THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

đức phật 1

TINH THẦN TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN QUA GIÁO LÝ VÀ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT A. Mở Đề Trong cuộc sống, con người theo dòng tư tưởng mà lưu bố sanh khởi những quan niệm, những học thuyết theo nhiều góc độ phương chiều biệt lập khác nhau. Nó ảnh hưởng vận hành theo từng thời kỳ, từng chế độ mà hình thành các chủ thiết và sự tuân thủ của từng nhóm đối tượng hoạt động theo mục tiêu tư tưởng ấy. Chẳng hạn như: có ngã, hoặc không có ngã, con người thường còn hay đoạn diệt, con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu, thế giời hữu biên hay vô biên v.v... Rồi tự kiến lập ý thức hành động tạo tác theo sự lý giải của mình nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tâm lý, vật lý, sinh lý thông qua hệ thống điều hành hình thức chính trị, văn hóa, tín ngưỡng... Để tồn tại giữa xã hội đa phương, đa chiều, con người luôn đấu tranh sinh tồn, bảo vệ giữa cá thể này với cá thể khác, giữa cộng đồng với thế giới, thiên nhiên vũ trụ được thống nhất gọi chung là “Tinh thần ý thức trách nhiệm”. Lịch sử xã hội con người luôn có sự vận hành biến đổi, thuận theo ước muốn tìm cầu của số đông thì gọi là phát triển, bằng ngược lại tư tưởng của số đông sẻ bị đả kích, đào thải. Đó cũng là hai cực đoan trong đó có sự hiện hữu của “ưa và ghét”. Như vậy, đối với Phật giáo, tinh thần trách nhiệm cá nhân có phụ thuộc sự tác động theo lối mòn của đại đa số người hay không? Nói đến tinh thần trách nhiệm cá nhân thì phải nói đến con người mà ở đây chủ thể là những người theo Phật giáo, bao hàm trách nhiệm tự thân và trách nhiệm cá nhân đối với tha nhân thế sự. Đó là trách nhiệm bổn phận đồng thời cũng có nghĩa “tự tác hườn tự thọ” tự chịu trách nhiệm về kết quả của cá nhân tạo tác. Tinh thần trách nhiệm Phật giáo nói chung, Đấng mô phạm của nhơn thiên nói riêng và xuyên suốt trong toàn bộ giáo lý của Ngài ở đây đã đạt đến đỉnh cao siêu việt của bậc vĩ nhân đã tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn cùng với tinh thần từ bi, bình đẳng, tất cả mọi người đều có Phật tánh, đều có dòng máu đỏ, nước mắt cùng mặn. Với trí tuệ siêu việt Ngài phát hiện ra chân lý và sử dụng phương tiện chuyển bánh xe Pháp Luân phổ tế khắp nhân gian, tùy theo căn tánh mà chúng sanh hưởng được pháp phần làm tự thân an lạc trang nghiêm tịnh độ Phật. B. Chánh Đề I. Trách nhiệm đối với tự thân Tinh thần tự giác, tự chủ 1. Nổ lực tu tập tự thân Sống giam mình trong cung vàng điện ngọc, thái tử Sĩ Đạt Ta vẫn không có chút sự thảnh thơi an lạc. Thế nhưng, với thời gian, do năng khiếu suy tư sâu sắcvà lòng thương người bẩm sanh, Thái tử không thể nào cam tâm một mình sống mãi trong nhung lụa, giữa một xã hội bất công, một thế giới đau khổ. Thái tử sớm giác ngộ về tính tạm thời, tầm thường của hạnh phúc vật chất thế gian và có ý chí xuất gia cầu đạo giải thoát, tìm ra con đường cứu vớt chúng sanh ra khỏi già, đau, chết và mọi nỗi bất hạnh khác của đời người. Một ngày nọ, Thái tử đi ra ngoài thành dạo chơi và lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với những sự thật đen tối và đáng sợ: Thái tử lần lượt gặp một người già yếu, một người bệnh tật, một xác chết và cuối cùng là một vị tu sĩ với dung sắc giải thoát, khoan thai đi trên đường. Thái tử nghiệm thấy mình dù là Thái tử con vua, cũng không thể thoát khỏi cảnh già, đau và chết; những hình ảnh siêu thoát của vị tu sĩ đã giúp Thái tử sớm thấy được con đường dẫn đến giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người, con đường dẫn tới cõi Niết bàn bất tử. Từ đó, Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo. Nhưng, một tin đến, khiến Thái Tử không vui: công chúa Yasodhara mới hạ sinh một con trai. Thái tử nói: “Một trở ngại (ràhu) đã được sanh, một ràng buộc đã xảy ra”. Nhân đó, ông nội, vua cha Suddhodana đặt tên cháu là Ràhula (La hầu la). Lâu đài, cung điện không còn là nơi ở thích hợp nữa cho Thái tử, lòng nặng trĩu tình thương chúng sanh chìm đắm trong bể khổ và Thái tử càng thêm quyết tâm xuất gia cầu đạo, tìm con đường cứu khổ cho muôi loài. Thế rồi vào một đêm Thái tử ra lệnh cho người nô bộc trong thành là Channa (Xa nặc) thắt con ngựa Kantaka (Kiền trắc). Trước khi xuất phát Thái tử đi dọc theo hành lang nội cung, đến trước phòng công chúa Yasodhara (Da du đà la) và người con trai đang ngủ thiếp. Thái tử hé cửa nhìn vào, Thái tử rất yêu thương người vợ và con trai của mình, nhưng đối với nhân loại đau khổ bất hạnh, lòng thương xót của Thái tử lại còn da diết hơn. Sau đó, Thái tử một mình lên ngựa ra đi, vượt khỏi hoàng thành, theo sau chỉ có người nô bộc trung thành Channa. Ra đi, Thái tử từ bỏ tất cả, phụ vương, ngai vàng, vợ và con, cuộc sống đầu đủ và hạnh phúc của một hoàng tử. Không phải là sự hy sinh từ bỏ của một người già, đau ốm, một người nghèo, bệnh tật, ngán ngẫm cuộc đời, mà là sự hy sinh từ bỏ của một vị hoàng tử đang tuổi thanh xuân, đang sống trong quyền quý giàu sang. Quả thật đó là một sự từ bỏ, hy sinh vĩ đại, có một không hai trong lịch sử loài người. Năm ấy, Thái tử tròn 29 tuổi. Khi tới bờ sông Anomà, Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Channa, lệnh cho Channa trở về. Còn Thái tử một mình ra đi, với bộ áo màu vàng đơn giản của người tu sĩ, từ nay cuộc sống không nhà của người xuất gia cầu đạo. Ngài không nơi ở cố định. Khi thì ngồi dưới bóng cây, khi thì nằm nghỉ qua đêm trong một hang đá. Chân không và đầu để trần, Ngài đi bình thản giữa nắng nóng cũng như trong sương đêm lạnh, tất cả mọi năng lực và ý chí của Ngài đều hướng tới lý tưởng cao cả tìm ra sự thật tối hậu, lý lẽ của sống và chết, ý nghĩa của nhân sinh, của cuộc đời, con đường dẫn tới giải thoát, cõi Niết bàn bất tử. Thời bấy giờ, tình hình chính trị tại các xứ ở Ấn Độ khá ổn định, nhiều nhà tri thức lỗi lạc, xuất gia tu đạo, trở thành đạo sư tâm linh với nhiều đệ tử theo học. Thái tử Si Đác Ta, trên đường đi tầm đạo, đã tới thụ giáo với hai đạo sư danh tiếng nhất thời bấy giờ là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta. Cả hai người đều tu theo phép Du già và đều chứng được những cấp thiền định cao nhất thời bấy giờ. Alara Kalama chứng được cấp thiền Vô sở hữu xứ, còn Uddaka Ramaputta thì chứng được cấp thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là hai cấp thiền thuộc Vô sắc giới, hai cấp thiền cao nhất mà tu sĩ Du già thời bấy giờ chứng đạt được. Nhưng chỉ một thời gian ngắn tu học, Thái tử cũng dễ dàng đạt được hai cấp thiền nói trên và được hai đạo sư mời ở lại cùng với họ lãnh đao chúng đệ tử. Thái tử biết rõ, các cấp thiền mà Ngài chứng được chưa phải là chân lý tối hậu, Niết bàn, sự chấm dứt sanh tử và mọi khổ đau. Cho nên, Ngài từ chối lịch sự, rồi lại lên đường tiếp tục cuộc hành trành cầu đạo của mình. Qua thực nghiệm, Ngài thấy chân lý tối hậu, Niết bàn, chấm dứt mọi đau khổ của sinh tử luân hồi, không thể cầu được ở bên ngoài, ở bất kỳ một bậc đạo sư nào. Chân lý tối hậu đó phải chính do Ngài tự tìm lấy, tự chứng ngộ lấy ở bên trong nội tâm của Ngài, không thể dựa vào một tha lực nào khác. Thái tử đến một nơi gọi là Uruvela, thị trấn của Senàni. ngài tìm được một khoảnh đất đẹp và mát, có con sông nhỏ chạy qua giữa bờ cát trắng. Gần đây, lại có làng nhỏ, có thể đi khất thực hàng ngày. Đúng là một nơi yên tĩnh, đẹp đẽ rất thích hợp với trầm tư mặc tưởng và tu tập thiền định. Cùng đến nơi đây tu tập với Thái tử còn có các tu sĩ Kondana (Kiều Trần Như), Bhadhya, Vappa, Mahanama và Asaji. Kondana vốn là vị đạo sĩ trẻ tuổi nhất trong số các đạo sĩ được vua Suddhodana mời tới kinh đô để xem tướng Thái tử, lúc Ngài mới đản sanh. Thời bấy giờ, ở Ấn Độ có tập tục và niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát, đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép xác. Cũng theo truyền thống đó, Thái tử cùng với năm người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép xác tới mức con người Thái tử gầy khô như bộ xương, đôi mắt sâu hoẵm xuống, sức khỏe giảm sút đến nỗi Ngài không còn đi vững được nữa. Ngài nghiệm thấy, càng kiên trì khổ hạnh, chân lý tối hậu như càng lùi ra xa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng suy yếu. ngài thấy rõ, khổ hạnh, ép xác không phải là con đường thoát khổ và cứu khổ. Thái tử quyết định ăn uống bình thường trở lại. Năm người bạn đồng tu vốn đặt niềm tin và hy vọng tuyệt đối vào Thái tử tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, bèn rời bỏ Thái tử đến vườn Nai ở Isipatana gần thành phố Banares để tiếp tục tu hành. Họ nói rằng, Thái tử Si Đác Ta đã trở về với cuộc sống tiện nghi và dục lạc vật chất. 2. Nổ lực hóa giải tự tâm Ở lại một mình, Thái tử quyết tâm tự mình phấn đấu để chứng ngộ chân lý tối hậu. Ngài lấy lại sức, nhờ uống bát sữa do một thôn nữ tên là Sujan cúng dường, sau đó Ngài tắm ở sông Neranjara (Ni Liên Thuyền). Tối đến, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala, sau này được đổi tên là cây Bồ đề, để đánh dấu sự kiện thành đạo vĩ đại của Ngài. Với tâm định tỉnh, nhu nhuyến, trong sáng như gương, Ngài suy tư về sống chết, về những nguyên nhân tích tập dẫn tới luân hồi sanh tử và con đường giải thoát, dẫn tới Niết bàn, Ngài nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của mình, một kiếp, hai kiếp cho tới hàng trăm ngàn kiếp. Ngài nhớ lại, thấy rõ các chu kỳ thành hoại của một thế giới, nhiều thế giới. Ngài thấy rõ các chúng sanh, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, thiện ác do mình tạo ra, luân hồi như thế nào trong các cõi sống, từ thời vô thủy cho tới ngày nay. Ngài thấy rõ, biết rõ tự bản thân Ngài đã đoạn trừ hết mọi tham ái, vô minh, đã được giải thoát và giác ngộ, và thành tựu đạo Vô thượng. Ngài đã thành Phật. Sau này, Đức Phật đã kể lại cho các đệ tử Tỳ kheo nghe về cảnh giới chứng ngộ của mình như sau: “Nầy các Tỳ kheo! Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ nguy hại của cái bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn đã chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn... Tri và Kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa”. (Kinh Thánh Cầu, Kinh Trung Bộ I, 268) Như vậy, sau sáu năm gian khổ, kiên trì, không mệt mỏi, vào năm 35 tuổi Thái tử Si Đác Ta đã chứng ngộ chân lý cứu kinh vô thượng và trở thành Đức Phật, bậc Toàn giác mà sự xuất hiện là chuyện hy hữu nhất trên đời này. Từ nay, thế gian tôn xưng Ngài là Đức Phật Gotama hay là Đức Phật Thích Ca Cồ Đàm. Từ Pali, “Buddha” (Phật Đà) có chữ gốc “Buddh” là hiểu biết, giác ngộ chân lý tối hậu, cứu kinh. Sách Pali gọi Ngài là Sammà Sambuddha với nghĩa là bậc Toàn giác, không gì không biết, không thấy; bậc Thánh, không những giác ngộ đầy đủ cho bản thân mình mà còn giác ngộ đầy đủ cho tất cả mọi người khác, cho tất cả mọi chúng sanh. II. Tinh thần trách nhiệm đối với tha nhân 1. Vì lòng từ bi chuyển Pháp Luân Chuyển Pháp Luân là chuyển bánh xe Pháp, tức là truyền bá cho thế gian biết về đạo Pháp mà Phật đã chứng ngộ. Ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ đề, sau khi đã chứng quả giác ngộ vô thượng, Đức Phật có suy nghĩ như sau: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng nầy thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý ‘duyên khởi ra các pháp’ (Paticcasamuppada): sự kiện nầy thật khó thấy, tức là sự tịnh chỉ tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp thì các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta” (Trung Bộ I, 268 – 269). Nhưng rồi Đức Phật nhìn quanh một lượt khắp thế gian với con mắt trí tuệ và suy nghĩ rằng: “... Có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sinh ở thế giới khác và sự nguy hiểm là những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hay hồ sen trắng, sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, nầy các Tỳ kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sinh ở thế giới khác và sự nguy hiểm là những hành động lỗi lầm. Và nầy các Tỳ kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây: “Cửa bất tử rộng mở Cho những ai chịu nghe Hãy từ bỏ tin tâm Không chính xác của mình ...” (Trung Bộ I, 271) Rồi Đức Phật quyết định sẽ gióng lên tiếng trống của Pháp, sẽ chuyển bánh xe Pháp, sẽ tuyên bố với thế gian, với loài người và loài Trời, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đương đạo dẫn tới cõi bất tử, cõi Niết bàn. Thế là bánh xe Pháp bắt đầu chuyển. Như đã nói trên, năm tu sĩ, bạn đồng tu của Thái tử, ở Uruvela, nay vẫn tiếp tục khổ hạnh ở vườn Nai gần thành phố Benares. Họ rời bỏ Thái tử vì họ tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, giữa đường bỏ cuộc. Nhưng thực ra sau sáu năm tu khổ hạnh, Thái tử đã thực nghiệm và thấy rõ tất cả sự vô ích và vô lý của lối tu khổ hạnh, ép xác chỉ làm con người suy yếu về thân xác, mệt mỏi về tinh thần. Và Thái tử ở lại một mình, kiên trì, phấn đấu và cuối cùng đã giác ngộ thành Phật dưới gốc cây Bồ đề. Sau khi đã quyết định truyền bá đạo lý cứu khổ cho thế gian, vì lòng thương xót loài người và loài trời, Đức Phật nghĩ ngay tới hai vị thầy cũ của mình là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, nhưng cả hai ông này đều qua đời cách đây không lâu. Với Phật nhãn, Đức Phật thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của mình đang ở tại vườn Nai gần Benares và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo pháp của Ngài. Rồi Đức Phật lên đường đi Benares. Tại đây, ở vườn Nai gần Benares, Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho năm người bạn đồng tu ngày trước của mình. Sự kiện đáng ghi nhớ này diễn ra vào một ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau Đức Phật thành đạo. Sau này, nó được biểu trưng một cái bánh xe có hai con nai nâng đỡ hai bên. Hai con nai biểu trưng cho địa điểm thuyết pháp, vườn Nai cũng gọi là Lộc Uyển. Bánh xe – Dhammacakka – tức là bánh xe Pháp, sách Hán dịch là Pháp Luân. Cả đầu đề bài kinh là Dhammacakkappavattana có nghĩa là “chuyển bánh xe Pháp”. Trong bài kinh này, Đức Phật mở đầu bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một cực đoan là đam mê thú vui nhục dục thế gian, thực ra chỉ là những cái tầm thường, nhất thời, ngăn cản mọi tiến bộ tâm linh. Một cực đoan thứ hai là khổ hạnh, ép xác vì nó làm mệt mỏi tinh thần, mê mờ trí tuệ, do đó cũng có hại, vô ích. Đức Phật khuyến cáo nên rời bỏ hai cực đoan trên và theo con đường Trung Đạo dẫn tới cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ, sáng suốt và giải thoát tối hậu. Đó là con đường đạo tám nhánh nổi tiếng, sách Hán thường dịch là Bát Chánh Đạo: - Chánh tri kiến: Thấy biết chân chánh. - Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chánh, ý chí chân chánh. - Chánh ngữ: Nói năng chân chánh, tức là không nói dối, không nói ác, không nói chia rẽ, không nói lời vô nghĩa. - Chánh nghiệp: Hành động chân chánh, tức là không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không rượu chè. - Chánh mạng: Sinh sống bằng nghề chân chánh, không phải bằng nghề bất lương, như buôn bán lừa đảo, buôn vũ khí và thuốc độc, buôn bán nô tỳ... - Chánh tinh tấn: Siêng năng chân chánh, diệt bỏ điều bất thiện, làm mọi điều tốt lành. - Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh, không nghĩ nhớ điều tà vạy, ác xấu, mê lầm. - Chánh định: Tập trung tư tưởng chân chánh, không để tư tưởng tán loạn, chạy theo dục vọng. Con đường tám nhánh là con đường đạo chân chánh, dẫn tới chấm dứt mọi đau khổ, phát khởi trí tuệ, đưa đến Niết bàn, là sự giải thoát vĩnh viễn khỏi vòng sống chết luân hồi, là sự thanh tịnh tuyệt đối và an lạc tuyệt đối. Trong bài thuyết pháp đầu tiên này, Đức Phật giảng về bốn chân lý cao cả, cũng gọi là bốn chân lý Thánh, bởi vì chúng được phát hiện và tuyên thuyết bởi bậc thánh vĩ đại nhất là Đức Phật. Đó là chân lý về sự khổ (sách Hán gọi là Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập đế), chân lý về diệt khổ (Diệt đế), chân lý về con đường đạo diệt khổ (Đạo đế). Nghe xong bài thuyết pháp này, và một bài thứ hai có đầu đề “Anattalakkhana sutta”, bàn về thuyết vô ngã (không có cái Ta), năm vị tu sĩ ở vườn Lộc Uyển được giác ngộ và không bao lâu trở thành A la hán. 2. Tinh thần hướng dẫn khích lệ Thế Tôn xác nhận Thế Tôn chỉ là người chỉ đường còn mình phải làm lấy công việc của chính mình. Kinh Venak Moggallàna (Trung Bộ III) Kinh Đại Niết bàn (Trường bộ II, Hán tạng Bát Niết bàn) chép: Vào thời điểm sắp từ giã cuộc đời, Thế Tôn từ chối vai trò lãnh đạo tăng chúng khi Tôn giả A-nan xin Thế Tôn cho lời di giá của bậc lãnh đạo và Tôn giả băn khoăn rằng sau khi Thế Tôn nhập diệt Tăng chúng sẽ không có ai lãnh đạo. Thế Tôn dạy: “Nương tựa Pháp, Pháp lãnh đạo”. Pháp ở đây phải được hiểu là con đường đưa đến an lạc, hạnh phúc, giải thoát. Trọn bốn nươi lăm năm giáo hóa, Thế Tôn luôn luôn là người chỉ đường mà không bao giờ ra lệnh hoặc bắt ép ai tuân phục Ngài. Tinh thần hướng dẫn của Tâm lý giáo dục hiện đại, ngành giáo dục chính đạo, là tinh thần căn bản của giáo dục mới, nhân bản. Theo đó, một nhà giáo tốt phải là một hướng dẫn viên tâm lý. Như thế, chính Thế Tôn đã mở đường cho một nền giáo dục tiên tiến từ hơn hai mươi năm thế kỷ trước, qua tinh thần giáo dục hướng dẫn rất người, rất nhân bản trong thái độ hiểu biết. Bắc tạng nhìn Thế Tôn như một vị vua thầy thuốc, xem bệnh chúng sanh và cho thuốc. Đấy cũng chỉ là tinh thần chỉ đường. Ở Nikàya và A-hàm Thế Tôn đề cao phương pháp giáo hóa thần thông, qua thân giáo và khấn giáo, bằng quan sát và phân tích thực tế. Mục đích việc giảng dạy của Ngài là giúp người nghe tự mình nhận ra con đường và tự mình thực hiện con đường. Tinh thần giáo dục “hướng dẫn” vốn đã là một tinh thần giáo dục đặc sắc lại được Thế Tôn vận dụng khéo léo song song với sự khích lệ tâm lý, sự khích lệ mà con người cần như là dưỡng khí. Kinh Nikàya và A-hàm thường ghi lại: “Thế Tôn đã thuyết pháp và đã khích lệ làm cho mọi người đều được lợi ích. Cho đến các bậc Thánh hữu học vẫn còn cần được Thế Tôn khích lệ”. Các phẩm “Dược Thảo Dụ”, “Thọ Ký”, “Phổ Hiền” của Pháp Hoa cũng làm sống lại tinh thần khích lệ ấy của Thế Tôn. Đến giờ phút cuối cùng của cuộc sống này, Thế Tôn còn không quên khích lệ chư Tăng: “Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn lên, chớ có phóng dật”, và khích lệ vị thị giả thân quý của Ngài: “Này A-nan, chớ có sầu muộn, không bao lâu nữa Ông sẽ chứng đắc những gì chưa chứng đắc”. (Kinh Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ I, 1991). Từ chuyên môn của ngành Tâm lý giáo dục hiện đại gọi sự khích lệ ấy là “Encouragement” và nhắc nhở các nhà giáo, các nhà tâm lý trị liệu, đừng bao giờ quên rằng: Học trò của mình và thân chủ của mình đang cần sự khích lệ. Thật là lạ lùng, cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ Thế Tôn đã vận dụng thiện xảo sự khích lệ tâm lý trên đường giáo hóa của Ngài. 3. Nhân cách mô phạm Với ý nghĩa tài đức song toàn, là điều kiện cần thiết đủ để làm mô phạm cho đời, hướng dẫn mọi người tiến tu giải thoát. Do đó Đức Phật dạy: “Các tỳ kheo nếu thành tựu bảy pháp thì có thể làm lợi ích cho chúng sanh tại thế gian này. - Biết pháp tức là biết mười hai phần giáo - Biết nghĩa của pháp là biết ý nghĩa của mười hai phần giáo - Biết thời - Biết tiết độ tức là thiểu dục tri túc - Biết mình là biết về tín, giới, văn, thí, trí, biện tài giáo pháp và sở đắc. - Biết chúng hội là biết quần chúng đối tượng con người, biết sự hơn kém của người, chín bậc hơn kém (Trung A Hàm 1, Trường A Hàm 9). Kinh Niết Bàn nhấn mạnh “nếu các Bồ Tát thành tựu bảy thiện pháp này là đầy đủ phạm hạnh lợi lạc chúng sanh tại thế gian này. Các Đức Như Lai đều thấy: “Hết thảy chúng sanh trong pháp giới đều đầy đủ trí tuệ, đức tướng Như Lai, chỉ vì ngu si, mê hoặc, nên không tự biết. Tôi nay sẽ chỉ cho con đường chính, khiến con người dứt sạch các món vọng tưởng, chấp trược, tự chứng được trí tuệ rộng lớn của Như Lai, bình đẳng với chư Phật không sai khác”. Đây là cả một tôn chỉ mục đích của đạo Phật, đây là cả một chương trình làm người, hướng về lễ nghĩa, tâm đức và nhân đạo. 4. Trách nhiệm cá nhân đối với xã hội Dưới con mắt giác ngộ của Đức Phật, Ngài nhận thấy tất cả chúng sinh, loài người cũng là một trong đó đều bình đẳng về trí tuệ, đức tướng và đều là người thân thích với nhau. Đã là bình đẳng, là thân thích tất nhiên không bao giờ phân chia hay sát hại nhau, trái lại phải thương yêu, giúp đỡ nhau nếu là người hiểu biết. Người hiểu biết, một cử chỉ, một hành động đều hướng về từ bi, bình đẳng và không xa “từ bi bình đẳng”. “Từ” là hiền lành, là cho vui. “Bi” là thương xót, là cứu khổ. Cho vui, cứu khổ là một hành động quả cảm, mong đem lại lợi ích cho người, cho vật mà quên những lợi ích nhỏ nhen riêng mình. Người vui cũng như mình vui, người khổ cũng như mình khổ. Thấy người khổ ta tìm đủ phương tiện giúp đỡ họ bằng của cải, bằng lời hay lẽ phải, bằng sự an ủi hay sự hy sinh trong tinh thần vô tư và vô úy. Thấy người vui ta tán dương, khuyên cố gắng và khuyên đem sự vui đó hướng về lợi ích chung. “Bình” là quân bình. “Đẳng” là tề đẳng. Tất cả đều ngang bằng như nhau không hơn không kém. Loài người cũng như các sinh vật khác, cũng do nhân duyên phát sinh, cũng đủ cơ quan sinh hoạt, cũng ưa sống, sợ chết... có chi là khác nhau ở học vấn, địa vị, giai cấp chăng? Học vấn, địa vị, giai cấp chỉ là điều kiện, hoàn cảnh hay nhân quả tạo thành chứ không thể khác nhau ở lẽ sống. Vì máu ai cũng đỏ và mặn. Nhất là lẽ sống thì sự kiện ấy chỉ là sự phân công rõ rệt trong đời sống xã hội. Nếu không có người làm ruộng, lấy thóc đâu nuôi người công chức. Nếu không có người công chức thì sự an ninh đâu đem lại cho người làm ruộng. Nghĩa là “Tất cả đều bình đẳng”. Đã bình đẳng còn đâu là kẻ sang, người hèn, kẻ giàu, người nghèo, kẻ oán, người thân. Đã bình đẳng còn đâu là tranh chấp tương tàn, tương sát, mà chỉ còn biết thương nhau, yêu nhau, giúp đỡ nhau. Theo thuyết từ bi, bình đẳng, mất hết cả lễ, nghĩa, liêm, sĩ chăng? Không! Hiểu nghĩa vụ mình trong xã hội và làm đúng với nghĩa vụ ấy là “Lễ”. Đối với nhau tín – ái chân thật là “Nghĩa”. Biết tri túc theo hoàn cảnh mình là “Liêm”. Biết thẹn hổ khi mình có lỗi, biết mình không tiến tới mục đích cứu cánh làm người là “Sĩ”. Cho nên chỉ bốn chữ “từ bi, bình đẳng” là đầy đủ hết cả. 5. Trách nhiệm đối với môi trường Như chúng ta có thể nghĩ và thấy con người sinh ra để được hạnh phúc, chứ không phải để chịu khổ đau. Vì thế khuôn mẫu chân chánh về các hành động thiện phải được đặt nền tảng trên sự an lạc về tâm sinh lý và xã hội của loài người. Người ta cần phải lựa chọn giữa hai giá trị ấy. Để làm được điều này, họ cần phải quan tâm đến các điểm trọng yếu sau: - Hầu hết mọi giá trị của nền văn hóa nhân loại hiện hành đều được đặt trên căn bản tư duy hữu ngã (vị kỷ) hay vô minh (Avijjà), vì vậy chúng phải được soi rọi dưới ánh sáng của lý Duyên khởi (hay tư duy vô ngã: Vijjà). Nói cách khác, giáo lý Duyên khởi cần được phổ biến càng rộng càng tốt cho quần chúng trong thế giới giáo dục và xã hội, để cho một dòng văn hóa mới về bảo vệ môi trường có thể được thành lập. - Giáo lý Duyên khởi nói rằng “một” hiện hữu trong “tất cả” và “tất cả” hiện hữu trong “một”. Điều này có nghĩa là sự ô nhiễm hay rối loạn nơi này chính là sự ô nhiễm hay rối loạn ở các nơi khác trên thế giới. Điều này đòi hỏi mọi cá nhân, mọi tổ chức và mọi quốc gia có bổn phận và trách nhiệm bảo vệ môi trường đồng thời với sự tồn tại của nhân loại. - Chân lý Duyên khởi cần được thêm vào khoa Sinh thái học như một lý thuyết căn bản và phải được xem là triết lý và đạo đức môi trường. - Ngoài các điểm được đề nghị trên, lời kêu gọi đình chỉ mọi thí nghiệm hóa học và hạt nhân cần được lập đi lập lại nhiều lần. Cũng vậy đối với sự kêu gọi giới hạn việc sử dụng năng lượng hạt nhân vào các mục đích gọi là “hòa bình” và tạo ra một biện pháp an toàn cho việc tống khứ chất thải từ các xí nghiệp và công nghệ. - Các biện pháp hạn chế chất khí độc hại thoát ra trong không khí. - Điều quan trọng nhất là giúp mọi người hiểu biết và chế ngự tham ái hay dục vọng (tanhà) là nguyên nhân chính trong mọi nguyên nhân ô nhiễm môi trường. Điều này có nghĩa là sự giải thoát khỏi ô nhiễm trong tinh thần con người đòi hỏi giáo dục môi trường cho mọi cá nhân và bổn phận cùng trách nhiệm của mọi cá nhân. Nếu các dục vọng về cảm quan và giới tính cứ tăng mãi như hiện nay ,nghĩa là tham, sân, si tăng mãi thì không có phương cách gì bảo vệ môi trường được như chúng ta có thể thấy rõ từ giáo lý Duyên khởi: “Chỉ còn lại một điều là: suy tàn, khổ đau và hủy diệt dành cho mọi loài hữu tình trên thế giới”. III. Tinh thần chịu trách nhiệm tạo tác tự thân Nhân quả – vấn đề luân lý đạo đức Phật giáo: trước hết, giáo lý nhân quả dạy con người thức tỉnh trong các hành động tạo tác của mình để xa lánh các việc ác và nỗ lực làm các việc lành nhằm đem lại sự an vui, thanh bình cho cuộc sống. Giáo lý nhân quả chú trọng đến vấn đề thiện ác, tức là vấn đề luân lý đạo đức của con người nói chung và của hàng Phật tử nói riêng. Tuy nhiên, vấn đề trọng yếu của giáo lý nhân quả là ở chỗ nó đặt ra trách nhiệm cá nhân của mỗi con người đối với các điều kiện sống của con người ấy. Do đó, không thể quy uớc giáo lý nhân quả – tức luân lý đạo đức Phật giáo – theo khuôn mẫu ước lệ như luật pháp được ban hành trong xã hội. Chẳng hạn, một người phạm tội, luật pháp sẽ trừng phạt y khi hành vi phạm tội được xác định – nghĩa là y đã thực hiện điều tội lỗi. Trong khi, với đạo đức và luân lý, anh ta sẽ có tội ngay khi những ý niệm tội lỗi (xấu ác) phát sinh trong tâm của y, mặc dù đó chỉ là ý niệm chứ chưa phải là hành vi. Do đó, trách nhiệm cá nhân theo giáo lý nhân quả, ở đây là trách nhiệm cao nhất đối với thái độ tâm lý đạo đức của mỗi con người, mà không phải là trách nhiệm theo quy ước luật pháp trong xã hội. Trong một số trường hợp, những người khôn ngoan có thể chạy trốn pháp luật, nhưng với luân lý đạo đức,họ không thể chạy trốn lương tâm của chính mình. Vì thế, nếu đứng trên phương diện giáo dục, giáo lý nhân quả thực là một phương pháp giáo dục vô cùng lành mạnh và tích cực. Vì ngay từ đầu,tinh thần nhân quả đã đưa con người về với chính nó. Con người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những tư duy và hành động của chính mình. Hạnh phúc hay khổ đau là do mình tự tạo cho mình. Ở đây không hề có một sự trừng phạt hay ban thưởng nào, cũng không có một giáo điều hay tín lý nào có thể thiết lập trên cơ sở nhân quả của Phật giáo. Một nền luân lý đạo đức như thế, nhân bản và tích cực như thế, trí tuệ và đầy tình người như thế, nếu được áp dụng vào mỗi con người, gia đình, học đường và xã hội; ắt hẳn sẽ đưa đến một cuộc sống an lạc, hạnh phúc. Nhân quả – khởi điểm của tiến trình giải thoát: như đã đề cập, giáo lý nhân quả đặt trọng tâm vào vấn đề thiện – ác, chánh – tà, tốt – xấu v.v..., tức là các vấn đề liên quan đến đời sống đạo đức của con người. Tuy nhiên, đó cũng là điểm khởi đầu của con người để đi vào đạo. Nhưng đối với Phật giáo, sự giác ngộ và giải thoát không chỉ dừng lại ở lĩnh vực nhân quả – thiện ác,mà nó còn đi xa hơn nữa, đó là đi ra khỏi thế giới phân biệt, đối đãi giữa thiện – ác (thực tại giải thoát). Vì lẽ, Đức Phật dạy các pháp là vô ngã. Do đó, mọi sự phân biệt thiện – ác, chánh – tà... đều là sản phẩm của ý niệm vốn sanh khởi từ sự có mặt của ngã tưởng. Ở đây, điều tối quan trọng là hãy nỗ lực tư duy và nhận ra rằng không hề có mặt bất luận một ngã tưởng nào thực sự hiện hữu; tất cả là vô ngã. Khi nhận ra điều này nghĩa là đã bước lên đường để đi vào thế giới thực tại giải thoát – một thế giới vượt lên trên mọi ý niệm phân biệt, mọi ngã tưởng điên đảo,thế giới của sự thanh tịnh, xả ly và vô niệm. Tại đây, thần chết sinh tử của nhân quả không còn nữa,vì rằng khi ngã tưởng được buông bỏ thì tham ái và chấp thủ sẽ tiêu tan và khi ngã tưởng, tham ái và chấp thủ bị đoạn diệt thì trụ cột của thế giới tương quan nhân quả của nghiệp báo thiện ác đã bị sụp đổ; đây là ý nghĩa của Niết bàn tối thượng. C. Kết Luận Với sự hy sinh cao cả, lòng từ bi rộng lớn và một ý độ sanh dũng mãnh qua cuộc đời và giáo lý của Đức Phật; Ngài là một bậc vĩ nhân trên tất cả vĩ nhân, siêu nhân đứng trên mọi siêu nhân. Ngài thật đáng với danh xưng: Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi. Ngài hiện thân trên cõi nhân gian này là sự kết tinh vô vàn tinh hoa tuyệt mỹ của nhân loại. Đứng ở góc độ nào ta vẫn thấy được hiện thân của Ngài, đó là hiện thân của chân lý, của trí tuệ,từ bi, bình đẳng. Học tập ở Ngài là đi theo con đường Ngài đã đi, thực hành những gì Ngài đã dạy tinh tấn nỗ lực tu tập chuyển hóa thân tâm,thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh trên tinh thần từ bi bình đẳng vượt ngoài tầm thế gian nhân ngã bỉ thử. Theo dòng thời gian Phật giáo nhẹ nhàng lặng lẽ đi vào lòng người ở khắp mọi nơi trên thế giới, không đâu không có hình bóng của những người nối chí Phật. Thiết nghĩ lòng từ bi bao la, trí tuệ toàn giác, theo Phật dạy niềm tin chân chánh được củng cố và tăng trưởng, đó là động lực giúp cho người theo Phật giáo hướng đến giải thoát Niết bàn. ĐẠO LỰC CỦA MỘT BẬC GIÁC NGỘ vào đề: Con người sở dĩ có một vị trí đặc biệt trong các chủng loại động vật, là nhờ có một nhận thức về tư duy và có một tâm thức về linh học. Từ khi con người hiện hữu trên tinh cầu, vấn đề nhận thức được hoàn thiện từ sơ cơ cho đến tinh tường là nhờ trao đổi thông tin, giao tiếp và xử lý nhiều vấn nạn. Từ cơ bản đó, đối diện với ngoại cảnh, thiên nhiên cho đến uẩn khúc về tinh thần, con người phát sanh ra niềm tin vô hình, dùng những trừu tượng để ủy thác và giải tỏa những vấn nạn ngoài khả năng hiểu biết đương thời. Tôn giáo hoặc tín ngưỡng Thần linh đồng thời xuất hiện trong các bộ lạc. Chủ đạo tín ngưỡng cộng đồng được ủy thác cho một nhân cách đặc biệt chăm lo tế tự, là người môi giới giữa Thần linh và bộ tộc; Ngày càng phát sanh các hình thái, nghi lễ tế tự cho tín ngưỡng, tôn giáo có một tầm vóc trang trọng, tôn kính hơn. Nội dung: Mỗi quốc gia chủng tộc đều có nguồn sống cá biệt do thổ nhưỡng địa lý phát sanh. Những chủng tộc có nền văn hóa thâm thúy, sâu sắc đều có một tín ngưỡng tâm linh và tôn giáo đặc thù. Trên thế giới tuy có hàng vạn tôn giáo khác nhau, tựu chung có hai loại tín ngưỡng: tín ngưỡng Thần học và tín ngưỡng bản thể học. Tín ngưỡng Thần học cũng cho nhiều loại: Thượng đế, Thần thánh và các loại vô hình, Thần linh. Tín ngưỡng Bản thể học cũng có nhiều hình thức: tâm linh học, duy thức học, duy linh, Tự tánh học, bản ngã học, duy tâm... Những tín ngưỡng tâm linh khác hẳn với tín ngưỡng Thần linh. Trường phái tâm linh tin rằng mỗi cá thể có một năng lực tự do, có khả năng tự mình vượt thoát mọi hạn chế trong cuộc sống, trong khi đó, trường phái Thần linh đều tin vào quyền năng thiên nhiên, mọi sự đều ủy thác cho năng lực ngoại tại thông qua sự cầu nguyện, cúng kiến, khấn vái..làm đẹp lòng Thân linh. Trình độ bộ tộc thấp kém làm đẹp lòng Thần linh qua hiến tế máu thịt sinh mạng người hoặc thú vật. Trình độ cao hơn thì hiến tế thực phẩm hoa quả hoặc vật dụng tượng trưng cho máu thịt như lễ Misa của Ki Tô giáo hiện nay. Trường phái tâm linh có nhiều phương pháp thăng hoa tâm thức như Đạo học, Lão giáo, Tiên đạo của Trung Hoa cổ đại, như Yoga của Ấn độ xa xưa, khổ hạnh ép xác của các trường phái Ấn giáo; Tuy nhiên và duy nhất, trong các hành giả đương thời tìm hạnh phúc nơi cảnh giới sau khi xả bỏ nhân thân, sau 6 năm tầm cầu học hỏi và hành chứng, Gotama tự mình tìm ra con đường thực nghiệm quán chiếu, đã hoát nhiên đại ngộ dưới cội Bồ Đề, từ đó giáo pháp được lan tỏa như một bộ môn khoa học tâm linh, vượt thoát tính năng tôn giáo. Giá trị tâm linh: Sau những năm tháng miệt mài tìm cầu thực hiện các pháp ngoại đạo, Đức Phật đã ngạc nhiên thốt lên: - mọi chúng sanh đều có khả năng giác ngộ như ta, chỉ vì vô minh Tham -sân-si che ám tâm thức, bị dục vọng sai khiến nên mãi trôi lăn trong Tam giới! Chỉ cần không vướng mắc ngoại cảnh, lục căn không bị cám dỗ bởi lục trần, ý thức cuộc sống là vọng tưởng, không thật; cuộc sống và mọi vật đều vô thường, khổ, vô ngã. Vạn vật đều không có một bản thể cố định nên gọi là Không! vì không ý thức nên hành động, tư duy sai trái tạo nên nghiệp, từ nghiệp nên dẫn dắt trôi lăn sanh tử... Đó là giá trị đích thực về nhận thức của thân phận làm người mà đức Phật đã giác ngộ, để lại cho nhân loại một gia tài hiếm hoi và vô cùng giá trị. Từ sự chứng ngộ chơn tánh đó, mọi hành giả đều có cuộc sống mới, mọi hành vi, ngôn ngữ đều có một giá trị mô phạm, làm thân giáo cho muôn loài. Không riêng đức Phật Thích Ca sở chứng đưa đến thân-khẩu-ý thánh thiện mà tất cả hành giả tâm linh thực chứng đều có một giá trị hạnh đức , trí tuệ như nhau, là ngọn đuốc tâm linh tuyệt vời. Dĩ nhiên, không phải đột nhiên mà Gotama thành tựu tâm linh tuyệt dịu như thế; Ngài phải trãi qua vô lượng kiếp tô bồi phước báu, công đức qua công hạnh Bồ Tát để rồi, kiếp nầy chỉ là giọt nước cuối cùng tràn đầy ly nước mà thôi. Chánh báu đó tích lũy, thể hiện qua pháp tướng mà A Tư Đà tiên đoán hậu vận Ngài sẽ là một Chuyển Luân Thánh Vương hoặc là một vị Phật. Con đường đã định: Cho dù là phước báu, cũng đã là con đường đã định sẵn bởi đạo nghiệp, Thái tử Gotama không thoát khỏi nên giá trị tâm linh đã được thể hiện một cách ngoạn mục từ vương cung cho đến thứ dân, từ khổ hạnh cho đến đại ngộ, qua bao gian nan khổ hạnh đi đến thành công là một chặng đường tâm linh đầy gai góc, đã nở hoa giá trị tâm linh tuyệt vời có một không hai trên hành tinh sau hàng ngàn năm vẫn chưa có ai kế thừa ánh sáng đạo nghiệp như thế. Lúc sanh thời trong hoàng cung, Thái tử cũng lộ diện một tài năng về học vấn, một trí tuệ không có đối thủ, một sức khỏe phi thường, một lòng Từ vô hạng, một ứng xử vô song thì khi xuất gia tầm cầu chân lý, hành giả Gotama cũng vượt trội mọi mặt những vị thầy của mình, để rồi sau khi chứng ngộ, trở lại khai thông những bế tắt mà đồng đạo của Ngài đang gặp phải. Giáo lý: Khởi đầu cho một giáo lý vô ngã, tại Lộc Uyển, Đức Phật khai thị cho năm anh em Kiều Trần Như về một luận chứng cô đọng, sâu sắc nhưng thực tế, đó là bốn chân lý tuyệt vời về kiếp nhân sinh mà không một ai thoát khỏi từ lúc có mặt trong cỏi trần ai đến lúc ra khỏi vòng luân lưu hủy diệt: Khổ-Tập-Diệt-Đạo. Đây là sự khổ của kiếp sống, đây là nguyên nhân đưa đến cái khổ; đây là con đường hạnh phúc sau khi thoát khổ và đây là giải pháp đưa đến thoát khổ. Bốn chân lý trên đây nghe như đơn giản, thực tế hàm tàng cả một trí tuệ siêu việt, một giá trị tâm linh thực chứng mà bao thế hệ trước đó, các hành giả dày vò thân xác, khổ hạnh mà vẫn chưa thấy được ánh sáng giác ngộ le lói giữa u minh nhấn chìm cuộc sống nhân sinh. Để triển khai hệ thống giáo lý vô ngã, đức Phật đã dẫn dắt hành giả đi từ thấp đến cao; giúp cho tín chúng thấy được cái hư ảo của vật chất, cái sai lầm của nhận thức; dùng mọi phương tiện hư ảo để thoát khỏi hư ảo; Biết là hư ảo mà vẫn phải khép cuộc sống vào quy tắc mô phạm để khỏi vi phạm vào ý hệ hư ảo rồi trôi lăn theo hư ảo trầm luân. Giá trị tâm linh tuyệt vời trong kho tàng giáo lý duyên khởi không phạm vào một trong hai cực đoan thường tình. Nói về hư ảo mà vẫn sống trong hư ảo để chuyển hóa hư ảo. Không từ bỏ hư ảo để chạy theo một ảo tưởng khác, cũng không chìm sâu trong hư ảo khi cùng hư ảo bơi lội về bến chân như. Nghệ thuật trung đạo đã giúp giáo lý nhà Phật chuyển hóa cuộc sống mà không xa rời, từ bỏ cuộc sống. Tâm linh, ý hệ, cuộc sốngkhông rời nhau mà cũng chẳng xa nhau, từ một hợp thể phức tạp biến thành một đơn thể chân thật khai sanh một trí tuệ chắc thật. Từ một giá trị tâm linh đơn thuần chuyển hóa một hợp thể đa tạp trong tâm thức mọi hành giả mà chúng ta gọi là chuyển pháp luân. Không những Tứ Đế là giáo lý đầu tiên đức Phật đã chuyển pháp đầu tiên cho công cuộc giáo hóa; suốt 49 năm hành hóa, đức Phật vẫn không ra khỏi nguyên tắc: Thế gian pháp tức Phật Pháp, hoặc giả: Phật pháp tức bất định pháp,vì thế Phật pháp bất ly thế gian pháp.Đó là một giá trị tâm linh tuyệt vời mà chưa có giáo pháp nào bao hàm trọn vẹn như thế. Hầu hết các tôn giáo hiện nay, hoặc xem nhục dục là phương tiện đạt đến cứu cánh, hoặc từ bỏ cuộc sống thế gian để hướng đến cảnh giới mai sau. Hoặc chọn sự khổ hạnh hành xác để bù đắp tội lỗi quá khứ hy vọng Thần linh hỷ xả, cứu vớt cho về cảnh giới Thiên đàng...nghĩa là hầu hết chọn con đường cực đoan, biên kiến đưa đến cuộc sống thiếu thực tế. Phật giáo và xã hội khoa học thực dụng: Với những tiện nghi hiện nay và khoa học tiến bộ vượt trội, đã đẩy nhiều tôn giáo vào vị thế tỷ lệ nghịch với khoa học thực dụng. Hầu hết, con người chấp nhận khoa học và những thành tựu của khoa học là một bước tiến hiển nhiên của loài người không thể phủ bác, vì thế, một số tôn giáo cực đoan xem khoa học là tội lỗi, là mồi cám dỗ đưa loài người gần với hỏa ngục; thậm chí kết án và đỏi triệt tiêu các quốc gia văn minh tiến bộ, nhưng, nhà khoa học như : Albert Einseint - nhà bác học Vật Lý từng bảo: “Tôi là một người không tôn giáo. Nhưng nếu có Tôn giáo thì Tôi phải là một Phật tử. Vì những gì Tôi hiểu biết bây giờ thì mấy ngàn năm qua Kinh Phật đã nói hết rồi” “Tôn giáo tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu” Vượt lên mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm trọng thể gồm mọi phương diện trên. Trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có Đạo Phật đáp ứng đủ điều kiện đó. “Nếu có một tôn giáo nào đương đầu được mọi nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo” “Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học” “Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt qua. Như vậy, Phật giáo không thể là một tôn giáonhư những tôn giáo thần linh, cũng không hẳn là bộ môn khoa học thực dụng, cũng không là môn tâm lý đạo đức xã hội, và cũng không là bất cứ mặt nào trong tổng thể cuộc sống, mà là tổng thể cuộc sống được chuyển hóa, được thăng hoa về lãnh vực tâm linh để tổng thể cuộc sống có một giá trị đích thực hơn là giá trị thực dụng hữu hạn của cuộc sống. Đó là giá trị tâm linh được thổi vào cuộc sống qua con đường giáo lý của đức Phật. Phật giáo và công cuộc hoằng hóa: Một gia tài đồ sộ và một giá trị tâm linh tuyệt vời của Phật giáo, mãi đến nay, qua lượng số tín đồ, đạo Phật vẫn là tôn giáo đứng vào hạng ba, hạng tư trên thế giới so với các tôn giáo Thần học. Tại sao? đặt câu hỏi tức là đã có đáp án tiểm ẩn. 1/ Phật giáo không chủ trương áp đặt 2/ Phật giáo không có giáo quyền, không có tín điều 3/ Phật giáo không chú trọng về lượng số tín đồ, không nặng về quyền lực (quyền lực tâm linh và quyền lực tôn giáo) 4/ Phật giáo tôn trọng tự quyết định của mỗi cá thể và nghiệp lực của từng cá nhân 5/ Vì Phật giáo đặt nặng việc hướng nội cá nhân nên xem nhẹ việc hướng ngoại của tổ chức. 6/ Phật giáo không chủ trương đối phó với chuớng duyên ngoại cảnh Khi Phật còn tại thế, việc truyền bá giáo lý còn tùy căn cơ mà nói pháp, thậm chí có những đối tượng Phật không cảm hóa được mà phải giao cho đệ tử Ngài cảm hóa; khi đi giáo hóa, không dùng thần thông, không sử dụng quyền lực, quyền lợi. Mỗi người đi một hướng, tận dụng tâm từ để giáo hóa, dù bị ngược đãi hành hung vẫn không chống trả bằng bạo lực. Đó là thời quá khứ, hiện nay, với phương tiện khoa học, Phật giáo một số quốc gia đã dùng tiện nghi sẵn có để truyền bá, bằng truyền hình, bằng băng đĩa, bằng phim ảnh sân khấu, bằng ca nhạc kịch nghệ...vì thế, ảnh hưởng Phật giáo ngày nay trên thế giới, một số quốc gia Thần học trước kia, nay nếm hương vị giải thoát, giải thoát sự kềm hãm của tổ chức tôn giáo, giải thoát những tri kiến chấp thủ của thế gian, giải thoát tâp quán xã hội...để bay bổng vào chân trời tự tại tâm linh, nên Phật giáo dễ được chấp nhận và bén rễ, phát triển nhanh chóng trong các xã hội thực dụng và tiện nghi khoa học. Chính vì thế mà Phật giáo được các tôn giáo tại Liên Hiệp Quốc chọn làm tôn giáo hòa bình của nhân loại. Vì là tôn giáo hòa bình nên việc phát triển chậm chạp nhưng không làm đổ máu chúng sanh. Phật giáo với hệ sinh thái: Không những sinh mạng con người, động vật được tôn trọng, mà ngay cả cỏ cây hoa lá cũng được bảo vệ; đệ tử Phật không được chặt phá cây, dẫm đạp lên cỏ cây một cách bừa bãi, vô cớ. Không đổ nước và chất bẩn vào dòng sông, không khạc nhổ lên cỏ cây, không dẫm đạp côn trùng, thậm chí một Sa Môn không được chết nơi xóm làng, phố thị nhà dân mà phải vào chốn núi non rừng thẳm... không uống nước khi chưa được lọc. Một Khất sĩ đi xin ăn như con ong hút mật hoa mà không là tổn hại phấn hoa, nhụy hoa. Đức Phật sinh ra vườn cây Lân Tỳ Ni, chứng đạo dưới cội Bồ Đề, Hoằng pháp nơi vườn Lộc Uyển, Nhập diệt trong rừng Sala. Ngụ nơi rừng Trúc; Cả cuộc đời Ngài gắn liến với môi trường xanh và luôn hòa nhập với hệ sinh thái Kết: Phong cách của một giáo chủ lớn như Đức Phật, luôn toát hiện lòng từ ái và trí tuệ vô biên; mọi hành trạng luôn thích hợp hài hòa với cuộc sống. Nguồn Tâm linh diệu vợi đó đã cảm hóa bao nghịch cảnh chướng duyên, từ Đề Bà Đạt Đa đến Vô Não, từ voi say đến kỹ nữ giả bụng chửa vu oan cho Phật; Từ bạo chúa như Asoka đến các vương cung hoàng tử, từ quý tộc đến giai cấp tiện dân; từ ngoại đạo đến tà giáo đều quy ngưỡng trước một năng lượng từ ái, vô úy và giải thoát của Ngài. Từ lúc ra đời đến khi nhập diệt, trên 80 năm, Ngài để lại cho nhân loại một giá trị tâm linh qua thân giáo, khẩu giáo và lời dạy đầy trí tuệ. Chỉ có một bậc chứng đắc hoàn toàn mới có cuộc đời hoàn hảo như thế. Giá trị tâm linh của một bậc đại giác luôn là gia tài quý báu cho nhân loại, giúp cho bao cuộc sống thăng hoa và giải tỏa những bế tắc cho đời người, đó là giá trị tuyệt vời của một tâm linh đã giác ngộ gần ba ngàn năm qu

đức phật

on đường thực nghiệm tâm linh Đạo Phật tuy được nhận thức là một tôn giáo nhưng kỳ thực không giống phần lớn các tôn giáo khác của nhân loại. Đạo Phật có phần triết học và khoa học của mình nhưng cũng không phải vì thế mà được xem là một triết học hay một khoa học. Để có thể đàm luận dễ dàng thiết tưởng chúng ta nên tìm biết qua sự liên hệ giữa Phật giáo, triết học và khoa học. Trong lịch sử nhân loại, tôn giáo đến trước triết học và khoa học, và có liên hệ rất mật thiết với thần thoại. Thần thoại là kết quả của khuynh hướng giải thích và giải quyết của trí óc con người cổ thời về các hiện tượng trong vũ trụ. Tuy triết học và khoa học cũng nhắm đến mục đích giải thích sự vật để làm nền tảng cho hành động, triết học và khoa học vẫn không có được những liên hệ chặt chẽ với thần thoại như là tôn giáo. Triết học khi chưa tách rời ra khỏi thần học thì chưa xứng đáng được gọi là triết học mà chỉ là một khí cụ của thần học. Thần học chỉ là để biện minh và thích nghi cho tôn giáo vào xã hội. Bản chất và khuynh hướng giải thích của tôn giáo về tự nhiên giới và nhân sự giới không xa với bản chất và khuynh hướng thần thoại làm ấy. Những gì tôn giáo nói ra đều được xem như là chính thức dựa trên sự khai mở của thần linh và vì vậy căn bản của tôn giáo là đức tin. Triết học cũng muốn có một cái nhìn tổng quát như tôn giáo nhưng muốn được vô tư hơn và duy lý hơn. Nhưng đến khoa học thì cái nhìn trở thành chi li, tuy được dựng trên thực nghiệm chắc chắn. Đứng giữa tôn giáo và khoa học và không xây dựng trên yếu tố tín ngưỡng, triết học muốn luôn luôn nương vào thực nghiệm khoa học để tìm chân đứng cho vững chãi trong khi vươn cánh tới những chân trời mà khoa học không hoặc chưa nhìn thấy được, những chân trời mà tôn giáo tự cho là đã biết rồi. Thế nên triết học đóng vai trò trung gian, một mặt dựa trên các phát minh khoa học bài xích những ngây thơ sai lạc của một số các tôn giáo, nâng đỡ và khích lệ cho các tôn giáo nào mà chủ trương phù hợp sự thực, một mặt nêu ra và thuyết minh những điều khoa học không biết đến hoặc chưa biết đến: những điều này, tuy còn ở trong phạm vi lý tưởng nhưng có thể là đối tượng sau này của khoa học thực nghiệm. Và cũng vì mang sứ mạng khảo sát tín ngưỡng và hướng dẫn phát minh, triết học được xem như là một động cơ xúc tiến cho sự gạn lọc của tôn giáo và sự tiến bộ của khoa học. Đạo Phật không phải là một tôn giáo theo nghĩa những chân lý thần khải không thể kiểm điểm mà chỉ có thể tiếp nhận bằng đức tin. Đạo Phật trước hết là những phương tiện chỉ dẫn thực nghiệm tâm linh để khám phá thực tại. Kinh sách có giá trị như những đồ biểu hướng dẫn và phương pháp thiền quán có giá trị như một con tàu để đưa người hành giả tới bến bờ hiểu biết và để thực hiện sự hiểu biết ấy trong sự sống bản thân và sự sống xã hội. Chữ budh có nghĩa là hiểu biết do đó có chữ buddha, người hiểu biết, và sau này chữ buddhism, con đường của sự hiểu biết. Hiểu biết ở đây không phải là cái hiểu biết sách và kinh điển mà là bản thân của chính thực tại hiện rõ dưới khả năng trí tuệ bát nhã (prajna) chỉ có thể đạt đến do công phu tu tập thiền quán. Người Phật tử không khởi hành bằng một mớ vốn liếng kiến thức siêu hình không có nền tảng thực nghiệm, mà bằng những nhận thức được thực nghiệm bảo đảm. Người Phật tử không bắt đầu bằng một đức tin có tính cách may rủi mà bằng một sự cân nhắc cẩn thận những nguyên lý và những phương pháp do đạo Phật đề nghị. Đạo Phật mời con người thí nghiệm những phương pháp của nó: điều này chứng tỏ đạo Phật khác hẳn các tôn giáo mà trong đó ý niệm về "theo thử" được xem như là bất tín và phạm thượng. Theo nguyên tắc đạo Phật, một cá nhân nào đó khi muốn bứơc vào con đường thực nghiệm, phải khảo sát những nhận thức mà đạo Phật xem như là căn bản, rồi khi đã chấp nhận những nhận thức ấy thì kiểm điểm lại nguyên tắc thực hành rút ra từ những nhận thức kia. Khi đã kiểm nhận kỹ lưỡng rồi, cá nhân ấy mới bên bước vào con đường thực nghiệm với thái độ cương quyết nhưng hết sức tỉnh táo, khách quan. Nếu sự thực nghiệm không mang lại kết quả thì phải bắt đầu trở lại, và nếu quả thực phương thức đề nghị không thích hợp thì phải bỏ đi để chọn một phương thức khác. Tuy nhiên không phải người Phật tử nào cũng đi được con đường đó. Có những người mà vì căn cơ yếu đuối hơn nên phải chọn một trong những con đường thi thiết của đạo Phật; chữ thi thiết đây có nghĩa là những phương tiện thích hợp với căn tính của những người không đủ sức một mình một ngựa xông pha trên đường thực nghiệm. Và cũng vì vậy trong tám vạn bốn ngàn nẻo vào chân lý, có những nẻo để dành cho đức Tin. Giáo lý Tịnh độ chẳng hạn, là một giáo lý căn cứ trên đức Tin và thích hợp với một số người không phải nhỏ. Và số người nhờ cửa ngõ Tịnh độ để bước lên ngưỡng cửa Thiền cũng không phải là không đáng kể. Tuy nhiên vì đạo Phật luôn luôn chú trọng thực nghiệm và lý trí nên đức Tin của người Phật tử không phải là một đức tin vô điều kiện. Theo sự tiến hóa của tâm linh, đối tượng của niềm tin càng ngày càng thay đổi, biến chuyển để đi đến sáng tỏ. Và khi đối tượng của tin tưởng trở thành sáng tỏ thì chủ thể tin tưởng cũng đã trở nên vững chãi và sáng tỏ lắm rồi. Tin ở đây là một quá trình tiến bộ. Đạo Phật không phải là một nền triết học, bởi vì đạo Phật không có ý định miêu tả và giải thích thực tại bằng những hệ thống tư tưởng dựa trên căn bản suy luận và khái niệm. Đạo Phật cho rằng trên một căn bản như thế, công việc miêu tả và giải thích thực tại là một công việc không thể thực hiện được: chỉ có thể bằng thực nghiệm tâm linh, diệt trừ cố chấp, vô minh và phát triển trí tuệ bát nhã thì còn người mới trực nhận được chân lý của thực tại. Tuy nhiên, nhận định sự cấn thiết của những đồ án hướng dẫn công cuộc thực hiện trí tuệ bát nhã, đạo Phật thi thiết những giáo lý mới nhìn qua thì in tuồng như là những giải quyết có tính cách triết học nhưng kỳ thực chỉ là những phương tiện hướng dẫn, những bản đồ, những "ngón tay chỉ mặt trăng." Đạo Phật không phải là một khoa học vì đạo Phật không sử dụng cùng những khí cụ của khoa học để đi đến một cái nhìn có tính cách phân tích chi li về sự vật. Nhưng trên con đường thực nghiệm tâm linh, đạo Phật có tinh thần vô tư và tôn trọng thực nghiệm như khoa học. Khí cụ của Phật học là khả năng phản tỉnh, tham thiền, trực nhận thực tại. Nói tóm lại đạo Phật không phải là tôn giáo, không phải là triết học, không phải là khoa học nhưng trong đạo Phật ta có thể tìm thấy cả các yếu tôn giáo, triết học và khoa học. Ngoài các yếu tố đó còn có những tính chất đặc biệt của Phật học không tìm thấy trong tôn giáo, triết học và khoa học. Nói đến thực nghiệm tâm linh là nói đến nền tảng căn bản của đạo Phật. Bởi vì đạo Phật cho rằng thiếu sự tiếp xúc của con người và những nguyên lý mầu nhiệm của thực tại thì mọi hình thái của sự sống phải mang tính cách khổ đau và tàn tạ (dukkha). Thế cho nên ở thời nào thiếu chứng ngộ thiếu sự khám phá thì ở thời ấy giáo pháp suy mạt, và sự sống nghèo khổ. Nơi những con người đạt đạo, sức sống tràn trề rạt rào và thấm nhuần trong mọi sinh hoạt xã hội. Ở nơi người đạt đạo, tỏa chiếu nghệ thuật linh động của sự sống, nghệ thuật ấy soi sáng cho đường lối nhân sinh của địa phương và thời đại. Mọi sinh hoạt xã hội cần được xây dựng trên cái nhìn bao quát và khế hợp căn cơ của người đạt đạo. Cho nên đạo Phật không những chỉ là thực nghiệm tâm linh mà lại còn là sự thể hiện trên cuộc sống những nguyên lý linh động đạt tới do công trình khám phá thực tại của những thực nghiệm ấy. Những ai không có đủ điều kiện để làm nhà đạt đạo thì vẫn có diễm phúc được thừa hưởng những khám phá của nhà đạt đạo. Nhìn vào đời sống của người đạt đạo và ánh sáng chân lý tỏa rạng nơi cuộc đời ấy, mọi người biết rằng họ có thể đặt niềm tin nơi những khám phá kia và cùng nhau xây dựng nếp sinh hoạt của địa phương và thời đại họ theo sự hướng dẫn của ý thức đạo đức sống động ấy. Như thế ta thấy có hai hạng người theo đạo Phật: hạng thứ nhất, rất ít, gồm những người tự dấn thân vào con đường khám phá, và hạng thứ hai rất đông, thừa hưởng những khám phá ấy để xây dựng sự sống. Ta cũng nên nhớ rằng sự khám phá phải được liên tục thực hiện bởi vì thực tại thì linh động và xã hội thì luôn luôn biến chuyển: những khám phá cũ có khi không còn thích hợp với xã hội mới. Đức tin của con người nơi sự khám phá của những người đạt đạo - trong đó có đức Phật - tuy cũng là đức tin nhưng quả thật không giống với đức tin có tính cách rủi may của rất nhiều tôn giáo khác. Nó được hình thành bởi nhận xét ít nhiều có tính cách thực nghiệm, và trong đó yếu tố lý trí đóng một vai trò quan trọng. Để hiểu rõ thêm về bản chất của đức tin trong đạo Phật, ta nên đọc lại đoạn này trong kinh Kalama. Một hôm, các vị hoàng tử xứ Kalama đến bạch Phật: "Thưa Ngài, trong khi các vị đệ tử dòng họ Thích cho rằng giáo lý của Phật là đúng. Vậy thì các nhà truyền giáo khác cũng cho rằng giáo lý của họ là đúng. Vậy chúng tôi biết nghe ai ?." Phật trả lời: "Này các hoàng tử Kalama, đừng vội công nhận một điều gì dù điều đó là điều người ta hay nói. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều ấy phù hợp với nội giáo. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều đó mình rất ưa thích. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều đó phù hợp với chủ trương của mình. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều ấy do một người có uy tín nói ra. Đừng vội công nhận một điều gì dù điều ấy được nhiều người đáng kính trọng tuyên bố." "Này các hoàng tử Kalama, khi nào các ông nhận biết bằng lý trí các ông rằng một cái gì đó là bất thiện, là đang chê trách, là bị kẻ thức giả phủ nhận, và nếu đem cái ấy ra mà công nhận và thực hành theo thì sẽ mua lấy đau khổ và tan nát thì các ông hãy bác bỏ nó đi." "Và khi nào các ông nhận biết rằng lý trí các ông rằng một cái gì đó là thiện, là Ðức Phật Là Bậc Thầy Các Nhà Khoa Học Phật (Buddha) là một từ ngữ để chỉ người giác ngộ viên mãn. Ðức Thích Ca Mâu Ni (Sàkyãmuni) là người đã giác ngộ, nên chúng ta gọi Ngài là Phật. Giác ngộ là thấy biết mọi chân lý về vũ trụ và nhân sinh. Từ chỗ giác ngộ này, đức Phật chỉ dạy các môn đồ còn ghi chép lại thành Tạng kinh. Trong tạng kinh chứa đầy dẫy những chân lý, dù trải qua hơn 25 thế kỷ vẫn còn giá trị nguyên vẹn, không do thời gian làm suy giảm. Ngày nay chúng ta nghiên cứu Tạng kinh thật chín chắn, càng phát hiện những chân lý ấy gần gũi và thích hợp với khoa học một cách không ngờ. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ giới thiệu tổng quát vài nét cương yếu để đọc giả suy ngẫm. Về vũ trụ - Ðức Phật ra đời trên sáu thế kỷ trước công nguyên, còn các nhà khoa học được biết đến, mới có từ thế kỷ thứ 18 sau công nguyên. Thế mà ở thời kỳ ấy, đức Phật nhìn trong vũ trụ thấy thế giới không thể kể hết, nên trong kinh thuộc Hán tạng có những câu "Hằng hà sa số thế giới", nghĩa là thế giới nhiều như cát sông Hằng (Ganges), hoặc câu "vi trần sát" nghĩa là cõi nước (sát) nhiều như nhũng hạt vi trần. Ðến nay các nhà thiên văn học nhờ viễn vọng kính nhìn thấy trong bầu hư không có không biết cơ man là thế giới. Vô số ngôi sao lấp lánh hiện trên nền trời trong lúc ban đêm, mà mắt chúng ta nhìn thấy được; là những hành tinh (thế giới), còn không biết có bao nhiêu hành tinh khác quá xa mắt không thể nhìn thấy được. Chính đây là bằng chứng cụ thể, nhờ khoa học giúp chúng ta hiểu được lời Phật dậy cách đây trên 25 thế kỷ: Lại nữa, có lần Ðức Phật cùng các thầy tỳ kheo đi vào rừng, nhìn thấy những lá rơi lả tả và những lá vàng uá sắp về cành, đồng thời có nhũng chòi non vừa nẩy lộc và những mầm vừa nhú khỏi vỏ cây, Ngài dạy các Tỳ Kheo: Thế giới đang hoại, sắp hoại và đang thành cũng như lá cây trong rừng đang rụng, sắp rụng và đang nẩy chồi, sắp nẩy chồi".Vì thế, đức Phật thường dạy thế giới có bốn thời :Thành, trụ, hoại, không." Ngày nay các nhà khoa học cũng thừa nhận thế giới phải trải qua bốn thời kỳ như thế. Ðây là cái nhìn thích hợp giữa Phật học và khoa học mà cách cách nhau thời gian qúa xa. Về vạn vật - Vạn vật sinh thành và hoại diệt trên đời, dưới con mắt trí tuệ của đức Phật đều do "duyên khởi". Duyên khởi là nhân duyên sinh khởi, không có một vật nào hình thành mà không do các duyên nhóm họp. Nếu nói sự vật ngẫu nhiên tự thành, hoặc có bàn tay mầu nhiệm nào tạo dựng đều không đúng sự thật. Ðức Phật xác nhận vạn vật do nhân duyên tụ họp thì thành, nhân duyên ly tán thì hoại. Sự thành hoại cuả vạn vật đều do duyên, là chỗ thấy như thật của đức Phật. Bởi thế trong kinh Phật thường dạy "Các pháp do duyên khởi, không có thực thể, các pháp do duyên khởi, không có cố định". Không có thực thể là thuyết "vô ngã". Không có cố định là thuyết "vô thường", mà trong kinh thường nói "chư hành vô thường, chư pháp vô ngã". Không khi nào có một nhân đơn thuần thành hình một vật, cũng không khi nào có sự bất ngờ sinh ra một vật, mà phải đủ duyên mới thành. Vì vậy đức Phật không chấp nhận thuyết "nhất nhân" và thuyết "vô nhân". Với sự thực này, ngày nay khoa học đã làm sáng tỏ, chúng ta không còn gì phải nghi ngại. Hơn nữa, trước mắt chúng ta thấy vô vàn sự vật, nếu đem ra phân tích đều do nhân duyên hợp thành, không có vật nào tự thành hay do một cái gì đó làm thành. Sự thật hiển nhiên này càng làm sáng tỏ lời đức Phật dạy. Chúng ta thấy rõ Phật học và khoa học tuy thời gian cách xa mà không có giới tuyến ngăn cách. Về con người - Khi Phật còn tại thế, Ngài nhìn trong bát nước thấy vô số vi trùng, trong kinh Hán tạng có câu "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng" Nghĩa là Phật nhìn trong bát nước thấy tám muôn ngàn (84000) vi trùng. Ngày nay nhờ kính hiển vi, các nhà khoa học thấy trong nước có nhiều vi trùng. Lại nữa, Phật nhìn thấy trong thân người thấy vô số vi trùng, trong Hán tạng có câu "nhơn thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú" Nghĩa là trong thân người có vô số vi trùng đang trú ẩn bên trong. Ðiều này ngày nay chúng ta chỉ cần có chút ít kiến thức khoa học là không còn nghi ngờ gì nữa. Nghiệp lực - Nếu không có một đấng nào an bày, muôn vật làm sao được sanh thành, hoại diệt và sinh hoạt trong một trật tự nhất định? Nhà Phật nói "do sức nghiệp thúc đẩy và thu hút mọi vật hình thành, khi mãn nghiệp thì hoại diệt. Cũng như do động lực của nghiệp nên mọi vật sinh hoạt trong một trật tự nhất định" Nghiệp là động lực lôi cuốn các duyên tụ họp lại thành hình sự vật; khi sức nghiệp mãn các duyên ly tán thì sự vật hoại diệt. Nghiệp có khả năng cuốn hút sự vật quay cuồng trong quĩ đạo nhất định. Ngày nay các nhà khoa học đã nói do sức quay và sức hút của mọi vật trong vũ trụ, các hành tinh trong bầu vũ trụ hoặc lớn hoặc nhỏ đều quay cuồng trong hư không và trong một quỹ đạo nhất định. Cho đến nhỏ như một hạt nguyên tử cũng quay cuồng và xoắn chặt vào nhau mà thành hình muôn vật. Ðộng lực quay và hút này do nghiệp lực tạo nên. Nghiệp là đông lực lôi cuốn theo thói quen, đồng thời cảm ứng với vật khác đồng tính nên bị thu hút. Do nghiệp chi phối nên con người và muôn vật trên thế gian được thành hình và sinh hoạt trong một phạm vi nhất định nào đó, khi sức nghiệp mãn con người và muôn vật theo đó hoại diệt. Song nghiệp có thể chuyển đổi được, không phải cứng nhắc cố định, vì nó là động lực. Tuy nhiên thuyết nghiệp báo luân hồi đã có trước thời đức Phật, xuất phát từ các kinh Phệ Ðà (Véda); song với tinh thần tôn trọng chân lý, đức Phật xét thấy đúng sự thật liền ứng dụng đem dậy đệ tử tu hành. Trong đó, đức Phật có sửa đổi những phần lệch lạc theo quan niệm Bà la Môn giáo để lý thuyết này được hoàn chỉnh hơn. Vì vậy, ngày nay mọi người đều thừa nhận thuyết nghiệp báo luân hồi là của đạo Phật. Ðạo Phật đặt trọng tâm ở con người - Chỗ thấy biết của đức Phật đúng sự thật, hợp chân lý, nên trải qua thời gian dài mà không sai chạy hay lạc hậu. Ðức Phật không dùng cái thấy biết tuyệt vời ấy để phân tích ngoại cảnh, sử dụng ngoại cảnh phục vụ con người. Ngài chỉ dùng cái thấy ấy biết ấy để soi sáng thẳng vào con người, để thấy biết con người tường tận từ thể xác lẫn tinh thần. Biết rõ con người rồi, đức Phật dạy cách sống đúng tư cách con người, đồng thời chuyển hoá thân tâm đẻ được an lạc trong hiện tại và mãi sau kia. Có lần đức Phật cùng các thầy Tỳ kheo đi vào rừng Simma, Ngài dùng tay nắm một nắm lá cây đưa lên hỏi các thầy Tỳ kheo" "Lá cây trong tay ta nhiều hay lá lá cây trong từng nhiều?" Các thầy Tỳ kheo thưa :"Lá cây trong tay Thế Tôn rất ít so với lá cây trong rừng" Ðức Phật dạy "Cũng thế, cho ta thấy biết nhiều như lá cây trong rừng, những điều ta dạy các ông ít như lá cây trong nắm tay ta" Ðiều này khiến chúng ta thấy rõ, dù việc ấy đúng sự thật mà không cần thiết cho sự đào tạo xây dựng con người được an vui hạnh phúc hiện tại và mai sau, Phật vẫn không đem ra chỉ dạy. Phật chỉ dạy những điều cấp thiết để giải quyết mọi khổ đau cho kiếp sống con người. Vì tuổi thọ con người quá ngắn (60--70 năm) không đủ thì giờ để học hiểu hết mọi điều trên thế gian này. Phần hệ trọng nhất nơi con người là tinh thần. Tinh thần sai sử thể xác tạo thành nghiệp lành nghiệp dữ, cảm thọ quả khổ, vui ở hiện tại và vị lai. Cho nên bao nhiêu lời khuyên răn của Phật đều đặt nặng sự chuyển hoá nội tâm của con người. Con người nội tâm được trong sáng thì đời sống hiện tại đầy đủ ý nghĩa, sau khi kết thúc cuộc đời mọi sự sáng trong tươi đẹp đang sẵn sàng chờ chực. Ðây là trọng tâm cứu khổ chúng sinh của đức Phật Thích Ca, cũng là của đạo Phật. Ðạo Phật chủ trương giác ngộ, giải thoát, từ bi, bình đẳng - Ðức Phật do giác ngộ nên thành Phật, suốt đời giáo hoá của Ngài cũng lấy giác ngộ làm trọng tâm. Người tu Phật mà thiếu giác ngộ là không phải người đệ tử chân chính của đạo Phật. Khổ đau gốc từ vô minh, muốn hết khổ đau phải dứt sạch vô minh. Chỉ có ánh sáng giác ngộ mới dẹp tan được màn vô minh, ngoài giác ngộ ra không còn cách nào dẹp được vô minh. Như chỉ có ánh sáng mới dẹp được bóng tối, ngoài ánh sáng không có cái gì dẹp được bóng tối. Vô minh không tan thì đayu khổ làm sao hết được. Vì thế, phương pháp duy nhất để cứu khổ chúng sinh là giác ngộ. Ðây là nguyên nhân đạo Phật lấy giác ngộ làm chủ yếu. Nhờ giác ngộ con người mới giản trạch được điều chân lẽ ngụy, thấy rõ cái gì trói buộc, cái gì tự d, nên chọn được lối sống thích ứng lẽ thật, phù hợp với tinh thần tự do. Tự do đây không có nghĩa đòi hỏi bên ngoài, nơi kẻ khác mà tụ chiến thắng những dục vọng đê hèn của mình, hàng phục được vọng tưởng điên đảo của nội tâm. Ðúng với câu đức Phật dạy: Thắng một vạn quân không bằng thắng mình, thắng mình mới là chiến công oanh liệt". Tinh thần tự do của đạo Phật là làm chủ toàn vẹn thể xác lẫn tinh thần của chính mình. Ðó là tự do tuyệt đối, cũng là giải thoát của Phật dạy. Ðem vui và giải khổ cho chúng sanh là lòng từ bi của đạo Phật. Muốn cho mọi người hết khổ được vui, tu sĩ Phật Giáo lúc nào cũng đưa cao ngọn đuốc chánh pháp cho mọi người mồi, để cùng thắp sáng trong căn nhà tăm tối muôn đời của mình. Bản thân mình, người tu sĩ phải chiến thắng phiền não để làm mẫu mực và chỉ dạy người dẹp trừ phiền não. Vô số khổ đau của chúng sanh đều phát xuất từ si mê và phiền não. Thiếu thốn vật chất là đau khổ đã đành, có khi thừa mứa vật chất người ta vẫn đau khổ như thường. Cho nên trí tuệ là hòn ngọc quý để đổi lấy của cải và sự nghiệp, trí tuệ là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta tránh khỏi lạc lối lầm đường. Dứt một phần phiền não, chúng ta được một phần an lạc, hoàn toàn sạch phiền não thì còn gì làm phiền lụy chúng ta. Sau khi mở sáng con mắt trí tuệ và dứt sạch phiền não, con người mới được an vui tự tại đầy đủ. Người tu sĩ Phật giáo tha thiết cứu khổ chúng sanh bằng cách tận lực chỉ dạy cho mọi người được trí tuệ và tự do. Phật giáo chỉ nhìn chúng sanh đều bình đẳng trong bản tánh, chỉ có sai khác trên nghiệp tướng. Nghiệp tướng là cái sinh diệt biến động, bản tánh chưa bao giờ sinh diệt đổi thay. Cái sanh diệt biến động là tạm bợ, đã tạm bợ dù sai khác thế mấy cũng không quan trọng. Chính cái quan trọng là bản tánh thường hằng của chúng sanh. Cho nên đức Phật thường dạy "Tất cả chúng sanh đều có tánh Phật", đó là lối nhìn bình đẳng của Phật giáo. Thấy thấu suốt được lẽ này, chúng ta sẽ dứt được tâm tự cao ngã mạn và không còn dám khinh thường một ai. Ðây là nền tảng đạo đức chân thật, nên Bồ tát Thường Bất Khinh thấy ai cũng nói "Tôi không dám khinh các ngài, các ngài sẽ thành Phật". Ðã sẵn có tánh Phật thì người nào tu mà chẳng được, chỉ do chưa thức tỉnh và lười nhác mà thôi. Do cái nhìn thấu suốt này, người tu theo đạo Phật không bai giờ có tâm kỳ thị với bất cứ nhóm nào, cũng không có tâm khinh khi miệt thị ai. Ðạo Phật lấy giác ngộ làm gốc rễ, lấy giải thoát làm hoa trái, lấy từ bi và bình đẳng làm nhựa sống. Bốn yếu tố này rất thiết thân với nhân loại văn minh. Bất cứ nền văn minh chân chính nào đòi hỏi con người phải có đủ trí tuệ sáng suốt, thong thả tự do, tình thương làm vơi cạn đau khổ cho con người, bình đẳng không chấp nhận giai cấp, không kỳ thị tôn giáo, chủng tộc, màu da. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này, dù nói văn minh vẫn chưa thực sự văn minh. Ðứng từ góc độ này mà nhìn, chúng ta thấy đức Phật đã quả thực đi trước các nhà BÀI HỌC TỪ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT. Cuộc đời của đức Phật rất vĩ đại, vô vàn những điều hay, chúng ta không tài nào học hết được. Lý do đầu tiên là mình không thể biết hết để học. Chưa có ai dám tự nhận mình là người biết hết những điều hay của đức Phật. Chúng ta chỉ nhận biết được phần nào thôi cho nên khó học hết. Một lý do nữa là những điều được nghe, được học, được hiểu, nhưng chúng ta không dễ hiểu hết thâm ý đức Phật muốn chỉ trong đó. Và điều thứ ba, thí dụ như quý vị đang ở Đà Nẵng, làm công việc ồn ào, chưa bao giờ ra cảnh núi rừng thanh vắng như thế này thì chúng ta không thể nào hình dung ra hay cảm nhận được cảm giác thanh tịnh giống như mấy hôm mình đã ở lại đây. Chỉ có ai ra đến đây rồi thì mới cảm nhận hết được. Cũng thế, nếu chưa ở trong cảnh giới của Phật thì chúng ta sẽ không thể thấy hết để học theo. Chỉ có Phật mới biết đến cảnh giới Phật. Nếu chưa như thế thì không dễ hiểu thấu hết thâm ý của Phật, cho nên khó học hết những điều hay từ đức Phật. Chừng nào chưa thành Phật, ngày đó chúng ta chưa thể học hết những bài học từ cuộc đời đức Phật muốn dạy mình. Mới biết, bài học từ cuộc đời đức Phật rất lớn lao. Cho nên hôm nay trong phạm vi hạn hẹp, chúng ta chỉ học những bài học gần gũi, bình dị, vừa sức chúng ta có thể hiểu biết, cảm nhận và ứng dụng được. 1. Duy ngã độc tôn. Có lẽ phần đông quý vị có hiểu biết về lịch sử cuộc đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho nên quý Thầy không nhắc lại. Chỉ ôn sơ qua một vài điểm để chúng ta học theo thôi. Ngài là một vị thái tử tên Tất-đạt-đa, hay còn gọi là Sĩ-đạt-ta, có nghĩa là “người được toại nguyện”. Vì qua bao nhiêu mong mỏi, vua Tịnh Phạn mới có được một vị thái tử duy nhất, Vua rất quý cho nên nhân đó đặt tên. Vừa mới ra đời, Thái tử đi trên bảy hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, nói: Thiên thượng, thiên hạ, Duy ngã độc tôn. Nhất thiết thế gian, Sanh, lão, bệnh, tử. Nghĩa là “Trên trời, dưới trời, chỉ ta là hơn hết. Tất cả thế gian đều bị chi phối bởi sanh, già, bệnh và chết”. “Chỉ ta hơn hết”, chữ TA không phải là cái ngã thể sanh diệt, không phải là cái thân tứ đại này, mà chữ TA ở đây là trí giác, là Phật tâm, là sự giác ngộ. Khi vừa ra đời, điều đầu tiên Ngài tuyên bố cho mọi người biết, trên trời, dưới trời, chỉ có con người giác ngộ, chỉ có sự giác ngộ là trên hết. Ngoài ra, tất cả những thứ khác chỉ thuộc về sanh, già, bệnh, chết, tức là chỉ thuộc về vô thường, biến hoại, không thật, không có gì đáng trân quý. Cụ thể hơn, lìa sự giác ngộ thì làm gì cũng rơi vào vô thường, biến hoại, huyễn hóa. Có lần, quý Thầy gặp một anh nọ bảo rằng: “Sanh ra trên đời, ai cũng có một lý tưởng riêng và lý tưởng nào cũng tốt.” Tất cả chúng ta đều có lý tưởng riêng và mỗi lý tưởng đều có mặt tốt của nó. Nhưng nếu nói tất cả đều tốt thì có vẻ chung chung nên quý Thầy chưa hài lòng lắm. Chúng ta cần phải trắc nghiệm, kiểm tra lại lý tưởng sống của mình để không bị nhầm. Cụ thể mỗi một chúng ta đều có quyền chọn cho mình một lý tưởng sống và hằng ngày chúng ta đang sống với lý tưởng đó. Nhưng lý tưởng đó nó có đủ lớn để bảo kê cho cuộc đời mình hay không? Điều này quý vị có thể kiểm nghiệm qua ba trường hợp: 1/ Khi gặp một điều vui, trong lòng quý vị có được vẫn bình thường như không có chuyện gì xảy ra hay không? Nếu vẫn bình thường thì lý tưởng sống nó mới đủ lớn để bảo kê cho mình được. Bởi lẽ khi vui quá là không bình thường, là động tâm. Mà tâm động thì chúng ta sẽ yếu. Tâm yếu thì dễ bị chi phối, không tự chủ, đưa đến khổ đau. Còn đưa đến khổ đau thì lý tưởng ấy chưa bảo vệ cho mình được. Ví dụ chúng ta đang hào hứng, hăng say với một công việc nào đó mình cho là quan trọng, là hay. Bỗng dưng có ai đó phản bác, chặn lại, làm ngược đi với những ý tưởng của mình, chúng ta sẽ bất mãn, bực bội, bỏ cuộc. Ngược lại, cũng một công việc đó, nhưng mình làm trong an tỉnh. Nhỡ có ai đó chặn lại, chúng ta sẽ bình tỉnh, tìm cách thuyết phục, vượt qua, phương án ấy sẽ được khả thi, đưa đến thành công tốt đẹp. Như vậy, hào hứng, hăng say nó chỉ được một chiều. Nhưng vì là tướng động nên làm cho mình yếu, không đủ sức để vượt qua chướng ngại. An tỉnh mới đủ sức vượt qua những thử thách rào cản trong cuộc sống. Cũng thế, gặp cảnh vui mà chúng ta vui được thì đó là động tâm. Lâu ngày tâm động này thành thói quen, thành sức mạnh cho nên khi gặp cảnh khổ chúng ta cũng không tự chủ được và cũng sẽ khổ não. Bởi vậy khi gặp cảnh vui mà chúng ta động tâm vui được thì khi buồn chúng ta cũng sẽ động tâm và buồn được, các khổ từ đó có ra. Nếu người sống với một lý tưởng nào đó mà khi gặp chuyện vui họ vẫn bình thường, vui một cách nhẹ nhàng, lặng lẽ, tâm mình không động. Chính năng lực không động này cho ta một sức giác rất lớn, các khổ não không còn giá trị, chúng ta luôn được an vui. Chính lý tưởng giác ngộ đó sẽ đủ tư cách chuẩn xác, bảo kê cho đời mình không bị khổ. 2/ Thứ hai, lý tưởng chúng ta sống làm sao phải đủ sức, khi gặp cảnh khổ, chúng ta vẫn bình thường không khổ, hay ít khổ, không khổ nhiều đến nỗi quá sức chịu đựng. Được vậy, lý tưởng ấy mới có lợi ích, mới đủ tư cách bảo kê cho mình được. Ví dụ sáng sớm thức dậy gặp chuyện không như ý. Lên công sở thì gặp việc bực bội. Một lúc sau lại gặp chuyện không vui, rồi những chuyện vớ vẩn đâu đâu nó lại ùa đến làm mình khó chịu. Một lúc mình bị đụng một chút, cho đến chiều thì chúng ta sẽ bị căng thẳng, bức rức, yếu mỏi vô cùng. Khi mỏi mệt thì tâm mình càng trở nên suy yếu, càng gia tăng sự căng thẳng và bực bội. Càng căng thẳng, bực bội thì lại tâm mình lại càng bị suy yếu đi. Cứ như thế nỗi bực bội mỗi lúc một lớn và đưa đến khổ đau. Nếu vừa có một niệm khó chịu, chúng ta chấn chỉnh ngay thì tâm mình sẽ trở lại trạng thái an ổn ban đầu, điều khó chịu thứ hai, thứ ba không có chỗ tiếp nối, chúng ta được an tịnh. Như vậy không ai, không điều gì có thể làm cho mình khổ đau được. Ngay một niệm đầu đó chúng ta soi lại, hóa giải thì tâm mình trở nên an tĩnh, sức giác từ đó có ra. Theo thời gian sức giác ngộ này lớn mạnh, các khổ tự nhiên được tiêu trừ, chúng ta được an vui mãi mãi. Cho thấy, chính sức giác ngộ này là một lý tưởng đủ lớn để bảo vệ cho mình an vui miên viễn được. 3/ Và tiêu chí cuối cùng là lý tưởng sống suốt cả đời đó làm sao để khi chúng ta nhắm mắt lìa đời, mình cảm thấy bình thường, ổn định, không có gì xao xuyến, lo âu, hoang mang hay sợ hãi... Nói như thế không phải sống để chờ chết, để phục vụ cho cái chết. Nhưng vì chết là một điều ai cũng cảm thấy lớn lao và sợ sệt, cho nên đem nó ra để đo lường với lý tưởng của mình xem, lý tưởng ấy đã đủ lớn để làm chủ được sự sống chết hay chưa. Với sự giác ngộ, chư Phật, chư vị Tổ sư, các vị tiền bối đã minh chứng hùng hồn cho một sự ra đi an nhiên, tự tại. Mới thấy, sức giác ngộ lớn lao đến dường nào! Nếu một lý tưởng ổn định, đủ lớn để bảo kê được ba tiêu chí trên thì quý vị đã chọn được cho mình một lý tưởng đúng, chuẩn xác. Ngược lại, nếu chọn một lối sống mà khi gặp ba sự việc trên, chúng ta còn bị nó chi phối thì lý tưởng kia không bảo kê được cho mình. Đó là chúng ta đã chọn một lối sống không thiết thực có lợi, là một lý tưởng chưa được xác đáng. Khi người con muốn xin một điều gì đó ở bố mẹ, chúng thường nhìn nét mặt, ánh mắt bố mẹ hôm đó được vui không. Nếu đang vui thì biết lòng đang an ổn, sẽ sẵn sàng cho. Một buổi sáng thức dậy với một tâm thái an ổn, nhẹ nhàng thì mọi việc hanh thông. Sự việc có đến như thế nào mình cũng cảm thấy bình thường và giải quyết rất trôi chảy. Ngược lại, bằng một tâm thái không ổn định, bấn loạn, bực bội thì gặp điều gì cũng dễ bực, làm gì hỏng đấy. Mới thấy tâm thái lặng lẽ ấy cần thiết cho cuộc sống của chúng ta như thế nào. Giác ngộ là tâm thái tự lắng sáng một cách tuyệt đối. Người luôn sống bằng tâm giác sáng, lặng lẽ, không động đó là người giác ngộ. Người ấy sẽ có một nguồn an lạc vô biên. Sống bằng tâm giác đó thì nó đủ lớn để tất cả cảnh trở nên bình thường, không còn đủ sức chi phối con người giác ngộ ấy. Mới thấy, sự giác ngộ là trên hết. Đó là tinh thần đức Phật đã nói: “Duy ngã độc tôn.” 1/ Với cảnh vui: Nếu hằng ngày, ở mọi hành động quý vị luôn luôn sống bằng tâm phẳng lặng, giác sáng, không manh động quá. Lâu ngày tập thành thói quen, tự nó sẽ tạo thành một nguồn năng lượng vô hình, tạo nên sức mạnh cần thiết. Khi gặp cảnh vui, chúng ta cũng không dễ động. Ngay khi không động thì người mình vững vàng, sáng suốt, tỉnh tại, lạc an, tươi vui. Từ đó nhìn cái gì cũng tươi mát, tâm mình rộng hơn, nhìn ai cũng bằng tâm cởi mở, dễ cho ra hơn... Điều đó đã minh chứng được một lý tưởng sống đã phục vụ tốt cho mình và người, là một lý tưởng đúng nghĩa. 2/ Với cảnh khổ: Cũng sống bằng tâm phẳng lặng, giác sáng, an lạc vô biên đó. Khi gặp cảnh khổ, cảnh trái ý nghịch lòng, tất cả cảnh ấy không đủ lớn để làm cho chúng ta khổ được. Vậy là sự giác ngộ đã bảo kê được cho mình rồi. 3/ Với cái chết: Trong bất cứ trường hợp nào, ở bất cứ nơi đâu, chúng ta luôn luôn sống bằng tâm lặng lẽ, giác sáng, an vui suốt cả một đời như vậy. Cho đến khi sắp nhắm mắt lìa đời, sức sống ấy rất lớn, bỗng dưng chúng ta cảm thấy chuyện sống chết rất bình thường, cái chết không còn đủ sức chi phối chúng ta nữa. Thật sự an nhiên, tĩnh tại. Nếu sức huân hằng ngày còn ít, chưa đủ mức để được như thế thì lực ấy cũng khiến chúng ta cảm thấy tỉnh sáng, an ổn. Thấy thân này không phải thật là mình, cảnh này không phải cố định của mình, cuộc sống chỉ là một khoảng gá mượn để thực hành việc giác ngộ... Khi đó tâm mình tự lặng an, sáng suốt, biết hướng đi. Mới thấy, chính sự giác ngộ đã bảo kê cho chúng ta được an ổn khi sắp lìa đời. Đảm bảo được ba điều kiện đó thì mới đúng nghĩa một lý tưởng, một điều mà ai trong đời cũng thấy cần phải hướng đến. Sống được như vậy là sức sống của một người giác ngộ. Sức sống giác ngộ ấy có giá trị vô biên cho mình và mọi người cho nên sự giác ngộ là trên hết. Đức Phật đã nói, trên trời, dưới trời, cả cõi nước này, đối với tất cả mọi thứ, chỉ có sự giác ngộ là trên hết. Ngoài ra, không giác ngộ, rời tâm giác mà sống, mà làm thì tất cả chỉ là rơi vào sanh diệt, vô thường, không đưa đến một cuộc sống chắc chắn an lạc, an toàn, an vui tuyệt đối. Đó là điều rất trọng yếu, khi vừa ra đời đức Phật đã tuyên bố, đã nói cho chúng ta nhận biết trước để hướng đến. Đó là cái chính yếu, cái gốc. Nếu học được, nắm bắt và sống được ngay cái gốc này thì mọi việc đã được hoàn thành. Nếu chưa như thế thì đức Phật chỉ từng bước cho chúng ta nhận thấy. Khi lớn lên, ngài là người văn võ song toàn. Những lúc ra khỏi hoàng thành, chứng kiến bốn cảnh sanh, già, bệnh, chết, thái tử ý thức sâu sắc về lẽ vô thường, về nỗi khổ kiếp người nên đã phát chí hướng thượng, phát tâm xuất gia. 2. Sự sống là khổ. Một lần đi xem lễ hạ điền, thái tử ngồi dưới tán cây nhìn các nông dân cày ruộng. Khi cày đất lên, côn trùng bò lúc nhúc, chim chóc sà xuống gắp ăn. Thấy vậy, thái tử tư duy, thấm nghiệm, cảm nhận, thấy ra được một sự thật. Con này sống từ sự chết chóc đau đớn của con kia. Con này được một miếng ngon thì con kia phải mất mạng, phải đau đớn vô kể. Sự sống con này là cái chết của con kia, cho nên Ngài thấy sự sống quá là đau khổ. Cùng trước cảnh ấy, nếu chúng ta lăng xăng, lộn xộn, tâm thái đang loạn động thì khó thấy ra, khó thấm nghiệm và giác ngộ được như Ngài. Huống chi với một tâm quá thô tháo, không được hiền thiện, chính mình làm những việc ăn sống uống tươi thì làm sao, biết bao giờ mới có được cảm nhận đó! Bằng tâm tĩnh lặng, với tâm từ bi nên ngài thấy rõ và thương cho những con bị chết lẫn con sống. Ngài ý thức rằng, sự sống là khổ cho nên nói sanh là khổ. Ngày xưa, quan niệm ăn chay chưa có. Nhưng khi thấy cảnh con này ăn con kia thì thái tử đã thấy thương tâm, đã thấy là tạo khổ đau cho nhau rồi. Bây giờ tinh thần ăn chay đã được mọi người biết đến rất rộng rãi, nhiều người thích ăn chay. Thế nhưng vẫn có không ít người không chấp nhận việc ăn chay. Có người vẫn nói “vật dưỡng nhân”, con vật sanh ra để phục vụ mình, cho mình ăn chứ việc gì phải ăn chay. Cái nhìn như thế là chưa đồng cảm với mọi loài, là trái chiều với cái nhìn của thái tử xưa kia. Khi thấy con chim ăn côn trùng là thái đã thương tâm rồi. Chúng ta đi ăn tươi nuốt sống những con vật mà không hề biết đến sự đau đớn của nó, còn nói động vật dưỡng nhân, vậy là chúng ta khá ích kỷ, từ tâm của mình còn bị khuất lấp. Nếu thực sự con vật sinh ra để nuôi dưỡng chúng ta thì con gà, con heo... nó sẽ tự nguyện đến mời chúng ta làm thịt nó để ăn. Nhưng trên thực tế có con gà, con heo nào tự nguyện chạy tới nói, tôi sinh ra để phụng dưỡng con người, quý vị cứ giết tôi mà ăn đi, có con nào đến nói với chúng ta như vậy không? Hay quý vị bắt để làm thịt thì nó la thất thanh? Chúng ta rượt bắt thì nó hoảng sợ và chạy trốn? Sợ tức là sợ đau. Nó không sẵn sàng cho mình làm thịt, nhưng mình lại cưỡng bức giết nó để mình được ăn. Vậy là chúng ta bức ép nó chứ có con vật nào tự nguyện cho chúng ta giết đâu mà bảo là nó sinh ra để nuôi dưỡng mình! Nếu nói vật dưỡng nhân là đúng thì quý Thầy sẽ nói “nhân dưỡng hổ”, tức là con người sinh ra để con cọp nó ăn. Vậy có quý vị nào tình nguyện đến trước miệng hổ để nó có một bữa ngon miệng no nê không? Hay nghe nói đã sợ, thấy con cọp sổng chuồng đã lo chạy trốn bán mạng? Gặp cọp chúng ta hoảng sợ bỏ chạy như thế nào thì con gà, con heo, con vịt thấy chúng ta cầm cái dao, nó cũng hoảng sợ và bỏ chạy như thế. Tỉnh táo một chút, sáng suốt một chút, mạnh mẽ một chút để nhìn lại cho trung thực thì sẽ thấy, khi bị đâm mổ, mình bị đớn đau, sợ hãi như thế nào thì con vật nó cũng bị đớn đau, hốt hoảng như thế ấy. Chúng ta không nỡ vì mình mà để cho nó phải khổ đau, cho nên không nỡ giết nó. Nghĩ được như vậy thì lòng từ bi của mình được phát triển, cho nên ăn chay để tăng trưởng lòng từ bi là vậy. Ngoài ra, không giết chóc thì không mắc nợ mạng sống, không bị bệnh hiểm nghèo, chết yểu hay đớn đau. Ngày trước chưa biết ăn chay, quý vị có thể giết heo, mổ trâu, làm gà, làm vịt... Đủ duyên đi chùa, ăn chay, sống đời hiền thiện, tu tập. Thời gian sau tình cờ thấy ai đó mổ gà thì mình cảm thấy khó chịu, không nhìn được. Nghe kể những chuyện đâm trâu giết bò, chúng ta cảm thấy ghê tởm, kinh khủng, khó chịu... Quý thầy khuyên không nên đập muỗi, giết kiến... như thế sẽ mắc nợ thân mạng sống của nó, bị quả báo không tốt. Tập lâu thành quen, một thời gian sau nhỡ có muỗi cắn, quý vị thấy thương nó, tội cho nó và không nỡ đập nó. Tương tự, nhỡ đạp một con kiến mình cũng cảm thấy bất nhẫn quá. Ngày trước còn ở Trúc Lâm Đà Lạt, khi đi làm công tác chung, quý Thầy kéo chiếc xe bò (xe cộ) vô tình cán vào cây thông con bên lề đường. Hòa Thượng Tôn sư nói “Sao mà mấy chú bất nhẫn như vậy. Cây thông đang sống như vậy mà không tránh ra, lại nhẫn tâm cán lên cho nó chết”. Hòa Thượng tôn sư thì thương đến cả cây thông con. Còn chúng ta có khi con người với nhau vẫn còn thương nhau không nổi. Như thế, lòng từ bi của mình lớn được bao nhiêu? Chỉ có tỉnh táo, soi xét lại thì chúng ta mới học hết hạnh giác ngộ của các Ngài. Đến một cây thông con Hòa thượng tôn sư cũng thấy tội nghiệp, không nở làm tổn thương nó. Ngày xưa có khi mình cũng giết gà, giết vịt. Nhưng tu tập thời gian thì chúng ta cảm thấy thương cho chúng sanh, không nỡ đập muỗi hay đụng đến con kiến. Mới thấy, khi yên tĩnh, ăn chay, tu tập thiện tâm lâu ngày thành quen rồi thì tự nhiên chúng ta không làm được những việc xấu ác. Đó là dấu hiệu cho thấy thiện căn của chúng ta đã được tăng trưởng. Thiện căn tăng trưởng thì chắc chắn chúng ta sẽ được đi trên con đường an lành, an ổn. Nếu không khéo tu tập thì ác pháp tăng trưởng, đưa đến con đường xấu ác và phải bị khổ não thôi. Nếu biết soi xét lại mình, khéo léo sửa đổi từ những hành vi nhỏ nhặt của mình, sự tu tập sẽ có hiệu quả rõ rệt. Một sự chiêm nghiệm nữa cũng dễ thấy lắm. Xưa kia mới lớn lên, chưa được học đạo, chưa biết ăn chay, chúng ta ăn mặn, có khi ăn cả những món máu me tươi sống. Nhưng khi biết học đạo, ăn chay lâu ngày rồi, hôm nào ai đó dọn cái chén ăn mặn mà rửa không sạch, chúng ta nghe mùi tanh thấy không dễ chịu chút nào. Lịch sự nín hơi để ăn cho hết bữa, nhưng và cơm vào miệng là tự nó muốn ói ra ngoài. Nghe giết súc vật, tự nhiên mình cảm thấy khó chịu. Nghe đến đồ mặn là đã cảm thấy rùng rợn. Nhưng nếu hồi còn ăn mặn, máu tanh tươi sống chúng ta cũng uống được nữa. Mới thấy, ăn chay sẽ làm cho tâm từ và căn lành của chúng ta tăng trưởng một cách rõ ràng. Tâm từ tăng trưởng, thiện pháp tăng trưởng thì chắc chắn chúng ta sẽ được an ổn. Sống được an ổn, vui tươi thì chết cũng sẽ được an vui. Đó là điều nghiễm nhiên, chắc chắn, thấy được, không nhọc ai phải cầu nguyện cho mình nữa. Rất rõ ràng! Mặt khác, có nhiều người cho rằng ăn chay sẽ suy dinh dưỡng, không thông minh. Ở Nhật, người ta nuôi hai con chó để thí nghiệm. Một con cho ăn chay từ nhỏ và con kia thì ăn mặn. Khi trưởng thành, người ta thả cho hai con đấu nhau. Ban đầu con ăn mặn rất hùng hổ. Nó vồ vập, dữ tợn. Ngược lại con ăn chay thì có vẻ điềm đạm, nhẹ nhàng. Khi cắn nhau một đỗi, con ăn mặn có vẻ đuối sức, gục ngã. Còn con ăn chay thì rất dẻo dai, bền bĩ và nó chiến thắng. Như vậy, khi chúng ta ăn chay, nhìn thấy người hiền từ, nhẹ nhàng thì người khác ngỡ là yếu đuối, nhưng thật chất rất bền bĩ. Còn ăn mặn thì thấy như là mạnh bạo, nhưng chỉ là thoáng chớp rồi vụt tắt thôi chứ không thực sự mạnh mẽ. Có lúc vì cái chất tanh hôi đó nó làm cho mình nổi hung khí, cảm thấy anh hùng lắm, dám cầm dao, cầm gậy, chửi mắng, đấu tranh,... Nhưng tới khi gặp chuyện buồn chút xíu thì xìu như cọng bún thiu, sống không nỗi. Như vậy gọi là anh hùng được sao! Dám mạnh mẽ với chiến thắng thì cũng phải dám mạnh mẽ trước những thất bại, dám mạnh mẽ chấp nhận những điều mình không ưa, dám mạnh mẽ đối diện với những nỗi buồn của lòng mình nữa thì mới xứng đáng được gọi là anh hùng chứ. Đằng này khi làm ăn lời được năm bảy chục triệu thì vênh váo, anh hùng, đắc thắng, như là mạnh mẽ lắm. Khi thất trận không còn đồng xu nào thì đi đâu cũng thở ra thở vô như muốn chết cho rồi, sống không nổi. Vậy mà gọi là anh hùng được sao! Có được một số tài sản kha khá thì thích sống theo kiểu đẳng cấp. Nhưng biểu vô bếp nấu cơm hoặc đi lau chùi nhà vệ sinh thì phản ứng, ngán ngẫm, bực bội, không làm được. Một sự việc nhỏ nhoi như vậy cũng đủ cản bước của chân của mình được thì chí khí anh hùng nằm ở chỗ nào? Mới thấy, sự vồ vập, động đậy, háo thắng, hung hãn không phải là cái mạnh. Có những người là người mẹ, là chị trong gia đình lúc nào cũng điềm đạm, nhẹ nhàng, khoan thai, vui vẻ, sẵn sàng sẻ chia, xem ra như là mềm yếu. Nhưng khi anh chàng con trai anh hùng cái thế bị thất trận, buồn bã trở về nhà thì lại tìm đến mẹ mình, chị mình để tâm sự, cần mẹ và chị vỗ về, sẻ chia. Mới thấy, sự điềm đạm, nhẹ nhàng là cái dẻo dai, cái chịu đựng tốt, chỗ an toàn, vững chãi để người khác nương về chứ không phải yếu đuối. Một người mạnh mẽ thực sự là khi gặp thuận cảnh hay nghịch cảnh, lúc chiến thắng hay thất bại họ đều bình thảng, nhẹ nhàng, tươi tỉnh. Như một con chó ăn chay, tuy nhẹ nhàng nhưng nó lại được chiến thắng. Mặc khác cũng cho chúng ta thấy ra một điều nữa, sức khỏe của người ăn chay không phải thô tháo, vồ vập nhưng rất bền bĩ, dẻo dai. Kế nữa, nếu nói người ăn chay không được thông minh bằng người ăn mặn, vậy thì quý vị nhìn lại thấy quý Thầy ở đây có ai ngu dại không. Có thể quý thầy không thông minh hơn ai, nhưng hiện tại mình thông minh hơn mình lúc chưa biết tu, lúc còn ăn cá thịt. Chúng ta không nên nghe theo một chiều lý thuyết suy luận chưa được kiểm chứng mà phải nhìn vào kết quả thực tiễn. Khi thấy con này ăn con kia, con này giết chết con kia để được sống, bằng tâm tĩnh lặng, tâm từ, thái tử thấy sự sống là đau khổ. Như vậy, con chết bị đau đớn, mất mạng nên khổ đã đành, nhưng con còn sống, con được ăn nó vẫn không thoát khỏi các khổ đau. Bởi lẽ khi bị cắn giết, con chết nó chưa sẵn sàng chết cho con kia ăn. Trong cơn đớn đau mất mạng, nó rất oán hận. Ôm lòng đớn đau, căm phẩn, oán hận mà chết thì kiếp sau nó sẽ tìm cách báo thù lại. Con được ăn kia rồi cũng sẽ phải đau khổ, chứ không phải thiếu suy nghĩ, chỉ biết được ngon miệng rồi cho là an ổn đâu! Nếu không biết trông xa hiểu rộng, chỉ nhìn cái thiển cận trước mắt mà sống ẩu, làm càng rồi cho là an ổn, cuối cùng phải chịu lấy khổ đau. Chịu nhìn lại chung quanh một chút, chúng ta sẽ thấy còn khá nhiều người than vãn vì sao tôi quá khổ. Không biết rằng, khổ đó là do mình đã lỡ tạo nhiều điều không tốt từ quá khứ, hôm nay đủ duyên thành quả khổ và mình phải gánh chịu. Có người than, không biết vì sao tôi sinh con ra giống như sinh quỷ, không chịu nghe lời, phá phách đủ thứ... làm tôi khổ não, sống không nỗi với con. Thế gian có quá nhiều điều khổ đau, không thể kể hết. Đây là mẫu chuyện có thật tại Việt Nam. Có người vào chùa bạch với một vị Hòa Thượng, không biết vì sao thằng con trai của con nó phá phách quá, không nghe lời bố mẹ, quậy phá lung tung từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội. Đến khi lớn lên một chút thì nó còn đòi cầm dao đâm ba nó. Hằng ngày nó rất thích giết ba nó nhưng không biết vì sao như vậy. Hòa thượng bảo, quý vị nghiệm kỹ, nhớ lại coi, trước đó có tạo duyên gì nghịch không? Nếu lỡ tạo thì nên thành tâm sám hối rồi sẽ qua khỏi. Về nhà quý vị chiêm nghiệm lại một hồi, liên kết tư tưởng lại mới nhớ ra, lúc bà mẹ mang thai, trong nhà có giết chết một con chó. Có lẽ con chó này hận quá cho nên mới đầu thai lên để trả thù lại. Giống như một người đã bị giết, vì bực quá nên họ muốn trả thù, phá trở lại và lớn lên đòi giết ông già mình. Nghe lời Hòa thượng, cả nhà thành tâm sám hối, tu tập, làm các việc thiện, khởi tâm từ, không oán trách bực bội nữa. Thời gian sau, thằng con bỗng nhiên hiền hậu trở lại rồi nó bị bệnh và qua đời. Nó ra đời chỉ vì lòng uất hận muốn đòi lại cái nợ này thôi. Nhưng thấy gia đình này tu giỏi, tâm giận nó được chuyển hóa, hỷ xả, không còn uất hận, không đòi nợ nữa và nó ra đi. Cho thấy rằng, con chó bị giết chết thì nó khổ đã đành. Chúng ta là người chủ động giết nó cũng bị khổ luôn. Cứ ngỡ giết hại súc vật được một bữa ngon miệng là sung sướng, nhưng không ngờ khi bị nó đầu thai lên phá lại rồi cũng bị khổ nhiều hơn như thế nữa. Cho nên khi con này giết con kia để ăn thì con bị giết đã khổ, con được ăn đó cũng sẽ khổ về sau. Thế gian vẫn thường nói, kiến ăn cá thì cá sẽ ăn kiến. Vua Trần Thái Tông cũng dạy, hắn ăn mày, mày ăn hắn, kiếp kiếp trả nhau, đời đời thù nhau, mãi không có ngày thôi dứt. Đâu cần đợi đến kiếp sau. Trong hiện đời, quý thầy đã chứng kiến và nghe kể lại nhiều người cả đời hành nghề mổ trâu, giết bò, mổ heo... Đến khi cuối đời đau đớn dữ dội, la ó như con trâu bò hoặc heo đang bị thọc huyết, nằm treo hai chân lên cửa sổ mà không chết được. Có người tư vấn, một người trong nhà đặt cái chậu bên dưới và đặt con dao ngang cổ người bệnh để tượng trưng như đang cắt cổ hứng máu thì người kia mới chết được. Báo ứng, nổi khổ ai cũng trông thấy rõ ràng, tại sao vì sự sống của mình để cho kẻ khác phải chết như vậy mà không hay biết. Sống như thế sẽ đưa đến khổ đau cho cả hai. Cho nên trước cảnh đó, thái tử đã thấm nghiệm và thấy rõ rằng, sự sống là khổ. Khi đã thấm sâu điều đó, Ngài không còn yên lòng để sống một cuộc đời thụ hưởng trong cung thành nữa và bắt đầu nhen nhúm ý chí muốn phát tâm xuất trần. Ở đây chúng ta đã học được bài học, sự sống là khổ. Trước mọi hoàn cảnh, nếu bình tâm, tỉnh trí, quán xét thì chúng ta sẽ thấy ra được nhiều điều. 3. Già là khổ. Cảnh thứ hai, một lần đi ra khỏi cổng thành, thái tử thấy một người già khô gầy, dung nhan tiều tụy, khí lực yếu ớt, mọi thứ không còn gì cả, chỉ còn một nỗi khổ đau chồng chất. Thái tử quán xét và ý thức sâu sắc, rồi đây mình cũng sẽ già nua, yếu ớt và tàn tạ như vậy. Càng chiêm nghiệm, càng thấm thía sâu sắc, ngài không còn tâm trạng an ổn để sống trong hoàng cung nữa, nuôi chí xuất trần, cứu khổ. Hằng ngày chung quanh mình, không thiếu những người già nua yếu đuối như thế. Nhưng phần đông chúng ta ít ai nghĩ đến có ngày mình cũng sẽ già, hoặc thấy đó như một sự nghiễm nhiên nên ý chí xuất trần còn yếu hoặc chưa có. Không chỉ như vậy, có khi thấy người già rù rờ chậm chạp, bỏ trước quên sau, ăn nói không chuẩn, đau ốm không yên..., chúng ta không có sự cảm thông, kính mến, còn cảm thấy chán ngán, bực bội, chê bai đủ thứ, mất hết tính người. Cho nên quý cụ già mới có bài thơ tự than vãn mình: Rù rờ đổ vỡ thiệt là hư Chẳng biết mần răng được nữa chừ! Ăn uống vãi rơi làm họ bực Vào ra đụng chạm thấy mình dư. Người thân gặp lại chừng quên hết Bỏ trước, quên sau kiếm mệt đừ. Ai ngỡ ngày nay ra thế ấy Xưa kia lỗi lạc một tay cừ! Thấy người già mà không biết soi xét lại để biết mình rồi cũng sẽ già, để có sự thâm cảm mà còn khinh thường, chê bai, đó là chúng ta chưa có được cái nhìn như Phật. Thấy người khác già thì biết rằng, rồi mình cũng sẽ già, từ đó có sự cảm thông sâu sắc với người già yếu, tôn trọng, kính mến, quan tâm giúp đỡ. Đồng thời quyết tâm sống và tu tập để thoát khỏi sự chi phối khổ sở của tuổi già. Đó là cái nhìn của người tỉnh giác, có trí tuệ. Ngược lại, hằng ngày chung quanh mình luôn gặp những người già, nhưng thấy như là việc của người khác, còn mình thì không nhớ là sẽ già, cho nên không có sự thông cảm, thương yêu, kính trọng mà còn bực bội, chê bai. Đó là cái nhìn hời hợt, không tỉnh táo, sáng suốt, là người mê. Nhưng mà giác hay mê là do chúng ta. Chỉ cần tỉnh táo để đủ sáng thấy lại, từ đó có sự cảm thông, rồi yêu thương, kính trọng và quyết tâm tu tập để có đủ định lực, thoát khỏi sự chi phối của các khổ về già. Mỗi người chúng ta đều có quyền nhìn nhận, suy nghĩ và thực hành được điều đó. Đó là chúng ta đã biết học theo hạnh giác ngộ của đức Phật. Chúng ta còn có một bài học thứ hai về cảnh già nữa. Có những người lớn tuổi già yếu rồi, nhưng khi ngồi với nhau nói toàn những chuyện anh hùng của thuở trước mà không hề nhớ mình đã già yếu. Thời trẻ tôi vác một lúc hai bao xi măng lên núi, đánh một lần mười thằng lực sĩ phải gục ngã... Kể say sưa một hồi hào khí nổi dậy mạnh mẽ như mình đang còn thanh niên vậy. Chút xíu tê chân đứng dậy không nổi. Cố gắng một đỗi mới đứng lên được thì đi run run gần té, mới biết mình đã già. Đang già mà vẫn không chịu biết mình già, vậy là chưa học được bài học giác ngộ như Phật. Nếu khéo nhìn lại, thấy mình đã già yếu. Cả đời hy sinh cho gia đình và xã hội như thế là đã đủ. Bây giờ có muốn làm thêm cũng không được. Tốt nhất là nên lo chuyện tu tập của mình là vừa rồi. Chuyện nhà cửa, sự nghiệp công danh, chuyện lo con cháu giao lại cho lớp trẻ. Mỗi người sinh ra đời đều có nhân duyên phước đức riêng. Con cháu nó mạnh mẽ, thông minh hơn mình ngày xưa nhiều, không cần phải lo nghĩ nữa. Bây giờ chỉ dốc tâm tu tập, kiếm chút ít tư lương, tích tạo phước đức để ngày ra đi được an ổn. Nhìn thẳng vào sự thật và nghĩ được như vậy sẽ có lợi hơn. Làm được như vậy là chúng ta đã biết học theo hạnh giác ngộ của đức Phật. Lúc còn trai tráng, thái tử đang là một người có đầy đủ tất cả quyền uy, thế lực, văn võ song toàn. Vậy mà khi thấy người già thì liền biết mình rồi cũng sẽ già nua và yếu ốm như người kia. Thấy rõ cuộc đời không có gì đáng để gọi là vui cho nên Ngài quyết chí xuất trần. Nhìn nhận, chiêm nghiệm và thấu tột được như vậy là chú TÍNH HUYỀN SỬ VÀ CHÍNH SỬ CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT Sương Mai Có thể nói, tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử người sáng lập đạo Phật là ước muốn, niềm trăn trở của nhiều học giả. Cho đến nay đã có hàng triệu tác phẩm viết về cuộc đời cũng như sự nghiệp giáo hóa của Người. Đó không chỉ là những bài nghiên cứu của những người con Phật về Người cha lành kính mến, mà đó còn là những tác phẩm của các tác giả chưa từng theo đạo Phật nhưng đã một lần được nghe qua công hạnh của Người. Để giúp cho hàng Phật tử hiểu sâu hơn về lịch sử đức Phật, tôi xin trình bày đôi nét về tính huyền sử và chính sử của cuộc đời đức Ngài. Huyền sử hay còn gọi huyền thoại là những yếu tố lịch sử mang tính chất mờ ảo, không hiện thực. Đó có thể là một sự phi thường, sự mầu nhiệm mang yếu tố tâm linh, nhằm để cải tạo niềm tin của tín đồ về một sự linh ứng, ngay cả các nhà khoa học cũng khó có thể giải thích các vấn đề trên, chúng ta chỉ có thể nói rằng: “Pháp nhĩ như thị” (Pháp vốn như thế). Lịch sử của mọi tôn giáo đều có tính chất huyền sử và chính sử. Có thể nói rằng không có một tôn giáo nào không có yếu tố huyền sử. Huyền sử là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc hình thành tôn giáo. Nói về lịch sử Đức Phật không thể bỏ quên những yếu tố tạo nên tính huyền sử như hình ảnh đức Phật sanh ra đi bảy bước và nói rằng: “Thiên thượng Thiên hạ duy ngã độc tôn”, Kinh Vị Tằng Hữu nói: khi Bồ-tát từ cõi trời Tusita đi vào bào thai hoàng hậu thế giới chuyển động, hay khi Phật thành đạo Tam thiên Đại thiên trỗi nhạc cúng dường… Đó là những yếu tố tạo nên niềm tin về một bậc Thánh nhân ra đời. Chính sử hay còn gọi là lịch sử, thông sử, là những sự việc có thật đã diễn ra trên cuộc đời và được các nhà khoa học chứng minh tính xác thực của nó theo từng tháng năm. Đó là những sự thật không thể chối cãi, không thể phủ nhận. Có thể nói rằng rất ít giáo chủ của một Tôn giáo là một con người. Nhưng đức Phật là một con người có thật, Ngài là con của vua Suddhodana và hoàng hậu Maha Maja, vương quốc Sakya, kinh thành Ca-tỳ-la-vệ. Lịch sử chính là quãng thời gian, quá trình hoạt động của một con người. Cụ thể hơn yếu tố lịch sử xác định chắc chắn cho chúng ta biết lịch sử đức Phật, thông qua niên đại theo từng cột mốc sự kiện cũng như những quá trình tiếp diễn từ thuở niên thiếu đến lúc xuất gia, thành đạo và sau cùng là nhập Niết-bàn. Qua lịch sử, chúng ta biết được rằng đức Phật là một con người có thật, Ngài đã trải qua tất cả những nỗi thống khổ mà chúng sanh đã và đang trải qua, những sự thay đổi về tâm sinh lý, vật lý trong thân thể và tâm thức. Ngài cũng sống cuộc sống như bao người và khi lớn lên Ngài cũng có vợ rồi có con. Vì vậy, có nhiều người cho rằng bởi đức Phật cũng như mỗi chúng ta nên Ngài cũng là một con người rất đỗi tầm thường, chẳng có gì vĩ đại. Ta nên hiểu rằng chỉ có những người bị đau đầu, đau bụng mới biết được cảm giác của sự đau như thế nào? Cũng thế, Đức Phật đã trải qua mọi khổ đau trong cuộc sống nên Ngài hiểu được chúng sanh đang cần gì, muốn gì, từ đó tìm ra phương thuốc thoát khỏi nỗi khổ đau bao la ấy. Nhờ những kinh nghiệm, sự trải nghiệm thực tế Ngài nhận chân được sự vô thường, giả tạm của cuộc đời để rồi tìm cầu con đường thoát khổ. Đó chính là yếu tố tạo nên những ý nghĩa và giá trị cao cả. Qua tính lịch sử, giúp chúng ta nhận ra rằng sự xuất gia của thái tử là một sự từ bỏ vĩ đại. Đức Phật cũng là một con người, Ngài từng trải qua những sự phát triển về tâm sinh lý, vật lý như những con người theo từng thời kỳ phát triển. Chính vì thế, việc từ bỏ một thói quen vô cùng khó và cần phải có một khả năng chứng nhận thực sự mới có thể từ bỏ tất cả. Như chúng ta khi mất một vật gì quý báu, thân thương, là vật kỷ niệm như chiếc điện thoại, chiếc xe, thậm chí cây viết đẹp chúng ta đã buồn rầu, khổ sở, chỉ bấy nhiêu thôi đã là khó buông xả. Thử hỏi nếu trong số chúng ta khi được đặt vào vị trí của thái tử, có mấy ai làm được điều đó, hay là bị ngũ dục lạc làm đắm say. Thế nhưng, một vị Thái tử sống trong cung vàng điện ngọc được thọ hưởng bao nhiêu vinh hoa phú qúy, vợ đẹp con xinh, cung tần mỹ nữ, Ngài có thể là vị vua trong tương lai người giữ quyền lực trị vì một vương quốc. Trong khi danh lợi, quyền quý, giàu sang đang là ước muốn, mục đích hướng tới của bao người thì thái tử lại từ bỏ. Từ xưa đến nay đâu có một Đế vương nào chịu từ bỏ cuộc sống xa hoa, cung tần mỹ nữ, vợ đẹp con ngoan, trừ một Trần Nhân Tông của Việt Nam cách Phật 10 thế kỷ (Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con để vào tu tại núi Yên Tử năm Kỷ Hợi 1299). Trong thực tế con người đầy tham, sân, si, chấp ngã cho nên trước ngũ dục, ít người giữ được đạo đức vô ngã, vị tha. Thái tử Tất Đạt Đa thoát được hoàng cung là do thái tử quyết liệt chiến đấu chính với bản thân, với bao tình cảm ràng buộc của vua Tịnh Phạn, của Da Du, của người thân cận như Xa Nặc. Từ đó, chứng tỏ thái tử đã chiến thắng chính mình, chiến thắng khỏi mọi dục vọng tầm thường, giả dối những thứ mà chúng sanh vì mê mờ, dục vọng nên đeo mang, giành giật lấy. Được sinh ra trong một dòng tộc vua chúa không phải là chuyện dễ dàng, và đó là niềm khát khao của tất cả nhân loại. Khi có được mọi thứ, quyền điều hành trong tay thì thái tử lạ từ bỏ. Ngài đã có tất cả những gì mọi người không có nhưng rồi từ bỏ tất cả để tìm về một cái không mơ hồ, về một sự giải thoát bất tận. Còn chúng ta xuất gia với nhiều lý do, hoàn cảnh khác nhau, cũng có những vị xuất gia vì nhận thấy cuộc đời là khổ, nhưng cũng có nhiều vị xuất gia theo truyền thống gia đình, thậm chí có nhiều người vì thất vọng về một điều gì đó ngoài thế gian nên tìm vào nương tựa cửa Phật hay một số vị vì hoàn cảnh gia đình khó khăn hoặc trẻ mồ côi nên vào chùa, v.v.. Nhìn chung, vì sự thiếu thốn mà chúng ta vào chùa, có những người thiếu thốn về mặt vật chất và nhiều người thiếu thốn về mặt tinh thần. Có thể nói rằng, ta xuất gia không giống đức Phật, Ngài từ vị trí có đầy đủ tất cả, để rồi từ bỏ đi xuất gia để tìm cầu một sự giải thoát tối thượng, còn chúng ta thì sự tìm cầu từ không đến có. Đó chính là điểm sáng đặc biệt của Đức Phật, việc Ngài làm không ai có thể làm được. Trong quá trình học đạo, Đức Phật đã trải qua quá trình học đạo với hai đạo sư nổi tiếng thời bấy giờ với 6 năm khổ hạnh. Vấn đề đặt ra, vì sao đức Phật phải trải qua con đường ấy? Quá trình học đạo với hai đạo sĩ, là hai vị thiền sư đang được dân chúng tôn kính và ngưỡng mộ nhất lúc bấy giờ. Sau một thời gian tu tập, đức Phật chứng đắc được những cảnh thiền cao nhất mà hai vị đạo sư đã chứng. Sự kiện ấy, cho thấy bằng chính kinh nghiệm, sự thực chứng tu tập của mình. Thái tử đã trải qua tất cả những thứ mà chúng sanh đang tìm kiếm, ngợi ca và Ngài đạt lên tới đỉnh cao, những thứ mà dân chúng tôn vinh, sùng bái. Để đạt được quả vị giải thoát, thái tử cũng phải trải qua quá trình tu tập, cho thấy rằng thái tử là một con người thực sự. Cái gì trong cuộc đời cho rằng tốt đẹp, thái tử đã vượt qua và trải nghiệm, để rồi nói với cuộc đời rằng những quả vị ấy chưa đưa đến giải thoát. Đó là điều để cho cuộc đời phải suy nghĩ và đó cũng là ý nghĩa, giá trị của sự xuất gia tầm đạo. Cuộc sống của người xuất gia quý nhất là sự phát triển tâm linh không phải ở bằng cấp này nọ. Chúng ta học là để mở mang kiến thức, nhờ học mà ta biết đường lối đúng đắn để hành trì, tu tập nhằm xiển dương giáo lý Phật đà không nên chạy theo bằng cấp, chức vụ mà quên đi sự hành trì để nội tâm tăng trưởng. Đối với Phật tử, họ cần sự giáo hóa, phương pháp giải thoát mọi khổ đau và điều đó chỉ có được ở những vị có công năng tu tập nội tâm. Cũng như, Phật tử nương nhờ vào những oai nghi, đức hạnh của bậc xuất gia qua thân giáo, khẩu giáo để lấy đó làm tấm gương sáng cho hàng Phật tử noi theo. Thế nên, một người con Phật chúng ta cần phải noi theo đức tính và hạnh nguyện cao cả của Ngài, để xứng đáng là trưởng tử Như Lai “ tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”, cũng là đền đáp tứ ân, cứu giúp ba cõi.

đức phật đại thừa

Quan niệm về Đức Phật theo Đại thừa Phật giáo Đức Phật tại thế, Ngài là đấng toàn giác, toàn trí, hướng dẫn mọi người thăng hoa tri thức và đạo đức. Sau khi Phật diệt độ, nảy sanh nhiều quan niệm khác nhau về Ngài. Ở thời Phật giáo Nguyên thủy, khi sanh thân Phật không còn, người ta nghĩ Phật vẫn hiện hữu trong kinh tạng của Ngài lưu lại, gọi là giáo pháp Pháp thân. Quan niệm giáo pháp Pháp thân được Đại chúng bộ triển khai thành Tăng đoàn Pháp thân, nghĩa là Phật vẫn sống trong sinh hoạt của tập thể hòa hợp Tăng. Từ đó, mỗi người tin Phật, học Phật, thể hiện cuộc sống theo Phật thì Phật hiện hữu trong suy tư, trong việc làm của họ. Vì vậy có bao nhiêu người hướng tâm về Ngài, thì có bấy nhiêu Phật, dẫn đến hình thành tư tưởng thiên bá ức hóa thân Phật của Phật giáo Đại thừa. Theo tinh thần Đại thừa, Đức Phật Thích Ca là một ứng thân ở Ta bà, để khai thị cho chúng sanh con đường vào Phật tri kiến. Sau khi ứng thân Phật Niết bàn, những Tỳ kheo mang hình thức giống Phật và truyền bá chánh pháp, tiêu biểu cho Phật tại trần gian, gọi là hóa Phật. Tư tưởng hóa Phật được dân Tây Tạng đổi thành Phật sống, người ta tin và gần gũi với Phật sống hơn là Phật vô hình. Theo họ, chỉ có Lạt Ma mới có khả năng tiếp cận với Phật và vị này là nhịp cầu tâm linh truyền thông giữa mọi người và Phật. Vì vậy, theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiêu biểu cho Phật tại thế, được kính trọng tuyệt đối. Mỗi vị Tăng suy nghĩ về Phật, thì hiện hữu Phật; hóa Phật là Phật do chúng ta hình dung, nghĩ tưởng mà có. Từ góc độ ấy, Phật giáo Đại thừa đưa ra quan niệm Báo thân Phật hay thân phước đức trí tuệ của Phật. Báo thân Phật không phải là một thân lạ lùng ở nơi xa xôi nào, nhưng tồn tại ngay trong sanh thân Ngài, được cấu tạo từ sự kết hợp trí tuệ và những việc làm thánh thiện, lợi ích của Ngài đối với đời. Thật vậy, trên bước đường hoằng hóa độ sanh, với tri kiến thấy đúng như thật, Phật hiểu rõ khả năng, hoàn cảnh của từng người và tùy theo đó mà chỉ dạy; họ đều thăng hoa trên đường đạo hạnh, tăng trưởng phước lạc. Với nhân cách toàn thiện, trí tuệ toàn bích và đạo đức toàn mỹ, Đức Phật dễ dàng thành công trong việc giáo hóa. Báo thân hay hành vi đạo đức, không chút lỗi lầm và trí tuệ siêu tuyệt của Phật đã ảnh hưởng, tác động cho người, xây dựng thành một tập thể xuất gia và tại gia đạo đức, sáng suốt. Hướng dẫn và dung hóa một giáo đoàn gồm mười hai ngàn Tỳ kheo thuộc nhiều trình độ khác nhau, thành phần phức tạp, không phải là điều đơn giản. Trong tám mươi năm trụ thế, Đức Phật cảm hóa từ hàng vua chúa quyền quý, người giàu sang, học thức, cho đến người thứ dân nghèo khổ, thất học, từ người hiền lành đến kẻ sát nhân; tất cả đều được chuyển đổi, thăng tiến tốt đẹp. Từ Báo thân viên mãn, đầy đủ phước đức, trí tuệ, Đức Phật dùng vốn quý giá ấy để cấu tạo một thân thứ ba gọi là Pháp thân. Pháp thân không phải là cái gì siêu hình, trừu tượng ở trong hư không. Bằng trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri, Đức Phật biết rõ và vận dụng được nguyên lý tạo nên con người và thế giới. Từ đó, mọi vật, mọi hiện tượng trong trời đất, mọi việc của các loài đều không chướng ngại đối với Ngài. Và hơn thế nữa, Đức Phật chi phối toàn bộ các pháp, sử dụng chúng một cách tự tại; các pháp trở thành thân của Ngài. Đức Phật sử dụng Pháp thân chuyển hóa xã hội đương thời, lúc ấy sanh thân Phật trở thành Pháp thân, hay được coi là Pháp thân. Chúng ta cũng có Pháp thân, nhưng vì không có Báo thân viên mãn, tức không đầy đủ trí tuệ, đạo đức nên Pháp thân không hoạt động được, kinh gọi là Như Lai tại triền; ví như vàng bạc có trong quặng mỏ, nhưng không biết khai thác, không dùng được. Đức Phật cũng mang thân tứ đại ngũ uẩn như mọi người, nhưng Ngài biết dùng sanh thân ấy để tạo thành Pháp thân và Báo thân và đạt quả vị Vô thượng Đẳng giác. Trong khi chúng sanh phát triển nghiệp và phiền não, đời đời kiếp kiếp trôi lăn trong sanh tử khổ đau. Trên nền tảng cuộc sống bình thường của sanh thân, Đức Phật phát triển tinh thần, tăng trưởng trí tuệ và đạo đức để nuôi lớn Báo thân. Và từ tinh thần này hội nhập lại sanh thân, tác động đến mọi người, mọi việc. Nói chung là Ngài điều động được các pháp một cách tự tại, tức sử dụng được Pháp thân. Tuy Phật có ba thân là sanh thân, Báo thân và Pháp thân, nhưng thực sự chỉ là một thân hiện hữu trong con người thật, Thích Ca Mâu Ni, được lịch sử ghi nhận. Tóm lại, Phật giáo Nguyên thủy quan niệm Đức Phật có sanh thân và Pháp thân. Phật giáo trong thời kỳ bộ phái lại chủ trương Báo thân và ứng thân. Sau đó, Phật giáo Đại thừa kết hợp hai tư tưởng này lại để hình thành quan niệm tam thân Phật là ứng hóa thân, Báo thân và Pháp thân. Nghĩa là quan niệm sanh thân của Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo thời bộ phái giống nhau, vẫn giữ nguyên, nhưng mang tên khác là ứng hóa thân. Ứng thân chỉ cho Phật Thích Ca, hóa thân là những vị gìn giữ chánh pháp Phật tồn tại trên thế gian. Ngoài ra, Phật giáo Đại thừa đặt nặng vấn đề tri thức và đạo đức nên lấy Báo thân viên mãn, hay phước đức trí tuệ làm thân. Đây là điểm quan trọng khác biệt giữa Phật và chúng sanh, vì không tu đầy đủ hạnh Bồ tát và tâm đại bi, nên chúng sanh không thể nào đạt quả vị Phật. Sau cùng, Đại thừa kết hợp giáo pháp Pháp thân của quan niệm Nguyên thủy với Tăng đoàn Pháp thân của thời bộ phái, chuyển đổi thành thanh tịnh Pháp thân. Như vậy, danh từ Pháp thân tuy giống nhau, nhưng tư tưởng cốt lõi bên trong khác nhau. Theo tinh thần Đại thừa, ngày nay sanh thân Phật vắng bóng trên cuộc đời, tri thức và đạo hạnh của Ngài đã đầu tư cho loài người vẫn là mô hình kiểu mẫu hướng dẫn cho những người đồng hạnh đồng nguyện với Ngài trên khắp năm châu. Sanh thân không còn hiện hữu mà Pháp thân vẫn thường trụ vĩnh hằng, được vô số tâm hồn lớn nối tiếp, tạo thành mạng mạch Phật giáo lưu truyền, lợi lạc cho chúng hữu tình qua suốt hai mươi lăm thế kỷ. QUAN NIỆM VỀ ĐỨC PHẬT Theo lịch sử, Đức Phật Thích-ca xuất thân là Thái tử, sống trong cảnh quyền uy nhung lụa, nhưng thường băn khoăn về kiếp sống trầm luân khổ đau của con người. Ngài từ bỏ nếp sống xa hoa vật chất để đi tìm con đường giải thoát sanh tử cho mình và mọi người. Trải qua 5 năm tìm đạo, 6 năm khổ hạnh chốn rừng già và 49 ngày tư duy dưới cội bồ-đề, Ngài đã chứng quả Vô thượng Chánh đẳng giác. Trên bước đường hoằng hóa độ sanh, Đức Phật trước tiên đến độ 5 anh em Kiều-trần-như, lập thành mô hình Tam bảo đầu tiên của Phật giáo. Với thời gian, giáo đoàn dưới sự hướng dẫn của Đức Phật đã phát triển, lên đến 12.000 Tỳ-kheo và 6.000 Tỳ-kheo-ni cùng nhiều cư sĩ, từ vua chúa cho đến thường dân đều quy ngưỡng theo Phật. Đến năm Ngài 80 tuổi, thân tứ đại cũng hoại diệt như mọi người, kết thúc một đời giáo hóa độ sanh. Tuy nhiên, cách đánh giá sự nghiệp của Đức Phật một cách giản đơn như vậy không được chấp nhận ở thời kỳ Phật giáo phát triển. Để xác định tư cách siêu phàm của Đức Phật, nhiều quan niệm khác nhau kiến giải về Ngài đã được hình thành theo hướng nhìn về chiều sâu tâm linh. Trước kia, người ta nghĩ rằng Ngài xuất hiện trên cuộc đời này, bỏ ngôi vua đi tu, ngồi cội bồ-đề thành Phật; tức quan niệm Ngài vừa mới tu thành Phật. Nhưng nay, theo tinh thần Phật giáo phát triển, Đức Phật đã trải qua nhiều kiếp hành Bồ-tát đạo, tích lũy đạo hạnh và tri thức, nên hiện đời mới kết thành quả Vô thượng Đẳng giác. Kinh Bổn Sanh, Bổn Sự cũng nhằm nói lên quá trình tu Bồ-tát hạnh của Phật. Trên nền tảng ấy, dưới lăng kính Đại thừa Phật giáo, Đức Phật hiện hữu cao quý và trường tồn chính là vì Ngài đã thành tựu Báo thân. Nghĩa là Đức Phật không chỉ có nếp sống đơn thuần như một con người bình thường, nhưng cuộc đời Ngài là kết tinh của phước đức, trí tuệ và việc làm siêu việt. Ngài đã thành công trong việc giáo hóa là do đức hạnh và tri thức của Ngài đã tác động cho người thăng hoa thánh thiện. Từ căn bản nhận thức về Báo thân Phật hay thân phước đức, trí tuệ, kinh Hoa Nghiêm triển khai thêm, đưa ra quan niệm về Tỳ-lô-giá-na Pháp thân. Phật Tỳ-lô-giá-na tiêu biểu cho ánh sáng tuệ giác, có khả năng truyền thông khắp pháp giới, truyền đến tâm thức của tất cả chúng sanh mà không hề chướng ngại. Khi Tỳ-lô-giá-na Pháp thân chi phối đến đâu, chúng sanh tiếp nhận thì phát Bồ-đề tâm tu hành, ai cũng thành Phật. Với lý giải ấy, Phật không còn mang hình thức nào cố định, không có một cái gì không phải là Phật mới là Phật. Lý giải Pháp thân Tỳ-lô-giá-na biến chiếu, thể hiện vô tất cả loại hình. Từ loài người cho đến loài thú, kể cả cây cỏ, đều là Phật. Quan niệm một Đức Phật như thế quá bao la, khó nắm bắt. Từ đó, chuyển sang kinh Pháp Hoa, đưa ra quan niệm kết hợp Pháp thân Phật của Hoa Nghiêm với Báo thân Phật, để hình thành một Đức Phật thường trú, hiện hữu ở dạng thức gọi là thế gian thường trụ Tam bảo. Lý Hoa Nghiêm mà không có giải thích bổ sung của Pháp Hoa thì dễ làm chúng ta lầm tưởng Pháp thân Tỳ-lô-giá-na biến chiếu bàng bạc, vô ảnh vô hình. Nhưng kinh Pháp Hoa đã kéo ý niệm ấy trở lại thực tế; theo đó, Tỳ-lô-giá-na Pháp thân cũng phát xuất từ tứ đại ngũ uẩn thân. Vì Đức Phật cũng tu tập từ sanh thân tứ đại mà tạo thành Tỳ-lô-giá-na Pháp thân, và Ngài sử dụng Pháp thân ấy để tác động ngược lại chúng sanh. Nói khác, Ngài hiện hữu trên cuộc đời này, bên trong thân tứ đại hàm chứa một Báo thân viên mãn. Nghĩa là cuộc sống của Đức Phật tỏa sáng lòng từ bao la, đức hạnh cao quý, hiểu biết siêu quần, thể hiện thành những việc làm cứu đời, lợi ích cho người. Nhờ đó, chúng sanh mới hướng về Ngài và phát tâm tiến bước theo con đường giải thoát của Phật vạch ra. Đức Phật dùng Báo thân viên mãn đầy đủ phước đức trí tuệ để làm hạt nhân tạo thành Pháp thân Tỳ-lô-giá-na Phật. Tỳ-lô-giá-na Pháp thân hay ánh sáng trí tuệ rọi vào các pháp, điều động các pháp thành phương tiện giáo hóa của Như Lai, chuyển hóa xã hội đương thời. Ta chưa thành Phật vì không có Báo thân viên mãn, tức chưa đầy đủ phước đức trí tuệ, nên Pháp thân Tỳ-lô-giá-na Phật của ta không có tác dụng, gọi là Như Lai tại triền. Vì vậy, theo tinh thần Pháp Hoa, việc quan trọng trên bước đường tu là phải nuôi lớn Báo thân Phật của chính chúng ta, tức nỗ lực tu hành phát triển hiểu biết, đạo hạnh giống như Phật, bằng với Phật. Thấm nhuần sâu sắc tinh thần này, Nhật Liên thánh nhân được nhân dân Nhật kính trọng như Thượng Hạnh Bồ Tát, là một trong bốn vị Bồ-tát tùng địa dũng xuất của kinh Pháp Hoa. Ngài đả phá cực mạnh những ai tu hành mà chỉ lo cầu khẩn ông Phật bên ngoài. Vì càng chạy theo tìm kiếm cái gì ở ngoài ta, thì càng làm cho Phật bên trong ta ốm o, gầy mòn. Ngài đưa ra hình ảnh chim trong lồng lắng nghe tiếng chim bên ngoài hót mà nó hình dung ra bầu trời bao la, tự do, tươi mát. Chúng ta ví như chim trong lồng, gia công tu tập theo dấu chân Phật, để đánh thức được Phật tâm bên trong của chúng ta mới là việc chính yếu phải thực hiện. Thiết nghĩ, mặc dù có Phật lực gia bị cho ta trên bước đường vượt 500 do tuần đường hiểm, nhưng điều cốt lõi là chúng ta nương theo lực của Phật để cải tạo thân tâm ta, thăng tiến lên địa vị hiền thánh, không phải núp bóng Phật để Ngài che chở cho ta mãi mãi. Chẳng thể có sự chở che của bất cứ vị Thánh nào lại dành cho những con người ăn bám, giúp đỡ những tâm hồn hèn mọn. Với tinh thần huân tu để thành tựu thân thanh tịnh, hòa hợp, trang nghiêm bằng phước đức, trí tuệ ở ngay trên cuộc đời này, thể hiện rõ nét ý nghĩa thường trụ Tam bảo hiện hữu đầy đủ trong mỗi con người chúng ta. Tóm lại, trên lộ trình Pháp Hoa, trở về với chính mình, tiến tu ngõ hầu phát huy đạo hạnh, tri thức, việc làm vô ngã vị tha, lợi lạc cho người. Theo thời gian tu học, hành Bồ-tát đạo, đến khi nào thân tâm chúng ta cũng kết tinh bằng phước trí vẹn toàn, viên mãn hạnh lợi tha như Đức Phật, thì chúng ta chính là Phật vậy. II. PHẬT GIÁO, ĐẠO GIÁC NGỘ Phật giáo có phải là một tôn giáo không? Có rất nhiều câu trả lời khẳng định cũng như phủ định, nhưng tựu trung, đó vẫn là một vấn đề khó khăn đối với các học giả nghiên cứu Phật giáo Khi Đức Phật tại thế, trong 5 năm tìm đạo, Ngài quan sát thấy các tôn giáo đương thời bày ra nhiều phương cách tu có tính cách mê tín, huyễn hoặc như tự hành hạ thân xác hay chủ trương hưởng thụ khoái lạc cùng cực, hoặc giết hại súc vật v.v... để cúng tế, cầu khẩn Thượng đế che chở, ban phước, và sau khi chết, mong được trở về làm con dân phục vụ cho Thượng đế. Tất cả hiểu biết và hành xử sai lầm của hàng ngoại đạo bấy giờ là một đề tài lớn cho Đức Phật suy gẫm. Ngài suy tư đến cao độ, gọi là nhập thiền định, thấy được đáp số của vấn đề sanh tử, hiện hữu, chuyển biến đổi thay của muôn loài trong vũ trụ. Nói khác, Đức Phật đắc đạo, đạt đến đỉnh cao giác ngộ, thấy biết muôn sự muôn vật đúng như thật. Từ đó, Ngài bắt đầu giáo hóa độ sanh, dạy người tu tập thiền quán để đạt hiểu biết đúng đắn, sống tự tại, an vui trong hiện đời và trong kiếp tương lai. ng dụng lời Phật dạy, phần lớn đệ tử Ngài đắc A-la-hán, giải thoát được phần vật chất và thức uẩn. Quan sát người tu ở dạng thể nghiệm lời Phật dạy trong cuộc sống, được thành quả giác ngộ như vậy, chúng ta thấy rõ đạo Phật chưa hề có chút biểu hiện nào của tôn giáo. Tuy nhiên, vì có giáo chủ là Đức Thích-ca và tổ chức giáo đoàn gồm những vị đức hạnh, vượt trội hơn các tôn giáo khác, cũng như Ngài có truyền bá tư tưởng, người nghe theo được lợi lạc, sanh niềm tôn kính Phật và Thánh chúng. Vì vậy, Phật giáo được coi như một tôn giáo, mặc dù Đức Phật chưa bao giờ xác định lời Ngài dạy là một tôn giáo cần phải tuân thủ; và cũng chưa bao giờ Phật chủ trương thờ phụng, cúng bái Ngài hay bất cứ cái gì. Nhưng sau khi Đức Phật nhập diệt, các vị Tổ sư tiếp nối, thể hiện những tư tưởng và việc làm cao quý trong cuộc sống. Điều này tác động cho người tu ở thời kỳ Phật giáo phát triển hình dung ra mối quan hệ mật thiết, vô hình giữa Phật và chư vị thừa kế. Với lòng hoài vọng kính ngưỡng, họ bắt đầu tạc tượng Phật và Thánh chúng để tôn thờ, lễ lạy. Khởi điểm từ đây, Phật giáo mang màu sắc tôn giáo. Trong thời kỳ này, các sư tụng niệm, lễ bái, cầu nguyện, tức thể hiện hình thức tín ngưỡng giống như các tôn giáo khác. Tuy nhiên, điều khác biệt chính yếu của Phật giáo là hành giả không hề phó thác vận mạng cho đấng sáng tạo hay thần linh, nhưng biết kết hợp việc cầu nguyện, lễ bái với công phu tu hành. Thể nghiệm pháp này, tu sĩ Phật giáo Mật tông chuyên trì chú, cầu nguyện, nhờ lực siêu nhiên tác động qua con người thực. Khi kết hợp được với lực siêu nhiên, tức giữa hành giả và thiên nhiên hòa nhập thành một, tạo thành lực bất tư nghì, mà Mật tông tiêu biểu bằng đồ hình tổng thể Mạn-đà-la. Mặc dù cầu nương vào lực tam mật gia trì, nhưng hành giả Mật tông cũng phải tự tịnh hóa bản thân, đạt đến chứng đắc vô ngã vị tha, mới có thể sử dụng được toàn lực của tổng thể Mạn-đà-la. Thực tế cho thấy các tu sĩ Mật tông ở Tây Tạng thành tựu pháp, tạo được khả năng vượt hơn con người bình thường như đi trong hư không, đi trên nước dễ như đi trên đất liền hoặc nằm trên tuyết vẫn khỏe mạnh v.v... Đó là sự phát triển của Phật giáo Mật tông thể hiện rõ nét tính thần bí của tôn giáo. Bên cạnh sự phát triển pháp tu mang đậm màu sắc thần bí của Mật tông, lại nảy sanh ý tưởng của những người kém cỏi hơn, không có khả năng kết hợp lực cá nhân và tổng thể. Họ cảm thấy thân phận bé nhỏ, cần nương tựa vào một lực khác để tồn tại, thăng hoa. Từ đó, hình thành pháp môn Tịnh độ, hành giả hướng tâm cầu nguyện Đức Phật A-di-đà ở thế giới Tây phương Cực lạc, cũng cảm nhận an lành, quên đi oi bức của cuộc đời. Tất nhiên, gá tâm đến thế giới khác để cầu nguyện như vậy đã đi khá xa giáo lý chính thống của Đức Phật. Khi tư tưởng của Tịnh độ tông không được chấp nhận nữa, chúng ta thấy phát sanh chủ trương quan sát ngược lại thời nguyên thủy, xem Đức Phật làm gì. Hiển nhiên, ai cũng biết Đức Phật do tu tập thiền định, khai mở tâm trí, thấy rõ chân lý và sử dụng phương tiện đưa người đến chân lý một cách toàn bích. Nhận thức sâu sắc điều đó dẫn đến sự ra đời của tông phái Thiền. Thiền tông không trì chú hay sử dụng lực siêu nhiên như Mật tông và cũng không cầu tha lực như Tịnh độ tông. Hành giả cố tìm lại thời Phật tại thế tu tập và hành đạo như thế nào, đạt kết quả ra sao, để rồi suy tư và ứng dụng giáo lý nguyên thủy vào cuộc sống, ngõ hầu minh tâm, kiến tánh, trở thành thánh thiện, minh triết ngay trên cuộc đời này. Trên nền tảng ấy, hành giả không quan tâm đến cúng kính, lễ bái, nhưng đặt nặng vấn đề tham khảo công án hay thể nghiệm cuộc sống như Phật. Tóm lại, kết hợp ba dạng thức tu của Mật tông, Tịnh độ tông và Thiền tông, chúng ta thấy được Thường Tịch Quang chơn cảnh. Nói khác, chúng ta hành thiền, lắng yên suy nghĩ xem thế giới mầu nhiệm Tịnh độ như thế nào, thế giới do lực siêu nhiên tác động như thế nào, và mang đối chiếu với cuộc sống của Phật cùng Thánh chúng để tự vạch cho mình cách hành xử trên lộ trình tu Bồ-tát đạo. Dần dần, chúng ta cũng đắc đạo, nhận ra được chân lý mà Phật và Thánh chúng đã chứng ngộ. Trên bước đường tu, đối với chúng ta, Thường Tịch Quang chơn cảnh là thế giới quan lý tưởng với hiện hữu của Phật, Bồ-tát và Thánh chúng. Vì vậy, chúng ta không bao giờ rời bỏ thế giới đó. Làm thế nào để trực nhận bản tâm thanh tịnh của chính mình và hài hòa được với thế giới lý tưởng ấy, để trở lại thực tế hàng phục được mọi chướng ngại của thế giới Ta bà, khai tri kiến Phật cho chúng hữu tình ngay trên cuộc đời này. Phật giáo là tôn giáo hay không phải là tôn giáo, thiết nghĩ chẳng có gì quan trọng. Làm sống dậy hình ảnh cao quý của Đức Từ Tôn, thể hiện cuộc sống thánh thiện như Ngài, mang tình thương, hiểu biết, an lạc, giải thoát cho mọi loài. Đó mới chính là những gì Đức Phật truyền trao cho hàng đệ tử và là chất liệu vô giá nối kết mạng mạch Phật giáo trường tồn hơn 25 thế kỷ. III. PHẬT GIÁO, TRIẾT LÝ SỐNG THỜI ĐẠI Ngày nay, nói đến Phật giáo, người ta thường xem như một tôn giáo nặng phần cúng bái, cầu nguyện. Thiết nghĩ việc cúng lễ, cầu nguyện là điều đương nhiên không thể thiếu đối với tôn giáo. Tuy nhiên, thực chất của đạo Phật đặt nặng vấn đề tu hành hơn; vì vậy cầu nguyện, lễ bái cũng là một trong những phương pháp tu hành, không phải là cứu cánh. Thật vậy, Đức Phật khẳng định Ngài đưa ra vô số phương tiện, thường được tiêu biểu bằng con số 84.000 pháp tu, để giúp mọi người đạt đến cứu cánh giác ngộ, giải thoát. Pháp phương tiện Đức Phật chỉ dạy nhiều như vậy, vì tùy hoàn cảnh, khả năng của từng người khác nhau; tùy phong tục, tập quán, luật lệ thay đổi theo từng địa phương và tùy thời điểm mà Ngài hướng dẫn pháp tương ưng thích hợp cho người chấp nhận được. Một cách khách quan, chúng ta thấy rõ nhu cầu tín ngưỡng là đòi hỏi thiết yếu, không thể thiếu được trong cuộc sống con người ở thời Đức Phật. Vì vậy, với trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri, Ngài chấp nhận thực tại khách quan ấy; nhưng thực sự, Đức Phật ít nói đến việc cầu nguyện, mà thường đề cập đến vấn đề tu tập để làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên : đó là mục tiêu chính trong việc giáo hóa của Đức Phật. Điều này thể hiện rõ nét trong hầu hết các kinh điển, Đức Phật thường hướng dẫn người thực hiện 3 việc: làm chủ bản thân, làm chủ xã hội và làm chủ thiên nhiên; nói khác, Ngài khẳng định con người không lệ thuộc thần linh, nhưng buộc thần linh phải phục vụ cho người. Trước nhất, Đức Phật dạy rằng mọi người đều có khả năng thành Phật, tức đạt đỉnh cao của tri thức và việc làm siêu việt, nhưng chúng ta tự đánh mất khả năng cao quý ấy, kinh gọi là đánh mất bản tâm. Tự mình đánh mất khả năng làm chủ bản thân và tự van xin cầu nguyện, đem trao vận mạng cho thế lực thần quyền quyết định giùm, mà không hề biết họ là ai. Từ đó, con người tưởng tượng ra đủ các thứ thần có quyền năng chi phối cuộc sống họ, cần phải cầu nguyện: từ thần sông, thần núi, thần cây..., thậm chí đến thần vôi, thần bếp. Vì không thấy được khả năng vô tận của mình, nên cảm thấy nhỏ bé trước thiên nhiên bao la, sợ hãi thế lực siêu nhiên đè bẹp, nên tự hạ thấp mình, cầu nguyện các thế lực khác. Và thực tế cho thấy các thế lực đó chẳng giúp được gì cho con người, nên không mấy người cầu nguyện được kết quả. Phải chăng người cầu nguyện có kết quả là nhờ họ biết kết hợp việc cầu nguyện với sự phát huy khả năng mình. Trên tinh thần ấy, Phật giáo chủ trương có vấn đề tha lực chi phối ta, nhưng bản thân ta cũng cần hướng về đối tượng để tự phát huy khả năng. Điển hình như người tu pháp môn Tịnh độ, nương vào Đức Phật A-di-đà ở cảnh giới Tây phương. Phật A-di-đà tiêu biểu cho vị đã thành đạt vô lượng quang, vô lượng thọ, vô lượng công đức; nói khác, Ngài có đầy đủ trí tuệ, sức khỏe và phương tiện. Khi Đức Phật Thích-ca dạy chúng ta tu nương với Phật A-di-đà hay mười phương Phật, Ngài đều đưa ra những đức tánh tốt của những vị đó, nhằm gợi ý cho chúng ta phát huy những đức tánh ấy ở chính cuộc sống chúng ta. Nương Phật A-di-đà tu cũng có nghĩa là đánh thức khả năng hiểu biết, khả năng sống lâu, khả năng sử dụng phương cách độ sanh, giúp người. Nhờ nương với vị sáng suốt, tuổi thọ cao, nhiều phước đức như Phật Di Đà, từng bước mình cũng khắc phục được mặt yếu và phát huy được bản thân. Khi kết hợp tha lực với tự lực, tạo được sức mạnh cho bản thân, lúc ấy, chủ động được cuộc sống, nên không cần phải nhờ đến sự giúp đỡ bên ngoài nữa, và giảm thiểu việc cầu nguyện để tự giải quyết. Quá trình tiến tu này đạt kết quả nhờ khéo kết hợp cầu nguyện và tu hành. Trái lại, chỉ cầu nguyện mà không tu, giao phó toàn bộ cho Phật làm giùm ta, chắc chắn không thể được và cũng không phải là điều Phật muốn. Ngày nay, chúng ta nương theo Đức Phật A-di-đà tu, suy nghĩ về vô lượng thọ của Ngài, tức vấn đề sức khỏe, tại sao Ngài sống đạm bạc mà lại khỏe mạnh, trường thọ. Từ đó, chúng ta tu, làm chủ bản thân hay làm thế nào để xây dựng cuộc sống mình không bị khổ sở vì bịnh tật thể xác lẫn tinh thần hành hạ. Kinh nghiệm cho thấy ốm đau sanh ra vì sống không hợp lý, như người tu khổ hạnh ép xác, không đủ dinh dưỡng, tất phải bịnh. Ngược lại, các vị Thiền sư sống rất đơn giản nhưng lại rất khỏe, tuổi thọ cao. Quan sát thấy rõ các Ngài thường sống ở môi trường không khí trong lành, yên tĩnh, lượng thực thực phẩm đủ dinh dưỡng dùng cho cơ thể và sống không tổn hại cho các loài, không tranh chấp tính toán vơ vét lợi cho mình. Phương cách sống như vậy hoàn toàn phù hợp với tinh thần khoa học ngày nay. Thật vậy, qua các kiểm nghiệm khoa học cho biết không khí ô nhiễm, ăn uống quá độ, ăn nhiều thứ độc tố, cùng với đủ thứ stress vì lo toan, thủ lợi cho cá nhân một cách quá tham lam, mù quáng, cộng với vô số tiếng động đinh tai nhức óc, hoặc chạy theo biết bao bận rộn không cần thiết trong cuộc sống..., tất cả đã tác hại rất nhiều cho sức khỏe, gây ra đủ thứ bịnh tật, làm giảm tuổi thọ con người. Vì vậy, trên bước đường tu theo Phật giáo, làm chủ lấy mình, tự lành mạnh hóa thân tâm, cố làm sao bớt lệ thuộc vật chất, ăn mặc, giảm tiêu hao năng lượng, tránh gây ồn náo, bớt tác hại ô nhiễm môi sinh, hạn chế tranh giành hơn thua, đừng quá tham lam ích kỷ. Thực hiện được phần nào những điều ấy, tinh thần chúng ta chắc chắn có được phần nào sảng khoái, cơ thể tươi vui, khỏe mạnh. Bước thứ hai của người tu phát tâm Đại thừa, giáo hóa chúng sanh, thường nghĩ chúng ta không thể nào sống một mình và không thể tốt với xã hội không tốt. Chúng ta ý thức sự tác hại lớn lao của ô nhiễm môi sinh, không dám làm gì tổn hại, nhưng người khác không nhận thức như vậy hoặc quá tham lam cứ gây ô nhiễm, tất nhiên cuộc sống ta cũng bị vạ lây. Hoặc chúng ta đạo đức trong một xã hội tuột dốc, sa đọa, nhiều tệ nạn nhiễu nhương, thì cũng khó lòng an ổn. Vì vậy, Bồ-tát hành đạo không tìm chỗ trong lành, yên tĩnh, an nhàn như giai đoạn một, mà tiến một bước xa hơn nhằm tịnh hóa xã hội và thiên nhiên, tức con người và thế giới con người. Bấy giờ, Bồ-tát lo giải quyết việc cho người, làm sao giúp họ hiểu được gây ô nhiễm tác hại cho sự sống của họ, của tất cả mọi người, mọi vật trên hành tinh này. Bồ-tát đã lo xong phần tự giác và đến giai đoạn giác tha, dùng vô số phương tiện để nâng hiểu biết của người, khiến họ ý thức được tốt xấu, lợi hại, điều đáng làm và điều không nên làm. Trên tinh thần ấy, bước thứ hai, Bồ-tát đã thực hiện công việc giáo dục người, vì theo Phật dạy, tất cả thành bại đều do con người quyết định. Hướng dẫn cho người đồng tình với mình trong việc bảo vệ thiên nhiên, làm cho xã hội lành mạnh, đó chính là xây dựng Tịnh độ ở Ta bà. Với ý thức như vậy, Bồ-tát dấn thân không biết mệt mỏi, giúp người an lành là giúp mình an lành, cứu người thoát khổ là cứu mình khỏi khổ. Mang tinh thần giáo dục rộng lớn vô cùng ấy mà Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi cho biết tất cả chúng sanh thành Phật, thì Ngài mới thành, hoặc Địa Tạng Bồ-tát phát nguyện nếu còn chúng sanh trong địa ngục thì Ngài không thành Phật. Tóm lại, Phật giáo hướng dẫn triết lý sống hiểu biết đúng đắn, lành mạnh, đạo đức cho riêng bản thân mỗi người, được hàng Thanh Văn tu tập, ứng dụng ở giai đoạn một. Sau khi đạt được thành quả tốt đẹp ở bước đường tự giác xong, Thanh Văn tiến tu Bồ-tát đạo, giáo dưỡng cho người hướng thiện, xây dựng xã hội tốt đẹp, thế giới hòa bình, an lạc. Triết lý sống tròn đủ chân thiện mỹ của Phật giáo đã trường tồn hơn 25 thế kỷ và cũng sẽ là mô hình lý tưởng hiện đại và trong tương lai cho nhân loại nương theo để kiến tạo ngôi nhà chung xanh sạch, đầy cảm thông, hiểu biết, đầy tình thương, hạnh phúc, ấm no. • VI. QUAN NIỆM VỀ ĐẠO PHẬT SAU KHI PHẬT THÍCH CA NHẬP DIỆT Đức Phật Thích Ca hiện thân trên cuộc đời, mang thân tứ đại như chúng ta. Tuy nhiên, qua cuộc đời giáo hóa độ sanh của Ngài, chúng ta thấy thể hiện rõ nét ba đặc tính: Trí tuệ, Từ bi, Bình đẳng, hàm chứa đầy đủ trong con người siêu phàm ấy. Thật vậy, Đức Phật tiêu biểu cho một bậc thánh nhân toàn giác, toàn thiện, toàn mỹ, vì mọi việc làm của Ngài trong suốt 49 năm cứu nhân độ thế đã tỏa sáng trí tuệ tuyệt vời, tình thương bao la và tinh thần bình đẳng tuyệt đối. Trên bước đường vân du hóa độ, tinh thần bình đẳng, từ bi và trí tuệ của Đức Phật đã là chất liệu thu hút đông đảo quần chúng thuộc mọi tầng lớp xã hội theo Ngài, sống gắn bó với Ngài. Nhìn vào giáo đoàn của Đức Phật, thấy rõ một sự kết hợp hài hòa từ vương tôn công tử, các nhà quyền quý, trưởng giả cho đến hạng người trí thức, thương gia hay thường dân và kể cả những người nghèo khổ, cùng đinh. Đặc biệt có nhiều giáo chủ của các tôn giáo khác quy phục Đức Phật. Điển hình như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ca-diếp là giáo chủ những ngoại đạo nổi tiếng đương thời trở thành đệ tử Phật, vì họ cảm nhận được lòng từ bi sâu xa, vô lượng của Ngài bao phủ trọn vẹn tâm hồn họ. Thật vậy, sống với ngoại đạo thì họ luôn tranh cãi, chống báng nhau; nhưng về với Phật, mọi bất hòa, hiềm khích tự tan biến như mây khói, không có ý thức chống đối nào có thể khởi lên trước ánh sáng từ bi cao cả của Đức Phật. Thực tế cuộc đời giáo hóa của Đức Phật thể hiện lòng từ ái bao dung của Ngài, đã từng làm dịu mát tâm ác độc của Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp đang sôi sục sân hận, ghét ganh, trở thành người biết ăn năn và xin từ bỏ những việc làm tội lỗi, bỏ cả quyền lợi của một giáo chủ lãnh đạo tu viện với 500 đệ tử, để theo Phật tu hành. Điều đó thật không phải chuyện đơn giản, thiết nghĩ ngoài tấm lòng từ bi vô lượng của Đức Phật ra, không ai có khả năng cảm hóa như vậy. Trí tuệ Phật, hay hiểu biết của Ngài về cuộc đời, về mọi việc trong vũ trụ giúp cho người thấy vấn đề sáng ra, trong kinh điển thường gọi là khai ngộ. Chưa gặp Phật, chấp đủ thứ, bị mọi định kiến ràng buộc, nhưng không giải quyết được gì. Về với Phật, trí tuệ Ngài chỉ đạo cho họ tháo gỡ mọi gút mắc, thoát khỏi những sai lầm trói buộc một cách nhẹ nhàng. Nói khác, nương theo Phật tu, trí sáng ra, nên họ tự vượt khó khăn dễ dàng, tự giải quyết được đúng đắn, lợi ích. Chúng ta còn nhớ Xá-lợi-phất hạnh ngộ Đức Phật, trí tuệ Ngài đã tác động vị thánh đệ tử này, giải tỏa được mọi thắc mắc, khổ đau cho ông. Bao nhiêu ẩn số về cuộc đời tồn đọng, làm đau đầu, nhức óc đại luận gia Xá-lợi-phất bỗng chốc được khai thông. Quả là kỳ diệu, ông đã thấy rõ đáp số cho mọi vấn đề khi vừa nhìn thấy hình bóng giải thoát của Đức Phật. Phần lớn những nhà trí thức theo Phật, thoát khỏi hố sâu của lý luận, thắc mắc tự tiêu tan, nhẹ nhàng thanh thản trước cuộc đời, thường được diễn tả là giải thoát tri kiến. Mặc dù Đức Phật được tôn là đấng Vô Thượng Sư, nhưng trong cuộc sống, Ngài đối xử với mọi người rất bình đẳng. Sinh hoạt của giáo đoàn dưới sự hướng dẫn của Ngài, thể hiện tinh thần phá bỏ giai cấp một cách triệt để. Đức Phật sống hài hòa với tất cả đệ tử, tâm bình đẳng của Ngài bao phủ trọn vẹn đại chúng, khiến họ tự quên mình thuộc giai cấp nào. Vì vậy, người quyền quý, giàu có, trí thức tu chung với người nghèo khổ, bình dân mà vẫn hòa hợp, thanh tịnh, không chướng ngại. Ba đức tính cao quý: Trí tuệ, Từ bi, Bình đẳng của Đức Phật được các thánh đệ tử tiếp nhận và tiếp tục thắp sáng trên bước đường truyền giáo. Các vị A La Hán hành đạo khắp nơi trên thế giới, đến nơi nào cũng thể hiện ba điều cao quý ấy, tạo thành nếp sống hài hòa với mọi người, mọi nơi, mọi hoàn cảnh, mà kinh thường gọi là tùy duyên. Thí dụ khi đặt chân đến Trung Hoa, các nhà sư truyền giáo đã kết hợp hài hòa tinh ba của Phật pháp với văn hóa truyền thống sẵn có là Lão-Trang, Khổng-Mạnh. Hài hòa đến độ dân chúng nơi ấy thấy các nhà sư Phật giáo là người của Lão-Trang hơn cả Lão-Trang. Trong lịch sử, cũng thể hiện rõ nét tinh thần ấy. Như Đạo Dung, Đạo Sanh, Tăng Triệu, Tăng Duệ là học trò nổi tiếng của hai đạo Lão-Trang và Khổng-Mạnh, sau này trở thành đệ tử của ngài Cưu Ma La Thập, đóng vai trò trợ thủ đắc lực nhất cho Ngài trong việc phiên dịch kinh điển. Thiết nghĩ, nối gót theo tinh thần bình đẳng, vô ngã hoàn toàn, các nhà sư truyền đạo không mang định kiến đạo Phật phải là thế này, không thể thế kia. Nhưng đối với họ, tinh ba của con người là một phần của đạo Phật, nên thường lựa chọn những gì tốt nhất của con người thì phát huy cái đó. Theo tinh thần ấy, các nhà truyền giáo đã lấy những điểm hay, đẹp của Lão-Trang, Khổng-Mạnh để kết hợp với áo nghĩa của đạo Phật, dùng phương tiện hài hòa ấy mà chuyển hướng họ dần theo chánh pháp. Có thể khẳng định bản chất của người tu sĩ vô ngã vị tha, lấy văn minh của xã hội, những điều hay đẹp của quần chúng trang nghiêm cho đời, nên họ và người hài hòa được với nhau. Cũng trên tinh thần vô ngã, Phù Vân Quốc sư khuyên Vua Trần Thái Tông không nên bỏ ngai vàng để vô núi tu. Con đường thăng hoa cuộc sống tâm linh đối với vua là phải lấy tâm người làm tâm mình, lấy yêu cầu của quần chúng làm yêu cầu của mình, trở về triều lo việc trị nước an dân. Phật giáo trên con đường phát triển, truyền sang Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan v.v..., đến nơi nào, đạo Phật đều thích hợp với văn hóa dân tộc bản địa và trở thành lẽ sống cho người thăng hoa, tạo thành thế Phật giáo tồn tại vững chắc, lâu dài, hiền hòa. Sống tách biệt, chống đối, thù hiềm, mưu cầu lợi ích riêng tư... chưa bao giờ là hành trang của người đệ tử chân chính nối gót chân Phật. Đức Phật đã thể hiện trọn vẹn tinh thần vì lợi ích cho số đông trên bước đường giáo hóa, tạo thành nét đẹp tuyệt vời của một giáo đoàn thanh tịnh, hòa hợp với xã hội. Tinh thần hài hòa của Đức Phật là chất liệu quý báu đưa Phật giáo phát triển khắp năm châu, tồn tại hơn 25 thế kỷ. Đặc biệt ngày nay, Phật giáo đang lần bước mở rộng ở các nước Tây phương. Và những vị Thiền sư cũng theo tinh thần phục vụ vô ngã, đã nhẹ nhàng ảnh hưởng cho người phát triển tâm linh, khai thông được những bức bách của xã hội văn minh. Tóm lại, hàng đệ tử Phật đời sau nối tiếp hạnh nguyện của Ngài, thể hiện được chân tinh thần trí tuệ, từ bi, bình đẳng, vô ngã vị tha, thì hành đạo ở nơi nào cũng được mọi người kính mến, quý trọng, thành tựu mọi việc lợi cho đời, tốt cho đạo. Theo dòng thời gian, Phật giáo nhẹ nhàng lặng lẽ đi vào lòng người ở khắp mọi nơi trên thế giới. Không đâu không có hình bóng những người nối chí Phật, được kinh Hoa Nghiêm diễn tả là Pháp thân Phật. Thiết nghĩ, lòng từ bi bao la, vì người, lo cho người được soi sáng bởi trí tuệ toàn giác theo Phật dạy chắc chắn có giá trị muôn đời, ở bất cứ nơi nào trên trái đất này. Cảm nhận sâu sắc những đức tính cao thượng tuyệt vời ấy của Đức Từ Phụ, chúng ta sung sướng hướng về Ngài, ca ngợi, đảnh lễ: Tu Học và Giác Ngộ Là một người độc thân lang thang tầm đạo, Đức Phật đã tu học với hai vị thầy về các phương pháp để đạt đến những mức độ định tâm khác nhau (bsam-gtan, tiếng Phạn: dhyana) và định vô sắc. Mặc dù Ngài đã có thể đạt đến các trạng thái sâu xa của định tâm hoàn hảo, không còn trải nghiệm nỗi khổ thô trọng, hay ngay cả hạnh phúc tầm thường của thế gian, nhưng ngài không thấy thỏa mãn. Những trạng thái tâm thức cao hơn này chỉ mang lại sự vơi đi tạm thời, không phải là sự giải thoát vĩnh viễn đối với những cảm thọ ô trược, và chắc chắn không diệt được những nỗi khổ trầm luân, sâu xa hơn mà Ngài đã tìm cách vượt qua. Sau đó, Ngài hành trì pháp tu cực kỳ khổ hạnh với năm người bạn đồng tu, nhưng lối tu hành này cũng không loại bỏ được những vấn đề sâu sắc hơn, liên quan đến sanh tử luân hồi bất khống chế (‘ khor-ba, tiếng Phạn: samsara). Việc Đức Phật chấm dứt việc nhịn ăn sau sáu năm tu hành khổ hạnh bên bờ sông Ni Liên Thiền (Nairanjana River, Chu-bo Nai-ranyja-na), cùng với việc cô gái Tu Già Đa (Sujata, Legs-par skyes-ma) dâng cho Ngài một bát cơm sữa, chỉ xuất hiện trong các bản tường thuật về sau. Đối với chúng ta, tấm gương của Đức Phật cho thấy ta không nên chỉ thỏa mãn với việc tĩnh tâm hoàn toàn, hay đạt được cảm giác “thăng hoa” nhờ thiền định, không kể đến những phương tiện nhân tạo như chất ma túy. Đi vào một trạng thái hôn mê sâu xa, hoặc hành hạ hay trừng phạt bản thân cũng không phải là giải pháp. Chúng ta phải đi trọn con đường dẫn đến sự giải thoát và giác ngộ, không nên thỏa mãn với những phương tiện tâm linh không thể đưa ta đến những mục tiêu này. Sau khi từ bỏ lối tu khổ hạnh, Đức Phật đã ngồi thiền một mình trong rừng già để chiến thắng nỗi sợ hãi. Bên trong sự sợ hãi là tâm ái ngã và sự bám chấp vào “cái tôi” không thể hiện hữu, thậm chí chúng còn mạnh hơn thái độ thôi thúc tìm kiếm các thú vui và giải trí tiềm ẩn bên trong. Vì vậy, trong tác phẩm Pháp Luân của Vũ Khí Sắc Bén (Blo-sbyong mtshon-cha’i ‘khor-lo) vào thế kỷ thứ 10 trước Công Nguyên, vị đạo sư người Ấn Độ Dharmarakshita (Dharma-rakshi-ta) đã sử dụng hình ảnh các con công đi lang thang trong rừng cây độc để tiêu biểu cho các vị bồ tát sử dụng và chuyển hóa những cảm xúc độc hại của tham sân si, để giúp họ vượt thoát tâm ái ngã và sự bám chấp lấy một “cái tôi” bất khả. Sau nhiều công phu hành thiền, Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ lúc ngài ba mươi lăm tuổi. Các bản tường thuật về sau còn cung cấp các chi tiết về việc Ngài giác ngộ dưới một cây bồ đề (byang-chub-kyi shing) ở Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya, rDo-rje gdan) ngày nay, sau khi đã ngăn chặn thành công các cuộc tấn công của Ma Vương (bDud). Vị Ma Vương ganh tỵ này đã cố gắng ngăn cản Đức Phật giác ngộ bằng cách biến hiện ra những hình ảnh đáng sợ hoặc cám dỗ, nhằm làm nhiễu loạn việc thiền định của Đức Phật dưới cội bồ đề. Theo những bản tường thuật đầu tiên thì Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ bằng cách đạt được ba loại tri thức: tri thức toàn vẹn về tất cả các kiếp quá khứ của ngài, về nghiệp và sự tái sinh của tất cả chúng sinh, và Tứ Diệu Đế. Các bản tường thuật về sau còn giải thích rằng với việc giác ngộ, Đức Phật đã đạt được sự toàn trí. Phương Pháp Giảng Dạy của Đức Phật Đức Phật dạy mọi người vừa bằng tấm gương sống của Ngài, vừa bằng các chỉ giáo của Ngài. Về các chỉ giáo, Ngài áp dụng hai phương pháp, tùy vào lúc Ngài đang thuyết giảng cho một nhóm hay một cá nhân. Trước các nhóm thính chúng, Đức Phật sẽ giảng giải theo hình thức thuyết pháp, thường lập lại từng điểm với những từ ngữ khác nhau, để thính chúng có thể nhớ kỹ hơn. Tuy nhiên, khi ban chỉ giáo cho các cá nhân, thường là sau buổi thọ trai mà một gia đình nào đó đã thỉnh mời Ngài và tăng chúng của Ngài, Đức Phật sẽ sử dụng cách tiếp cận khác. Ngài không bao giờ phản đối hay thách thức quan điểm của người nghe, mà sẽ chấp nhận lập trường của họ và nêu ra những câu hỏi để giúp người nghe làm sáng tỏ tư tưởng của họ. Bằng cách này, Đức Phật dẫn dắt người nghe cải thiện lập trường của họ và dần dần đạt được sự hiểu biết sâu xa hơn về thực tại. Một ví dụ là việc Đức Phật dẫn dắt một người kiêu hãnh thuộc đẳng cấp tu sĩ Bà La Môn hiểu rằng tính ưu việt không bắt nguồn từ đẳng cấp người đó được sinh ra, mà từ việc phát triển những phẩm chất tốt đẹp của họ. Một ví dụ khác nữa là lời chỉ dẫn của Đức Phật đối với một bà mẹ tuyệt vọng, người đã mang xác đứa con của mình tìm đến Đức Phật và van Ngài hãy giúp cho đứa bé sống lại. Đức Phật bảo bà mẹ hãy mang đến cho Ngài một hạt giống mù tạt từ một ngôi nhà mà cái chết chưa bao giờ xảy ra, rồi Ngài sẽ xem có thể làm được gì để giúp con của bà. Người đàn bà đó đi hết từ nhà nọ đến nhà kia, nhưng gia đình nào cũng đều có người đã chết. Dần dần, bà nhận ra rằng mọi người đều phải chết và nhờ vậy, bà đã có thể bình tâm đem đứa con của mình đi hỏa táng. Phương pháp giảng dạy của Đức Thế Tôn cho chúng ta thấy rằng khi giúp người khác giải quyết vấn đề cá nhân, tốt nhất là đừng đối đầu với họ. Cách hữu hiệu nhất là giúp họ tự suy nghĩ cho chính họ. Tuy nhiên, đối với những nhóm người muốn học hỏi về giáo pháp thì chúng ta cần phải giải thích một cách thẳng thắn và rõ ràng. Những quan điểm trong giáo lý Đại Thừa mà Đức Phật không nói ( tránh ) trong giáo lý Nam Tông Tu học theo giáo lý Đại Thừa, chúng ta sẽ nhận thấy có những điều mà Đức Phật đã không nói hay đề cập đến trong các bộ kinh A Hàm. Tạm đưa ra những quan điểm chính như sau: Phật tánh, Trí Tuệ Bát Nhã, Bồ Đề Tâm, Hóa Thân, Chánh Pháp Nhãn Tạng của Thiền Tông . Vì sao có những quan điểm khác biệt này. Thật sự những quan điểm trên đã có trong giáo lý Nam Tông. Nhưng đều được ẩn ý hay chưa được định danh trong các pháp tu học được Đức Phật chỉ dạy. Con đường Đạo mà Đức Phật tìm ra, còn quá mới mẽ và bở ngỡ với những con người thời đó. Chưa một lần được nghe qua. Chưa một vị giáo chủ nào tìm thấy và truyền dạy. Làm sao có thể định nghĩa hay gọi tên tất cả những điều mà Đức Phật giác ngộ và chỉ dạy cho con người thời đó chỉ trong một thời gian. Các khái niệm về tôn giáo và triết lý thời ấy vốn đã quá phức tạp và chằn chịt, không đem đến an lạc hạnh phúc thật sự cho con người, mà còn làm cho xã hội và con người thời đó thêm rối ren và đau khổ. Đức Phật đã khéo léo trong việc truyền đạo và chỉ dạy. Làm sao để con người thời đó có thể tiếp thu chánh pháp dễ dàng nhất, sâu sắc nhất. Mà không phải vướn vào sự phức tạp của triết lý và lời nói, vốn dĩ đã làm sai lệch chân lý thời bấy giờ. Đức Phật lấy mục tiêu chỉ dạy các Pháp tu học để giải thoát sanh tử làm chủ đạo. Ngoài yếu tố trên, những gì có thể giải thích mà giúp cho việc tu học được thành tựu thì Đức Phật sẽ chỉ dạy. Ngoài ra nếu thấy không hợp thời, chưa phải lúc nói, hay không muốn nói thì Đức Phật chỉ im lặng. Lấy thực hành trong việc tu học làm kim chỉ nam để đạt được kết quả, tránh ngôn từ và danh gọi nhiều trong các pháp tu học thời bấy giờ. Những điều gì Đức Phật không diễn giải nhiều, hay không muốn nói ra theo danh gọi vào thời ấy vì nhiều nguyên nhân của thời đại. Và một điều quan trọng là chưa phải thời cho việc giáo hóa đạo với những quan điểm trên trong cái buổi ban đầu ấy. Đức Phật đã từng giữ một nắm lá trong tay và bảo chúng Tỳ kheo rằng: " Những gì Ta dạy các chúng Tỳ kheo thì cũng giống như nắm lá đang có trong tay Ta, còn những gì Ta biết và muốn chỉ dạy thì lại nhiều như lá trong rừng kia ". Sau khi Thế Tôn diệt độ. Những vị Bồ Tát sau này, vì mục đích hoằng dương Chánh Pháp, nối tiếp Thế Tôn. Và cũng vì căn duyên chúng sanh đời sau. Theo duyên chuyển hóa đạo vào từng thời điểm khác nhau mà phương tiện hình thành các quan điểm và danh gọi cụ thể, để chúng sanh tin nhận và ứng dụng tu học cho thật lợi lạc. Các Ngài cũng biết sẽ có nhiều chướng ngại, nhưng phải tùy duyên theo dòng đời mà hoằng đạo. Mỗi thời điểm mỗi khác, nhưng mục đích tối hậu là Chánh Pháp của Thế Tôn được truyền khắp đến tất cả chúng sanh và vẫn nguyên vẹn giá trị tu học Giải Thoát Sanh Tử, đem lại trí tuệ để chúng sanh có được cuộc sống an lạc thật sự. Trí tuệ trong đạo Phật Đại thừa Trí tuệ chính là sợi giây nối liền đạo Phật nguồn gốc, đạo Phật Nguyên thủy và đạo Phật Đại thừa (Mahâyâna). Người ta thường gọi Trưởng Lão Bộ (Sthaviravada), tiền thân của đạo Phật Nguyên thủy (Theravada), là "Cổ phái Trí tuệ"(Ancienne Ecole de Sagesse), và gọi phái Trung Quán (Mâdhyamaka) của Đại thừa là "Tân phái Trí tuệ"(Nouvelle Ecole de Sagesse). Thật ra, như chúng ta được biết, trong lịch sử phát triển của đạo Phật, các trường phái Đại thừa phân chia ra làm hai khuynh hướng : một bên là trí tuệ và một bên là đức tin. Tiêu biểu nhất cho trí tuệ là hệ thống Bát Nhã, dựa lên bộ kinh đồ sộ Bát Nhã Ba La Mật Đa ( Prajñâpâramitâ-sûtra), (toàn bộ in ra được 600 quyển!), với hai bài kinh quan trọng nhất là Đại Bát Nhã Tâm Kinh (Mahâprajñâpâramitâ-hrdaya-sûtra) và Kinh Kim Cương (Vajrachchedika-prajñâpâramitâ-sûtra). Tinh thần Bát Nhã được triển khai bởi ngài Long Thụ (Nâgârjuna), cầm đầu phái Trung Quán (Mâdhyamaka), nhà luận sư nổi tiếng đã chứng minh một cách sắc bén rằng sự thật không thể nào hiểu thấu được bằng lý luận. Theo ngài, trí tuệ là con đường khó, mà đức tin là con đường dễ. Ngài giảng muốn hiểu giáo lý của đức Phật thì phải hiểu hai mức độ, hay đúng hơn hai kích thước của sự thật, sự thật tương đối (samvriti-satya) và sự thật tuyệt đối(paramartha-satya). Và sự thật tuyệt đối là tánh Không (sûnyatâ), là cái không thể nghĩ bàn, không thể nắm bắt bằng những khả năng thông thường của trí tuệ, mà chỉ có thấu hiểu được bằng trực giác, bằng thực nghiệm. Bài Đại Bát Nhã Tâm Kinh, tuy chỉ có 260 chữ, nhưng chứa đựng được tất cả cốt tủy của tinh thần Bát Nhã. Pâramitâ có nghĩa là vượt qua. Người ta có thể hiểu theo nghĩa vượt qua bên kia bờ, bên này là vô minh phiền não, bên kia là giác ngộ giải thoát, và trí tuệ Bát Nhã là con thuyền chở con người qua bên kia bờ sông. Nhưng đọc và thấm cả bài kinh, chúng ta mới thấy rằng trí tuệ theo tinh thần Bát Nhã rất là đặc biệt, có thể gọi là siêu việt. Trong bài kinh có câu " vô trí diệc vô đắc ", nghĩa là không có trí tuệ mà cũng không có chứng đắc. Sau khi khẳng định rằng " không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ", thì kinh nói rằng " không có vô minh, cũng không có hết vô minh, không có già chết, cũng không có hết già chết, không có khổ, tập, diệt, đạo, không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc ", tức là tất cả những gì đã học trong giáo lý căn bản của đức Phật đều không có thật, đều là những chân lý tương đối, tạm bợ... Bởi vì tướng Không của các pháp là không sanh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt, không một không hai. Thấu được lẽ Không của các pháp, của mọi sự vật, mới là trí tuệ thực sự, vượt qua cả trí tuệ (au-delà de la sagesse). Đó mới là ý nghĩa của kinh Bát Nhã siêu việt, tức là Prajñâpâramitâ-sûtrâ, bộ kinh căn bản của Đại thừa. Con đường phát triển trí tuệ Làm thế nào để phát triển trí tuệ ? Đó là câu hỏi chung của những người tu học Phật. - Đối với người mới học Phật thì đạo Phật có vẻ phức tạp, với nhiều môn phái, kinh điển, không biết nên theo ai, bắt đầu bằng gì. Với niềm lo âu là nhỡ lầm thầy, lẫn sách thì có thể sai đường, mất thời giờ hay có khi có hại. - Đối với người đã lâu năm tu học Phật, thì nhiều khi thấy rằng mình tuy đã có khá nhiều hành lý về giáo lý, nhưng vẫn dậm chân tại chỗ, và thực tế mà nói vẫn chưa tiến được bao nhiêu (đôi khi có lẽ vì hành lý nặng quá!). Đạo Phật là một con đường thực nghiệm. Mỗi người tự rút ra những kinh nghiệm cá nhân, chỉ có giá trị cho chính mình. Nhưng dẫu sao, từ nhiều kinh nghiệm cá nhân, chúng ta cũng có thể rút ra một số bài học chung : 1. Những lịch trình tu học Phật thường được theo từ xưa tới nay vẫn còn giá trị. * Đó là " tam vô lậu học ", tức là giới (sila), định (samâdhi) và huệ (pañña). * Đó là " văn, tư, tu ", tức là ba loại hiểu biết, được phân biệt trong Trường Bộ Kinh (Digha-nikaya) và Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga) : sự hiểu biết dựa lên học hỏi (sutta-maya-pañña), sự hiểu biết dựa lên suy tư (cinta-maya-pañña) và sự hiểu biết dựa lên tu tập (bhavana-maya-pañña). * Đó là " lục độ Ba la mật ", tức là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ. 2. Trí huệ dĩ nhiên là giai đoạn cuối cùng và cao nhất. Nhưng chúng ta cũng không quên được vai trò cốt yếu của thiền định (bhavana hay jhâna / dhyâna) : chính nhờ thiền định mà đức Phật Thích Ca đã giác ngộ dưới gốc cây Bồ đề, và chỉ có thiền định mới giúp phát triển được trí huệ, nhờ hai phương pháp là chỉ (samatha, calme mental, tranquillity), tức là định (samâdhi), và quán (vipassana, vision pénétrante, insight). Một câu hỏi có thể đặt ra, nhưng có lẽ chỉ có những đương sự mới có thể trả lời được : tụng niệm (theo Tịnh Độ tông chẳng hạn) có thể đưa tới trạng thái chỉ (hay định), nhằm đi tới "nhất tâm bất loạn". Nhưng liệu tụng niệm có thể nào đưa tới trạng thái quán, và như vậy đưa tới huệ không ? 3. Kinh điển có cần thiết hay không trong sự phát triển trí tuệ? Thiết tưởng đạo Phật là con đường trung đạo, cho nên cũng nên nhìn kinh điển trong tinh thần đó. Kinh điển chỉ là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng, cho nên không nên coi kinh điển là chính yếu, không nên bám víu vào kinh điển, và bù đầu bù óc vào kinh điển. Ngược lại, cũng không nên bác bỏ mọi kinh điển, bởi vì kinh điển có thể giúp mình tiến bước trên con đường tu học. Chúng ta nên nhớ rằng ngay cả những người có căn cơ xuất chúng như ngài Huệ Năng cũng nhờ nghe câu kinh mà ngộ đạo. Liên hệ giữa từ bi và trí tuệ Nói về trí tuệ sẽ rất thiếu sót nếu không nói tới những tương quan giữa từ bi và trí tuệ. Người ta thường cho rằng đạo Phật Nguyên Thủy đặt nặng về trí tuệ, trong khi đạo Phật Đại Thừa đặt nặng về từ bi. Sự thật không hẳn là như vậy. Trong kinh Từ Bi (Metta-sutta), thuộc hệ thống Pali, đức Phật đã dậy cho chúng ta phải thương yêu, cứu độ tất cả các chúng sanh, không phân biệt, không điều kiện, không giới hạn. Trong bài kinh này, ngài không nói tới những liên hệ mật thiết giữa trí tuệ và từ bi, nhưng nếu chúng ta hiểu rõ lý duyên khởi, là sự tương quan, tương duyên, tương tác, tương hữu giữa mọi sự vật, thì sự liên hệ mật thiết giữa từ bi và trí tuệ trở nên vô cùng sáng tỏ. Bởi vì tất cả chúng sanh đều có liên đới với nhau như anh em, bà con ruột thịt, cho nên sự khổ đau của chúng sanh cũng không khác gì sự khổ đau của chính mình. Với Đại Thừa, lý tưởng A La Hán được thay thế bằng lý tưởng Bồ Tát, và từ bi được đề cao bởi những nhân vật như ngài Duy Ma Cật (Vimalakirti) : " Sở dĩ Bồ Tát bệnh là bởi vì chúng sanh bệnh. Bao giờ chúng sanh khỏi bệnh, thì Bồ Tát cũng khỏi bệnh". Trong Kinh cũng nhấn mạnh : " Có hai điều mà Bồ Tát phải ghi nhớ, là không bao giờ bỏ rơi chúng sanh, và nhìn thấy rõ rằng tất cả là Không". Có thể nói rằng từ bi có vững chắc được là nhờ nền tảng trí tuệ, và trí tuệ có phát triển được là nhờ ở từ bi. Thiếu trí tuệ thì từ bi sẽ có thể chỉ là cảm xúc nhất thời, và thiếu từ bi thì trí tuệ khó lòng được thể hiện. Trong hành động cứu độ chúng sanh, con người từ bi tự quên mình, thực nghiệm được thêm Vô ngã, tánh Không, và tự mở mang thêm trí tuệ. Tới khi không còn phân biệt giữa người cứu độ và người được cứu độ, thì lúc bấy giờ đã tự giải thoát hoàn toàn. Từ bi và trí tuệ đi đôi và gắn liền với nhau, vì từ nguồn trí tuệ mà suối từ bi tuôn chẩy, nhờ suối từ bi cho nên cây trí tuệ trổ hoa. Như vậy, trong đạo Phật, từ bi và trí tuệ bổ túc cho nhau, nương vào nhau mà hiện hữu, cũng như hai mặt của một bàn tay, hay đôi cánh của một con chim. Con chim bay xa, bay xa mãi, khi không còn thấy bờ bên này hay bên kia... Sự phát triển của Đại thừa (Thích Thiền Tâm) Trang chủ › Nghiên cứu › Triết học Phật giáo Với mục đích trừ quan niệm chấp Không và thuyết minh Chân Tâm theo Hiện-tượng-quan, hai ngài Vô-Trước, Thế-Thân đề xướng thuyết A-lại-da-duyên-khởi. Nhưng, Thật-tướng chẳng phải thiên không, Duyên-khởi chẳng phải trệ-hữu, cả hai đều là thể diệu-hữu chân-không. Đây là điểm cốt yếu của hai hệ thống Đại-thừa Phật-giáo. Đề yếu: Theo Đại-thừa Khởi-Tín-Luận, tổng thể của nhất tâm có hai môn: Chân-như và Sanh-diệt. Chân-như-môn thuộc về Bản-thể-quan, Sanh-diệt-môn thuộc về Hiện-tượng-quan. Để phá quan niệm chấp có và thuyết minh chân tâm theo Bản-thể-quan, hai ngài Mã-Minh, Long-Thọ đề xướng thuyết Chư-pháp-thật-tướng. Với mục đích trừ quan niệm chấp Không và thuyết minh Chân Tâm theo Hiện-tượng-quan, hai ngài Vô-Trước, Thế-Thân đề xướng thuyết A-lại-da-duyên-khởi. Nhưng, Thật-tướng chẳng phải thiên không, Duyên-khởi chẳng phải trệ-hữu, cả hai đều là thể diệu-hữu chân-không. Đây là điểm cốt yếu của hai hệ thống Đại-thừa Phật-giáo. Kế thừa tư tưởng hai hệ thống nầy, tuy có nhiều luận-sư, nhưng hiển trứ hơn cả, bên Không-tông có hai ngài: Đề-Bà, Thanh-Biện, bên Hữu-tông có hai ngài Hộ-Pháp, Giới-Hiền. Về sau, các chi phái Đại-thừa tuy phát xuất ra nhiều, nhưng cũng không ngoài hai hệ thống Không và Hữu. Cho nên trong bản chương chỉ đưa ra Thật-tướng-luận và Duyên-khởi-luận để đại biểu cho sự phát triển của Đại-thừa Phật-giáo, chính là do chủ ý trên đây. Muốn cắt dây leo, nên từ cội gốc; căn bản đã thông, chi mạt cũng thông. Tôn chỉ nầy, các học giả tất cả đã biết rõ. Tiết I: Bốn Bậc Long Tượng Của Đại Thừa Tư tưởng Đại-thừa Phật-giáo ở Ấn-Độ, tổng yếu có hai hệ thống: hệ thống Bát-Nhã chủ trương thuyết Chư-pháp-thật-tướng, hệ thống Du-Già chủ trương thuyết A-lại-da-duyên-khởi. Khai sáng lập thuyết trước, có hai ngài: Mã-Minh, Long-Thọ. Khởi xướng lập thuyết sau, có hai ngài: Vô-Trước, Thế-Thân. Nay tưởng cũng nên lược thuật qua sự tích của bốn đại học giả ấy: 1. Ngài Mã-Minh (Asvaghosa): Niên đại xuất thế của Mã-Minh Bồ-Tát có nhiều thuyết khác nhau. Lại căn cứ nơi luận Thích-Ma-Ha-Diễn thì có đến sáu ngài Mã-Minh. Nhưng theo sự nhận xét của phần đông các nhà học Phật thì trước sau chỉ có một Mã-Minh Bồ-Tát. Và, riêng về thời đại trứ tác, bộ Đại-Thừa-Khởi-Tín đưa ra thuyết ngài xuất thế khoảng sau Phật diệt độ 600 năm, là có phần chính xác hơn hết. Ngài Mã-Minh dòng dõi Bà-La-Môn, người thành Sa-Kỳ-Đa (Sakera) thuộc xứ Trung-Ấn. Ngài là bậc học vấn uyên bác, biện tài vô ngại, văn chương, thi phú hơn người, thông suốt Phệ-Ðà cùng những môn học phụ thuộc, rành về các giáo quỹ chân ngôn. Ngài có những biệt danh là: Nan-Phục, Nan-Phục-Hắc, Dõng-Mẫu-Nhi, Phụ-Nhi, Pháp-Thiện-Hiện, Thể-Huệ... Ban sơ ngài học theo ngoại-đạo, biện luận thắng tất cả các học giả Phật-giáo tại nước Ma-Kiệt-Đà. Nhưng sau gặp đại-đức Hiếp-Tôn-giả và Phú-Na-Sa (Pùrnayasas) ngài bị chiết phục, suy kính hai vị ấy làm bậc thầy. Khi đã nương về chánh-pháp, ngài du hành các miền Trung, Bắc-Ấn, đem tài hùng biện chiết phục ngoại-đạo, tuyên dương Phật-giáo, thanh danh vang dội khắp nơi. Tương truyền ngài có tài vừa đàn vừa ca, làm cho loài ngựa cảm động chảy nước mắt, kêu lên tiếng bi thương. Và, lúc vua Ca-Nị-Sắc-Ca tiến đánh thành Hoa-Thị, đòi một trong hai điều kiện: dâng ngài Mã-Minh, hoặc nộp vàng chín ức. Chủ thành không có đủ vàng, đành phải đem ngài Mã-Minh ra thay thế. Khi vua được ngài Mã-Minh, liền rước về Bắc-Ấn để hoằng dương Đại-thừa Phật-giáo. Có thuyết nói, trong thời kỳ kiết-tập Kinh-điển lần thứ tư, ngài Mã-Minh đã tham gia với phận sự nhuận sắc văn chương. Về phần trứ thuật, tương truyền ngài có soạn hơn 100 bộ Kinh-luận, nhưng hiện nay chỉ còn mười tác phẩm như sau: Phật-Sở-Hành-Tán, Đại-Trang-Nghiêm-Luận-Kinh, Thập-Bất-Thiện-Nghiệp-Đạo-Kinh, Lục-Thú-Luân-Hồi-Kinh, Sự-Sư-Pháp-Ngũ-Thập-Tụng, Ni-Kiền-Tử-Vấn-Vô-Ngã-Nghĩa-Kinh, Đại-Tôn-Địa-Huyền-Văn-Bản-Luận, Đại-Thừa-Khởi-Tín-Luận, Bách-Ngũ-Thập-Tán-Phật-Tụng, và Bản-Sanh-Mạng-Luận. Trong bài tựa quy kính của Đại-Trang-Nghiêm-Luận-Kinh, ngài đã viết: Phú-Na, Hiếp-Tỷ-khưu Các học giả Di-Chức Chúng Tát-Bà-Thất-Bà Bậc Ngưu-Vương chánh đạo Những luận-sư như thế Nay tôi đều kính thuận. Phú-Na-Sa và Hiếp-Tôn-giả là bậc thầy của ngài. Di-Chức là dịch âm của danh từ Mahìsàsakà, tức Hóa-Tha-bộ. Tát-Bà-Thất-Bà là dịch âm của danh từ Sarvàtivàsda, tức Nhất-Thế-Hữu-bộ. Ngưu-Vương, có học giả cho là dịch âm của danh từ Kaukkutika, tức Kê-Dẫn-bộ. Xem thế thì biết sở học của ngài kiêm cả Đại-thừa, Tiểu-thừa. Bài tựa quy kính trên biểu lộ thái độ khoan hòa của một nhà học Phật, biết dung hợp tất cả giáo lý, không cuộc hạn tông phái nào, cốt để tìm cầu chỗ hay, gạt bỏ chỗ kém. Có thể cho tư tưởng của ngài Mã-Minh như một chiếc cầu nối liền giữa hai lãnh vực Tiểu-thừa, Đại-thừa vậy. 2. Ngài Long-Thọ (Nàgàrjuna): Ngài là người xứ Tỳ-Đạt-Bà (Vidharbha, có chỗ gọi Bối-Liệp-Nhĩ - Berar ở Nam-Ấn, thuộc dòng Bà-La-Môn, ra đời vào khoảng 700 năm sau Phật diệt độ. Ngài có biệt danh Long-Mãnh hoặc Long-Thắng, bẩm tánh kỳ ngộ, trí huệ sâu xa, xem nghe một lần là nhớ tất cả, không cần phải hỏi lại. Lúc thiếu thời, ngài đã tinh thông các Kinh-điển Phệ-Ðà, cùng những môn thiên văn, địa lý, y học, toán số và nhiều học thuật khác. Nhưng các môn học đó không làm cho tự tâm được thỏa mãn, nên ngài quyết chí xuất-gia tìm đạo lý cao siêu trong Phật-giáo. Lúc đầu ngài học về giáo lý Tiểu-thừa, sau lại nghiên cứu sang Đại-thừa Phật-giáo. Tương truyền rằng sau khi xuất-gia, trong vòng ba tháng ngài đã đọc hết ba pháp tạng, muốn tìm kinh khác mà không được. Nhân khi du hành đến Tuyết-Sơn, ngài gặp một vị Tỷ-khưu truyền dạy cho các Kinh-điển Đại-thừa. Thầy của ngài, tục gọi Tuyết-Sơn-lão-tỳ-khưu, chính là Tôn-giả La-Hầu-La-Bạt-Đà-La (cùng với đệ-tử ngài Đề-Bà, tên đồng mà người khác). Khi đã thông hiểu giáo lý thâm huyền, vì chí nguyện hoằng pháp, ngài đi du hóa các nơi, dùng tài biện luận hàng phục ngoại-đạo, và lập thành hệ thống Đại-thừa Phật-học. Địa điểm hoạt động của ngài có rất nhiều nơi, những chỗ trung tâm truyền bá là nước Kiều-Tát-La (Kosala). Vị quốc-vương ở bản xứ vì mến đức độ của ngài, nên phát tâm quy-y Phật-giáo và kiến tạo một đại tinh-xá ở Hắc-Long-Sơn (Bhràmaragiti) để cho ngài trụ trì. Tương-truyền ngài đã dùng thần thông đi xuống Long-cung, trong ba tháng đọc thuộc hết lược bản kinh Hoa-Nghiêm, gồm mười vạn bài kệ. Sau ngài lại đến thiết tháp ở Nam-Thiên-Trúc, được Kim-Cang-Tát-Đỏa Bồ-Tát truyền thọ cho kinh Đại-Nhựt, nên tinh thông cả Trì-minh-tạng. Vì thế người đời gọi ngài là bậc xướng đạo cả hai giáo pháp Hiển và Mật. Về công trình hoằng dương Phật-pháp, ngài được xem như Ðức Thích-Ca tái hiện. Trên lãnh vực trứ thuật, Long-Thọ Bồ-Tát đã soạn ra nhiều bộ luận. Tựu trung các bộ như: Trung-Quán-Luận, Đại-Trí-Độ-Luận, Thập-Trụ-Tỳ-Bà-Sa-Luận... là được lưu hành hơn cả. Giáo nghĩa của ngài đề xướng tuy nhiều, nhưng hiển trứ hơn cả là thuyết Bát-bất-trung-đạo và thuyết Vãng-sanh. Bát-bất-trung-đạo là: bất-sanh, bất-diệt, bất-thường, bất-đoạn, bất-nhất, bất-dị, bất-lai, bất-khứ. Trung-đạo đây không phải ý nghĩa trung gian giữa sự có không, sanh diệt, đoạn thường, mà là ý nghĩa vượt ra ngoài vòng tương đối sai biệt để hiển lộ thể chân-không diệu-hữu, thuộc trường hợp dứt bặt lời nói và sự suy nghĩ. Còn thuyết Vãng-sanh, như nơi phẩm Dị-Hành trong luận Thập-Trụ-Tỳ-Bà-Sa, ngài đã nói: “Từ địa vị phàm-phu cho đến ngôi vị Vô-thượng-chánh-giác có hai đường lối tu tập: Nan-hành-đạo và Dị-hành-đạo. Nan-hành-đạo là dụng công khắc khổ tu trì chẳng tiếc thân mạng, ngày đêm tinh tấn, mà được bất thối chuyển. Dị-hành-đạo là dùng phương tiện niệm danh hiệu chư Phật, mà được bất thối chuyển mau lẹ dễ dàng. Nan-hành-đạo thuộc về tự-lực; Dị-hành-đạo kiêm cả tự-lực và tha-lực”. Trong Dị-hành-đạo, ngài lại thiên trọng về phần niệm thánh hiệu Phật A-Di-Đà. Hai lập thuyết do ngài đề xướng, đã ứng hợp với lời huyền ký của Đức Phật trong kinh Lăng-Già: “Sau xứ Nam-Thiên-Trúc. Có danh đức Tỷ-khưu. Tôn hiệu là Long-Thọ. Hay phá hữu, vô tông. Tuyên dương pháp Đại-thừa. Trong thế gian hiển ngã. Được Sơ-hoan-hỷ-địa. Sanh về cõi Cực-Lạc”. 3. Ngài Vô-Trước (Asanga): Sau Phật diệt độ 900 năm, có hai bậc đại học giả Phật-giáo ra đời. Đó là ngài Vô-Trước và Thế-Thân. Sanh quán của hai ngài ở tại thành Bá-Lộ-Sa (Purasapura), thuộc nước Kiền-Đà-La miền Bắc-Ấn. Hai ngài nguyên dòng dõi Bà-La-Môn, thân phụ là Kiều-Thi-Ca (Kausika), thân mẫu là Tỷ-Lân-Trì (Virinci). Vô-Trước có ba anh em, ngài là anh cả, Thế-Thân là em lớn, Tỷ-Lân-Trì-Tử (Virincivaisa) là em út. Cả ba anh em đều xuất-gia đầu Phật. Ban sơ ngài Vô-Trước tin theo đạo Bà-La-Môn, sau bỏ Bà-La-Môn đi xuất-gia, học tập đạo pháp Tiểu-thừa thuộc Hữu-bộ. Nhưng vì không mãn nguyện với giáo lý ấy, ngài lại chuyển sang nghiên cứu Kinh-điển Đại-thừa. Tương truyền, ngài đã dùng sức thần thông lên cung trời Đâu-Suất (Tusita) để nghe Bồ-Tát Di-Lặc (Maitreya) giảng về pháp Đại-thừa. Sau khi đó, ngài lại thỉnh Bồ-Tát giáng xuống hạ giới, ngự tại một giảng đường thuộc nước A-Du-Đà (Ayodhyà) miền Trung-Ấn. Trong khoảng thời gian bốn tháng, cứ về đêm thì ngài nghe Bồ-Tát thuyết pháp, ban ngày lại đem những điều đã nghe được tuyên giảng cho đại chúng. Và cũng trong vòng bốn tháng. Bồ-Tát Di-Lặc đã nói xong năm bộ đại luận: Du-Già-Sư-Địa-Luận, Đại-Thừa-Trang-Nghiêm-Kinh-Luận, Thập-Địa-Kinh-Luận, Trung-Biên-Phân-Biệt-Luận, Kim-Cang-Bát-Nhã-Luận. Ngài Vô-Trước cũng có nhiều trứ tác riêng, gây thành hệ thống Pháp-Tướng Duy-thức-học. Nơi trung tâm hoằng pháp của ngài là hai nước A-Du-Đà và Ma-Kiệt-Đà. Ngài thọ được 75 tuổi. 4. Ngài Thế-Thân (Vasubandhu Bà-Tu-Bàn-Đầu): Sanh sau Vô-Trước luận-sư độ hai mươi năm, Thế-Thân Bồ-Tát là một bậc thông minh tài tuấn. Ngài xuất-gia theo Hữu-bộ, đến xứ Ca-Thất-Di-La học giáo nghĩa Đại-Tỳ-Bà-Sa, rồi trở về bản quốc là nước Kiền-Đà-La thuộc miền Bắc-Ấn, soạn ra bộ Câu-Xá-Luận. Lúc đầu ngài hết sức hoằng dương giáo lý Tiểu-thừa, bài bác Đại-thừa. Sau nhờ anh là Vô-Trước điểm hóa, ngài được khai ngộ, trở lại tuyên dương Đại-thừa Phật-giáo. Trước sau ngài trứ tác tất cả 500 bộ luận Tiểu-thừa và 500 bộ luận Đại-thừa. Căn cứ theo những bộ đã dịch sang chữ Hán, ta có thể chia tư tưởng học thuật của ngài thành năm thời kỳ: Tiểu-thừa Hữu-bộ, Đại-thừa Duy-thức, Kim-Cang-Bát-Nhã, Pháp-Hoa, Niết-Bàn và Tha-Lực-Tịnh-Độ. Sau các đại học giả: Mã-Minh, Long-Thọ, Vô-Trước, ta có thể nói Thế-Thân luận-sư là một ngôi sao sáng chói nhất trên nền trời Phật-học ở Ấn-Độ thời bấy giờ. Những đặc sắc của ngài cũng đi song song với Bồ-Tát Long-Thọ. Nếu Bồ-Tát Long-Thọ là bậc hưng long Đại-thừa Phật-giáo ở thời đầu, thì ngài là bậc trung hưng giáo pháp nầy ở thời giữa. Bồ-Tát Long-Thọ hoằng truyền Phật-giáo ở Nam-Ấn, ngài thạnh truyền chánh-pháp ở Bắc-Ấn. Bồ-Tát Long-Thọ kế thừa hệ thống giáo lý của Đại-Chúng-bộ, ngài kế thừa hệ thống tông nghĩa của Thượng-Tọa-bộ. Bồ-Tát Long-Thọ xương minh tư tưởng Chư-pháp-thật-tướng thuộc lập thuyết “Không”, ngài đề xướng tư tưởng A-lại-da-duyên-khởi thuộc lập thuyết “Hữu”. Bồ-Tát Long-Thọ vang danh là Thiên-bộ-luận-chủ, ngài cũng nổi danh là Thiên-bộ-luận-sư. Qua thời gian du hóa đó đây, cuối cùng Thế-Thân luận-sư trở về nhập diệt tại nước A-Du-Đà, hưởng thọ 80 tuổi. Tiết II: Chư Pháp Thật Tướng Luận Thuyết thật-tướng là một lối lý luận nói rõ thực thể của vũ trụ, đại để cũng như thuyết thực-tại (réalisme) thông thường, thực tại thuộc về trực quan giới, không thể đem lời nói và văn từ mà diễn tả được. Tuy nhiên, chúng ta có thể dùng những tỷ dụ tương tợ để hình dung nó. Trung-Quán-Luận nói: Các pháp nhân duyên sanh Ta nói tức là không Đó chính là Giả Danh Cũng là nghĩa Trung Ðạo. Bài kệ nầy thuyết minh: bởi các pháp do nhân duyên sanh ra, nên nó là không, giả, và chính là Trung Ðạo Thật tướng. Để hiểu nghĩa nầy rõ ràng hơn, ta hãy quay sang phân tích về đạo lý “Bát-bất”. Các pháp đã do nhân duyên hòa hợp mà sanh, nên chỉ là giả huyễn chớ không phải thật có; nếu quả thật có, tất ưng không đợi nhân duyên mới sanh. Vì nghĩa không phải thật sanh, nên gọi là “bất sanh”. Khi thế lực nhân duyên suy tàn, tất cả các pháp phải diệt; nhưng trước kia đã không sanh, thì nay đâu thật có diệt, vì thế nên gọi là “bất diệt”. Các pháp do nhân duyên mà có sanh trưởng đổi thay nên gọi là “bất thường”. Vạn hữu trước có sau không gọi là đoạn, nay đã không thật có, nên cũng chẳng có chi là đoạn. Đây là nghĩa “bất đoạn”. Các pháp sanh khởi trước sau chẳng giống nhau, như mộng với lúa không phải là một, đó là nghĩa “bất nhất”. Nhưng nếu quả mộng với lúa không phải là một, thì mộng không ưng sanh lúa, mà phải sanh cái khác; nay vẫn thấy sanh lúa, nên gọi là “bất dị”. Vạn hữu đã như huyễn, thì sự đến đi dường như trong mộng không có thiết thật, nên gọi là “bất lai, bất khứ”. Trước mắt chúng ta, xưa nay các đối tượng vẫn hiện bày ngàn hình muôn trạng, tại sao ngài Long-Thọ dùng thuyết “bát bất” để phủ nhận? Bởi theo quan niệm của thế gian thì các pháp có sanh, có diệt, có thường, có đoạn, có một, có khác, có lại, có đi; quan niệm nầy thuộc về lối mê chấp trên giả tướng. Để phá quan niệm ấy và hiểu rõ Thật Tướng Trung Ðạo, ngài Long-Thọ dùng tám thứ không là: không sanh, không diệt, không thường, không đoạn, không một, không khác, không lại, không đi. Thế thì sự phủ nhận trên, chỉ có tính cách bác phá quan niệm chấp tướng, chớ không phải thật phủ nhận các tướng, bởi hằng sa muôn pháp là diệu thể bồ-đề. Đây là lối dùng Không môn đi vào Thật Tướng. Đại-Trí-Độ-Luận nói: “Trong Phật-pháp có nhị đế, là: thế-đế và đệ-nhất-nghĩa-đế. Vì thế-đế nên Như-Lai nói có chúng-sanh, vì đệ-nhất-nghĩa-đế nên lại bảo chúng-sanh không thật có”. Trung-Quán-Luận cũng nói: “Chư Phật y theo nhị-đế mà thuyết pháp cho chúng-sanh, đó là thế-tục-đế và đệ-nhất-nghĩa-đế. Nếu người nào không biết mà phân biệt nhị-đế, tất không thể hiểu nghĩa chân thật của đạo pháp nhiệm mầu”. Căn cứ hai đoạn trên, ta thấy thế-đế hay đệ-nhất-nghĩa-đế đều là pháp giả lập để đối trị bệnh mê của chúng-sanh, nếu chấp một trong hai phương diện thì không làm sao hiểu được Phật-pháp. Như cái nhà do nhân duyên kèo, cột, vách, ngói hợp thành, nếu bảo đó là thật có hay thật không, đều là quan niệm trên mê chấp. Cho nên chư Phật không rời các pháp mà nói thật tướng, không động thật tướng mà lập các pháp. Vì thế, nhị-đế tuy hai mà chẳng phải hai, chỉ vì phàm-phu lầm diệu-hữu là vọng-hữu, Nhị-thừa mê chân-không làm thiên-không, nên mới dùng phương tiện để đối trị vậy thôi. Như trên, hai đạo lý bát-bất và nhị-đế là tư tưởng căn bản của Chư-pháp-thật-tướng-luận. Thật tướng nầy, như trước đã nói, chỉ cùng thí dụ tương tợ để ngộ nhập, tuyệt không thể dùng lời nói cùng văn tự miêu tả được. Cho nên, Duy-Thức-tông gọi là “Phế thuyên đàm chỉ”. Tam-Luận-tông gọi là “Ngôn vong lự tuyệt”; Thiên-Thai-tông gọi là “Bách phi câu khiển, tứ cú giai ly”; Thiền-tông gọi là “ Bất lập văn tự”; Hoa-Nghiêm-tông gọi là “Quả phần bất khả thuyết”; Chân-Ngôn-tông gọi là “Xuất quá ngôn ngữ đạo”; Tịnh-Độ-tông gọi là “Bất khả xưng, bất khả thuyết, bất khả tư nghị”. Muốn hiểu Thật-tướng, chúng ta nên thầm hội ý vị của những câu trên. Tiết III: Các Luận Sư Thuộc Hệ Thống Thật Tướng Luận Lập thuyết Chư-pháp-tướng-pháp nguyên từ hệ thống Đại-Chúng-bộ, do hai ngài Mã-Minh, Long-Thọ đề xướng, và căn cứ truyền giáo khởi thủy ở Nam-Ấn. Thừa kế tư tưởng nầy, có ngài Đề-Bà (Àryadeva Thánh-Thiên). Đề-Bà luận-sư ra đời vào thế kỷ thứ ba, sanh quán ở Tích-Lan, sau qua Nam-Ấn làm đệ-tử của Bồ-Tát Long-Thọ. Ngài có viết ra bộ Quảng-Bách-Luận, thường dùng lý thuyết “không” để hàng phục ngoại-đạo, sau bị họ oán sợ mà ám sát. Đệ-tử của luận-sư Đề-Bà là La-Hầu-La-Bạt-Đà-La (Ràhula bhadra), gọi tắt là La-Hầu-Đa-La, lại kế truyền học thuyết của thầy. Ngài là bậc thông minh, có tài biện luận, thường đến các nước ở vùng Trung-Ấn để tuyên dương giáo lý Đại-thừa. Chính ngài đã chú thích bộ Trung-Luận của Long-Thọ Bồ-Tát, nhưng rất tiếc không còn truyền được tới ngày nay. Đến thế kỷ thứ tư, có hai ngài Thanh-Mục (Pingala) và Kiên-Ý cũng tổ thuật tư tưởng của ngài Long-Thọ. Thanh-Mục luận-sư chú thích bộ Trung-Luận theo chủ nghĩa “Vô tướng giai không”; Kiên-Ý luận-sư thì viết ra bộ Nhập-Đại-Thừa-Luận. Qua thế kỷ thứ năm, ở Nam-Ấn có ngài Phật-Hộ (Buddhapàlita) ra đời, tuyên dương thuyết Trung-đạo phi-hữu-phi-không của Bồ-Tát Long-Thọ. Pho trứ tác của ngài về sau lưu hành sang Tây-Tạng gây thành hệ phái Trung-Quán-tông. Cuối thế kỷ thứ năm, cũng ở Nam-Ấn, có luận-sư Thanh-Biện (Bhàvaviveka - Tình-Biện), tạo ra bộ Chưởng-Trân-Luận và Bát-Nhã-Đăng-Luận. Luận-sư dung hòa Không-thuyết của Long-Thọ với Duy-thức-học, và đề xướng tục đế là pháp nhân duyên thể không, Chân-Đế là pháp tánh thường trú. Thế là thuyết Vô-tướng-giai-không của Bồ-Tát Long-Thọ đến giai đoạn nầy đã có hơi chuyển biến. Đối với thuyết Y-tha-khởi của Duy-thức thuộc Hữu-tông, luận-sư giải thích là nhân duyên không pháp. Lý luận nầy đã gây thành cuộc tranh biện dây dưa bất phân thắng bại của hai tông Không, Hữu. Cuối thế kỷ thứ sáu, có ngài Trí-Quang (Jnànaprabha), đệ-tử của Thanh-Biện luận-sư ra đời. Ngài khởi xướng lối phán thích giáo lý, đưa học thuyết của Bồ-Tát Long-Thọ lên hàng tối cao. Đồng thời ở Nam-Ấn lại có ngài Nguyệt-Xứng (Candrakìrti) soạn bộ Trung-Luận-Thích, lập thuyết cũng tương phù với ngài Phật-Hộ. Đầu thế kỷ thứ bảy có đệ-tử ngài Trí-Quang là Sư-Tử-Quang xuất hiện, giảng về Tam-luận tại chùa Na-Lan-Đà. Ngoài ra, còn có các luận-sư khác như Thắng-Quang, Trí-Hộ... đều tuyên dương giáo nghĩa của ngài Long-Thọ. Như thế, hệ thống truyền thừa về Thật-tướng-luận thuộc Không-tông, có thể sắp theo thứ tự như sau: Mã-Minh, Long-Thọ, Đề-Bà, La-Hầu-Đa-La, Thanh-Mục, Phật-Hộ, Thanh-Biện, Trí-Quang, Sư-Tử-Quang, Thắng-Quang, Trí-Hộ... Tiết IV: A Lại Da Duyên Khởi Luận Thuyết Thật-tướng của hai ngài Mã-Minh, Long-Thọ, thể hiện nghĩa chân-không của Như-Lai-tạng. Qua đến thời đại Pháp-tướng-học, hai ngài Vô-Trước, Thế-Thân, lại thuyết minh Như-Lai-tạng bằng nghĩa diệu-hữu. Từ trước, hàng Tiểu-thừa chỉ thành lập có sáu thức là: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân và Ý Thức. Song sáu thức là những tâm lý sanh diệt, vô thường. Như năm thức trước chỉ do sự kích thích của ngoại giới mà tả tượng vào nội tâm. Chúng không có những tác dụng tinh thần như: so sánh, suy luận hoặc truy niệm cảnh quá khứ. Có đủ những tác dụng ấy và chiếm được địa vị trọng yếu, duy có thức thứ sáu mà thôi. Nhưng ý thức cũng là một thứ tâm lý có gián đoạn, niệm trước đã qua, niệm sau mới đến. Và khi chúng ta chết rồi thì ý thức cũng tiêu tan. Thế thì cái gì duy trì nghiệp lực làm cho nó không gián đoạn sau khi chúng ta chết? Lý do trên là nguyên nhân thành lập ra A-lại-da-thức của phái Đại-thừa. A-lại-da có nghĩa: Hàm-tàng-thức hoặc Chủng-tử-thức, là một tâm thể chứa đựng tất cả chủng tử của vạn hữu, làm cội gốc duy trì và mở mang ra hiện tượng giới, có đủ ngàn hình muôn trạng bao la. Sáng lập ra thuyết A-lại-da-duyên-khởi là giáo phái Pháp-tướng, cũng gọi giáo phái Duy-thức. Ngoài sáu thức của Tiểu-thừa, phái nầy lập thêm hai thức nữa: Mạt-na (Màna) thứ bảy, và A-lại-da (Alaya) thứ tám. Mạt-na có nghĩa: Chấp ngã, một tâm lý lầm nhận cái ta là có thật. Theo nhà Duy-thức, nếu nói chân-như làm duyên khởi cho vạn hữu, là không hợp lý. Bởi chân-như thì bình đẳng đồng nhất, mà vạn hữu thì muôn hình sai biệt. Vậy căn nguyên phát khởi các hiện tượng muôn vàn sai biệt ấy, tất phải do muôn vàn chủng tử sai biệt. Nơi chứa đựng các chủng tử nầy là thức A-lại-da, và A-lại-da làm nhân duyên phát khởi các pháp, nên gọi là A-lại-da-duyên-khởi. Chính thức A-lại-da nầy cũng do nhân duyên mà thành. Từ vô số kiếp đến giờ, do nghiệp nhân lành dữ huân tập, nó vẫn luôn luôn sanh khởi không gián đoạn, chứa đựng tất cả mọi chủng tử và có khả năng vô hạn để phát hiện ra hữu-tình giới và khí-thế-giới. A-lại-da có hai: Chúng-sanh A-lại-da-thức và Như-Lai A-lại-da-thức. A-lại-da của chúng-sanh có tính cách biệt, A-lại-da của Như-Lai có tính cách đồng. A-lại-da của chúng-sanh vô thủy hữu chung. A-lại-da của Như-Lai vô thủy vô chung. A-lại-da của chúng-sanh thuộc Biến-kế-chấp-tánh. A-lại-da của Như-Lai thuộc Viên-thành-thật-tánh. Duy-thức-tông lập ra ba tánh: Biến-kế-chấp, Y-tha-khởi và Viên-thành-thật. Y-tha-khởi là các pháp do nhân duyên sanh khởi, đứng địa vị trung tâm. Trên Y-tha-khởi mà lầm nhận có không, đoạn thường, sanh diệt, quay cuồng theo hiện tượng là Biến-kế-chấp. Trên Y-tha-khởi mà tiêu diệt những quan niệm ấy, là Viên-thành-thật. Trong A-lại-da-thức của chúng ta chứa đủ chủng tử mê và ngộ. Nếu chúng ta hiểu rõ nhân, pháp như huyễn, không còn quay cuồng mê chấp theo muôn tượng, thì tâm thức lắng yên, phiền não tiêu diệt, lần lần sanh ra giác ngộ. Vậy từ mê đến ngộ chỉ là sự thay đổi quan niệm. Tóm lại, thuyết A-lại-da-duyên-khởi đứng về mặt diệu-hữu mà thuyết minh Như-Lai-tạng. Thể tướng A-lại-da nầy làm nhân duyên cho nhau sanh khởi vô cùng; trong vô thường ẩn lý chân thường, trong sanh diệt ẩn lý phi sanh diệt, mê cùng ngộ chỉ bởi nơi người mà thôi. Cho nên lời văn trong bài tựa kinh Lăng-Già nói: “Tâm không rời thức, hằng niết-bàn nơi sự diệt sanh; thức chẳng lìa tâm, uổng sống chết trong vòng thường trụ” là chỉ cho ý nghĩa nầy vậy. Tiết V: Các Luận Sư Thuộc Hệ Thống Duyên Khởi Luận Tư tưởng A-lại-da-duyên-khởi phát nguyên từ hệ thống Thượng-Tọa-bộ, do hai ngài Vô-Trước, Thế-Thân đề xướng, và căn cứ truyền giáo khởi thủy ở Bắc-Ấn. Tư tưởng nầy được truyền bá hầu khắp Ấn-Độ, đứng ngang hàng với lập thuyết Thật-tướng-luận của hai ngài Mã-Minh, Long-Thọ, gây thành hai hệ thống Phật-giáo lớn lao và có thế lực nhất đương thời. Thừa kế Duyên-khởi-luận, sau ngài Thế-Thân, có các luận-sư: Thân-Thắng (Bandhusri), Hỏa-Biện (Gitrabhàna), Đức-Huệ (Gunamati), An-Huệ (Sthiramati), Nan-Đà (Nanda), Tịnh-Nguyệt (Sudacandra), Hộ-Pháp (Dharmapàla), Thắng-Hữu (Visesamitra), Thắng-tử (Jinaputra), Trí-Nguyệt (Jnànacandra). Các luận-sư trên đều là những nhân vật từ đầu đến cuối thế kỷ thứ sáu, và cũng là mười đại luận-sư của Duy-thức-tông. Trong đây, ngài Hộ-Pháp là vị thừa kế chính thống và hoàn thành môn học của ngài Thế-Thân. Ngoài ra còn có ngài Trần-Na (Mahàdignàga Đại-Vức-Long) hoàn thành môn Nhân-minh-luận để phụ lực Duy-thức-học. Trong hàng đệ-tử ngài Hộ-Pháp có luận-sư Giới-Hiền (Silabhadra) cũng là một bậc thái đẩu của các học giả đương thời về môn Pháp-tướng. Về sự nhận thức, tuy cũng đồng tuyên dương Pháp-tướng-học, nhưng tư tưởng của các luận-sư trên có đôi chút khác nhau. Như các ngài: Thân-Thắng, Nan-Đà, Đức-Huệ, Tịnh-Nguyệt, chỉ thành lập có hai phần Duy-thức là Tướng-phần và Kiến-phần. Ngài An-Huệ thành lập thêm Tự-chứng-phần và bảo đó là tác dụng nhận thức có thực thể, còn Tướng, Kiến phần không có thực thể. Riêng hai ngài Hỏa-Biện, Trần-Na thì chủ trương cả ba đều có thực thể. Về sau, ngài Hộ-Pháp lại lập thêm Chứng-tự-chứng-phần để hoàn thành các thuyết trên. Đến tiền bán thế kỷ thứ bảy, khi ngài Huyền-Trang ở Trung-Hoa sang Ấn-Độ cầu pháp, Giới-Hiền luận-sư đã hơn 100 tuổi già. Tại học viện Na-Lan-đà, luận-sư đem pháp môn Duy-thức truyền cho ngài Huyền-Trang. Về sau Trang-sư tập hợp giáo nghĩa của mười bậc đại luận-sư trong tông Pháp-tướng mà viết ra bộ Thành-Duy-Thức-Luận. Về nội dung, ngài lấy giáo nghĩa của Hộ-Pháp luận-sư làm phần chính, còn học thuyết của chín vị kia chỉ đứng ở phần phụ. Theo ký sự của ngài Huyền-Trang, khung cảnh chùa Na-Lan-Đà gồm có tám viện, ba trăm phòng. Tăng-chúng tập hợp tại đó đến năm ngàn vị, những bậc luận-sư thuộc hai hệ thống Không, Hữu phần nhiều đều về ở đây. Người muốn lưu học lại chùa nầy, trước tiên phải qua một kỳ khảo sát về hạnh giải rồi mới được cho nhập học. Vì thế, các học giả đã tốt nghiệp ở chùa nầy, đều là những người tài đức trong Phật-giáo. Như trên đã nói, Thật-tướng-luận và Duyên-khởi-luận cấu thành hai tư trào lớn về giáo pháp Đại-thừa, diễn xuất hết tinh hoa của đạo Phật. Đến cuối thế kỷ thứ bảy lại có ngài Pháp-Xứng (Dharmakìrti), một bậc học rộng tài cao, viết ra Tạp-Lượng-Luận, chấn hưng Nhân-minh-học của ngài Trần-Na đến chỗ đặc sắc, làm cho pháp môn Duy-thức nảy thêm những tia sáng tân kỳ. Song song với hai tư trào Không, Hữu, Mật-giáo và Tịnh-độ-tông cũng được phát triển một cách cực thạnh. Vấn đề nầy không đơn giản, trong phần khác sẽ nói đến. Và nội dung của bản thiên xin kết thúc ở nơi đây 1. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật: Ðức Phật là hiện thân của tất cả các đức hạnh mà Ngài thuyết giảng. Trong thành quả của suốt 45 năm dài hoằng pháp, Ngài đã chuyển tất cả những lời nói của Ngài thành hành động; không nơi nào Ngài buông thả cái yếu đuối của con người hay dục vọng thấp hèn. Luân lý, đạo đức căn bản của đức Phật là toàn hảo nhất mà thế giới chưa bao giờ biết đến. [Giáo sư Max Miller, Học giả người Ðức]. Không một lời thô bạo nào được thấy thốt ra từ nơi đức Phật trong cơn tức giận, chưa từng có một lời thô bạo được thấy trên môi đức Phật kể cả trong lúc tình cờ. [- Tiến Sĩ S. Radhakrishnan]. Ðiều đáng chú ý nhất nơi đức Phật là sự kết hợp gần như độc nhất của một đầu óc khoa học trầm tĩnh và thiện cảm sâu xa của lòng từ tâm. Thế giới ngày nay ngày càng hướng về đức Phật, vì Ngài là người duy nhất tiêu biểu cho lương tâm của nhân loại. [Moni Bagghee, "Ðức Phật Của Chúng Ta"]. Các bạn thấy rõ Ngài là một nhân vật đơn giản, chân thành, đơn độc, một mình tự lực phấn đấu cho ánh sáng, một nhân vật sống chứ không phải là thần kỳ, tôi cảm thấy có một Người, đó là Ngài. Ngài đã gửi bức thông điệp cho nhân loại hoàn vũ. Có nhiều tư tưởng tuyệt diệu hiện đại của chúng ta rất gần gũi tương đồng với thông điệp của Ngài, tất cả những đau khổ, bất mãn trong cuộc sống, theo Ngài dạy: là do lòng ích kỷ. Lòng ích kỷ có ba dạng: - Một là tham vọng thỏa mãn cảm giác; - Hai là tham vọng muốn bất tử; - Ba là tham vọng thành công và trần tục. Con người trước khi có thể trở nên thanh tịnh, người đó phải ngưng sống theo giác quan hoặc cho riêng chính mình. Rồi con người đó mới trở thành một bậc đại nhân. Ðức Phật, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, năm trăm năm trước Chúa Christ, đã dạy con người đức tính vị tha. Trong một số chiều hướng Ngài rất gần gũi với chúng ta hơn, và đáp ứng được nhu cầu của chúng ta. Ðức Phật cũng tỏ ra sáng suốt hơn Chúa Christ trong sự quan tâm phục vụ con người và ít mơ hồ đối với vấn đề trường tồn bất tử của kiếp nhân sinh. [- H.G. Wells]. Tôi càng ngày càng cảm thấy đức Thích Ca Mâu Ni gần gủi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài, Ngài là Ðường lối, là Chân lý và là Lẽ sống. [- Giám mục Milman]. 2. Trí tuệ siêu việt của Đức Phật Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống của mình trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thánh thần nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không xâm nhập trong đời sống của Ngài được. [- Giáo Sư Eliot, "Phật giáo và Ấn Ðộ giáo"]. Ðức Phật không chỉ nhận thức được sự thực tối cao, Ngài còn biểu lộ kiến thức cao cả của Ngài, kiến thức cao hơn tất cả kiến thức của các "Thần linh và Người". Kiến thức của Ngài rất rõ ràng và độc lập không liên can gì đến thần thoại và hoang đường. Tuy nhiên, nơi đây lại còn cho thấy một hình thức vững vàng, tự nó biểu lộ được một cách rõ ràng và hiển nhiên để cho con người có thể theo Ngài. Vì lý do đó, đức Phật không đòi hỏi phải tin nhưng hứa hẹn kiến thức. [- George Grimm, "Giáo Lý của đức Phật"]. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đức Phật khuyến dụ, khẩn cầu và kêu gọi con người không nên làm hại một sanh mạng, không nên dâng lời cầu nguyện, lời ca tụng, hay hy sinh (sanh mạng) cho các Thần linh. Với tất cả tài hùng biện trong sự thuyết giảng của Ngài, đấng Vô Thượng Sư có lần hùng hồn tuyên bố là Thần linh, nói cho đúng, cũng cần đến sự giải thoát cho chính họ. [Giáo Sư Rhys Dadis]. Ðức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát lấy mình, như chính Ngài đã tự giải thoát lấy Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình. [- Tiến Sĩ Oldenburg, Một học giả Ðức]. Dường như người thanh niên bất diệt, hiền lành, ngồi khoanh chân trên hoa sen thanh tịnh với bàn tay phải dơ lên như khuyên nhủ như trả lời: "Nếu con muốn thoát khỏi sự đau khổ và sợ hãi, con hãy luyện tập trí tuệ và từ bi". [Anatole France]. Sự khác biệt giữa đức Phật và một người bình thường giống như sự khác biệt giữa một người bình thường và một người mất trí. [- Một Văn Hào]. Nếu chúng ta hỏi, chẳng hạn, có phải vị trí một hạt nhân điện tử lúc nào cũng giữ nguyên không thay đổi, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải vị trí của một hạt nhân điện tử thay đổi theo thời gian, chúng ta phải trả lời "không"; nếu chúng ta hỏi có phải hạt nhân đó đang di động, chúng ta phải trả lời "không". Ðức Phật cũng đã giải đáp như vậy khi có người hỏi tình trạng bản ngã của con người sau khi chết; nhưng những câu trả lời như trên không phải là những câu trả lời quen thuộc theo truyền thống khoa học ở thế kỷ 17 và 18. [J.Robert Oppenheimer]. Nếu một vấn đề nào đó cần được đề ra, vấn đề đó phải được giải quyết trong hài hòa và dân chủ theo đường lối dạy bảo của đức Phật. [- Tổng thống Nehru]. 3. Cống hiến của Đức Phật với nhân loại: Trong thế giới giông tố và xung đột, hận thù và bạo lực, thông diệp của đức Phật sáng chói như vầng thái dương rực rỡ. Có lẽ không bao giờ thông diệp của Ngài lại thiết yếu hơn như trong thời đại của thế giới bom nguyên tử, khinh khí ngày nay. Hai ngàn năm trăm năm qua đã tăng thêm sanh khí và chân lý của thông điệp này. Chúng ta hãy nhớ lại bức thông điệp bất diệt này và hãy cố gắng thi triển tư tưởng và hành động của chúng ta trong ánh sáng giáo lý của Ngài. Có thể chúng ta phải bình thản đương đầu cả đến với những khủng khiếp của thời đại nguyên tử và góp phần nhỏ trong việc khuyến khích nghĩ đúng (Chánh tư duy) và hành động đúng (Chánh nghiệp). [Tổng thống Nehru]. Trên quả địa cầu này, Ngài đem ý nghĩa những chân lý giá trị trường cữu và thúc đẩy đạo đức tiến bộ không chỉ cho riêng Ấn độ mà cho cả nhân loại. Ðức Phật là một nhà đạo đức vĩ đại kỳ tài chưa từng thấy có trên hoàn vũ. [Albert Schweizer, một nhà lãnh đạo triết học Tây Phương]. Sự thanh tịnh của tâm linh và lòng thương yêu tất cả sinh vật đã được dạy dỗ bởi đức Phật. Ngài không nói đến tội lỗi mà chỉ nói đến vô minh và điên cuồng có thể chữa khỏi bởi giác ngộ và lòng thiện cảm. [- Tiến Sĩ Radhakrisnan, "Ðức Phật Cồ Ðàm"]. Ðức Phật không phải là của riêng người Phật tử, Ngài là của toàn thể nhân loại. Giáo lý của Ngài thông dụng cho tất cả mọi người. Tất cả các tôn giáo khai sáng sau Ngài, đều đã mượn rất nhiều các tư tưởng hay của Ngài. [- Một học giả Hồi Giáo]. Khi chúng ta đọc những bài thuyết giảng của đức Phật, chúng ta cảm kích bởi tinh thần hợp lý của Ngài. Con đường đạo đức của Ngài ngay trong quan điểm đầu tiên là một quan điểm thuần lý. Ngài cố gắng quét sạch tất cả những màng nhện giăng mắc làm ảnh hưởng đến cái nhìn và định mệnh của nhân loại. [Tiến Sĩ S.Radhakrisnan,"Ðức Phật Cồ Ðàm"]. Ðức Phật là người cha nhìn thấy đàn con đang vui chơi trong ngọn lửa thế tục nguy hiểm, Ngài dùng mọi phương tiện để cứu các con ra khỏi ngôi nhà lửa và hướng dẫn chúng đến nơi an lạc của Niết bàn. [- Giáo sư Lakshimi Narasu, "Tinh Hoa Của Phật giáo"]. 4. Giáo pháp của Đức Phật: Ðọc một chút về Phật giáo là đã biết rằng hai ngàn năm trăm trước đây, người Phật giáo đã hiểu rõ xa hơn và đã được thừa nhận về những vấn đề tâm lý hiện đại của chúng ta. Họ đã nghiên cứu những vấn đề này từ lâu và đã tìm thấy câu trả lời. [- Tiến Sĩ Graham Howe]. Phật giáo chưa bao giờ ép ai theo dù dưới hình thức nào - hoặc ép buộc ý tưởng và niềm tin đối với người không thích, hoặc bằng bất cứ một sự tâng bốc nào, bằng lừa gạt hay ve vãn, hầu đoạt được thắng lợi để gia nhập vào quan điểm riêng tư của mình. Những nhà truyền giáo của đạo Phật không bao giờ thi đua để dành người quy nạp vào Ðạo như nơi chợ búa. [- Tiến sĩ G. P. Malasekara]. Chỉ nói về Phật giáo thôi, ta có thể xác nhận là tôn giáo này thoát khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo nhằm tạo trong mỗi cá nhân một sự chuyển hóa nội tâm bằng cách tự chiến thắng lấy mình. Nhờ đến sức mạnh và tiền bạc hay cả đến sự chinh phục để tác động mọi người vào đạo thì sao? Ðức Phật chỉ rõ một con đường giải thoát duy nhất để cho cá nhân tự quyết định nếu muốn theo tôn giáo này. [- Giáo Sư Lakshmi Nasaru, "Tinh Hoa của Phật giáo"]. Không thể cho rằng Phật giáo bị suy yếu, ngay hiện tại, vì Phật giáo bắt nguồn trên những nguyên tắc cố định chưa bao giờ bị sửa đổi. [- Gertrude Garatt]. Mặc dù người ta có thể được thu hút từ nguyên thủy bởi sự khoáng đạt của tôn giáo này nhưng người ta chỉ có thể tán dương giá trị thực sự của Phật giáo khi người ta phán xét kết quả tạo ra của tôn giáo này thông qua đời sống của chính mình từ ngày này qua ngày khác. [- Tiến Sĩ Edward Conze, Một học Giả Phật giáo Tây Phương]. Phật giáo là một tôn giáo tự giác, ít lễ nghi. Một hành động được thực thi với chính sự suy tư thì tự nó đã điều kiện hóa để không còn là một nghi lễ. Phật giáo nhìn bề ngoài có vẻ nhiều nghi lễ nhưng thực ra không phải như vậy. [- Tiến sĩ W.F.Jayasuriya, "Tâm lý và Triết lý Phật giáo"]. Là Phật tử hay không phải là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt, Bát chánh đạo và Tứ diệu đế của đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó. [Giáo sư Rhys Davids]. Trên những giải đất mênh mông của thế giới, vận mệnh nhân loại vẫn còn tồn tại. Rất có thể trong sự tiếp xúc với khoa học Tây phương và cảm hứng bởi tinh thần lịch sử, giáo lý căn bản của Ðức Cồ Ðàm được phục hưng và thuần khiết, có thể chiếm một vị trí phần lớn trong hướng đi của vận mệnh nhân loại. [- H.G.Well]. Lý thuyết của Phật pháp vẫn đứng vững ngày nay không bị ảnh hưởng bởi tiến trình của thời gian và sự tăng trưởng kiến thức, vẫn giữ nguyên như lúc ban đầu bầy tỏ. Dù cho kiến thức khoa học tăng tiến đến thế nào trên chân trời trí óc của con người, trong phạm vi Giáo pháp (Dhamma) cũng vẫn có chỗ để thừa nhận và đồng hóa các khám phá xa hơn nữa. Về phương diện thu hút của lý thuyết nầy không dựa vào các khái niệm giới hạn của các tư tưởng sơ khai, về phương diện khả năng cũng không bị lệ thuộc vào những phủ định của tư tưởng. [- Francis Story, "Phật giáo, Một Tôn Giáo Thế Giới"]. Phật giáo là một phương thức làm sao để đạt được lợi lạc cao nhất từ cuộc sống. Phật giáo là một tôn giáo của trí tuệ mà ở đấy kiến thức và thông minh chiếm ưu thế. Ðức Phật không thuyết giảng để thâu nạp tín đồ mà là để soi sáng người nghe. [- Một Văn Hào Tây Phương"]. "Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học". "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó". [Albert Einstein].