THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013
GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO
MỤC LỤC
I- DẪN NHẬP………………………………………………………………………………
II- NỘI DUNG………………………………………………………………………………
1- Định nghĩa xã hội……………………………………………………......……….
2- Tăng đoàn và những đặc tính lí tưởng của Tăng đoàn……………………………
2.1- Khái niệm Tăng đoàn………………………………………………………….
2.2- Những đặc tính lí tưởng của Tăng đoàn ………………………………………
2.2.1- Tăng đoàn với tính hòa hợp…………………………………………………
2.2.2- Tăng đoàn với tính thanh tịnh………………………………………….........
2.2.3- Tăng đoàn với tính tập thể dân chủ…………………………………………
2.2.4- Tăng đoàn với tính chất phê bình và tự phê………………………………...
2.2.4.1- Bố Tát………………………………………………………………………
2.2.4.2- An cư …………………………………………........................…………….
2.2.4.3- Tự tứ . ...................………………………………………………………….
3- Giá trị về tư tưởng tổ chức xã hội của Tăng đoàn……………………………….
3.1- Tư tưởng bình đẳng giác tánh…………………………………………………
3.2- Tư tưởng bình đẳng giai cấp………………………………………………......
3.3- Tư tưởng bình đẳng giới tính địa vị……………………………………………
4- Tăng đoàn đối với xã hội ngày nay……………………………………………...
III- KẾT LUẬN…………………………………………………………...............
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………...............
PHỤ LỤC…………………………………………………………………….........
GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC
TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO
I. DẪN NHẬP
Dòng thời gian không ngừng trôi, sự hiện hữu của Đạo Phật trên thế gian như ánh mặt trời mọc lên xua tan đi tất cả những u ám của đêm đông giá buốt; là ngọn nhiên đăng dẫn đường cho tất cả chúng sanh hướng về ngọn lửa trí tuệ, giải thoát.
Ngược dòng thời gian trở về xứ Ấn, cách đây hơn 2500 năm, chúng ta sẽ thấy một xã hội mà hai chữ “bình đẳng” đã chết lịm, để lại bộ mặt cuộc sống là sự phân chia giai cấp. Dẫu rằng có nhiều đạo giáo nổi lên nhưng không thoát khỏi vành đai tranh chấp. Do đó, sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là một nhu cầu cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết, Ngài đã đứng lên làm cuộc cách mạng xóa bỏ bốn giai cấp mà xã hội Ấn Độ đã tồn tại hàng trăm năm trở thành một. Vì con người ai cũng được sanh ra và có dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn. Cho nên những ai xuất gia vào Tăng đoàn thì không có sự phân biệt và cùng nhau sống hòa hợp, thanh tịnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Bên cạnh đó, Tăng đoàn cũng rất cần thiết cho xã hội. Đây cũng chính là cuộc cách mạng đầu tiên trong xã hội mà chưa ai có thể làm được như đức Phật, Ngài đã đưa con người xích lại gần nhau hơn và sống với nhau trong sự hòa hợp thanh tịnh. Điều này cũng đã được nhiều tác giả nói đến, nhưng với đề tài do Giáo Thọ Sư đưa ra và toàn thể Ni sinh thực hiện là: “Giá trị về tư tưởng của tổ chức xã hội Tăng đoàn Phật giáo”. Đức Phật, Người đã trải nghiệm và đưa cái chất nghệ thuật tuyệt vời ấy vào trong Tăng đoàn, nơi có những vị tỳ kheo thanh tịnh và giải thoát.
Nếp sống Tăng đoàn thời Phật với những đặc trưng riêng biệt, mà nơi đó những con người bằng da bằng thịt sống với nhau bằng tình đạo hữu, hòa hợp, bình đẳng và tinh thần vị tha, sẵn sàng quên đi những lỗi lầm, những sai trái mà người khác đã làm đối với bản thân mình.
Phật giáo với hình ảnh những vị Tăng đầu trần, áo vuông thảnh thơi bước những bước điềm đạm đi vào trong lòng người, cảm hóa từ trong nội tâm, khiến giá trị đạo đức được nhân rộng và cuộc sống con người ngày càng hoàn thiện, hạnh phúc hơn.
Chúng ta hãy thử nghĩ xem, giá trị nào đem đến cho con người hạnh phúc và an lạc, có phải đó là lòng vị tha, sự hòa hợp, tình thương yêu bình đẳng giữa con người với con người. Chính vì lẽ đó, thời nay khi nhu cầu hạnh phúc được đặt ra và giá trị đạo đức Phật giáo được nhân rộng, các nhà lãnh đạo đã bắt gặp sự đóng góp vĩ đại trong việc xây dựng thế giới hòa bình, hạnh phúc từ Phật giáo.
Đức Phật nhập Niết Bàn cách đây khá lâu, và hình ảnh Tăng- già những người kế thừa gương mẫu của nếp sống đạo đức tâm linh đã giữ được truyền thống mô hình tuyệt đẹp ấy. Mô hình Tăng đoàn với những đặc tính hòa hợp, bình đẳng, dân chủ, vị tha được xem như mô hình lí tưởng của xã hội ngày nay. Bài nghiên cứu này người viết xin không bàn đến cơ chế hành chính hay lịch sử mà chỉ xoáy vào việc xóa bỏ các chế độ giai cấp phân biệt của xã hội để làm sang tỏ về giá trị tư tưởng của tổ chức Tăng đoàn.
II-NỘI DUNG :
1- Định nghĩa xã hội:
Xã hội là một tổ chức có ít nhất bốn thành viên trở lên, trong đó gia đình là một thành tố của xã hội. Nhiều gia đình gộp lại sẽ thành một xã hội thu nhỏ. Những thành viên này sinh hoạt theo một nguyên tắc và luật lệ chung. Hệ thống trong đó con người sống chung với nhau thành những cộng đồng, có mối tương quan mật thiết, và ảnh hưởng đến sự tồn tại tích cực hay tiêu cực chung. Vì vậy, những thành viên này tốt thì xã hội sẽ tốt và ngược lại.
2- Tăng đoàn và những đặt tính lý tưởng:
2.1- Khái niệm Tăng đoàn:
Tăng đoàn hay Tăng-Già là dịch âm từ chữ Sangha (của Pali, Sanskirt) có nghĩa là một nhóm người, một hội chúng sinh hoạt cùng một mục đích, một quy luật chung trong một tôn giáo. Mà tổ chức tôn giáo này gồm bốn người trở lên, họ là những người từ bỏ mái gia đình, sống đời độc thân, phát nguyện sống trong tinh thần hòa hợp và thanh tịnh, để hổ trợ cho nhau thực hiện đời sống giải thoát và lý tưởng giác ngộ. Về sau, khi đoàn thể đệ tử của Thế Tôn ra đời, danh từ Tăng- Già thường dùng để chỉ đồ chúng xuất gia của Thế Tôn.[1]
2.2- Những đặc tính lí tưởng trong mô hình tăng đoàn thời Phật
2.2.1- Tăng đoàn với tính hòa hợp:
Thuật ngữ “Sangha” không phải dùng riêng cho tăng đoàn Phật giáo, mà dùng để chỉ chung cho các tổ chức tôn giáo thuộc hệ tư tưởng Sa-môn (S.Sramama); vì vào thời đức Phật có nhiều đoàn thể tôn giáo cũng gọi là “Sangha”. Thế nhưng, các tôn giáo khác thì chỉ có tính hòa hợp, còn “Sangha” của Phật giáo mang hai yếu tố đặc trưng để tạo nên đặc điểm của Tăng đoàn Phật giáo, để phân biệt với các tổ chức tôn giáo khác, đó là: tính chất hòa hợp và thanh tịnh.
Thứ nhất, Tăng đoàn Phật giáo là một tổ chức tu hành mang tính hòa hợp (samagra-sangha). Ở đây tính hòa hợp của Tăng đoàn thể hiện qua hành động kính trọng, tôn vinh và hỗ trợ những người sống phù hợp chánh pháp.Trong bất kỳ đoàn thể nào mọi thành viên nên sống trong hoà hợp, nhã nhặn, không tranh cải, giống như sữa hoà với nước, nhìn nhau với cặp mắt thân ái. Như trong kinh tạng Pali đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, các ông phải hòa hợp từ thân hành, khẩu hành và ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng”[2]; đó là thái độ hiền hòa dung thông với mọi người. Mục đích xuất gia của mỗi tỳ kheo là sống cuộc sống không gia đình trong giáo đoàn Phật giáo, để giúp đỡ tương trợ nhau nhằm chứng ngộ chân lý, rồi chia sẻ những kinh nghiệm về tri thức cũng như tâm linh đã đạt được cho hạnh phúc tha nhân. Do vậy, các thành viên trong Tăng đoàn đều có khả năng chung sống hòa hợp. Tất cả tổ chức sinh hoạt như An cư, Tự tứ, Bố tát, những cơ sở giới luật, lễ lạc …đều thể hiện tính hòa hợp trong tổ chức.
Đức Thế Tôn thành lập Tăng đoàn đã mang mục đích cao thượng và cần thiết nhất cho những người dấn thân vào con đường thoát khổ. Và ngài đã đề ra sáu phép hòa hợp như là riềng mối quan trọng giữ gìn hình ảnh của Tăng bảo. Không những thế, sáu phép hòa kính còn có ý nghĩa lớn lao hơn nếu được mọi người áp dụng để hành trì. Sáu pháp hòa kính như sau:
a) Hãy sống với nhau một cách hòa hợp, hãy chung lưng đấu cật, đùm bọc nhau, chứ không nên dùng võ lực để đàn áp nhau.
b) Hãy nói năng với nhau một cách dịu dàng, hòa nhã; nếu có điều gì thắc mắc cần bàn cãi, thì cũng phải bàn cãi trong ôn hòa, lễ độ.
c) Hãy nuôi dưỡng ý tốt đẹp đối với nhau, hãy trau dồi đức hỷ xả; đừng bao giờ thù hiềm, ganh tỵ nhau.
d) Hãy giữ đúng giới luật như nhau, hãy lấy kỷ luật làm đầu. Vô kỷ luật thì không một đoàn thể nào có thể tồn tại được.
e) Hãy giải bày những sự hiểu biết, những ý kiến của mình cho người xung quanh. Người thông hiểu nhiều, phải có bổn phận chỉ bày cho người hậu tiến và dắt họ đi kịp mình.
f) Hãy chia đồng đều tài lợi cho những người cùng sống chung với mình, để mọi người đều được thỏa mãn, vui vầy.
Sáu điều dạy trên đây, là khuôn khổ ý thức mà mỗi một tăng sĩ luôn ghi nhớ khi bước chân vào tăng đoàn, và không phải hạn chế trong đoàn thể tăng già, sáu phép lục hòa có thể thực hiện một cách triệt để trong gia đình, xã hội, quốc gia.[3]
2.2.2- Tăng đoàn với tính thanh tịnh:
Thuộc tính thứ hai của Tăng đoàn Phật giáo là sự thanh tịnh. Thanh tịnh là sự trong sạch thuần khiết của tâm hồn do việc hành trì giới bổn, liên hệ đến việc phát triển tuệ giác đưa đến giải thoát tối hậu. Ý nghĩa này được ví với tám đặc tính sau:
1. Như biển mỗi ngày trở nên sâu thẳm, cũng vậy sự học tập trong Tăng-già dần dần sẽ phát triển .
2. Như nước trong biển không bao giờ vượt ra khỏi bờ; cũng thế, đệ tử đức Phật không bao giờ phá giới .
3. Như biển không bao giờ giữ xác chết trong nó và luôn quăng chúng lên bờ; cũng thế, Tăng-già luôn buộc tội và trục xuất những người phạm đại giới.
4. Như nước các con sông không còn mang tên gọi riêng khi đổ về biển; cũng vậy, khi gia nhập Tăng đoàn, người ta sẽ từ bỏ tên tuổi, dòng họ của mình và chỉ được gọi là các Tỷ- kheo, đệ tử của Phật.
5. Như vị mặn tồn tại khắp biển cả; cũng vậy, vị giải thoát sẽ thẩm nhập khắp thành viên Tăng già .
6. Như nước nhiều sông chảy vào biển cũng không làm biển tăng lên hay giảm xuống; cũng vậy, dù có bao nhiêu thành viên của nó nhập Niết-bàn, Tăng già cũng không tăng giảm .
7. Như vô số kho tàng được cất chứa trong biển; cũng vậy, giáo pháp và giới pháp vi diệu được tìm thấy trong Tăng-già .
8. Như các con cá lớn chỉ sống trong đại dương; cũng vậy, những vị đệ tử nổi tiếng, ưu việt sống trong Tăng-già.[4]
Như vậy dù thời đại nào, Tăng già vẫn phát triển trong tinh thần hòa hợp và thanh tịnh để xứng đáng là ngôi báu, xứng đáng ở vị trí lãnh đạo tinh thần của đoàn thể cư sĩ, và khi Tăng già giữ đúng vị trí của mình thì chánh pháp luôn hiện hữu ở đời. Ý nghĩa này chỉ được thể hiện một cách sinh động trong nếp sống tu học chung.
2.2.3- Tăng đoàn với tính tập thể dân chủ :
Tăng đoàn Phật giáo không phải là một tổ chức tôn giáo mang hệ thống đẳng cấp, hay theo chế độ trung ương tập quyền, nó đơn giản chỉ là một tổ chức với những quy định đạo đức làm tôn chỉ cho mọi người tuân thủ và hành động, chứ không phải là một tổ chức mang tính kỷ luật, pháp lịch hay giáo điều như những tổ chức khác của xã hội. Trong thực tế, vai trò lãnh đạo tối cao hay độc tôn không có mặt trong Tăng già Phật giáo, vì kinh điển ghi lại rằng đức Phật không hề di chúc cho ai lãnh đạo Tăng già trước ngày ngài nhập diệt; và ngài cũng không nói mình là người lãnh đạo Tăng già.[5]Đồng thời trước khi nhập diệt đức Phật có dạy: “Hãy nương tựa mình và nương tựa pháp; Tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình, chứ không cần cầu ai khác”[6].
2.2.4- Tăng đoàn với tính chất phê bình và tự phê:
2.2.4.1- Bố tát:
Tiếng Phạn gọi là Upavasatha, Pàli gọi là Uposatha, Tàu dịch là Bố-sái-tha, Bố-sái-ta-đà… gọi tắt là Bố-tát, Tàu dịch là Tịnh trú, Thiên túc, Trưởng dưỡng.
Công dụng Bố-tát là đoạn tăng trưởng, nghĩa là dứt ác, tăng thiện, còn gọi là Ngã đối thuyết, tức là tự mình sám hối tội lỗi trước mọi người. Đây là một điểm đặc biệt mà đạo Phật khác với các tôn giáo khác, mục đích của phương pháp này để diệt trừ cái ngã tiềm ẩn trong vi tế của nội tâm, giúp con người hoàn thiện hơn về nhân cách đạo đức và tránh sự tái phạm. Nếu xã hội lấy mô hình này để ứng dụng vào trong việc quản lí xã hội thì các tệ nạn xã hội sẽ được giải quyết. Xã hội sẽ an lành và hạnh phúc hơn rất nhiều khi không còn những hành động xấu giết người, tà dâm, ma túy …vvv.
2.2.4.2- An cư:
An cư tiếng Phạn gọi là Vassàvàna, Pàli gọi là Varshàvàna, là nghi thức chung của ba giáo đoàn gồm Bà-la-môn, Kỳ-na-giáo (Jaina) và Phật giáo. Lễ này được áp dụng vào ba tháng mùa mưa, bắt đầu vào ngày trăng tròn của tháng. Trong Đạo phật, lễ này được áp dụng vào năm đầu tiên khi đức Phật thành đạo. Mùa an cư này rất là quan trọng đối với Tăng đoàn Phật giáo, đây là thời gian mà những vị Tỳ-kheo tập trung tu học chánh pháp và thực hành thiền định. Ngoài ra, giai đoạn an cư là cơ hội để tạo sự nối kết chặt chẽ giữa hàng xuất gia và tại gia, vì ba tháng an cư là Tăng đoàn sẽ không rời khỏi trú xứ của mình trừ khi có duyên sự đặt biệt; chính vì lẽ đó, Phật tử có cơ hội để tạo thêm phước điền khi đem vật phẩm đến cúng dường. Vì vậy, ba tháng an cư này chư Tăng phải nhiếp tâm tu tập và ngồi lại với nhau để trao đổi những kinh nghiệm sống và học hỏi chia sẽ với nhau những kinh nghiệm sống để giúp cho con người về lại với chính mình. Bên cạnh đó, được các bậc cao Tăng thạc đức sẽ giảng dạy, truyền đạt những kinh nghiệm tu hoc cho chúng ta.
2.2.4.3- Tự tứ:
Tiếng Phạn gọi là Pravàrana, Pàli gọi là Pavanara, Tàu phiên âm là Bát hòa la, Bát lợi bà thích noa, dịch là Mãn túc, Hỷ duyệt, Tuỳ thỉnh, Tùy ý sự… Nghĩa của các từ này là: sự thỉnh cầu; ở đây chỉ cho sự thỉnh cầu người khác nói lên những khuyết điểm của mình; mục đích làm cho chúng Tăng thanh tịnh, tự sanh vui mừng nên gọi là Tự tứ. Ngoài ra, Tự tứ là: phương pháp diệt trừ những lỗi lầm từ ba nghiệp thân, khẩu và ý. Vì thế, phải nhờ đại Tăng chỉ bảo mới thấy được lỗi lầm bên trong mà sám hối để được thanh tịnh hoàn toàn. Tự tứ là phương pháp thực hiện chung cho tất cả Tăng chúng, đức Phật không cho phép biệt chúng Tự tứ. Chúng Tăng phải Tự tứ trong tinh thần hoà hợp gọi là: “Như pháp hoà hợp Tự tứ”; đặc điểm này nếu đem ứng dụng cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia thì vấn đề tham nhũng sẽ được giải quyết, sự trong sạch trong hàng ngủ lãnh đạo sẽ được phát huy và uy tính lãnh đạo gương mẫu càng cao.
2.2.4- Giá trị về tư tưởng của tổ chức Tăng đoàn Phật giáo:
2.2.4.1- Tư tưởng bình đẳng giác tánh:
Đức Phật là người đã chứng được ba loại thần thông, đó là: biến hóa thần thông, tha tâm thần thông và giáo hóa thần thông. Nhưng đặt biệt ở đây, đức Phật chỉ dùng giáo hóa thần thông tức là: dùng ngôn từ để giáo hóa các đệ tử và không có sự phân biệt giữa các đệ tử. Vì đức Phật thường dạy tất cả chúng sanh dù mập hay ốm, cao hay lùn, đen hay trắng …đều có chung một bản tánh thanh tịnh giống nhau. Ngoài ra, Tăng đoàn Phật giáo không hề đặt ra bất cứ sự loại trừ nào về nguồn gốc xã hội đối với những thành viên trong Tăng đoàn. Những ai thật tâm quy y Phật pháp, gia nhập Tăng đoàn, sẽ không còn bận tâm đến dấu vết cội nguồn xã hội của mình; vì khi đã quy y Tam Bảo, tất cả đều có một tên gọi chung là đệ tử của Phật. Giống như nước của mọi dòng sông mỗi khi đã chảy về biển thì chỉ còn tên gọi chung là nước biển. Sự thật này có thể tìm thấy trong kinh tạng Pali của Phật giáo Nam Truyền (Theravada), nơi ghi lại đầy đủ nguồn gốc các thành phần xã hội được tiếp nhận vào Tăng đoàn[7]. Và khi nói đến đệ tử của Phật thì cũng không ai phân biệt Bắc, Trung, Nam và cũng không có đen, trắng, lùn, cao; mà tất cả đều có một bản tánh thanh tịnh, đều sẽ thành Phật.
2.2.4.2- Tư tưởng bình đẳng giai cấp:
Đặc tính bình đẳng được biết đến trong lần đầu tiên, lời tiên bố “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn” của Đức Phật đã mở ra một trang sử mới cho nhân loại, nó như một lời đanh thép một tiếng chuông cảnh tỉnh làm chặt đứt mọi xiềng xích bất công trong xã hội, theo sử liệu ghi chép thì Tăng đoàn thời Phật đã thâu nhận tất cả những ai có nguyện vọng giải thoát dù bần tiện hạ liệt, giàu sang quan vị, dầu người ấy là nam hay nữ, mọi chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu thì Tăng đoàn của Ngài là tổ chức hoà hợp bình đẳng đầu tiên trong lịch sử loài người, chấp nhận tất cả thành viên thuộc bốn giai cấp mà không có sự kỳ thị nào.[8] Lí do chính của nhận định trên có thể được minh định từ kinh tập sutta-nipata rằng: “ không phải do sinh ra người ta trở thành bà la môn, không phải do sinh ra người ta trở thành kẻ hạ tiện, do hành động người ta trở thành bà la môn, do hành động người ta trở thành kẻ hạ tiện”.[9]
Đức Phật là người đầu tiên trong nhân loại đã phản kháng chế độ giai cấp và phá đổ thành trì chia cách dân tộc Ấn – Độ. Vì thời diểm đó Ấn Độ có bốn giai cấp: Bà la môn, Sát đế ly, Tỳ xá già và Chiên đà la. Thực sự khó khăn và gian nang để thay đổi một xã hội mà có triết lý sống kéo dài cả hàng ngàn năm. Vậy mà đức Phật đã không từ bỏ khó khăn, Ngài đã đứng lên để tìm lại sự bình đẳng cho con người, đụng chạm đến thượng tầng trí thức của xã hội, đây là điều khó khăn mà đức Phật phải đối diện với xã hội. Và cũng chính Đức Phật trong khi tìm đạo, đã nói với một người chăn cừu như thế nầy:"Mỗi người sinh ra không mang sẵn dấu “Tin Ca” (dấu riêng của hạng quí phái) trên trán, không mang sẵn giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và trong nước mắt cùng mặn như nhau".[10] Một minh định lịch sử ấn tượng nhất là Tăng đoàn đức Phật có mặt đầy đủ bảy chúng ( tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, sadi ni, thích xoa ma na, nam cư sĩ, nữ cư sĩ ). Cũng nhiều ý kiến cho rằng đức Phật là nhà cải cách đầu tiên trong lãnh vực tư tưởng chính trị xã hội Ấn Độ. Và tư tưởng này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, để con người không còn sống với nhau trong sự mâu thuẫn, kỳ thị chủng tộc mà con người sống với nhau đoàn kết, gắn bó hơn, để xã hội ngày một hoàn thiện.Vậy theo tinh thần Phật giáo ngày nay sự phân chia cao thấp và lễ lạy trong Phật giáo có phải là phân chia giai cấp hay không? Đây thực sự không phải là sự phân chia giai cấp trong phật giáo. Đó là sự sắp xếp trong một tổ chức để có sự trật tự và hệ thống với nhau, trên tinh thần hòa hợp và chỉ bảo, sửa đổi cho nhau ngày một hoàn thiện hơn. Mỗi người đều có một nhiệm vụ và trách nhiệm riêng. Còn về sự lễ lạy, đó là dựa trên tinh thần tôn sư trọng đạo, thể hiện đạo đức của một con người. Vì từ trong một gia đình nhỏ cho đến một xã hội hay một tổ chức Tăng đoàn đều có sự trật tự trên dưới và phải biết yêu thương chia sẽ, chỉ dạy cho nhau và sống trong tinh thần hòa hợp, thanh tịnh thì tổ chức đó mới vững mạnh. Vì vậy, trong tổ chức Tăng đoàn Phật giáo tuyệt đối không có sự phân chia giai cấp.
2.2.4.3- Tư tưởng bình đẳng giới tính địa vị:
Một cuộc cách mạng của đức Phật đã làm thay đổi trực tự xã hội họ đang sinh sống, từ bốn giai cấp trở thành một. Ngoài ra, một thay đổi thứ hai nữa mà đức Phật đã làm cho xã hội rúng động, đó là cho người nữ xuất gia. Đây là một vấn không hề đơn giản; vì ở xã hội Ấn Độ phụ nữ là tài sản riêng muốn cho thì cho, phụ nữ không có một nhân quyền nào và họ luôn cho rằng phụ nữ là con rắn độc dẫn đến địa ngục…Sự hiện hữu của phụ nữ ảnh hưởng đến quyền lực của nam giới, trong đó bao gồm việc trang điểm, phục vụ nam giới, sinh con đẻ cái mà không được chống đối. Từ lúc sinh thành đến khi lấy chồng, phụ nữ luôn bị ràng buộc bởi những nguyên tắc mang tính ước lệ của văn hóa xã hội Ấn Độ cổ đại. Một phụ nữ lý tưởng là một người nô lệ trung thành, biết tuân thủ và phục tùng mọi ý muốn của chồng, thậm chí bị tước quyền sống khi người chồng qua đời. Vậy mà bây giờ họ đòi xuất gia và muốn đứng ngang vị trí của người đàn ông, điều này thật không dễ dàng chút nào. Bởi vì không có câu nói nào có thể làm thay đổi tư duy thâm căn lâu đời của một tư tưởng đã ăn sâu trong máu của mọi người. Muốn thay đổi tư tưởng trong một con người thì rất là khó, chính vì vậy mà đức Phật đã từ chối ba lần không cho người nữ xuất gia. Ngoài ra, đức Phật còn muốn xem sự phản ứng của xã hội thế nào và có điều gì nguy hiểm khi quyết định đưa nữ giới vào trong Tăng đoàn hay không? Và cuối cùng đức Phật đã quyết định cho người nữ xuất gia vì Ngài thấy được tính bình đẳng của mọi chúng sanh. Đây cũng là một cuộc cách mạng tư tưởng bình đẳng giới tính, là bước ngoặc đầu tiên trong lịch sử văn hóa nhân loại. Và cũng không có một tôn giáo nào hay một ngành triết học nào, đặt vị trí người phụ nữ ngang hàng người đàn ông như Đạo phật. Ở đây vấn đề chính là của xã hội, vấn đề là của một hệ thống, một tư tưởng chứ không phải một cá nhân và không phải vì Di Mẫu Maha-ba-xà-ba-đề (Mahà Prajàpati). Vì đây là một cuộc cách mạng mà đức Phật đã đắn đo vô cùng; nhưng cuối cùng để thỏa hiệp với xã hội, để làm thỏa mãn lòng tự ái của người đàn ông, để thoa diệu những bất mãn của người đàn ông; cho nên đức Phật đưa ra Bát Kỉnh Pháp. Vậy Bát Kỉnh Pháp có Phải tuân thủ mãi hay không? Nếu chúng ta nói phải thì đã rơi vào chủ nghĩa cực đoan, vì đức Phật dạy:
“Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm lấy. Hãy nghe và khéo tác ý…Chư Tỷ-kheo, các ông cần phải hiểu ví dụ cái bè…Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp[11]”.
Và
“…Như Lai thường nói, các vị Tỷ-kheo, hãy nhận thức rằng pháp Như Lai nói tựa như chiếc bè: pháp còn phải bỏ, huống chi phi pháp[12]”.
Ngoài việc địa vị nữ giới được tôn trọng và bình đẳng trong lãnh vực xuất thế như được nói ở trên, đức Phật đã trả lại đúng vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Tinh thần này được tìm thấy trong kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (Singalavàda)[13], ở đó đức Phật phân tích rõ ràng bổn phận và quyền lợi của sáu mối tương quan trong xã hội. Đặc biệt là trong mối quan hệ vợ chồng đức Phật dạy về những nguyên tắc sống để đưa đến an lạc, hạnh phúc. Như có năm cách một người chồng phải cư xử đối với người vợ, đó là: kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ, trung thành với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang với vợ. Và người vợ cũng phải khéo cư xử với chồng theo năm cách: thi hành tốt đẹp bổn phận của mình, khéo tiếp đón bà con, trung thành với chồng, khéo gìn giữ tài sản của chồng, khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.
Vì thế, như chúng ta đã biết ngày nay tại nước Úc, nước Mỹ, Tăng Ni ngang nhau, không có sự phân biệt giai cấp về giới tính hay địa vị, cùng nhau tiến đến giải thoát giác ngộ vì giới luật của Phật chính là những bước thang để giải thoát. Giới (Sìla) được dùng trong ý nghĩa tự nhiên, chớ không mang một sự trói buộc nào cả; cho nên tìm hiểu giới luật này chính là chúng ta nghiên cứu về các quy luật tự nhiên trong đời sống phạm hạnh của Tăng đoàn. Vì thế tinh thần của Bát Kỉnh Pháp là phương tiện mà đức Phật dùng để tạo dựng cho người nữ được tham gia vào Tăng đoàn và phương tiện để đức Phật đặt vai trò người phụ nữ ngang hàng với vai trò của nam giới. Cho nên khi vào trong Tăng đoàn rồi thì chúng ta thấy rằng không có giai cấp, dù là nam hay nữ đều có thể tu tập và thành Phật. Cũng như Ngài A Nan hỏi đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn một người nữ đệ tử khi xuất gia mà sống đúng giới luật, hành trì đúng Giới, Định, Tuệ thì có chứng được sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả không? Đức Phật trả lời là chứng được, ví như khi đã chứng quả A-la-hán rồi thì đều giống nhau không có sự khác biệt.
Về sau, để thuận tiện trong việc tu tập của người nữ tu sĩ nên đức Phật thành lập Ni đoàn. Ngay nay, các chùa Ni có thể được tách rời hoặc ở gần chùa Tăng tùy vào vị trí địa lý và môi sinh của từng nơi đó, nhưng vẫn được sự bảo bọc của Tăng.
Tóm lại, trong mỗi thời đại đều có tính lịch sử của thời đại đó. Chúng ta không nên nhìn lịch sử của thời đại đó để đem so sánh trong thời đại chúng ta. Vì hai thời đại không giống nhau, mỗi thời đại đều có những đặc điểm riêng. Ví dụ như đem cái khái niệm bình đẳng của thời đại đó mà đưa áp đặt cho thời đại này thì không hợp lý và chúng ta đem cái thời đại bây giờ để nói ngày xưa lạc hậu thì không đúng. Vì vậy, giá trị tư tưởng của thời đại nào cũng có giá trị riêng của đó. Nhưng đối với giá trị của Đạo phật thì cho đến bây giờ vẫn còn giá trị và tính nhân bản vẫn còn nguyên vẹn.
3- Tăng đoàn đối với xã hội ngày nay:
Trong thế giới hiện tại, giữa thế kỷ 21 này, đầy dãy những văn minh và hiện đại; vậy mà không có bậc lãnh tụ nào đưa ra tiếng nói này, không có thông điệp xã hội nào đã làm được. Và hiện nay Liên Hiệp Quốc đã công nhận Phật Giáo là một đạo của sự hòa bình, mà Đạo Phật là căn cứ vào cuộc sống hòa hợp, thanh tịnh của Tăng đoàn; nhưng Tăng đoàn muốn có sự hòa hợp, thanh tịnh là phải nhờ vào giới luật. Vì vậy, hình ảnh và nếp sống của Tăng già có ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội, Tăng đoàn là đại diện cho một trong ba ngôi Tam Bảo, là người kế thừa sự nghiệp của đức Phật, đem giáo pháp của Ngài hướng dẫn cho Phật tử tu tập không những trên bề mặt tâm linh mà ngay trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy, Tăng đoàn Phật giáo có một giá trị tầm mức vô cùng lớn lao, nó làm cho xã hội dẫn đến một sự yên bình không phân biệt, không đấu tranh, không có máu đổ. Nó có một giá trị thực sự và hiện nay nó vẫn còn một tầm vóc đứng đầu trên thế giới, mà không có một Đạo giáo nào vượt qua Đạo Phật được trong vấn đề Tăng đoàn. Nhờ sự thanh tịnh, hòa hợp với nhau thì chúng ta mới làm cho Tăng đoàn vững mạnh được và xã hội cũng được bình yên. Ngày nay, không biết bao nhiêu thiên tai lũ lụt đã xảy ra, mà những điều đó chúng ta không thể trách bất cứ ai được, vì tất cả chúng ta đã tàn phá môi trường. Và Tăng đoàn Phật giáo cũng vậy, sở dĩ Phật tử không kính trọng là do cách sống của chúng ta đi sai lời dạy của Phật; chúng ta chỉ biết thừa hưởng tài vật mà không thừa hưởng Pháp.
Chính vì thế, Đức Thế Tôn luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nếp sống Tăng đoàn; xây dựng nếp sống Tăng đoàn chính là bồi dưỡng phẩm chất đạo hạnh cho từng Tỳ- kheo. Vì phẩm chất đạo hạnh của mỗi tỳ kheo quyết định sự hưng suy của Tăng đoàn, quyết định sự tồn tại của Phật pháp; cho nên, những lời giáo huấn về hành vi thái độ của từng Tỳ- kheo luôn được Thế Tôn nhắc nhở; những lời ấy xuyên suốt Luật tạng và Kinh tạng Pàli. Ngay những ngày tháng cuối cùng, Đức Thế Tôn cũng không ngừng quan tâm, huấn luyện chư Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni nỗ lực đoạn trừ tham ái; đồng thời, Ngài đúc kết lại những điều cốt lõi nhất trong giáo pháp và tha thiết dặn dò các đệ tử phải ghi nhớ thực hành nhằm xây dựng và củng cố nếp sống thanh tịnh của Tăng đoàn. Đó là bảy yếu tố tiêu biểu mà mỗi vị tỳ kheo phải hành trì để làm cho Tăng đoàn trở nên hưng thịnh.
Vì vậy, ngày nay mỗi hành giả chúng ta phải luôn nhớ lời Phật dạy để áp dụng tu tập và trao dồi phẩm hạnh của chính mình, sống với nhau trong tinh thần hòa hợp, thanh tịnh, không gây chia rẽ với nhau và cùng nhau hoằng pháp độ sanh ngày một tốt hơn; có như thế thì Đạo phật mới trở thành điểm tựa cho chúng sanh noi theo.
III- KẾT LUẬN:
Tăng già trong ý nghĩa đầy đủ của ngôi Tam Bảo như một cây cổ thụ thân to, tàng rộng, dù đã bao lần thay lá đổi cành vẫn sum xuê tươi tốt. Đó chính là nhờ nhựa sống mãnh liệt (thanh tịnh và hòa hợp) giúp cây tiếp tục tồn tại bằng cách truyền dẫn các dưỡng tố khắp thân cây. Nhựa sống ấy lại được nuôi dưỡng từ những đặc tính truyền thống mà thuở sơ khai đức Từ Phụ xây dựng. Hòa hợp, bình đẳng, yêu thương và khoan dung là những tố chất không thể thiếu khi trắc nghiệm giá trị lí tưởng của một xã hội.
Tăng đoàn hiện đại thừa kế gia sản truyền thống đã vững bước hòa cùng nhịp sống sôi nổi như loài sen huyền thoại vươn mình khỏi bùn nhơ của đầm lầy, tỏ hương thơm ngát bốn phương.
Hình ảnh Tăng đoàn với nếp sống giản đơn, biết đủ, đang là bài thuyết trình sống cho việc giải quyết các vấn nạn toàn cầu hiện nay.
Mô hình ấn tượng của Tăng đoàn được xã hội hiện đại bắt gặp một cách muộn màng, tuy nhiên vấn đề vẫn không phải là vô phương khi ngay bây giờ, hiện nay giá trị ấy nếu được ứng dụng một cách rộng rãi trên khắp các xã hội.
Trải theo chiều dài lịch sử chúng ta đã từng bắt gặp mô hình này khi đại đế Asoka sau cuộc chiến đẫm máu tại Kalinga “hồi đầu là bĩ ngạn”. Trần Nhân Tông vị vua Phật Tử đã bao lần dẹp yên xâm lăng Mông -Việt, xây dựng đời sống đạo đức, phồn thịnh, hạnh phúc nhất trong lịch sử Việt Nam. Có thể khẳng định với thế giới rằng: Mô hình lí tưởng chỉ có thể có mặt trong Phật giáo với nếp sống đầy nghệ thuật mà đức Phật, bậc đại trí vô lậu xây dựng.
Tài Liệu Tham Khảo:
1. Thích Minh Châu (dịch), Tiểu Bộ kinh tập I, VNCPHVN, 1992.
2. Phạm Kim Khánh (dịch), Đức Phật và Phật Pháp, NXB TP. HCM, 1998.
3. Trần Phương Lan (dịch), Đức Phật Lịch Sử, VNCPHVN, 1997.
4. Thích Chơn Thiện, Tăng Già Thời Đức Phật, VNCPHVN, 1991.
5. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB TP. HCM, 1999.
6. Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2006.
7. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông (quyển 1), Nxb Tôn Giáo, 2002
________________________________________
[1] Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, Nxb Phương Đông, tr. 441.
[2] ĐTKVN, Kinh Trung Bộ, tập I, Kinh Kosambiya.
[3] HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông( quyển 1), Nxb Tôn Giáo, tr 315.
[4] Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Thích Viên Trí, NXB Phương Đông, tr.98-99.
[5] TT. Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, tr 99.
[6]Kinh Trung Bộ II, Kinh Chuyển Pháp Luân Thánh Vương Sư Tử Hống, HT Thích Minh Châu (dịch), Nxb ấn hành 1992.
[7] ĐTKVN, Tiểu Bộ Kinh, Tập III.
[8] TT. Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, tr 132.
[9] HT. Thích Minh Châu, Kinh Tiểu Bộ Tập 1(kinh tập Sutta-nipata).
[10] HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, (quyễn 2 Dưỡng Tánh, Bình đẳng), Nxb Tôn Giáo, tr 231.
[11] ĐTKVN, Kinh Trung Bộ, tập I, tr.305-307.
[12] Kinh Kim Cang, Trí Quang (dịch), Nxb Tôn giáo, 2003, tr.175.
[13] ĐTKVN, Kinh Trường Bộ, tập II, tr. 529.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét