THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
GIÁ TRỊ TÂM LINH QUA CUỘC ĐỜI CỦA ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI
NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
II. NỘI DUNG:
1. Đạo Phật Con đường thực nghiệm tâm linh:
1.1. Chức năng bù đắp tâm linh của Phật giáo:
1.2.Cõi tâm linh của đời người:
1.3. Tôn trọng các giá trị nội tâm và hành vi chính trực của tha nhân:
1.4. khả năng của người không phân biệt:
2. Ảnh hưởng Phật giáo về mặt tư tưởng triết học và đạo lý:
2.1.Về tư tưởng:
2.2.Về đạo lý:
2.3. Ảnh hưởng Phật Giáo qua gốc độ nhân văn và xã hội :
2.4. Phật giáo và trách nhiệm đạo đức:
2.5. Các giá trị đạo đức xã hội dưới ảnh hưởng của Phật giáo:
3. Đức Phật có phải là hoá thân của thượng đế?
3.1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật:
3.2. Đức Phật: con người của mọi thời đại:
3.3. Như lai có mặt trên cuộc đời để đem ánh sáng:
3.4. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại:
3.5. Giá trị của Phật giáo trong thế giới hiện đại:
4. Những thành tựu khiến người đời tôn kính đức Phật:
4.1. Thế Tôn là người nói và làm đi đôi với nhau:
4.2. Thế Tôn là người có trí tuệ ca ngợi trí tuệ:
4.3. Thế Tôn là người giảng dạy về Tứ đế:
4.4. Vì người khác phục vụ:
4.5. Giảng dạy những điều có lợi ích thiết thực hiện tại:
4.6. Chỉ rõ pháp thiện và pháp bất thiện:
4.7. Thế Tôn có xu hướng mang đến hạnh phúc:
4.8. Sống thiểu dục tri túc, không kiêu mạn:
4.9. Những người thực hành giáo pháp Thế Tôn đều đạt mục đích tối thượng:
III. KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
GIÁ TRỊ TÂM LINH QUA CUỘC ĐỜI CỦA
ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI
I. DẪN NHẬP:
Bậc Ðạo sư như một vĩ nhân trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã đem niềm lại niềm tự hào cho đất nước Ấn Ðộ trước lòng ngưỡng mộ của thế giới Ðông Phương cũng như Tây Phương trong bao thế kỷ qua.
Ðó là hình ảnh của bậc Ðạo sư giản dị nhưng trí tuệ siêu việt, đã thuyết giảng giáo lý Trung Ðạo được thiết lập trên nền tảng vững chắc của Bốn Chân Lý Vi Diệu và Mười Hai Nhân Duyên, đưa ra một nhân sinh quan và vũ trụ quan mới cho xã hội Ấn Ðộ mang cổ đại truyền thống Vệ-đà hàng ngàn năm trước đã gây bao nỗi chán nản thất vọng cho những người mong cầu các kinh nghiệm tâm linh như thật đem lại ánh sáng Giác Ngộ Chân Lý.
Bước đường hành đạo của đức Phật thật sinh động trong khung cảnh Ấn Ðộ cổ đại được minh họa bằng các trích đoạn kinh kệ từ Tam Tạng Pàli nguyên thủy đầy thiền vị hòa lẫn thi vị, cùng một số địa đồ đầy đủ chi tiết các vùng đất xưa từng ghi dấu chân đức Phật Thế Tôn, từ vườn hoa Lumbini, nơi ngài đản sanh cho đến rừng Sàli ở Kusinàrà, nơi ngài viên tịch trong Niết-bàn tối hậu.
Thật hiếm nhân vật trong lịch sử tư tưởng nhân loại từng có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài như đức Phật Siddhattha Gotama, và cũng không ai từng để lại dấu ấn sâu đậm trên toàn Châu Á như ngài. Ðạo giáo do ngài sáng lập không chỉ đem lại nguồn an ủi cho vô số người mà còn cung cấp nền tảng học thuyết nhân bản cao thượng và một di sản văn hóa vô cùng tế nhị. Bài thuyết pháp đầu tiên do đức Phật dạy tại Lộc Uyển (Sàrnàth) gần Benares năm 528 trước CN là một sự kiện lớn đem lại những kết quả đầy lợi lạc liên tục mãi đến thời đại này.
Giờ đây đức Phật không còn được nhìn như một thánh nhân đang du hành trên hư không, ta có thể nói như vậy, mà là một nhà sáng lập đầy trí tuệ về mọi vấn đề thế gian, đã hiểu biết cách tận dụng các hòan cảnh chính trị với tài năng lãng đạo có kế hoạch tinh xảo, quả thật, giống như một nhân vật có thể sánh với đệ nhất vĩ nhân trong thời hiện đại là Mahàtma Gandhi (bậc Ðại trí Gandhi), một người đã hoàn thành xứ mạng của mình không chỉ vì đó là một người Ấn Ðộ có đức độ thành tín mà còn là một luật sư xuất chúng và là một tư tưởng gia có một đầu óc thực tiễn.
Nhiều người theo đạo Phật đôi khi chủ trương rằng cá nhân đức Phật không quan trọng, vì rằng không phải các sự kiện thoáng qua trong quãng đời ngài, mà chính toàn thể giáo lý vượt thời gian của ngài mới đáng cho chúng ta chú tâm. Cũng có vài điều cần bàn về quan điểm này, và quả thực chúng ta đặt đức Phật ra ngoài hệ thống giáo lý của ngài mà không loại trừ một yếu tố căn bản nào trong đó. Song về phương diện khác, mỗi quan điểm triết lý là một cách giải thích chứng minh hợp lý thái độ tinh thần của tư tưởng gia sáng tạo ra nó. Một người khác hay một người cùng ở trong các hoàn cảnh khác nhau đã có thể phát triển thái độ tâm lý khác và do vậy có thể lý luận cách khác, nghĩa là người ấy có thể suy tư cách khác. Như thế, người sáng lập hệ thống giáo lý xứng đáng được quan tâm như một cá nhân trong bối cảnh thời đại của vị ấy, nhất là đối với con người Phương Tây vẫn thường suy nghĩ theo tương quan lịch sử; đối với họ. Phương pháp đạt một tri kiến toàn diện cũng đáng chú ý như Thực chất của nó vậy.
II. NỘI DUNG:
1. Đạo Phật Con đường thực nghiệm tâm linh:
Bản chất và khuynh hướng giải thích của tôn giáo về tự nhiên giới và nhân sự giới không xa với bản chất và khuynh hướng thần thoại làm ấy. Những gì tôn giáo nói ra đều được xem như là chính thức dựa trên sự khai mở của thần linh và vì vậy căn bản của tôn giáo là đức tin. Triết học cũng muốn có một cái nhìn tổng quát như tôn giáo nhưng muốn được vô tư hơn và duy lý hơn. Nhưng đến khoa học thì cái nhìn trở thành chi li, tuy được dựng trên thực nghiệm chắc chắn. Đứng giữa tôn giáo và khoa học và không xây dựng trên yếu tố tín ngưỡng, triết học muốn luôn luôn nương vào thực nghiệm khoa học để tìm chân đứng cho vững chãi trong khi vươn cánh tới những chân trời mà khoa học không hoặc chưa nhìn thấy được, những chân trời mà tôn giáo tự cho là đã biết rồi. Thế nên triết học đóng vai trò trung gian, một mặt dựa trên các phát minh khoa học bài xích những ngây thơ sai lạc của một số các tôn giáo, nâng đỡ và khích lệ cho các tôn giáo nào mà chủ trương phù hợp sự thực, một mặt nêu ra và thuyết minh những điều khoa học không biết đến hoặc chưa biết đến: những điều này, tuy còn ở trong phạm vi lý tưởng nhưng có thể là đối tượng sau này của khoa học thực nghiệm. Và cũng vì mang sứ mạng khảo sát tín ngưỡng và hướng dẫn phát minh, triết học được xem như là một động cơ xúc tiến cho sự gạn lọc của tôn giáo và sự tiến bộ của khoa học.
1.1. Chức năng bù đắp tâm linh của Phật giáo:
Toàn cầu hóa với sự phát triển của khoa học tác động tới sự phát triển nhiều mặt trong đời sống xã hội nhưng lại dẫn tới nguy cơ hủy diệt loài người bởi chiến tranh hạt nhân, ô nhiễm môi trường, bệnh hiểm nghèo… Nền văn minh vật chất một mặt đáp ứng tốt hơn cho những nhu cầu của con người, mặt khác lại khiến cho nhiều người bị tha hóa, tự đánh mất mình, trở thành nô lệ cho những ràng buộc vật chất. Những thành tựu do con người tạo ra lại trở thành phương tiện nô dịch họ. Một nhà báo Mỹ đã so sánh rằng: về mặt vật lý, nhân loại đang ở trong thời đại nguyên tử nhưng về mặt tâm lý học thì lại đang đứng ở thời kỳ đồ đá, giống như một người chân buộc vào máy bay phản lực còn chân kia buộc vào chiếc xe bò kéo.
Nền tảng cơ bản của đạo Phật là thực nghiệm tâm linh. Tinh thần giải thoát cơ bản của đạo Phật là sự phản tỉnh nội tâm trên những thuộc tính nhân bản. Vì vậy, ảnh hưởng sâu sắc nhất của Phật giáo là đối với con người hiện nay vẫn là ảnh hưởng tinh thần, tâm linh. Xét tới cùng, con người tìm đến tôn giáo chính là để thỏa mãn nhu cầu tâm linh, để chạy trốn khỏi nỗi cô đơn, nỗi sợ hãi sự ngưng đọng, trì trệ, thất bại trong cuộc đời, để được đáp ứng khát vọng giải thoát khỏi trạng thái chao đảo vì mất niềm tin, lạc hướng. Phật giáo đã thực hiện chức năng bù đắp tâm linh, khắc phục khoảng trống tâm tư bằng việc tạo dựng cho con người niềm tin vào chính bản thân mình.
1.2.Cõi tâm linh của đời người:
Dù là bậc trí giả hay chỉ là kẻ trí đoản thì ai ai cũng đến lúc phải nhận thức rằng đời người luôn gặp những bế tắc, mà dù thông minh hay giàu sang, quyền lực đến mấy, cũng đều bất lực, không thể giải quyết được. Đến lúc đó, hầu như mọi người mới ngộ ra rằng cõi tâm linh chính là sự cứu rỗi cuối cùng của mỗi đời người.
Dù là bậc trí giả hay chỉ là kẻ trí đoản thì ai ai cũng đến lúc phải nhận thức rằng đời người luôn gặp những bế tắc, mà dù thông minh hay giàu sang, quyền lực đến mấy, cũng đều bất lực, không thể giải quyết được. Đến lúc đó, hầu như mọi người mới ngộ ra rằng cõi tâm linh chính là sự cứu rỗi cuối cùng của mỗi đời người.
Do Phật giáo khá phổ biến trên thế giới từ rất lâu, nên mỗi khi gặp chuyện đau buồn hoặc chuyện chẳng lành, hay chỉ là chán chuyện nhân thế, đa phần người Việt lại tìm đến cửa chùa để mong tìm sự cứu giúp, hoặc đơn giản hơn là chỉ tìm chút niềm an ủi từ các đấng từ bi đã theo chân chúng sinh suốt bao kiếp người.
1.3. Tôn trọng các giá trị nội tâm và hành vi chính trực của tha nhân:
Đã bác bỏ tất cả mọi hình thức phân biệt dựa trên giai cấp, nòi giống, màu da, và giới tính, Đức Phật thuyết phục xã hội cần tôn trọng những giá trị nội tâm và hành vi chính trực của con người. Thái độ tiến bộ này rất cần thiết để con người được hưởng một cuộc sống xã hội hạnh phúc. Câu nói sau đây đã tóm tắt quan điểm chính yếu của Đức Phật:
Con người không phải đáng được tôn trọng vì dòng tộc
Con người không phải đáng bị khinh chê vì dòng tộc
Con người đáng được tôn trọng bởi việc làm của họ
Con người đáng bị khinh chê bởi việc làm của họ.
Mặt khác, sự khẳng định này không có nghĩa là xã hội phải kết tội những ai chưa phù hợp với những hành vi mà xã hội đã đề ra. Đức Phật đã dạy rõ rằng bổn phận của chúng ta trong xã hội bao gồm việc sẵn sàng để giúp người khác hiểu và tuân theo điều lệ xã hội. Ngược lại, chúng ta cũng phải luôn cố gắng để hiểu người khác, thể hiện lòng từ bi đối với họ và luôn sẵn sàng giúp đỡ họ. Và khi nói đến việc tôn trọng, ngưỡng mộ đối với tha nhân, chúng ta phải coi trọng người có nhân cách tiến bộ.
1.4. khả năng của người không phân biệt:
Đức Phật cũng khuyến khích chúng ta ngưỡng mộ tài nghệ và khả năng của tha nhân như một cách khác để cải tiến thái độ và cách cư xử của mọi người trong xã hội. Qua lời nói và hành động của mình, Đức Phật đã nhấn mạnh rằng các tài năng này cần được khen thưởng, và rằng giai cấp, nòi giống, màu da, sự quen biết cá nhân, hay bất cứ tiêu chuẩn bất hợp lý nào khác, không ảnh hưởng gì đến sự ngưỡng mộ của chúng ta đối với tài nghệ và khả năng của người khác.
Nói chung, Đức Phật đã hướng xã hội đến việc chấp nhận sự hiểu biết, tài nghệ và khả năng của con người mà không phân biệt đối xử. Cải tiến thái độ và phát triển những giá trị vượt trên các giá trị xã hội và truyền thống bất hợp lý chắc chắn là sẽ khiến cho các mối quan hệ xã hội được dễ dàng hơn.
1.5. cởi mở đối với những quan điểm khác biệt:
Trong nỗ lực xúc tiến những mối quan hệ xã hội lành mạnh, Đức Phật đã kêu gọi sự kiên nhẫn, khoan dung và cởi mở đối với các lý thuyết và phương cách khác biệt. Theo Ngài, chúng ta cần có tâm cởi mở đối với những gì người khác nói, suy nghĩ, và hành động, thay vì chấp chặt vào các quan điểm cứng ngắt của bản thân.
Thêm nữa, với cái nhìn khoa học của Phật giáo, Đức Phật đã thể hiện tính phóng khoáng, cởi mở đối với các hệ thống tư tưởng khác biệt. Trong triết lý của Đức Phật, không có sự hiện hữu của (chế độ): Ngài không ủng hộ bất cứ tư duy nào dựa trên sự phỏng đoán để ảnh hưởng đến quyết định của người khác. Cuộc đối thoại của Đức Phật với Vaccha, một vị khách đến viếng tu viện của Ngài, đã xác chứng vị thế của Đức Phật.
Đức Phật khuyến khích một thái độ kiên nhẫn, khoan dung, và cởi mở đối với những lý thuyết, quan điểm và cách thức khác biệt. Một quan điểm như thế sẽ giúp chúng ta giảm thiểu tối đa các xung đột xã hội và cải tiến các mối quan hệ xã hội của chúng ta.
2. Ảnh hưởng Phật giáo về mặt tư tưởng triết học và đạo lý:
Phật Pháp là bất định pháp, luôn luôn uyển chuyển theo hoàn cảnh và căn cơ của chúng sanh để hoàn thành sứ mạng cứu khổ của mình. Với tinh thần nhập thế tùy duyên bất biến mà Đạo Phật đã tạo cho mình một sức sống vô biên, vượt qua những ngăn cách của địa lý, văn hóa, tôn giáo, ý thức hệ, thời gian ,không gian…. Tinh thần tuỳ duyên là tự thay đổi với hoàn cảnh để có thể tiếp độ chúng sanh, tính bất biến là giải thoát ra khỏi mọi đau khổ, sinh tử luân hồi. Tuy nhiên Phật Giáo vẫn luôn luôn hòa nhập với tất cả các truyền thống văn hóa tín ngưỡng của các nước trên thế giới.
2.1.Về tư tưởng:
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát chánh Đạo. Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái phật giáo, nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt.
Đạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiện tại. Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại. Không những các sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theo luật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại. Có 4 loại duyên cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên. Có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa. Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa. Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức là những điều kiện làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục không gián đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.
Người ta biết lựa chọn ăn ở hiền lành, dù tối thiểu thì đó cũng là kết quả tự nhiên âm thầm của lý nghiệp báo, nó chẳng những thích hợp với giới bình dân mà còn ảnh huởng đến giới trí thức. Có thể nói mọi người chúng ta điều ảnh hưởng ít nhiều qua giáo lý này. Vì thế, lý nghiệp báo luân hồi đã in dấu đậm nét trong văn chương bình dân, trong văn học chữ nôm, chữ hán, từ xưa cho đến nay để dẫn dắt từng thế hệ con người biết soi sáng tâm trí mình vào lý nhân quả nghiệp báo mà hành động sao cho tốt đẹp đem lại hòa bình an vui cho con người. Thậm chí trẻ con mười tuổi cũng tự nhiên biết câu: “ác giả ác báo”. Chúng phát biểu câu rất đúng hoàn cảnh sự việc xảy ra cho đối phương, hay “chạy trời không khỏi nắng”. Mặt khác họ hiểu rằng nghiệp nhân không phải là định nghiệp mà có thể làm thay đổi, do đó họ tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùng thiện. Sống ở đời, đột nhiên những tai họa, biến cố xảy ra cho họ, thì họ nghĩ rằng kiếp trước mình vụng đường tu nên mới gặp khổ nạn này. Không than trời trách đất, cam chịu và tự cố gắng tu tỉnh để chuyển hóa dần ác nghiệp kia.
2.2.Về đạo lý:
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của loài người .
Ngoài đạo lý Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác của đạo phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh. Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt. Tình thương ở mọi người bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê hương đất nước và mở rộng đến quê hương cao cả đối với cuộc sống của nhân loại trên vũ trụ này. Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt. Vì đạo phật rất chú trọng đến hiếu hạnh, và được Đức Phật đã thuyết giảng đề tài này trong nhiều kinh khác nhau như Kinh Báo Phụ Mẫu Ân, kinh Thai Cốt, kinh Hiếu Tử, kinh Đại Tập, kinh Nhẫn Nhục, kinh Vu Lan.. nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: “muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ” (Kinh Thai Cốt), hay kinh Nhẫn Nhục dạy: “cùng tốt điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn bất hiếu”. Bởi Phật Giáo đặc biệt chú trọng chữ hiếu như thế nên thích hợp với nếp sống đạo lý truyền thống của dân tộc Việt.
Nhìn chung, đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối tượng thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân , chúng sanh, vũ trụ, đó là môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa. Đạo lý Tứ Ân còn có chung cái động cơ thúc đẩy là Từ Bi, Hỷ Xã khiến cho ta sống hài hòa với xã hội, với thiên nhiên để tiến đến hạnh phúc chân thực và miên trường.
2.3. Ảnh hưởng Phật Giáo qua gốc độ nhân văn và xã hội :
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học nhân loại ta thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùng đến kể cả những người ít học. Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này được phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo “tội nghiệp quá”. Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật Giáo. Theo Đạo Phật tội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước. Những nguyên đó (theo đạo Phật gọi đó là nhân duyên) khi chín mùi, thì đem lại kết quả.
Hoặc khi muốn diễn tả một vật gì đó quá nhiều, người ta dùng danh từ “hằng hà sa số”. Nếu hỏi hằng hà sa số là cái gì chắn chắn ít ai hiểu chính xác, họ chỉ biết đó là nói rất nhiều, bởi khi xưa Đức Phật thường thuyết pháp gần lưu vực sông Hằng (Gange) ở Ấn Độ, cho nên khi cần mô tả một con số rất nhiều, ngài thí dụ như số cát sông Hằng. Hoặc khi có những tiếng ồn náo, người ta bảo “om sòm bát nhã”, do khi đến chùa vào những ngày sám hối, chùa thưởng chuyển những hồi trống bát nhã, nhân đó mà phát sanh ra cụm từ trên. Lại có những người rày đây mai đó, ít khi dừng chân ở một chổ, khi người ta hỏi anh đi dâu mãi, họ trả lời tôi đi “ta bà thế giới”. Ta bà thế giới là thế giới của Đức Phật Thích Ca giáo hóa, theo thế giới quan của phật giáo thì thế giới ta bà to gấp mấy lần quả địa cầu này, hoặc khi các bà nẹ Việt Nam la mắng các con hay quậy phá, các bà nói: “chúng bay là đồ lục tặc”, tuy nhiên họ không biết từ lục tăc này phát xuất từ đâu? Đó là từ nhà phật, chỉ cho sáu thằng giặc: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp của ngoại cảnh luông luôn quấy nhiễu ta.
2.4. Phật giáo và trách nhiệm đạo đức:
Theo đức Phật, mục đích của đời sống không phải là hưởng thụ mà là sống tốt, sống lành mạnh, sống đạo đức, sống văn hóa và sống tâm linh để thấy được các giá trị tích cực của kiếp người. Đạo Phật có mặt là vì con người, phục vụ con người và giải quyết các vấn nạn con người. Để mang lại kết quả hòa bình và phát triển, theo đức Phật, đạo đức cá nhân và xã hội cần phải được tôn trọng tuyệt đối.
Hành vi thiện trên động cơ thiện được xem là mối quan tâm hàng đầu đối với đạo đức Phật dạy. Dù là các loài động vật hay thực vật, lòng từ bi, khoan dung chính trị và tôn giáo được xem là điểm son trong giáo pháp Phật mà con người cần phải áp dụng và ứng xử với nhau. Nương tựa tự thân, thực tập thiền định có khả năng chuyển hóa phiền não, giúp con người phát triển trí tuệ, nhờ đó từ bỏ mọi sự rắc rối và nghiệp chướng. Đây chính là nghệ thuật “sống theo chánh pháp”.
Phật giáo kêu gọi các ý thức trách nhiệm về hành vi đạo đức bản thân, gia đình, xã hội, cộng đồng, quốc gia và toàn thế giới. Không ai có thể tránh khỏi quả báo của một hành động đã đến lúc chín mùi, vấn đề là sự tùy thuộc vào các yếu tố thời gian và điều kiện. Một thông điệp khác là kêu gọi tinh thần nhân bản, tương thân tương ái, lánh dữ làm lành, phụng sự tha nhân trong các cảnh huống bất hạnh và khổ đau là đáng và nên thực hiện bằng tấm lòng vô ngã và vị tha. Niềm tin về kiếp sau có năng lực khai sáng các hành động đạo đức và nhân đạo của chúng ta ở kiếp này.
2.5. Các giá trị đạo đức xã hội dưới ảnh hưởng của Phật giáo:
Có thể nói, đạo đức Phật giáo đã thực sự ăn sâu vào đạo lý truyền thống dân tộc, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán của con người. con Người tiếp nhận Đạo Phật không phải chỉ là nội dung triết lý ẩn chứa trong đó, mà quan trọng hơn là những hành vi đạo đức mưng tính thiện. Họ tiếp thu Phật giáo không phải với tư cách là một hệ tư tưởng với các giáo lý cao siêu, mà là những điều rất gần hũi với tâm tư, tình cảm của mình. Chẳng hạn Phật dạy công bằng, bác ái, từ, bi, hỷ, xả, không oán ghét, thù hận …rất gần với tâm lý, bản sắc văn hóa của mọi dân tộc. Phật giáo vì thế từ yếu tố ngoại sinh đã phát triển tương đối rộng rãi, hòa nhập với nền văn hóa dân tộc, tác động mạnh mẽ đến nếp sống của mỗi con người cũng như cộng đồng dân tộc.
Thuyết nhân quả của Phật giáo đã chỉ ra rằng: con người tự chịu trách nhiệm về hạnh phúc hay khổ đau bằng hành vi của chính mình chứ không phải do may rủi, định mệnh hay thân linh trừng phạt. Giá trị của thuyết này chính là việc khẳng định con người làm chủ được cuộc sống của mình, đặt con người vào đúng vị trí, vai trò của nó trong xã hội. Trên cơ sở đó, đạo đức Phật giáo giúp con người phát huy hết những đặc tính ưu việt, giảm thiếu những nhân tố đưa tới sự bất lọi cho bản thân, gia đình, xã hội.
3. Đức Phật có phải là hoá thân của thượng đế?
Đức Phật không bao giờ tuyên bố Ngài là con hay sứ giả của thần linh Thượng đế. Đức Phật là một chúng sanh độc nhất đã phấn đấu cho quả vị tự giác ngộ vô thượng. Không có một ai mà ngài xem như là bậc đạo sư của mình. Nhờ vào những nỗ lực cá nhân, Ngài tu tập hạnh Thập độ ba la mật: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, kiên định, từ tâm, xuất ly, chân thật và xả. Thông qua sự thanh tịnh tâm thức, ngài đã mở những cánh cửa đưa đến tất cả các tri kiến. Ngài chứng biết tất cả các pháp được biết, tu tập tất cả những pháp môn được tu tập và đoạn trừ tất cả các lậu hoặc phải được đoạn trừ. Thật vậy, trên cuộc đời này không có một bậc đạo sư nào có thể so sánh tương xứng với Ngài xét về lĩnh vực tu tập và chứng đắc quả vị.
Đôi lúc chư Phật thị hiện nơi cõi đời này, song có một số người đã nhầm lẫn ý kiến cho rằng đó là một vị Phật tương tự đã được hoá thân hoặc là xuất hiện trên cõi đời này nhiều lần. Trên thực tế, không chỉ có một đức Phật duy nhất mà có vô lượng vô biên đức Phật, nếu không thì không một ai có hy vọng chứng được quả vị Phật. Người Phật tử tin rằng tất cả mọi người đều có thể thành Phật nếu vị ấy tu tập những phẩm hạnh thành tựu và có thể đoạn trừ hoàn toàn những gốc rễ của vô minh nhờ vào những nỗ lực của tự thân. Sau khi giác ngộ, tất cả chư Phật đều như nhau xét về phương diện chứng đắc và kinh nghiệm Niết-bàn.
3.1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật:
Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của Đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến.
Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy: là do lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba dạng: - Một là tham vọng thỏa mãn cảm giác; - Hai là tham vọng muốn bất tử; - Ba là tham vọng thành công và trần tục. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình.
Ðiều đáng chú ý nhất nơi Đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất của một đầu óc khoa học trầm tĩnh và thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về Đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại.
3.2. Đức Phật: con người của mọi thời đại:
Ngài không cho rằng chỉ thuần có đời sống tinh thần ; mà phải làm sao quân bình giữa đời sống vật chất và tinh thần . Một mặt Phật giáo khuyến khích con người cần có sự tiến bộ phát triển về vật chất, mặt khác Ngài cũng nhấn mạnh đến sự phát triển về đạo đức và tâm linh để có một xã hội hoà bình an lạc.
Gần 25 thế kỷ trôi qua, Đức Phật : một con người có thật trong lịch sử nhân loại - vẫn còn để lại những dấu ấn đầy tính nhân bản với những lời dạy của Ngài làm cho con người có nhiều suy tư về vị giáo chủ đã tuyên bố : "Con người và chỉ có con người mới có thể thực hiện những hoài bão lý tưởng hưóng đến Phật quả". Chúng ta có thể gọi Đức Phật là một con người tuyệt vời trong nhân tính và cũng chỉ có Đức Phật là vị giáo chủ duy nhất trên hành tinh chúng ta khẳng định vị trí của con người : "Các Người là nơi nương tựa của chính mình, là hòn đảo chứ không còn nơi nương tựa nào khác". Ngài luôn luôn cổ súy tinh thần tự lực của mỗi người để tìm lấy sự giải thoát cho chính mình và điều này như là một sợi chỉ xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống giáo lý của Phật trong hơn 40 năm hoằng pháp lợi sanh.
3.3. Như lai có mặt trên cuộc đời để đem ánh sáng:
Bản chất của ánh sáng và bóng tối đối lập hoàn toàn với nhau. Ánh sáng có thì bóng tối mất và ngược lại. Hình ảnh đem ánh sáng vào trong bóng tối có ý nghĩa rất lớn là soi sáng, giá trị của sáng nằm ở nhận thức, chứ không nằm ở niềm tin. Giá trị soi sáng khởi lên bằng tuệ giác của con người thông qua nhận thức sáng suốt. Do đó muốn an lạc một cách lâu dài, chúng ta không chỉ đơn thuần hy vọng với những ước mơ, vì Như Lai đã nói: “Những điều mơ ước không thành tựu là một nỗi khổ”. Mơ ước càng nhiều thì khổ đau càng lớn. Trèo cao té đau, dĩ nhiên trèo thấp dưới gai góc thì té đau cũng không kém. Vì thế người Phật tử phải tìm ra hướng giải quyết bằng sự soi sáng của tâm linh. Niệm vấn đề gì đó đến tận gốc rễ của nó, không nửa vời, làm chưa hết rồi bỏ.
3.4. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại:
Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông điệp của Đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông điệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp).
Khi chúng ta đọc những bài thuyết giảng của Đức Phật, chúng ta cảm kích bởi tinh thần hợp lý của Ngài. Con đường đạo đức của Ngài ngay trong quan điểm đầu tiên là một quan điểm thuần lý. Ngài cố gắng quét sạch tất cả những màng nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại.
3.5. Giá trị của Phật giáo trong thế giới hiện đại:
Qua bức thông điệp của Đức Phật, chúng ta thấy rằng điều thiết yếu hiện nay là phải có một cách nhìn đúng đắn về các vấn đề cá nhân, xã hội và quốc tế. Sự tiến bộ của khoa học đã mang lại nhiều lợi ích cho nhân loại, nhưng đôi khi sự tiến bộ ấy cũng dẫn đến những hiểm họa khôn lường. Có một yếu tố tinh thần có thể khôi phục lại những sức mạnh mà những khám phá khoa học không thể tìm ra. Phật giáo luôn nỗ lực xây dựng những mối quan hệ của nhân loại bằng cách khơi nguồn những giá trị luân lý đạo đức cao đẹp của loài người. Phật giáo giúp chúng ta khám phá ra bản chất đặc trưng của thế giới là vô thường, vô ngã và khổ đau. Một khi con người không nhận thức đúng đắn ba nguyên lý này của thế giới thì họ vẫn còn khao khát về một đời sống vĩnh cửu ảo tưởng tách biệt bản chất của sự vật. Khát vọng viển vông đó không những tạo nên khổ đau cho người ấy mà còn khiến người khác cũng bị đau khổ theo. Làm sao khổ đau của nhân loại có thể tan biến? Làm sao có thể mang lại nền hòa bình và niềm hạnh phúc trường cửu cho xã hội hôm nay? Những câu hỏi muôn thưở này chính là những thao thức của Phật giáo. Phật giáo đã đưa ra lời giải đáp thỏa đáng cho những vấn đề này qua 84.000 pháp môn được giảng dạy trong các kinh điển, các pháp thoại, các thi kệ. Trong thế giới tăm tối sầu khổ, giáo lý của Đức Phật luôn tỏa sáng rực rỡ suốt hai mươi năm thế kỉ qua. Giờ đây vẫn chưa phải là muộn để chúng ta thực nghiệm giáo lý ấy nhằm xây dựng tương lai chúng ta tươi đẹp và hạnh phúc hơn. Giáo pháp của Như Lai đặt trên nền tảng của bản thể tự nhiên, được thừa nhận là có giá trị vượt thời gian và không gian.
4. Những thành tựu khiến người đời tôn kính đức Phật:
4.1. Thế Tôn là người nói và làm đi đôi với nhau:
Yếu tố thứ nhất khiến các đệ tử tôn trọng theo Ngài suốt đời chính là: “Lời nói và việc làm của Ngài đi đôi với nhau”, nghĩa là sự thật như thế nào thì nói như thế ấy, không nói lời thêu dệt, thêm bớt, sai sự thật. Ví dụ, nhân quả nghiệp báo là định luật chung cho mọi người, ai làm việc ác thì người ấy phải thọ nhận quả ác, ai làm lành thì cũng chính người ấy hưởng quả lành, điều đó có nghĩa không ai có quyền định đoạt số mệnh hay ban phước giáng họa cho người khác. Với đạo lý này, Ngài ví mình như “người dẫn đường” hay là “Vị lương y” trong sự nghiệp cứu độ chúng sinh, Ngài không có quyền năng như Thượng Đế, không có quyền thưởng hay phạt bất cứ ai, Ngài chỉ hướng dẫn: đây là khổ, đây là nguyên nhân dẫn đến khổ, đây là an lạc hạnh phúc, đây là con đường dẫn đến an lạc, chúng sinh tự mình quyết định lựa chọn một trong hai con đường đó, Ngài rất thương chúng sinh sống trong đau khổ, nhưng Ngài không thể làm gì được khi chúng sinh luôn tạo các nhân tham sân si. Đây là một bằng chứng cụ thể để chứng minh câu: “lời nói đúng theo việc làm, việc làm đúng theo lời nói”. Tuy nhiên, quá trình giáo hóa, vì căn cơ và trình độ chúng sinh khác nhau nên Ngài phải sử dụng phương tiện dẫn dụ chúng sinh, nhằm mục đích thành đạt sự giác ngộ giải thoát. Ở đây cần chú ý, phương tiện nào cũng mang mục đích giác ngộ giải thoát, không phải lợi dụng tính phương tiện trong Phật pháp che mắt thế gian, để thỏa mãn ý đồ xấu xa đen tối của mình.
4.2. Thế Tôn là người có trí tuệ ca ngợi trí tuệ:
Không giống như những tôn giáo khác chỉ chú trọng vai trò ‘niềm tin’, đạo Phật chú trọng đến vai trò trí tuệ tức ‘thấy’ và ‘biết’. Như “Kinh Tất Cả Lậu Hoặc” nói: “Ta giảng sự diệt tận lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy” hoặc trong ‘Kinh Subha’ nói: “Này thanh niên Bà-la-môn, ở đây, Ta chủ trương phân tích; ở đây, Ta không chủ trương nói một chiều. Này Thanh niên Bà-la-môn, Ta không tán thán tà đạo của kẻ tại gia hay kẻ xuất gia.” Ví dụ “Kinh Pháp Hoa” nói: “Sự ra đời của Phật nhằm mục đích, khiến cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”… Những đoạn kinh trích dẫn trên cho thấy Phật giáo là tôn giáo rất chú trọng vai trò trí tuệ, lấy trí tuệ giải quyết mọi khổ đau trong cuộc sống, là cơ sở cho sự giác ngộ giải thoát. Trí tuệ ở đây là sự hiểu biết đúng với sự thật, sự hiểu biết đúng chân lý, trong kinh gọi là: như lý tác ý, hoặc như thật tuệ tri, là cơ sở dẫn đến giải thoát. Sự hiểu biết – trí tuệ đó là phản ánh của chân lý, nên đức Phật có thể trả lời những nghi vấn của thế gian, phản bác ý kiến của thế gian, nhưng thế gian không thể phản bác ý kiến của Ngài.
4.3. Thế Tôn là người giảng dạy về Tứ đế:
Tứ đế là giáo lý giải thích về sự thật cuộc sống của đời người gồm hai khía cạnh: khổ đau và hạnh phúc. Hai khía cạnh này được mô tả bằng giáo lý Tứ đế, tức khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường dẫn đến khổ diệt. Hai yếu tố đầu nói về đời sống bất hạnh và nguyên nhân dẫn đến khổ đau là do vô minh hay tham ái (khổ tập). Hai yếu tố sau mô tả về đời sống an lạc và con đường dẫn đến an lạc, là lối sống bắt nguồn từ trí tuệ hay Bát chánh đạo. Cả hai lối sống đó do chính mỗi người chúng ta quyết định, không phải ai khác.
Ý nghĩa giáo lý Tứ đế nói lên quan điểm giáo dục của đạo Phật, không ngoài mục đích giúp cho con người thấy rõ bản chất cuộc sống là khổ đau, để rồi từ bỏ khổ đau, vươn tới an lạc hạnh phúc bằng sự hiểu biết của chính mình, bất cứ ai thực hành đúng theo lời dạy của Ngài đều có thể thành đạt cuộc sống an lạc hạnh phúc đó.
4.4. Vì người khác phục vụ:
Thông thường, mọi hoạt động của con người nhằm củng cố xây dựng cho cái “tôi”, nếu không là cho “tôi” thì cũng là cho “chúng tôi’. Ý niệm này, thôi thúc con người hoạt động theo chiều hướng nỗ lực chiếm đoạt thâu tóm về cho cái tôi đó, cũng chính từ đó mang đến cho con người những khổ đau phiền muộn, muốn mà không thành tựu thành ra khổ đau là lẽ đương nhiên. Đức Phật cũng là một trong những con người, nhưng Ngài khác với mọi người là Ngài đã giác ngộ chân lý (Duyên khởi - nguyên lý vận hành của mọi vật, cả tâm lý và vật lý) nên Ngài ứng xử phù hợp với đạo lý, từ bi hỷ xả cũng theo đó xuất hiện, do đó mọi việc làm của Ngài không vì cái tôi mà xuất phát từ lòng từ bi hỷ xả đó. Việc làm nào xuất phát từ những yếu tố này thì việc làm đó không phải là vì mình mà vì chúng sinh, vì mọi người. Đây chính là lý do hình thành tính đặc thù thứ nhất của Thế Tôn.
4.5. Giảng dạy những điều có lợi ích thiết thực hiện tại:
Đây là lời biểu lộ sự vui mừng của những người ngoại đạo, sau khi nghe Thế Tôn khai thị, được ghi lại rất nhiều kinh trong A hàm hay Nik?ya. Nếu như các tôn giáo khác chuyên thảo luận về hệ thống triết học siêu hình nào đó, hứa hẹn một cõi trời xa xăm nào đó, thì giáo lý của Thế Tôn luôn có mối quan hệ thiết thân với đời sống hiện tại, có ích lợi ngay trong đời sống hiện tại. Nếu có đề cập đến tương lai thì cũng bắt nguồn từ hiện tại, lấy hiện tại làm gốc, xem hiện tại như là một thước đo bệ phóng cho tương lai, không phải là lý thuyết chối bỏ đời sống hiện tại hoặc chỉ mơ ước về tương lai. Nói như thế không đồng nghĩa giáo lý của Thế Tôn chỉ có giá trị trong hiện tại mà không có giá trị ở tương lai; hình thức của giáo lý có thể bị giới hạn theo thời gian, nhưng tinh thần giáo dục của Ngài vượt thời gian, tức ở thời gian nào cũng hợp lý, ví dụ giáo lý duyên khởi, vô thường, vô ngã… là giáo lý cho mọi con người, cho mọi thời đại, vì bất cứ ở đâu, con người nào, cũng có đạo lý này. Tuy nhiên, hệ thống giáo lý này không phải ai cũng hiểu được, kẻ phàm phu sống với lòng tham lam, sân hận và si mê khó có thể chấp nhận giáo lý này, vì họ không hiểu được sự sinh diệt của các pháp là duyên khởi, bản chất của chúng là vô thường, cố chấp vào các pháp, từ đó sinh khổ.
4.6. Chỉ rõ pháp thiện và pháp bất thiện:
Thiện và bất thiện, pháp có tội và pháp không có tội, pháp cần phải thật hành và pháp cần phải né tránh, pháp hạ liệt và pháp cao thượng…Đối với hai loại pháp ấy, Ngài khuyên các đệ tử xuất gia lẫn tại gia nên phân biệt rạch ròi, không được mù mờ về hai pháp ấy. Những pháp nào là pháp thiện, pháp chân chánh… là những pháp mang ý nghĩa đoạn trừ tham sân si, tăng trưởng giới định tuệ, pháp ấy các ngươi nên thật hành; ngược lại những pháp nào là pháp bất thiện, pháp ác, phi chân chánh… là những pháp hạ liệt, diệt trí tuệ, tăng trưởng phiền não, thì các ngươi cần phải né tránh, không nên làm những pháp ấy, đó là lời khuyên hữu ích thiết thật đối với người phàm phu đầy phiền não như chúng ta. Cần chú ý rằng, Ngài chưa bao giờ khuyên những người phàm phu, chưa chứng quả từ bỏ chánh pháp hoặc không nên phân biệt giữa pháp thiện và bất thiện, giữa chánh pháp và phi pháp, giữa pháp có tội và pháp không có tội… Nếu ngài có đề cập đến quan điểm vô phân biệt, xả bỏ, không cố chấp, chánh pháp còn phải bỏ đi huống là phi pháp… thì ý nghĩa này được giới hạn, trình bày trong trường hợp đối tượng là những tỷ kheo đã đến bờ bên kia, đã giác ngộ giải thoát, không phải là những người phàm phu nhưng chúng ta, chúng ta không nên nhầm lẫn bối cảnh khác nhau giữa hai câu nói này.
4.7. Thế Tôn có xu hướng mang đến hạnh phúc:
Bất cứ vị giáo chủ hay vị đạo sư nào cũng cho rằng giáo lý của họ là con đường dẫn đến Niết bàn, là cảnh giới an lạc và hạnh phúc, tuy nhiên quan điểm ấy có giá trị hay không, không phải chỉ là lời nói suông mà phải căn cứ vào kết quả của việc thực hành. Giáo lý nhà Phật cũng vậy, được kiểm tra qua phương pháp này. Ví dụ đức Phật dạy: ai thực hành Bát chánh đạo thì người ấy sẽ được hạnh phúc an lạc. Vậy thì chúng ta thử kiểm tra trong cuộc sống, có ai hành đúng Bát chánh đạo mà lại bị khổ đau không, và ngược lại những ai không hành Bát chánh đạo mà người đó lại được an lạc hạnh phúc không. Từ cuộc sống thực tế cho thấy, người nào sống đầy lòng tham sân hận và si mê thì cuộc sống người ấy khổ đau nhiều hơn là hạnh phúc. Đây là ý nghĩa của điểm đặc thù thứ tư của đức Phật.
4.8. Sống thiểu dục tri túc, không kiêu mạn:
Sau khi Thế Tôn thành đạo, chẳng bao lâu uy danh của Ngài đã chinh phục vua chúa, các nhà triết học, ngay cả những người giàu có đương thời, như tôn giả Cấp Cô Độc, nhất là được dân chúng tôn trọng cung kính cúng dường. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà cuộc sống của Ngài biểu lộ sự cao ngạo, sống đời sống xa hoa phung phí, ngược lại cuộc sống của Ngài rất đơn giản, lấy tinh thần thiểu dục tri túc làm tiêu chuẩn, lấy thiền định giáo hóa chúng sinh làm vui, không phải như chúng ta ngày nay lấy vật chất làm vui. Tuy nhiên cần chú ý vấn đề, Phật giáo lấy tinh thần thiểu dục tri túc làm tiêu chuẩn cho cuộc sống vật chất, không đồng nghĩa với chủ trương sống khổ hạnh. Sống biết đủ là lối sống không đua đòi hưởng thụ khoe khoang, sống khổ hạnh là lối sống ép xác, từ chối vật chất, cho vật chất là nguyên nhân của khổ. Phật giáo cho rằng, bản thân vật chất không phải là khổ, khổ do tham, không biết kiềm chế lòng tham mà sinh, cho nên Phật giáo chỉ kiềm chế lòng tham, không phải từ chối vật chất. Đây chính là lý do tại sao đức Phật chỉ khuyên mọi người nên biết tri túc, không nên sống đời sống khổ hạnh. Đây là nội dung và ý nghĩa điểm đặc thù thứ sáu của đức Phật.
4.9. Những người thực hành giáo pháp Thế Tôn đều đạt mục đích tối thượng:
“Lại nữa,… Ưu-đà-di, nếu đệ tử Ta trong Chánh pháp luật này được thọ, được độ, được đến bờ bên kia, không nghi không hoặc, ở trong thiện pháp không có do dự. Người ấy nhân sự kiện này mà cung kính, cúng dường, tôn trọng, phụng sự Ta, thường theo ta không rời”.
Nội dung và ý nghĩa đoạn này, khẳng định bất cứ ai sống đúng với pháp và luật của Ngài thì chắc chắn người ấy sẽ được giác ngộ giải thoát (đáo bỉ ngạn), và trong thời gian tu học, vị ấy không có sự nghi ngờ gì đối với giáo lý của Ngài, do vậy các đệ tử luôn cung kính, tôn trọng, cúng dường, phụng sự Thế Tôn, không có ý niệm từ bỏ đời sống Phạm hạnh.
Nội dung và ý nghĩa đoạn kinh này gợi ý, một trong những nguyên nhân khiến người tu sĩ hoàn tục chính là không rõ được hướng đi của mình. Qua kinh nghiệm ta thấy, nếu làm một việc gì mà không biết kết quả của việc ấy như thế nào thì rất dễ sinh tâm lý nhàm chán, và nảy sinh tâm lý muốn từ bỏ. Cũng vậy, mục đích của người xuất gia là mong cầu sự giác ngộ giải thoát, nhưng nếu gặp phải cuộc sống trong chùa không được học tập những điều liên hệ đến giáo lý giác ngộ giải thoát của đức Phật, ngược lại phải học và làm những điều không liên hệ mục đích này, trong khi những thú vui ngũ dục (tiền tài, sắc dục, danh lợi, ngủ nghĩ, và ăn uống nhậu nhẹt) ngoài đời đang mời gọi, khi ấy đạo lý giải thoát bị lờ mờ, hướng đi bị chao đảo. Nghĩa là, nếu như niềm vui trong đạo không có thì trở về hưởng thụ những thú vui của cuộc sống thế tục trở thành lẽ tất nhiên, không có gì phải chê trách đối với người hoàn tục. Sự hoàn tục của một người đệ tử có phần lỗi lầm không nhỏ của người thầy. Vì người thầy đã không hướng dẫn Phật pháp, nói đúng hơn là không trang bị cho người đệ tử kiến thức Phật học chân chánh nên phải dẫn đến việc hoàn tục.
III. KẾT LUẬN:
Đạo Phật tuy được nhận thức là một tôn giáo nhưng kỳ thực không giống phần lớn các tôn giáo khác của nhân loại. Đạo Phật có phần triết học và khoa học của mình nhưng cũng không phải vì thế mà được xem là một triết học hay một khoa học. Để có thể đàm luận dễ dàng thiết tưởng chúng ta nên tìm biết qua sự liên hệ giữa Phật giáo, triết học và khoa học.
Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo đến trước triết học và khoa học, và có liên hệ rất mật thiết với thần thoại. Thần thoại là kết quả của khuynh hướng giải thích và giải quyết của trí óc con người cổ thời về các hiện tượng trong vũ trụ. Tuy triết học và khoa học cũng nhắm đến mục đích giải thích sự vật để làm nền tảng cho hành động, triết học và khoa học vẫn không có được những liên hệ chặt chẽ với thần thoại như là tôn giáo. Triết học khi chưa tách rời ra khỏi thần học thì chưa xứng đáng được gọi là triết học mà chỉ là một khí cụ của thần học. Thần học chỉ là để biện minh và thích nghi cho tôn giáo vào xã hội.
Nói đến thực nghiệm tâm linh là nói đến nền tảng căn bản của đạo Phật. Bởi vì đạo Phật cho rằng thiếu sự tiếp xúc của con người và những nguyên lý mầu nhiệm của thực tại thì mọi hình thái của sự sống phải mang tính cách khổ đau và tàn tạ (dukkha). Thế cho nên ở thời nào thiếu chứng ngộ thiếu sự khám phá thì ở thời ấy giáo pháp suy mạt, và sự sống nghèo khổ. Nơi những con người đạt đạo, sức sống tràn trề rạt rào và thấm nhuần trong mọi sinh hoạt xã hội. Ở nơi người đạt đạo, tỏa chiếu nghệ thuật linh động của sự sống, nghệ thuật ấy soi sáng cho đường lối nhân sinh của địa phương và thời đại. Mọi sinh hoạt xã hội cần được xây dựng trên cái nhìn bao quát và khế hợp căn cơ của người đạt đạo. Cho nên đạo Phật không những chỉ là thực nghiệm tâm linh mà lại còn là sự thể hiện trên cuộc sống những nguyên lý linh động đạt tới do công trình khám phá thực tại của những thực nghiệm ấy.
Những ai không có đủ điều kiện để làm nhà đạt đạo thì vẫn có diễm phúc được thừa hưởng những khám phá của nhà đạt đạo. Nhìn vào đời sống của người đạt đạo và ánh sáng chân lý tỏa rạng nơi cuộc đời ấy, mọi người biết rằng họ có thể đặt niềm tin nơi những khám phá kia và cùng nhau xây dựng nếp sinh hoạt của địa phương và thời đại họ theo sự hướng dẫn của ý thức đạo đức sống động ấy. Như thế ta thấy có hai hạng người theo đạo Phật: hạng thứ nhất, rất ít, gồm những người tự dấn thân vào con đường khám phá, và hạng thứ hai rất đông, thừa hưởng những khám phá ấy để xây dựng sự sống. Ta cũng nên nhớ rằng sự khám phá phải được liên tục thực hiện bởi vì thực tại thì linh động và xã hội thì luôn luôn biến chuyển: những khám phá cũ có khi không còn thích hợp với xã hội mới.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. ĐÀO DUY ANH, (1992) , Việt Nam văn hóa sử cương. NXB TP. HCM.
2. TOAN ÁNH, (1969) , Nếp cũ-tín ngưỡng Việt Nam, NXB Hoa Đăng, Sài Gòn,.
3. MINH CHI, (1994) , Tôn giáo học và tôn giáo vùng Đông Á, trường Đại học tổng hợp, TPHCM XB,.
4. MINH CHI, (1995) , Các vấn đề Phật học, Viện Nghiên Cứu Phật Học VN, XB.
5. MINH CHI, (tháng 12/1995), Về sự hội nhập của Phật giáo vào nên văn hóa VN, tạp chí Giao Điểm, Hoa Kỳ,.
6. MINH CHI, (tháng 1/1995) , Vai trò của tôn giáo trong sách lược phát triển của đất nước, tập văn thành đạo số 39, ban văn hóa Trung ương XB,.
7. MINH CHÂU VÀ MINH CHI, (1991) , Từ điển Phật Học Việt Nam, NXB TP. HCM khoa học xã hội, Hà Nội,.
8. THÍCH MÃN GIÁC, (1997) , Phật học, thiền học và thi ca... Tu thư đại học Vạn Hạnh,.
10. TRẦN VĂN GIÁP, (1968) , Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ thứ 13 (tiếng Pháp) Tuệ Sỹ dịch, Vạn Hạnh XB,.
11. NGUYỄN LANG, (1994) , Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I, II và III, NXB Hà Nội,.
12. NGUYỄN BÁ LĂNG, (1972) , Kiến trúc Phật giáo VN, tập I, Vạn Hạnh XB,.
13. TRẦN HỒNG LIÊN, (1996) , Phật giáo Nam Bộ từ thế kỷ 17 đến 1975, NXB TP. HCM,.
14. THÍCH NHẤT HẠNH, (1965) , Đạo Phật Hiện Đại hóa, lá bối XB, Sài Gòn,.
15. THÍCH THIỆN HOA, (1970) , 50 năm chấn hưng Phật giáo, tập I, Viện Hóa Đạo XB, Sài Gòn,.
16. THÍCH ĐỨC NHUẬN, (1969) , Phật học tinh hoa, một tổng hợp đạo lý, Vạn Hạnh XB, Sài Gòn,.
17. THÍCH ĐỨC NHUẬN, (1969) , Trao cho thời đại một nội dung Phật chất, Vạn Hạnh XB, Sài Gòn,.
18. NGUYỄN PHAN QUANG, (1993) , Chùa Việt Nam qua ca dao, bản vi tính trong kỷ yếu "Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại", Viện nghiên cứu Phật học VN, TP. HCM,.
19. LÊ VĂN SIÊU, (1964) , Văn minh Việt Nam, Nam chi tùng thư Sài Gòn,.
20. THÍCH NGUYÊN TẠNG, (tháng 5/1996) , Đạo Phật Việt Nam qua cái nhìn của hai Phật tử Đan Mạch, Nguyệt San Giác Ngộ, số 2, TP. HCM.
21. NGUYỄN TÀI THƯ, (chủ biên), (1988) , Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội,.
22. THÍCH MẬT THỂ, (1960) , Việt Nam Phật giáo sử lược, Minh Đức XB, Sài Gòn.
23. TRẦN NGỌC THÊM, (1996) , Tìm về bản sắc dân tộc VN, NXB TP. HCM,.
24. THÍCH TÂM THIỆN, (1995 ), Tư tưởng Mỹ học Phật giáo, Thành hội Phật giáo TP. HCM xb,.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét