THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015
GIÁ TRỊ TÂM LINH CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI
NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN
I). DẪN NHẬP:
II). NỘI DUNG:
1). CÕI TÂM LINH CỦA ĐỜI NGƯỜI:
2). CHỨC NĂNG BÙ ĐẮP TÂM LINH CỦA ĐẠO PHẬT:
2.1. Những bình diện của tâm linh:
2.2. Người Phật tử trước một số vấn đề tâm linh hiện nay:
2.3. Phật giáo và trách nhiệm đạo đức:
2.4. Phật giáo, toàn cầu hóa và tính hiện đại:
3). ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO VỀ MẶT TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VÀ ĐẠO LÝ:
3.1.Về tư tưởng:
3.2.Về đạo lý:
3.3. Ảnh hưởng Phật Giáo qua gốc độ nhân văn và xã hội :
3.4. Giá trị của Phật giáo trong thế giới hiện đại:
4). ĐỨC PHẬT CÓ MẶT TRÊN CUỘC ĐỜI ĐỂ DỰNG LẠI NHỮNG GÌ ĐÃ NGÃ XUỐNG
5). ĐỨC PHẬT CÓ MẶT TRÊN CUỘC ĐỜI ĐỂ LẬT NGỬA NHỮNG GÌ ĐÃ ÚP XUỐNG:
III). KẾT LUẬN:
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN ĐỀ :
GIÁ TRỊ TÂM LINH CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI
I). DẪN NHẬP:
Đức Phật là một chúng sanh độc nhất đã phấn đấu cho quả vị tự giác ngộ vô thượng. Không có một ai mà ngài xem như là bậc đạo sư của mình. Nhờ vào những nỗ lực cá nhân, Ngài tu tập hạnh Thập độ ba la mật: Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, trí tuệ, kiên định, từ tâm, xuất ly, chân thật và xả. Thông qua sự thanh tịnh tâm thức, ngài đã mở những cánh cửa đưa đến tất cả các tri kiến. Ngài chứng biết tất cả các pháp được biết, tu tập tất cả những pháp môn được tu tập và đoạn trừ tất cả các lậu hoặc phải được đoạn trừ. Thật vậy, trên cuộc đời này không có một bậc đạo sư nào có thể so sánh tương xứng với Ngài xét về lĩnh vực tu tập và chứng đắc quả vị.
Đối với sự phát triển của nhân loại trong thời đại hiện nay, Đạo Phật đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ một quốc độ muốn được phát triển ổn định cần phải được quân bình trên hai phương diện là tinh thần và vật chất. Tinh thần giúp ta nghệ thuật sử dụng vật chất sao cho hướng thượng, hướng thiện và bổ ích thực sự. Trái lại, vật chất phải chuyển tải một ý nghĩa cao thượng và lợi lạc. Nói đúng hơn, cuộc sống phải có văn hóa; tôn vinh văn hóa là hoàn toàn nhân bản. Theo Encydopedia Britanvica: “Văn hóa là những hình thức tổng hợp các kiến thức, niềm tin và hành vi của con người, có nghĩa là bao gồm ngôn ngữ, tư tưởng, tín ngưỡng, phong tục, cấm kỵ, luật lệ, giáo dục, kỹ thuật, nghệ thuật, nghi thức, lễ bái và những yếu tố liên hệ khác”.
“Trọng điểm của văn hóa bao gồm những tập truyền tư tưởng. Hệ thống văn hóa một mặt được coi như là sản phẩm của hành động, mặt khác là điều kiện thực thi các hành động”. Qua những lời phát biểu trên chứng tỏ văn hóa không thể thiếu trong mỗi dân tộc, cộng đồng. Nó hầu như là một hệ thống vận hành của xã hội. Văn hóa là nền tư tưởng liên hệ giữa cuộc sống con người với tạo hóa, từ đó những liên hệ giữa con người với con người được thiết lập. Với tầm quan trọng như vậy, chúng ta dễ dàng nhận biết rằng bất luận vấn đề nào, mỗi khi tầm quan trọng của nó càng cao, nếu không thận trọng thì sự hủy diệt của nó càng lớn. Như Khổng tử nói: “Làm thầy thuốc mà sai lầm thì chỉ giết một người, làm chính trị mà sai lầm thì tàn hại cả đất nước, làm văn hóa mà sai lầm thì gây tai họa cho muôn đời”. Bởi vậy trong lãnh vực văn hoá bất luận phát triển mặt nào cũng cần sự chính xác mới đem đến lợi ích lớn.
“Dù triết học hay khoa học cũng đều thoát thai từ sự ức đoán về bản tính của vạn vật, sự nghiên cứu về con người và xã hội, từ những tính toán mang tính tôn giáo về linh hồn và về phương diện thích hợp tư cách đạo đức của con người. Còn đạo Phật là một tôn giáo với những sắc thái huyền nhiệm lung linh; ở điểm khác, Đạo Phật lại là một thức thuyết sắc bén thực tiễn, có khả năng ứng dụng vào cuộc sống. Ở tôn phái này thì Đạo Phật chấp giữ giáo pháp như một chân lý tuyệt đối và nghiêm ngặt, ở tôn phái kia Đạo Phật phá chấp không nhìn nhận giáo pháp là một chân lý tuyệt đối mà giáo pháp chỉ có giá trị như một phương pháp hướng dẫn con người trong công cuộc tu chứng mà thôi. Tóm lại đạo Phật là sự thể hiện của cuộc đời phồn tạp khúc mắc đa diện, nên cũng có thể nói đạo Phật là đạo của con người nhân đạo. Với đầy những trái ngược phức tạp nhưng vẫn chỉ là một “con người” sống thực với những nhu yếu phức tạp đó, Đạo Phật là tất cả”.
II). NỘI DUNG:
1). CÕI TÂM LINH CỦA ĐỜI NGƯỜI:
Dù là bậc trí giả hay chỉ là kẻ trí đoản thì ai ai cũng đến lúc phải nhận thức rằng đời người luôn gặp những bế tắc, mà dù thông minh hay giàu sang, quyền lực đến mấy, cũng đều bất lực, không thể giải quyết được. Đến lúc đó, hầu như mọi người mới ngộ ra rằng cõi tâm linh chính là sự cứu rỗi cuối cùng của mỗi đời người.
Dù không phải là Phật tử, nhưng mỗi khi gặp phải rắc rối về tinh thần hoặc cảm thấy lạc lõng trong một xã hội đang sống vội vã, tôi lại muốn tìm đến cõi tâm linh. Nơi tôi mong muốn đến để được nhẹ lòng và tìm lại chính mình là những ngôi chùa Tây Tạng...
Do Phật giáo khá phổ biến trên thế giới này từ rất lâu, nên mỗi khi gặp chuyện đau buồn hoặc chuyện chẳng lành, hay chỉ là chán chuyện nhân thế, đa phần con người lại tìm đến cửa chùa để mong tìm sự cứu giúp, hoặc đơn giản hơn là chỉ tìm chút niềm an ủi từ các đấng từ bi đã theo chân chúng sinh suốt bao kiếp người.
Mỗi khi rời chùa, dù là Phật tử hay không cũng đều cảm thấy nhẹ lòng vì họ tin rằng cảnh khó và nỗi niềm đắng cay của mình chắc chắn đã được các đấng từ bi hỉ xả lắng nghe. Nếu mình cố gắng sống ngay lành rộng lượng sẽ sớm được độ trì giải thoát khỏi các khốn khó của cuộc đời.
2). CHỨC NĂNG BÙ ĐẮP TÂM LINH CỦA ĐẠO PHẬT:
Nền tảng cơ bản của đạo Phật là thực nghiệm tâm linh. Tinh thần giải thoát cơ bản của đạo Phật là sự phản tỉnh nội tâm trên những thuộc tính nhân bản. Vì vậy, ảnh hưởng sâu sắc nhất của Phật giáo là đối với người Việt Nam hiện nay vẫn là ảnh hưởng tinh thần, tâm linh. Xét tới cùng, con người tìm đến tôn giáo chính là để thỏa mãn nhu cầu tâm linh, để chạy trốn khỏi nỗi cô đơn, nỗi sợ hãi sự ngưng đọng, trì trệ, thất bại trong cuộc đời, để được đáp ứng khát vọng giải thoát khỏi trạng thái chao đảo vì mất niềm tin, lạc hướng. Phật giáo đã thực hiện chức năng bù đắp tâm linh, khắc phục khoảng trống tâm tư bằng việc tạo dựng cho con người niềm tin vào chính bản thân mình. Một số tôn giáo không thừa nhân sự tồn tại của thế giới hiện hữu, từ đó phủ định khả năng của con người trong thế giới. Trong Phật giáo, mỗi con người là thượng đế, là Phật của chính mình. “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”. Đức Phật khẳng định: “Ngay trong chính thân này, ta nói có thế giới và con đường đi đến sự chấm dứt thế giới”. Đây là lời khẳng định vị trí, vai trò của con người trong thế giới, xua đi mặc cảm tự ti, yếu đuối trong con người.
Từ niềm tin vào bản thân, con người có thêm sức mạnh để cải tạo thế giới và cải tạo bản thân mình, “nhân hóa” hiện thực, giúp cho hiện thực hoàn hảo hơn. Với niềm tin tuyệt đối vào con người, Phật giáo chỉ ra con đường giải thoát khỏi khổ đau là sự tự khai phóng những năng lực tinh thần từ trong chiều sâu tâm thức mỗi con người bằng trí tuệ và đạo đức. Từ quan niệm: “vạn pháp duy tâm tạo”, Phật giáo đi tới khẳng định: giải thoát là tự cởi bỏ ách nô lệ tinh thần trong chính tâm mình, đưa cái tâm trở về trạng thái vô tâm, trong trẻo, tròn trịa, không tì vết, phẳng lặng như mặt hồ không gợn sóng.
2.1. Những bình diện của tâm linh:
Đối với mọi người ở khắp nơi, bình diện thứ nhất của tâm linh là niềm tin vào một trong những tôn giáo của thế giới. chúng ta nghĩ rằng mỗi tôn giáo trên thế giới đều có một vai trò quan trọng. Nhưng để cho những tôn giáo này có sự đóng góp hữu hiệu cho lợi ích của loài người.
Giáo lý tôn giáo phải là một phần gắn liền với đời sống của chúng ta, và không nên phân cách với đời sống. Có khi chúng ta đến nhà thờ hay chùa để cầu nguyện hay phát tâm, sùng tín, và rồi đi ra khỏi tôn nghiêm đó, đời sống của chúng ta không liên hệ gì đến tôn giáo đó nữa. Đây không phải là cách thực hành tôn giáo đúng đắn. Giáo nghĩa của tôn giáo phải gắn liền với chúng ta dù chúng ta đang ở nơi đâu. Giáo lý của tôn giáo mà chúng ta đã tin theo phải có mặt ngay trong đời sống của chúng ta để khi nào chúng ta thực sự cần có sự ban ơn hay sức mạnh nội tâm, những giáo lý đó sẽ có sẵn trong những lúc như vậy. Vì thế mỗi khi chúng ta gặp một sự khó khăn nào đó, những giáo lý đó sẽ có mặt, vì chúng luôn hiện diện. Chỉ khi nào tôn giáo trở thành một phần gắn liền với đời sống của chúng ta thì tôn giáo đó mới thực sự có hiệu quả.
Chúng ta cũng cần phải chứng nghiệm sâu xa hơn ý nghĩa và giá trị tinh thần của truyền thống tôn giáo mình theo, chúng ta cần phải biết những giáo lý đó không chỉ ở mức tri thức mà còn phải qua chứng nghiệm sâu xa. Có khi chúng ta hiểu những giáo lý tôn giáo khác nhau một cách phiến diện hay chỉ ở mức tri thức. Không có sự cảm nhận sâu xa hơn thì hiệu quả của tôn giáo sẽ bị giới hạn. Vậy chúng ta phải tu tập một cách chí thành và tôn giáo phải trở thành một phần của đời sống của chúng ta.
2.2. Người Phật tử trước một số vấn đề tâm linh hiện nay:
Những năm gần đây xã hội bàn nhiều (thực chất là xôn xao) về vấn đề tâm linh, cách tiếp cận “huyền bí” của một số nhà “ngoại cảm” qua đời sống sau khi chết và những lý giải về linh hồn. Cũng chính từ vấn đề trên mà xã hội rộ lên cả một “phong trào” tìm mộ, gọi hồn, cúng bái cho người đã chết…
Những vấn đề trên đã tác động không nhỏ vào đời sống tín ngưỡng, tâm linh, tôn giáo. Điều đáng nói, một số vị chức sắc trong Giáo hội Phật giáo còn mời những nhà ngoại cảm về chùa “thuyết giảng”, thậm chí kiều hồn cả các Hòa thượng lên để nói chuyện quá khứ trước đây, tạo nên những dư luận trái chiều, thậm chí hoang mang trong lòng tin của người Phật tử về những giáo lý căn bản, nền tảng của Phật giáo như vấn đề nghiệp quả, giải thoát và luân hồi tái sinh…
Phong trào “ngoại cảm tâm linh” rộ lên như nấm mọc sau mưa. Các băng đĩa giảng nói về vấn đề này lan truyền khắp hang cùng ngõ hẻm, từ thành thị đến thôn quê.
Trong cuộc sống, mọi hiện hữu dưới dạng thể chất - tinh thần đều kinh qua trạng thái hạnh phúc và khổ đau. Không cá nhân nào một lần trong đời là không có ưu-bi-sầu-não. Ưu-bi-sầu-não ấy đã chỉ ra bản chất của cuộc đời là khổ. Tuy nhiên, để nhận thức đúng đắn về vấn đề này, chúng ta cần phải nỗ lực vượt qua những cám dỗ của vô minh và tham ái, để đạt được sự trưởng thành trong nhận thức về Nghiệp. Có như vậy, chúng ta mới không bị đánh lừa bởi các tình huống hạnh phúc tạm thời, mới có cơ hội đối diện trực tiếp với trạng thái chưa giải thoát của chính mình và nhận biết những năng lực bất đồng trong quốc độ mà chúng ta đang sinh sống.
2.3. Phật giáo và trách nhiệm đạo đức:
Theo đức Phật, mục đích của đời sống không phải là hưởng thụ mà là sống tốt, sống lành mạnh, sống đạo đức, sống văn hóa và sống tâm linh để thấy được các giá trị tích cực của kiếp người. Đạo Phật có mặt là vì con người, phục vụ con người và giải quyết các vấn nạn con người. Để mang lại kết quả hòa bình và phát triển, theo đức Phật, đạo đức cá nhân và xã hội cần phải được tôn trọng tuyệt đối.
Hành vi thiện trên động cơ thiện được xem là mối quan tâm hàng đầu đối với đạo đức Phật dạy. Dù là các loài động vật hay thực vật, lòng từ bi, khoan dung chính trị và tôn giáo được xem là điểm son trong giáo pháp Phật mà con người cần phải áp dụng và ứng xử với nhau. Nương tựa tự thân, thực tập thiền định có khả năng chuyển hóa phiền não, giúp con người phát triển trí tuệ, nhờ đó từ bỏ mọi sự rắc rối và nghiệp chướng. Đây chính là nghệ thuật “sống theo chánh pháp”.
Người làm chủ mình và nhân quả sẽ là nhà quy hoạch cuộc đời mình, vị kiến trúc sư khôn ngoan về cấu trúc tâm lý, nhận thức và hành vi cuộc sống, và là người kế thừa trực hệ gia tài năng lực hành vi đã được tích tập một cách có ý thức. Nhận thức quy luật nhân quả chi phối các nguyên lý từ vô cơ, hữu cơ cho đến tâm lý học, nhận thức luận, đời sống luân lý xã hội và ngay cả đời sống tâm linh của con người, hành giả Phật giáo sẽ là người làm chủ bản thân mình bằng các nỗ lực chuyển hoá quán tính hành vi ngày càng tốt đẹp hơn, để vượt thoát khỏi mọi xiềng xích của nghiệp đã tác tạo. Nhờ hiểu nhân quả, con người có trách nhiệm với các hành vi đạo đức và ứng xử của bản thân, nhờ đó, không tạo ra các ảnh hưởng tiêu cực cho tha nhân, góp phần mang lại an lạc và hạnh phúc cho con người.
Phật giáo kêu gọi các ý thức trách nhiệm về hành vi đạo đức bản thân, gia đình, xã hội, cộng đồng, quốc gia và toàn thế giới. Không ai có thể tránh khỏi quả báo của một hành động đã đến lúc chín mùi, vấn đề là sự tùy thuộc vào các yếu tố thời gian và điều kiện. Một thông điệp khác là kêu gọi tinh thần nhân bản, tương thân tương ái, lánh dữ làm lành, phụng sự tha nhân trong các cảnh huống bất hạnh và khổ đau là đáng và nên thực hiện bằng tấm lòng vô ngã và vị tha. Niềm tin về kiếp sau có năng lực khai sáng các hành động đạo đức và nhân đạo của chúng ta ở kiếp này.
2.4. Phật giáo, toàn cầu hóa và tính hiện đại:
"Toàn cầu hóa" trong bối cảnh đa văn hóa không còn đơn thuần là sự kiện mà đã trở thành “một tiến trình,” mà tính tất yếu của nó đã trở thành vòng xoay của thiên niên kỷ thứ 3. Toàn cầu hóa đã tác động lên mọi phương diện của cuộc sống hiện đại từ triết học, chính trị, văn hóa, tôn giáo…
Khi nói về hiện đại, người ta thường nghĩ đến “toàn cầu hóa” và “hội nhập.” Khi hội nhập đã trở thành tiến trình tương tác thì toàn cầu hóa xuất hiện như một quy luật có tầm ảnh hưởng đa chiều. Hội nhập tạo ra hai chiều vào và ra, tiếp thu các giá trị tích cực mang tính hiện đại, đồng thời quảng bá các giá trị dân tộc vốn có với thế giới xung quanh.
Các khám phá và phát minh của khoa học hiện đại đã trở thành nguồn thách thức các giá trị về niềm tin chân lý trong các tôn giáo nhất thần và đa thần. Trong khi đó, trước cơn lốc toàn cầu hóa, vị thế của đạo Phật lại được nâng lên hơn bao giờ hết, như triết gia Krishnamurti phát biểu: “Có thể tìm thấy Phật giáo ở những nơi không có đạo Phật”.
Các trào lưu hiện đại một mặt mang lại các giá trị về tính hiện đại thúc đẩy các thay đổi về xã hội, mặt khác mang theo các trận cuồng phong và những cú sốc về văn hóa (culture shock) đến khắp mọi nơi. Dù tính hiện đại là cần thiết cho mọi sự phát triển, nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu tính hiện đại được “mê tín hóa” như cán cân chân lý vĩnh hằng, buộc mọi giá trị truyền thống, trong đó có giá trị tôn giáo, cần tuân thủ và xoay quanh.
Nếu toàn cầu hóa, thế tục hóa và dân chủ hóa đang trở thành hiện tượng phổ biến ở phương Tây, thì các giáo hội cơ chế truyền thống thuộc nhất thần giáo đang gặp phải nhiều khó khăn và thách đố. Tại nhiều nước phương Tây, phong trào thế tục hóa và dân chủ hóa đã kéo theo sự đóng cửa của nhiều nhà thờ và cơ sở tôn giáo, mở ra phong trào tâm linh hóa tôn giáo ngoài cơ sở tôn giáo, nhằm giúp con người có thêm tự do trải nghiệm các giá trị tâm linh thuần túy.
Phật giáo không thuộc nhóm tôn giáo nhất thần hay đa thần, không bị tính hiện đại thách đố như các tôn giáo khác. Phật giáo không phải đối chọi với tính hiện đại của chủ nghĩa hiện đại, vì Phật giáo có thể thích ứng và đồng hành với nó dễ dàng từ bản chất học thuyết đến thực tiễn hành trì.
3). ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO VỀ MẶT TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VÀ ĐẠO LÝ:
Đạo phật phát triển và chan hòa với dân tộc này cho đến tận hôm nay. Nếu thời gian là thước đo của chân lý thì với bề dày lịch sử đó, Đạo Phật đã khẳng định chân giá trị của nó trên mãnh đất này. Trong các lĩnh vực xã hội, văn hóa chính trị đặt biệt là xét trên khía cạnh hệ thống tư tưởng, thì Đạo Phật đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần hình thành một quan niệm sống và sinh hoạt cho con người.
3.1.Về tư tưởng:
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế và Bát chánh Đạo. Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái phật giáo, nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt.
Đạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiện tại. Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại. Không những các sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theo luật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại. Có 4 loại duyên cần được phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên. Có thể gọi là điều kiện gần gũi nhất, như hạt lúa là nhân duyên của cây lúa. Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng thượng duyên cho hạt lúa. Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức là những điều kiện làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục không gián đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.
Luật nhân quả cần được quán sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân quả của Đạo Phật, theo đạo lý duyên sinh, một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò quả, cho một nhân khác. Về giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của Đạo Phật đã được truyền vào nước ta rất sớm.
3.2.Về đạo lý:
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của con người.
Ngoài đạo lý Từ Bi, người phật tử còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác của đạo phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh. Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước phát triển của tâm lý về tình cảm của người phật tử. Tình thương ở mọi người bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào quê hương đất nước và mở rộng đến quê hương cao cả đối với cuộc sống của nhân loại trên vũ trụ này. Đặc biệt trong đạo lý tứ ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người phật tử. Vì đạo phật rất chú trọng đến hiếu hạnh, và được Đức Phật đã thuyết giảng đề tài này trong nhiều kinh khác nhau như Kinh Báo Phụ Mẫu Ân, kinh Thai Cốt, kinh Hiếu Tử, kinh Đại Tập, kinh Nhẫn Nhục, kinh Vu Lan.. nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ.
Nhìn chung, đạo lý hiếu ân trong ý nghĩa mở rộng có cùng một đối tượng thực hiện là nhắm vào người thân, cha mẹ, đất nước, nhân dân , chúng sanh, vũ trụ, đó là môi trường sống của chúng sanh gồm cả mặt tâm linh nữa.
3.3. Ảnh hưởng Phật Giáo qua gốc độ nhân văn và xã hội :
Trong đời sống thường nhật cũng như trong văn học, ta thấy có nhiều từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật Giáo được nhiều người dùng đến kể cả những người ít học. Tuy nhiên không phải ai cũng biết những từ ngữ này được phát xuất từ Phật Giáo, chẳng hạn như khi ta thấy ai bị hoạn nạn, đau khổ tỏ lòng thương xót, người ta bảo “tội nghiệp quá”. Hai chữ tội nghiệp là từ ngữ chuyên môn của Phật Giáo. Theo Đạo Phật tội nghiệp là tội của nghiệp, do nghiệp tạo ra từ trước, dẫn tới tai nạn hay sự cố hiện nay, theo giáo lý nhà Phật thì không có một hiện tượng hay sự cố tai nạn nào xảy ra là ngẫu nhiên hay tình cờ, mà chỉ là kết quả tập thành của nhiều nguyên nhân tạo ra từ trước. Những nguyên đó (theo đạo Phật gọi đó là nhân duyên) khi chín mùi, thì đem lại kết quả. Mọi người điều nói tội nghiệp nhưng không phải nhiều người biết được đó là một từ ngữ nói lên một chủ thuyết rất căn bản của Phật :”thuyết nhân quả báo ứng” thuyết này cũng đi sâu vào nhận thức dân gian với những cách như “ở hiền gặp lành, gieo gió gặp bão”.
3.4. Giá trị của Phật giáo trong thế giới hiện đại:
Qua bức thông điệp của Đức Phật, chúng ta thấy rằng điều thiết yếu hiện nay là phải có một cách nhìn đúng đắn về các vấn đề cá nhân, xã hội và quốc tế. Sự tiến bộ của khoa học đã mang lại nhiều lợi ích cho nhân loại, nhưng đôi khi sự tiến bộ ấy cũng dẫn đến những hiểm họa khôn lường. Có một yếu tố tinh thần có thể khôi phục lại những sức mạnh mà những khám phá khoa học không thể tìm ra. Yếu tố tinh thần hay con đường tâm linh ấy đã được Jawaharlal Nehru, vị thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, đề cập như sau: “từ xung đột và chiến tranh người ta không thể tìm ra một con đường mới để cứu độ nhân loại ngoại trừ con đường mà ngày xưa một bậc đạo sư vĩ đại nhất đã chỉ ra cho thế giới. Vị đạo sư ấy chính là Đức Phật Gotama”. Phật giáo luôn nỗ lực xây dựng những mối quan hệ của nhân loại bằng cách khơi nguồn những giá trị luân lý đạo đức cao đẹp của loài người. Phật giáo giúp chúng ta khám phá ra bản chất đặc trưng của thế giới là vô thường, vô ngã và khổ đau. Một khi con người không nhận thức đúng đắn ba nguyên lý này của thế giới thì họ vẫn còn khao khát về một đời sống vĩnh cửu ảo tưởng tách biệt bản chất của sự vật. Khát vọng viển vông đó không những tạo nên khổ đau cho người ấy mà còn khiến người khác cũng bị đau khổ theo. Làm sao khổ đau của nhân loại có thể tan biến? Làm sao có thể mang lại nền hòa bình và niềm hạnh phúc trường cửu cho xã hội hôm nay? Những câu hỏi muôn thưở này chính là những thao thức của Phật giáo. Phật giáo đã đưa ra lời giải đáp thỏa đáng cho những vấn đề này qua 84.000 pháp môn được giảng dạy trong các kinh điển, các pháp thoại, các thi kệ. Trong thế giới tăm tối sầu khổ, giáo lý của Đức Phật luôn tỏa sáng rực rỡ suốt hai mươi năm thế kỉ qua. Giờ đây vẫn chưa phải là muộn để chúng ta thực nghiệm giáo lý ấy nhằm xây dựng tương lai chúng ta tươi đẹp và hạnh phúc hơn. Giáo pháp của Như Lai đặt trên nền tảng của bản thể tự nhiên, được thừa nhận là có giá trị vượt thời gian và không gian. Ngày nay, điều đó đã trở nên thật rõ ràng, Phật giáo ngày càng góp phần giải quyết những vấn nạn của nhân loại như: vấn đề gia tăng bạo lực, chủ nghĩa khủng bố, nghiện ma túy và sự hủy hoại bản thân.
4). ĐỨC PHẬT CÓ MẶT TRÊN CUỘC ĐỜI ĐỂ DỰNG LẠI NHỮNG GÌ ĐÃ NGÃ XUỐNG
Triết lý đạo Phật không bao giờ đề cao vai trò độc tôn của một con người mà đề cao đến tinh thần tập thể. Với học thuyết hóa tâm, một người chỉ có hai bàn tay, nhưng kinh điển Đại Thừa đã tạo ra biểu tượng ngàn bàn tay. Ngàn bàn tay cùng nhau xây dựng công trình thì đó sẽ là công trình chung, công trình của một cộng đồng, một quốc gia, một xã hội, một thế giới. Ngôi chùa Phật giáo được gọi là ngôi chùa làng chứ không phải là chùa của các vị sư, sư cô và do đó tất cả mọi Tăng Ni Phật tử mỗi người đều có trách nhiệm bảo hộ, nuôi dưỡng để nó trở thành trung tâm văn hóa và đời sống tinh thần của những người có nhu cầu. Đó là yếu tố của sự xây dựng.
Dựng lại những gì bị ngã xuống đòi hỏi đến tinh thần thái độ rất lớn, bàn tay là chưa đủ, hóa thân của tập thể cũng chưa đủ, vì nếu các bàn tay đó luýnh huýnh, không có quan điểm, chủ trương, lập trường, khuynh hướng cụ thể, sẽ tạo ra sự rối loạn. Do đó học thuyết hóa của Phật giáo không dừng lại ở tinh thần tập thể mà quan trọng hơn là sự có mặt của tuệ giác, trí huệ nhận thức sáng suốt, sự hiểu biết, sự rộng lượng. Nó được hóa thân bằng ngàn con mắt khác nhau. Một mắt sẽ quán xuyến không đủ, một cái nhìn có thể gây hạn hẹp, quan điểm một người có thể trở thành cái gì đó rất độc tài. Cho nên nó phải là một chất xám tập thể và cao hơn, nó phải là tuệ giác cộng đồng, tuệ giác của tất cả mọi người.
Như Lai đã tạo ra một cộng đồng gồm bốn thành phần Thiện nam, Tín nữ, Xuất gia nam, Xuất gia nữ. Bốn thành phần này đóng bốn vai trò khác nhau. Giới tính nam và nữ có những khác biệt căn bản. Có những vai trò người nam làm hiệu quả hơn người nữ và ngược lại, hoặc có những vai trò người xuất gia làm thành công hơn người tại gia và ngược lại. Ấn Độ là đất nước mà thân thể của nó chỉ có một vai, vai đó của người nam. Người nữ thuộc bộ phận bị bỏ rơi, không có vai trò vị trí xã hội. Sinh hoạt của họ chỉ gắn liền với ngôi nhà, gắn liền với chồng con, trong sự phục vụ họ gắn liền với người giàu. Những điều đó đã làm cho xã hội Ấn Độ phát triển một cách không đồng đều. Sự xây dựng mà Như Lai mang lại cho cuộc đời này đã tạo ra sự an lạc. Đó là việc nhìn thấy được những đóng góp chung của tuệ giác từ các cá thể khác nhau. Chính vì thế, Như Lai đã giới thiệu thêm hình ảnh mới của một vị tâm linh mang tính người nữ. Vai trò xã hội lúc bấy giờ đã được bình đẳng hóa. Vai trò tâm linh, khả năng chứng đắc Giác Ngộ, những gì người nam làm được, người nữ cũng làm được. Xây dựng trên tinh thần và đạo lý như vậy là việc vô cùng khó, đặc biệt trong bối cảnh mà người nữ được quan niệm chỉ có hai chức năng phục vụ và sản xuất: sản xuất con cái, phục vụ chồng con. Người phụ nữ phải chịu rất nhiều nỗi khổ niềm đau từ nền tảng văn hóa sai lầm đó. Như Lai ra đời dựng lại những gì ngã xuống từ sự bất bình đẳng của nhân loại. Hình ảnh đó đòi hỏi chúng ta phải giải mã đúng.
5). ĐỨC PHẬT CÓ MẶT TRÊN CUỘC ĐỜI ĐỂ LẬT NGỬA NHỮNG GÌ ĐÃ ÚP XUỐNG:
Người Phật tử không nên và không được trốn chạy khỏi nỗi khổ niềm đau. Trên thực tế có nhiều người chán nản trước nỗi khổ niềm đau, họ ngã quỵ, càng nỗ lực càng bế tắc. Nhu cầu tâm linh, nhu cầu cảm xúc, nhu cầu xã hội, nhu cầu của sự tương thân… xuất hiện. Tôn giáo có mặt để phục vụ cho những giá trị này. Yếu tố dựa để trấn an cũng chỉ là một phản ứng hóa chất. An lạc có mặt trong sự tĩnh tại của tâm. Khám phá giá trị tâm linh là một trong những cách thức để biến ước mơ trở thành hiện thực. Hãy nhận dạng ra những bế tắc mà mình đang gặp, vạch mặt chỉ tên nỗi khổ niềm đau mà mình đang có.
Như Lai có mặt trên cuộc đời cung ứng cách thức an lạc thông qua những phương pháp “vạch mặt chỉ tên” nỗi khổ niềm đau. Trong các mối quan hệ của con người, nếu có sự ách tắc với một người nào, ta thường bỏ lơi nó, không gặp mặt nó bằng cách biến mất khỏi chỗ A mà người này đang có mặt. Cách tiếp xúc và sống chung với người mà quan niệm, cách thức đối đãi, lời ăn tiếng nói của họ hoàn toàn để lại sự khó chịu cho ta. Khi đó, một là ta tới phía trước để đối đầu, hai là ta sẽ vĩnh viễn chào với cảm giác ngột ngạt khó chịu. Đối đầu không đúng cách sẽ mang lại nỗi khổ niềm đau. Chạy trốn không đúng cách lại càng làm cho nỗi khổ niềm đau gia tăng gấp bội. Hãy lật ngửa nó để nhìn thấy và giải quyết ngay gốc rễ.
III). KẾT LUẬN:
Con người có những khả năng tiềm tàng là điều không thể phủ nhận, nên hướng khả năng đó vào điều thiện, làm lợi ích cho cộng đồng. Có thể nói, cuộc sống vẫn diễn ra như quy luật của chính nó, nhưng điều làm cho nó có ý nghĩa chính là sự góp mặt của mỗi người trong chúng ta, với những yếu tố đan cài vô cùng sinh động và phức tạp của thiện-ác, của khổ đau-hạnh phúc…. Tuy nhiên, nó không phải là một mớ hỗn độn không thể nhận thức được, vì sao, vì nó không nằm ngoài bản thân chúng ta. Nếu chúng ta hướng tất cả mọi nỗ lực cho sự hoàn thiện chính mình, chúng ta sẽ nhanh chóng trở thành người thừa tự nghiệp. Không có một thế lực nào có thể cản trở chúng ta trên con đường đó. Có thể khổ đau hay hạnh phúc đang đón chờ chúng ta ở phía trước, nhưng đó không phải là vấn đề của riêng ta. Trong mọi tình huống có thể, chúng ta phải vận dụng hết khả năng của một người may mắn được sống trong nền văn hoá Phật giáo với đức tin nhân quả, nghiệp báo để làm cho quốc độ mà chúng ta đang sống không ngừng tốt đẹp hơn. Hãy nhận thức về mọi cảm thọ và khổ đau để chúng ta trở thành người làm chủ nghiệp, thừa tự nghiệp trong mọi điều kiện, đặc biệt trong hoàn cảnh đời sống “tâm linh” có nhiều biểu hiện bến tướng như hiện nay.
Và điều đáng lưu ý rằng, người Phật tử cần phải cảnh giác với các hiện tượng tâm linh có vẻ như có sự gần gũi nào đó với tín ngưỡng Phật giáo, bởi nếu không cẩn thận, đến một ngày nào đó, chính những quan niệm qua “thực nghiệm” (nói chuyện với người chết) của một số người truyền lại ấy sẽ khiến chúng ta rơi vào tà kiến "linh hồn bất tử", từ đó làm sai lệch hệ thống giáo lý hướng thiện và hướng thượng của Phật giáo. Vừa qua, xã hội rộ lên những tin đồn giật gân, gây hoang mang đều có liên quan đến vấn đề “ngoại cảm”, và một số “bài test” kiểm nghiệm khả năng “ngoại cảm” của những người ồn ào này đã cho ra những kết luận nhảm nhí, huyễn hoặc. Một xã hội mà người dân lúc nào cũng bị ám ảnh bởi “hồn cốt” là một xã hội thực sự không khoẻ mạnh và thiếu lành mạnh. Có thể có những nhà ngoại cảm có được những năng lực đặc biệt nào đó, nhưng rồi nó cũng sẽ mất đi theo thời gian. Điều đáng nói sự giao thoa trong lúc khả năng ngoại cảm mất đi thường dẫn đến những hệ quả của những “tiên đoán” gây hoang mang và đôi lúc rất nhảm nhí. Do đó, người Phật tử rất cần sự tỉnh táo và nên kính nhi viễn chi trước những hiện tượng này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN ĐỀ :
1. ĐÀO DUY ANH, (1992) , Việt Nam văn hóa sử cương. NXB TP. HCM.
2. TOAN ÁNH, (1969) , Nếp cũ-tín ngưỡng Việt Nam, NXB Hoa Đăng, Sài Gòn,.
3. MINH CHI, (1994) , Tôn giáo học và tôn giáo vùng Đông Á, trường Đại học tổng hợp, TPHCM XB,.
4. MINH CHI, (1995) , Các vấn đề Phật học, Viện Nghiên Cứu Phật Học VN, XB.
5. MINH CHI, (tháng 12/1995), Về sự hội nhập của Phật giáo vào nên văn hóa VN, tạp chí Giao Điểm, Hoa Kỳ,.
6. MINH CHI, (tháng 1/1995) , Vai trò của tôn giáo trong sách lược phát triển của đất nước, tập văn thành đạo số 39, ban văn hóa Trung ương XB,.
7. MINH CHÂU VÀ MINH CHI, (1991) , Từ điển Phật Học Việt Nam, NXB TP. HCM khoa học xã hội, Hà Nội,.
8. THÍCH MÃN GIÁC, (1997) , Phật học, thiền học và thi ca... Tu thư đại học Vạn Hạnh,.
10. TRẦN VĂN GIÁP, (1968) , Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ thứ 13 (tiếng Pháp) Tuệ Sỹ dịch, Vạn Hạnh XB,.
11. NGUYỄN LANG, (1994) , Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I, II và III, NXB Hà Nội,.
12. NGUYỄN BÁ LĂNG, (1972) , Kiến trúc Phật giáo VN, tập I, Vạn Hạnh XB,.
13. TRẦN HỒNG LIÊN, (1996) , Phật giáo Nam Bộ từ thế kỷ 17 đến 1975, NXB TP. HCM,.
14. THÍCH NHẤT HẠNH, (1965) , Đạo Phật Hiện Đại hóa, lá bối XB, Sài Gòn,.
15. THÍCH THIỆN HOA, (1970) , 50 năm chấn hưng Phật giáo, tập I, Viện Hóa Đạo XB, Sài Gòn,.
16. THÍCH ĐỨC NHUẬN, (1969) , Phật học tinh hoa, một tổng hợp đạo lý, Vạn Hạnh XB, Sài Gòn,.
17. THÍCH ĐỨC NHUẬN, (1969) , Trao cho thời đại một nội dung Phật chất, Vạn Hạnh XB, Sài Gòn,.
18. NGUYỄN PHAN QUANG, (1993) , Chùa Việt Nam qua ca dao, bản vi tính trong kỷ yếu "Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại", Viện nghiên cứu Phật học VN, TP. HCM,.
19. LÊ VĂN SIÊU, (1964) , Văn minh Việt Nam, Nam chi tùng thư Sài Gòn,.
20. THÍCH NGUYÊN TẠNG, (tháng 5/1996) , Đạo Phật Việt Nam qua cái nhìn của hai Phật tử Đan Mạch, Nguyệt San Giác Ngộ, số 2, TP. HCM.
21. NGUYỄN TÀI THƯ, (chủ biên), (1988) , Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội,.
22. THÍCH MẬT THỂ, (1960) , Việt Nam Phật giáo sử lược, Minh Đức XB, Sài Gòn.
23. TRẦN NGỌC THÊM, (1996) , Tìm về bản sắc dân tộc VN, NXB TP. HCM,.
24. THÍCH TÂM THIỆN, (1995 ), Tư tưởng Mỹ học Phật giáo, Thành hội Phật giáo TP. HCM xb,.
25. NGUYỄN ĐĂNG THỤC, (1992) , Lịch sử tư tưởng VN, Tập I, NXB TP. HCM,.
26. DƯƠNG KINH THÀNH (Giác Đạo), (tháng 01/1995) , Bàn về nghệ thuật sân khấu Phật giáo (cải lương), Tập văn Thành Đạo, số 31, TP. HCM.
27. THÍCH THANH TỪ, (1992) , Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20, Thành hội Phật giáo TP. HCM xb,.
28. THÍCH THANH TỪ, (1992) , Bước đầu học Phật, Thành hội Phật giáo TP. HCM xb,.
29. THÍCH THANH TỪ, (1991) , Bước đầu học Phật, Thành hội Phật giáo TP. HCM xb,.
30. LÊ MẠNH THÁT, (1982) , Nghiên cứu về Mâu Tử, Tập I, Tu thư Đại học Vạn Hạnh,.
31. THÍCH MINH TUỆ, (1993.) , Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo TP. HCM xb,
32. VÕ VĂN TƯỜNG, (1992) , Việt Nam Danh Lam cổ tử, NXB KHXH, Hà Hội,.
33. VÕ VĂN TƯỜNG, (1995) , Những ngôi chùa nổi tiếng VN, NXB Thông tin, Hà Nội,.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét