùng toàn bộ những chữ “không” để nói: “Brahman không lớn, không nhỏ, không ngắn, không dài, không rực rỡ, không tối tăm, không mùi, không vị, không mắt, không tai, không tiếng nói, không hơi thở, không trong, không ngoài, không tiêu hủy mà cũng không bị tiêu hủy”.
Mặc dù không thể miêu tả được Brahman là gì, nhưng Brahman vẫn có những tính thiết yếu là: Thực hữu (Chat), Ý thức (Chit), An lạc (Ananda). Brahman là thực hữu vì không phải là hư không, Brahman là ý thức vì là nguồn gốc của mọi nhận biết, Brahman là an lạc vì đó là hạnh phúc vĩnh hằng.
Mandukya Upanishad cho rằng con người chỉ có thể cảm nhận Brahman bằng trực giác tâm linh (Turiya). “Turiya là bản chất của ý thức về tự ngã duy nhất, nơi mà tất cả muôn vật trong thế giới đều trở về, yên vui, thanh tịnh, không hai”.
1.2.1.5. Tự Ngã Atman:
Tự ngã Atman là một thực thể nội tại trong mỗi cá nhân. Hơi thở là nguồn sống vật chất thì Atman là hơi thở siêu nhiên, là nguồn sống thiêng liêng. Atman là thực thể làm cho con nguời vượt lên trên vạn vật. Có thể nói Atman là thành phần của Brahman trong con người. Brahman là cái ngã vũ trụ đại đồng, còn Atman là cái ngã cá nhân. Braman chỉ có một, Atman là số nhiều, nhưng cái nhiều ấy chỉ là giả tưởng vì bản chất cả hai chỉ là một. Cho rằng khi thân xác chết thì Tự ngã (Atman) lại trở về hợp nhất với Đại ngã (Brahman).
Tự ngã Atman không phải là lý trí, tình cảm và giác quan, nhưng Atman là nguồn cội của các sinh hoạt tinh thần ấy. Không có Atman, tất cả sinh hoạt tinh thần và thể chất đều chấm dứt. Nhưng ngay khi cả sinh hoạt tinh thần và thể chất chấm dứt thì Atman vẫn tồn tại bất diệt. Với nhiều nỗ lực, nhưng Upanishad cũng không thể nói rõ về Atman, cho nên luôn cảnh giác rằng tự ngã không thể hiểu được, tự ngã phải cần được thực hiện. Katha Upanishad nói: “Atman không thể nhận biết được bởi sức mạnh của trí óc, cũng không thể nhận biết được bởi giác quan”.
1.3. PHẬT GIÁO:
1.3.1. Quá trình hình thành:
Trước khi Phật ra đời, xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt của đời sống xã hội. Thời kỳ này tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn sùng tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có tri thức, có khả năng giảng dạy đạo lý và cúng tế thần linh. Còn giai cấp Sát Đế lợi (vua chúa, tướng lĩnh….) thống trị quốc gia, thâu tóm gần như toàn bộ đất đai. Trong khi đó, các giai cấp dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực để cung phụng cho các giai cấp trên. Chính những lý do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự phản kháng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, đòi quyền tự do, bình đẳng. Cũng chính vào thời điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã xuất hiện. “Phật giáo xuất hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt nó phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn độ; mặt khác nó phản kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng giữa con người. Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la môn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người”.
1.3.2. Vậy Ai là người khai sáng ra Phật giáo?
Đó chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni-Người đã khai sáng ra Phật giáo ra đời vào năm 563 trCN tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), trong thành Kapilavastu (Ca tỳ la vệ) ở gần biên giới Nepan ngày nay. Ngài được đặt tên là Siddhattha (có nghĩa là người được toại nguyện), họ Gotama. Cha là quốc vương suddhodana (Tịnh Phạn)-trị vì vương quốc Kapilavastu; mẹ là hoàng hậu Màyà (Ma Gia). Sau khi Siddhattha chào đời được bảy ngày thì hoàng hậu đột ngột qua đời, việc nuôi dưỡng thái tử được giao lại cho em gái là Pajàpati Gotamì.
Do không chấp nhận chế độ phân biệt chủng tộc, đẳng cấp của xã hội, vì sự khát khao tìm cầu chân lý, nên thái tử Siddhattha từ bỏ tất cả, quyết chí ra đi tìm đạo cứu đời. Trải qua bảy năm tầm sư học đạo, thái tử đã thọ học với các vị danh sư nổi tiếng như Alàràma Kàlamà và Uddaka Ràmaputta và cũng đã kinh qua đời sống tu hành khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như; nhưng tất cả điều không giải quyết thoả đáng ý nguyện của Ngài. Sau đó Thái tử quyết định tĩnh toạ dưới gốc cây Tất bát la và thệ nguyện rằng: Nếu như không chứng được đạo Vô thượng bồ đề, thà thịt nát xương tan Ta cũng không rời khỏi chỗ này. Suốt bốn mươi chín ngày đêm suy tư thiền quán, cuối cùng khi sao mai vừa mọc Thái tử hoát nhiên đại ngộ, sạch hết phiền não, chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề hiệu Thích Ca Mâu Ni khi vừa tròn ba mươi lăm tuổi.
Sau khi viên thành đạo quả, Đức Phật liền đem giáo pháp của mình chứng ngộ được truyền bá cho tất cả mọi người. Trước tiên, Ngài dự định hóa độ cho hai vị danh sư Alàrà Kàlamà và Uddaka Ràmaputta. Sau khi thiền quán để xem các vị ấy cư ngụ ở đâu, Phật biết được hai vị ấy vừa mới qua đời. Kế đến Ngài nghĩ đến năm người bạn tu khổ hạnh, và biết họ đang vẫn còn tu tập tại Sarnath (Vườn Nai). Ở đây Ngài đã tuyên dương chánh pháp bằng bài giảng Tứ Diệu Đế. Sau khi nghe pháp năm anh em Kiều Trần Như đều xin quy y và trở thành đệ tử xuất gia đầu tiên của Phật, cũng từ đây Ba ngôi Tam Bảo được hình thành.
Trong quá trình phát triển, để phù hợp với từng thời đại, thích nghi với từng dân tộc, Phật giáo dần dần phân hóa thành hai bộ phái lớn đó là tiểu thừa và đại thừa hay còn gọi là Phật giáo nam truyền và Phật giáo bắc truyền. Mặc dù trên hình thức họ không đồng nhất với nhau về giáo lý cũng như về quan điểm…nhưng mục đích cứu cánh của hai truyền phái này là xiển dương thánh giáo nhằm đem lại lợi ích cho bản thân, tha nhân và xã hội.
Phật giáo nam truyền được truyền bá qua hầu hết các nước đông nam á như Tích lan, Miến điện, Thái lan, Lào, Campuchia, Việt nam….còn Phật giáo bắc truyền thì được truyền bá qua các nước như Trung Quốc, Nhật bản, Triều Tiên….trong đó có Việt nam
Ngày nay, do sự nhiệt tình hoằng pháp của các vị tổ sư nên Phật giáo cũng đã được truyền bá sang các nước như Mỹ, Pháp, Anh, Đức…..
1.3.2.1. Kinh Điển Cơ Bản Của Phật Giáo:
Nói đến kinh điển Phật giáo thì phải đề cập đến Tam Tạng kinh điển
1.3.2.2. Kinh tạng:
Sau khi Phật nhập niết bàn, các vị đại đệ tử của Ngài đã đúc kết lời Phật dạy thành năm bộ kinh chủ yếu như sau:
Kinh Trường Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh dài do Phật nói gồm có 34 bài kinh, tương đương với Kinh Trường A Hàm thuộc hệ thống Hán tạng.
Kinh Trung Bộ : đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh trung bình gồm có 152 kinh, tương đương với Trung A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tăng Chi Bộ: bộ kinh này được sắp xếp theo pháp số, có mười một chương gồm 171 phẩm, có 2203 bài kinh, tương đương với Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tương Ưng Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh có cùng chung thể loại theo sự tương quan của từng vấn đề, gồm có 7762 bài kinh, tương đương với Kinh Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tiểu Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh ngắn, và không có tương đương trong Hán tạng. Nội dung của kinh này chia làm mười lăm loại sau: kinh Tiểu Tụng, kinh Pháp Cú, kinh Tự Thuyết, Như Thị Ngữ, Kinh Tập, Thiên Cung Sự, Ngạ Quỷ Sự, Trưởng Lão Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Thí Dụ, Kinh Bổn Sanh, Vô Ngại Giải Đạo, Kinh Phật Chủng Tánh, Sở Hành Tàng, Nghĩa Thích.
1.3.2.3. Luật Tạng: là những giới điều mà Phật đã chế định, về sau được đúc kết thành các bộ như:
Tứ Phần Luật: gồm có 60 quyển
Ngũ Phần Luật: gồm có 30 quyển
Thập Tụng Luật: 60 quyển
Ma ha Tăng Kỳ Luật: gồm 40 quyển
Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da: gồm 50 quyển
1.3.2.4. Luận Tạng: không phải do Phật trực tiếp nói ra mà là những giải thích về Kinh, Luật do các vị đệ tử sáng tác, gồm có các bộ sau:
Pháp Tập Luận: bộ này nhằm phân loại, giải thích tất cả pháp
Phân Biệt Luận: bộ này cũng nhằm phân loại, giai thích tất cả pháp trên, có người cho rằng đây là bộ tục biên của Pháp Tập Luận.
Giới luận: trình bày về mối quan hệ giữa Uẩn, Xứ và Giới.
Nhân Thi Thiết Luận: bộ này nhầm thuyết minh về sáu phần: Uẩn, Xứ, Giới, Căn, Đế, Nhân.
Song Luận: gồm có mười phẩm nhầm nói rõ các mối hỗ tương của các pháp và các mối quan hệ sinh khởi và biến diệt.
Phát Trí Luận: bộ này nhằm nói rõ mối liên hệ của 122 môn và 24 duyên.
Luận Sự: gồm có 313 phẩm, 217 luận nhằm đả phá những chấp trước sai lầm của các bộ phái.
Trên đây là những kinh điển căn bản của Phật Giáo, được nói ra từ kim khẩu của Đức Phật hay các vị đệ tử xuất sắc của Ngài. Ngoài ra, sau khi đại thừa Phật Giáo phát triển đã hình thành nên một số bộ Kinh, luận lớn như sau: Bộ Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma, Kinh Lăng Già, Kinh Đại Bát Niết Bàn….về luận thì có Bộ Đại Trí Độ Luận, Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, Thành Duy Thức Luận, Du Già Sư Địa Luận….
Nói chung: Phật Giáo là một tôn giáo lớn của nhân loại, do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập. Dù ra đời cách đây hơn hai mươi thế kỷ, nhưng những lời dạy bất hủ của Phật vẫn còn thiết thực, đã và đang có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của châu Á nói riêng và cho toàn nhân loại nói chung.
2. NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT GIỮA TƯƠNG ĐỒNG
TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO:
2.1. QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI:
2.1.1. Quan niệm về giá trị con người của Ấn độ giáo:
Là con người thì ai cũng muốn có được một cuộc sống hạnh phúc trên hai phương diện vật chất và tinh thần. Trong xã hội Ấn độ cổ đại, nhất là vào thời kỳ Bà La Môn Giáo (giai đoạn thứ hai của quá trình hình thành Ấn độ Giáo), không phải người nào cũng có quyền được mong cầu như thế, chỉ có những tầng lớp thượng lưu, những người của đẳng cấp trên, cụ thể là Bà la môn và Sát đế lợi. Thời kỳ này đạo Bà La Môn phát triển rất mạnh, chiếm địa vị độc tôn trên vũ đài tư tưởng, chi phối gần như toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Vì để củng cố thế lực cũng như địa vị ấy nên Bà La Môn đã phân chia xã hội ra làm bốn giai cấp lớn như sau:
Giai cấp Brahmin (Bà la Môn): đây là giai cấp cao nhất gồm toàn bộ giới tăng lữ, là những người có khả năng đảm trách tín ngưỡng, lo việc cúng tế, lễ nghi và có quyền thay mặt xã hội giao tiếp với các đấng thần linh.
Giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi): là giai cấp của những người nắm quyền xã hội, thống trị lãnh thổ.
Giai cấp Vaisya (Vệ xá): gồm các thành phần thương gia, địa chủ…
Giai cấp Sudra (Thủ đà la): là giai cấp của những người tiện dân, cùng khổ, tôi tớ….
Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là những người nô lệ, cùng khổ. Họ không được phép sống trong cộng đồng của bốn giai cấp trên, họ chỉ được sống ở những nơi bìa rừng hay ở xa làng xóm. Họ cũng không được phép nói chuyện hoặc quan hệ hôn nhân với các người thuộc giai cấp trên. Hằng ngày những người thuộc giai cấp này làm những việc khó nhọc như thiêu xác người, đổ phân, quét đường….
Qua đây cho chúng ta thấy được rằng, bà la môn giáo quan niệm về giá trị con người hết sức bất công và không có sự bình đẳng. Đây là sự phân biệt chủng tộc, màu da, cũng như về nguồn gốc xuất thân. Những người thuộc giai cấp dưới phải tuân thủ nghiêm ngặt và phải tin tưởng tuyệt đối vào sự an bài này, cụ thể là của những giáo sĩ Bà là môn. Bà là môn sở dĩ được coi là giai cấp tối cao, bởi vì họ là người độc quyền về tri thức. Họ không nhữngỉ giải thích, chú giải các bộ kinh về Veda, dạy dỗ mọi người mà còn có quyền thay mặt mọi người tiếp xúc với các đấng thần linh. Thời bấy giờ không phải ai cũng được học, đọc, hay nghe kinh thánh. Nếu người sudra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc, bị đổ chì vào. Nếu họ tụng thánh kinh thì sẽ bị cắt lưỡi. Còn người nào học thuộc lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm hai. Đạo Bà la môn lúc ấy chỉ là đạo riêng của những người Bà la môn mà thôi, họ không cho bất cứ tầng lớp nào len lỏi vào.
Sự phân chia giai cấp này hết sức nghiệt ngã và quá bất công. Nếu ai không may sinh ra trong giai cấp hèn hạ, họ phải chấp nhận số phận đó cho đến khi nhắm mắt lìa đời mà không cóù cơ hội vươn lên địa vị cao hơn. Sự an bài các giai cấp trên đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các giai cấp dưới nên gây ra một cuộc phản kháng hết sức dữ dội nhằm đòi lại quyền tự do bình đẳng từ tay của những người thuộc giai cấp trên đã chèn ép, áp đặt cho họ.
Như vậy, theo Ấn giáo, cụ thể là Bà la môn giáo thì thân phận con người không được tôn trọng như nhau, những người thuộc giai cấp trên thì được tôn trọng tuyệt đối, còn những người thuộc giai cấp dưới được coi là những kẻ nô lệ. Đời sống vật chất của những người thuộc giai cấp thấp còn chưa đầy đủ, thì làm gì có cơ hội thăng hoa trong đời sống tinh thần. Đây là quan điểm của Ấn giáo về giá trị con người.
2.1.2. Quan điểm của Phật giáo về giá trị con người:
Vì nhận ra được cuộc đời là chuổi dài của khổ đau, luôn bị sanh, lão, bệnh, tử chi phối nên thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, quyết chí ra đi tìm đạo cứu đời. Sau khi chứng được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Đức Phật đã lên đường giáo hóa chúng sinh, mang đến cho xã hội Ấn độ một luồng gió mới, một tư tưởng cách mạng mới. Như chúng ta biết, thời bấy giờ đạo Bà la môn chiếm địa vị độc tôn và họ đã thiết lập ra các giai cấp nhằm tước đoạt mọi quyền sống khiến cho con người rơi vào cảnh lầm than, khổ sở….. Vì lòng từ bi vô hạn cũng như với tuệ giác siêu việt Đức Phật từng bước thiết lập lại xã hội và đưa ra nhiều quan điểm đặc sắc để “chống lại” những tư tưởng tiêu cực và khắt khe của xã hội lúc bấy giờ. Về thân phận con người cũng như nói về các giai cấp, Đức Phật khẳng định: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Một người được coi là quý tộc hay hạ tiện là ở nơi hành vi của họ mà không phải ở đẳng cấp sinh ra”. Như vậy, Phật đã xác định sự bình đẳng giữa người với người, không có ai là quý tộc và cũng không có ai là hạ tiện. Quý tộc hay hạ tiện không phải do nơi giai cấp quy định. Đây là một tư tưởng hết sức mới mẻ, độc đáo và nó được thể hiện rất rõ trong suốt quá trình hoằng dương thánh giáo của Ngài. Đức Phật mở rộng cánh cửa giải thoát nhằm tiếp nhận tất cả mọi người bất kể sang giàu, cao thượng hay hèn hạ…. Do vậy, trong tăng đoàn của Ngài có đủ mọi tầng lớp của xã hội, như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên thuộc tầng lớp Bà la môn, A Nan thuộc tầng lớp Sát đế lợi, Ưu Ba Li thuộc tầng lớp Thủ đà la…..Đức Phật nói rõ rằng: “Này các tỳ kheo, các con sông lớn đổ về đại dương thì mất tên trước kia của chúng và chỉ được gọi là đại dương. Cũng vậy, bốn giai cấp Bà la môn, Sát đế lợi, Vệ xá và Thủ đà la xuất gia, từ bỏ gia đình vào Pháp luật này được Như Lai tuyên bố, đều mất danh tánh và dòng dõi trước kia và chỉ còn được xem là Sa môn Thích tử”.
Hơn thế nữa, Đức Phật luôn đề cao giá trị của con người, bất luận là nam hay nữ. Ngài cho rằng ai cũng có thể tu tập và đạt được quả vị giác ngộ giải thoát. Nghĩa là một người cho dù xuất thân từ giai cấp Bà la môn cao quý hay ở những giai cấp thấp, nếu thực hành theo giáo pháp của Ngài thì đều được thưởng thức hương vị thánh đạo, “Này các tỳ kheo, đại dương chỉ có một vị, đó là vị mặn. Cũng vậy, Pháp và Luật của Ta cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát”.
Điểm đặc biệt nhất là Đức Phật tiếp nhận nữ giới vào trong giáo đoàn. Vì Ngài thấy rõ “người nữ có khả năng thành tựu các đạo và các quả”. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng về giới tính đầy tính nhân văn của Phật. Bởi người nữ xưa kia không được trọng đãi, tôn trọng. Đạo Bà la môn xem phụ nữ như là vật sở hữu của nam giới, sinh ra để phục tùng cho nam giới mà thôi và “cuối thời Veda và thời kỳ sử thi, phụ nữ phải chết theo chồng”. Còn đạo Jain thì cho rằng “Phụ nữ là ngọn đèn chiếu sáng con đường dẫn đến cánh cửa địa ngục”. Trước khi Phật ra đời, người phụ nữ không được hưởng quyền tự do, bình đẳng nên họ không có cơ hội thăng hoa về đời sống tâm linh của mình. Sau khi Ni đoàn được thành lập, hầu hết các vương phi, công chúa cho đến hàng thứ dân, gái giang hồ….. bất luận ở đẳng cấp nào cũng hưởng được “mùi vị” tự do, bình đẳng ấy. Cũng có rất nhiều cô gái, đáng lẽ mãi mãi bị lãng quên trong bóng tối khổ đau đã tỏ ra xuất sắc và đã thành tựu được giác ngộ giải thoát sau khi nương tựa vào giáo pháp của Như Lai.
Nói chung: Phật giáo nhìn nhận giá trị thật của con người, không phải do sanh ra hay nguồn gốc xuất thân mà quyết định sự cao thượng. Sự cao thượng hay hèn hạ đều phụ thuộc vào hành động, nhân cách của con người. Và Đức Phật cũng khẳng định : Tất cả chúng sinh đều có tánh Phật, có khả năng thành Phật. Đây là điểm khác biệt chủ yếu về giá trị con người giữa Phật giáo và Ấn giáo
2.2. QUAN ĐIỂM VỀ LINH HỒN:
Ngoại trừ Phật giáo, hầu hết các tôn giáo ở Ấn độ đều chấp nhận có một linh hồn bất biến tồn tại trong mỗi con người. Ấn độ giáo cho rằng linh hồn bất biến ấy chính là Atman hay Purusa, Jiva, chính là cái Ta, cái Ngã hay là cái thực thể tuyệt đối trường cửu trong con người. Trong kinh Upanishad đề cập nhiều ví dụ nói về linh hồn :
Chàndoya Upanishad nói:
“Này con, nếu có ai chích vào rễ của một cây lớn thì cây sẽ chảy nhựa nhưng cây vẫn sống, thậm chí đốn ngang cây, thì cây vẫn sống, chặt hết đọt cây thì cây vẫn sống trong nó và cây tiếp tục dần dần hút nước và thức ăn từ lòng đất để tiếp tục đâm lá ra cành.
Nhưng nếu linh hồn sống rời bỏ một cành là cành ấy khô héo, rời bỏ hai cành là hai cành khô héo, và nếu rời bỏ cả cây thì cây ấy chết khô.
Giống hệt như vậy đó con trai à ! thân xác này chết, rời bỏ linh hồn sống; nhưng linh hồn thì không chết. Cái bản chất tinh anh nhất trong tất cả mọi vật tồn tại chính là linh hồn. Điều đó thật sự là chân lý”.
Như vậy, bản chất linh hồn là vĩnh cửu, vô tận; dù thân xác có bị tiêu hủy nhưng linh hồn vẫn tồn tại từ kiếp này đến kiếp khác “Sau cái chết của thân xác, linh hồn đi về một trạng thái siêu việt khác mà phẩm chất của trạng thái đó được xác định tùy vào hành nghiệp (karma) quá khứ, trong đó bản chất nguyên thủy của tự ngã có thể được khám phá. Nhưng từ tình trạng siêu việt này, Atman có thể quay về thế giới vật chất nếu chưa thành tựu được thực tại tối hậu”.
Phật giáo không chấp nhận quan điểm của Ấn độ giáo về Atman (linh hồn). Theo Phật “ý tưởng về linh hồn, về Ngã là một sự tin tưởng sai lạc, không có thực trong thực tại và nếu tin tưởng như thế sẽ phát sinh những tư tưởng bất thiện về “tôi”, và “của tôi”, dục vọng ích kỷ, kiêu căng ngã mạn, gây ra xung đột giữa cá nhân với cá nhân và giữa dân tộc này với dân tộc khác…”. Do đó, Phật đã tuyên thuyết rằng: tất cả vũ trụ vạn hữu trên thế gian này dù là vật chất hay phi vật chất đều vô ngã do duyên sinh, theo nguyên tắc sau:
“Do cái này có mặt nên cái kia có mặt
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt
Do cái này sinh nên cái kia sinh
Do cái này diệt nên cái kia diệt”.
Cho dù linh hồn-được hiểu đơn giản là phần phi vật chất trong con người cũng phải do duyên sinh. Đức Phật phân tích một người là tập hợp của năm yếu tố: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó sắc (thuộc vật chất), bốn cái còn lại(thuộc phi vật chất). Nói cách khác, ngũ uẩn là một hợp thể duyên sinh vô ngã, không có cái nào tồn tại vĩnh cữu. Muốn tồn tại được phải nhờ nhân duyên, chẳng hạn như khi thức tồn tại phải nhờ “sắc làm điều kiện, làm đối tượng, sắc làm nơi nương tựa….Thức phát triển, hưng thịnh nhờ sắc. Thức tồn tại nhờ….thọ….tưởng….hành…. Nếu có ai nói tôi sẽ chỉ ra sự ra đi, sự đến, sự sinh, sự diệt của thức biệt lập với sắc, thọ, tưởng, hành thì người ấy đã nói lên một điều không thực”.
Qua đây cho chúng thấy được linh hồn mà Ấn giáo cho là trường cữu, khi nhìn dưới lăng kính Duyên sinh và qua phân tích về Ngũ Uẩn, Ngũ Đại của Phật thì không còn thấy gì là Ngã, là Tôi…chỉ là một thực thể vô ngã do nhân duyên nhóm lại mà thành, không có bất cứ cái gì tồn tại độc lập và vĩnh cửu.
2.3. TƯ TƯỞNG NGHIỆP:
Nghiệp là giáo lý quan trọng đối với hầu hết các tôn giáo ở Ấn độ. “Thuyết Karma bắt nguồn từ đâu ? Điều này không rõ. Nhưng vào thời Phật thuyết Nghiệp đã được chấp nhận rộng rãi, hầu như tất cả mọi tôn giáo, như là đáp án logic nhất, có sức thuyết phục nhất đối với mọi “bất công”, “sai biệt” trong đời sống con người”.
Theo bà la môn giáo, Nghiệp là “hành động cá nhân, đóng vai trò chủ chốt trong mọi việc, duy trì sự hài hòa vũ trụ, nhưng nó cũng ảnh hưởng quan trọng đến sự liên hệ của một người trong thế giới vật chất và quần thể”.
Mặt khác, Nghiệp còn đóng vai trò quan trọng quyết định số phận của con người và nó là động cơ chính tạo ra vòng luân hồi tái sinh. Trong Chàndogya Upanishad có nói: “Những người khi ở trần gian này biết cư xử tốt, thì rồi cũng nhanh chóng sẽ được sinh ra ở những đẳng cấp cao như giới Brahman, như Kshatriga, hay là như Vaisya. Nhưng những kẻ ở trần gian này hành động, làm việc tồi tệ, độc ác… thì kiếp sau họ sẽ được sinh ra như sự độc ác mà họ đã cư xử, sinh ra làm con chó, con heo, hoặc làm giới Chandala (hạng người thấp kém nhất của xã hội, dạng thối tha, bị xã hội ruồng rẫy)”.
Đối với Phật giáo, Đức Phật cũng đã sử dụng thuyết Nghiệp ấy. Bởi vì trong giáo lý của Phật nói đến Nghiệp rất nhiều. Nghiệp còn “có một ý nghĩa trọng yếu đối với nhân sinh quan Phật giáo, nếu không có nó thì không thể nào thuyết minh được những hình tướng nhân sinh, thậm chí không thể nói rõ chỗ quy hướng của lý tưởng nhân sinh”.
Mặc dù Phật tiếp thu tư tưởng Nghiệp ấy nhưng chính Đức Phật đã giải thích tận tường và trình bày đầy đủ về giáo pháp cao siêu ấy, hay “việc làm cho thâm diệu và phát triển quy luật Nghiệp báo là công trình của riêng Ngài, chứng tỏ Ngài là một tư tưởng gia đầy sáng tạo tân kỳ và một nhà tâm lý tinh tế”.
Ấn Độ Giáo cho rằng Nghiệp như là một định mệnh còn Phật giáo chủ trương Nghiệp là bất định nghiệp, tức Nghiệp có thể thay đổi được.
Nghiệp là động cơ chính yếu dẫn con người đi vào các cõi luân hồi, sanh tử triền miên. Đức Phật không dừng lại ở việc phân tích sức mạnh và tác dụng của Nghiệp mà Ngài còn chỉ ra cách thức chuyển Nghiệp hay Nghiệp là Bất định, tức là con người có thể chuyển đổi Nghiệp của mình bằng hình thức tu tập, sống và thực hành theo những lời Phật đã dạy. Và Đức Phật nhấn mạnh tùy theo sự tu tập mà ta có thể hoá giải được Nghiệp, không nhất thiết phải gặt hái hết tất cả những Nghiệp xấu đã gieo. Như trong thời Phật còn tại thế, Angulimala-một kẻ sát nhân nhưng khi tu theo giáo pháp thì được chứng quả A la hán, Ambapàli-một dâm nữ tài sắc và giàu có ở thành Vaisali biết hồi tâm tu hành cũng đắc quả A la hán….
Trong bà la môn Giáo hình như không có đề cập đến vấn đề này, cụ thể là khi con người sinh ra phải theo Nghiệp mà an phận trên sự phân chia giai cấp, sanh ra ở giai cấp nào thì hãy sống trong giai cấp ấy, chẳng hạn như người sanh trong giai cấp hạ tiện thì mãi mãi không thể nào vươn lên giai cấp cao hơn. Đây chính là điểm khác biệt giữa Phật giáo và Ấn độ giáo
2.4. TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT:
Giải thoát là khát vọng muôn đời của con người. Hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới đều lấy giải thoát làm mục đích cứu cánh cho mình. Giải thoát là một phạm trù rộng lớn “có thể ví nó như viên ngọc được ngắm nhìn ở nhiều góc độ khác nhau. Người ta có thể xem xét nó qua các mặt khác nhau như trạng thái, mục đích, phương tiện và kết quả và người ta cũng có thể xem xét ở các mặt bản thể luận hay mặt nhận thức luận, mặt triết học, mặt tâm lý, cũng như mặt đạo đức, tôn giáo”.
“Giải thoát” bắt nguồn từ tiếng Phạn là Mosha, Mukti, có nghĩa: “Giải” tức là cởi ra, mở ra, tháo ra….”; “Thoát” là vượt ra khỏi sự ràng buộc của thế giới giả tưởng, sanh tử luân hồi.
2.4.1. Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ Bà la môn:
Tư tưởng giải thoát trong thời kỳ Bà la môn, tiêu biểu nhất là tư tưởng giải thoát của sáu phái triết học: Sankhya, Yoga, Vaisesika, Nyaya, Mimansa và Vedanta. Đây được xem là sáu phái triết học thuộc hệ thống của Bà la môn, công nhận uy thế mặc khải của Veda và dựa trên tư tưởng giải thoát của Upanishad. Tư tưởng giải thoát thời kỳ này phát triển phong phú, đa dạng và sâu sắc hơn, nhất là bàn kỹ hơn về phương pháp đưa đến giải thoát.
- Phái Samkhya cho rằng: mục đích tối hậu của con người là diệt đau khổ. Nhưng muốn diệt trừ đau khổ phải hiểu được hai mươi lăm thực thể
Năm duy:sắc, thanh, hương, vị xúc
Năm tri căn: tai, da, mắt, mũi lưỡi,
Năm tác căn: lưỡi, tay, chân, nam nữ căn, căn quan bài tiết
Một ý
Năm đại: địa, thủy, hỏa, phong, không
Thì mới được giải thoát, giải thoát ở đây tức là biết được cái tri thức duy nhất chân chánh (không có gì là “ta”, không có gì là của “ta”)
- Phái Veisesika: chủ trương giải thoát cũng giống như phái Nyaya. Muốn được giải thoát thì con người phải thấu triệt sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ (thực thể, tính chất hay đức, vận động hay nghiệp, phổ biến hay đồng, đặc thù hay dị, nội thuộc, hòa hợp), thực tập thiền định và diệt trừ dục thì mới hòa nhập vào đại ngã.
- Phái Vedanta: giải thoát “chính là vứt bỏ mọi sự ràng buộc của thể xác, nhục dục đối với linh hồn, đưa linh hồn bất tử trở về đồng nhất với linh hồn vũ trụ tối cao”. Để thành tựu được mục tiêu ấy, con người cần phải trải qua quá trình thực nghiệm tâm linh, phát triển trí tuệ.
Nói chung: các trường phái triết học trên đều coi con đường giải thoát là con đường nối liền tiểu ngã tương đối với đại ngã tuyệt đối thông qua các quá trình tu tập thiền định, và thực nghiệm tâm linh. Họ đều tập trung vào tinh thần, đạo đức, tâm lý con người, phủ nhận cuộc sống, tiền tài, danh vọng…. để hướng con người đến nơi thánh thiện, hạnh phúc.
2.4.2. Tư tưởng giải thoát trong Phật giáo:
Giải thoát là mục đích cứu cánh cho những ai tu theo Phật giáo. Tất cả tam tạng kinh điển của Đức Phật đều giúp cho mọi người đạt đến giác ngộ và giải thoát. Trong Phật giáo có rất nhiều phương pháp tu tập để đạt đến giải thoát nhưng tựu trung không ngoài bốn chân lý vi diệu, đó là Tứ thánh đế.
Khổ là một sự thật, một thực trạng trong kiếp sống nhân sinh. Đức Phật trình bày về chân lý khổ không phải để cho mọi người chán nản, bi quan mà tìm về với cuộc sống ẩn thân nơi thâm sơn cùng cốc. Mục đích của Phật là giúp cho chúng ta thấy rõ sự thật khổ đau để từ đó thoát ly, xa lìa khổ đau. Khổ thường biểu hiện qua hai phương diện : khổ đau về thể xác cũng như khổ đau về tinh thần : “Sanh là khổ, già, bệnh, chết là khổ, sầu bi là khổ, ưu não là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn là khổ”. Đây là những khổ đau mà con người phải gánh chịu.
Không dừng lại ở nỗi khổ của con người, Đức Phật đã chỉ cho chúng ta thấy rõ nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái hay khát ái. Do tham ái mà bám víu và chấp thủ vào các đối tượng của tham ái “chính ái này đưa đến tái sinh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, vô hữu ái”.
Ái là một năng lực tinh thần hết sức mạnh mẽ, luôn tiềm ẩn trong tất cả mọi người, mọi chúng sinh. Nó chính là nguồn gốc của mọi khổ đau. Con người thường thích chạy theo tiếng gọi của tham ái như sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon ngọt, xúc chạm êm ái…tham ái càng mạnh thì chấp ngã, chấp thủ càng sâu dày. Đây chính là động cơ, là nghiệp lực dẫn đến tái sinh đời này đời khác. Những ham muốn năm trần trên gọi là dục ái. Hữu ái tức là bản năng sinh tồn. Do muốn tồn tại nên sinh lòng sợ hãi sự chuyển sinh hay hoại diệt. Hữu ái có ba đối tượng : dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Có người mong muốn mình có mặt trong dục giới, tái sinh trong dục giới. Có người lại nhàm chán các dục lạc từ sắc, thinh, hương, vị, xúc, họ nhàm chán cõi dục và khởi lên mong ước về cõi sắc. Có người lại nhàm chán cả đến các sắc tướng mong tồn tại ở trong thế giới không có sắc tướng, họ được sinh về cõi vô sắc.
Nói nguyên nhân của khổ đau là khát ái, có nghĩa là nhân của khổ đau là do 12 nhân duyên tập khởi hay năm thủ uẩn tập khởi. Bởi vì, theo Duyên khởi, ái có mặt là 12 nhân duyên có mặt, ái có mặt (hay hành uẩn có mặt, vì ái thuộc hành uẩn) là năm thủ uẩn có mặt. Có thể nói rằng tập đế chính là 12 nhân duyên hay chính là năm thủ uẩn.
Nói đến khát ái tức là đến sân và si. Sân chỉ là bề trái của khát ái và si tức là bản chất của khát ái ( si tức là không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững trong chúng. Do không thấy rõ nên sinh tâm ham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú). Vì vậy, có thể nói rằng tập đế chính là tham, sân, si……
Trên đây là tư tưởng giải thoát của bà la môn giáo và Phật giáo. Nhìn chung thì nó cũng có điểm giống về cách thức tu tập, tức là quay trở về bên trong bằng con đường “thực nghiệm tâm linh”cũng như tu luyện về đạo đức…. nhưng cũng có một số điểm khác biệt chủ yếu như sau:
Chủ trương giải thoát của bà la môn giáo là một quá trình cần được chuẩn bị dần dần, qua bốn giai đoạn:
Brahmacàrin (Phạm chí kỳ): là giai đoạn học tập của thời niên thiếu, sống như những học trò để học thánh kinh Veda.
Grhastha (Gia cư kỳ): là giai đoạn trưởng thành, lấy vợ, sanh con, tạo lập sự nghiệp.
Vànaprasth (Lâm cư kỳ): là giai đoạn rút vào rừng sâu để tu luyện thiền định, xa lìa gia đình, vợ con.
Parivràjaka (Du hành kỳ): đây là giai đoạn xả ly tất cả tình cảm gia đình và xã hội để chuyên tâm tu tập, rèn luyện đạo đức, tức là cầu mong đạt đến sự giải thoát.
Hay họ còn chủ trương “chỉ khi nào con người hòa đồng được tiểu ngã của mình với đại ngã của vũ trụ thì lúc ấy mới có giải thoát”.
Phật giáo không chủ trương như thế. Giải thoát có thể tu tập ở bất cứ độ tuổi nào, thời điểm nào trong cuộc sống cũng có thể hưởng được hương vị giải thoát mà không cần thông qua các giai đoạn trên. “Nghĩa là bất cứ trong giờ phút nào ta cắt đứt được mọi mối ràng buộc của tham lam của dục vọng, khiến cho tâm hồn thanh thản, tự do, tự tại thì ngay giờ phút ấy ta đã đến cảnh giới giải thoát chân thật”.
Mặt khác, bà la môn giáo cho rằng giải thoát là quá trình đưa tiểu ngã Atman hay linh hồn cá biệt hòa nhập vào đại ngã Brahman hay “tinh thần vũ trụ tối cao”. Ngược lại, Phật giáo phủ nhận vai trò sáng tạo muôn loài của Brahman (Phạm thiên) và nói rằng: “Phạm thiên chỉ là một giống sinh vật cao cấp hơn người, tuy sống hạnh phúc và thọ mạng lâu hơn người, nhưng vẫn ở trong vòng sống chết luân hồi. Bản thân Phạm thiên, chính vì thiếu trí tuệ, cho nên tự cho mình là thượng đế, là đấng tạo thế. Còn những người tu đạo Bà là môn, tuy tự đặt cho mình cái đích cao nhất là hòa mình vào Phạm thiên, nhưng từ trước tới nay, chưa từng có một tu sĩ Bà la môn nào dám mạo nhận mình đã hòa hợp được với Phạm thiên cả”.
Chính vì thế, Phật giáo cho rằng giải thoát chính là Niết bàn, là trạng thái như thật, vắng mặt khổ và khát ái.
Trên đây là một số quan điểm cũng như về tư tưởng khác nhau giữa Phật giáo và Ấn độ giáo. Dù có sai khác nhưng Phật giáo và Ấn giáo vẫn là suối nguồn tâm linh, đã và đang tuôn chảy trong hàng triệu triệu trái tim của con người trên thế giới.
III. KẾT LUẬN:
Ấn độ là một trong những cái nôi của nền đạo học phương đông nói riêng và cho cho nhân loại nói chung. Chính nơi ấy đã sản sinh ra nhiều trường phái, tôn giáo lớn trên thế giới. Có thể nói Ấn độ là “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và các nền triết học”. Trong ấy tiêu biểu và nổi bật nhất là bà la môn giáo và Phật giáo. Dù hai tôn giáo này ra đời trong bối cảnh xã hội Ấn độ cổ đại nhưng có nhiều quan điểm, tư tưởng,……khác nhau; cụ thể là quan niệm về giá trị con người, linh hồn, tư tưởng nghiệp báo, tư tưởng giải thoát mà người viết đã trình bày ở phần nội dung.
Khi nói đến bà la môn giáo, thì chúng ta liền nghĩ ngay đến các bộ kinh lớn như Veda, Upanishad, Bhagavad Gita….đây là những bộ kinh, chứa đựng nhiều tư tưởng đặc sắc, về nhân sinh quan cũng như vũ trụ quan của người Ấn độ.
Điểm đặc biệt nhất của Ấn độ giáo là không có một vị giáo chủ nào sáng lập rõ cả. Sự duy trì và truyền bá này hoàn toàn phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi. Có một điều chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ giáo không được truyền bá rộng rãi như Phật giáo nhưng ở tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn và số lượng tín đồ rất đông, chiếm tỉ lệ 83% dân số (số lượng này được các nhà nghiên cứu thống kê vào năm 1991)
Đề cập đến Phật giáo, người ta thường gọi Phật giáo là đạo của Từ bi, trí tuệ hay là đạo của sự giác ngộ, giải thoát. “Mặc dù ngày nay tại Ấn độ Phật giáo không có nhiều tín đồ, các Phật tử vẫn xem Ấn độ là đất thánh khai sinh ra Phật giáo, vì lịch sử Phật giáo bắt đầu tại đó và hầu hết kinh điển Đạo Phật đều được kết tập tại Ấn độ”.
Trong hơn hai mươi lăm thế kỷ qua, Phật giáo đã phát triển và lan rộng đến rất nhiều nước trên thế giới và có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với đời sống của hàng triệu triệu trái tim con người. Hàng mấy ngàn năm qua, giáo lý Phật giáo luôn là kim chỉ nam định hướng cho nhận thức, hoạt động của con người và góp phần giáo dục, hoàn thiện nhân cách cho từng cá nhân. Như khi nói về tầm quan trọng của giáo lý Bát Thánh Đạo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1] Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ I, II, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1993.
[2] Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ưng Bộ III, IV Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1993.
[3] Thích Minh Châu dịch, Kinh Tăng Chi Bộ III, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1996.
[4] Thích Minh Châu dịch, Kinh Pháp Cú, Thiền Viện Vạn Hạnh, 1996.
[5] Minh Chi, Giáo trình Triết học Ấn độ.
[6] Minh Chi, Các Vấn Đề Phật Học, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1995.
[7] Minh Chi, Thuyết Bốn Đế, Trường Cao Cấp Tp HCM, 1996.
[8] Doãn Chính chủ biên, Veda Upanishad-những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn độ, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2001.
[9] Doãn Chính, Tư tưởng giải thoát trong triết học Ấn độ, NXB Thanh Niên, 1999.
[10] Doãn Chính, Lịch sử triết học Ấn độ cổ đại, NXB Thanh Niên, 1999.
[11] Doãn Chính chủ biên, Kinh văn của các trường phái triết học Ấn độ, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2003
[12] Will Durant-Nguyễn Hiến Lê dịch, Lịch sử văn minh Ấn độ, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2004.
[13] Nguyễn Tấn Đắc, Văn hóa Ấn độ, NXB Tp HCM, 2000.
[14] Michael Jordan-Phan Quang Định dịch, Minh triết phương đông, NXB Mỹ Thuật, 2004
[15] Thích Mãn Giác, Lịch sử triết học Ấn độ, Ban tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1967.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét