THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013
PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH ĐẶC TRƯNG VĂN BIA THỜI TRẦN
MỤC LỤC:
I). DẪN NHẬP :
II). NỘI DUNG:
1). Đặc điểm giá trị văn hóa truyền thống thể hiện qua chức năng:
2). Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam :
3). Tính diệu dụng giáo lý nhà phật trong văn bia:
4). Công trình Phật giáo tiêu biểu trong thời Trần:
5). Đặc điểm trang trí bia thời Lý Trần:
6). Đặc điểm trang trí bia thời Trần:
6.1). Trang trí trên trán bia:
6.2). Trang trí ở diềm bia và sườn bia:
6.3). Trang trí ở đế bia:
6.4). Một số tấm bia có hình trang trí độc đáo:
III. KẾT LUẬN:
MỤC LỤC THAM KHẢO :
PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH ĐẶC TRƯNG
VĂN BIA THỜI TRẦN
I). DẪN NHẬP :
Trải hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để sáng tác trước thuật, để ghi chép các công văn, tài liệu và khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, v.v.. và cùng nhiều loại tư liệu thành văn khác, ngày nay chúng ta gọi chung là di sản Hán Nôm.
Văn khắc là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa thành văn nói chung và di sản Hán Nôm nói riêng, là hiện tượng văn hoá được nảy sinh từ đời sống xã hội, là nét đặc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ. Văn khắc xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn khắc ở các nước sử dụng chữ tượng hình (chữ khối vuông) bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.
Chúng ta thấy một khối lượng văn khắc Hán Nôm mà người xưa để lại là khá lớn. Về số lượng phát triển của văn khắc qua các thời kỳ lịch sử rất đáng được quan tâm, nhưng điều quan trọng hơn mà giới khoa học giành nhiều công sức nghiên cứu là giá trị tiềm ẩn của loại văn bản này đối với việc nghiên cứu văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Văn khắc Hán Nôm được dựng ở hầu hết các thôn, xóm, xã, phường và gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa lâu đời của người Việt Nam. Văn khắc Hán Nôm thường được những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng một thời sáng tác với những nội dung phản ánh về con người, thiên nhiên, cuộc sống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Hơn nữa, trên mỗi văn khắc đều có những hình thức trang trí nghệ thuật, đây có thể coi là những tư liệu quí khi tìm hiều về lịch sử điêu khắc và thư pháp qua các thời kỳ. Chính vì thế, việc nghiên cứu tư liệu văn khắc Hán Nôm Việt Nam đã được nhiều thế hệ nghiên cứu, các tổ chức khoa học trong và ngoài nước quan tâm.
Trong quá trình trưởng thành và lao động, con người học hỏi từ gia đình, nhà trường, tôn giáo, giao tiếp xã hội… và thông qua đó xác định nên suy nghĩ và hành động như thế nào theo những giá trị của nền văn hóa. Giá trị là sự đánh giá trên quan điểm văn hóa nên khác nhau ở từng cá nhân trong một nền văn hóa, thậm chí có những giá trị mà đại đa số các thành viên trong nhiều nền văn hóa đều thừa nhận có xu hướng trường tồn như tự do, bình đẳng, bát ái, hạnh phúc…. Từ những giá trị về văn hóa như trên, hệ thống văn bia Việt Nam hiện tồn tại trong lịch sử cho đến nay là một di sản văn hóa của dân tộc, nó chính là sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại. Sự gắn kết ấy dù là vô hình hay hữu hình cũng đều cho chúng ta tự soi vào đó sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn.
Vậy văn Bia là gì? Khái niệm của các nhà ngôn ngữ học và xã hội học thì Bia là hình thức lưu trữ dữ liệu, thư tịch cổ có tính chất và ý nghĩa xưng tụng, tán dương hoặc đó là sự đánh dấu. Theo Từ Điển Hán Việt và Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học định nghĩa giải thích Bia hay Bi là tấm đá đúc, đẻo có khắc chữ, trong đó Bi: Tức là bia, bia đá, là sự đề cao, ví dụ như bi bản, bi biểu, bi chí, bi kệ, bi minh, bi bảng, bi trung….Ngoài ra, Bi hay Bia được khái niệm, định nghĩa theo các nhà Văn học, Lý luận thì Văn Bia hay Văn Bi là sự thể hiện chất hảo sảng, khí phách cốt cách thanh cao, công lao phi thường chất văn, chất nhân văn nhân tạo và thẩm mỹ tinh tế. Có nghĩa là lời hay chữ đẹp, ý thuần khiết thanh cao. Đặc tính nổi bậc là nghiên về tính chất tinh tế của sử liệu, viết theo thể văn xuôi biền ngẫu hoặc thi kệ tán văn. Hoặc là sự kết hợp giữa hai thể loại văn chương ấy.
Tiếp nối truyền thống nghiên cứu của các bậc tiền bối, đến thế kỷ XX, văn khắc Hán Nôm được giới nghiên cứu khoa học quan tâm toàn diện hơn ở hai lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu khai thác.
II). NỘI DUNG:
1). Đặc điểm giá trị văn hóa truyền thống thể hiện qua chức năng:
Ở Việt Nam văn khắc trên đá có một truyền thống lâu đời xuyên suốt qua nhiều thời kỳ giai đoạn lịch sử. Đến thế kỷ X, nước ta giành được độc lập tự do. Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử phát triển quốc gia Đại Việt và kết quả của một ý chí, một tinh thần đoàn kết kiên cường và bất khuất. Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt năm 938 đã chấm dứt thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam.
Thời Trần, Phật giáo vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội; tuy nhiên, với việc thi tuyển chọn quan lại trở thành thường xuyên, tầng lớp Nho sĩ ngày càng đông đảo, đã đẩy lùi dần dần thế lực của tầng lớp Tăng lữ trên lĩnh vực chính trị và tư tưởng. Hàng ngũ quan lại xuất hiện từ tầng lớp Nho sĩ ngày càng chiếm ưu thế trong bộ máy chính quyền và nắm giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Lực lượng sáng tác văn học và nghệ thuật cũng dần chuyển sang tầng lớp Nho sĩ. Các vua Trần đều ý thức được vai trò của Phật giáo và Nho giáo đối với xã hội. Trong thời kỳ này, Phật giáo thời Trần đã phát triển trong sự dung hòa đối với Nho giáo.
Văn bia thời Trần đã phản ánh được nhiều yếu tố, tính chất đặc trưng về không khí chính trị tư tưởng thời bấy giờ. Văn bia thời kỳ này khá phong phú, không chỉ với mục đích tôn giáo như văn bia thời Lý mà còn có các nội dung khác. Tuy nhiên văn bia thời Trần vẫn chủ yếu được dựng tại các chùa . Ví dụ như văn bia Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn đại bi tự, do Phạm Sư Mạnh soạn, niên đại Thiệu Khánh 3, (1372) đã viết: “Đất trời có tượng, tỏ chở che nuôi dựng muôn linh; thời tiết không hình, ngầm nóng lạnh để hóa thành vạn vật” .
Thời nhà Trần, khi Phật giáo còn chiếm ưu thế trong xã hội, một số tác phẩm có giá trị về triết lý và tư tưởng của Phật giáo xuất hiện như: Khóa Hư Lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục,… do vậy, văn bia thời kỳ này cũng vẫn xuất hiện những bài văn bia truyền bá tư tưởng Phật giáo và sự liên hệ giữa Phật giáo và Nho giáo. Văn bia Hưng Phúc tự bi, khuyết danh soạn, niên đại Khai Thái (1324) đã viết về mối quan hệ của Phật-Nho như sau: “Noi theo chí người trước làm sáng tỏ ở đời sau, họ Khổng gọi là hiếu; vui bố thí của tiền sáng lập ruộng phúc, đạo Phật gọi là từ. Ôi hiếu và từ há chẳng phải bản tâm con người hay sao? Vậy nên dốc lòng hiếu để báo cái ơn vô cùng, rộng điều từ để cầu phúc cõi âm mờ mịt. Khiến cho đời đời con chau nhờ ơn mưa móc, cảm sắc khói hương, mỗi lần chiêm ngưỡng lễ bái lại một lần dậy niềm hiếu kính, gây nền phúc lâu dài về sau”. Tuy nhiên vào những năm cuối thế kỷ XIV, đạo Phật đã kết thúc thời kỳ huy hoàng vàng son của mình khi mà Hồ Quý Ly ra lệnh sa thải Tăng đồ, bắt những người dưới 40 tuổi phải hoàng tục vào năm 1396.
Bố cục và đề tài trang trí trên văn bia thời Trần vẫn giống hệt văn bia thời Lý. Nhưng xu hướng sử dụng các đề tài và dáng dấp hoa văn có nhiều biến chuyển.
Hình phượng trên trán bia chỉ gặp trên một tấm bia sớm nhất thời Trần: Bia chùa Thiệu Long (Hà Nội) tạc năm 1226. Có thể nói trang trí trán bia Thiệu Long là sự tiếp nối truyền thống trên các trán bia cuối thời Lý.
Phổ biến trên trán bia thời Trần là hình rồng như các bi chùa Đại Bi, bia chùa Thanh Mai (Hải Hưng) bia chùa Sùng Hưng, bia chùa Hưng Phúc (Thanh Hóa), bia “Ngô gia thị bi” (Hà Nam Ninh)…. Rồng trên các bia Trần có thân bè mập, mao ngắn, khúc uốn doãng, các ký hiệu chữ S và chữ W thời Lý biến mất nhường chỗ cho các cập sừng nhiều kiểu khác nhau.
2). Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam :
Văn bia là hiện tượng văn hóa được nảy sinh từ đời sống xã hội như là nét đăc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ. Văn bia xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn bia bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản (những nước sử dụng chữ khối vuông).
Như vậy văn bia từ Hậu Hán mới xuất hiện. Còn Sự tổ quảng ký dẫn trong Quản Tử: “Vô Hoài thị phong cho thần núi Thái Sơn, khắc vào đá để ghi công, là nguồn gốc của khắc thạch, đó là điều chưa đáng tin hẳn”.
Văn bia, xét về mặt thể loại, đã được nền văn học truyền thống phương Đông xác định như là thể vănthời cổ đại. Nhiều nhà nghiên cứu văn học trên thế giới cũng có những nhận xét về thể văn này: “những bài văn bia đã đánh dấu bước đi ban đầu của văn học thành văn”, hay: “những trang sách đá là lĩnh vực đặc thù của nền văn học, trước hết là ngôn ngữ văn học.
Văn bia Việt Nam ra đời trong mối quan hệ văn hóa vùng, đó là sự tiếp nhận ảnh hưởng của truyền thống sáng tạo văn bia ở Trung Quốc, tất nhiên văn bia Việt Nam có những nét đặc trưng mang bản sắc của truyền thống văn hóa dân tộc. Đó là truyền thống của một dân tộc có lịch sử dựng nước lâu đời, có truyền thống anh hùng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, và những phong tục tập quán nhân hậu vị tha của nhân dân Đại Việt.
Từ những đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra nhận xét rằng: Văn bia được xác định như là thể văn trong hệ thống thể loại văn học cổ chỉ có ý nghĩa giá trị ở thời kỳ khai sáng của thể văn này. Trong tiến trình phát triển, thể văn bia được sử dụng hoàn toàn theo ý đồ sáng tác của các tác giả, có nghĩa là tác giả không bị ràng buộc bởi nội dung và hình thức thể loại cũng như chất liệu thể hiện mà đã được xác định của thể văn này. Như vậy rõ ràng là bia đá đã được coi như là một trong những loại hình văn bản trong sáng tác văn học nghệ thuật.
3). Tính diệu dụng giáo lý nhà phật trong văn bia:
Văn bia là một loại thư tịch, có niên đại rõ ràng, có giá trị như những tác phẩm văn học nghệ thuật, chứa đựng hệ thống thông tin nhiều mặt về lịch sự, kinh tế, xã hội…đương thời, không chỉ có giá trị trong quá khứ mà còn cả trong hiện tại.
Hệ thống văn bia Việt Nam hiện tồn tại là một di sản văn hóa của dân tộc, nó chính là sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại. Sự gắn kết ấy dù là vô hình hay hữu hình cũng đều cho chúng ta tự soi vào đấy để sống đẹp hơn có ý nghĩa hơn.
Ở Việt Nam, văn bia có từ rất sớm. Những văn bia có niên đại ra đời sớm được ghi nhận vào khoảng thời nhà Tuỳ đô hộ nước ta (từ năm 589 -617), hiện còn lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, hay bia tám mặt ở chùa Nhất Trụ - Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) do vua Lê Đại Hành dựng vào năm 995.
Trong cuốn Văn Khắc Hán Nôm do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1992, hiện nay nước ta có 1.919 tấm bia được tuyển chọn từ bia đình, đền, chùa, miếu, thành quách…trên khắp ba miền. Chỉ tính riêng Văn bia cung đình Huế đã để lại một số lượng lớn và phong phú những văn bia khắc bằng chữ Hán Nôm.
Văn bia thường dùng để ghi lại những sự kiện lớn diễn ra trong lịch sử, sự kiện văn hóa, chính trị…hoặc ca ngợi công đức của các vị vua cai trị và tôn vinh những bậc nho học có công trang hoặc đạt những giải cao trong các kỳ thi do triều đình tổ chức (bia Tiến sĩ).
Theo sử sách Việt Nam có viết, văn bia thường có nội dung về xây dựng như: chọn địa điểm, vị trí, theo thuyết phong thủy, ca ngợi cảnh đẹp, ca ngươi nhân vật được thờ tự...
Người soạn và viết văn bia phải là người có hiểu biết thâm sâu về Hán Nôm, văn hay, chữ đẹp, thường là những vị quan lớn trong triều, hoặc các nhà thiền sư, hay danh nho như Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu… Cuối văn bia thường ghi ngày, tháng, năm, niên hiệu viết nên văn bia đó để những đời sau biết đến và noi theo.
Văn bia là một tác phẩm thành văn được ghi trên đá, dó tính quan trong và có sự ảnh hưởng lớn mang tính lịch sử. Do vậy, văn bia thường được chăm chút nhiều về mặt mỹ thuật.
Trán bia là hình cong hai mặt, chạm khắc lưỡng long (hai con rồng) hoặc lưỡng phượng chầu “mặt nguyệt”. Thời Lý, mặt nguyệt là một vòng tròn sáng, nhọn ở đỉnh đầu, thời Trần thường thay bằng hình chữ Phật (Hán tự) hình vuông, thời Lê là là hình mặt trời có tia, thời Mạc là một vòng tròn ngoài có thêm 1 đến 3 vòng tròn đồng tâm, làm nổi rõ hình tượng “mặt nguyệt”, và về sau là hình mặt trời có nhiều tia sắc nhọn trông như ngọn lửa thiêng thiêu cháy mọi tà ma, bảo vệ sự trong sạch và an lành nơi đền chùa Phật pháp…
Mỗi thời, bệ bia đã cũng được điêu khắc theo một kiểu dáng riêng. Thời Lý, bệ bia được chạm khắc hình Rồng, Rắn quấn lấy nhau và đầu luôn vươn lên với ý nghĩa thiêng liêng. Thời Trần, bệ bia thường được điêu khắc hình Rùa với ý tưởng nhấn mạnh về một xã hội ổn định, phát triển trường tồn. Còn bệ bia thời Nguyễn là một khối đá trông vững chắc và uy nghi, có khi là hình tượng rùa đội bia được đặt lên bệ đá, với ý tưởng xây dựng một quốc gia vững mạnh, kỷ cương xứng danh nước Đại Nam sánh vai với nước Đại Thanh phía Bắc.
Bia đá chính là sự khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc, do đó chúng ta cần đọc, hiểu, trân trọng và phát huy hơn nữa những giá trị của ông cha ta để lại.
4). công trình Phật giáo tiêu biểu trong thời Trần:
Các ngôi chùa được xây dựng rải rác ở Đông Bắc và Tây Bắc Bắc Bộ nhưng tập trung nhất vẫn ở ven các triền sông vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. So với nhà Lý, phạm vi xây dựng chùa tháp thời Trần đã được mở rộng vào hướng Nam đến Thanh Hóa, Nghệ An.
+ Chùa Phổ Minh (Nam Định) được xây dựng khoảng năm 1262, còn lưu giữ được cánh cửa gỗ bốn tấm bằng gỗ lim, cao 1,9m và mỗi cánh rộng 0,8 m với những trang trí hình rồng, hoa lá và sóng nước. Một số thành bậc cửa bằng đá chạm rồng và sấu. Tháp Phổ Minh bằng đá, dựng trước cửa chùa vào năm 1305.
+ Chùa Bối Khê (Hà Tây) dựng năm 1338, chùa giữ được một số đầu bẩy chạm hình đầu rồng ngậm ngọc, phía ngoài có một hình chim, lưu được bộ vì kèo tại gian giữa tòa Thượng Điện và một số chạm khắc chim thần Garuda ở góc bệ đá và tường gạch, bệ đá hoa sen ba tượng năm 1382.
+ Chùa Thái Lạc (Hưng Yên) còn giữ được một số mảng cốn, ván nong trang trí rất đẹp. Điêu khắc gỗ của chùa này và chùa Bối Khê tiêu biểu cho điêu khắc gỗ kiến trúc Phật giáo thời Trần.
+ Chùa Báo Ân (Gia Lâm, Hà Nội) còn lại những di vật cổ như mảng nền, kết cấu sáu hàng chân cột, một vì rộng 13m và một số hiện vật bằng đất nung mang phong cách trang trí thời Trần. Điêu khắc trang trí có bệ đá hình vũ nữ, một đầu rồng và một số trang trí lá đề là có giá trị.
+ Chùa Vĩnh Khánh và tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc) hiện nay, niên đại của tháp Bình Sơn còn gây nhiều tranh cãi, nhưng theo nhiều tư liệu đáng tin cậy thì tháp Bình Sơn khởi dựng trong thời Trần. Tháp Bình Sơn là ngôi tháp cổ sử dụng chất liệu đất nung có giá trị rất cao về mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo.
- Thiền phái Trúc Lâm hình thành với ý tưởng xây dựng một không gian Phật giáo thanh tịnh đã gắn liền tên tuổi với các danh sơn như Yên Tử (Quảng Ninh), Côn Sơn (Hải Dương), Quỳnh Lâm (Quảng Ninh)… Những ngôi chùa tại các nơi này được xây dựng từ thời kỳ trước và được xây dựng thành các trung tâm Phật giáo dưới thời Trần. Dấu vết thời Trần còn lại rất ít, ví dụ như ở Yên Tử, những viên gạch vuông trang trí hoa dây, nền tháp đá thời Trần có cạnh 3m15 với mặt bằng hình lục lăng.
5). Đặc điểm trang trí bia thời Lý Trần:
bia kí là một nguồn sử liệu quan trọng nhằm góp phần nghiên cứu trên nhiều khía cạnh diện mạo của xã hội thời Lí - Trần, đặc biệt là khi dấu vết vật chất của thời kỳ này đã bị hủy hoại phần lớn do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên cho đến nay, nhiều bia Lí - Trần không còn giữ nguyên hiện trạng của chúng. Nhiều bia đã bị thời sau sửa chữa, thêm bớt cả nội dung lẫn hình thức (kiểu dáng, hoa văn, chữ khắc). Vì vậy việc nghiên cứu nguồn tư liệu này cần có sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau của các ngành Khảo cổ học, Văn bản học, Ngôn ngữ văn tự, Mĩ thuật học .v.. nhằm đảm bảo tính chân xác của chúng.
Về niên đại, ở thời Trần, mặc dù có bài văn bia được soạn trước khá lâu, bia thường chỉ được lập và khắc một lần thành một vật thể hoàn chỉnh, cân đối cả về trang trí và văn khắc trên bia. Trong khi đó, một số bia thời Trần được ghi khắc vào nhiều thời điểm khác nhau ngay trên một tấm bia (bia chùa Đại Bi diên minh, bia chùa Sùng Thiên, một số bia ở núi Non Nước).Vì thế, việc xác định niên điểm khởi dựng bia là khá phức tạp.
Về thể loại, trong khi bia thời Trần phần lớn được lập nhân dịp xây dựng chùa (12/13 bia), sử dụng loại đá xám hoặc xám xanh hạt mịn, chủ yếu được khai thác ở núi Nhồi, Thanh Hóa, thì bia thời Trần được dựng nhằm nhiều mục đích hơn. Nhiều bia chùa chỉ đơn thuần ghi chép việc cúng ruộng. Xuất hiện các loại bia mộ, bia đền, bia đề thơ, bia ngự chế, bia ghi sự tích, hành trạng của vua quan... Ngoài loại đá xanh thường dùng, đá vôi, đá cát hạt mịn cũng được sử dụng. Việc khắc tạc văn bia lên các vách núi đá như ở Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An trở nên phổ biến.
Về kiểu dáng và kích thước, bia thời Trần đều thuộc loại bia dẹt hai mặt, trán hình viên phân, hơi choãi về phía chân, gắn khớp với đế rùa bằng ngõng hình chữ nhật. Toàn bộ phần trang trí và lòng bia đều nằm trên cùng một mặt phẳng, ngăn cách bằng các gờ chìm hoặc nổi mỏng mảnh. Một số bia do tính chất cung đình quy định có kích thước lớn vượt, còn lại đa số có kích thước trung bình với tỉ lệ khoảng 3 rộng/ 5 cao. Nhờ thế khối bia trông thanh thoát, trang nhã. Sang thời Trần, một số bia vẫn bảo lưu hình thức cũ, song kích thước của loại bia này không lớn. Loại bia “ma nhai” được tạo bằng cách bạt vách đá thành khoảng hình vuông hoặc chữ nhật, được san khắc với chất lượng khác nhau, tùy theo tính chất và chủ nhân.
Về trang trí, những bia được trang trí thời Lí - Trần thường theo một khuôn mẫu chung với những đề tài gần như cố định. Bia thời Trần thường theo một quy thức như sau: Trán bia chạm hình rồng hoặc phượng chầu vào ô chữ đề tên bia (thường viết kiểu chữ Triện hoặc Lệ); phần diềm trán và diềm bên chạm bằng hoa cúc dây hoặc hoa dây hình sin; diềm đáy trang trí hoa văn sóng nước biến điệu dưới nhiều hình thức, đôi khi có cả những loài cá rùa quẫy lặn sinh động; băng ngăn cách lòng bia và trán bia chạm các lá thiêng xếp cùng chiều hoặc ngược chiều đối xứng qua một hình lá đề ở giữa.
Nhiều bia thời Trần vẫn dùng các đề tài với lối bố cục truyền thống thời Lí, nhưng phong cách đã dần dần biến đổi; đường nét và hình khối đậm khỏe, ít chi tiết vụn vặt, các mô típ chính được chú trọng làm nổi bật trên nền trống, một só mô típ mới xuất hiện; văn mây - sóng nước, sừng tê - ngọc báu, băng chấm tròn. Đại tự (bia chùa Sùng Thiên), phù điêu chân dung (Ngô gia thị bi) cũng bắt đầu có mặt. Xu hướng lược bỏ mọi thành phần trang trí rất phổ biến, đặc biệt là trên loại bia “ma nhai”.
Văn phong thời Trần “lưu loát, chỉnh tề, đã giống khẩu khí người nhà Tống...” (Lê Quý Đôn). Tuy một số bia vẫn còn giữ phong cách như của thời Lí, nhưng nhìn chung các bài kí đã chuyển mạnh sang lối tản văn, ngày càng đơn giản, pha trộn cách diễn đạt của ngôn ngữ tiếng Việt, được sử dụng chủ yếu trên các bia làng xã. Điển cố ít được sử dụng và mang màu sắc Nho giáo.
6). Đặc điểm trang trí bia thời Trần:
6.1). Trang trí trên trán bia:
Bố cục và đề tài trang trí trên trán bia thời Trần vẫn giống hệt thời Lý. Nhưng xu hướng sử dụng các đề tài và dáng dấp các hoa văn có nhiều biến chuyển.
Hình phượng trên trán bia chỉ gặp trên một tấm bia sớm nhất thời Trần: bia chùa Thiệu Long (Hà Nội) tạc năm 1226. Có thể nói trang trí trán bia Thiệu Long là sự tiếp nối truyền thống trang trí trên các bia cuối thời Lý.
Phổ biến trang trí trên trán bia thời Trần là hình rồng như các bia chùa Đại Bi, bia chùa Thanh Mai (Hải Hưng), bia chùa Sùng Hưng, bia chùa Hưng Phúc (Thanh Hóa), bia “Ngô gia thị bi” (Hà Nam Ninh)… Rồng trên các bia Trần có thân bè mập, mào ngắn, khúc uốn doãng, các ký hiệu chữ S và chữ W thời Lý biến mất nhường chỗ cho các cặp sừng nhiều kiểu khác nhau.
Điểm lưu ý nữa là ở hai mặt bia Trần cũng không tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc Lý nữa: hầu như các mặt sau đều không được trang trí mà để trơn hoàn toàn.
6.2). Trang trí ở diềm bia và sườn bia:
Các bia Trần hầu hết đều không có chạm khắc ở sườn bia, trừ bia Lý ở chùa Bảo Ninh (Sùng Phúc Hà Tuyên) có hoa văn thời Trần khắc lại là có chạm hoa cúc, rồng trong các khung hình tròn.
Các đường diềm bia Trần có hai xu hướng diềm trán, diềm hai bên và diềm chân vẫn tuân thủ chặt chẽ truyền thống Lý trang trí hoa cúc và sóng nước.
Còn đường diềm phân cách trán bia và lòng bia có diễn biến phong phú. Có khi vẫn còn đường diềm này nhưng chạm các đề tài khác như hoa lá cách điệu (bia chùa Hưng Phúc), hoặc các chấm tròn (bia chùa Sùng Thiện – Hải Hưng). Phổ biến là bỏ đường diềm này chỉ còn để đường gờ nhỏ như bia chùa Thanh Mai, bia “Ngô gia thị bi”…
6.3). Trang trí ở đế bia:
Đế bia thời Trần cũng bị thất lạc nhiều. Một số tấm bia còn giữ được đế cho thấy việc tạc đế bia hình rùa có phần phổ biến hơn thời Lý nhuư bia chùa Sùng Thiện, bia chùa Khai Nghiêm, bia chùa Hưng Phúc. Dáng rùa Trần cũng gần với rùa Lý, nhưng cũng có con chạm khắc có phần đơn giản hơn, sơ sài hơn (rùa bia Sùng Thiện Hải Hưng).
6.4). Một số tấm bia có hình trang trí độc đáo:
Trong các bia thời Trần, có hai tấm bia có chạm nhiều hình độc đáo chưa tìm thấy ở thời Lý là bia chùa Sùng Thiện (Hải Hưng), bia “Ngô gia thị bi” (Hà Nam Ninh).
Bia chùa Sùng Thiện có mặt trước các vị trí trang trí còn giữ truyền thống Lý, còn mặt sau lại khác hẳn; toàn bộ trán bia chạm kín hình hoa cúc có cuống dài chụm lại ở đỉnh trán, các diềm trán và diềm bên chạm các hình rồng lượn theo hình “lá đề”, diềm chân bia chạm hình sóng nước lượn uốn tự do. Toàn bộ lòng bia chạm một chữ “Phật” lớn, bên dưới chữ “Phật” ở bên trái có chạm biểu trưng “khuyến thiện” (có ngậm cành sen và lá phướng), bên phải chạm biểu trưng “rừng ác” (hình quỷ sứ đội vạc dầu). Có thể nói bố cục trang trí mặt sau bia Sùng Thiện là một sơ đồ tóm tắt cách trình bày Phật điện và giáo lý nhà Phật thời Trần.
Mặt sau bia “Ngô gia thị bi” chạm một người đàn ông luống tuổi, khuôn mặt phương phi, ria mép dài, đầu đội mũ “bình thiên”, ngồi trên một chiếc ngai chạm rồng, hai tay đặt ngay ngắn trước ngực, hai chân buông thẳng, áo chùng rộng có nhiều nếp gấp phủ kín người, dưới ghế có lớp cánh sen xếp nghiêng và lớp “lá đề” có hình “sừng tê ngọc báu”. Theo nội dung văn bia, có thể coi đây là chân dung của vị cư sỹ họ Ngô người có công trong việc xây dựng chùa làng.
Tượng chân dung vốn có từ thời Lý nhưng hình chân dung đích thực chỉ mới thấy ở tấm bia này. Mặt khác bia “Ngô gia thị bi” cũng có thể coi là dạng bia hậu sớm nhất xuất hiện khoảng cuối thời Trần.
Tóm lại, trang trí bia Trần gần với bia Lý ở trán bia, các diềm trán, hai diềm bên và diềm chân. Song dáng hoa văn có nhiều đổi khác. Đặc biệt các mặt sau và diềm phân cách trán bia với lòng bia hầu như không còn tuân thủ truyền thống Lý nữa. Xu hướng tạc tượng rùa ở đế bia đã bắt đầu phát triển hơn. Bia chùa Sùng Thiện và bia “Ngô gia thị bi” là những đóng góp mới trong nghệ thuật trang trí bia đá.
Do sự phát triển và kế thừa, có bản trang trí bia thời Trần khá gần với bia Lý. Những đặc điểm đó đến các thời sau chỉ còn giữ lại ở từng phần, từng vị trí với các đề tài phong phú và đa dạng.
III. KẾT LUẬN:
Văn hóa_văn hóa truyền thống và xã hội hòa hợp với nhau và muốn duy trì sự ổn định phải có những giá trị trung tâm và những tiêu chuẩn chung đủ mạnh. Do vậy, trên một góc độ khác, có thể những giá trị và tiêu chuẩn trung tâm ấy được dùng để duy trì đặc quyền, đặc lợi của một nhóm người trong xã hội. Khi đó, ý thức hệ là một tập hợp các niềm tin và thực tiễn văn hóa giúp duy trì các lợi ích hùng mạnh về kinh tế, xã hội và chính trị. Bởi lẽ tầm quan trọng của nó, nên các chuẩn mực đạo đức thường được luật pháp hỗ trợ để định hướng hành vi của các cá nhân (Ví dụ: hành vi ăn cắp, lường gạt, dối trá là vi phạm chuẩn mực đạo đức, ngoài việc bị xã hội phản ứng một cách mạnh mẽ, luật pháp còn quy định những tính chất cưỡng chế).
Nếu xét về khái niệm chuẩn đa dạng văn hóa và văn hóa truyền thống theo UNESCO đã đưa ra định nghĩa vào năm 2002, như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Thì khi đó, điều này ở đặc điểm giá trị văn hóa văn bia Lý-Trần đã thể hiện tính giáo dục truyền thống và hoạch định chiến lược phát triển văn hoa dân tộc hết sức ổn định. Bởi vì, khi những phản ứng tiêu cực của xã hội trước những vi phạm tiêu chuẩn văn hóa. Đặc tính nổi bậc khi giá trị văn hóa đạo đức văn bia thời Lý-Trần thể hiện thì ngoài phản ứng của xã hội, phản ứng của chính bản thân cũng góp phần làm cho tiêu chuẩn văn hóa được tuân thủ, bởi vì nó chứa đựng giá trị soi rọi là chính bản thân con người. Quá trình này chín là tiếp thu các tiêu chuẩn văn hóa, hay nói một cách khác hòa nhập tiêu chuẩn văn hóa vào nhân cách bản thân./.
Tóm lại một số đặc điểm và chức năng lịch sử hình thành phát triển tính truyền thống văn bia Lý-Trần thường dùng để ghi lại những sự kiện lớn diễn ra trong lịch sử, sự kiện văn hóa, chính trị…. Hoặc ca ngợi công đức của các vị vua cai trị và tôn vinh những bậc Nho học có công trạng hoặc đạt được giải cao trong các kỳ thi do triều đình tổ chức như các văn bia Tiến sĩ.
Bia đá chính là sự khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc, do đó chúng ta cần đọc, hiểu trân trọng và phát huy hơn nữa những giá trị hết sức cao đẹp của ông cha ta đã để lại.
MỤC LỤC THAM KHẢO :
1. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB.Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1988.
2. Đại Việt Sử Ký toàn thư, Bản Kỷ, Bản in Nội Các Quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697).
3. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam 1985 – 1992, nhà xuất bản: Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1993.
4. Theo số liệu điều tra công trình Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
5. Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1977.
6. Thơ Văn Lý – Trần (tập 3), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1978.
7. Thơ Văn Lý – Trần (tập 2 – quyển thượng), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1989.
8. Lê Mạnh Thát. Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, tập 1 (1999), tập 2 (2001), tập 3 (2002), NXB TP.HCM
9. Nguyễn Đức Nùng (chủ biên). Mỹ thuật thời Trần. NXB Văn Hóa Hà Nội 1977.
10. Chu Quang Trứ. Mỹ thuật Lý - Trần, Mỹ thuật Phật giáo. NXB Thuận Hoá 1998.
11. Trần Lâm Biền. Chùa Việt. NXB VH-TT 1996.
12. Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. NXB Văn Học Hà Nội 1979.
13. Nguyễn Bá Lăng. Kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Viện Đại học Vạn Hạnh 1972.
13. Nguyễn Duy Hinh. Tháp cổ Việt Nam 1992.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét