THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013

PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH ĐẶC TRƯNG VĂN BIA THỜI TRẦN

MỤC LỤC: I). DẪN NHẬP : II). NỘI DUNG: 1). Đặc điểm giá trị văn hóa truyền thống thể hiện qua chức năng: 2). Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam : 3). Tính diệu dụng giáo lý nhà phật trong văn bia: 4). Công trình Phật giáo tiêu biểu trong thời Trần: 5). Đặc điểm trang trí bia thời Lý Trần: 6). Đặc điểm trang trí bia thời Trần: 6.1). Trang trí trên trán bia: 6.2). Trang trí ở diềm bia và sườn bia: 6.3). Trang trí ở đế bia: 6.4). Một số tấm bia có hình trang trí độc đáo: III. KẾT LUẬN: MỤC LỤC THAM KHẢO : PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH ĐẶC TRƯNG VĂN BIA THỜI TRẦN I). DẪN NHẬP : Trải hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để sáng tác trước thuật, để ghi chép các công văn, tài liệu và khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, v.v.. và cùng nhiều loại tư liệu thành văn khác, ngày nay chúng ta gọi chung là di sản Hán Nôm. Văn khắc là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa thành văn nói chung và di sản Hán Nôm nói riêng, là hiện tượng văn hoá được nảy sinh từ đời sống xã hội, là nét đặc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ. Văn khắc xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn khắc ở các nước sử dụng chữ tượng hình (chữ khối vuông) bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Chúng ta thấy một khối lượng văn khắc Hán Nôm mà người xưa để lại là khá lớn. Về số lượng phát triển của văn khắc qua các thời kỳ lịch sử rất đáng được quan tâm, nhưng điều quan trọng hơn mà giới khoa học giành nhiều công sức nghiên cứu là giá trị tiềm ẩn của loại văn bản này đối với việc nghiên cứu văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Văn khắc Hán Nôm được dựng ở hầu hết các thôn, xóm, xã, phường và gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa lâu đời của người Việt Nam. Văn khắc Hán Nôm thường được những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng một thời sáng tác với những nội dung phản ánh về con người, thiên nhiên, cuộc sống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Hơn nữa, trên mỗi văn khắc đều có những hình thức trang trí nghệ thuật, đây có thể coi là những tư liệu quí khi tìm hiều về lịch sử điêu khắc và thư pháp qua các thời kỳ. Chính vì thế, việc nghiên cứu tư liệu văn khắc Hán Nôm Việt Nam đã được nhiều thế hệ nghiên cứu, các tổ chức khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Trong quá trình trưởng thành và lao động, con người học hỏi từ gia đình, nhà trường, tôn giáo, giao tiếp xã hội… và thông qua đó xác định nên suy nghĩ và hành động như thế nào theo những giá trị của nền văn hóa. Giá trị là sự đánh giá trên quan điểm văn hóa nên khác nhau ở từng cá nhân trong một nền văn hóa, thậm chí có những giá trị mà đại đa số các thành viên trong nhiều nền văn hóa đều thừa nhận có xu hướng trường tồn như tự do, bình đẳng, bát ái, hạnh phúc…. Từ những giá trị về văn hóa như trên, hệ thống văn bia Việt Nam hiện tồn tại trong lịch sử cho đến nay là một di sản văn hóa của dân tộc, nó chính là sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại. Sự gắn kết ấy dù là vô hình hay hữu hình cũng đều cho chúng ta tự soi vào đó sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn. Vậy văn Bia là gì? Khái niệm của các nhà ngôn ngữ học và xã hội học thì Bia là hình thức lưu trữ dữ liệu, thư tịch cổ có tính chất và ý nghĩa xưng tụng, tán dương hoặc đó là sự đánh dấu. Theo Từ Điển Hán Việt và Từ Điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học định nghĩa giải thích Bia hay Bi là tấm đá đúc, đẻo có khắc chữ, trong đó Bi: Tức là bia, bia đá, là sự đề cao, ví dụ như bi bản, bi biểu, bi chí, bi kệ, bi minh, bi bảng, bi trung….Ngoài ra, Bi hay Bia được khái niệm, định nghĩa theo các nhà Văn học, Lý luận thì Văn Bia hay Văn Bi là sự thể hiện chất hảo sảng, khí phách cốt cách thanh cao, công lao phi thường chất văn, chất nhân văn nhân tạo và thẩm mỹ tinh tế. Có nghĩa là lời hay chữ đẹp, ý thuần khiết thanh cao. Đặc tính nổi bậc là nghiên về tính chất tinh tế của sử liệu, viết theo thể văn xuôi biền ngẫu hoặc thi kệ tán văn. Hoặc là sự kết hợp giữa hai thể loại văn chương ấy. Tiếp nối truyền thống nghiên cứu của các bậc tiền bối, đến thế kỷ XX, văn khắc Hán Nôm được giới nghiên cứu khoa học quan tâm toàn diện hơn ở hai lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu khai thác. II). NỘI DUNG: 1). Đặc điểm giá trị văn hóa truyền thống thể hiện qua chức năng: Ở Việt Nam văn khắc trên đá có một truyền thống lâu đời xuyên suốt qua nhiều thời kỳ giai đoạn lịch sử. Đến thế kỷ X, nước ta giành được độc lập tự do. Đây là sự kiện trọng đại trong lịch sử phát triển quốc gia Đại Việt và kết quả của một ý chí, một tinh thần đoàn kết kiên cường và bất khuất. Chiến thắng Bạch Đằng oanh liệt năm 938 đã chấm dứt thời kỳ ngàn năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử Việt Nam. Thời Trần, Phật giáo vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội; tuy nhiên, với việc thi tuyển chọn quan lại trở thành thường xuyên, tầng lớp Nho sĩ ngày càng đông đảo, đã đẩy lùi dần dần thế lực của tầng lớp Tăng lữ trên lĩnh vực chính trị và tư tưởng. Hàng ngũ quan lại xuất hiện từ tầng lớp Nho sĩ ngày càng chiếm ưu thế trong bộ máy chính quyền và nắm giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình. Lực lượng sáng tác văn học và nghệ thuật cũng dần chuyển sang tầng lớp Nho sĩ. Các vua Trần đều ý thức được vai trò của Phật giáo và Nho giáo đối với xã hội. Trong thời kỳ này, Phật giáo thời Trần đã phát triển trong sự dung hòa đối với Nho giáo. Văn bia thời Trần đã phản ánh được nhiều yếu tố, tính chất đặc trưng về không khí chính trị tư tưởng thời bấy giờ. Văn bia thời kỳ này khá phong phú, không chỉ với mục đích tôn giáo như văn bia thời Lý mà còn có các nội dung khác. Tuy nhiên văn bia thời Trần vẫn chủ yếu được dựng tại các chùa . Ví dụ như văn bia Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn đại bi tự, do Phạm Sư Mạnh soạn, niên đại Thiệu Khánh 3, (1372) đã viết: “Đất trời có tượng, tỏ chở che nuôi dựng muôn linh; thời tiết không hình, ngầm nóng lạnh để hóa thành vạn vật” . Thời nhà Trần, khi Phật giáo còn chiếm ưu thế trong xã hội, một số tác phẩm có giá trị về triết lý và tư tưởng của Phật giáo xuất hiện như: Khóa Hư Lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục,… do vậy, văn bia thời kỳ này cũng vẫn xuất hiện những bài văn bia truyền bá tư tưởng Phật giáo và sự liên hệ giữa Phật giáo và Nho giáo. Văn bia Hưng Phúc tự bi, khuyết danh soạn, niên đại Khai Thái (1324) đã viết về mối quan hệ của Phật-Nho như sau: “Noi theo chí người trước làm sáng tỏ ở đời sau, họ Khổng gọi là hiếu; vui bố thí của tiền sáng lập ruộng phúc, đạo Phật gọi là từ. Ôi hiếu và từ há chẳng phải bản tâm con người hay sao? Vậy nên dốc lòng hiếu để báo cái ơn vô cùng, rộng điều từ để cầu phúc cõi âm mờ mịt. Khiến cho đời đời con chau nhờ ơn mưa móc, cảm sắc khói hương, mỗi lần chiêm ngưỡng lễ bái lại một lần dậy niềm hiếu kính, gây nền phúc lâu dài về sau”. Tuy nhiên vào những năm cuối thế kỷ XIV, đạo Phật đã kết thúc thời kỳ huy hoàng vàng son của mình khi mà Hồ Quý Ly ra lệnh sa thải Tăng đồ, bắt những người dưới 40 tuổi phải hoàng tục vào năm 1396. Bố cục và đề tài trang trí trên văn bia thời Trần vẫn giống hệt văn bia thời Lý. Nhưng xu hướng sử dụng các đề tài và dáng dấp hoa văn có nhiều biến chuyển. Hình phượng trên trán bia chỉ gặp trên một tấm bia sớm nhất thời Trần: Bia chùa Thiệu Long (Hà Nội) tạc năm 1226. Có thể nói trang trí trán bia Thiệu Long là sự tiếp nối truyền thống trên các trán bia cuối thời Lý. Phổ biến trên trán bia thời Trần là hình rồng như các bi chùa Đại Bi, bia chùa Thanh Mai (Hải Hưng) bia chùa Sùng Hưng, bia chùa Hưng Phúc (Thanh Hóa), bia “Ngô gia thị bi” (Hà Nam Ninh)…. Rồng trên các bia Trần có thân bè mập, mao ngắn, khúc uốn doãng, các ký hiệu chữ S và chữ W thời Lý biến mất nhường chỗ cho các cập sừng nhiều kiểu khác nhau. 2). Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam : Văn bia là hiện tượng văn hóa được nảy sinh từ đời sống xã hội như là nét đăc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ. Văn bia xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn bia bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản (những nước sử dụng chữ khối vuông). Như vậy văn bia từ Hậu Hán mới xuất hiện. Còn Sự tổ quảng ký dẫn trong Quản Tử: “Vô Hoài thị phong cho thần núi Thái Sơn, khắc vào đá để ghi công, là nguồn gốc của khắc thạch, đó là điều chưa đáng tin hẳn”. Văn bia, xét về mặt thể loại, đã được nền văn học truyền thống phương Đông xác định như là thể vănthời cổ đại. Nhiều nhà nghiên cứu văn học trên thế giới cũng có những nhận xét về thể văn này: “những bài văn bia đã đánh dấu bước đi ban đầu của văn học thành văn”, hay: “những trang sách đá là lĩnh vực đặc thù của nền văn học, trước hết là ngôn ngữ văn học. Văn bia Việt Nam ra đời trong mối quan hệ văn hóa vùng, đó là sự tiếp nhận ảnh hưởng của truyền thống sáng tạo văn bia ở Trung Quốc, tất nhiên văn bia Việt Nam có những nét đặc trưng mang bản sắc của truyền thống văn hóa dân tộc. Đó là truyền thống của một dân tộc có lịch sử dựng nước lâu đời, có truyền thống anh hùng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, và những phong tục tập quán nhân hậu vị tha của nhân dân Đại Việt. Từ những đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra nhận xét rằng: Văn bia được xác định như là thể văn trong hệ thống thể loại văn học cổ chỉ có ý nghĩa giá trị ở thời kỳ khai sáng của thể văn này. Trong tiến trình phát triển, thể văn bia được sử dụng hoàn toàn theo ý đồ sáng tác của các tác giả, có nghĩa là tác giả không bị ràng buộc bởi nội dung và hình thức thể loại cũng như chất liệu thể hiện mà đã được xác định của thể văn này. Như vậy rõ ràng là bia đá đã được coi như là một trong những loại hình văn bản trong sáng tác văn học nghệ thuật. 3). Tính diệu dụng giáo lý nhà phật trong văn bia: Văn bia là một loại thư tịch, có niên đại rõ ràng, có giá trị như những tác phẩm văn học nghệ thuật, chứa đựng hệ thống thông tin nhiều mặt về lịch sự, kinh tế, xã hội…đương thời, không chỉ có giá trị trong quá khứ mà còn cả trong hiện tại. Hệ thống văn bia Việt Nam hiện tồn tại là một di sản văn hóa của dân tộc, nó chính là sự gắn kết giữa quá khứ và hiện tại. Sự gắn kết ấy dù là vô hình hay hữu hình cũng đều cho chúng ta tự soi vào đấy để sống đẹp hơn có ý nghĩa hơn. Ở Việt Nam, văn bia có từ rất sớm. Những văn bia có niên đại ra đời sớm được ghi nhận vào khoảng thời nhà Tuỳ đô hộ nước ta (từ năm 589 -617), hiện còn lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, hay bia tám mặt ở chùa Nhất Trụ - Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình) do vua Lê Đại Hành dựng vào năm 995. Trong cuốn Văn Khắc Hán Nôm do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 1992, hiện nay nước ta có 1.919 tấm bia được tuyển chọn từ bia đình, đền, chùa, miếu, thành quách…trên khắp ba miền. Chỉ tính riêng Văn bia cung đình Huế đã để lại một số lượng lớn và phong phú những văn bia khắc bằng chữ Hán Nôm. Văn bia thường dùng để ghi lại những sự kiện lớn diễn ra trong lịch sử, sự kiện văn hóa, chính trị…hoặc ca ngợi công đức của các vị vua cai trị và tôn vinh những bậc nho học có công trang hoặc đạt những giải cao trong các kỳ thi do triều đình tổ chức (bia Tiến sĩ). Theo sử sách Việt Nam có viết, văn bia thường có nội dung về xây dựng như: chọn địa điểm, vị trí, theo thuyết phong thủy, ca ngợi cảnh đẹp, ca ngươi nhân vật được thờ tự... Người soạn và viết văn bia phải là người có hiểu biết thâm sâu về Hán Nôm, văn hay, chữ đẹp, thường là những vị quan lớn trong triều, hoặc các nhà thiền sư, hay danh nho như Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu… Cuối văn bia thường ghi ngày, tháng, năm, niên hiệu viết nên văn bia đó để những đời sau biết đến và noi theo. Văn bia là một tác phẩm thành văn được ghi trên đá, dó tính quan trong và có sự ảnh hưởng lớn mang tính lịch sử. Do vậy, văn bia thường được chăm chút nhiều về mặt mỹ thuật. Trán bia là hình cong hai mặt, chạm khắc lưỡng long (hai con rồng) hoặc lưỡng phượng chầu “mặt nguyệt”. Thời Lý, mặt nguyệt là một vòng tròn sáng, nhọn ở đỉnh đầu, thời Trần thường thay bằng hình chữ Phật (Hán tự) hình vuông, thời Lê là là hình mặt trời có tia, thời Mạc là một vòng tròn ngoài có thêm 1 đến 3 vòng tròn đồng tâm, làm nổi rõ hình tượng “mặt nguyệt”, và về sau là hình mặt trời có nhiều tia sắc nhọn trông như ngọn lửa thiêng thiêu cháy mọi tà ma, bảo vệ sự trong sạch và an lành nơi đền chùa Phật pháp… Mỗi thời, bệ bia đã cũng được điêu khắc theo một kiểu dáng riêng. Thời Lý, bệ bia được chạm khắc hình Rồng, Rắn quấn lấy nhau và đầu luôn vươn lên với ý nghĩa thiêng liêng. Thời Trần, bệ bia thường được điêu khắc hình Rùa với ý tưởng nhấn mạnh về một xã hội ổn định, phát triển trường tồn. Còn bệ bia thời Nguyễn là một khối đá trông vững chắc và uy nghi, có khi là hình tượng rùa đội bia được đặt lên bệ đá, với ý tưởng xây dựng một quốc gia vững mạnh, kỷ cương xứng danh nước Đại Nam sánh vai với nước Đại Thanh phía Bắc. Bia đá chính là sự khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc, do đó chúng ta cần đọc, hiểu, trân trọng và phát huy hơn nữa những giá trị của ông cha ta để lại. 4). công trình Phật giáo tiêu biểu trong thời Trần: Các ngôi chùa được xây dựng rải rác ở Đông Bắc và Tây Bắc Bắc Bộ nhưng tập trung nhất vẫn ở ven các triền sông vùng đồng bằng Bắc Bộ ngày nay. So với nhà Lý, phạm vi xây dựng chùa tháp thời Trần đã được mở rộng vào hướng Nam đến Thanh Hóa, Nghệ An. + Chùa Phổ Minh (Nam Định) được xây dựng khoảng năm 1262, còn lưu giữ được cánh cửa gỗ bốn tấm bằng gỗ lim, cao 1,9m và mỗi cánh rộng 0,8 m với những trang trí hình rồng, hoa lá và sóng nước. Một số thành bậc cửa bằng đá chạm rồng và sấu. Tháp Phổ Minh bằng đá, dựng trước cửa chùa vào năm 1305. + Chùa Bối Khê (Hà Tây) dựng năm 1338, chùa giữ được một số đầu bẩy chạm hình đầu rồng ngậm ngọc, phía ngoài có một hình chim, lưu được bộ vì kèo tại gian giữa tòa Thượng Điện và một số chạm khắc chim thần Garuda ở góc bệ đá và tường gạch, bệ đá hoa sen ba tượng năm 1382. + Chùa Thái Lạc (Hưng Yên) còn giữ được một số mảng cốn, ván nong trang trí rất đẹp. Điêu khắc gỗ của chùa này và chùa Bối Khê tiêu biểu cho điêu khắc gỗ kiến trúc Phật giáo thời Trần. + Chùa Báo Ân (Gia Lâm, Hà Nội) còn lại những di vật cổ như mảng nền, kết cấu sáu hàng chân cột, một vì rộng 13m và một số hiện vật bằng đất nung mang phong cách trang trí thời Trần. Điêu khắc trang trí có bệ đá hình vũ nữ, một đầu rồng và một số trang trí lá đề là có giá trị. + Chùa Vĩnh Khánh và tháp Bình Sơn (Vĩnh Phúc) hiện nay, niên đại của tháp Bình Sơn còn gây nhiều tranh cãi, nhưng theo nhiều tư liệu đáng tin cậy thì tháp Bình Sơn khởi dựng trong thời Trần. Tháp Bình Sơn là ngôi tháp cổ sử dụng chất liệu đất nung có giá trị rất cao về mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo. - Thiền phái Trúc Lâm hình thành với ý tưởng xây dựng một không gian Phật giáo thanh tịnh đã gắn liền tên tuổi với các danh sơn như Yên Tử (Quảng Ninh), Côn Sơn (Hải Dương), Quỳnh Lâm (Quảng Ninh)… Những ngôi chùa tại các nơi này được xây dựng từ thời kỳ trước và được xây dựng thành các trung tâm Phật giáo dưới thời Trần. Dấu vết thời Trần còn lại rất ít, ví dụ như ở Yên Tử, những viên gạch vuông trang trí hoa dây, nền tháp đá thời Trần có cạnh 3m15 với mặt bằng hình lục lăng. 5). Đặc điểm trang trí bia thời Lý Trần: bia kí là một nguồn sử liệu quan trọng nhằm góp phần nghiên cứu trên nhiều khía cạnh diện mạo của xã hội thời Lí - Trần, đặc biệt là khi dấu vết vật chất của thời kỳ này đã bị hủy hoại phần lớn do nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên cho đến nay, nhiều bia Lí - Trần không còn giữ nguyên hiện trạng của chúng. Nhiều bia đã bị thời sau sửa chữa, thêm bớt cả nội dung lẫn hình thức (kiểu dáng, hoa văn, chữ khắc). Vì vậy việc nghiên cứu nguồn tư liệu này cần có sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau của các ngành Khảo cổ học, Văn bản học, Ngôn ngữ văn tự, Mĩ thuật học .v.. nhằm đảm bảo tính chân xác của chúng. Về niên đại, ở thời Trần, mặc dù có bài văn bia được soạn trước khá lâu, bia thường chỉ được lập và khắc một lần thành một vật thể hoàn chỉnh, cân đối cả về trang trí và văn khắc trên bia. Trong khi đó, một số bia thời Trần được ghi khắc vào nhiều thời điểm khác nhau ngay trên một tấm bia (bia chùa Đại Bi diên minh, bia chùa Sùng Thiên, một số bia ở núi Non Nước).Vì thế, việc xác định niên điểm khởi dựng bia là khá phức tạp. Về thể loại, trong khi bia thời Trần phần lớn được lập nhân dịp xây dựng chùa (12/13 bia), sử dụng loại đá xám hoặc xám xanh hạt mịn, chủ yếu được khai thác ở núi Nhồi, Thanh Hóa, thì bia thời Trần được dựng nhằm nhiều mục đích hơn. Nhiều bia chùa chỉ đơn thuần ghi chép việc cúng ruộng. Xuất hiện các loại bia mộ, bia đền, bia đề thơ, bia ngự chế, bia ghi sự tích, hành trạng của vua quan... Ngoài loại đá xanh thường dùng, đá vôi, đá cát hạt mịn cũng được sử dụng. Việc khắc tạc văn bia lên các vách núi đá như ở Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An trở nên phổ biến. Về kiểu dáng và kích thước, bia thời Trần đều thuộc loại bia dẹt hai mặt, trán hình viên phân, hơi choãi về phía chân, gắn khớp với đế rùa bằng ngõng hình chữ nhật. Toàn bộ phần trang trí và lòng bia đều nằm trên cùng một mặt phẳng, ngăn cách bằng các gờ chìm hoặc nổi mỏng mảnh. Một số bia do tính chất cung đình quy định có kích thước lớn vượt, còn lại đa số có kích thước trung bình với tỉ lệ khoảng 3 rộng/ 5 cao. Nhờ thế khối bia trông thanh thoát, trang nhã. Sang thời Trần, một số bia vẫn bảo lưu hình thức cũ, song kích thước của loại bia này không lớn. Loại bia “ma nhai” được tạo bằng cách bạt vách đá thành khoảng hình vuông hoặc chữ nhật, được san khắc với chất lượng khác nhau, tùy theo tính chất và chủ nhân. Về trang trí, những bia được trang trí thời Lí - Trần thường theo một khuôn mẫu chung với những đề tài gần như cố định. Bia thời Trần thường theo một quy thức như sau: Trán bia chạm hình rồng hoặc phượng chầu vào ô chữ đề tên bia (thường viết kiểu chữ Triện hoặc Lệ); phần diềm trán và diềm bên chạm bằng hoa cúc dây hoặc hoa dây hình sin; diềm đáy trang trí hoa văn sóng nước biến điệu dưới nhiều hình thức, đôi khi có cả những loài cá rùa quẫy lặn sinh động; băng ngăn cách lòng bia và trán bia chạm các lá thiêng xếp cùng chiều hoặc ngược chiều đối xứng qua một hình lá đề ở giữa. Nhiều bia thời Trần vẫn dùng các đề tài với lối bố cục truyền thống thời Lí, nhưng phong cách đã dần dần biến đổi; đường nét và hình khối đậm khỏe, ít chi tiết vụn vặt, các mô típ chính được chú trọng làm nổi bật trên nền trống, một só mô típ mới xuất hiện; văn mây - sóng nước, sừng tê - ngọc báu, băng chấm tròn. Đại tự (bia chùa Sùng Thiên), phù điêu chân dung (Ngô gia thị bi) cũng bắt đầu có mặt. Xu hướng lược bỏ mọi thành phần trang trí rất phổ biến, đặc biệt là trên loại bia “ma nhai”. Văn phong thời Trần “lưu loát, chỉnh tề, đã giống khẩu khí người nhà Tống...” (Lê Quý Đôn). Tuy một số bia vẫn còn giữ phong cách như của thời Lí, nhưng nhìn chung các bài kí đã chuyển mạnh sang lối tản văn, ngày càng đơn giản, pha trộn cách diễn đạt của ngôn ngữ tiếng Việt, được sử dụng chủ yếu trên các bia làng xã. Điển cố ít được sử dụng và mang màu sắc Nho giáo. 6). Đặc điểm trang trí bia thời Trần: 6.1). Trang trí trên trán bia: Bố cục và đề tài trang trí trên trán bia thời Trần vẫn giống hệt thời Lý. Nhưng xu hướng sử dụng các đề tài và dáng dấp các hoa văn có nhiều biến chuyển. Hình phượng trên trán bia chỉ gặp trên một tấm bia sớm nhất thời Trần: bia chùa Thiệu Long (Hà Nội) tạc năm 1226. Có thể nói trang trí trán bia Thiệu Long là sự tiếp nối truyền thống trang trí trên các bia cuối thời Lý. Phổ biến trang trí trên trán bia thời Trần là hình rồng như các bia chùa Đại Bi, bia chùa Thanh Mai (Hải Hưng), bia chùa Sùng Hưng, bia chùa Hưng Phúc (Thanh Hóa), bia “Ngô gia thị bi” (Hà Nam Ninh)… Rồng trên các bia Trần có thân bè mập, mào ngắn, khúc uốn doãng, các ký hiệu chữ S và chữ W thời Lý biến mất nhường chỗ cho các cặp sừng nhiều kiểu khác nhau. Điểm lưu ý nữa là ở hai mặt bia Trần cũng không tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc Lý nữa: hầu như các mặt sau đều không được trang trí mà để trơn hoàn toàn. 6.2). Trang trí ở diềm bia và sườn bia: Các bia Trần hầu hết đều không có chạm khắc ở sườn bia, trừ bia Lý ở chùa Bảo Ninh (Sùng Phúc Hà Tuyên) có hoa văn thời Trần khắc lại là có chạm hoa cúc, rồng trong các khung hình tròn. Các đường diềm bia Trần có hai xu hướng diềm trán, diềm hai bên và diềm chân vẫn tuân thủ chặt chẽ truyền thống Lý trang trí hoa cúc và sóng nước. Còn đường diềm phân cách trán bia và lòng bia có diễn biến phong phú. Có khi vẫn còn đường diềm này nhưng chạm các đề tài khác như hoa lá cách điệu (bia chùa Hưng Phúc), hoặc các chấm tròn (bia chùa Sùng Thiện – Hải Hưng). Phổ biến là bỏ đường diềm này chỉ còn để đường gờ nhỏ như bia chùa Thanh Mai, bia “Ngô gia thị bi”… 6.3). Trang trí ở đế bia: Đế bia thời Trần cũng bị thất lạc nhiều. Một số tấm bia còn giữ được đế cho thấy việc tạc đế bia hình rùa có phần phổ biến hơn thời Lý nhuư bia chùa Sùng Thiện, bia chùa Khai Nghiêm, bia chùa Hưng Phúc. Dáng rùa Trần cũng gần với rùa Lý, nhưng cũng có con chạm khắc có phần đơn giản hơn, sơ sài hơn (rùa bia Sùng Thiện Hải Hưng). 6.4). Một số tấm bia có hình trang trí độc đáo: Trong các bia thời Trần, có hai tấm bia có chạm nhiều hình độc đáo chưa tìm thấy ở thời Lý là bia chùa Sùng Thiện (Hải Hưng), bia “Ngô gia thị bi” (Hà Nam Ninh). Bia chùa Sùng Thiện có mặt trước các vị trí trang trí còn giữ truyền thống Lý, còn mặt sau lại khác hẳn; toàn bộ trán bia chạm kín hình hoa cúc có cuống dài chụm lại ở đỉnh trán, các diềm trán và diềm bên chạm các hình rồng lượn theo hình “lá đề”, diềm chân bia chạm hình sóng nước lượn uốn tự do. Toàn bộ lòng bia chạm một chữ “Phật” lớn, bên dưới chữ “Phật” ở bên trái có chạm biểu trưng “khuyến thiện” (có ngậm cành sen và lá phướng), bên phải chạm biểu trưng “rừng ác” (hình quỷ sứ đội vạc dầu). Có thể nói bố cục trang trí mặt sau bia Sùng Thiện là một sơ đồ tóm tắt cách trình bày Phật điện và giáo lý nhà Phật thời Trần. Mặt sau bia “Ngô gia thị bi” chạm một người đàn ông luống tuổi, khuôn mặt phương phi, ria mép dài, đầu đội mũ “bình thiên”, ngồi trên một chiếc ngai chạm rồng, hai tay đặt ngay ngắn trước ngực, hai chân buông thẳng, áo chùng rộng có nhiều nếp gấp phủ kín người, dưới ghế có lớp cánh sen xếp nghiêng và lớp “lá đề” có hình “sừng tê ngọc báu”. Theo nội dung văn bia, có thể coi đây là chân dung của vị cư sỹ họ Ngô người có công trong việc xây dựng chùa làng. Tượng chân dung vốn có từ thời Lý nhưng hình chân dung đích thực chỉ mới thấy ở tấm bia này. Mặt khác bia “Ngô gia thị bi” cũng có thể coi là dạng bia hậu sớm nhất xuất hiện khoảng cuối thời Trần. Tóm lại, trang trí bia Trần gần với bia Lý ở trán bia, các diềm trán, hai diềm bên và diềm chân. Song dáng hoa văn có nhiều đổi khác. Đặc biệt các mặt sau và diềm phân cách trán bia với lòng bia hầu như không còn tuân thủ truyền thống Lý nữa. Xu hướng tạc tượng rùa ở đế bia đã bắt đầu phát triển hơn. Bia chùa Sùng Thiện và bia “Ngô gia thị bi” là những đóng góp mới trong nghệ thuật trang trí bia đá. Do sự phát triển và kế thừa, có bản trang trí bia thời Trần khá gần với bia Lý. Những đặc điểm đó đến các thời sau chỉ còn giữ lại ở từng phần, từng vị trí với các đề tài phong phú và đa dạng. III. KẾT LUẬN: Văn hóa_văn hóa truyền thống và xã hội hòa hợp với nhau và muốn duy trì sự ổn định phải có những giá trị trung tâm và những tiêu chuẩn chung đủ mạnh. Do vậy, trên một góc độ khác, có thể những giá trị và tiêu chuẩn trung tâm ấy được dùng để duy trì đặc quyền, đặc lợi của một nhóm người trong xã hội. Khi đó, ý thức hệ là một tập hợp các niềm tin và thực tiễn văn hóa giúp duy trì các lợi ích hùng mạnh về kinh tế, xã hội và chính trị. Bởi lẽ tầm quan trọng của nó, nên các chuẩn mực đạo đức thường được luật pháp hỗ trợ để định hướng hành vi của các cá nhân (Ví dụ: hành vi ăn cắp, lường gạt, dối trá là vi phạm chuẩn mực đạo đức, ngoài việc bị xã hội phản ứng một cách mạnh mẽ, luật pháp còn quy định những tính chất cưỡng chế). Nếu xét về khái niệm chuẩn đa dạng văn hóa và văn hóa truyền thống theo UNESCO đã đưa ra định nghĩa vào năm 2002, như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Thì khi đó, điều này ở đặc điểm giá trị văn hóa văn bia Lý-Trần đã thể hiện tính giáo dục truyền thống và hoạch định chiến lược phát triển văn hoa dân tộc hết sức ổn định. Bởi vì, khi những phản ứng tiêu cực của xã hội trước những vi phạm tiêu chuẩn văn hóa. Đặc tính nổi bậc khi giá trị văn hóa đạo đức văn bia thời Lý-Trần thể hiện thì ngoài phản ứng của xã hội, phản ứng của chính bản thân cũng góp phần làm cho tiêu chuẩn văn hóa được tuân thủ, bởi vì nó chứa đựng giá trị soi rọi là chính bản thân con người. Quá trình này chín là tiếp thu các tiêu chuẩn văn hóa, hay nói một cách khác hòa nhập tiêu chuẩn văn hóa vào nhân cách bản thân./. Tóm lại một số đặc điểm và chức năng lịch sử hình thành phát triển tính truyền thống văn bia Lý-Trần thường dùng để ghi lại những sự kiện lớn diễn ra trong lịch sử, sự kiện văn hóa, chính trị…. Hoặc ca ngợi công đức của các vị vua cai trị và tôn vinh những bậc Nho học có công trạng hoặc đạt được giải cao trong các kỳ thi do triều đình tổ chức như các văn bia Tiến sĩ. Bia đá chính là sự khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc, do đó chúng ta cần đọc, hiểu trân trọng và phát huy hơn nữa những giá trị hết sức cao đẹp của ông cha ta đã để lại. MỤC LỤC THAM KHẢO : 1. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB.Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1988. 2. Đại Việt Sử Ký toàn thư, Bản Kỷ, Bản in Nội Các Quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). 3. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam 1985 – 1992, nhà xuất bản: Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1993. 4. Theo số liệu điều tra công trình Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 5. Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1977. 6. Thơ Văn Lý – Trần (tập 3), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1978. 7. Thơ Văn Lý – Trần (tập 2 – quyển thượng), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1989. 8. Lê Mạnh Thát. Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, tập 1 (1999), tập 2 (2001), tập 3 (2002), NXB TP.HCM 9. Nguyễn Đức Nùng (chủ biên). Mỹ thuật thời Trần. NXB Văn Hóa Hà Nội 1977. 10. Chu Quang Trứ. Mỹ thuật Lý - Trần, Mỹ thuật Phật giáo. NXB Thuận Hoá 1998. 11. Trần Lâm Biền. Chùa Việt. NXB VH-TT 1996. 12. Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận. NXB Văn Học Hà Nội 1979. 13. Nguyễn Bá Lăng. Kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Viện Đại học Vạn Hạnh 1972. 13. Nguyễn Duy Hinh. Tháp cổ Việt Nam 1992.

GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO

MỤC LỤC I- DẪN NHẬP……………………………………………………………………………… II- NỘI DUNG……………………………………………………………………………… 1- Định nghĩa xã hội……………………………………………………......………. 2- Tăng đoàn và những đặc tính lí tưởng của Tăng đoàn…………………………… 2.1- Khái niệm Tăng đoàn…………………………………………………………. 2.2- Những đặc tính lí tưởng của Tăng đoàn ……………………………………… 2.2.1- Tăng đoàn với tính hòa hợp………………………………………………… 2.2.2- Tăng đoàn với tính thanh tịnh…………………………………………......... 2.2.3- Tăng đoàn với tính tập thể dân chủ………………………………………… 2.2.4- Tăng đoàn với tính chất phê bình và tự phê………………………………... 2.2.4.1- Bố Tát……………………………………………………………………… 2.2.4.2- An cư …………………………………………........................……………. 2.2.4.3- Tự tứ . ...................…………………………………………………………. 3- Giá trị về tư tưởng tổ chức xã hội của Tăng đoàn………………………………. 3.1- Tư tưởng bình đẳng giác tánh………………………………………………… 3.2- Tư tưởng bình đẳng giai cấp………………………………………………...... 3.3- Tư tưởng bình đẳng giới tính địa vị…………………………………………… 4- Tăng đoàn đối với xã hội ngày nay……………………………………………... III- KẾT LUẬN…………………………………………………………............... TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………............... PHỤ LỤC……………………………………………………………………......... GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA TỔ CHỨC TĂNG ĐOÀN PHẬT GIÁO I. DẪN NHẬP Dòng thời gian không ngừng trôi, sự hiện hữu của Đạo Phật trên thế gian như ánh mặt trời mọc lên xua tan đi tất cả những u ám của đêm đông giá buốt; là ngọn nhiên đăng dẫn đường cho tất cả chúng sanh hướng về ngọn lửa trí tuệ, giải thoát. Ngược dòng thời gian trở về xứ Ấn, cách đây hơn 2500 năm, chúng ta sẽ thấy một xã hội mà hai chữ “bình đẳng” đã chết lịm, để lại bộ mặt cuộc sống là sự phân chia giai cấp. Dẫu rằng có nhiều đạo giáo nổi lên nhưng không thoát khỏi vành đai tranh chấp. Do đó, sự xuất hiện của Đức Thế Tôn là một nhu cầu cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết, Ngài đã đứng lên làm cuộc cách mạng xóa bỏ bốn giai cấp mà xã hội Ấn Độ đã tồn tại hàng trăm năm trở thành một. Vì con người ai cũng được sanh ra và có dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn. Cho nên những ai xuất gia vào Tăng đoàn thì không có sự phân biệt và cùng nhau sống hòa hợp, thanh tịnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Bên cạnh đó, Tăng đoàn cũng rất cần thiết cho xã hội. Đây cũng chính là cuộc cách mạng đầu tiên trong xã hội mà chưa ai có thể làm được như đức Phật, Ngài đã đưa con người xích lại gần nhau hơn và sống với nhau trong sự hòa hợp thanh tịnh. Điều này cũng đã được nhiều tác giả nói đến, nhưng với đề tài do Giáo Thọ Sư đưa ra và toàn thể Ni sinh thực hiện là: “Giá trị về tư tưởng của tổ chức xã hội Tăng đoàn Phật giáo”. Đức Phật, Người đã trải nghiệm và đưa cái chất nghệ thuật tuyệt vời ấy vào trong Tăng đoàn, nơi có những vị tỳ kheo thanh tịnh và giải thoát. Nếp sống Tăng đoàn thời Phật với những đặc trưng riêng biệt, mà nơi đó những con người bằng da bằng thịt sống với nhau bằng tình đạo hữu, hòa hợp, bình đẳng và tinh thần vị tha, sẵn sàng quên đi những lỗi lầm, những sai trái mà người khác đã làm đối với bản thân mình. Phật giáo với hình ảnh những vị Tăng đầu trần, áo vuông thảnh thơi bước những bước điềm đạm đi vào trong lòng người, cảm hóa từ trong nội tâm, khiến giá trị đạo đức được nhân rộng và cuộc sống con người ngày càng hoàn thiện, hạnh phúc hơn. Chúng ta hãy thử nghĩ xem, giá trị nào đem đến cho con người hạnh phúc và an lạc, có phải đó là lòng vị tha, sự hòa hợp, tình thương yêu bình đẳng giữa con người với con người. Chính vì lẽ đó, thời nay khi nhu cầu hạnh phúc được đặt ra và giá trị đạo đức Phật giáo được nhân rộng, các nhà lãnh đạo đã bắt gặp sự đóng góp vĩ đại trong việc xây dựng thế giới hòa bình, hạnh phúc từ Phật giáo. Đức Phật nhập Niết Bàn cách đây khá lâu, và hình ảnh Tăng- già những người kế thừa gương mẫu của nếp sống đạo đức tâm linh đã giữ được truyền thống mô hình tuyệt đẹp ấy. Mô hình Tăng đoàn với những đặc tính hòa hợp, bình đẳng, dân chủ, vị tha được xem như mô hình lí tưởng của xã hội ngày nay. Bài nghiên cứu này người viết xin không bàn đến cơ chế hành chính hay lịch sử mà chỉ xoáy vào việc xóa bỏ các chế độ giai cấp phân biệt của xã hội để làm sang tỏ về giá trị tư tưởng của tổ chức Tăng đoàn. II-NỘI DUNG : 1- Định nghĩa xã hội: Xã hội là một tổ chức có ít nhất bốn thành viên trở lên, trong đó gia đình là một thành tố của xã hội. Nhiều gia đình gộp lại sẽ thành một xã hội thu nhỏ. Những thành viên này sinh hoạt theo một nguyên tắc và luật lệ chung. Hệ thống trong đó con người sống chung với nhau thành những cộng đồng, có mối tương quan mật thiết, và ảnh hưởng đến sự tồn tại tích cực hay tiêu cực chung. Vì vậy, những thành viên này tốt thì xã hội sẽ tốt và ngược lại. 2- Tăng đoàn và những đặt tính lý tưởng: 2.1- Khái niệm Tăng đoàn: Tăng đoàn hay Tăng-Già là dịch âm từ chữ Sangha (của Pali, Sanskirt) có nghĩa là một nhóm người, một hội chúng sinh hoạt cùng một mục đích, một quy luật chung trong một tôn giáo. Mà tổ chức tôn giáo này gồm bốn người trở lên, họ là những người từ bỏ mái gia đình, sống đời độc thân, phát nguyện sống trong tinh thần hòa hợp và thanh tịnh, để hổ trợ cho nhau thực hiện đời sống giải thoát và lý tưởng giác ngộ. Về sau, khi đoàn thể đệ tử của Thế Tôn ra đời, danh từ Tăng- Già thường dùng để chỉ đồ chúng xuất gia của Thế Tôn.[1] 2.2- Những đặc tính lí tưởng trong mô hình tăng đoàn thời Phật 2.2.1- Tăng đoàn với tính hòa hợp: Thuật ngữ “Sangha” không phải dùng riêng cho tăng đoàn Phật giáo, mà dùng để chỉ chung cho các tổ chức tôn giáo thuộc hệ tư tưởng Sa-môn (S.Sramama); vì vào thời đức Phật có nhiều đoàn thể tôn giáo cũng gọi là “Sangha”. Thế nhưng, các tôn giáo khác thì chỉ có tính hòa hợp, còn “Sangha” của Phật giáo mang hai yếu tố đặc trưng để tạo nên đặc điểm của Tăng đoàn Phật giáo, để phân biệt với các tổ chức tôn giáo khác, đó là: tính chất hòa hợp và thanh tịnh. Thứ nhất, Tăng đoàn Phật giáo là một tổ chức tu hành mang tính hòa hợp (samagra-sangha). Ở đây tính hòa hợp của Tăng đoàn thể hiện qua hành động kính trọng, tôn vinh và hỗ trợ những người sống phù hợp chánh pháp.Trong bất kỳ đoàn thể nào mọi thành viên nên sống trong hoà hợp, nhã nhặn, không tranh cải, giống như sữa hoà với nước, nhìn nhau với cặp mắt thân ái. Như trong kinh tạng Pali đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, các ông phải hòa hợp từ thân hành, khẩu hành và ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng”[2]; đó là thái độ hiền hòa dung thông với mọi người. Mục đích xuất gia của mỗi tỳ kheo là sống cuộc sống không gia đình trong giáo đoàn Phật giáo, để giúp đỡ tương trợ nhau nhằm chứng ngộ chân lý, rồi chia sẻ những kinh nghiệm về tri thức cũng như tâm linh đã đạt được cho hạnh phúc tha nhân. Do vậy, các thành viên trong Tăng đoàn đều có khả năng chung sống hòa hợp. Tất cả tổ chức sinh hoạt như An cư, Tự tứ, Bố tát, những cơ sở giới luật, lễ lạc …đều thể hiện tính hòa hợp trong tổ chức. Đức Thế Tôn thành lập Tăng đoàn đã mang mục đích cao thượng và cần thiết nhất cho những người dấn thân vào con đường thoát khổ. Và ngài đã đề ra sáu phép hòa hợp như là riềng mối quan trọng giữ gìn hình ảnh của Tăng bảo. Không những thế, sáu phép hòa kính còn có ý nghĩa lớn lao hơn nếu được mọi người áp dụng để hành trì. Sáu pháp hòa kính như sau: a) Hãy sống với nhau một cách hòa hợp, hãy chung lưng đấu cật, đùm bọc nhau, chứ không nên dùng võ lực để đàn áp nhau. b) Hãy nói năng với nhau một cách dịu dàng, hòa nhã; nếu có điều gì thắc mắc cần bàn cãi, thì cũng phải bàn cãi trong ôn hòa, lễ độ. c) Hãy nuôi dưỡng ý tốt đẹp đối với nhau, hãy trau dồi đức hỷ xả; đừng bao giờ thù hiềm, ganh tỵ nhau. d) Hãy giữ đúng giới luật như nhau, hãy lấy kỷ luật làm đầu. Vô kỷ luật thì không một đoàn thể nào có thể tồn tại được. e) Hãy giải bày những sự hiểu biết, những ý kiến của mình cho người xung quanh. Người thông hiểu nhiều, phải có bổn phận chỉ bày cho người hậu tiến và dắt họ đi kịp mình. f) Hãy chia đồng đều tài lợi cho những người cùng sống chung với mình, để mọi người đều được thỏa mãn, vui vầy. Sáu điều dạy trên đây, là khuôn khổ ý thức mà mỗi một tăng sĩ luôn ghi nhớ khi bước chân vào tăng đoàn, và không phải hạn chế trong đoàn thể tăng già, sáu phép lục hòa có thể thực hiện một cách triệt để trong gia đình, xã hội, quốc gia.[3] 2.2.2- Tăng đoàn với tính thanh tịnh: Thuộc tính thứ hai của Tăng đoàn Phật giáo là sự thanh tịnh. Thanh tịnh là sự trong sạch thuần khiết của tâm hồn do việc hành trì giới bổn, liên hệ đến việc phát triển tuệ giác đưa đến giải thoát tối hậu. Ý nghĩa này được ví với tám đặc tính sau: 1. Như biển mỗi ngày trở nên sâu thẳm, cũng vậy sự học tập trong Tăng-già dần dần sẽ phát triển . 2. Như nước trong biển không bao giờ vượt ra khỏi bờ; cũng thế, đệ tử đức Phật không bao giờ phá giới . 3. Như biển không bao giờ giữ xác chết trong nó và luôn quăng chúng lên bờ; cũng thế, Tăng-già luôn buộc tội và trục xuất những người phạm đại giới. 4. Như nước các con sông không còn mang tên gọi riêng khi đổ về biển; cũng vậy, khi gia nhập Tăng đoàn, người ta sẽ từ bỏ tên tuổi, dòng họ của mình và chỉ được gọi là các Tỷ- kheo, đệ tử của Phật. 5. Như vị mặn tồn tại khắp biển cả; cũng vậy, vị giải thoát sẽ thẩm nhập khắp thành viên Tăng già . 6. Như nước nhiều sông chảy vào biển cũng không làm biển tăng lên hay giảm xuống; cũng vậy, dù có bao nhiêu thành viên của nó nhập Niết-bàn, Tăng già cũng không tăng giảm . 7. Như vô số kho tàng được cất chứa trong biển; cũng vậy, giáo pháp và giới pháp vi diệu được tìm thấy trong Tăng-già . 8. Như các con cá lớn chỉ sống trong đại dương; cũng vậy, những vị đệ tử nổi tiếng, ưu việt sống trong Tăng-già.[4] Như vậy dù thời đại nào, Tăng già vẫn phát triển trong tinh thần hòa hợp và thanh tịnh để xứng đáng là ngôi báu, xứng đáng ở vị trí lãnh đạo tinh thần của đoàn thể cư sĩ, và khi Tăng già giữ đúng vị trí của mình thì chánh pháp luôn hiện hữu ở đời. Ý nghĩa này chỉ được thể hiện một cách sinh động trong nếp sống tu học chung. 2.2.3- Tăng đoàn với tính tập thể dân chủ : Tăng đoàn Phật giáo không phải là một tổ chức tôn giáo mang hệ thống đẳng cấp, hay theo chế độ trung ương tập quyền, nó đơn giản chỉ là một tổ chức với những quy định đạo đức làm tôn chỉ cho mọi người tuân thủ và hành động, chứ không phải là một tổ chức mang tính kỷ luật, pháp lịch hay giáo điều như những tổ chức khác của xã hội. Trong thực tế, vai trò lãnh đạo tối cao hay độc tôn không có mặt trong Tăng già Phật giáo, vì kinh điển ghi lại rằng đức Phật không hề di chúc cho ai lãnh đạo Tăng già trước ngày ngài nhập diệt; và ngài cũng không nói mình là người lãnh đạo Tăng già.[5]Đồng thời trước khi nhập diệt đức Phật có dạy: “Hãy nương tựa mình và nương tựa pháp; Tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình, chứ không cần cầu ai khác”[6]. 2.2.4- Tăng đoàn với tính chất phê bình và tự phê: 2.2.4.1- Bố tát: Tiếng Phạn gọi là Upavasatha, Pàli gọi là Uposatha, Tàu dịch là Bố-sái-tha, Bố-sái-ta-đà… gọi tắt là Bố-tát, Tàu dịch là Tịnh trú, Thiên túc, Trưởng dưỡng. Công dụng Bố-tát là đoạn tăng trưởng, nghĩa là dứt ác, tăng thiện, còn gọi là Ngã đối thuyết, tức là tự mình sám hối tội lỗi trước mọi người. Đây là một điểm đặc biệt mà đạo Phật khác với các tôn giáo khác, mục đích của phương pháp này để diệt trừ cái ngã tiềm ẩn trong vi tế của nội tâm, giúp con người hoàn thiện hơn về nhân cách đạo đức và tránh sự tái phạm. Nếu xã hội lấy mô hình này để ứng dụng vào trong việc quản lí xã hội thì các tệ nạn xã hội sẽ được giải quyết. Xã hội sẽ an lành và hạnh phúc hơn rất nhiều khi không còn những hành động xấu giết người, tà dâm, ma túy …vvv. 2.2.4.2- An cư: An cư tiếng Phạn gọi là Vassàvàna, Pàli gọi là Varshàvàna, là nghi thức chung của ba giáo đoàn gồm Bà-la-môn, Kỳ-na-giáo (Jaina) và Phật giáo. Lễ này được áp dụng vào ba tháng mùa mưa, bắt đầu vào ngày trăng tròn của tháng. Trong Đạo phật, lễ này được áp dụng vào năm đầu tiên khi đức Phật thành đạo. Mùa an cư này rất là quan trọng đối với Tăng đoàn Phật giáo, đây là thời gian mà những vị Tỳ-kheo tập trung tu học chánh pháp và thực hành thiền định. Ngoài ra, giai đoạn an cư là cơ hội để tạo sự nối kết chặt chẽ giữa hàng xuất gia và tại gia, vì ba tháng an cư là Tăng đoàn sẽ không rời khỏi trú xứ của mình trừ khi có duyên sự đặt biệt; chính vì lẽ đó, Phật tử có cơ hội để tạo thêm phước điền khi đem vật phẩm đến cúng dường. Vì vậy, ba tháng an cư này chư Tăng phải nhiếp tâm tu tập và ngồi lại với nhau để trao đổi những kinh nghiệm sống và học hỏi chia sẽ với nhau những kinh nghiệm sống để giúp cho con người về lại với chính mình. Bên cạnh đó, được các bậc cao Tăng thạc đức sẽ giảng dạy, truyền đạt những kinh nghiệm tu hoc cho chúng ta. 2.2.4.3- Tự tứ: Tiếng Phạn gọi là Pravàrana, Pàli gọi là Pavanara, Tàu phiên âm là Bát hòa la, Bát lợi bà thích noa, dịch là Mãn túc, Hỷ duyệt, Tuỳ thỉnh, Tùy ý sự… Nghĩa của các từ này là: sự thỉnh cầu; ở đây chỉ cho sự thỉnh cầu người khác nói lên những khuyết điểm của mình; mục đích làm cho chúng Tăng thanh tịnh, tự sanh vui mừng nên gọi là Tự tứ. Ngoài ra, Tự tứ là: phương pháp diệt trừ những lỗi lầm từ ba nghiệp thân, khẩu và ý. Vì thế, phải nhờ đại Tăng chỉ bảo mới thấy được lỗi lầm bên trong mà sám hối để được thanh tịnh hoàn toàn. Tự tứ là phương pháp thực hiện chung cho tất cả Tăng chúng, đức Phật không cho phép biệt chúng Tự tứ. Chúng Tăng phải Tự tứ trong tinh thần hoà hợp gọi là: “Như pháp hoà hợp Tự tứ”; đặc điểm này nếu đem ứng dụng cho tầng lớp lãnh đạo quốc gia thì vấn đề tham nhũng sẽ được giải quyết, sự trong sạch trong hàng ngủ lãnh đạo sẽ được phát huy và uy tính lãnh đạo gương mẫu càng cao. 2.2.4- Giá trị về tư tưởng của tổ chức Tăng đoàn Phật giáo: 2.2.4.1- Tư tưởng bình đẳng giác tánh: Đức Phật là người đã chứng được ba loại thần thông, đó là: biến hóa thần thông, tha tâm thần thông và giáo hóa thần thông. Nhưng đặt biệt ở đây, đức Phật chỉ dùng giáo hóa thần thông tức là: dùng ngôn từ để giáo hóa các đệ tử và không có sự phân biệt giữa các đệ tử. Vì đức Phật thường dạy tất cả chúng sanh dù mập hay ốm, cao hay lùn, đen hay trắng …đều có chung một bản tánh thanh tịnh giống nhau. Ngoài ra, Tăng đoàn Phật giáo không hề đặt ra bất cứ sự loại trừ nào về nguồn gốc xã hội đối với những thành viên trong Tăng đoàn. Những ai thật tâm quy y Phật pháp, gia nhập Tăng đoàn, sẽ không còn bận tâm đến dấu vết cội nguồn xã hội của mình; vì khi đã quy y Tam Bảo, tất cả đều có một tên gọi chung là đệ tử của Phật. Giống như nước của mọi dòng sông mỗi khi đã chảy về biển thì chỉ còn tên gọi chung là nước biển. Sự thật này có thể tìm thấy trong kinh tạng Pali của Phật giáo Nam Truyền (Theravada), nơi ghi lại đầy đủ nguồn gốc các thành phần xã hội được tiếp nhận vào Tăng đoàn[7]. Và khi nói đến đệ tử của Phật thì cũng không ai phân biệt Bắc, Trung, Nam và cũng không có đen, trắng, lùn, cao; mà tất cả đều có một bản tánh thanh tịnh, đều sẽ thành Phật. 2.2.4.2- Tư tưởng bình đẳng giai cấp: Đặc tính bình đẳng được biết đến trong lần đầu tiên, lời tiên bố “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn” của Đức Phật đã mở ra một trang sử mới cho nhân loại, nó như một lời đanh thép một tiếng chuông cảnh tỉnh làm chặt đứt mọi xiềng xích bất công trong xã hội, theo sử liệu ghi chép thì Tăng đoàn thời Phật đã thâu nhận tất cả những ai có nguyện vọng giải thoát dù bần tiện hạ liệt, giàu sang quan vị, dầu người ấy là nam hay nữ, mọi chúng sanh đều có khả năng thành Phật. Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu thì Tăng đoàn của Ngài là tổ chức hoà hợp bình đẳng đầu tiên trong lịch sử loài người, chấp nhận tất cả thành viên thuộc bốn giai cấp mà không có sự kỳ thị nào.[8] Lí do chính của nhận định trên có thể được minh định từ kinh tập sutta-nipata rằng: “ không phải do sinh ra người ta trở thành bà la môn, không phải do sinh ra người ta trở thành kẻ hạ tiện, do hành động người ta trở thành bà la môn, do hành động người ta trở thành kẻ hạ tiện”.[9] Đức Phật là người đầu tiên trong nhân loại đã phản kháng chế độ giai cấp và phá đổ thành trì chia cách dân tộc Ấn – Độ. Vì thời diểm đó Ấn Độ có bốn giai cấp: Bà la môn, Sát đế ly, Tỳ xá già và Chiên đà la. Thực sự khó khăn và gian nang để thay đổi một xã hội mà có triết lý sống kéo dài cả hàng ngàn năm. Vậy mà đức Phật đã không từ bỏ khó khăn, Ngài đã đứng lên để tìm lại sự bình đẳng cho con người, đụng chạm đến thượng tầng trí thức của xã hội, đây là điều khó khăn mà đức Phật phải đối diện với xã hội. Và cũng chính Đức Phật trong khi tìm đạo, đã nói với một người chăn cừu như thế nầy:"Mỗi người sinh ra không mang sẵn dấu “Tin Ca” (dấu riêng của hạng quí phái) trên trán, không mang sẵn giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và trong nước mắt cùng mặn như nhau".[10] Một minh định lịch sử ấn tượng nhất là Tăng đoàn đức Phật có mặt đầy đủ bảy chúng ( tỳ kheo, tỳ kheo ni, sa di, sadi ni, thích xoa ma na, nam cư sĩ, nữ cư sĩ ). Cũng nhiều ý kiến cho rằng đức Phật là nhà cải cách đầu tiên trong lãnh vực tư tưởng chính trị xã hội Ấn Độ. Và tư tưởng này vẫn còn giá trị cho đến ngày nay, để con người không còn sống với nhau trong sự mâu thuẫn, kỳ thị chủng tộc mà con người sống với nhau đoàn kết, gắn bó hơn, để xã hội ngày một hoàn thiện.Vậy theo tinh thần Phật giáo ngày nay sự phân chia cao thấp và lễ lạy trong Phật giáo có phải là phân chia giai cấp hay không? Đây thực sự không phải là sự phân chia giai cấp trong phật giáo. Đó là sự sắp xếp trong một tổ chức để có sự trật tự và hệ thống với nhau, trên tinh thần hòa hợp và chỉ bảo, sửa đổi cho nhau ngày một hoàn thiện hơn. Mỗi người đều có một nhiệm vụ và trách nhiệm riêng. Còn về sự lễ lạy, đó là dựa trên tinh thần tôn sư trọng đạo, thể hiện đạo đức của một con người. Vì từ trong một gia đình nhỏ cho đến một xã hội hay một tổ chức Tăng đoàn đều có sự trật tự trên dưới và phải biết yêu thương chia sẽ, chỉ dạy cho nhau và sống trong tinh thần hòa hợp, thanh tịnh thì tổ chức đó mới vững mạnh. Vì vậy, trong tổ chức Tăng đoàn Phật giáo tuyệt đối không có sự phân chia giai cấp. 2.2.4.3- Tư tưởng bình đẳng giới tính địa vị: Một cuộc cách mạng của đức Phật đã làm thay đổi trực tự xã hội họ đang sinh sống, từ bốn giai cấp trở thành một. Ngoài ra, một thay đổi thứ hai nữa mà đức Phật đã làm cho xã hội rúng động, đó là cho người nữ xuất gia. Đây là một vấn không hề đơn giản; vì ở xã hội Ấn Độ phụ nữ là tài sản riêng muốn cho thì cho, phụ nữ không có một nhân quyền nào và họ luôn cho rằng phụ nữ là con rắn độc dẫn đến địa ngục…Sự hiện hữu của phụ nữ ảnh hưởng đến quyền lực của nam giới, trong đó bao gồm việc trang điểm, phục vụ nam giới, sinh con đẻ cái mà không được chống đối. Từ lúc sinh thành đến khi lấy chồng, phụ nữ luôn bị ràng buộc bởi những nguyên tắc mang tính ước lệ của văn hóa xã hội Ấn Độ cổ đại. Một phụ nữ lý tưởng là một người nô lệ trung thành, biết tuân thủ và phục tùng mọi ý muốn của chồng, thậm chí bị tước quyền sống khi người chồng qua đời. Vậy mà bây giờ họ đòi xuất gia và muốn đứng ngang vị trí của người đàn ông, điều này thật không dễ dàng chút nào. Bởi vì không có câu nói nào có thể làm thay đổi tư duy thâm căn lâu đời của một tư tưởng đã ăn sâu trong máu của mọi người. Muốn thay đổi tư tưởng trong một con người thì rất là khó, chính vì vậy mà đức Phật đã từ chối ba lần không cho người nữ xuất gia. Ngoài ra, đức Phật còn muốn xem sự phản ứng của xã hội thế nào và có điều gì nguy hiểm khi quyết định đưa nữ giới vào trong Tăng đoàn hay không? Và cuối cùng đức Phật đã quyết định cho người nữ xuất gia vì Ngài thấy được tính bình đẳng của mọi chúng sanh. Đây cũng là một cuộc cách mạng tư tưởng bình đẳng giới tính, là bước ngoặc đầu tiên trong lịch sử văn hóa nhân loại. Và cũng không có một tôn giáo nào hay một ngành triết học nào, đặt vị trí người phụ nữ ngang hàng người đàn ông như Đạo phật. Ở đây vấn đề chính là của xã hội, vấn đề là của một hệ thống, một tư tưởng chứ không phải một cá nhân và không phải vì Di Mẫu Maha-ba-xà-ba-đề (Mahà Prajàpati). Vì đây là một cuộc cách mạng mà đức Phật đã đắn đo vô cùng; nhưng cuối cùng để thỏa hiệp với xã hội, để làm thỏa mãn lòng tự ái của người đàn ông, để thoa diệu những bất mãn của người đàn ông; cho nên đức Phật đưa ra Bát Kỉnh Pháp. Vậy Bát Kỉnh Pháp có Phải tuân thủ mãi hay không? Nếu chúng ta nói phải thì đã rơi vào chủ nghĩa cực đoan, vì đức Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng pháp cho các ông, ví như chiếc bè để vượt qua, không phải để nắm lấy. Hãy nghe và khéo tác ý…Chư Tỷ-kheo, các ông cần phải hiểu ví dụ cái bè…Chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp[11]”. Và “…Như Lai thường nói, các vị Tỷ-kheo, hãy nhận thức rằng pháp Như Lai nói tựa như chiếc bè: pháp còn phải bỏ, huống chi phi pháp[12]”. Ngoài việc địa vị nữ giới được tôn trọng và bình đẳng trong lãnh vực xuất thế như được nói ở trên, đức Phật đã trả lại đúng vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Tinh thần này được tìm thấy trong kinh Giáo Thọ Thi-ca-la-việt (Singalavàda)[13], ở đó đức Phật phân tích rõ ràng bổn phận và quyền lợi của sáu mối tương quan trong xã hội. Đặc biệt là trong mối quan hệ vợ chồng đức Phật dạy về những nguyên tắc sống để đưa đến an lạc, hạnh phúc. Như có năm cách một người chồng phải cư xử đối với người vợ, đó là: kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ, trung thành với vợ, giao quyền hành cho vợ, sắm đồ nữ trang với vợ. Và người vợ cũng phải khéo cư xử với chồng theo năm cách: thi hành tốt đẹp bổn phận của mình, khéo tiếp đón bà con, trung thành với chồng, khéo gìn giữ tài sản của chồng, khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc. Vì thế, như chúng ta đã biết ngày nay tại nước Úc, nước Mỹ, Tăng Ni ngang nhau, không có sự phân biệt giai cấp về giới tính hay địa vị, cùng nhau tiến đến giải thoát giác ngộ vì giới luật của Phật chính là những bước thang để giải thoát. Giới (Sìla) được dùng trong ý nghĩa tự nhiên, chớ không mang một sự trói buộc nào cả; cho nên tìm hiểu giới luật này chính là chúng ta nghiên cứu về các quy luật tự nhiên trong đời sống phạm hạnh của Tăng đoàn. Vì thế tinh thần của Bát Kỉnh Pháp là phương tiện mà đức Phật dùng để tạo dựng cho người nữ được tham gia vào Tăng đoàn và phương tiện để đức Phật đặt vai trò người phụ nữ ngang hàng với vai trò của nam giới. Cho nên khi vào trong Tăng đoàn rồi thì chúng ta thấy rằng không có giai cấp, dù là nam hay nữ đều có thể tu tập và thành Phật. Cũng như Ngài A Nan hỏi đức Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn một người nữ đệ tử khi xuất gia mà sống đúng giới luật, hành trì đúng Giới, Định, Tuệ thì có chứng được sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả không? Đức Phật trả lời là chứng được, ví như khi đã chứng quả A-la-hán rồi thì đều giống nhau không có sự khác biệt. Về sau, để thuận tiện trong việc tu tập của người nữ tu sĩ nên đức Phật thành lập Ni đoàn. Ngay nay, các chùa Ni có thể được tách rời hoặc ở gần chùa Tăng tùy vào vị trí địa lý và môi sinh của từng nơi đó, nhưng vẫn được sự bảo bọc của Tăng. Tóm lại, trong mỗi thời đại đều có tính lịch sử của thời đại đó. Chúng ta không nên nhìn lịch sử của thời đại đó để đem so sánh trong thời đại chúng ta. Vì hai thời đại không giống nhau, mỗi thời đại đều có những đặc điểm riêng. Ví dụ như đem cái khái niệm bình đẳng của thời đại đó mà đưa áp đặt cho thời đại này thì không hợp lý và chúng ta đem cái thời đại bây giờ để nói ngày xưa lạc hậu thì không đúng. Vì vậy, giá trị tư tưởng của thời đại nào cũng có giá trị riêng của đó. Nhưng đối với giá trị của Đạo phật thì cho đến bây giờ vẫn còn giá trị và tính nhân bản vẫn còn nguyên vẹn. 3- Tăng đoàn đối với xã hội ngày nay: Trong thế giới hiện tại, giữa thế kỷ 21 này, đầy dãy những văn minh và hiện đại; vậy mà không có bậc lãnh tụ nào đưa ra tiếng nói này, không có thông điệp xã hội nào đã làm được. Và hiện nay Liên Hiệp Quốc đã công nhận Phật Giáo là một đạo của sự hòa bình, mà Đạo Phật là căn cứ vào cuộc sống hòa hợp, thanh tịnh của Tăng đoàn; nhưng Tăng đoàn muốn có sự hòa hợp, thanh tịnh là phải nhờ vào giới luật. Vì vậy, hình ảnh và nếp sống của Tăng già có ảnh hưởng rất lớn đối với xã hội, Tăng đoàn là đại diện cho một trong ba ngôi Tam Bảo, là người kế thừa sự nghiệp của đức Phật, đem giáo pháp của Ngài hướng dẫn cho Phật tử tu tập không những trên bề mặt tâm linh mà ngay trong cuộc sống hàng ngày. Do vậy, Tăng đoàn Phật giáo có một giá trị tầm mức vô cùng lớn lao, nó làm cho xã hội dẫn đến một sự yên bình không phân biệt, không đấu tranh, không có máu đổ. Nó có một giá trị thực sự và hiện nay nó vẫn còn một tầm vóc đứng đầu trên thế giới, mà không có một Đạo giáo nào vượt qua Đạo Phật được trong vấn đề Tăng đoàn. Nhờ sự thanh tịnh, hòa hợp với nhau thì chúng ta mới làm cho Tăng đoàn vững mạnh được và xã hội cũng được bình yên. Ngày nay, không biết bao nhiêu thiên tai lũ lụt đã xảy ra, mà những điều đó chúng ta không thể trách bất cứ ai được, vì tất cả chúng ta đã tàn phá môi trường. Và Tăng đoàn Phật giáo cũng vậy, sở dĩ Phật tử không kính trọng là do cách sống của chúng ta đi sai lời dạy của Phật; chúng ta chỉ biết thừa hưởng tài vật mà không thừa hưởng Pháp. Chính vì thế, Đức Thế Tôn luôn đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nếp sống Tăng đoàn; xây dựng nếp sống Tăng đoàn chính là bồi dưỡng phẩm chất đạo hạnh cho từng Tỳ- kheo. Vì phẩm chất đạo hạnh của mỗi tỳ kheo quyết định sự hưng suy của Tăng đoàn, quyết định sự tồn tại của Phật pháp; cho nên, những lời giáo huấn về hành vi thái độ của từng Tỳ- kheo luôn được Thế Tôn nhắc nhở; những lời ấy xuyên suốt Luật tạng và Kinh tạng Pàli. Ngay những ngày tháng cuối cùng, Đức Thế Tôn cũng không ngừng quan tâm, huấn luyện chư Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni nỗ lực đoạn trừ tham ái; đồng thời, Ngài đúc kết lại những điều cốt lõi nhất trong giáo pháp và tha thiết dặn dò các đệ tử phải ghi nhớ thực hành nhằm xây dựng và củng cố nếp sống thanh tịnh của Tăng đoàn. Đó là bảy yếu tố tiêu biểu mà mỗi vị tỳ kheo phải hành trì để làm cho Tăng đoàn trở nên hưng thịnh. Vì vậy, ngày nay mỗi hành giả chúng ta phải luôn nhớ lời Phật dạy để áp dụng tu tập và trao dồi phẩm hạnh của chính mình, sống với nhau trong tinh thần hòa hợp, thanh tịnh, không gây chia rẽ với nhau và cùng nhau hoằng pháp độ sanh ngày một tốt hơn; có như thế thì Đạo phật mới trở thành điểm tựa cho chúng sanh noi theo. III- KẾT LUẬN: Tăng già trong ý nghĩa đầy đủ của ngôi Tam Bảo như một cây cổ thụ thân to, tàng rộng, dù đã bao lần thay lá đổi cành vẫn sum xuê tươi tốt. Đó chính là nhờ nhựa sống mãnh liệt (thanh tịnh và hòa hợp) giúp cây tiếp tục tồn tại bằng cách truyền dẫn các dưỡng tố khắp thân cây. Nhựa sống ấy lại được nuôi dưỡng từ những đặc tính truyền thống mà thuở sơ khai đức Từ Phụ xây dựng. Hòa hợp, bình đẳng, yêu thương và khoan dung là những tố chất không thể thiếu khi trắc nghiệm giá trị lí tưởng của một xã hội. Tăng đoàn hiện đại thừa kế gia sản truyền thống đã vững bước hòa cùng nhịp sống sôi nổi như loài sen huyền thoại vươn mình khỏi bùn nhơ của đầm lầy, tỏ hương thơm ngát bốn phương. Hình ảnh Tăng đoàn với nếp sống giản đơn, biết đủ, đang là bài thuyết trình sống cho việc giải quyết các vấn nạn toàn cầu hiện nay. Mô hình ấn tượng của Tăng đoàn được xã hội hiện đại bắt gặp một cách muộn màng, tuy nhiên vấn đề vẫn không phải là vô phương khi ngay bây giờ, hiện nay giá trị ấy nếu được ứng dụng một cách rộng rãi trên khắp các xã hội. Trải theo chiều dài lịch sử chúng ta đã từng bắt gặp mô hình này khi đại đế Asoka sau cuộc chiến đẫm máu tại Kalinga “hồi đầu là bĩ ngạn”. Trần Nhân Tông vị vua Phật Tử đã bao lần dẹp yên xâm lăng Mông -Việt, xây dựng đời sống đạo đức, phồn thịnh, hạnh phúc nhất trong lịch sử Việt Nam. Có thể khẳng định với thế giới rằng: Mô hình lí tưởng chỉ có thể có mặt trong Phật giáo với nếp sống đầy nghệ thuật mà đức Phật, bậc đại trí vô lậu xây dựng. Tài Liệu Tham Khảo: 1. Thích Minh Châu (dịch), Tiểu Bộ kinh tập I, VNCPHVN, 1992. 2. Phạm Kim Khánh (dịch), Đức Phật và Phật Pháp, NXB TP. HCM, 1998. 3. Trần Phương Lan (dịch), Đức Phật Lịch Sử, VNCPHVN, 1997. 4. Thích Chơn Thiện, Tăng Già Thời Đức Phật, VNCPHVN, 1991. 5. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB TP. HCM, 1999. 6. Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2006. 7. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông (quyển 1), Nxb Tôn Giáo, 2002 ________________________________________ [1] Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, Nxb Phương Đông, tr. 441. [2] ĐTKVN, Kinh Trung Bộ, tập I, Kinh Kosambiya. [3] HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông( quyển 1), Nxb Tôn Giáo, tr 315. [4] Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Thích Viên Trí, NXB Phương Đông, tr.98-99. [5] TT. Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, tr 99. [6]Kinh Trung Bộ II, Kinh Chuyển Pháp Luân Thánh Vương Sư Tử Hống, HT Thích Minh Châu (dịch), Nxb ấn hành 1992. [7] ĐTKVN, Tiểu Bộ Kinh, Tập III. [8] TT. Thích Viên Trí, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, tr 132. [9] HT. Thích Minh Châu, Kinh Tiểu Bộ Tập 1(kinh tập Sutta-nipata). [10] HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Phổ Thông, (quyễn 2 Dưỡng Tánh, Bình đẳng), Nxb Tôn Giáo, tr 231. [11] ĐTKVN, Kinh Trung Bộ, tập I, tr.305-307. [12] Kinh Kim Cang, Trí Quang (dịch), Nxb Tôn giáo, 2003, tr.175. [13] ĐTKVN, Kinh Trường Bộ, tập II, tr. 529.

HÌNH THÍCH TÂM TRỌNG

HÌNH ẢNH CHÙA THÁP

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA phần 2

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 05 TẬP 02 Quyển 03 Phẩm Dược Thảo Dụ Thứ Năm Dược là thuốc trị bệnh, thảo là thảo mộc (cỏ), cũng dụ cho chúng sinh thế tục. Nếu có bệnh thì giáo pháp của Như Lai là thuốc, quán sát căn cơ nói pháp, tùy theo bệnh mà cho thuốc. Cần phải có căn cơ và giáo pháp tương ưng, thì thuốc chữa trị mới hay. Cho nên phẩm nầy, Ðức Phật dùng cỏ thuốc làm ví dụ, chữa trị bệnh thân và tâm của chúng sinh. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ngài Ma Ha Ca Diếp, và các vị đại đệ tử : Lành thay, lành thay ! Ca Diếp khéo nói công đức chân thật của Như Lai, đúng như lời các ông vừa nói. Như Lai còn có vô lượng vô biên A tăng kỳ công đức, dù các ông trải qua vô lượng ức kiếp, nói cũng không hết được. Lúc đó, Ðức Phật bảo Ngài Ca Diếp và các vị đệ tử trong pháp hội : Lành thay, lành thay ! Ca Diếp nói thật là hay, ông thật lãnh hội được tâm ý của Như Lai, pháp của Như Lai nói, đạo lý của ông nói, tơ hào chẳng sai. Như Lai chẳng có bờ mé, A tăng kỳ, vô lượng số mà công đức của Phật cũng vô lương vô biên. Dù các ông có trải qua vô lượng ức kiếp, nói cũng chẳng bao giờ hết được, các ông hằng ngày giảng nói, cũng không nói hết được công đức nầy. Ca Diếp nên biết ! Như Lai là vua của các pháp, nếu có nói ra lời gì, đều không hư vọng, trong tất cả các pháp, Phật đều dùng trí huệ phương tiện mà diễn nói, pháp của Phật nói ra, thảy đều đến nơi Nhất thiết trí. Ca Diếp ông nên biết, Như Lai là vua của tất cả các pháp, pháp của Như Lai nói, đều là pháp chân thật không hư. Tất cả pháp bao quát đại thừa, nhị thừa, và tam thừa. Ðại thừa là Phật thừa, nhị thừa là Thanh Văn Duyên Giác thừa, tam thừa là Bồ Tát thừa. Như Lai đều khéo léo, dùng phương tiện diễn nói diệu pháp, đều dùng (trí huệ) Bát nhã ba la mật đa, Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí để nói pháp. Như Lai quán sát, biết được chỗ quy về của tất cả các pháp, cũng biết được tâm lý trong thâm tâm của tất cả chúng sinh, thông đạt vô ngại, và thấu rõ rốt ráo hết các pháp, mở bày Nhất thiết trí huệ cho chúng sinh. Phật có ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông. Ba thân là : Pháp thân Hóa thân Báo thân. Bốn trí là : Ðại viên cảnh trí Diệu quán sát trí Bình đẳng tính trí Thành sở tác trí. Năm nhãn là : 1. Phật nhãn 2. Pháp nhãn 3. Huệ nhãn 4. Thiên nhãn 5. Nhục nhãn. Sáu thông là : 1. Thiên nhãn thông 2. Thiên nhĩ thông 3. Tha tâm thông 4. Túc mạng thông 5. Thần túc thông 6. Lậu tận thông. Như Lai dùng trí huệ quán sát, mà biết được tất cả các pháp. Pháp có tám muôn bốn ngàn thứ, nếu dùng mỗi một pháp để nói, thì phí thời gian lâu dài, cho nên nói tất cả các pháp. Các pháp quy về đâu ? Phật nói tất cả các pháp chẳng lìa tất cả tâm, tất cả pháp sinh ra, cũng vì sở hiện của tâm vậy, do đó, Phật mới biết được tâm lý của tất cả chúng sinh. Như trong Kinh Kim Cang có nói: ‘’Chúng sinh có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết đều thấy‘’. Chúng sinh khởi tâm động niệm, Phật đều thấy rõ như chỉ bàn tay, chẳng có gì mà không biết, chẳng có gì mà không thấy, thông đạt vô ngại, mới có thể mở bày Nhất thiết trí huệ cho tất cả chúng sinh. Ca Diếp ! Ví như núi sông, khe suối, đất đai, trong ba ngàn đại thiên thế giới, sinh ra cây cối lùm rừng, và các cỏ thuốc, bao nhiêu thứ, loại, tên gọi, màu sắc, đều khác nhau. Mây dày phủ khắp ba ngàn đại thiên thế giới, đồng thời đều mưa xuống như nhau, thấm nhuần hết thảy cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc. Cây nhỏ rễ nhỏ, nhánh nhỏ lá nhỏ; cây vừa rễ vừa, nhánh vừa lá vừa; cây lớn rễ lớn, nhánh lớn lá lớn. Các cây lớn nhỏ, tùy theo sự lớn, vừa, nhỏ, mà hấp thụ khác nhau. Một đám mây mưa xuống, mà tùy theo giống loại cây cỏ, mà được sinh trưởng, đơm hoa kết trái, tuy là một mảnh đất sinh ra, một trận mưa thấm nhuần, mà các cây cỏ mỗi thứ, đều có sự khác nhau. Ca Diếp ! Ví như ba ngàn đại thiên thế giới, một mặt trời mặt trăng, một núi Tu Di, một bốn châu thiên hạ, cộng lại làm một thế giới. Một ngàn mặt trời mặt trăng, một ngàn núi Tu Di, và một ngàn bốn thiên hạ làm một tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên thế giới, làm một trung thiên thế giới. Một ngàn trung thiên thế giới, làm một đại thiên thế giới, vì ba lần một ngàn, cho nên gọi là ba ngàn đại thiên thế giới. Ở trong sơn, hà, đại địa, khe suối, sinh ra các thứ cây cối, hoa, cỏ, lùm rừng, đều có tên gọi và màu sắc khác nhau. Trên bầu trời phủ đầy mây dày đặc, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới đều như nhau, mưa xuống cũng đều như nhau. Tất cả thân, rễ, cành, lá, của cây cối hoa cỏ, đều tùy theo giống loại lớn, vừa, nhỏ, mà hấp thụ lượng nước khác nhau. Thân rễ cành lá lớn, thì hấp thụ nhiều, thân rễ cành lá vừa, thì hấp thụ ít hơn, thân rễ cành lá nhỏ, thì hấp thụ càng ít hơn. Ðây cũng là phẩm ví dụ phân biệt lớn, vừa, nhỏ. Tất cả cây cỏ vốn từ một mảnh đất sinh ra lớn lên, mà mưa xuống cũng một lượng nước giống nhau, song vì thân rễ cây lớn, cây vừa, cây nhỏ, nên sức hấp thụ lượng nước đều khác nhau. Song, vẫn lớn lên đơm hoa kết quả như nhau. Ðó là Phật ví dụ căn cơ của chúng sinh, tất cả cây cối hoa cỏ lùm rừng, có phân ra lớn, vừa và nhỏ. Ca Diếp nên biết ! Như Lai cũng lại như thế, xuất hiện ra đời như vầng mây lớn, dùng âm thanh lớn, vang khắp thế giới trời, người, A tu la. Như vầng mây lớn kia, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, ở trong đại chúng mà xướng lời nầy : Ta là Như Lai, ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Người chưa được độ, thì khiến cho được độ, người chưa hiểu, thì khiến cho được hiểu, người chưa an, thì khiến cho được an, người chưa được Niết bàn, thì khiến cho được Niết bàn. Ðời nầy đời sau, Phật đều biết đúng như thật. Ta là bậc Nhất thiết trí, bậc thấy tất cả, bậc biết đạo, bậc khai mở đạo, bậc thuyết đạo. Các ông : Trời, người, A tu la, đều nên đến đây để nghe pháp. Ca Diếp ! Ông nên biết, Như Lai cũng như thế. Ta xuất hiện ra đời giống như vầng mây lớn hiện ra đời, vì đại sự nhân duyên giáo hóa chúng sinh, mới xuất hiện ra đời. Do đó, dùng tiếng pháp âm lớn nhất vang khắp, nói với thế gian trời, người, A tu la, pháp của ta nói như vầng mây lớn, che khắp ba ngàn đại thiên thế giới, ở trước mọi người nói : Ta là Như Lai. Tại sao Phật vẫn còn có cái ‘’Ta‘’? Kỳ thật, nếu minh bạch được ‘’Như Lai‘’ thì chẳng có cái ‘’ta‘’; Như Lai tức là ngồi đạo như thật, lai thành chánh giác. Ví như lúc giảng Kinh, người thông minh thì nhớ nhiều nhất, người trung bình thì nhớ ít hơn một chút, người ngu si thì nhớ rất ít. Cũng như trời mưa xuống, tùy theo cây cối hoa cỏ lớn nhỏ khác nhau, nên hấp thụ lượng nước cũng khác nhau. Ðồng lý ấy, bậc trí huệ cao thì được huệ nhiều một chút, kẻ trí huệ ít thì được ít huệ. Mọi người đều đang nghe Kinh, song trình độ hiểu biết đạo lý chẳng giống nhau. Có người nghe rồi, thì biết những cây cối hoa cỏ nầy là ví dụ cho người, hoặc có người biết mưa xuống hoặc mây dày phủ giăng, là chỉ Phật đang nói pháp. Nếu chẳng hiểu thì sẽ nói : ‘’Tôi chẳng hiểu chút nào, sao cứ nói nào là cây cối hoa cỏ‘’ ! Nếu biết mình một chút cũng chẳng minh bạch, tức là có một sự biết mình chẳng minh bạch, tức cũng là đang bắt đầu đi trên con đường minh bạch. Nhất là người chưa nghe qua Phật pháp, khi nghe lần đầu tiên, thì chắt chắn chẳng hiểu. Song, nếu biết mình không minh bạch, đó là đã minh bạch một chút. Hôm nay một chút, ngày mai một chút, từng chút từng chút tích lũy dần dần, sẽ tụ ít thành nhiều. ‘’Như Lai‘’ còn có mười ý nghĩa khác : 1. Ứng Cúng: Ðáng tiếp nhận sự cúng dường. 2. Chánh Biến Tri: Biết vạn pháp duy tâm là chánh tri, biết tâm sinh vạn pháp là biến tri. 3. Minh Hạnh Túc: Có trí huệ quang minh, tu hành đến quả vị viên mãn. 4. Thiện Thệ: Ðã đi đến nơi tốt lành. 5. Thế Gian Giải: Trên thế gian chẳng có ai hiểu biết hơn Ngài. 6. Vô Thượng Sĩ: Chẳng có ai cao hơn Ngài. 7. Ðiều Ngự Trượng Phu: Bậc đại trượng phu điều phục và chế ngự được tất cả chúng sinh. 8. Thiên nhân sư: Thầy của chư thiên và loài người. 9. Phật. 10. Thế Tôn: Là bậc tôn kính ở thế gian và xuất thế gian. Cho nên, Phật có đủ thứ nhân duyên công đức, hay khiến cho người chưa được độ thì được độ, độ họ đến chỗ chẳng còn thị phi tốt xấu, thiện ác sinh tử. Ðồng thời cũng khiến cho người không an lạc thì được an lạc, khiến cho người chưa được Niết Bàn thì được: Thường, lạc, ngã, tịnh, vui tịch diệt. Ðối với đời này, đời sau và tất cả, ta đều thấu rõ biết được chân thật, thấy được, mà còn biết khai ngộ tu đạo, giảng kinh thuyết pháp, khai diễn đủ thứ pháp môn tu hành. Các ông trời, người, A tu la đều nên đến đây để nghe kinh nghe pháp. Ðồng lý ấy, tại pháp hội nghe kinh nầy, ngoài các vị ra, còn có thiên long bát bộ. Nếu bạn đã khai mở ngũ nhãn lục thông thì sẽ nhìn thấy rất rõ ràng. Bấy giờ, có vô số ngàn vạn ức loại chúng sinh, đều đến chỗ đức Phật để nghe pháp. Lúc đó, đức Như Lai quán sát các căn lợi độn, tinh tấn, hay giải đãi, của các chúng sinh đó. Tùy theo sự kham nhận của họ, mà vì họ nói pháp, đủ thứ vô lượng, đều khiến cho họ vui mừng, mau được lợi lành. Các chúng sinh đó, nghe pháp đó rồi, hiện đời được yên ổn, đời sau sinh vào chỗ tốt lành, được thọ hưởng niềm vui trong đạo, cũng được nghe pháp. Nghe pháp rồi, lìa được các chướng ngại, ở trong các pháp, tùy theo sức của mình kham được, dần dần được vào đạo. Lúc đó, có vô số ngàn vạn ức loài chúng sinh, đến pháp hội nầy, nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Ðức Như Lai quán sát tỉ mỉ nhân duyên của chúng sinh, biết họ có rất nhiều căn cơ, có người lợi căn rất thông minh, cũng có những người ngu si ám độn, có những người dũng mãnh tinh tấn, cũng có người lười biếng giải đãi. Do đó, Phật vì người tinh tấn nói pháp tinh tấn, vì người giải đãi nói pháp giải đãi, khiến cho họ nỗ lực tiến tới, tùy thuận căn tính của họ, đáng tiếp thọ pháp gì thì nói pháp đó, nếu không thể tiếp thọ thì chẳng vì họ nói pháp nầy. Cho nên, ban đầu Phật chẳng nói thật pháp, chỉ nói quyền pháp, dùng đủ thứ vô lượng pháp môn, vì vô lượng loài chúng sinh mà nói, mục đích khiến cho chúng sinh vui mừng tin nhận thọ trì. Do sự thích nghe pháp, mà dần dần sẽ đi trên con đường của Phật tu học, sẽ nhanh chóng đắc được lợi ích. Chúng sinh nghe pháp rồi, hiện đời được yên ổn, đời sau được sinh về cõi trời, hoặc sinh vào chỗ giàu sang ở nhân gian, đời đời kiếp kiếp có thể nghe pháp. Tu Phật đạo đắc được đủ thứ khoái lạc, cũng chỉ có nghe Phật pháp mới thấu rõ lý, mới lìa được đủ thứ phiền não chướng ngại. Như vậy, rất dễ dàng tùy sức của mỗi người mà vào đạo. ‘’Ðạo‘’ là giai đoạn khai ngộ, dần dần đạt đến được quả vị liễu sinh thoát tử. Như vầng mây lớn đó, mưa xuống khắp tất cả cây cối lùm rừng, và các cỏ thuốc, tùy theo giống loài mà thấm nhuần đầy đủ, đều được lớn lên. Như Lai nói pháp, một tướng một vị, đó là tướng giải thoát, tướng lìa khổ, tướng sinh diệt, rốt ráo đến nơi Nhất thiết chủng trí. Nếu có chúng sinh nào, nghe được pháp của Như Lai nói, hoặc thọ trì đọc tụng, theo lời nói mà tu hành, thì sẽ được công đức, tự mình chẳng hay biết. Tại sao ? Vì chỉ có Như Lai mới biết được, chủng tử sắc tướng thể tính của chúng sinh đó, nghĩ việc gì, niệm việc gì, tu việc gì, nghĩ thế nào, nhớ thế nào, tu thế nào ? Dùng pháp gì để nghĩ, dùng pháp gì để nhớ, dùng pháp gì để tu ? Dùng pháp gì được pháp gì ? Chúng sinh trụ đủ thứ các bậc, chỉ có Như Lai thấy được như thật, thấu rõ chẳng có chướng ngại. Phật nói pháp giống như vầng mây mưa xuống, cây cối hoa cỏ lùm rừng, là chỉ tất cả chúng sinh. Tất cả chúng sinh gồm có: Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, Trời, người, A tu la, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục. Tùy theo chủng tính khác nhau của họ mà thuyết pháp, khiến cho họ được sinh trưởng. Giống như trời mưa xuống thấm nhuần đầy đủ, cây cối cỏ thuốc đều được lớn lên. Phật nói pháp là một tướng một vị: Một tướng là chân như thật tướng của tất cả chúng sinh. Chân tướng tức là nhất địa. Ðã chứng được chân lý nhất thừa gọi là nhất vị. Tất cả chúng sinh chưa giải thoát, đều khiến cho họ được giải thoát; chúng sinh chưa sinh trưởng thì khiến cho họ sinh trưởng; chúng sinh đã được sinh trưởng thì khiến cho được giải thoát, lìa khỏi tướng khổ não, tướng sinh diệt. Ðắc được trí huệ của Phật, tức cũng là Nhất thiết chủng trí. Giả như, có loại chúng sinh nghe Phật pháp rồi, bèn y theo pháp tu hành, thì Phật dạy họ tu như thế nào. Phật pháp là đại đồng tiểu dị, giống như chúng ta hiện nay nghe pháp, công đức và quả báo đắc được không thể nghĩ bàn, song chính mình chẳng biết ! Tại sao ? Chỉ có Ðức Như Lai mới biết bốn pháp của loại chúng sinh nầy: Chủng tướng thể tính. ‘’Chủng‘’ là chủng tử bổn thân của chúng sinh, chủng tử nầy có thể gieo trồng vào một trong mười pháp giới nào bất cứ, hoặc hạt giống Phật, hạt giống bồ đề, hạt giống Duyên Giác, hạt giống Thanh Văn, hạt giống chư thiên, hạt giống loài người, hạt giống địa ngục, hạt giống ngạ quỷ, hạt giống súc sinh. ‘’Tướng‘’ là pháp bên ngoài, cũng là sắc. ‘’Thể‘’ là chủ thể, trong thân thể có chủ tể. ‘’Tính‘’ là đối bên trong mà nói, tức là bốn pháp nầy. Ba pháp là pháp nghe, pháp suy nghĩ, pháp tu (văn, tư, tu). Văn huệ tức là nghe kinh nghe pháp nhiều lần, thì sau đó trong sự bất tri bất giác sinh ra trí huệ. Nếu chẳng nghe pháp, thì dù người thông minh thế nào cũng chẳng hiểu, đừng nói đến khai mở trí huệ. Tư huệ tức là đả tọa tham thiền, dùng tư duy huệ tu tập. ‘’Thiền na‘’ dịch là tĩnh lự, tẩy sạch niệm lự cho thanh tịnh thì sẽ phát huệ. Con người trước hết phải có văn huệ, sau đó mới phát tư huệ; phải đạo thì tiến, trái đạo thì lùi. Tư tưởng sáng suốt thì phải dụng công tu hành, sớm cũng suy gẫm, tối cũng suy gẫm, sớm tối đều phải dũng mãnh tinh tấn tu hành, song phải dùng trí huệ để tu, đừng có tu đuôi luyện mù, mọi người tiến tới con đường Phật đạo, còn bạn thì ngược lại chạy hướng khác. Hai pháp là nhân quả. Một pháp là pháp Nhất thiết đạo chủng trí, là chân thật trí, tức cũng là một thật tướng. ‘’Niệm việc gì’’ ? Dùng tâm niệm, niệm việc Phật. ‘’Nghĩ việc gì’’ ? Nghĩ việc pháp. ‘’Tu việc gì’’ ? Tu việc Tăng. Thế thì làm thế nào để nhớ nghĩ tu Phật, pháp, Tăng ? Tức là từ từ, mỗi phút mỗi giây cũng không sao quên được Phật pháp tăng. Trên phương diện tư tưởng phải bình tâm tĩnh khí, không khởi vọng tưởng, suy gẫm đạo lý Phật pháp tăng, tinh tấn tu hành. ‘’Dùng pháp gì niệm’’ ? Dùng chánh pháp niệm. ‘’Dùng pháp gì nghĩ’’ ? Dùng chánh pháp nghĩ. Ai dùng pháp gì tu thì được pháp đó. Dùng Phật pháp thì được pháp của Phật, dùng ma pháp thì được pháp của ma. Trồng nhân gì thì được quả đó, nhân như vầy, quả như vầy. Thế mà chúng sinh gặp đủ thứ cảnh giới mà không tự biết được, chỉ có Phật thấy như thật, triệt để thấu hiểu chúng sinh bậc thượng trung hạ, thấu suốt thủy chung trong ngoài tất cả sinh tử. Thế mà, chúng ta chúng sinh minh bạch sinh, mà chẳng hiểu rõ tử; minh bạch tử, mà chẳng minh bạch sinh. Chẳng biết bắt đầu cũng chẳng biết điểm cuối, vì chẳng thấu suốt mới có chướng ngại. Chỉ có Phật mới chân chánh thấu suốt chẳng có gì chướng ngại. Do đó, có bài kệ rằng: ‘’Nguyện tiêu ba chướng dứt phiền não Nguyện được trí huệ hiểu chơn thật Nguyện khắp tai chướng đều tiêu trừ Ðời đời thường hành Bồ Tát đạo‘’. Ba chướng là: Nghiệp chướng, báo chướng và phiền não chướng. Ý của bài kệ nầy là nguyện tất cả tai chướng khắp thế giới như động đất, nạn gió, nạn nước, nạn hạn hán, nạn lửa .v.v., đều tiêu trừ, lại nguyện đời đời kiếp kiếp đều tu Bồ Tát đạo. Như các cây cối lùm rừng cỏ thuốc kia, chẳng tự biết tính thượng trung hạ. Như Lai biết pháp một tướng, một vị, đó là tướng giải thoát, tướng lìa khổ, tướng sinh diệt, tướng rốt ráo Niết bàn thường tịch diệt. Cuối cùng trở về không. Phật biết vậy rồi, bèn quán tâm mong muốn của chúng sinh, mà dìu dắt họ, cho nên chẳng vì họ vội nói Nhất thiết chủng trí. Ca Diếp ! Các ông rất là hi hữu, biết Như Lai tùy nghi nói pháp, hay tin nhận thọ trì. Tại sao ? Vì chư Phật Thế Tôn tùy nghi nói pháp, khó hiểu khó biết. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa nầy, bèn nói bài kệ rằng: Tất cả chúng sinh, đắc được sự thấm nhuần mưa pháp của Phật mà chẳng tự biết, đây cũng giống như cây cối lùm rừng, hoa, cỏ, cỏ thuốc, chẳng biết tính chất của mình có phân ra thượng trung hạ. Ðức Như Lai biết tâm tính của chúng sinh vốn đầy đủ tướng chân như. Pháp một vị, cùng tu hành chứng được diệu lý, gọi là pháp một vị. ‘’Tướng giải thoát‘’, bổn lai cũng chẳng có tướng giải thoát, chẳng lìa tướng, chẳng diệt tướng, chỉ vì chúng sinh có chấp trước, mới nói có tướng giải thoát. Tức nhiên ‘’lìa tướng‘’ sao còn có ‘’tướng‘’? Tóm lại, quét tất cả pháp, lìa tất cả tướng, một pháp cũng chẳng tồn tại, mới được rốt ráo Niết Bàn thường lạc ngã tịnh, tức là tướng thường tịch diệt, cho đến một cái diệt cũng chẳng có; cũng là tướng không, cho đến không cũng chẳng có. Phật biết tất cả tướng nầy, vốn chẳng có pháp có thể nói, vô tướng khả đắc, song trong tâm chúng sinh còn có tham dục, nếu ban đầu đối với họ nói gì cũng chẳng có, ‘’một pháp chẳng lập, vạn pháp đều không‘’, thì chúng sinh sẽ không tin, mà còn phỉ báng Phật pháp. Phật quán sát tâm của chúng sinh, họ có rất nhiều tập khí mao bệnh, muốn cho họ từ từ trừ khử tập khí thì họ mới tin; nếu muốn họ một phen trừ khử đi nhiều mao bệnh tập khí, để trở về không, thì không thể nào được. Cho nên, một mặt vì hộ trì Phật pháp, mặt kia cũng không để cho họ sinh tâm phỉ báng, do đó Phật chẳng vội vàng nói liền pháp Nhất thiết chủng trí. Nhất thiết chủng trí là thật tướng Bát Nhã, Phật thấy căn tính của chúng sinh chưa thành thục, nên chẳng nói thật tướng Bát Nhã. Phật nói: ‘’Ca Diếp ! Các ông hàng Thanh Văn rất là hi hữu. Tại sao ? Vì các ông hiểu được Phật tùy theo cơ nghi, căn tính, nhân quả của chúng sinh, mà vì họ nói pháp, khiến cho tất cả chúng sinh tin nhận lãnh thọ, vì pháp của Phật nói là diệu pháp thù thắng vô thượng, song chẳng dễ gì minh bạch, cũng chẳng dễ gì hiểu được, cho nên Phật dùng tâm đại từ bi thuật lại nghĩa lý ở trên, bèn dùng kệ để nói. Pháp Vương phá các cõi Xuất hiện ra nơi đời Tùy sở thích chúng sinh Nói đủ thứ diệu pháp. Phá các cõi (hữu), ‘’hữu‘’ là gì ? Nhân quả chẳng mất là hữu. Phật có thể phá được nhân quả, trước kia nhân quả của bạn trồng, lúc bạn học Phật rồi, thì có thể dừng lại. Trồng nhân lành được quả lành, trồng nhân ác được quả ác. Tại cảnh giới của chúng sinh mà nói, thì nhân quả đều là hữu. Thành Phật quả rồi, thì siêu việt được nhân quả, song đây tuyệt đối chẳng phải bát vô nhân quả. Phật đã vượt ra ‘’phá các cõi‘’. ‘’Pháp vương‘’ là vua của các pháp, cũng là vua thuyết pháp. Tương lai các bạn xuất gia thuyết pháp, cũng phải giống như vua của các pháp. Học âm thanh "bát âm tứ biết" của Phật. Bây giờ, giảng kinh thuyết pháp, cũng là thay thế vua của các pháp thuyết pháp. Phật là vì phá ‘’ngã‘’ mà xuất hiện ra đời, song vẫn phải tùy sở thích của chúng sinh, trước hết phải khiến cho họ hoan hỉ, sau mới nói đủ thứ pháp. Pháp của Phật nói được phân ra năm thời tám giáo. Năm thời là: 1. Thời Hoa Nghiêm. 2. Thời A Hàm. 3. Thời Phương Ðẳng. 4. Thời Bát Nhã. 5. Thời Pháp Hoa, Niết Bàn. Tám giáo là: Tạng, thông, biệt, viên, đốn, tiệm, mật, bất định giáo. Ðức Như Lai tôn trọng Trí huệ rất sâu xa Lâu chẳng nói pháp nầy Không vội vàng nói ra. Ðức Như Lai tôn trọng thật tướng Bát Nhã, tức cũng là cung kính hộ trì Bát nhã. Bát nhã là Bát nhã của chúng sinh, vì Bát nhã thật tướng nầy quá cao sâu, rộng lớn, chẳng đối cơ với một số hạng người tiểu thừa, cho nên không thể vì họ nói pháp đại thừa. Cho nên, từ thời Hoa Nghiêm đến thời Pháp Hoa Niết Bàn, trải qua hơn ba mươi năm, mà Phật chẳng nói thật giáo, chỉ nói quyền giáo. Thật giáo là thật tướng Bát nhã, chỉ một Phật thừa, chứ chẳng có thừa nào khác. Ðạo lý nầy rất lâu cũng không nói, vì sao không nói ? Vì chúng sinh chẳng những không tin mà còn phỉ báng. Vì đây là pháp môn thù thắng tạm thời chẳng nói, đủ thấy Phật đầy đủ sức nhẫn nại. Người trí nếu nghe được Bèn sinh tâm tin hiểu Kẻ vô trí nghi hoặc Vĩnh viễn mất giống Phật. Chúng sinh nào có trí huệ nghe được diệu pháp nầy rồi, thì sinh tâm tin nhận, biết đây là pháp đại thừa thì họ sẽ khai ngộ. Song, đối với kẻ vô trí mà nói thật pháp, thì họ sẽ sinh nghi hoặc, họ bảo pháp thật là pháp giả. Trong Phật giáo đại thừa, người vốn vô vật, cũng chẳng cần giải nói, vốn chẳng có tướng hợp, tự nhiên cũng chẳng có tướng lìa; vốn chẳng có tướng sinh cũng chẳng có tướng diệt. Nếu đối với kẻ vô trí mà nói các pháp đều là không, không, có phải gì cũng là không chăng ? Chẳng có gì để học chăng ? Một khi họ sinh ra tâm nghi hoặc, thì đoạn trừ hạt giống đại thừa, tức cũng là đoạn hạt giống Phật, cũng là đoạn hạt giống chúng sinh, cho nên nói là ‘’Vĩnh viễn mất giống Phật‘’. Do đó, nầy Ca Diếp ! Tùy sức họ nói pháp Dùng đủ thứ nhân duyên Khiến họ được chánh kiến. Vì cớ đó, nầy Ca Diếp ! Ông phải minh bạch Phật tùy theo phương tiện thiện xảo nói pháp, dùng đủ thứ pháp, đủ thứ duyên, khiến cho chúng sinh được chánh tri chánh kiến, chẳng sinh tà kiến. Ca Diếp ông nên biết ! Ví như vầng mây lớn Nổi lên trong thế gian Che phủ khắp tất cả. Ca Diếp ! Các ông đều phải biết, Như Lai nói pháp giống như vầng mây lớn, xuất hiện nơi thế gian, ở trong hư không che khắp tất cả ba ngàn đại thiên thế giới. Mây trí huệ đượm nhuần Ánh chớp sáng chói lòa Tiếng sấm vang động xa Khiến chúng sinh vui đẹp. Vầng mây lớn nầy là vầng mây trí huệ, lượng mưa đượm nhuần tất cả tâm chúng sinh. Quang minh Phật giáo như ánh chớp chiếu sáng. Âm thanh Phật thuyết pháp như tiếng sấm chấn động, khiến cho trong tâm của chúng sinh vui đẹp. Nhật quang bị che lấp Trên mặt đất mát mẻ Mây giăng phủ mù mịt Như có thể nắm lấy. Trí huệ quang minh của Phật, che lấp chín mươi lăm thứ tà quang của ngoại đạo. Phật lại dùng trí huệ mát mẻ, phá chín mươi sáu thứ phiền não trên thế gian. Mây che giăng mù mịt, đám mây rất dày, tựa như có thể dùng tay nắm bắt được. Trận mưa lớn nhuận khắp Ðều xối xuống bốn phương Nước chảy tuôn vô lượng Thấm ngầm vào lòng đất. Trận mưa nầy đượm nhuần tất cả, bốn phương đều mưa xuống vô số lượng nước mưa, khắp lòng đất đều có nước mưa, hết thảy chúng sinh đều đượm nhuần được mưa pháp. Nơi núi sông hang hiểm Chỗ thâm u sinh ra Các cây cối cỏ thuốc Ðủ thứ cây lớn nhỏ. ‘’Nơi núi sông hang hiểm’’: Núi dụ cho đại Bồ Tát. Sông chỉ cho đại địa, hang hiểm chỉ nơi nguy hiểm. ‘’Chỗ thâm u sinh ra’’: Dụ cho chỗ đen tối sinh ra tất cả thực vật. Tam thảo nhị mộc nầy, tam thảo chỉ là người, trời, Thanh Văn Duyên Giác thừa. Nhị mộc dụ cho thông giáo và biệt giáo Bồ Tát, cây nhỏ là chỉ thông giáo Bồ Tát, cây lớn là chỉ biệt giáo Bồ Tát. Trăm giống lúa mộng mạ Các thứ mía và nho Nhờ nước mưa đượm nhuần Thảy đều tốt tươi cả. Lúa mộng mạ là chỉ tất cả chúng sinh, mía là dụ cho thiền định thần thông. Nho dụ cho Bát Nhã, có thể đoạn trừ các hoặc. Mưa đượm nhuần khiến cho cây cối đều tươi tốt. Ðất khô khắp thấm nhuần Thuốc cây đều sum sê Vầng mây kia mưa xuống Nước mưa thuần một vị. ‘’Ðất khô khắp thấm nhuần’’: Chỉ cho chúng sinh chẳng nghe pháp, chẳng có căn lành, cũng được đượm nhuần. Thuốc cỏ và cây cối đều sum sê, vầng mây kia mưa xuống thuần một vị, là chỉ cho một thừa Phật pháp, khiến cho hết thảy chúng sinh đều được đượm nhuần. Các cây cối lùm rừng Tùy theo sự đượm nhuần Tất cả các cây cối Bậc thượng trung và hạ. Cây cối và cỏ thuốc tùy theo thân cây lớn nhỏ, tức cũng phân ra bậc thượng thì hấp thụ nước mưa bậc thượng, bậc trung thì hấp thụ nước mưa bậc trung, bậc hạ thì hấp thụ nước mưa bậc hạ. Tùy theo tính lớn nhỏ Thảy đều được lớn lên Thân gốc rễ cành lá Hoa quả đơm đủ màu. Mỗi thứ cây cối cỏ thuốc, đều được sinh trưởng đượm nhuần, thân gốc rễ cành lá, nhất là hoa quả, mỗi thứ đều hiển màu sắc của nó, trông rất xinh đẹp tốt tươi. Một trận mưa rưới xuống Thảy đều được tươi thấm Theo thể tướng của nó Tính phân ra lớn nhỏ Nước đượm nhuần vẫn một. Tùy thể tướng và căn tính của cây cỏ, hoặc lớn hoặc nhỏ, nước mưa rưới xuống vẫn như nhau, song cây cối mỗi thứ đượm nhuần, tùy theo sức hấp thụ của nó. Ðức Phật cũng như thế Xuất hiện ra nơi đời Ví như vầng mây lớn Che trùm khắp hết thảy. Ðã xuất hiện ra đời Vì tất cả chúng sinh Phân biệt và diễn nói Thật tướng của các pháp. Ðức Phật cũng như thế, xuất hiện ra nơi đời, giống như vầng mây lớn, che trùm khắp hết thảy, vì chúng sinh diễn nói Phật pháp. Chúng sinh nghe minh bạch, thì trừ khử được mao bệnh tập khí, pháp thân trí huệ khai sáng, quang minh hiện ra mà chẳng tự biết. Ðức Phật vì người thế gian nói pháp thế gian, vì chư thiên nói pháp chư thiên, vì Thanh Văn nói pháp Thanh Văn, vì Duyên giác nói pháp Duyên giác, vì đại thừa nói pháp đại thừa. Phân biệt diễn nói, là quán căn cơ mà thí giáo, vì người thuyết pháp, tùy theo đủ thứ căn tính khác nhau, mà nói đủ thứ Phật pháp, tức là vì thật thí quyền. Trước kia dùng pháp quyền xảo phương tiện, đều vì muốn nói giáo nghĩa chân thật cuối cùng. Ðấng đại Thánh Thế Tôn Nơi chư thiên loài người Trong tất cả chúng hội Mà tuyên nói lời nầy: Ta là bậc Như Lai Là đấng Lưỡng Túc Tôn Xuất hiện ra nơi đời Dường như vầng mây lớn Thấm nhuần khắp tất cả Những chúng sinh khô khan Ðều khiến cho lìa khổ Ðược yên ổn vui sướng Hưởng sự vui thế gian Và sự vui Niết Bàn. Ðấng đại Thánh Thế Tôn, nơi chư thiên loài người, trong tất cả chúng sinh, tuyên nói: ‘’Ta là bậc Như Lai Ðấng Lưỡng Túc Tôn’’. Lưỡng Túc là : 1. Phước đầy đủ: Tu đủ thứ công đức lành. 2. Huệ đầy đủ: Có phước cũng phải tu huệ, tu sáu độ, bốn pháp nhiếp .v.v. Do đó, có câu: ‘’Tu phước chẳng tu huệ, Thân voi mang chuỗi ngọc. Tu huệ chẳng tu phước, La Hán ôm bát không’’. Nếu chỉ tu phước mà chẳng tu huệ, tích tụ rất nhiều phước báu, thành con voi lớn, trên thân thể đeo mang chuỗi ngọc quý giá, lại ích gì ? Còn ngược lại, chỉ nghe kinh nói pháp, chẳng làm công đức, chẳng làm việc lành, thì tương lai chứng được quả A La Hán, ôm bình bát đi khất thực chẳng có ai cúng dường. Hôm nay có cơm ăn, ngày mai chẳng có cơm ăn, thường bị đói khác, đó là quả báo tu huệ chẳng tu phước. Cho nên, đức Phật phước huệ đều tu, phước đầy đủ, huệ đầy đủ, nên gọi là Lưỡng Túc Tôn, chứ chẳng phải là hai chân, vì tiếng tàu lưỡng là hai, túc là chân. Phật xuất hiện ra đời như vầng mây lớn, thấm nhuần tất cả chúng sinh. Chúng sinh đắc được nước pháp đượm nhuần, thì sẽ không khô khan. Pháp vũ hay khiến cho chúng sinh, hưởng được sự vui thế gian và xuất thế gian. Hết thảy chúng trời người Một lòng khéo lóng nghe Ðều nên đến chỗ nầy Hầu đấng Vô thượng tôn. Ta là bậc Thế Tôn Chẳng có ai bằng được Vì an ổn chúng sinh Nên xuất hiện ra đời. Vì các đại chúng nói Pháp cam lồ trong sạch Pháp đó thuần một vị Vị giải thoát Niết bàn. Dùng một tiếng diệu âm Diễn xướng nghĩa nhiệm mầu Thường vì pháp đại thừa Mà kết làm nhân duyên. Trời người đều nên đến đây, một lòng khéo nghe Phật pháp, lễ bái cung kính Phật. Ta là bậc tôn kính trong thế gian và xuất thế gian, cho nên chẳng có ai sánh bằng. Có bài kệ lễ Phật rằng : ‘’Thiên thượng thiên hạ vô như Phật, Thập phương thế giới diệc vô tỉ, Thế gian sở hữu ngã tận kiến, Nhất thiết vô hữu như Phật giả.’’ Nghĩa là : ‘’Chư thiên loài người chẳng ai bằng Phật Mười phương thế giới cũng chẳng sánh bằng Hết thảy thế gian ta thấy hết Tất cả chẳng có ai như Phật‘’. Phật vì an ổn chúng sinh mà xuất hiện ra đời, vì đại chúng nói pháp cam lồ thanh tịnh. Pháp nầy là một thừa pháp, dùng một tiếng diệu âm diễn xướng nghĩa pháp đại thừa, dùng đủ thứ nhân duyên để nói nghĩa Phật pháp nầy. Ta xem tất cả chúng Hết thảy đều bình đẳng Chẳng phân biệt đó đây Cùng với tâm thương ghét. Ta xem tất cả thảy đều bình đẳng, đủ thấy Phật rất từ bi. Phật chẳng nói: ‘’Ta chí cao vô thượng, chúa tể sáng tạo vạn vật.’’ Phật chỉ nói Ngài chuyển hóa vạn vật, khiến cho chúng sinh bỏ tà về chánh, bỏ tối về sáng. Phật chẳng nói: ‘’Ta là chánh, các vị đều là tà, các vị là do ta một tay sáng tạo‘’! Nếu tất cả là do chúa tể nào đó sáng tạo, thì sao lại cứ tạo những điều xấu ? Nói thẳng ra là chẳng có tơ hào năng lực thuyết phục, hóa được người. Cho nên Ðức Phật chẳng nói Ngài tạo tất cả, mà là cứu độ tất cả. Ai chẳng minh bạch Phật pháp, thì khiến cho họ minh bạch Phật pháp, ai chẳng giác ngộ thì khiến cho họ giác ngộ. Tuy Phật độ chúng sinh, song chẳng có một chúng sinh có thể độ, đó mới là chân chánh bình đẳng. Chẳng phân biệt đó đây, vì có đó thì có đây, có thương có ghét, khởi tâm niệm vui mừng, khởi sân hận chẳng vui mừng. Song, nếu chẳng vui cũng chẳng giận tất cả, chẳng có đó đây, thì chẳng có thương ghét. Nếu Thượng đế Ngài một mình làm được, còn ta không thể, thì học Ngài để làm gì ? Ta chẳng có tham trước Cũng chẳng có hạn ngại Luôn luôn vì tất cả Bình đẳng mà nói pháp. Dù chỉ vì một người Trong chúng đông cũng thế Thường diễn nói các pháp Từng không việc gì khác. Phật nói ta chẳng có tham trước, tức chẳng có tâm thương ghét. Vì có thương thì có chấp, không thương thì ghét. Chẳng có tham trước, thì cũng chẳng có chướng ngại. Phật luôn luôn vì tất cả chúng sinh bình đẳng nói pháp, cũng giống như nói với một người. Cho nên, các bạn luyện tập thuyết pháp, đừng nói: ‘’Ngài thuyết pháp thì có nhiều người đến nghe, còn tôi thuyết pháp thì chẳng có ai đến nghe‘’! Ðó là chướng ngại, luôn luôn vì tất cả, một là tất cả, một người tức là nhiều người, nhiều người tức là nhiều người. ‘’Bình đẳng mà nói pháp’’: Nhiều chẳng biết nhiều, ít chẳng biết ít; không nhiều không ít, không xa không gần. Giống như tôi tại Hương cảng thuyết pháp, cũng là vì nước Mỹ thuyết pháp; tại nước Mỹ thuyết pháp, cũng là vì Hương Cảng thuyết pháp, đó là không gần không xa. Ðây là chân lý thật, chẳng có cười đùa, cũng chẳng có không cười đùa, đối với nhiều người cũng nói như thế, trừ khi hết hơi tôi mới không nói, bằng không còn sống, thì còn diễn thuyết pháp. ‘’Từng không việc gì khác’’. Thấm nhuần Phật pháp rồi, thì phải thuyết pháp, như các vị thọ Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni phải cung hành thực tiễn, làm mô phạm cho tốt. Khi mọi người nhìn vào thì thấy, Ồ ! Làm Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni vốn là tốt như thế, khoái lạc như thế ! Ðói chết cũng chẳng sợ, suốt ngày đến tối đều chẳng nóng giận, thường sinh tâm vui vẻ, trì giới tinh nghiêm. Do đó, xuất gia ở đây, xuất gia ở kia, mà vô lượng vô biên người đều đến đây xuất gia. Song, nếu bạn suốt ngày đến tối ngủ nghỉ li bì, ăn ngon mặc đẹp, thì Phật giáo ở nước Mỹ chẳng có ai tin. Cho nên, Phật giáo ở nước Mỹ mới bắt đầu, các bạn là người tiên phong, nên dũng mãnh tinh tấn vô úy khai thác. Tại nước Mỹ, đây là lần đầu tiên tiếp thọ Phật pháp đại thừa. Nếu họ hỏi các bạn thầy của các bạn là ai ? Thì bạn nói là Phật Thích Ca Mâu Ni, đừng nói riêng một vị thầy nào khác, người khác hỏi bạn học Phật với ai ? Thì bạn cũng nói học Phật với Ba La Ðề Mộc Xoa, bạn nói lấy Ba La Ðề Mộc Xoa làm thầy, đây chẳng phải là nói dối, vì Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng nói hãy lấy giới làm thầy. Ngồi đứng hoặc đến đi Thảy đều chẳng mỏi nhàm Ðầy đủ cho thế gian Như mưa thấm nhuần khắp. ‘’Ngồi đứng hoặc đến đi‘’: Phật đi đứng nằm ngồi, bốn oai nghi đều nói pháp, chưa từng phóng dật. Ngài ngồi cũng nói pháp, đứng cũng nói pháp, cho đến ngủ cũng độ hóa chúng sinh, giáo hóa chúng sinh ngủ mộng. ‘’Ðầy đủ cho thế gian, như mưa thấm nhuần khắp’’. Tại sao phải nói pháp ? Vì chúng sinh đang sắp chết khô, trước khi họ chưa chết, thì ban cho họ mưa pháp khiến cho họ sống lại. Kẻ sang hèn trên dưới Người trì giới, phạm giới Oai nghi đều đầy đủ Và chẳng được đầy đủ Kẻ chánh kiến, tà kiến. ‘’Kẻ sang, hèn, trên, dưới‘’: Chỉ người bậc trên là hạng sang làm quan chức, bậc dưới là thường dân. Trì giới hoặc phạm giới là chỉ người xuất gia. Oai nghi có ba ngàn, ‘’có uy đáng sợ, có nghi đáng kính’’: Ði đứng nằm ngồi bốn đại oai nghi, đều giữ được viên mãn, song nếu chẳng giữ giới, thì chẳng có bốn đại oai nghi. ‘’Chánh kiến và tà kiến’’: Nói lời chẳng chánh đáng là tà kiến. Chánh kiến là chẳng hợp lễ giáo thì đừng xem (phi lễ vật thị), chẳng hợp lễ giáo thì đừng nói (phi lễ vật ngôn). Nếu như chẳng hợp với lễ giáo, mà đi xem đi nghe là tà kiến. Lợi căn hoặc độn căn Thảy đều mưa pháp vũ Mà chẳng biết mệt mỏi Hết thảy các chúng sinh. Ai nghe pháp của ta Tùy sức mà lãnh thọ Trụ ở nơi các địa Hoặc ở trong trời người. ‘’Lợi căn‘’: Là người thông minh, nghe pháp thì sẽ khai ngộ. ‘’Ðộn căn’’: Là kẻ ngu si, nghe rất nhiều về Phật pháp, nhưng vẫn chẳng biết Phật pháp là gì. Họ chẳng giữ giới, chẳng nhẫn nhục, chẳng tinh tấn, cũng chẳng thiền định, chẳng lãnh thọ được Phật pháp, còn Phật thì chẳng có tơ hào phân biệt, Phật chỉ mưa pháp vũ xuống khắp, để đượm nhuần chúng sinh. Phật nói pháp chẳng tiếc thân mạng, cũng chẳng mệt mỏi. Tất cả chúng sinh phi tiềm động thực, thai noãn thấp hóa, tùy theo thân của họ mà tiếp thọ lợi ích. ‘’Hoặc ở trong trời người’’: Hoặc trụ ở nhân gian hoặc trên trời. Làm Chuyển luân thánh vương Và các vua Thích Phạm Ðó là cỏ thuốc nhỏ Biết được pháp vô lậu. Sẽ chứng được Niết bàn Khởi sáu phép thần thông Và đắc được ba minh. ‘’Làm Chuyển Luân Thánh Vương‘’: Có kim, đồng, thiết, ngân, bốn vua chuyển luân. Kim luân vương cai trị bốn thiên hạ : Ðông Thắng Thần châu, Nam Thiệm Bộ Châu, Tây Ngưu Hoá Châu và Bắc Câu Lưu Châu. Kim Luân Vương có bảy báu, toại tâm như ý, biến hóa vô cùng, các nước của Kim Luân vương cai trị, nhân dân đều giữ năm giới và làm mười điều lành. Ngân Luân Vương cai trị ba thiên hạ, tức là Ðông Thắng Thần Châu, Nam Thiệm Bộ Châu và Tây Ngưu Hóa Châu. Ðồng Luân Vương quản lý Ðông, Nam, hai thiên hạ. Thiết Luân Vương quản lý một thiên hạ. Hiện tại chúng ta là Nam Thiệm Bộ Châu, nếu tất cả các nước hợp lại với nhau chọn ra một vị lãnh tụ, có thể nói là Thiết Luân Vương. Nếu như Thiết Luân Vương có thể tu hành thì có thể thành Phật. Ðức Phật lúc ban đầu nếu không tu hành, thì sẽ thành Kim Luân Vương. Chuyển Luân Thánh Vương và các vua Thích, Phạm (vua Ðế Thích, vua Ðại Phạm Thiên), thuộc về cỏ thuốc nhỏ, có thể được pháp vô lậu và được Niết Bàn. Các Ngài hay khởi sáu thứ thần thông. Ba minh là Thiên nhãn minh, túc mạng minh và lậu tận minh. Ở riêng nơi núi rừng Thường tu hành thiền định Chứng được quả Duyên Giác Là cỏ thuốc bậc trung. Một mình ở trong thâm sơn cùng cốc tu hành, thường tu tập thiền định, đây là quả vị Thanh Văn Duyên Giác, là cỏ thưốc bậc trung. Cầu pháp nơi Thế Tôn Ta sẽ được thành Phật Tinh tấn tu thiền định Là cỏ thuốc bậc thượng. Nếu có người đến chỗ đức Thế Tôn cầu Phật pháp, Biết mình nhất tâm tu hành thì tương lai sẽ thành Phật, tinh tấn tu thiền định, đó là cỏ thuốc bậc thượng. Lại có các Phật tử Chuyên tâm cầu Phật đạo Thường tu hạnh từ bi Biết mình sẽ thành Phật Quyết định chẳng còn nghi. Lại có các Phật tử chuyên tâm học Phật, thường tu hạnh từ bi, biết mình tương lai cũng sẽ thành Phật, chẳng có tơ hào hoài nghi, đây là cây nhỏ, tức là thông giáo Bồ Tát. An trụ sức thần thông Chuyển pháp luân bất thối Ðộ hóa vô lượng ức Trăm ngàn loài chúng sinh Hạng Bồ Tát như thế Ðó gọi là cây lớn. An trụ sức đại thần thông, chuyển pháp luân bất thối, giảng Kinh thuyết pháp, lợi khắp trời người, vĩnh viễn chẳng thối tâm, giáo hoá vô lượng ức chúng sinh, chẳng sợ hạnh khổ gian nan, đây là đại Bồ Tát, dụ cho cây lớn. Phật bình đẳng nói pháp Như nước mưa một vị Tùy căn tánh chúng sinh Tiếp thọ đều khác nhau. Như các cỏ cây kia Ðược đượm nhuần khác nhau Phật dùng ví dụ nầy Phương tiện mà khai thị. Ðủ thứ những lời lẽ Ðể diễn nói một pháp Nơi trí huệ của Phật Như giọt nước trong biển. Ta rưới mưa pháp vũ Ðầy khắp trong thế gian Nói pháp thuần một vị Tùy sức mà tu hành. Như lùm rừng cây kia Cỏ thuốc các cây cối Tùy theo thân lớn nhỏ Dần dần lớn sum sê. Pháp của Phật nói là bình đẳng, như một vầng mây mưa xuống thuần một vị, song tùy theo căn cơ của chúng sinh khác nhau, như cỏ thuốc nhỏ, lùm rừng, cây lớn và cây nhỏ, đều đắc được lợi ích. Cho nên Phật dùng pháp phương tiện để khai thị, dùng đủ thứ lời lẽ nói diệu pháp nhất thừa. Nơi trí huệ của Phật, đây chỉ là một giọt nước trong biển mà thôi. Trí huệ của Phật vô lượng vô biên, pháp được nói ra, cũng giống như một giọt trong biển cả, mà nước thì vô lượng vô biên, cho nên nói pháp vũ của Phật nói, đầy khắp chúng sinh thế gian. Diệu pháp nhất thừa, tùy theo sức tu hành của chúng sinh, cũng giống như cỏ thuốc các cây cối lùm rừng, tùy theo thân lớn nhỏ và hấp thụ lượng nước, mà lớn lên sum sê tươi tốt. Pháp của các đức Phật Thường chỉ thuần một vị Khiến cho các thế gian Thảy đều được đầy đủ. Thứ tự mà tu hành Ðều đắc được đạo quả Hàng Thanh Văn Duyên Giác Thường ở nơi núi rừng. Trụ thân cuối cùng nầy Nghe pháp được chứng quả Ðó gọi là cỏ thuốc Thảy đều được lớn lên. Nếu các bậc Bồ Tát Trí huệ rất kiên cố Thấu suốt được ba cõi Cầu chứng tối thượng thừa. Ðó gọi là cây nhỏ Mà được tăng trưởng lên Lại có vị trụ thiền Ðắc được sức thần thông. Nghe các pháp không tướng Trong tâm rất vui mừng Phóng vô số quang minh Ðộ tất cả chúng sinh. Ðó gọi là cây lớn Mà được tăng trưởng lên. Diệu pháp của chư Phật thường chỉ thuần một vị, khiến cho các thế gian cũng đắc được đầy đủ, từng chút từng chút dần dần tu hành đều sẽ thành đạo chứng quả. Còn có hàng Thanh Văn Duyên Giác, chứng tứ quả A La Hán ở trong núi rừng chẳng thọ sinh tử, tức là thân cuối cùng, các ngài nghe pháp mà chứng quả, dụ cho cỏ thuốc được lượng nước mưa mà sinh trưởng lớn lên. Các vị Bồ Tát trí huệ kiên cố, thấu suốt ba cõi (cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc), cầu chứng tối thượng thừa, dụ cho cây nhỏ, cũng đắc được lượng nước mà lớn lên. Còn có những vị trụ ở trong thiền định, có sức thần thông, khi nghe được các pháp không tướng, thì trong tâm rất vui mừng, phóng vô số quang minh cứu độ tất cả chúng sinh, dụ cho cây lớn, cũng hấp thụ được lượng nước mưa mà lớn lên. Như thế nầy Ca Diếp ! Pháp của Phật nói ra. Ví như vầng mây lớn Dùng nước mưa một vị Ðượm nhuần nơi hoa người Thảy đều được thành Phật. Ca Diếp ông nên biết ! Dùng các thứ nhân duyên Và đủ thứ ví dụ Ðể mở bày Phật đạo. Là phương tiện của ta Các đức Phật cũng thế Nay ta vì các ông Nói pháp chân thật nhất. Các chúng hàng Thanh Văn Ðều chưa thật diệt độ Sở hành của các ông Ðều là Bồ Tát đạo Nếu từ từ tu học Tất sẽ được thành Phật. Ca Diếp ! Pháp của Phật nói giống như vầng mây lớn, dùng một thừa mưa pháp, đượm nhuần nơi hoa người, tất cả mọi người thảy đều sẽ thành Phật. Ca Diếp ! Ông nên biết, dùng tất cả nhân duyên và đủ thứ ví dụ, để mở bày con đường cho chúng sinh thành Phật, là phương tiện của ta, mười phương chư Phật cũng như thế. Hiện tại, ta vì các ông nói pháp chân thật nhất. Hàng nhị thừa chưa được pháp chân chính, chỉ chứng được hữu dư Niết Bàn, chẳng phải là vô dư Niết Bàn, chưa thật sự diệt độ. Song, các ông thực hành đều là Bồ Tát đạo, nếu hằng ngày từ từ tu hành, thì tương lai chắc chắn sẽ thành Phật. Ðây là Phật vì Ngài Ca Diếp và các đệ tử lớn, đưa ra ví dụ tam thảo nhị mộc, tán dương pháp đại thừa, như vầng mây lớn mưa xuống, thảy đều bình đẳng, đượm nhuần các loài chúng sinh, tùy theo căn tính khác nhau, khiến cho họ đều được lợi ích đượm nhuần tăng trưởng. Cập nhật cuối (Thứ 2, 28 Tháng 12 2009 23:34) KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 07 TẬP 02 Quyển 03 Phẩm Hóa Thành Dụ Thứ Bảy ‘’Hóa’’ là từ huyễn hóa mà ra, chứ chẳng phải thật có. Nó từ tinh thần giác ngộ triệt để của Phật hiển hiện ra. Nghĩa là gì ? Tức là muốn hàng nhị thừa phát đại tâm, xa lìa hiện chứng tất cả tướng, Phật hiện ra cảnh giới vi diệu không thể nghĩ bàn. Kì thật, Phật vốn nói ‘’hóa thành’’ chẳng tồn tại, như nay hóa hiện ra, cho nên tên phẩm nầy là ‘’Phẩm Hóa Thành Dụ’’. Trước hết, chúng ta phải hiểu hóa thành nầy, vốn một vật cũng chẳng có, nó là hư vọng không thật, nên gọi là hóa thành, do Phật biến hóa ra. Phật mở bày môn phương tiện nầy, để cứu độ chúng sinh, đều chẳng phải là chân thật. Một thật pháp môn đại thừa mới là mục đích cứu kính. Có người hỏi : ‘’Nếu tất cả đều không chân thật, vậy ích lợi của nó ở chỗ nào‘’ ? Nếu bạn chẳng hiểu rõ gì là không chân thật, thì bạn cũng chẳng cách chi tìm ra được chân thật. Hóa thành nầy là ví dụ pháp môn nhị thừa : Pháp của hành Thanh Văn thừa và Duyên Giác thừa. Vì pháp nhị thừa nầy đều là pháp của Phật phương tiện dẫn dắt, cho nên nói hóa thành nầy là vì hàng nhị thừa nói hữu dư Niết bàn chẳng cứu kính. Ý nghĩa Niết Bàn là không sinh không diệt. Phật dùng phương tiện trí huệ mở bày ra pháp nhị thừa. Tại sao ? Ví như chúng ta đi học phải từ tiểu học đến trung học, từ trung học đến đại học. Hàng nhị thừa giống như trình độ tiểu học, Bồ Tát thừa thuộc về trình độ trung học, Phật thừa thì trình độ cao nhất, tức dũng là đại học. Thật chẳng phải đại học có thể so sánh. Phật pháp vốn chẳng có gì cao thấp, song Phật dùng pháp môn phương tiện để dẫn dắt tất cả chúng sinh, giống như trẻ con, trước hết phải để cho chúng học tiểu học, hấp thụ được kiến thức tiểu học. Trong Phật pháp, mục tiêu và điểm chủ yếu nhất là thấy, thấy cả chúng sinh đều có Phật tính, đều sẽ thành Phật. Song, nếu Phật ban đầu nói pháp nầy cho chúng sinh nghe, thì chúng sinh chắt chắn sẽ sợ khổ chẳng muốn tin nhận, tâm sinh sợ hãi, cho nên Phật mở bày pháp môn quyền xảo phương tiện, để giáo hóa dẫn dụ chúng sinh. Có bốn phương pháp để giải thích ý nghĩa Phật nói phẩm nầy : 1. Căn cứ nhân duyên. 2. Căn cứ về chính yếu của giáo pháp. 3. Căn cứ về căn tính của chúng sinh. 4. Căn cứ quán sát tâm hạnh của tất cả chúng sinh. 1- Căn cứ về nhân duyên : Chúng sinh dừng lại ở trên con đường tu hành, chẳng muốn tiến bước về trước, trụ nơi pháp không, cho rằng đã đạt được chỗ cứu kính, đây là một quan niệm của hàng nhị thừa, các Ngài đạt được hữu dư Niết Bàn, làm cảnh giới cao nhất vô thượng, cho nên Phật khai quyền hiển thật, phá chấp trước của các Ngài, khiến cho các Ngài thâm nhập đại trí huệ tạng của Phật, liễu ngộ pháp chân thật chẳng có thể tính, vì hàng nhị thừa trên đường tu đạo chẳng tiến bước nữa, mà bỏ giữa đường, do đó Phật dùng pháp môn phương tiện, dùng ‘’hóa thành’’ làm ‘’thành tạm nghỉ‘’ cho hàng nhị thừa, để họ khỏi đọa lạc vào đường ác, do đó tạm thị hiện ‘’hoá thành’’. 2- Căn cứ về chính yếu của giáo pháp : Hàng nhị thừa coi giáo pháp của tiểu thừa, là giáo pháp viên mãn nhất, cho rằng hữu dư Niết Bàn là vô dư Niết Bàn, cứu kính không sinh không diệt, cho nên họ chỉ nguyện tự cầu giải thoát, mà chẳng muốn độ thoát chúng sinh, Phật thấy họ là tiêu nha bại chủng của Phật giáo, nên Phật chê trách hàng nhị thừa, chẳng giống như Bồ Tát, tự lợi lợi tha, tự giác giác tha. Bồ Tát rất sợ tất cả sáu nẻo chúng sinh đọa lạc vào đường ác, cho nên luôn luôn cứu độ chúng sinh, thoát khỏi biển khổ, Bồ Tát có tâm từ bi bình đẳng, có tinh thần vô úy đảo giá từ thuyền, phát nguyện ‘’độ hết tất cả chúng sinh, mới chứng Bồ đề‘’, mà Phật muốn hàng nhị thừa cũng hồi tiểu hướng đại, phát tâm đại Bồ đề, học hạnh Bồ Tát, cho nên phải vì họ nói ra giáo pháp đại thừa. 3- Căn cứ vào căn tính chúng sinh : Phật là đấng Thế Tôn đại từ đại bi, khi Phật thành đạo rồi, trong hai mươi mốt ngày, vì Bồ Tát đại thừa mà nói Kinh Hoa Nghiêm. Lúc đó hàng nhị thừa có mắt chẳng thấy được Lô Xá Na, có tai chẳng nghe được giáo lý viên đốn, đủ thấy căn tính của hàng nhị thừa cạn hẹp. Song, Phật chẳng muốn bỏ không cứu độ một chúng sinh nào, cho nên vì hàng nhị thừa nói pháp tứ diệu đế và mười hai nhân duyên, để cho các Ngài tinh tấn tu hành, tăng trưởng căn lành, siêu phàm nhập thánh, cuối cùng mới hiển bày một thừa giáo pháp chân thật. 4- Căn cứ quán sát tâm hạnh của tất cả chúng sinh: Phật quán sát tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có thể sẽ thành Phật, nên mới khai quyền hiển thật, nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy, để phá trừ chấp trước và tâm ích kỷ tự lợi của chúng sinh, chẳng chướng ngại cơ hội các Ngài thành Phật. Ðức Phật bảo các Tỳ Kheo rằng : Về thuở quá khứ, vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp không thể nghĩ bàn, bấy giờ có đức Phật hiệu là Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Nước đó tên là Hảo Thành, kiếp đó tên là Ðại Tướng. Các Tỳ Kheo ! Ðức Phật đó diệt độ đến nay, rất là lâu xa. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo các chúng Tỳ Kheo rằng : Trong quá khứ vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp không thể nghĩ bàn. Lúc đó, có một vị Phật hiệu là Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, Ngài có thần thông quảng đại và đại trí huệ, đầy đủ mười hiệu của Phật, tức là : Như Lai : Như như bất động, tịch chiếu thường minh, biểu thị thể tính đức. Ứng Cúng : Những gì cần làm đã làm xong, biểu thị từ bi nguyện đức. Chánh Biến Tri : Lý trí vô ngại, viên dung khắp hết thảy, đầy đủ chánh tri chánh kiến, chẳng có gì mà không biết, biểu hiện lý trí đức. Minh Hạnh Túc : Minh tức là được quả bồ đề vô thượng, hạnh túc là giới huệ đầy đủ, biểu thị tu nhân đắc quả đức, cũng gọi là biểu thị thần thông đức. Thiện Thệ Thế Gian Giải : Vào vô dư Niết Bàn, biết rõ tất cả việc hữu tình và phi hữu tình, biểu thị đoạn chứng trí đức. Vô Thượng Sĩ : Trong tất cả chúng, Phật là vô thượng, biểu thị trụ vị đức. Ðiều Ngự Trượng Phu : Dùng lời diệu hòa, lời khổ thiết, khiến cho họ vào đường lành, biểu thị giáo chủ đức. Thiên Nhân Sư : Như mặt trời chiếu khắp, hết thảy đều được lợi ích, đạo sư của trời người, biểu thị phổ lợi đức. Phật : Ba giác cứu kính viên mãn, biểu thị giác quả đức. Thế Tôn : Vạn đức tròn, phước đức đầy, bậc tôn kính của thế gian và xuất thế gian, biểu thị viên mãn đức. Ðức Phật Ðại Thông Trí Thắng có một cõi nước tên là Hảo Thành, vì nhân dân trong cõi nước của Ngài đều rất thiện lương, kiếp đó tên là Ðại Tướng. Các Tỳ Kheo ! Vị Phật đó, ở trong kiếp quá khứ lâu xa không thể nói, đã vào cảnh giới Niết Bàn không sinh không diệt, thời gian bao lâu ? Phật nói ra ví dụ ở dưới đây. Ví như tất cả đất đai của ba ngàn đại thiên thế giới. Giả sử có người đem mài ra thành mực, rồi đi qua phương đông, cách một ngàn cõi nước, mới chấm xuống một chút, lớn như hạt bụi. Rồi đi qua một ngàn cõi nước nữa, lại chấm xuống một chút. Như thế, lần lược chấm hết mực mài bằng đất đai, ý của các ông nghĩ sao ? Các cõi nước đó, hoặc thầy toán, hoặc đệ tử của thầy toán, có thể biết được bờ mé của số đó chăng ? - Không vậy, đức Thế Tôn. Các Tỳ Kheo ! Cõi nước của người đó đi qua, hoặc chấm mực, hoặc không chấm mực, đều nghiền hết ra làm bụi, cứ một hạt bụi là một kiếp. Từ khi đức Phật đó diệt độ đến nay, lại lâu hơn số đó, vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức A tăng kỳ kiếp. Ví như, có người dùng cõi nước ba ngàn đại thiên thế giới mài ra thành mực, rồi đi qua phương đông cách một ngàn cõi nước, thì chấm xuống một chấm mực nhỏ như hạt bụi, lại trải qua một ngàn cõi nước, lại chấm xuống một chấm mực, cứ như thế chấm hết số mực đã mài ra, có tính đếm được số cõi nước chấm mực chăng ? Bạn thấy như thế nào ? Giả sử, nhà toán thuật, hoặc đệ tử của họ cùng nhau tính đếm số mực nầy, họ có tính được số mực nầy chăng ? Tất cả các vị Tỳ Kheo đều thưa : ‘’Không thể được, đức Thế Tôn‘’. Các chúng Tỳ Kheo ! Cõi nước của người đó đi qua, có chấm mực hoặc không chấm mực, đều nghiền ra làm bụi, dùng một hạt bụi làm một kiếp, mà Phật Ðại Thông Trí Thắng đã vào Niết Bàn, trải qua số kiếp lâu hơn số đó, vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức A Tăng kỳ kiếp. Ta dùng sức tri kiến của Như Lai, xem thuở lâu xa đó, như ngày hôm nay. Phật là bậc Nhất thiết trí, dùng thiền định tam muội, nên đức Phật thấy kiếp lâu xa như thế, như ngày hôm nay, chẳng lâu dài. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa nầy, bèn nói bài kệ rằng. Ta nhớ đời quá khứ Vô lượng vô biên kiếp Có Phật Lưỡng Túc Tôn Hiệu Ðại Thông Trí Thắng. Khi đó, đức Phật muốn thuật lại ý nghĩa kinh trường hàng ở trên, nên dùng kệ để nói. Ta nhớ thuở trong đời quá khứ vô lượng vô biên kiếp số, có một vị Phật, đầy đủ phước huệ viên mãn, Phật đó hiệu là Ðại Thông Trí Thắng Phật. Như người dùng sức mài Ba ngàn cõi đại thiên Hết tất cả đất đai Thảy đều làm thành mực. Qua khỏi ngàn cõi nước Mới chấm xuống chút mực Lần lược chấm như thế Hết sạch số mực đó. Các cõi nước như thế Chấm mực hoặc chẳng chấm Lại nghiền ra làm bụi Một bụi là một kiếp. Kiếp số lâu xa kia Lại nhiều hơn số bụi Phật đó diệt đến nay Vô lượng kiếp như thế. Ví như có người đem cõi nước ba ngàn đại thiên thế giới, đều mài ra làm mực, sau đó đi qua một ngàn cõi nước, chấm xuống một chấm nhỏ, rồi lại đi qua một ngàn cõi nước, cũng chấm xuống một chấm mực, cho đến lần lược chấm hết số mực đó. Các cõi nước người đó đi qua, chấm mực hoặc chẳng chấm mực, đều nghiền ra làm bụi, mỗi hạt bụi là một kiếp, Phật Ðại Thông Trí Thắng diệt độ đến nay, nhiều hơn số bụi đó vô lượng kiếp. Trí vô ngại của Phật Biết Phật đó diệt độ Và Thanh Văn Bồ Tát Như thấy nay diệt độ. Các Tỳ Kheo nên biết! Trí Phật tịnh vi diệu Vô lậu chẳng gì ngại Thông đạt vô lượng kiếp. Phật đầy đủ trí huệ viên dung vô ngại, đều biết Phật Ðại Thông Trí Thắng và hàng Thanh Văn Bồ Tát đã diệt độ, như thấy được các Ngài hiện tại vừa diệt độ. Các Tỳ Kheo ! Các ông phải biết trí huệ của Phật rất thanh tịnh, vi tế và áo diệu, chẳng có lậu, cũng chẳng có gì quái ngại, thông đạt vô lượng số kiếp. Ðức Phật bảo các Tỳ Kheo ! Ðức Phật Ðại Thông Trí Thắng, sống lâu năm trăm bốn mươi vạn ức Na do tha kiếp. Khi đức Phật đó, ngồi đạo tràng phá ma quân rồi, sắp được đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác, mà các Phật pháp chẳng hiện ra ở trước, đức Phật ngồi kiết già như thế một tiểu kiếp, cho đền mười tiểu kiếp, thân và tâm đều bất động, mà các Phật pháp cũng chẳng hiện ra. Bấy giờ, chư thiên cõi trời Ðao Lợi, trước đã vì đức Phật đó, làm tòa sư tử ở dưới cội bồ đề cao một do tuần. Ðức Phật ngự lên tòa đó, sẽ được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Khi Phật ngồi lên tòa đó, thì các vị Phạm Thiên Vương mưa xuống các hoa trời, khắp một trăm do tuần. Gió thơm lại đến thổi đi các hoa héo, rồi mưa xuống hoa tươi, cứ như thế không ngừng, trọn mười tiểu kiếp, để cúng dường đức Phật. Cho đến sau khi đức Phật diệt độ, vẫn luôn luôn mưa xuống các hoa trời. Bốn vị Tứ Thiên Vương vì cúng dường đức Phật, mà thường đánh trống trời, còn các vị trời khác, thì tấu nhạc trời, trọn mười tiểu kiếp, đến khi đức Phật diệt độ cũng lại như thế. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo các Tỳ Kheo ở trong hội rằng : Phật Ðại Thông Trí Thắng sống lâu đến năm trăm bốn mươi vạn ức Na do tha kiếp. Khi Phật Ðại Thông Trí Thắng ngồi dưới Bồ Ðề đạo tràng, phá tất cả ma quân rồi. Phàm là người tu đạo chứng quả, đều phải trải qua cửa ải ma khảo nghiệm. Phật Thích Ca Mâu Ni, trước khi thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, cũng phải trải qua sự khảo nghiệm. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi dưới cội Bồ đề nhập định, thì ma vương phái một đám biến thành thiếu nữ xinh đẹp, để nhiễu loạn thiền định của Phật. Lúc đó, Phật đã đoạn sạch tất cả mọi dục niệm và vọng tưởng, xa lìa sự ràng buộc. Quán vạn sự vạn vật trong vũ trụ như mộng như huyễn, hà huống là đối với một đám mỹ nữ ở trước mặt, càng như như bất động, liễu liễu thường minh, Phật bèn nói với chúng rằng: ‘’Tuy bây giờ các người còn trẻ đẹp đẽ, song khi về già thì tóc bạc mặt nhăn xấu xí như bà lão, các ngươi bất quá chỉ là túi da hôi thối chứa đầy đồ dơ bẩn mà thôi’’ ! Khi đám mỹ nữ nghe Phật nói như thế, thì chúng biết mỹ nhân kế của chúng chẳng thành công, do đó chúng nhìn xem diện mạo của chúng, thì quả nhiên biến thành những bà già xấu xí, bỏ nhau chạy đi hết. Trước khi tất cả các vị thành Phật đạo, đều phải trải qua sự khảo nghiệm, cho nên hàng phục được tất cả thiên ma ngoại đạo, mới đạt được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lúc đó, Phật Ðại Thông Trí Thắng ngồi kiết già, thân tâm bất động, nhập định, song vẫn chưa thành Phật đạo, cho nên Phật pháp chưa xuất hiện ra trước, như thế trải qua một tiểu kiếp, cho đến mười tiểu kiếp, Phật pháp vẫn chưa hiện tiền. Bấy giờ, chư thiên cõi trời Ðao Lợi, vì Ðức Phật đó, chuẩn bị thiết lập tòa sư tử dưới cội bồ đề, cao một do tuần (bốn mươi dặm). Ðức Phật bèn ngồi trên tòa đó, sẽ thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lúc đó, chư thiên Phạm Thiên Vương mưa xuống các hoa trời, rải khắp nơi một trăm do tuần, một trận gió thơm thổi đến, thổi các hoa héo đi, lại mưa xuống các hoa tươi, tiếp tục như thế không ngừng, trọn mười tiểu kiếp để cúng dường Phật. Sau khi Phật diệt độ rồi, chư thiên vẫn mưa hoa trời xuống như thường lệ. Khi đó, Tứ Thiên Vương thường đánh trống trời, tấu nhạc trời để cúng dường Phật, còn chư thiên các cõi trời khác, thì thường tấu đủ thứ nhạc trời, tiếp tục như thế trọn mười tiểu kiếp, cho đến khi Phật diệt độ rồi cũng lại như thế. Các Tỳ Kheo ! Phật Ðại Thông Trí Thắng trải qua mười tiểu kiếp, các Phật pháp mới hiện ra ở trước, thành Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Phật Thích Ca lại bảo các Tỳ Kheo nói rằng : Phật Ðại Thông Trí Thắng trải qua mười tiểu kiếp, Phật pháp mới xuất hiện ở trước, Ngài mới thật sự thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, rộng vì chúng sinh, chuyển đại pháp luân. Khi đức Phật đó chưa xuất gia, thì có mười sáu người con. Người con thứ nhất tên là Trí Tích. Các người con đều có đồ chơi tốt đẹp, quý báu lạ thường, nghe cha đắc được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều bỏ đồ chơi báu lạ, đi đến chốn Phật. Các bà mẹ khóc rơi lệ, đi theo tiễn đưa. Ông nội của các vị đó, là chuyển luân thánh vương, với một trăm vị đại thần, và trăm ngàn vạn ức nhân dân khác, đều cùng nhau vây quanh theo đến đạo tràng. Ðều muốn gần gũi đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, cúng dường cung kính, tôn trọng khen ngợi. Ðến rồi, thảy đều cuối đầu đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu Phật xong rồi, một lòng chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, dùng kệ nói rằng. Trước khi vị Phật đó chưa xuất gia, thì Ngài có mười sáu người con. Người con cả thứ nhất tên là Trí Tích. Ngài đầy đủ đại trí huệ, mỗi người con đều có công đức báu phước đức quý khác nhau, đầy đủ đồ chơi quý báu đẹp lạ. Song, khi các vị đó nghe người cha đắc được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đều lập tức bỏ hết các đồ chơi quý báu đẹp lạ, đi đến chỗ Phật thành đạo. Bà mẹ của các Ngài khóc lóc rơi lệ, cùng đi với các Ngài đến gặp Phật. Tại sao bà mẹ đau buồn như thế ? Vì mười sáu người con của bà ta, đều muốn bỏ mẹ đi theo Phật tu đạo. Lúc đó, ông nội của các Ngài là Chuyển Luân Thánh Vương, dẫn một trăm vị đại thần và trăm ngàn vạn ức nhân dân, đều cùng vây quanh để đi đến đạo tràng nơi Phật thành đạo, để gần gũi Phật Ðại Thông Trí Thắng, cúng dường cung kính, tôn trọng ngợi khen Phật. Ðến chốn Phật rồi, tất cả đều năm thể sát đất, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng, rồi một lòng chấp tay, chiêm ngưỡng đức Thế Tôn. Sau đó, dùng bài kệ để tán thán Phật. Thế Tôn oai đức lớn Vì cứu độ chúng sinh Trong vô lượng ức kiếp Nay mới được thành Phật. Các nguyện đã đầy đủ Hay thay lành vô thượng Thế Tôn rất ít có Một phen ngồi mười kiếp. Thân thể và tay chân Vắng lặng yên chẳng động Tâm Phật thường lặng lẽ Chưa từng có tán loạn. Rốt ráo hằng tịch diệt An trụ pháp vô lậu Ngày nay thấy Thế Tôn An ổn thành Phật đạo. Chúng con được lợi lành Rất hớn hở vui mừng Chúng sinh thường khổ não Ðui mù không đạo sư. Chẳng biết đạo dứt khổ Không biết cầu giải thoát Ngày đêm thêm nẻo ác Tổn giảm chúng chư thiên. Từ tối vào nơi tối Trọn chẳng nghe tên Phật Nay Phật được vô thượng Ðạo an ổn vô lậu. Chúng con và trời người Vì được lợi lành lớn Cho nên đều cuối đầu Quy mạng đấng Vô Thượng. Ðức Thế Tôn là bậc có đại oai đức nhất trong thế gian, vì cứu độ tất cả sáu nẻo chúng sinh chịu khổ trong mười phương, mà trải qua vô lượng ức kiếp trang nghiêm vạn hạnh, mới được thành Phật đạo, đầy đủ viên mãn thệ nguyện đã phát ra từ trước. Cho nên, nói: Nếu ai chân chánh muốn phát tâm tu đạo, thì phải phát đại thệ nguyện. Mười phương chư Phật thành tựu Phật quả, đều phát thệ nguyện vô thượng và tâm bồ đề rộng lớn, tại sao chúng ta ở trong sự tu đạo chịu khổ chẳng được ? Hoặc sinh tâm thối chuyển ? Vì chúng ta chẳng thật sự đem chân tâm ra để tu đạo, chưa từng phát tâm thệ nguyện kim cang kiên cố Ba la mật. Phật là bậc cát tường thù thắng nhất, vô thượng nhất, rất hiếm có trên thế gian. Phật hay nhập vào thiền định thâm sâu, như thế trải qua mười tiểu kiếp thời gian lâu dài, song thân thể tay chân của Phật vẫn vắng lặng an nhiên chẳng động, tâm của Ngài xa lìa tất cả điên đảo mộng tưởng, chẳng có ô nhiễm một chút bụi, cho nên chẳng tán loạn. Phật rốt ráo đắc được viên giác vĩnh hằng, an trụ ở trong thường tịch quang, lấy pháp vô lậu, mở bày hàng nhị thừa. Như hôm nay chúng con được thấy Ðức Thế Tôn an ổn thành tựu Phật đạo, vì đắc được lợi ích tốt lành, cho nên chúng con biểu lộ vui mừng hớn hở. Tất cả sáu nẻo chúng sinh thường chịu các sự thống khổ bức bách, như người mù, mất đi đạo sư dẫn dắt, chẳng biết con đường lìa khổ, chẳng biết làm thế nào để ra khỏi sinh tử luân hồi, cứ tạo tội nghiệp chồng chất. Chúng sinh điên đảo trầm luân ở trong đường ác, bị vô minh che lấp đi trí huệ Phật tính, tội nghiệp chướng ngại, cho nên chẳng nghe được hồng danh của Ðức Phật. Như nay Phật đắc được vô thượng, Phật đạo an ổn, chúng con và tất cả trời người như tối có đèn, đều được lợi ích rất lớn, cho nên chúng con năm thể sát đất, cuối đầu đảnh lể, một lòng quy mạng đấng Thế Tôn Vô Thượng. Khi chúng ta một lòng quy y Phật Pháp Tăng Tam Bảo, tức là bắt đầu học tập Phật pháp, trước hết phải khử trừ ‘’ngã tướng‘’. Ví như phải xả mình vì người, chẳng tồn tâm tổn người lợi mình .v.v. Tất cả phiền não đều do chấp trước vào ngã tướng (tướng ta) tham dục mà khởi, song phải làm cho được chẳng còn có tướng ta, thật không dễ dàng. Cho nên, chúng ta phải đem thân tâm tính mạng quy y Tam Bảo, nương theo pháp của Phật nói mà tu hành, thì nhất định phải xả bỏ ngã chap, và ba độc tham sân si phiền não, được vô vi khoái lạc tự tại hằng thường, chẳng còn thọ thân sau nữa. Bấy giờ, mười sáu vị vương tử nói kệ khen đức Phật rồi, bèn thỉnh cầu đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp, đều thưa rằng : Ðức Thế Tôn thuyết pháp được nhiều sự an ổn, thương xót lợi ích các trời người, lại nói kệ rằng. Khi mười sáu vị vương tử khen ngợi Ðức Phật rồi, các Ngài lại thỉnh Phật chuyển bánh xe diệu pháp. Chuyển bánh xe pháp như thế nào ? Diễn nói bốn diệu đế, mười hai nhân duyên, cho đến sáu độ Ba la mật kinh điển giáo nghĩa, giải nói nghĩa lý Phật pháp, đều là chuyển bánh xe pháp; còn có nhiều phương tiện lìa khổ được vui, tứ thiền bát định .v.v. Chuyển bánh xe pháp như hộ trì Tam bảo, khen ngợi Tam Bảo, tuyên dương Phật pháp, khuyên người khác tín ngưỡng Phật giáo .v.v., đó đều là chuyển bánh xe pháp lợi ích chúng sinh. Mười sáu vị đồng tử lại dị khẩu đồng âm nói: ‘’Ðức Thế Tôn ! Thỉnh Ngài vì chúng con nói Phật pháp vô thượng, khiến cho chúng con tất cả chúng sinh được an ổn, xin Ngài thương xót và lợi ích tất cả trời người.’’ Lại nói kệ khen ngợi Phật. Thế Tôn chẳng ai bằng Trăm phước tự trang nghiêm Ðược trí huệ vô thượng Xin vì thế gian nói. Ðộ thoát cho chúng con Và các loài chúng sinh Vì phân biệt hiển bày Khiến được trí huệ Phật. Nếu chúng con thành Phật Chúng sinh cũng như thế Thế Tôn biết chúng sinh Nghĩ gì trong thâm tâm. Cũng biết họ nguyện gì Lại biết sức trí huệ Ưa muốn và tu phước Nghiệp tạo ra đời trước. Thế Tôn biết cả rồi Nên chuyển pháp vô thượng. Phật là đấng Thánh hùng xuất thế gian. Chúa Ðại hùng thế gian không thể sánh với đại Thánh Tôn ! Ba A Tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp trồng ruộng phước, vạn đức trang nghiêm tướng tốt, đầy đủ oai nghi. Phật là đại Thánh hùng vô thượng của thế gian, cho nên xưng là ‘’Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn‘’. Vì Phật trong ba A tăng kỳ kiếp tu phước huệ, trong trăm kiếp vun bồi tướng tốt trang nghiêm viên mãn, Phật đắc được trí huệ vô thượng, cho nên Phật vì tất cả chúng sinh thế gian nói ra pháp vi diệu, khiến cho chúng con xa lìa biển khổ, sớm lên bờ giác ngộ. Vì nhân duyên của mười hai loài chúng sinh, đều hiển bày khác nhau, khiến cho chúng con đắc được trí huệ vô thượng, Phật quả bồ đề. Nếu chúng con đều thành Phật đạo, thì tất cả sáu nẻo chúng sinh thảy đều như thế. Ðức Thế Tôn biết rõ tâm của tất cả chúng sinh, nghĩ gì và nguyện gì, Phật biết hết sức trí huệ của họ có bao nhiêu, nghĩ muốn được bao nhiêu thiện lạc, tích tập bao nhiêu phước đức, tạo bao nhiêu tội nghiệp, cho nên Phật đều biết đều thấy, nên Phật chuyển bánh xe pháp. Phật bảo các Tỳ Kheo ! Khi đức Phật Ðại Thông Trí Thắng được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì trong mười phương, mỗi phương đều có năm vạn ức thế giới của chư Phật, có sáu thứ chấn động. Trong các cõi nước đó, chỗ tối tăm ánh sáng mặt trời mặt trăng không thể chiếu đến, mà nay đều sáng rực rỡ. Chúng sinh ở trong đó đều thấy nhau, đều nói rằng : Trong đây tại sao bỗng sinh ra chúng sinh ? Và cung điện của chư Thiên, cho đến cung điện của Phạm thiên, trong các cõi đó, đều có sáu thứ chấn động. Quang minh chiếu khắp đầy các thế giới, sáng hơn ánh sáng của chư Thiên. Phật Thích Ca lại bảo các Tỳ Kheo rằng: ‘’Khi Phật Ðại Thông Trí Thắng được quả Vô Thượng Chánh Ðẳng Cháng Giác, thì trong mười phương, mỗi phương đều có năm trăm vạn ức thế giới của chư Phật, đều hiện sáu thứ chấn động. Lúc đó, trong tất cả cõi nước đó, phàm là chỗ nào tối tăm, ánh sáng mặt trời mặt trăng không thể chiếu đến được, thì nay đều xuất hiện ánh sáng. Chúng sinh ở đây thấy rõ được tất cả, họ bèn nói rằng: ‘’Chúng sinh từ đâu đến’’? (kì thật trước kia họ sống trong bóng tối, có cũng chẳng thấy, cho nên nói chẳng có chúng sinh tồn tại. Bây giờ, bỗng có ánh sáng, mới thấy có chúng sinh khác). Lại nữa, ở trong phạm vi những cõi nước đó, tất cả Thiên cung cho đến cung điện của Phạm thiên, đều hiện sáu thứ chấn động, được quang minh chiếu khắp, đầy các thế giới. Quang minh đó sáng hơn tất cả quang minh của chư Thiên, hơn ánh sáng của mặt trời mặt trăng mấy ngàn vạn lần. Bấy giờ, ở phương đông năm trăm vạn ức cõi nước, các cung điện của cõi trời Phạm thiên, có ánh sáng chiếu sáng gấp bội hơn ánh sáng thường. Các vị Phạm Thiên Vương đều nghĩ : Hôm nay ánh sáng chiếu đến cung điện, từ xưa chưa từng có, bởi nhân duyên gì mà hiện tướng nầy ? Lúc đó, các Phạm Thiên Vương đều đi đến với nhau cùng bàn về việc nầy. Khi đó, trong chúng có một vị Phạm Thiên Vương, tên là Cứu Nhất Thiết, vì các chúng Phạm Thiên mà nói kệ rằng. Khi đó, ở phương đông các cung điện của trời Phạm Thiên, trong năm trăm vạn ức cõi nước, đều được ánh sáng chiếu sáng, ánh sáng đó hơn ánh sáng thường gấp ngàn vạn lần. Lúc đó, tất cả các vị Phạm Thiên Vương đều sinh ra hoài nghi : ‘’Như hôm nay cung điện của chúng ta có ánh sáng nầy, từ xưa chưa từng có, bởi nhân duyên gì mà nay hiện ra tướng điềm lành nầy’’? Do đó, tất cả các vị Phạm Thiên Vương, đều tự tìm đến cùng nhau, thảo luận về việc ánh sáng chiếu đến cung điện. Lúc đó, trong chúng trời Phạm Thiên Vương, có một vị Ðại Phạm Thiên Vương tên là Cứu Nhất Thiết, vì tất cả chúng Phạm Thiên mà nói ra bài kệ. Các cung điện chúng ta Ánh sánh xưa chưa có Ðây là nhân duyên gì ? Thảy đều cùng nhau tìm. Là trời đại đức sinh Hay Phật hiện ra đời ? Mà ánh sáng lớn nầy Chiếu khắp trong mười phương. Các cung điện của chúng ta được ánh sáng chiếu đến, đây là ánh sáng không thể nghĩ bàn chưa từng có. Ðây là nhân duyên gì ? Chúng ta đều cùng nhau đi tìm ánh sáng nầy từ đâu đến ? Theo ý của tôi thì, đây có thể là một vị đại đức Thánh nhân ra đời, hoặc là có vị Phật xuất hiện ra đời, nên mới có ánh sáng như thế, chiếu khắp mười phương thế giới. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương của năm trăm vạn ức các cõi nước, cùng với cung điện, ai nấy đều dùng túi y đựng đầy các hoa trời, đồng đi đến hướng tây để tìm tướng ánh sáng đó. Thấy đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, ngồi trên tòa sư tử, tại đạo tràng dưới cội bồ đề. Chư Thiên, Long vương, Càn thác bà, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân .v.v... đều cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử, thỉnh đức Phật chuyển bánh xe pháp. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương của năm trăm vạn ức cõi nước ở phương đông, đều mang theo cung điện của họ cùng bay đi. Phàm là người trời đều có thể bay đi tự tại, chẳng những như thế, mà họ còn có thể mang theo cung điện của họ cùng đi, rất thuận tiên tự tại, và họ còn dùng túi đựng đầy các hoa trời, đồng đi đến phương tây, để tìm nguồn gốc tướng ánh sáng đó, thấy đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, ngồi trên tòa sư tử tại đạo tràng dưới cội Bồ đề. Lúc đó, tất cả chư Thiên, Long Vương, Càn Thác Bà, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, người và chẳng phải người .v.v... đều cùng nhau đến cung kính vây quanh Ðức Phật. Họ lại thấy mười sáu vị vương tử, đang thỉnh Phật chuyển bánh xe pháp. Tức thời, các vị Phạm Thiên Vương cúi đầu đảnh lễ đức Phật, nhiễu trăm ngàn vòng, liền lấy hoa trời rải trên đức Phật, hoa rải xuống nhiều như núi Tu Di, cùng để cúng dường cây bồ đề của Phật. Cây bồ đề đó cao mười do tuần, cúng dường hoa xong, ai nấy đều đem cung điện dâng lên đức Phật đó, mà bạch rằng : Xin đức Phật thương xót lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây, xin đức Phật hãy nhận để ở. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương ở trước đức Phật, một lòng đồng thanh nói bài kệ rằng. Thế tôn rất ít có Khó có thể gặp được Ðủ vô lượng công đức Hay cứu hộ tất cả. Ðại sư của trời người Thương xót nơi thế gian Các chúng sinh mười phương Khắp đều được lợi ích. Chúng con đều đến từ Năm trăm vạn ức cõi Xả bỏ vui thiền định Vì cúng dường đức Phật. Chúng con phước đời trước Cung điện rất tốt đẹp Nay dâng lên Thế Tôn Cúi xin thương nhận ở. Khi đó, tất cả các vị Phạm Thiên Vương, đều đảnh lễ dưới chân đức Phật, cung kính đi nhiễu chung quanh Ðức Phật trăm ngàn vòng, dùng hoa trời của họ rải ở trên thân Ðức Phật, hoa rải ra nhiều như núi Tu Di, lại dùng hoa trời để cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cây Bồ đề đó cao mười do tuần, cúng dường như thế rồi, các vị Ðại Phạm Thiên Vương, ai nấy đều đem cung điện mà họ ưa thích nhất, để dâng cúng Ðức Phật. Sau đó nói: ‘’Chư Phật từ bi thương xót chúng con, lợi ích cho chúng con mà nhận cung điện của chúng con dâng cúng.’’ Nói xong rồi, tất cả vị Phạm Thiên Vương đều quỳ xuống ở trước Phật, một lòng đồng tiếng, nói kệ. Ðức Thế Tôn ! Ngài là đấng Thánh Tôn ít có nhất trên đời, rất khó gặp nhất, Phật đầy đủ vô lượng công đức nên thành Phật. Chúng ta tất cả chúng sinh, cũng phải đầy đủ vô lượng công đức, mới có cơ hội gặp được Phật. Phật hay cứu hộ tất cả chúng sinh, Ngài là đạo sư của trời người, Phật hay từ bi thương xót tất cả chúng sinh thế gian, hay lợi ích khắp tất cả chúng sinh. Chúng con tất cả các Phạm Thiên Vương, từ năm vạn ức cõi nước đến đây, vì muốn tìm ánh sáng nầy, cho nên bỏ sự vui thiền định thâm sâu. Nếu người tu đạo, một ngày chẳng chứng được cảnh giới vui thiền định, thì thái độ đều cẩu thả, người chân chánh đắc được vui thiền định, thì rất hoan hỉ tham thiền đả tọa. Thấy tất cả thế gian vạn sự vật đều rất an lạc, mà các chư Thiên nầy, tuy chứng được thiền định, song chưa dứt sinh tử thoát khỏi tam giới, do đó, khi họ thấy được ánh sáng nầy, ai nấy cũng đều muốn bỏ vui thiền định, để đi tìm nguyên do của ánh sáng nầy, cũng vì muốn cúng dường Phật mà đến, lại nói với Phật : Chúng con thuở xưa tại nhân địa, tu các phước báu, mới có được cung điện tốt đẹp trang nghiêm nầy, hiện nay gặp được Phật, chúng con dâng cúng cung điện nầy lên Ðức Phật, cúi xin Phật thương xót tiếp nhận sự cúng dường của chúng con. Bấy giờ, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen đức Phật rồi, ai nấy đều nói : Cúi xin đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp, độ thoát cúng sinh, mở đường Niết Bàn. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương một lòng đồng thanh nói kệ rằng. Thế hùng Lưỡng Túc Tôn Cúi xin diễn nói pháp Dùng sức đại từ bi Ðộ chúng sinh khổ não. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương nói bài kệ khen Ðức Phật rồi, họ cùng nhau bạch rằng: ‘’Cúi xin Ðức Thế Tôn hãy vì chúng con chuyển bánh xe diệu pháp, độ thoát tất cả chúng sinh chịu khổ, xin Phật từ bi mở con đường Niết bàn‘’. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương lại một lòng đồng thanh nói ra bài kệ. Ðức Thế Tôn ! Ngài là đấng Ðại Thánh Hùng vô thượng trong thế gian, vạn đức viên mãn, phước huệ đều đủ. Cúi xin Ðức Thế Tôn vì chúng con chúng sinh diễn nói diệu pháp, hy vọng nhờ sức đại từ bi của Ðức Thế Tôn, để độ thoát sự khổ ràng buộc của chúng con và chúng sinh, đều ra khỏi biển khổ sinh tử, sớm lên bờ giác ngộ. Bấy giờ, đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai im lặng nhận lời. Lại nữa, các Tỳ Kheo ! Phương đông nam, có năm trăm vạn ức cõi nước, các vị Ðại Phạm Vương, đều thấy ánh sáng chiếu sáng cung điện của mình, từ xưa chưa từng có, thảy đều hớn hở vui mừng, sinh tâm hy hữu, bèn cùng nhau đi đến bàn về việc nầy. Lúc đó, trong chúng đó có một vị Ðại Phạm Thiên Vương, tên là Ðại Bi, vì các chúng Phạm Thiên mà nói kệ rằng : Việc nầy nhân duyên gì ? Mà hiện tướng như thế Các cung điện chúng ta Ánh sáng chưa từng có. Là trời đại đức sinh Hay là Phật ra đời ? Chưa từng có tướng nầy Nên cùng một lòng tìm. Qua ngàn vạn ức cõi Theo luồng sáng tìm đến Phần nhiều Phật ra đời Ðộ thoát chúng sinh khổ. Lúc đó, Ðức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai im lặng nhận lời, sự thỉnh cầu của các vị Phạm Thiên Vương. Phật nói : Ở phương đông nam, có năm trăm vạn ức cõi nước, tất cả các vị Ðại Phạm Thiên Vương, đều thấy các cung điện của họ, đều hiện ánh sáng chiếu sáng, từ xưa chưa từng có, do đó họ đều hớn hở vui mừng, sinh tâm hy hữu. Họ tụ lại với nhau cùng thảo luận vấn đề nầy. Lúc đó, ở trong chúng hội đó, có một vị Ðại Phạm Thiên Vương tên là Ðại Bi, vì tất cả các Phạm Thiên Vương, mà nói ra bài kệ. Việc nầy rất là thù thắng, cho nên hiện tướng điềm tốt nầy, chiếu đến cung điện của chúng ta. Ánh sáng nầy từ xưa chưa từng có, chắc chắn là có vị đại đức từ trên trời hàng sinh xuống, hoặc là có vị Phật xuất hiện ra đời. Ðây là cảnh giới chúng ta chưa từng thấy qua, nên cùng nhau đi tìm nguyên do. Do đó, trải qua ngàn vạn ức cõi nước, để đi tìm nguyên nhân của ánh sáng đó. Theo sự suy đoán của tôi, phần nhiều chắc chắn là có vị Phật xuất hiện ra đời, để độ thoát tất cả chúng sinh khổ não. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương của năm trăm vạn ức cõi nước, đều mang theo cung điện đi với, ai nấy cũng đều dùng túi đựng đầy hoa trời, cùng đi đến phương tây bắc, để tìm tướng đó, thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai, ngồi trên tòa sư tử, nơi Ðạo tràng dưới cội bồ đề. Chư thiên, Long vương, Càn thác bà, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân .v.v... thảy đều cung kính vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử, đang thỉnh đức Phật chuyển pháp luân. Lúc đó, ở phương đông nam, năm trăm vạn ức các Phạm Thiên Vương đều mang theo cung điện của họ, cùng nhau đi tìm ánh sáng nầy. Mỗi vị Ðại Phạm Thiên Vương, đều dùng túi đựng đầy hoa trời, chuẩn bị dùng để rải hoa cúng dường mười phương chư Phật, họ đều đi về hướng tây bắc để tìm tướng ánh sáng đó. Lại thấy đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, đang ngồi trên tòa sư tử, nơi Ðạo tràng dưới cội Bồ đề. Tất cả chư Thiên, Long Vương, Càn Thát Bà, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, người, chẳng phải người .v.v., đều cung kính vây quanh Ðức Phật, lại thấy mười sáu người con của Ðức Phật Ðại Thông Trí Thắng, đang thỉnh Phật chuyển bánh xe diệu pháp. Bấy giờ, các vị Phạm Thiên Vương cuối đầu đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu quanh đức Phật trăm ngàn vòng, bèn dùng hoa trời rải lên trên đức Phật. Hoa rải nhiều như núi Tu Di, cùng cúng dường cây bồ đề của Phật, cúng dường hoa rồi, ai nấy đều đem cung điện dâng lên cúng dường đức Phật đó, mà bạch rằng : Cúi xin đức Phật thương xót lợi ích chúng con, cung điện dâng cúng đây, xin đức Phật hãy nhận. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương ở trước đức Phật, một lòng đồng thanh nói bài kệ rằng. Lúc đó, hết thảy các vị Ðại Phạm Thiên Vương đảnh lễ dưới chân của Ðức Phật, và nhiễu trăm ngàn vòng. Nhiễu Phật xong rồi, thì dùng hoa trời của họ mang đến rải lên thân Phật, hoa rải lên cúng Phật nhiều như núi Tu Di, chẳng những cúng dường Ðức Phật, mà còn cúng dường cây Bồ đề của Phật. Cúng dường rồi, mỗi vị Ðại Phạm Thiên Vương đều đem cung điện của họ mang đến, dâng lên cúng dường Phật Ðại Thông Trí Thắng, và nói : ‘’Cúi xin đức Phật từ bi thương xót chúng con, lợi ích chúng con, hiện nay cung điện dâng cúng là cung điện báu đẹp của chúng con, xin Phật hãy nhận lãnh‘’. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương của năm trăm vạn ức cõi nước, ở trước đức Phật một lòng đồng cất tiếng, dùng kệ để khen ngợi Ðức Phật Ðại Thông Trí Thắng. Thánh chúa Thiên trung vương Tiếng ca lăng tần già Thương xót các chúng sinh Chúng con nay kính lễ. Thế Tôn rất ít có Lâu xa hiện một lần Một trăm tám mươi kiếp Trải qua chẳng có Phật. Đầy dẫy ba đường ác Chúng chư thiên giảm bớt Nay Phật hiện ra đời Mắt sáng của chúng sinh. Chỗ thế gian nương tựa Cứu hộ thảy mọi loài Cha lành của chúng sinh Thương xót làm lợi ích. Chúng con nhờ phước xưa Nay được gặp Thế Tôn. Phật cũng gọi là Thánh Chúa, tức là Thánh Trung Thánh, Thiên Trung Thiên, cho nên còn gọi là Thiên Trung Vương. Ca lăng tần già là tiếng Phạn, dịch là "tiếng chim hay". Ở thế giới Cực Lạc của Phật A Di Ðà có loài chim nầy, thường dùng tiếng hay của nó, để tuyên dương pháp âm, tiếng của Phật thuyết pháp khiến cho người thích nghe, ai nghe được thì tâm tĩnh lặng, cũng giống như nghe được tiếng hay tốt của loài chim nầy, mà âm thanh đại từ bi của Phật thương xót tất cả chúng sinh. Chúng con năm trăm vạn ức các Phạm Thiên Vương, nay hướng về đức Thế Tôn kính lễ. Ðức Thế Tôn ! Ngài rất là ít có, rất khó được gặp ! Vì Phật trải qua số kiếp lâu xa, mới xuất hiện ra đời. Theo chỗ chúng con biết, thì trong một trăm tám mươi kiếp đã qua, đều chẳng có Phật xuất hiện ra đời. Do đó, chúng sinh đọa lạc trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, ngày càng nhiều, song chư thiên chúng con ngày càng ít. Bây giờ, Phật xuất hiện ra đời, mà trước kia chúng sinh đọa lạc trong ba đường ác đều vì họ chẳng nghe được pháp âm, chẳng phân biệt được thị phi trắng đen, tạo các nghiệp ác, vì chẳng có ai dẫn dắt họ, cho nên họ mê hoặc ở trong đen tối, Phật là thiện tri thức mắt sáng của tất cả chúng sinh, cho nên khi Phật xuất hiện ra đời, thì tất cả chúng sinh, đều được Phật chỉ dẫn con đường thoát khỏi đen tối nguy hiểm. Chúng sinh trong ba đường ác sẽ giảm bớt, còn chúng sinh ba đường lành sẽ thêm nhiều. Tất cả chúng sinh thế gian đều về nương tựa với Phật, hướng về bồ đề giác đạo, Phật cứu hộ tất cả chúng sinh, cho nên Phật là cha đại từ bi của chúng con, còn chúng con đều là con bất hiếu của Phật. Song, Phật rất thương xót lợi ích chúng con, nguyện độ chúng con sớm lên bờ giác. Chúng con các chư Thiên, đều vì đời trước đã từng làm công đức và việc lành, cho nên đời nầy mới may mắn được gặp Phật. Hiện nay chúng con nghe được pháp của Phật nói, đều do nhân duyên căn lành đời trước. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen đức Phật rồi, ai nấy đều bạch rằng : Cúi xin đức Thế Tôn thương xót tất cả, chuyển bánh xe pháp, độ thoát chúng sinh. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương một lòng đồng thanh nói bài kệ rằng. Đại Thánh chuyển pháp luân Hiển bày các pháp tướng Độ chúng sinh khổ não Khiến được vui mừng lớn. Chúng sinh nghe pháp nầy Đắc đạo hoặc sinh thiên Các đường ác giảm dần Người khéo nhẫn thêm nhiều. Lúc đó, hết thảy các vị Ðại Phạm Thiên Vương, của năm trăm vạn ức cõi nước ở phương đông nam, dùng kệ khen ngợi đức Phật rồi, bèn bạch Phật rằng : ‘’Hiện nay chúng con chỉ mong cầu Phật thương xót tất cả chúng sinh, vì chúng con chuyển bánh xe diệu pháp, dạy chúng con như thế nào để liễu sinh thoát tử, ly khổ đắc lạc.’’ Khi đó, tất cả Ðại Phạm Thiên Vương một lòng đồng cất tiếng nói ra bài kệ. Hiện tại, chúng con thỉnh Ðức Phật chuyển bánh xe pháp, để giáo hóa chúng sinh. Chỉ rõ cho chúng con thật tướng của tất cả pháp, để độ thoát chúng sinh khổ não, khiến cho họ đều được vui mừng lớn. Chúng sinh nghe được pháp của Phật nói, thì sẽ lìa khổ được vui, chấm dứt sinh tử, nếu hay tu đạo, thì có thể sinh về ba đường lành, còn chúng sinh đọa lạc trong ba đường ác sẽ giảm bớt, người hay tu nhẫn nhục, giữ năm giới tu thập thiện, thì ngày càng thêm nhiều. Bấy giờ, đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai im lặng nhận lời. Lại nữa, các Tỳ Kheo ! Ở phương nam, có năm trăm vạn ức cõi nước, các vị Đại Phạm Vương, đều thấy ánh sáng chiếu sáng cung điện của mình, từ xưa chưa từng có tướng điềm lành nầy, ai nấy đều vui mừng hớn hở, sinh tâm hy hữu, bèn cùng nhau tụ lại luận bàn việc nầy. Vì nhân duyên gì mà cung điện của chúng ta có ánh sáng nầy ? Lúc đó, trong chúng có một vị Đại Phạm Thiên Vương tên là Diệu Pháp, vì các Phạm chúng mà nói kệ rằng : Các cung điện chúng ta Ánh sáng chiếu sáng rực Đây là nhân duyên gì ? Tướng nầy phải tìm cầu. Trải qua trăm ngàn kiếp Chưa từng thấy tướng nầy Là trời đại đức sinh Hay là Phật ra đời? Lúc bấy giờ, Phật Ðại Thông Trí Thắng im lặng nhận lời. Phật bèn nói: ‘’Nầy các Tỳ Kheo ! Các Ðại Phạm Thiên Vương của năm trăm vạn ức cõi nước ở phương nam, ai nấy đều nhìn thấy cung điện của mình ánh sáng chiếu soi, từ trước chưa từng thấy qua tướng điềm lành nầy, do đó họ đều vui mừng hớn hở, sinh tâm ít có, đều tụ tập lại cùng nhau thảo luận về việc nầy : Vì nhân duyên gì mà cung điện của chúng ta có ánh sáng nầy ? Lúc đó, ở trong hội có một vị Ðại Phạm Thiên Vương tên là Diệu Pháp, vì chúng hội Ðại Phạm Thiên Vương mà nói ra bài kệ. Hiện nay cung điện của chúng ta ở, phát ra ánh sáng rất sáng rực, ánh sáng nầy chưa từng thấy qua, chắt chắn là có nhân duyên lớn, cho nên chúng ta phải đi tìm nhân duyên của tướng điềm lành nầy. Vì trong trăm ngàn kiếp quá khứ, chưa từng thấy qua tướng điềm lành nầy, đại khái là có bậc đức hạnh lớn, từ trên trời sinh xuống nhân gian, hoặc là có vị Phật xuất hiện ra đời. Bấy giờ, năm trăm vạn ức các vị Phạm Thiên Vương, đều mang theo cung điện của họ, và dùng túi y đựng đầy hoa trời, cùng nhau đi về phương bắc, tìm tướng ánh sáng đó, thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai, ngồi trên tòa sư tử, nơi Ðạo tràng dưới cội bồ đề. Chư thiên, Long vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân .v.v... thảy đều vây quanh, và thấy mười sáu vị vương tử đang thỉnh đức Phật chuyển bánh xe pháp. Lúc bấy giờ, các vị Ðại Phạm Thiên Vương của năm trăm vạn ức cõi nước ở phương nam, đều mang theo cung điện của họ, và y trời của họ, thảy đều đầy ắp hoa trời, thân thể đều phát ra đủ thứ hương thơm, đây là phước báu của họ, lần nầy họ cũng dùng túi y mang đầy đủ thứ hoa trời, cùng nhau đi về phương bắc, để tìm tướng ánh sáng đó, thấy đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, đang ngồi trên tòa sư tử, nơi Ðạo tràng dưới cội bồ đề, thành đạo mà phát ra vô lượng ánh sáng không thể nghĩ bàn nầy. Lúc đó, tất cả chư Thiên, Long Vương, Càn Thát Bà, (thần nhạc trời), Khẩn Na La (chim đại bàng cánh vàng), Ma Hầu La Già (đại mãng xà), người, chẳng phải người, hết thảy đều cung kính vây quanh Ðức Phật. Lại thấy mười sáu vị vương tử của Phật. Mười sáu vị vương tử nầy, đều đời đời kiếp kiếp phát nguyện làm con của Phật, hộ trì đạo tràng. Khi Phật thành đạo rồi, lại vì tất cả chúng sinh, thỉnh Phật chuyển bánh xe pháp, đó đều là một thứ nhân duyên thù thắng. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu quanh trăm ngàn vòng, bèn dùng hoa trời rải lên trên đức Phật. Hoa rải nhiều như núi Tu Di, cùng để cúng dường cây bồ đề của Phật. Cúng dường hoa rồi, ai nấy đều đem cung điện dâng lên cúng dường đức Phật đó, mà bạch Phật rằng : Cúi xin Phật thương xót, lợi ích cho chúng con, cung điện dâng cúng đây, xin Phật hãy nhận ở. Khi đó, các vị Phạm Thiên Vương ở trước đức Phật, một lòng đồng thanh nói bài kệ rằng. Bấy giờ, các vị Phạm Thiên Vương của năm trăm vạn ức cõi nước ở phương nam, thảy đều năm thể (đầu, hai tay, hai chân) sát đất, cung kính đảnh lễ Ðức Phật, nhiễu Phật trăm ngàn vòng, lại dùng hoa trời mà họ mang đến rải lên Ðức Phật, hoa rải nhiều như núi Tu Di, và họ còn cúng dường cây bồ đề của Phật. Cúng dường hoa rồi, họ lại dâng cung điện quý báu nhất của họ, để cúng dường đức Phật Ðại Thông Trí Thắng, sau đó nói : ‘’Cúi xin đức Thế Tôn đại từ bi thương xót chúng con, tất cả chúng sinh, lợi ích cho chúng con, cung điện của chúng con dâng cúng đây, xin Ðức Phật từ bi nhận lấy, thỉnh Ðức Phật vào ở trong cung điện nầy.’’ Lúc đó, tất cả Ðại Phạm Thiên Vương đều ở trước Phật, một lòng đồng thanh dùng kệ, để khen ngợi đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai. Thế Tôn rất khó gặp Bậc phá các phiền não Qua trăm ba mươi kiếp Nay mới gặp một lần. Các chúng sinh đói khác Đều thấm nhuần mưa pháp Xưa chưa từng gặp Phật Bậc vô lượng trí huệ. Như hoa ưu đàm bát Hôm nay mới gặp được Các cung điện chúng con Nhờ ánh sáng nghiêm sức. Thế Tôn đại từ mẫn Cúi xin hãy nhận ở. Trăm ngàn vạn kiếp rất khó gặp được Phật. Phật là bậc đại giác ngộ, đã phá trừ tất cả vô minh phiền não, tức cũng là bậc đại từ bi, hay phá tất cả phiền não của chúng sinh. Chúng con trải qua một trăm ba mươi đại kiếp đến nay, mới được gặp Phật, tất cả chúng sinh đói khác ở trong ba đường ác, đều được đượm nhuần mưa pháp của Phật, thuở xưa chưa từng gặp được Phật Pháp Tăng. Ðức Thế Tôn là bậc vô lượng vô biên đại trí huệ, như hoa Ưu Ðàm Bát chẳng dễ gì gặp được, mà chúng con nay gặp được Phật. Cung điện mà chúng con ưa thích đây, nay gặp được Phật, đều nguyện xả bỏ cung điện, nhờ quang minh của Phật trang nghiêm cung điện chúng con, thỉnh cầu đức Thế Tôn phát tâm đại từ bi thương xót, xin hãy nhận cung điện nầy. Bấy giờ, các vị Phạm Thiên Vương nói kệ khen đức Phật rồi, ai nấy đều bạch Phật rằng : Cúi xin đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp, khiến cho tất cả thế gian chư Thiên, ma vương, Phạm Vương, Sa môn, Bà la môn, đều được an ổn mà được giải thoát. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương một lòng đồng thanh, nói bài kệ rằng. Cúi xin Thiên Nhân Tôn Chuyển pháp luân vô thượng Đánh vang trống pháp lớn Thổi lên ốc pháp lớn. Rưới khắp mưa pháp lớn Độ vô lượng chúng sinh Chúng con đều thỉnh cầu Nói tiếng pháp sâu xa. Bấy giờ, tất cả các vị Ðại Phạm Thiên Vương dùng kệ khen ngợi Phật rồi, họ khác miệng cùng tiếng nói: ‘’Cúi xin Ðức Thế Tôn vì chúng con, tất cả chúng sinh, chuyển bánh xe diệu pháp, khiến cho tất cả thế gian, các Thiên chúng, ma, Phạm vương, Sa môn, Bà La môn, đều được an ổn và khoái lạc, và được thoát khỏi khổ ba đường ác‘’. Lúc đó, tất cả chúng Ðại Phạm Thiên Vương, một lòng đồng thanh dùng kệ để khen ngợi Phật : Chúng con cúi xin Phật Thế Tôn, được trời người tôn kính, vì chúng con chuyển bánh xe diệu pháp vô thượng, đánh trống pháp lớn, thổi ốc pháp lớn. Như âm thanh nầy sẽ vang khắp tận hư không, thậm chí chư Thiên ở trên trời, đều nghe được pháp âm nầy rất rõ ràng. Mưa pháp vũ xuống khắp mọi nơi, chỉ có pháp vi diệu của Phật, mới độ thoát được vô lượng vô biên chúng sinh. Chúng con thảy đều một lòng quy y Phật, thỉnh Phật chuyển bánh xe pháp, xin Phật hãy vì chúng con diễn nói pháp âm sâu xa nhất. Bấy giờ, đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai im lặng nhận lời. Phương tây nam cho đến phương dưới, cũng lại như thế. Bấy giờ, phương trên có năm trăm vạn ức cõi nước, các vị Đại Phạm Thiên Vương, đều tự thấy ánh sáng, chiếu sáng rực cung điện của mình, từ xưa chưa từng có, vui mừng hớn hở, sinh tâm hy hữu, đều tụ lại cùng nhau bàn về việc đó. Vì nhân duyên gì, mà cung điện của chúng ta có ánh sáng đó ? Lúc đó, ở trong chúng có một vị Đại Phạm Thiên Vương, tên là Thi Khí, vì các chúng Đại Phạm Thiên, mà nói bài kệ rằng. Nay bởi nhân duyên gì ? Các cung điện chúng ta Ánh sáng chiếu sáng rực Trang nghiêm chưa từng có. Diệu tướng lạ như thế Xưa nay chưa nghe thấy Là trời đại đức sinh Hay là Phật ra đời ? Bấy giờ, Phật Ðại Thông Trí Thắng im lặng nhận lời. Phương tây nam cho đến phương dưới cũng đều như thế. Lúc đó, phương trên có các vị Ðại Phạm Thiên Vương, của năm trăm vạn ức cõi nước, đều thấy tướng ánh sáng chiếu sáng cung điện của họ, từ xưa chưa từng có, thấy rồi rất vui mừng hớn hở, sinh tâm ít có. Họ đều muốn biết nguyên do cảnh giới thù thắng nầy, do đó các vị Ðại Phạm Thiên Vương cùng nhau tụ lại để thảo luận, vì nhân duyên gì mà cung điện của họ đều có ánh sáng nầy ? Lúc đó, ở trong hội đó có một vị Ðại Phạm Thiên Vương tên là Thi Khí, vì tất cả chúng Ðại Phạm Thiên mà nói ra bài kệ. Hiện nay, vì nhân duyên gì mà cung điện của chúng ta, được ánh sáng chiếu rực rỡ trang nghiêm từ xưa chưa từng có. Tướng tốt vi diệu nầy, xưa nay chúng ta chưa từng thấy qua, đại khái chắt là vị đại đức ở trên trời sinh xuống nhân gian, hoặc là có vị Phật xuất hiện ra đời. Khi đó, năm trăm vạn ức các vị Đại Phạm Thiên Vương, ai nấy đều mang theo cung điện của họ, và dùng túi y đựng đầy các hoa trời, cùng nhau đi về phương dưới, để tìm tướng đó. Thấy đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai, đang ngồi trên tòa sư tử, nơi Ðạo tràng dưới cội bồ đề. Chư thiên, Long vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân, thảy đều cung kính vây quanh đức Phật, và thấy mười sáu vị vương tử đang thỉnh đức Phật chuyển bánh xe pháp. Bấy giờ, ở phương trên có năm trăm vạn ức Ðại Phạm Thiên Vương, dùng kệ khen Ðức Phật rồi, họ bèn mang theo cung điện và dùng túi y đựng đầy đủ thứ hoa trời, cùng nhau đi về phương dưới để tìm nguyên nhân tướng nầy. Kết quả, họ thấy đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai đang ngồi trên tòa sư tử, nơi Ðạo tràng dưới cội bồ đề. Hết thảy tất cả chư Thiên, Long Vương, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân, thảy đều cung kính vây quanh đức Phật. Lại thấy mười sáu người con của đức Phật Ðại Thông Trí Thắng, đang thỉnh Phật chuyển bánh xe pháp. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương cúi đầu đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu quanh đức Phật trăm ngàn vòng, bèn dùng hoa trời rải lên trên đức Phật. Hoa rải nhiều như núi Tu Di, cũng dùng để cúng dường cây bồ đề của Phật, cúng dường hoa rồi, ai nấy đều đem cung điện dâng cúng dường đức Phật đó, mà bạch rằng : Cúi xin đức Phật thương xót lợi ích chúng con, cung điện dâng cúng đây xin đức Phật hãy nhận ở. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương ở trước đức Phật, một lòng đồng thanh nói bài kệ rằng. Bấy giờ, tất cả các vị Đại Phạm Thiên Vương đều đảnh lễ Ðức Phật, lại nhiễu quanh Ðức Phật trăm ngàn vòng, dùng hoa trời rải lên trên Ðức Phật, hoa rải cúng Phật vô lượng vô biên nhiều như núi Tu Di, chẳng những họ dùng hoa để cúng dường Phật, mà họ còn cúng dường cây Bồ đề của Phật. Dùng hoa cúng dường xong rồi, ai nấy đều đem cung điện quý báu nhất của họ, dâng lên cúng dường đức Phật Ðại Thông Trí Thắng mà bạch rằng: ‘’Chúng con một lòng xin Phật thương xót chúng con, lợi ích chúng con, chúng con nguyện làm công đức trồng phước ở trước Tam Bảo, xin Ðức Phật hãy nhận cung điện nầy để ở.’’ Lúc đó, các vị Ðại Phạm Thiên Vương ở trước Phật một lòng đồng thanh dùng kệ, để khen ngợi đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai. Lành thay gặp được Phật Đấng Thánh Tôn cứu đời Thường ở ngục tam giới Độ thoát các chúng sinh. Thiên Nhân Tôn trí khắp Thương xót loài quần mê Khai mở cửa cam lồ Rộng độ hết tất cả. Thuở xưa vô lượng kiếp Trải qua chẳng có Phật Khi Phật chưa ra đời Mười phương thường đen tối. Ba đường ác thêm nhiều A tu la cũng thịnh Chúng chư thiên bớt đi Chết nhiều đọa đường ác. Chẳng theo Phật nghe pháp Thường làm những việc ác. Chúng con cảm thấy may mắn muôn phần, được gặp Phật. Phật là đấng Thánh Tôn cứu vớt chúng sinh khổ ở thế gian, hay khiến tất cả chúng sinh thoát ra khởi dục giới, sắc giới, và vô sắc giới, ba cõi ngục tù liễu sinh thoát tử, lìa khổ được vui. Phật cũng là bậc Ðạo Sư đầy đủ đại trí huệ, từ bi, khắp hết thảy trời người, thương xót tất cả chúng sinh hữu tình vô tình, phát tâm đại từ bi, khai mở pháp môn cam lồ, khiến cho tất cả chúng sinh được nghe pháp yếu mà bỏ mê về giác. Phật là từ bi bình đẳng, cho nên rộng độ vô lượng Hằng hà sa số tất cả chúng sinh. Thuở xưa trải qua vô lượng vô biên đại kiếp, chưa từng có Phật xuất hiện ra đời. Lúc đó, mười phương thế giới đều một màng tối u ám chẳng có ánh sáng, chúng sinh đọa lạc vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh càng ngày càng nhiều, và đường A tu la cũng rất hưng thịnh, vì chúng sinh chỉ biết tạo nghiệp, chẳng làm mười điều lành, chỉ làm mười điều ác, cho nên chúng chư thiên càng ngày càng giảm bớt. Do đó, đủ thấy đa số chúng sinh chết rồi, đều đọa vào ba đường ác. Vì tất cả chúng sinh chưa từng thấy Phật, chưa từng nghe pháp, cho nên cũng chẳng biết tu hành như thế nào, chẳng biết giữ giới luật, rộng tu pháp lành, chỉ biết nhận giặc làm con, nhận đen làm trắng, tạo ra nhiều nghiệp ác, thì tự nhiên trồng xuống nhiều nhân ác. Sắc lực và trí huệ Thảy đều giảm bớt dần Vì tội nghiệp nhân duyên Mất vui cùng tưởng vui. Trụ trong pháp tà kiến Chẳng biết nghi tắc lành Chẳng nhờ Phật hóa độ Thường đọa trong đường ác. Phật là mắt thế gian Lâu xa mới xuất hiện Thương xót các chúng sinh Nên mới hiện ra đời. Vượt khỏi thành chánh giác Chúng con rất sung sướng Và các chúng sinh khác Vui mừng chưa từng có. Các cung điện chúng con Nhờ ánh sáng trang nghiêm Nay đem dâng Thế Tôn Xin hãy thương nhận ở. Nguyện đem công đức nầy Hồi hướng khắp tất cả Chúng con và chúng sinh Ðều cùng thành Phật đạo. Do đó, chúng con thể suy lực yếu, trí huệ cũng ngày càng giảm bớt, đó đều do nhân duyên tạo ra quá nhiều tội ác. Tự tính vốn an lạc cũng mất đi, lạc vào tà tri tà kiến, chẳng biết thiện tri thức, chẳng được Phật giáo hóa, đời đời kiếp kiếp đều luân hồi ở trong ba đường ác. Phật là thiện tri thức mắt sáng của chúng ta, lâu xa nhiều kiếp mới xuất hiện ra đời. Phật vì thương xót tất cả chúng sinh mà xuất hiện ra đời, tu đạo được thành chánh giác. Chúng con và tất cả chúng sinh đều rất sung sướng, từ xưa chưa từng vui mừng và khen ngợi như thế. Cung điện của chúng con, nhờ ánh sáng của Phật chiếu sáng trang nghiêm hơn so với lúc trước, cho nên hiện nay chúng con xin dâng lên cúng dường Ðức Phật, xin Phật từ bi nhận sự cúng dường nầy của chúng con, và phát nguyện đem công đức nầy, hồi hướng khắp tất cả pháp giới chúng sinh, nguyện chúng con và tất cả chúng sinh, đều cùng thành Phật đạo. Khi đó, năm trăm vạn ức các vị Phạm Thiên nói kệ khen đức Phật rồi, ai nấy đều bạch Phật rằng : Cúi xin đức Thế Tôn chuyển bánh xe pháp, được nhiều sự an ổn, được nhiều sự độ thoát. Lúc đó, các vị Phạm Thiên Vương bèn nói bài kệ rằng : Thế Tôn chuyển pháp luân Ðánh trống pháp cam lồ Ðộ chúng sinh khổ não Mở bày đường Niết Bàn. Cúi xin nhận con thỉnh Dùng âm thanh vi diệu Thương xót mà diễn nói Pháp tu vô lượng kiếp. Lúc đó, năm trăm vạn ức các vị Phạm Thiên Vương, dùng kệ khen ngợi Phật rồi, cùng nhau bạch Phật rằng : ‘’Cúi xin đức Thế Tôn, hãy vì chúng con chuyển bánh xe pháp, khiến cho chúng con được an ổn và giải thoát‘’. Lúc ấy, tất cả Ðại Phạm Thiên Vương dùng kệ để khen ngợi Ðức Phật. Chúng con và tất cả chúng sinh, đều thỉnh cầu Ðức Phật chuyển bánh xe diệu pháp, như đánh lên trống pháp cam lồ, để độ thoát tất cả chúng sinh trong ba đường ác, mở bày cho chúng con con đường tu thành Phật không sinh không diệt. Cúi xin đức Thế Tôn hãy nhận lời thỉnh cầu của chúng con, dùng âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn của Ngài, vì chúng con thuyết pháp, và thỉnh cầu đức Thế Tôn thương xót chúng con, mà diễn nói pháp môn tu thành Phật đạo của Phật, tích tập trí huệ tư lương từ vô lượng kiếp đến nay. Bấy giờ, đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, nhận lời thỉnh cầu của các vị Phạm Thiên Vương trong mười phương, và mười sáu vị vương tử, lập tức ba lần chuyển bánh xe pháp mười hai hành. Dù Sa môn, Bà la môn, hoặc chư Thiên, ma vương, Phạm vương, và các thế gian khác, không thể chuyển được. Ðây là khổ, là khổ tập, là khổ diệt, là khổ diệt đạo, và pháp độ thoát mười hai nhân duyên : Vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sinh, sinh duyên lão tử ưu bi khổ não. Vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sinh diệt, sinh diệt thì lão tữ ưu bi khổ não diệt. Lúc đó, đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, nhận lời thỉnh cầu của mười phương năm trăm vạn ức các vị Ðại Phạm Thiên Vương, và mười sáu vị vương tử, lập tức trước hết nói về pháp Tứ Diệu Ðế, vì Tứ Diệu Ðế mỗi đế chuyển ba lần, cộng lại thành mười hai lần, nên gọi là ba lần chuyển bánh xe pháp tứ đế mười hai hành. Chuyển làn thứ nhất gọi là thị chuyển, tức là nói với chúng ta : - Ðây là khổ, tính bức bách. - Ðây là tập, tính chiêu cảm. - Ðây là diệt, tính khả chứng. - Ðây là đạo, tính khả tu. Chuyển lần thứ hai gọi là khuyến chuyển, tức là khuyên chúng ta : - Ðây là khổ, ông nên biết. - Ðây là tập, ông nên đoạn. - Ðây là diệt, ông nên chứng. - Ðây là đạo, ông nên tu. Chuyển lần thứ ba gọi là chứng chuyển : - Ðây là khổ, ta đã biết. - Ðây là tập, ta đã đoạn. - Ðây là diệt, ta đã chứng. - Ðây là đạo, ta đã tu. Bất cứ là Sa Môn, Bà la môn, chư Thiên, ma vương, Ðại Phạm Thiên Vương, thậm chí tất cả thiên ma ngoại đạo, đều không thể chuyển được bánh xe pháp Tứ Diệu Ðế, chỉ có Phật mới có phương tiện nầy, pháp được nói ra tức là : Khổ, tập, diệt, đạo. Bốn pháp nầy lại có khổ pháp nhẫn, khổ pháp tập, tập pháp nhẫn, tập pháp tập, diệt pháp nhẫn, diệt pháp tập, đạo pháp nhẫn, đạo pháp diệt, cho nên gọi là bát nhẫn pháp tập. Phật lại rộng nói mười hai nhân duyên, tức là: Vô minh duyên hành Hành duyên thức Thức duyên danh sắc Danh sắc duyên lục nhập Lục nhập duyên xúc Xúc duyên thọ Thọ duyên ái Ái duyên thủ Thủ duyên hữu Hữu duyên sinh Sinh duyên lão tử ưu bi khổ não. Chúng sinh đều thuận theo dòng nầy mà sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh. Vẫn có cửa diệt: Vô minh diệt thì hành diệt Hành diệt thì thức diệt Thức diệt thì danh sắc diệt Danh sắc diệt thì lục nhập diệt Lục nhập diệt thì xúc diệt Xúc diệt thì thọ diệt Thọ diệt thì ái diệt Ái diệt thì thủ diệt Thủ diệt thì hữu diệt Hữu diệt thì sinh diệt Sinh diệt thì chẳng có già chết, lo sầu khổ đau cũng diệt. Pháp của hàng Thanh Văn tu, là pháp Tứ Diệu Ðế, pháp của hàng Duyên Giác tu, là pháp mười hai nhân duyên. Khi đức Phật ở trong đại chúng trời người nói pháp đó, thì có sáu trăm vạn ức Na do tha người, vì chẳng thọ tất cả các pháp, nên ở nơi các lậu, tâm được giải thoát, đều được thiền định thâm sâu vi diệu, ba minh sáu thông, đủ tám giải thoát. Khi nói pháp lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, thì có ngàn vạn ức Hằng hà sa Na do tha chúng sinh, cũng vì chẳng thọ tất cả các pháp, nên ở nơi các lậu, tâm được giải thoát. Từ đó về sau, các chúng Thanh Văn vô lượng vô biên không thể tính đếm. Ðức Phật vì năm trăm vạn ức chư thiên, các vị Ðại Phạm Thiên Vương, và trăm ngàn vạn ức bất khả tư nghì Hằng hà sa số chúng sinh nói pháp Tứ Diệu Ðế, và pháp mười hai nhân duyên, thì có sáu trăm vạn ức Na do tha người, đều đã xả bỏ tất cả pháp ác, nên đắc được tất cả pháp lành vô lậu. Lậu là gì ? Chín lỗ trong thân thể chúng ta, thường thải ra vật dơ dáy cũng thuộc về lậu, như dưới đáy ly có lủng lỗ thì không thể chứa đầy nước được. Tất cả chúng sinh đều có tám vạn bốn ngàn các lậu, lậu lớn nhất là tham sân si mạn nghi. Có đủ thứ lậu nầy, thì sinh ra phiền não, có phiền não thì sinh ra vô minh, có vô minh thì chẳng có trí huệ. Nếu ai trừ khử sạch vô minh thì trí huệ Bát nhã sẽ hiện tiền, nếu ai đoạn sạch phiền não, thì biến phiền não thành Bồ đề. Lúc đó, thân tâm đều được giải thoát, gọi là được lậu tận (sạch lậu). Do sạch hết lậu mà chứng được thiền định nầy, chẳng phải do từ bên ngoài đến, phải do tự tính tự nhập, tự tính tự độ, tự tu tự liễu, cho nên chẳng cần truy cầu bên ngoài. Bổn địa phong quang của chúng ta, trí huệ vốn có, đều ở trong tự tính của mỗi người, do đó thiền định tức là đắc được sự tĩnh lự, tiếng Phạn gọi là thiền na, dịch là "tư duy tu", ai đắc được thiền định, thì sẽ đắc được ba minh : Thiên nhãn minh, túc mạng minh, lậu tận minh (tất cả tập khí mao bệnh đều chẳng còn nữa, cho nên đoạn tận ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh). Bấy giờ, mười sáu vị vương tử, đều là đồng tử xuất gia làm Sa di, các căn lanh lợi, trí huệ sáng suốt, đã từng cúng dường trăm ngàn vạn ức các đức Phật, tu phạm hạnh thanh tịnh, cầu quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc đó, mười sáu vị vương tử, đều còn là đồng tử mà xuất gia làm Sa di. Sáu căn của các Ngài đều lanh lợi, trí huệ rất sáng suốt, ở trong quá khứ đã từng cúng dường trăm ngàn vạn ức các Ðức Phật, đều tu phạm hạnh thanh tịnh, một lòng cầu quả vị vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðều bạch đức Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Vô lượng ngàn vạn ức các đại đức Thanh Văn đó, đều đã thành tựu, đức Thế Tôn cũng nên vì chúng con nói pháp Vô thượng chánh đẳng chánh giác, chúng con nghe rồi đều cùng tu học. Ðức Thế Tôn ! Chúng con chí nguyện đắc được tri kiến của Như Lai, trong thâm tâm nghĩ gì, đức Phật tự chứng biết. Lúc đó, tám vạn ức người trong chúng của vua Chuyển luân thánh vương dẫn đến, thấy mười sáu vị vương tử xuất gia, cũng xin xuất gia, vua bèn chấp nhận. Mười sáu vị Sa di đó, tức là mười sáu người con của đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, đều cùng nhau theo Phật xuất gia tu đạo. Các Ngài và năm trăm vạn ức Ðại Phạm Thiên Vương và trăm ngàn vạn ức trời người hết thảy đại chúng đồng thanh nói : ‘’Ðức Thế Tôn ! Hiện tại, có vô lượng ngàn vạn ức chúng đại Thanh Văn ở trong đạo tràng nầy, ở trong quá khứ các Ngài đều đã từng làm rất nhiều công đức và việc lành, cho nên đầy đủ vô lượng phước đức. Song, hiện tại còn sinh tâm hoài nghi, mình đã chứng được quả vị Niết Bàn chưa ? Ðức Thế Tôn ! Ngài hãy vì chúng con, tất cả hàng Thanh Văn nói pháp Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác của Phật, để chúng con cũng cùng nhau hướng về đại đạo Niết bàn. Chúng con nghe pháp của Phật nói rồi, sẽ cùng nhau y theo pháp tu hành. Ðức Thế Tôn ! Hết thảy hàng Thanh Văn chúng con, có một chí nguyện là nguyện được chánh tri chánh kiến của Phật. Phật sớm đã biết, cho nên mong rằng Phật phát tâm đại từ bi thương xót chúng con, tất cả chúng sinh, mà nói pháp vi diệu vô thượng nầy.’’ Lúc đó, tám vạn ức người do vua Chuyển Luân Thánh Vương (cha của Phật Ðại Thông Trí Thắng) thống lãnh đến chỗ Ðức Phật, thấy mười sáu vị vương tử phát tâm xả bỏ đất nước của cải, để xuất gia tu đạo cũng phát tâm muốn xuất gia tu đạo. Lúc đó, vua Chuyển Luân Thánh Vương cũng rất vui mừng đáp ứng yêu cầu của họ. Vua Chuyển Luân Thánh Vương thấy họ thành tâm tu đạo, cũng phát tâm làm hộ pháp cho họ, cúng dường cho họ, nào là các đồ ăn uống, quần áo, thuốc thang, mền chiếu .v.v. Bấy giờ ! Ðức Phật đó nhận lời thỉnh cầu của các vị Sa di, trải qua hai vạn kiếp sau, mới ở trong bốn chúng nói Kinh Ðại Thừa nầy, tên là Diệu Pháp Liên Hoa, pháp giáo hóa Bồ Tát, được Phật hộ niệm. nói kinh nầy rồi, mười sáu vị Sa di đều vì quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác, mà cùng nhau thọ trì đọc tụng thông thuộc. Lúc đó, đức Ðại Thông Trí Thắng Như Lai, thọ nhận lời thỉnh pháp của mười sáu vị Sa di, trải qua hai vạn kiếp sau, Ngài mới ở trước bốn chúng : Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, nói bộ kinh đại thừa nầy tên là Diệu Pháp Liên Hoa. Pháp nầy giáo hoá Bồ Tát tu học pháp đại thừa, được Phật hộ niệm. Khi Phật nói ra bộ kinh nầy rồi, thì mười sáu vị Sa di lập tức tu đến quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Các Ngài đều một lòng thọ trì Kinh Pháp Hoa, và còn đọc tụng thuộc làu thông suốt, vì người giảng nói. Lúc nói kinh đó, thì mười sáu vị Bồ Tát Sa di đều tin nhận thọ trì, trong chúng hàng Thanh Văn cũng có người tin hiểu. Ngoài ra, ngàn vạn ức loại chúng sinh đều sinh tâm nghi hoặc. Ðức Phật nói kinh đó, suốt tám ngàn kiếp chưa từng ngừng nghỉ, nói kinh đó rồi, bèn vào tịnh thất, trụ trong thiền định tám vạn bốn ngàn kiếp. Lúc Ðức Phật Ðại Thông Trí Thắng nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy, thì mười sáu vị Sa di đều vui mừng tin nhận thọ trì. Ở trong chúng hàng Thanh Văn, có những người nghe được pháp của Phật nói, đều khoát nhiên đại ngộ, song cũng có ngàn vạn ức loại chúng sinh tâm còn nghi hoặc. Phật Ðại Thông Trí Thắng nói bộ kinh nầy, trải qua tám ngàn đại kiếp thời gian lâu dài như thế, mà chưa từng ngừng nghỉ. Chắc chắn một số người sẽ nghĩ : Tại sao Phật Ðại Thông Trí Thắng, phải trải qua tám ngàn kiếp mới nói xong Kinh Pháp Hoa nầy, mà Phật Thích Ca Mâu Ni bất quá chỉ tốn tám năm, thì nói xong bộ Kinh Pháp Hoa nầy ? Ðây bất quá chỉ là tri kiến của chúng sinh, phân biệt ra thời gian dài ngắn. Trên thật tế, thì Bồ Tát vì hay dùng sức trí huệ, cho nên nhỏ làm lớn được, lớn làm nhỏ được, dùng ngàn vạn kiếp làm một ngày, và dùng một ngày làm vô lượng kiếp, hà huống là Phật ? Vốn chẳng có dài cũng chẳng có ngắn, hay dài cũng hay ngắn, mà là chúng sinh dùng tâm thức để phân biệt tất cả các pháp. Cho nên nói, Phật Ðại Thông Trí Thắng và Phật Thích Ca Mâu Ni đồng nói một bộ Kinh Pháp Hoa. Khi Phật Ðại Thông Trí Thắng nói xong bộ kinh nầy, thì Ngài vào thiền định, trụ ở trong thiền định tám vạn bốn ngàn đại kiếp. Lúc đó, mười sáu vị Bồ Tát Sa di, biết đức Phật nhập thất vắng lặng ở trong thiền định, ai nấy đều lên pháp tòa, cũng trải qua tám vạn bốn ngàn kiếp, vì bốn chúng rộng nói phân biệt Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Mỗi vị đều độ sáu trăm vạn ức Na do tha Hằng hà sa chúng sinh, mở bày giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ được lợi ích và vui mừng phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lúc đó, mười sáu vị Bồ Tát Sa Di biết Phật đã nhập cảnh giới như như bất động, liễu liễu thường minh, mới phát tâm vì Phật hoằng dương bộ Kinh Pháp Hoa nầy, bắt đầu đăng lên pháp tòa diễn nói kinh nầy. Các Ngài trải qua tám vạn bốn ngàn kiếp, vì hết thảy hàng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, phân biệt rộng nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, độ thoát sáu trăm vạn ức Na do tha Hằng hà sa chúng sinh, mở bày giáo hóa tất cả chúng sinh, khiến cho họ được lợi ích vui mừng, phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ðức Phật Ðại Thông Trí Thắng trải qua tám vạn bốn ngàn kiếp, rồi từ tam muội dậy, đi đến pháp tòa, ngồi ngay thẳng bảo khắp đại chúng : Mười sáu vị Bồ Tát Sa di nầy, rất là hy hữu, các căn lanh lợi, trí huệ sáng suốt, đã từng cúng dường vô lượng ngàn vạn ức các đức Phật. Ở chỗ chư Phật thường tu phạm hạnh, thọ trí huệ của Phật, mở bày cho chúng sinh, cũng khiến cho họ được như thế. Trải qua tám vạn bốn ngàn kiếp sau, Phật Ðại Thông Trí Thắng từ tam muội xuất định, đi đến pháp tòa của Ngài ngồi ngay thẳng, bảo các đại chúng: ‘’Mười sáu vị Bồ Tát Sa di nầy, rất là hy hữu, sáu căn đều dụng với nhau, sáng suốt thông đạt tất cả các pháp, ở trong quá khứ, đã từng cúng dường vô lượng ngàn vạn ức các Ðức Phật, trồng gốc công đức. Ở tại đạo tràng của mỗi vị Phật, thường tu tập phạm hạnh thanh tịnh, thường thọ trì trí huệ của chư Phật, nguyện mở bày giáo hóa tất cả chúng sinh, cùng đắc được trí huệ quang minh viên dung vô ngại.’’ Các ông đều phải gần gũi cúng dường các vị ấy. Tại sao ? Vì nếu hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật, và các Bồ Tát đó, tin kinh pháp của mười sáu vị Bồ Tát nầy nói, thọ trì chẳng sinh tâm hủy báng, thì người đó, sẽ được trí huệ Vô thượng chánh đẳng chánh giác của Như Lai. Phật bảo đại chúng: ‘’Sở dĩ các ông nên thường gần gũi cúng dường mười sáu vị Bồ Tát Sa Di, là vì, nếu như có hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật, hoặc các đại Bồ Tát, tin thọ pháp của mười sáu vị Bồ Tát Sa di nầy nói, y theo pháp tu hành, chẳng sinh tâm hủy báng, thì những người như thế, đều sẽ thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khai mở đại trí huệ của Phật.’’ Ðức Phật bảo các Tỳ Kheo : Mười sáu vị Bồ Tát nầy, thường ưa thích diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy. Mỗi vị Bồ Tát, giáo hóa sáu trăm vạn ức Na do tha Hằng hà sa chúng sinh. Ðời đời sinh ra đều gặp các vị Bồ Tát nầy, theo các Ngài nghe pháp, thảy đều tin hiểu. Nhờ nhân duyên đó, được gặp bốn vạn ức các đức Phật Thế Tôn, đến nay vẫn chưa hết. Phật lại bảo các chúng Tỳ Kheo: ‘’Mười sáu vị Bồ Tát Sa Di nầy, rất thích nói Kinh Pháp Hoa nầy, các Ngài mỗi vị đều giáo hóa sáu trăm vạn ức Na do tha Hằng hà sa chúng sinh, khiến cho tất cả chúng sinh đều phát hoằng nguyện, đời đời kiếp kiếp muốn theo các Ngài tu đạo, và đích thân nghe Phật vì họ giải nói bộ kinh nầy, nhờ nhân duyên đó, mà được gặp bốn vạn ức các Ðức Phật Thế Tôn đồng tu một chỗ. Như hôm nay các Ngài còn dùng diệu pháp đại thừa lợi ích chúng sinh, viên mãn thệ nguyện của các Ngài.’’ Các Tỳ Kheo ! Nay ta nói với các ông : Mười sáu vị Sa di đệ tử của đức Phật đó, đều đã được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác, hiện đang nói pháp ở trong cõi nước mười phương. Có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng Bồ Tát, và Thanh Văn làm quyến thuộc. Hai vị làm Phật ở phương đông, vị thứ nhất hiệu là A Súc, ở nước Hoan Hỉ. Vị thứ hai hiệu là Tu Di Ðỉnh. Hai vị Phật ở phương đông nam, một vị hiệu là Sư Tử Âm, vị thứ hai hiệu là Sư Tử Tướng. Này các Tỳ Kheo ! Nay tôi phải nói với các vị, mười sáu vị Sa di của Phật Ðại Thông Trí Thắng, sớm đã chứng được quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, hiện nay đều đang thuyết pháp ở trong cõi nước mười phương, có vô lượng trăm ngàn vạn ức Bồ Tát và Thanh Văn làm quyến thuộc của các Ngài. Có hai vị Sa Di thành Phật, ở phương đông, vị thứ nhất hiệu là A Súc. A Súc là tiếng Phạn, dịch là "Bất động tôn", tức là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Ðức Phật nầy thành tựu Phật đạo ở nước Hoan Hỉ. Vị Sa Di thứ hai hiệu là Tu Di Ðỉnh. Lại có hai vị Sa Di thành Phật ở phương đông nam, vị thứ nhất hiệu là Sư Tử Âm Phật, vị thứ hai hiệu là Sư Tử Tướng Phật. Hai vị Phật ở phương nam, vị thứ nhất hiệu là Hư Không Trụ, vị thứ hai hiệu là Thường Diệt. Hai vị Phật ở phương tây nam, vị thứ nhất hiệu là Ðế Tướng, vị thứ hai hiệu là Phạm Tướng. Hai vị Phật ở phương tây, vị thứ nhất hiệu là A Di Ðà, vị thứ hai hiệu là Ðộ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não. Hai vị Phật ở phương tây bắc, vị thứ nhất hiệu là Ða Ma La Bạt Chiên Ðàn Hương Thần Thông, vị thứ hai hiệu là Tu Di Tướng. Hai vị Phật ở phương bắc, vị thứ nhất hiệu là Vân Tự Tại, vị thứ hai hiệu là Vân Tự Tại Vương. Vị Phật ở phương đông bắc hiệu là Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy, vị Phật thứ mười sáu chính là ta Thích Ca Mâu Ni Phật, ở cõi Ta Bà, thành quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Hai vị Sa Di thành Phật ở phương nam, một vị hiệu là Hư Không Trụ, một vị hiệu là Thường Diệt. Hai vị thành Phật ở phương tây nam, một vị hiệu là Ðế Tướng Phật, một vị hiệu là Phạm Tướng Phật. Phương tây cũng có hai vị Phật, một vị hiệu là A Di Ðà Phật. A Di Ðà là tiếng Phạn, dịch là "Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang", tức là trí huệ và phước đức của Ngài vô lượng vô biên, một vị hiệu là Ðộ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não Phật. Lại có hai vị Sa Di thành Phật ở phương tây bắc, một vị hiệu là Ða Ma La Bạt Chiên Ðàn Hương Thần Thông. Ða Ma La Bạt là tiếng Phạn, dịch là "Tính vô cấu hiền", tức là ví dụ Ngài như một vị Thánh Hiền tự tính chẳng có trần cấu. Chiên đàn hương là một thứ hương, một vị hiệu là Tu Di Tướng Phật. Hai vị Sa Di thành Phật ở phương bắc, một vị hiệu là Vân Tự Tại Phật, một vị hiệu là Vân Tự Tại Vương Phật. Vị Phật ở phương đông bắc hiệu là Hoại Nhất Thiết Thế Gian Bố Úy Phật. Vị Sa Da Di thứ mười sáu, tức là ta Thích Ca Mâu Ni Phật, thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác ở cõi Ta Bà. Các Tỳ Kheo ! Lúc chúng ta làm Sa di, thì mỗi người giáo hóa vô lượng trăm ngàn vạn ức Hằng hà sa chúng sinh, theo ta nghe pháp, vì đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Những chúng sinh đó, nay có người trụ ở bậc Thanh Văn. Ta thường giáo hóa đạo Vô thượng chánh giác, những người đó nhờ pháp nầy, mà dần dần vào Phật đạo. Tại sao ? Vì trí huệ của Như Lai khó tin khó hiểu. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại nói với các Tỳ Kheo, khi chúng ta làm Sa Di, thì mỗi người đã giáo hóa vô lượng trăm ngàn vạn ức Hằng hà sa số chúng sinh. Những chúng sinh đó, theo chúng ta nghe pháp, bèn hướng về đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Theo căn tính khác nhau của họ, hoặc chậm hoặc mau, song sẽ đều đạt đến đại giác viên mãn cứu kính. Những chúng sinh đó, trong đó có những vị đã trụ ở bậc Thanh Văn, ta cũng thường giáo hóa họ hướng về quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, khiến cho họ dần dần đều vào Phật đạo. Tại sao ? Vì trí huệ của Như Lai khó tin khó hiểu. Khó tin nên chẳng dễ gì tu, khó hiểu nên chẳng dễ gì chứng quả. Vô lượng Hằng hà sa chúng sinh được giáo hóa thuở đó, tức là hàng Tỳ Kheo các ông. Sau khi ta diệt độ rồi, ở đời vị lai hàng đệ tử Thanh Văn cũng vậy. Ta diệt độ rồi, lại có đệ tử chẳng nghe kinh nầy, chẳng biết chẳng hay sở hành của Bồ Tát, tự ở nơi công đức của mình được, tưởng là diệt độ sẽ vào Niết bàn. Ta thành Phật ở nước khác, bèn có tên khác, người đó tuy tưởng là diệt độ vào Niết Bàn, mà ở cõi kia cầu trí huệ của Phật được nghe kinh nầy, chỉ dùng Phật thừa mà được diệt độ, chẳng có thừa nào khác, trừ khi các đức Như Lai phương tiện thuyết pháp. Chúng ta giáo hóa vô lượng chúng sinh như số cát sông Hằng thuở đó, tức là hàng Tỳ Kheo các ông, sau khi ta diệt độ rồi, hàng Tỳ Kheo Thanh Văn ở đời vị lai cũng sẽ chứng được quả A La Hán. Phật pháp đều nói về nhân quả, nếu chẳng có nhân, thì chẳng có quả. Trước khi Ðức Phật Thích Ca chưa thành Phật, đã giáo hóa vô lượng chúng sinh. Mỗi lần ra đời, thì hiện thân Tỳ Kheo đi khắp nơi hoàng dương Phật pháp, giảng kinh thuyết pháp, khiến cho những chúng sinh đó tín ngưỡng, họ cảm thấy Phật còn thân thiết hơn cha mẹ của họ, bèn phát nguyện thường theo vị ‘’pháp thân cha mẹ’’ nầy. Ðức Phật Thích Ca dùng tâm đại từ bi bình đẳng, nhiếp thọ chúng sinh, pháp duyên của Ngài ngày càng tăng rộng, quả vị ngày càng cao lớn, cho nên cuối cùng hôm nay công thành đức tựu, thành Phật đạo, đệ tử của Ngài với Ngài túc duyên rất sâu. Họ đời đời kiếp kiếp đều theo Phật chuyển pháp luân, ủng hộ Phật pháp. Khi Phật thành Phật, thì đệ tử của Ngài đều đến ủng hộ. Vạn sự vạn vật đều nhờ duyên mới sinh. Cho nên trong Phật giáo có câu rằng : ‘’Chư pháp tùng duyên khởi, Chư pháp tùng duyên diệt, Ngã Phật đại sa môn, Thường tác như thị thuyết‘’. Nghĩa là : ‘’Các pháp do duyên sinh, Các pháp do duyên diệt, Phật của ta là Sa môn, Thường hay nói như thế‘’. Ðức Phật tiếp tục nói : Sau khi ta diệt độ, vẫn có đệ tử chẳng nghe bộ Kinh Pháp Hoa nầy, vì họ thích tiểu thừa, cho nên đối với pháp đại thừa Bồ Tát, họ chẳng biết chẳng hay. Song, do công đức của họ làm được, hoặc công đức do sự ngồi thiền họ tưởng là được diệt độ sẽ vào Niết Bàn, hoặc họ sẽ chứng được quả vị quyền xảo phương tiện, tức hữu dư Niết Bàn, mà cho rằng đây là giải thoát cứu kính. Khi ta ở nước khác thành Phật, thì có danh hiệu khác. Những hàng Thanh Văn nầy, tuy nghĩ là diệt độ, cho rằng mình đã nhập Niết Bàn (cảnh giới không sinh không diệt), mà ở cõi kia cầu trí huệ của Phật, được nghe kinh nầy. Song, nhờ họ ở cõi nước kia cầu trí huệ của Phật, cũng nghe được bộ kinh nầy. Chỉ dùng một Phật thừa mà được diệt độ, chứ chẳng có thừa nào khác, chỉ một Phật thừa mới là chân chánh Niết bàn, mà chẳng phải hàng Thanh Văn rơi vào một bên lý không, trừ khi các Ðức Như Lai phương tiện thuyết pháp, có khi Phật cũng dùng pháp môn phương tiện để giác ngộ chúng sinh, song quy về nguồn gốc vẫn chỉ là một Phật thừa, chẳng có thừa nào khác. Các Tỳ Kheo ! Nếu đức Như Lai tự biết giờ Niết Bàn sắp đến, đại chúng lại thanh tịnh, tâm tin hiểu vững chắc, thông đạt pháp không, vào sâu thiền định, bèn tụ tập các chúng Bồ Tát, và Thanh Văn để nói kinh nầy, thế gian chẳng có hai thừa mà được diệt độ, chỉ một Phật thừa được diệt độ thôi. Các vị Tỳ Kheo ! Giả sử Phật biết mình sắp vào Niết Bàn, hết thảy đại chúng đều được thanh tịnh, tâm tin hiểu vững chắc, thông đạt tất cả các pháp không tướng, vào thiền định thâm sâu, bèn chiêu tập tất cả Bồ Tát và hàng Thanh Văn, để Phật nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy. Vì trên thế gian hết thảy ai muốn tu Phật thừa, thì không thể dùng pháp nhị thừa tu mà được diệt độ. Diệt độ của hàng nhị thừa chảng phải chân chánh diệt độ, chỉ có tu Phật thừa mới thật sự được diệt độ của Phật và quả vị. Các Tỳ Kheo nên biết ! Ðức Như Lai phương tiện sâu vào tánh của chúng sanh, biết chí của họ thích pháp nhỏ, chấp sâu năm dục, vì những người đó nói Niết Bàn, nếu họ nghe thì liền tin nhận thọ trì. Phật lại nói : ‘’Hết thảy hàng Tỳ Kheo các ông hãy triệt để hiểu rõ, pháp của Như Lai nói là pháp quyền xảo phương tiện, vì căn tính của tất cả chúng sinh chẳng giống nhau, có kẻ lợi căn, có kể độn căn. Nếu một khi bắt đầu thuyết pháp chân thật đối với người độn căn, thì họ chẳng thể nào tiếp thọ và tin được, cho nên ta dùng pháp môn phương tiện để giáo hóa họ. Vì pháp môn phương tiện của Phật, vốn hợp với tất cả chúng sinh mà làm một, cho nên tất cả chúng sinh có cơ duyên phương tiện nầy, tâm chí của họ chỉ biết phương pháp và đạo lý nhỏ nhỏ, nếu nói về đạo lý vũ trụ thâm áo cho họ nghe, thì họ chẳng hiểu. Hàng nhị thừa thường đều chấp trước vào cảnh giới năm dục: Tài, sắc, danh, thực, thùy. 1. Tiền tài mua sắm được mọi vật, cho nên ai ai cũng đều buông xả chẳng đặng tiền tài. Nếu coi tiền tài như rắn độc, thì chẳng tham cầu nó, con người không nên vì tiền tài mà phát sinh đấu tranh. Có một bài kệ hình dung về tiền rất là hay : ‘’Nhị qua tranh kim sát khí cao, Nhân nhân nhân tha phạm lao thao. Nhược hội dụng giả xuất tam giới, Bất hội dụng giả nghiệt nan đào‘’. Chữ tiền (钱) có hai cái mác (戋), giống như hai người cầm mác giành giựt vàng, lại có thể nói hai người động thủ bằng mác tranh vàng. Tiền có thể đưa đến cho con người rất nhiều phiền não, thế mà một số người vẫn coi tiền như mạng sống, tham chẳng biết chán, nếu người biết dùng tiền, thì có thể vượt khỏi ba cõi, người chẳng biết dung, thì tạo ra rất nhiều tội nghiệp. 2. Sắc dục, tức là sắc đẹp. 3. Danh dục : Tức là tham danh, tham tiếng tốt, thích người khác ca tụng, nếu bị người hủy nhục, thì như trăm cây kim đâm vào tim, coi danh vọng trọng hơn bất cứ những gì. 4 Thực dục : Thích ăn vật ngon. Nhất là người tu đạo không coi trọng vật ăn, nên coi vật ăn như thuốc hay, để duy trì thân thể nầy khỏi bị khô gầy mà tu đạo nghiệp. 5 Thùy dục : Có người thích ngủ, cảm thấy ngủ càng nhiều càng tốt, song càng ngủ càng mê, biến thành ngu muội tối tăm, do đó : "Tài sắc danh thực thùy, Như địa ngục năm căn", Một khi ngủ thì ngàn năm chẳng nghe danh hiệu Phật. Hàng nhị thừa bị năm thứ dục niệm nầy chi phối, cho nên vẫn chưa đến bậc bất sinh bất diệt, ta vì họ nói pháp nhị thừa (bốn diệu đế) và mười hai nhân duyên, chỉ bất quá khiến cho họ tâm tính vui mừng, mà tinh tấn tu hành. Thật tế thì chứng được quả vị nhị thừa, vẫn chưa đắc được cảnh giới chân chánh Niết Bàn, có khác nào ở xa trông quả mơ mà hết khác, phải biết bánh vẽ không thể no được. Ví như đường dữ hiểm nạn, dài năm trăm do tuần, chốn ghê sợ hoang vắng không người. Nếu có đông người muốn đi qua đường hiểm đó, đến chỗ châu báu. Có một vị Ðạo sư trí huệ sáng suốt, khéo biết rõ tướng thông bít của con đường, dắt mọi người muốn vượt qua hiểm nạn nầy. Mọi người được dắt đi giữa đường lười mỏi, bèn bạch với Ðạo sư rằng : Chúng con rất mệt nhọc, lại thêm sợ sệt không thể đi thêm được nữa, đường ở trước còn dài, nay chúng con muốn lui về. Ví như có một đoạn đường dài năm trăm do tuần (bốn vạn dặm), phàm ai muốn đi qua con đường nầy, sẽ gặp rất nhiều nguy hiểm hoạn nạn, như gặp trộm cướp, rắn sói hổ báo. Cho nên, ai muốn đi qua con đường nầy, tâm đều sợ hãi, song chỉ có con đường nầy, mới đến được chỗ cất giữ châu báu. Do đó, chỉ có cách mạo hiểm tiến về trước, thì lúc ấy, ở trong đó có một vị Ðạo sư rất thông minh tài giỏi, đầy đủ trí huệ viên mãn, biết lối đi của đường hiểm đó như thế nào, mới không bị đủ thứ điều nguy hiểm, do đó bậc Ðạo sư phát tâm, dẫn dắt tất cả mọi người vượt qua con đường nầy, song những người nầy đi được nữa đường, thì sinh tâm lười mỏi, chẳng muốn đi nữa. Do đó, họ nói với bậc đạo sư : ‘’Bây giờ chúng con đã mệt mỏi quá rồi, đường nầy rất nguy hiểm và sợ hãi, chúng con chẳng muốn đi nữa, đường ở trước rất dài, cho nên chúng con muốn lui về‘’. Vị Ðạo sư nhiều phương tiện bèn nghĩ thế nầy : Những người nầy rất đáng thương, sao lại bỏ châu báu mà muốn lui về. Nghĩ như thế rồi, dùng sức phương tiện, ở giữa đường hiểm hơn ba trăm do tuần, hóa làm một cái thành, bảo mọi người rằng : Các ngươi đừng sợ, đừng lui về, nay thành lớn nầy có thể ở trong đó, làm gì tùy ý. Nếu vào thành đó rất được an ổn, nếu có thể đi thẳng đến chỗ châu báu cũng được. Vị Ðạo sư nầy có rất nhiều phương tiện, bèn nghĩ rằng : ‘’Những người nầy thật đáng thương ! Sao lại bỏ chí nguyện muốn đi đến nước Phật bảo mà muốn lui về ? ‘’Nghĩ đến đây, Ngài chỉ có cách dùng thần lực quyền xảo phương tiện, ở giữa đường hiểm hơn ba trăm do tuần, hóa ra một cái thành; rồi bảo mọi người : ‘’Các người đừng sợ, đừng sinh tâm lười mỏi, bây giờ các vị hãy đi vào trong thành lớn nầy dừng nghỉ, ở trong thành nầy, làm gì tùy ý, nếu như vào trong thành nầy thì rất là an ổn, các người muốn tiếp tục đi đến chỗ châu báu, thì có thể đến bảo sở nước Phật‘’. Lúc đó, chúng mỏi mệt tâm rất vui mừng, khen chưa từng có. Nay chúng ta khỏi đường hiểm đó, rất được an ổn. Do đó, mọi người đều vào hóa thành, sinh lòng tưởng rằng đã được độ rất an ổn. Lúc đó, mọi người đều rất mệt mỏi vô cùng, hốt nhiên thấy một tòa hóa thành, có thể vào dừng nghỉ tạm thời, cho nên sinh tâm vui mừng chưa từng có, nói : ‘’Hôm nay chúng con khỏi lạc vào nẻo trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, thoát khỏi nhà lửa tam giới, được an ổn sung sướng‘’. Do đó, cùng nhau đi vào hóa thành nầy, cho rằng họ đã được giải thoát và an ổn cứu kính. Bấy giờ, vị Ðạo sư biết những người đó đã nghỉ ngơi xong, chẳng còn mệt nhọc, bèn diệt hóa thành, bảo với mọi người rằng : Các ngươi hãy đi tới chỗ châu báu ở gần đây, thành lớn đó do ta hóa làm ra, để dùng nghỉ thôi. Lúc đó, vị Ðạo Sư Thích Ca Mâu Ni Phật biết họ đã nghỉ xong, lấy lại sức lực, hết mệt mỏi. Do đó, Phật bèn hủy diệt hóa thành đó, nói với mọi người rằng : ‘’Các ngươi hãy đi tới, chỗ châu báu ở gần đây. Hóa thành đó là do ta biến hóa ra, để các ngươi nghỉ ngơi tạm thời.’’ Tức cũng có thể nói, phàm là Thánh nhân chứng được tứ quả A La Hán, nên phải hồi tiểu hướng đại, tu pháp môn đại thừa, mới có thể đạt đến chỗ châu báu cứu kính. Các Tỳ Kheo ! Ðức Như Lai cũng lại như thế, nay vì các ông làm đại Ðạo sư, biết các đường hiểm sinh tử phiền não dài xa, nên bỏ, nên vượt qua. Các Tỳ Kheo ! Pháp của Phật Ðại Thông Trí Thắng cũng như pháp của ta nói, như nay vì các ông làm bậc đại Ðạo sư, biết rõ tất cả đường dữ sinh tử phiền não, nhiều hiểm nạn và xa dài. Do đó, nên lìa tất cả phiền não, vượt qua biển khổ sinh tử, đến được nhà Như Lai. Nếu chúng sinh chỉ nghe một Phật thừa, thì chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi, bèn nghĩ như vầy : Phật đạo dài xa, chịu khổ siêng cần lâu mới có thể thành tựu. Phật biết tâm của họ khiếp nhược hạ liệt, bèn dùng sức phương tiện nghỉ ngơi ở giữa đường, nên nói hai Niết Bàn. Nếu chúng sinh trụ ở hai bậc, thì bấy giờ đức Như Lai bèn nói : Chỗ tu của các ông chưa xong, bậc của các ông gần với trí huệ của Phật. Nên quán sát suy lường Niết Bàn đã được đó, chẳng chân thật vậy, chỉ là sức phương tiện của Như Lai, nơi một Phật thừa mà phân biệt nói thành ba. Nếu có chúng sinh nghe được Phật nói pháp, chỉ có một Phật thừa, thì nhất định rất nhiều chúng sinh phất tay áo mà đi, chẳng nghĩ muốn gặp Phật, hoặc gần gũi Phật. Vì Phật pháp là pháp khó tin, cho nên chúng sinh đều chẳng chịu tiếp thọ. Vì họ nghĩ : ‘’Tu hành thành Phật thì phải mất thời gian rất lâu, ở trong ba đại A tăng kỳ kiếp, siêng tu lục độ khổ hạnh, mới có cơ hội thành Phật‘’. Do đó, họ đều cố ý có tai chẳng nghe giáo lý viên đốn, có mắt chẳng nhận thức đại Ðạo sư (Phật), càng vô dụng nói dạy họ xả bỏ thất tình lục dục, một lòng tu đạo. Ðức Phật Thích Ca và mười phương chư Phật, đều biết rõ tâm niệm của tất cả chúng sinh trong sáu nẻo, rất khiếp nhược và hạ liệt. Phật bèn dùng sức phương tiện mà nói hữu dư Niết Bàn pháp nhị thừa, để cho tâm tu đạo của chúng sinh, tạm thời không lười mỏi thối lui, cho nên nói riêng ra một trung đạo Niết Bàn. Lúc đó, Phật lại nói với họ : Các ông chưa đạt đến Phật đạo cứu kính, bậc của các ông trụ, gần với trí huệ của Phật, các ông nên quán sát và suy lường, bất cứ các ông đắc được cảnh giới Niết Bàn hữu dư, hoặc vô dư, đều chẳng phải chân thật. Kỳ thật, là sức phương tiện của Như Lai, nơi một Phật thừa, mà phân biệt nói ra Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát ba thừa.’’ Như vị Ðạo sư kia, vì dừng lại nghỉ mà hóa làm thành lớn. Biết đã nghỉ rồi, bèn bảo họ rằng : Chỗ châu báu gần đây, thành nầy chẳng thật, do ta hóa làm ra thôi. Phật giống như bậc Ðạo sư, biết dùng pháp gì để vượt qua giữa con đường hiểm nầy, và còn bảo họ vào trong đó nghỉ ngơi, chỗ châu báu ở gần đây chẳng xa, song cái thành nầy chẳng phải thật, nó chỉ bất quá do Phật biến hóa ra, để cho các ông nghỉ ngơi thôi, khi các ông khôi phục lại sức lực, thì nên bỏ thành mà đi tiến về trước. Ví như bạn muốn từ nhà của bạn đến nước khác, phải vượt qua lộ trình rất xa, mới đến được nơi đó, ở nơi giữa đường đó, chắc chắn cảm thấy thân thể mỏi mệt, lúc đó bạn muốn một quán trọ để nghỉ lại một đêm, sáng ngày thứ hai lại tiếp tục lên đường, như thế mới đạt được nơi bạn muốn đến. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa trên, bèn nói bài kệ rằng : Phật Ðại Thông Trí Thắng Mười kiếp ngồi đạo tràng Phật pháp chẳng hiện tiền Không được thành Phật đạo. Các trời thần Long vương Chúng A tu la thảy Thường mưa các hoa trời Ðể cúng dường Phật đó. Chư Thiên đánh trống trời Và tấu các âm nhạc Gió thơm thổi hoa héo Lại mưa hoa tươi tốt. Trải qua mười tiểu kiếp Mới được thành Phật đạo Chư thiên và người đời Tâm đều mừng hớn hở. Mười sáu người con Phật Ðều cùng với quyến thuộc Ngàn vạn ức vây quanh Ðều đi đến chốn Phật. Ðầu mặt lễ chân Phật Mà thỉnh chuyển pháp luân Thánh sư tử mưa pháp Lợi con và tất cả. Lúc bấy giờ, Ðức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa kinh trường hàng ở trên, nên dùng kệ để nói. Phật Ðại Thông Trí Thắng ở tại đạo tràng ngồi trên tòa hoa sen nhập định trải qua mười kiếp, song vẫn chưa thành chánh giác. Lúc đó, Phật pháp chưa hiện ra đời, cho nên Ngài chưa thể thành Phật đạo. Tất cả trời, thần, Long vương, A tu la .v.v., thường mưa hoa trời để cúng dường vị Phật đó, các vị trời đánh trống trời, tấu lên đủ thứ âm nhạc, một trận gió thơm thổi đến, thổi các hoa héo đi, đồng thời lại mưa xuống hoa tươi tốt. Trải qua mười tiểu kiếp, Phật mới thành đạo, tất cả chư Thiên và nhân loại, tâm đều vui mừng hớn hở vô cùng. Mười sáu vị vương tử của Phật, với trăm ngàn ức quyến thuộc cùng nhau đến chốn Phật, cung kính đầu mặt lễ dưới chân Ðức Phật, mà thỉnh cầu Phật chuyển đại pháp luân, hy vọng tiếng sư tử hống của Phật, đượm nhuần mưa pháp lợi lạc chúng con, và tất cả chúng sinh. Thế Tôn rất khó gặp Lâu xa hiện một lần Vì giác ngộ quần sinh Chấn động hết tất cả. Các thế giới phương đông Năm trăm vạn ức cõi Ánh sáng chiếu Phạm cung Từ xưa chưa từng có. Phạm chúng thấy tướng nầy Tìm đến chỗ đức Phật Rải hoa để cúng dường Và dâng cung điện lên. Thỉnh Phật chuyển pháp luân Dùng kệ khen ngợi Phật Phật biết chưa đến thời Nhận lời ngồi yên lặng. Ba phương và bốn hướng Trên dưới cũng như thế Rải hoa dâng cung điện Thỉnh Phật chuyển pháp luân. Thế Tôn rất khó gặp Xin vì gốc từ bi Rộng mở cửa cam lồ Chuyển pháp luân vô thượng. Ðức Thế Tôn trăm ngàn vạn kiếp rất khó gặp được, không biết phải trải qua thời gian bao lâu, mới có thể gặp được Ðức Phật ra đời, Phật vì giác ngộ tất cả quần sinh, sức trí lực oai thần của Ngài không thể nghĩ bàn, có thể chấn động đến tất cả tâm tính chúng sinh. Các thế giới ở phương đông, có năm trăm vạn ức cõi nước cung điện của Phạm Vương, được vô lượng ánh sáng chiếu sáng, đó là tướng quá khứ chưa từng có. Khi các vị Phạm Vương thấy tướng nầy, thì đều đến chỗ Ðức Phật, để tìm nguồn gốc tướng ánh sáng đó, và còn rải hoa trời để cúng dường Ðức Phật, sau đó lại dâng cung điện quý báu nhất lên cúng dường Ðức Phật. Sau đó lại cung kính thỉnh Phật chuyển bánh xe pháp, và dùng kệ để khen ngợi Phật. Phật biết cơ duyên thuyết pháp chưa thành thục, cho nên nhận lời thỉnh cầu của họ, mà ngồi im lặng. Lúc đó, từ phương nam, tây, bắc, và bốn hướng trên dưới, các vị Phạm Thiên Vương, đều rải hoa trời và dâng cung điện lên, thỉnh Ðức Phật chuyển bánh xe pháp. Trăm ngàn vạn ức kiếp khó gặp được Ðức Phật, mà chúng ta nguyện đắc được tâm đại từ bi thương xót chúng sinh của Phật, có thể khai mở cửa cam lồ. Vì giáo hóa chúng ta lục đạo chúng sinh, mà chuyển bánh xe pháp thâm sâu vô thượng. Thế Tôn tuệ vô thượng Nhận những người kia thỉnh Vì nói các thứ pháp Bốn đế mười hai duyên. Vô minh đến lão tử Ðều từ sinh duyên có Những hoạ hoạn như thế Các ông phải nên biết. Lúc diễn nói pháp đó Sáu trăm vạn ức chúng Ðược hết sạch các khổ Ðều thành A la hán. Nói pháp lần thứ hai Ngàn vạn Hằng sa chúng Chẳng thọ nơi các pháp Cũng đắc A la hán. Từ đó sau đắc đạo Số đông không thể lường Vạn ức kiếp tính đếm Không biết được ngằn mé. Ðức Thế Tôn đầy đủ vô lượng trí huệ, thọ nhận tất cả chúng sinh thỉnh cầu thuyết pháp. Phật có thể diễn nói đủ thứ pháp, cho nên trước hết nói pháp bốn Diệu đế và mười hai nhân duyên, tức là từ vô minh đến lão tử, đều do mười hai nhân duyên sinh ra. Do đó, mà chiêu lại rất nhiều hoạ hoạn, các ông nên biết pháp như thế. Khi Phật Ðại Thông Trí Thắng diễn nói pháp nầy rồi, thì có sáu trăm vạn ức chúng Phạm Thiên Vương, lìa được tất cả khổ, đều chứng được quả vị A La Hán. Khi Phật thuyết pháp lần thứ hai, thì có ngàn vạn Hằng hà sa chúng sinh, ngộ được tướng không của các pháp, đều đắc quả A La Hán Thanh Văn và quả vị Duyên Giác Bồ Tát, số đông vô lượng vô biên chẳng cùng tận, dù trải qua hàng vạn ức kiếp để đếm tính số mục, cũng không thể biết được số đó ngằn mé là bao nhiêu. Lúc đó mười sáu vị Xuất gia làm Sa di Ðều cùng thỉnh Phật đó Diễn nói pháp đại thừa. Chúng con và quyến thuộc Ðều sẽ thành Phật đạo Nguyện được như Thế Tôn Mắt huệ tịnh bậc nhất. Lúc đó, mười sáu vị vương tử đều phát tâm xuất gia tu đạo, làm Sa Di. Các vị Sa Di đều cùng thỉnh Phật Ðại Thông Trí Thắng, vì tất cả chúng sinh diễn nói pháp đại thừa, nên hỏi Phật : ‘’Chúng con và tất cả quyến thuộc, đều sẽ thành Phật đạo, vì chúng con nguyện được giống như đức Thế Tôn, đầy đủ mắt trí huệ thanh tịnh bậc nhất. Phật biết tâm đồng tử Tu hành trong đời trước Dùng vô lượng nhân duyên Ðủ thứ các ví dụ. Nói sáu Ba la mật Và các việc thần thông Phân biệt pháp chân thật Ðạo Bồ Tát tu hành. Nói Kinh Pháp Hoa nầy Kệ như cát sông Hằng. Phật biết tâm của những vị đồng tử nầy nghĩ tưởng những gì, sự tu hành trong đời trước của những vị nầy đến đâu, từng dùng vô lượng nhân duyên, đã từng nghe Phật nói đủ thứ diệu lý thật tướng của các pháp, bổn sinh, nhân duyên, ví dụ, và sáu pháp Ba La Mật. Sáu pháp Ba La Mật là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Ba La Mật là tiếng Phạn, dịch là "đến bờ kia". Các vị Sa Di cũng đã từng nghe Phật nói đủ thứ việc tu chứng thần thông diệu dụng, cho nên có trí huệ lớn, để phân biệt được pháp một Phật thừa chân thật, Các Ngài tu sáu Ba la mật của Bồ Tát. Do đó, nay các Ngài thích nghe pháp đại thừa Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đều ngộ biết trong Kinh Pháp Hoa có nhiều bài kệ như số cát sông Hằng. Phật đó nói kinh rồi Vào tịnh thất nhập định. Nhất tâm ngồi một chỗ Tám vạn bốn ngàn kiếp Các vị Sa Di đó Biết Phật chưa xuất định. Vì vô lượng ức chúng Nói Phật huệ vô thượng Ai nấy lên pháp tòa Nói kinh đại thừa nầy. Lúc đức Phật tĩnh lặng Giúp tuyên dương giáo hóa. Khi Phật Ðại Thông Trí Thắng nói xong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa rồi, thì Ðức Phật vào tịnh thất nhập vào thiền định thâm sâu, ở trong cảnh giới như như bất động, liễu liễu thường minh, trải qua tám vạn bốn ngàn đại kiếp. Lúc đó, mười sáu vị Sa Di biết Phật chưa xuất định, do đó, các Ngài phát tâm vì vô lượng ức chúng sinh, nói trí huệ vô thượng của Phật. Mỗi vị Sa Di đều lên pháp tòa diễn nói Kinh Pháp Hoa, lúc Phật tĩnh lặng không động, thì giúp Phật tuyên dương Phật pháp, giáo hóa chúng sinh. Mỗi mỗi vị Sa Di Ðộ được các chúng sinh. Khoảng sáu trăm vạn ức Hằng hà sa chúng sinh Phật đó diệt độ rồi Những người nghe pháp đó. Ở tại các cõi Phật Thường sinh chung với thầy. Mười sáu vị Sa Di đó, mỗi vị giáo hóa chúng sinh khoảng sáu trăm vạn ức Hằng hà sa số chúng sinh. Khi Phật Ðại Thông Trí Thắng diệt độ rồi, những người nghe mười sáu vị Sa Di thuyết pháp, đều cùng sinh vào một nước với đấng Ðạo Sư của họ. Mười sáu Sa Di đó Ðầy đủ hạnh Phật đạo. Nay hiện trong mười phương Thảy đều thành Chánh giác Người nghe pháp thuở đó Ðều ở chỗ chư Phật. Có người trụ Thanh Văn Dần dần vào Phật đạo. Mười sáu vị Sa Di đó, vì tu hành đầy đủ Phật đạo, nên các Ngài xuất hiện ở trong cõi nước mười phương, ai nấy đều thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Những chúng sinh nghe được Phật pháp vào thuở đó, đều là quá khứ đã từng nghe qua Phật pháp, của mười sáu vị Sa Di đó nói, cho nên hiện nay lại hiện ở trong mỗi cõi nước, để gần gũi nghe Phật thuyết pháp, trong đó có rất nhiều chúng hàng Thanh Văn, dần dần được Phật giáo hóa mà vào được Phật đạo. Ta là thứ mười sáu Cũng từng vì ông nói. Cho nên dùng phương tiện Dẫn ông đến Phật huệ Do gốc nhân duyên đó Nay nói Kinh Pháp Hoa. Khiến ông vào Phật đạo Cẩn thận chớ kinh sợ. Ta, Phật Thích Ca Mâu Ni, tức là Sa Di thứ mười sáu. Ở trong quá khứ, các ông đã từng nghe pháp của ta nói, cho nên ta dùng pháp phương tiện, dẫn dắt các ông tu học trí huệ của Phật, đến được trí huệ của Phật. Do nhân duyên đó, mà nay ta diễn nói Kinh Pháp Hoa, khiến cho các ông đi vào tạng trí huệ của Phật, đều thành chánh giác. Các ông đừng bao giờ sinh tâm hoài nghi và sợ sệt, ta sẽ vì các ông giải thích phân biệt rõ ràng thật tướng chân lý Phật pháp. Ví như đường hiểm dữ Xa vắng nhiều thú độc. Lại không có cỏ nước Chỗ mọi người sợ hãi Vô số ngàn vạn chúng Muốn qua đường hiểm này. Ðường đó rất xa xôi Dài năm trăm do tuần Thời có một Ðạo sư Thông minh có trí tuệ. Sáng suốt tâm quyết định Cứu nguy các hoạn nạn. Ví như một đoạn đường dài nguy hiểm, con đường nào nguy hiểm nhất ? Tức là đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ở trong con đường này, giống như hoang dã, có rất nhiều rắn độc ác thú, cho đến một giọt nước, cộng cỏ, cũng chẳng có, là nơi mọi người đều sợ. Lúc đó, có vô lượng trăm ngàn vạn chúng sinh, muốn đi qua con đường nguy hiểm nầy, vượt ra khỏi sáu nẻo luân hồi, được chân chánh giải thoát, song phải đi ngang qua năm trăm do tuần, mới đến nơi cứu kính, cho nên còn cách xa đạo tám vạn bốn ngàn dặm. Lúc đó, có một vị thiện tri thức, đầy đủ sự học rộng hiểu nhiều, thông minh trí huệ, thấu suốt tất cả mọi việc thị phi trắng đen, và còn biết con đường nào là chánh, con đường nào là tà. Do đó, Ngài thường ở trong đường hiểm, cứu tất cả chúng sinh gặp nạn. Mọi người đều mỏi mệt Bèn bạch Ðạo sư rằng: Chúng con nay mệt mỏi Nơi đây muốn trở về Ðạo sư nghĩ thế nầy: Bọn nầy rất đáng thương. Sao lại muốn lui về Ðể mất châu báu lớn. Ði trên con đường hiểm nầy thật chẳng dễ dàng, trợ duyên rất ít, nghịch duyên thì nhiều, ví như một người tu đạo, cần nhờ sự giúp đỡ của Bồ Tát và thần hộ pháp, khiến cho họ tu đạo được viên mãn, hoặc có người dùng phương pháp tu đạo sai lầm, có thiện tri thức dẫn dắt họ đi trên con đường chánh, đó đều là trợ duyên. Nghịch duyên là gì? Ví như bạn muốn phát tâm bồ đề chân chánh, song lại có người khiến cho bạn thối bồ đề tâm, sinh ra đủ thứ dục niệm, nên đạo tâm chẳng vững chắc, cho nên gọi là nghịch duyên. Trên con đường đạo chẳng dễ gì tu, rất dễ sinh mệt mỏi, cảm thấy thời gian tu rất là lâu, mà một chút thu hoạch cũng chẳng có, do đó bèn bạch với Ðạo sư rằng: ‘’Hiện nay chúng con đều mỏi mệt, chúng con muốn trở về, chẳng muốn tu hành nữa‘’. Lúc đó, vị Thiện tri thức nghĩ như vầy: Những chúng sinh nầy thật là đáng thương ! Sao lại muốn sinh tâm thối chuyển, mà chẳng muốn tu đạo ? Vốn sẽ được trân bảo mà nay đều bỏ mất. Bèn nghĩ tìm phương tiện Nên bày sức thần thông. Hóa làm thành quách lớn Trang nghiêm các phòng nhà. Chung quanh có vườn rừng Suối chảy và ao tắm. Cửa lớn lầu gác cao Nam nữ đều đầy dẫy Hóa làm thành đó rồi An ủi họ chớ sợ. Các ông vào thành nầy Ðều được tùy sở thích. Tức thời, vị Thiện tri thức nghĩ ra pháp môn phương tiện, bèn dùng thần thông trí lực của Ngài, ở giữa đường hóa ra thành quách lớn, trong đó có rất nhiều phòng nhà rất trang nghiêm, xung quanh có vườn hoa và rừng cây, có suối nước trong sạch, ao tám bảy báu, lầu gác cao trùng trùng, nam nữ đều rất vui mừng hớn hở, những cảnh giới nầy đều biến hóa ra. Lúc đó, vị Thiện tri thức nói với đại chúng rằng : ‘’Các ngươi đừng sinh tâm sợ sệt, bây giờ có thể vào trong thành nầy, mong cầu gì cũng được toại tâm như ý‘’. Kì thật, hóa thành nầy, tức là hữu dư Niết Bàn của hàng nhị thừa chứng được, mà Kinh Pháp Hoa là khai quyền hiển thật, dẫn dắt hàng nhị thừa, cho nên Phật không thể không nói với đại chúng : Hữu dư Niết Bàn mà các ngươi chứng được, bất quá chỉ giống như tòa hóa thành, chẳng phải chân chánh đắc được Niết Bàn cứu kính. Mọi người đều vào thành Tâm đều rất vui mừng. Ðều sinh tưởng an ổn Tự cho đã được độ Ðạo sư biết nghỉ rồi Nhóm chúng mà bảo rằng: Các ngươi nên đi nữa Ðây là hóa thành thôi Thấy các ngươi mỏi mệt Giữa đường muốn lui về. Nên dùng sức phương tiện Ta hóa làm thành nầy Các ngươi gắng tinh tấn Nên cùng đến bảo sở. Ta cũng lại như thế Ðạo sư của tất cả. Tất cả hàng tiểu thừa, đều vui mừng lìa khổ được vui, chẳng phát tâm lớn, tu pháp tiểu thừa, cho nên các ngươi đến được hóa thành nầy, thì cảm thấy đã mãn nguyện, đều sinh tâm vui mừng, tự cho rằng đã được an ổn cứu kính thoát khỏi biển khổ sinh tử. Phật sớm đã biết đại chúng sẽ sinh tư tưởng như thế, do đó lại triệu tập tất cả đại chúng mà bảo rằng : ‘’Các ngươi bây giờ đã hết mệt mỏi, nên cố gắng tiến về trước, vì chỗ các ông ở bây giờ, bất quá chỉ là một tòa hóa thành mà thôi, chẳng phải là chỗ trân bửu chân chánh. Vì ta thấy các ngươi quá mệt mỏi, sinh tâm thối chuyển, chẳng muốn tu đạo nữa, cho nên ta dùng pháp phương tiện, sức thần thông, biến hóa ra thành quách, tức là pháp của hàng nhị thừa. Bây giờ, các ngươi hãy dũng mãnh tinh tấn, thì sẽ đạt đến chỗ bảo tàng của Phật. Ta cũng như thế, là thiện tri thức của tất cả chúng sinh, giáo hóa họ sớm lên bờ giác, cùng thành Phật đạo. Thấy những người cầu đạo Giữa đường mà lười bỏ. Không thể vượt sinh tử Phiền não các đường hiểm Nên ta dùng phương tiện Vì nghỉ nói Niết Bàn. Bảo các ông khổ diệt Việc làm đều đã xong Tức biết đến Niết Bàn Ðều được A la hán. Nên mới nhóm đại chúng Vì nói pháp chân thật. Ta thấy một số người cầu đạo, tu hành đến nửa đường, thì cảm thấy quá khổ nhọc, mà sinh tâm lười bỏ, chẳng nghĩ tu đạo nữa. Do đó có câu: ‘’Tu đạo nhất niên, Phật tại nhãn tiền, Tu đạo tam niên, Nhất vạn bát thiên, Tu đạo thập niên, Phật tại thiên biên.’’ Nghĩa rằng: Tu đạo một năm, Phật ở trước mặt, Tu đạo ba năm, Xa Phật ngàn dặm, Tu đạo mười năm, Phật ở trên trời. Cho nên nói, nếu chúng ta từ đầu đến cuối, giữ được tâm tinh tấn như lúc ban đầu, dũng mãnh tinh tấn thẳng một lèo, thì sớm sẽ thành Phật đạo. Nếu bỏ giữa đường thì chẳng thành tựu, không thể vượt qua biển khổ sinh tử, đường hiểm phiền não. Cho nên, Phật bày pháp môn phương tiện, chẳng phải thật pháp, mới nói với hàng nhị thừa : ‘’Các ngươi cũng có thể chứng được Niết Bàn, xa lìa các sự khổ, chẳng còn sinh tử, những việc làm của các ngươi đã xong, đắc được Niết Bàn chứng đắc A La Hán.’’ Lúc đó, Phật lại triệu tập đại chúng, vì họ nói pháp chân thật. Chư Phật dùng phương tiện Phân biệt nói ba thừa. Chỉ có một Phật thừa Chỗ nghỉ nên nói hai Nay vì ngươi nói thật Chỗ ngươi được chẳng diệt. Vì Phật Nhất thiết trí Hãy phát đại tinh tấn. Mười phương ba đời tất cả chư Phật, dùng hết pháp phương tiện, để giáo hóa chúng sinh, mà Phật pháp vốn chỉ có Phật thừa, chẳng có Duyên Giác thừa, Thanh Văn thừa. Vì căn cơ của chúng sinh, không thể một khi bắt đầu thì minh bạch, và tiếp thọ Phật pháp, cho nên Phật vì chúng sinh phương tiện nói ra Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ Tát thừa, đó đều là Phật dùng sức đại oai thần, hóa ra pháp môn nhị thừa, nên gọi là hóa thành. Cho nên nói, chỉ có Phật thừa mới là thật thừa, tất cả chúng sinh tu hành quá lâu, đều sinh ra tâm nhàm mỏi, do đó Phật dùng pháp môn phương tiện, để tạo ra hóa thành, vì chúng sinh nói hữu dư Niết Bàn và vô dư Niết Bàn. Bây giờ, Phật muốn khai quyền hiển thật, nói ra chân thật Niết Bàn, vì trước khi Phật nói với hàng nhị thừa chỉ là hữu dư Niết Bàn, chưa đạt đến một Phật thừa viên dung vô ngại, cho nên chưa thể dứt sinh tử, đến bất sinh bất diệt. Vì chứng được tứ quả A La Hán, tuy nhiên dứt được phân đoạn sinh tử, song chưa đoạn sạch biến dịch sinh tử. Phật đầy đủ tất cả thật tướng Bát nhã trí huệ, các ngươi nên cầu đại trí huệ của Phật, dũng mãnh tinh tấn hướng về trước, cầu Phật đạo vô thượng, không thể lưu lại ở quả vị A La Hán, mà sinh tâm tự mãn, không cầu tiến về trước. Ngươi chứng Nhất thiết trí Mười lực các Phật pháp. Ðủ ba mươi hai tướng Mới là chân thật diệt Chư Phật là Ðạo sư Vì nghỉ nói Niết Bàn. Ðã biết nghỉ ngơi rồi Dẫn vào nơi Phật huệ. Khi nào các ngươi chứng được Nhất thiết trí, mười lực của Phật. Mười lực là gì ? Mười lực là mười thứ lực mà Phật có đủ. 1. Phật có trí lực biết xứ phi xứ. Biết xứ là tất cả đều hợp với Phật pháp, phi xứ là tất cả đều trái ngược với Phật pháp, mà Phật thì có trí huệ và lực nầy, phân rõ thị phi. 2. Trí lực biết nghiệp báo ba đời. Tất cả chúng sinh trong đời quá khứ tạo ra tội nghiệp gì, bây giờ trồng nhân gì, tương lai kết quả gì, đời sau thọ quả báo gì ? Phật có sức trí huệ nầy, biết nghiệp báo ba đời. 3. Trí lực biết các thiền giải thoát tam muội. Bao quát sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, gọi là ‘’Tứ không xứ’’, còn tất cả các thiền định và tám thứ giải thoát. 4. Trí lực biết các căn thắng liệt. 5. Trí lực biết chủng chủng giải. 6. Trí lực biết chủng chủng giới. Phật biết rõ đủ thứ cảnh giới của tất cả chúng sinh, cho nên mới có thể giáo hóa họ. Ví như mỗi người đều có tôn giáo tín ngưỡng của mình, có người tin Cơ Ðốc giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo .v.v., kì thật, mỗi tôn giáo đều quy vào Phật giáo, mà mỗi căn tính của chúng sinh khác nhau, cho nên cũng tiếp thọ đủ thứ pháp khác nhau. 7. Trí lực biết tất cả chí xứ đạo. Giống như tu ngũ giới thập thiện, thì sẽ sinh về cõi trời, tu thiền định thì chứng quả, tu lục độ vạn hạnh thì thành Phật. Tạo nghiệp ác thì đọa vào địa ngục, làm ngạ quỷ, trồng nhân gì được quả đó. 8. Trí lực biết thiên nhãn vô ngại. 9. Trí lực biết túc mạng vô lậu. 10. Trí lực biết vĩnh đoạn tập khí. Ðây chỉ là nói tóm tắc, nếu nói tỉ mỉ thì trăm ngàn trí lực đều từ đây sinh ra, chẳng có tận cùng. Nếu người tu đạo, chứng được ba mươi hai tướng, thì đắc được tịch diệt và khoái lạc chân thật. Chư Phật là Ðạo sư của tất cả chúng sinh, thấy tất cả chúng sinh tu đạo giữa đường, sinh tâm lười mỏi mà nói ra Bồ Tát thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và hữu dư Niết Bàn. Tuy nhiên biết đây là hóa thành, là nơi nghỉ trọ của chúng sinh, chứ chẳng phải ngôi nhà thật sự, cho nên dẫn dắt mọi người nhập vào Phật đạo, được trí huệ viên mãn. Hết Tập 2 Hồi hướng công đức Trong các sự bố thí, thì bố thí pháp là cao thượng nhất. Vì ấn tống kinh điển bố thí cho mọi người đọc, khiến cho họ hiểu rõ những lời đức Phật dạy, phát tâm tu học, thực hành hạnh Bồ Tát, tự lợi lợi tha, tự độ độ tha, tự giác giác ta, tích tụ căn lành công đức, hồi hướng về quả Vô thượng bồ đề, cuối cùng sẽ chứng ngộ quả vị Phật. Nhờ giáo lý Pháp bảo mà chúng ta tin, hiểu, thực hành, và chứng ngộ. Xin hồi hướng công đức pháp thí cao thượng nầy, đến các bậc Thầy Tổ, và toàn thể tất cả Phật tử đã phát tâm hùn phước ấn tống, hữu danh hoặc vô danh, và thân bằng quyến thuộc của tất cả quý vị còn sống hoặc đã quá vãng, cùng pháp giới chúng sinh, thảy đều được lợi lạc, căn lành tăng trưởng, tâm bồ đề kiên cố, luôn luôn an trụ ở trong chánh pháp, tu hành chánh pháp, rốt ráo được thoát khỏi sinh tử luân hồi, đến được bờ giác ngộ bên kia. Nam Mô Hộ Pháp Vi Ðà Tôn Thiên Bồ Tát Kệ hồi hướng công đức Nguyện đem công đức nầy Trang Nghiêm cõi Phật tịnh Trên đền bốn ân nặng Dưới cứu ba đường khổ Nếu có ai thấy nghe Liền phát tâm bồ đề Khi bỏ báo thân nầy Sinh về cõi Cực Lạc. KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 06 TẬP 02 Quyển 03 Phẩm Thọ Ký Thứ Sáu Phẩm thứ sáu là Phẩm Thọ Ký. Thọ ký còn gọi là thọ quyết. Phật dự ghi nói bạn tương lai vào lúc nào, tại nước gì thành Phật, danh hiệu gì, cõi nước của bạn có gì đặc sắc, thọ mạng của Phật dài bao lâu .v.v. Bạn được dự ghi như vậy, thì gọi là ‘’thọ ký’’. Thọ quyết là gì ? Quyết là quyết sở chân lý, bạn tự mình sở quyết định một Phật hiệu. Danh hiệu của bạn và danh hiệu các đức Phật khác nhau chẳng giống, vì mỗi vị Phật đều có một danh hiệu đặc biệt, giống như mỗi người đều có tên của mình. Thọ quyết là nói bạn tương lai quyết định có thể thành Phật, do chính Ðức Phật thọ ký, người khác chẳng có tư cách. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng, xướng lời như vầy : Ðệ tử Ma Ha Ca Diếp của ta đây, ở đời vị lai, sẽ phụng thờ ba trăm vạn ức các đức Phật Thế Tôn, cung kính cúng dường, tôn trọng khen ngợi, rộng tuyên nói vô lượng đại pháp của các đức Phật. Lúc đó, tức là lúc Ðức Phật nói xong bài kệ Phẩm Dược Thảo Dụ, bèn nói với tất cả đại chúng : ‘’Ðệ tử Ðại Ca Diếp của ta đây, các ông mọi người nên biết’’. Lúc Phật còn tại thế, thì tôn giả Ca Diếp đã là một trăm sáu mươi tuổi, đến nay Ngài vẫn chưa nhập diệt ! Hiện nay Ngài đang ngồi thiền nhập định ở trong núi Kê Túc tại Vân Nam Trung Quốc. Có thể nhìn thấy Ngài chăng ? Có thể, nếu bạn có tâm thành thì có thể thấy được Ngài, Phật giáo tức là nói một chữ ‘’thành’’. Bất cứ làm gì, nếu có tâm thành, thì nhất định có biện pháp. Ví như người tu hành, nếu có tâm thành chân chánh, thì chẳng sợ không có người đến cúng dường. Tại sao chẳng có ai đến cúng dường ? Vì kiếp trước bạn tu huệ chẳng tu phước. Do đó, có câu : ‘’Tu huệ chẳng tu phước, La Hán ôm bát không’’. Nếu biết đạo lý nầy, thì nên mau tu phước huệ, làm nhiều việc thiện, khiến cho phước huệ đều tròn đầy. Ngài Ma Ha Ca Diếp ở đời vị lai, sẽ cúng dường cung kính, và phụng thờ ba trăm vạn ức các Ðức Phật Thế Tôn, Ngài cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, tất cả chư Phật, rộng tuyên nói vô lượng đại pháp của chư Phật. Ở nơi thân cuối cùng, được thành Phật, hiệu là Quang Minh Như Lai, ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự, Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Thân cuối cùng của Ngài, được thành Phật đạo, hiệu là Quang Minh Như Lai, vì thân của Ngài phóng ra kim quang, cho nên Ngài được tên là Quang Minh Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ðây là mười hiệu của mỗi vị Phật đều có. Nước tên là Quang Ðức, kiếp tên là Ðại Trang Nghiêm. Cõi nước của Ngài thành Phật tên là Quang Ðức, vì nhân dân trong cõi nước đó, đều có quang minh và đức hạnh, cho nên gọi là Quang Ðức. Kiếp tên là Ðại Trang Nghiêm, kiếp Trang Nghiêm đó, có vô lượng vô biên đại Bồ Tát. Phật sống lâu hai mươi tiểu kiếp, chánh pháp lưu lại ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp lưu lại ở đời cũng hai mươi tiểu kiếp. Vị Phật Quang Minh đó, sống lâu đến hai mươi tiểu kiếp, chánh pháp của Phật lưu lại thế gian hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng thế. Cõi nước trang nghiêm tốt đẹp, chẳng có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc, và đồ tiện lợi chẳng sạch. Cõi nước đó rất trang nghiêm đẹp đẽ, chẳng có một chút nào không sạch sẽ, cũng chẳng có những thứ dơ xấu, càng chẳng có ngói sỏi hoặc gai góc. Người dân cõi nước đó, cũng chẳng có đại tiểu tiện dơ bẩn, vì họ đều là thiền định tướng, lìa đời thanh tịnh. Cõi đó bằng phẳng, chẳng có cao thấp, hầm hố gò đống, dùng lưu ly làm đất, cây báu thẳng hàng, vàng ròng làm dây, dùng để giăng bên đường, rải các hoa báu khắp nơi đều trong sạch. Bồ tát ở nước đó, có vô lượng ngàn ức, các chúng hàng Thanh Văn cũng vô số, chẳng có việc ma, tuy có ma và dân ma, nhưng chúng đều hộ trì Phật pháp. Ðất đai ở nước đó bằng phẳng, chẳng có sự cao thấp, cũng chẳng có hầm hố, gò đất, núi hang. Nước đó dùng lưu ly làm đất, có bảy hàng cây báu thẳng hàng. Dùng vàng ròng làm dây, dùng để giăng ở bên đường, thường rải đủ thứ hoa báu, khắp nơi ba bên bốn phía đều sạch sẽ, có vô lượng ngàn ức đại Bồ Tát để trang nghiêm cõi nước đó. Còn có tất cả chúng hàng Thanh Văn số lượng cũng vô cùng vô tận. Cõi đó chẳng có ma chướng, chẳng có ma chướng tức cũng chẳng có phiền não. Tại sao chẳng có phiền não ? Vì tất cả nhân dân đều tu thiền định, cho nên tuy có ma vương và dân ma, song chúng đều hộ trì Phật pháp, chẳng phá hoại Phật pháp. Sao lại có cảnh giới thù thắng như thế ? Vì khi tôn giả Ca Diếp tu hành tại nhân địa, thì bắt đầu tu đủ thứ hạnh đầu đà thanh tịnh, chiến thắng tất cả ma quân, cho nên hàng phục được tất cả ma vương, khiến cho chúng đều biến thành hộ pháp trong Phật giáo. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa nầy, bèn nói bài kệ rằng : Lúc đó, Ðức Phật muốn tuyên lại nghĩa lý ở trên, bèn dùng kệ để nói với đại chúng. Bảo các Tỳ Kheo Ta dùng mắt Phật Thấy Ca Diếp nầy Ở đời vị lai. Trải vô số kiếp Sẽ được thành Phật Ở đời mai sau Cúng dường phụng thờ. Ba trăm vạn ức Chư Phật Thế Tôn Vì trí huệ Phật Tịnh tu phạm hạnh. Cúng dường tối thượng Lưỡng Túc Tôn rồi Tu tập tất cả Trí huệ vô thượng. Nơi thân cuối cùng Sẽ được thành Phật. Ðức Phật nói với tất cả Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, cũng bao quát tất cả cư sĩ nam, cư sĩ nữ, tất cả Bồ Tát, Thanh Văn La Hán, Thiên Long bát bộ, ở trong đại hội. Phật nói: Ta dùng mắt Phật quán sát, thấy Ca Diếp ở đời vị lai, trải qua vô lượng số đại kiếp sẽ thành Phật. Ngài Ca Diếp trước khi chưa thành Phật, ở trong đời vị lai, sẽ cúng dường cung kính gần gũi ba trăm vạn ức các đức Phật Thế Tôn. Ngài đều dùng tâm kiên thành khẩn thiết cung kính, cúng dường, lễ bái, khen ngợi tất cả chư Phật Thế Tôn. Vì muốn đắc được trí huệ của Phật, cho nên Ngài tu đủ thứ khổ hạnh thanh tịnh, do sự cúng dường đấng Lưỡng Túc Tôn phước huệ tối thượng, tu tập tất cả trí huệ tối cao, nên thân cuối cùng của Ngài tất sẽ được thành Phật. Cõi đó thanh tịnh Lưu ly làm đất. Nhiều các cây báu Thẳng hàng bên đường Dây vàng giăng đường Người thấy vui mừng. Thường tỏa hương thơm Rải các hoa quý Ðủ loại kỳ diệu Dùng để trang nghiêm. Mặt đất bằng phẳng Chẳng có hầm hố Các chúng Bồ Tát Không thể tính kể. Tâm đều nhu hòa Có đại thần thông Phụng trì kinh điển Của các đức Phật. Các chúng Thanh Văn Thân cuối vô lậu Làm Pháp vương tử Cũng không thể đếm. Dù dùng thiên nhãn Cũng chẳng biết được. Cõi nước của Ngài Ca Diếp rất thanh tịnh, vì khi Ngài ở tại nhân địa tu hạnh đầu đà thanh tịnh, cho nên đắc được quả báo nầy, đất trong nước của Ngài bằng chất lưu ly, có đủ các thứ cây báu, những cây báu đó thẳng hàng ở bên đường, ai thấy sự trang nghiêm của cõi nước đó đều rất vui mừng. Cõi nước đó và tất cả nhân dân đều phóng ra hương thơm, tiên nữ thường ở trong hư không rải hoa quý, dùng đủ thứ hoa, đủ thứ hương kỳ diệu trang nghiêm cõi nước đó. Mặt đất cõi đó đều bằng phẳng, chẳng có hầm hố gò núi. Ðây là do Ngài Ca Diếp, khi ở tại nhân địa tu hạnh từ bi bình đẳng, nên được quả báu như thế. Tất cả chúng Bồ Tát nhiều không thể tính kể. Tâm của các Ngài đều điều thuận nhu hòa, cũng đều đắc được ngũ nhãn lục thông, tu trì kinh điển đại thừa. Tất cả Thanh Văn đệ tử đều đắc được thân vô lậu, làm pháp vương tử, số đông không thể nào tính kể, dù dùng thiên nhãn cũng đếm chẳng hết được. Phật đó sống lâu Hai mươi tiểu kiếp. Chánh pháp ở đời Hai mươi tiểu kiếp Tượng pháp cũng trụ Hai mươi tiểu kiếp. Thế Tôn Quang Minh Việc Ngài như thế. Vị Phật đó, sống lâu đến hai mươi tiểu kiếp, chánh pháp lưu lại ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp lưu lại ở đời cũng hai mươi tiểu kiếp. Nước đó tên là Quang Ðức. ‘’Quang’’ là chỉ trí huệ quang minh, ‘’Ðức’’ là chỉ Bát nhã đức. Vì làm các hạnh lành, cho nên cõi nước đó và nhân dân, đều đầy đủ trí huệ quang minh và Bát nhã đức hạnh, một chút si mê cũng chẳng có, cho nên được hiệu là Quang Minh Thế Tôn, nước tên là Quang Ðức. Khi đó, Ngài Ðại Mục Kiền Liên, Ngài Tu Bồ Ðề, Ngài Ma Ha Ca Chiên Diên, thảy đều run sợ, một lòng chắp tay, chiêm ngưỡng tôn nhan của đức Phật, mắt chẳng tạm rời, bèn cùng nhau đồng thanh nói bài kệ rằng. Ðức Phật thọ ký cho Ngài Ca Diếp xong rồi, thì Ngài Ðại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Ðề, Ma Ha Ca Chiên Diên, các đại đệ tử của Phật cũng cấp tốc đứng lên. Trong thâm tâm các Ngài đều nghĩ : ‘’Phật đã thọ ký cho Ngài Ca Diếp rồi, mà chúng ta không biết lúc nào mới được Phật thọ ký’’? Do đó, trong tâm của các Ngài đều lo lắng, sau đó các Ngài đều bình tâm cung kính chắp tay, mắt nhìn Phật chẳng nhấp nháy, lập tức mọi người dị khẩu đồng âm nói kệ rằng: Thế Tôn rất hùng mãnh Pháp Vương của dòng Thích Vì thương xót chúng con Mà ban giọng tiếng Phật. Phật là bậc đại anh minh thánh hùng, đầy đủ oai đức trong thế gian, là đấng Pháp Vương sinh ra trong dòng dõi Thích Ca. Xin Phật từ bi hỷ xả, thương xót chúng con tất cả chúng sinh, mà ban tặng giọng tiếng của Phật cho chúng con. Nếu biết thâm tâm con Ðược Phật thọ ký cho Như dùng cam lồ rưới Trừ nóng được mát mẻ. Như từ nước đói đến Bỗng gặp cỗ tiệc vua Còn ôm lòng nghi sợ Chưa dám tự ăn liền. Nếu được lệnh vua bảo Sau đó mới dám ăn. Hiện tại, Phật nên biết trong tâm của chúng con nghĩ những gì, chúng con nhìn thấy Ngài Ca Diếp được Phật thọ ký, giống như được Phật dùng nước cam lồ rưới lên thân của chúng con, khiến cho được mát mẻ, tiêu trừ đi mọi sự nóng bức. Chúng con giống như vừa mới từ nước đói đến, bỗng gặp cỗ tiệc của vua, trong tâm còn hoài nghi và sợ chẳng dám ăn liền. Nếu được lệnh của vua bảo, thì mới dám ăn những món ăn nầy. Chúng con cũng như thế Thường nghĩ lỗi tiểu thừa. Chẳng biết làm thế nào Ðược Phật huệ vô thượng Tuy nghe tiếng của Phật Nói chúng con thành Phật. Tâm còn hoài nghi sợ Như chưa dám ăn liền Nếu được Phật thọ ký Lúc đó mới an vui. Chúng con và tất cả chúng sinh đều như thế, chúng con là người căn tính tiểu thừa, chẳng biết nên làm sao mới được trí huệ vô thượng của Phật. Tuy nghe được tiếng của Phật nói chúng con đều sẽ thành Phật, trong tâm còn có chút không tin và hoài nghi. Chúng con người nhị thừa cũng có thể thành Phật chăng ? Cũng giống như gặp cỗ tiệc của vua chẳng dám ăn liền, nếu như chúng con được Phật thọ ký, thì lúc đó mới thật sự an vui. Thế Tôn rất hùng mãnh Thường muốn an thế gian Xin thọ ký chúng con Như đói cần bảo ăn. Thế Tôn rất oai mãnh đại anh hùng, Ngài luôn luôn muốn khiến cho tất cả chúng sinh an vui, hiện nay hy vọng Phật cũng vì chúng con mà thọ ký. Ngài Ca Diếp đã thọ ký rồi, có phải chúng con cũng có phần ? Hiện nay chúng con như người đói khát, cần Phật bảo chúng con ăn. Khi đó, đức Thế Tôn biết tâm niệm của các đại đệ tử, bèn bảo các Tỳ Kheo rằng : Ông Tu Bồ Ðề nầy, ở đời vị lai, sẽ phụng thờ ba trăm vạn ức Na do tha vị Phật, cúng dường cung kính tôn trọng, khen ngợi, thường tu phạm hạnh, đầy đủ đạo bồ đề. Kinh văn ở trước, ba vị đệ tử của Phật dùng kệ thỉnh Phật ban cho thọ ký. Phật đã biết trong tâm của các vị đại đệ tử nghĩ gì. Trong Kinh Kim cang có nói : ‘’Hết thảy bao nhiêu tâm của chúng sinh, Như Lai đều biết đều thấy’’. Tất cả chúng sinh có đủ thứ tâm niệm, Phật đều hoàn toàn biết hết. Do đó, Phật bảo tất cả hàng Tỳ Kheo ở trong pháp hội : Ông Tu Bồ Ðề ở đời vị lai, gặp ba trăm vạn ức Na do tha vị Phật, cung kính cúng dường, tôn trọng khen ngợi tất cả các vị Phật, luôn luôn đều tu hành phạm hạnh thanh tịnh, đầy đủ lục độ vạn hạnh của Bồ Tát. Nơi thân cuối cùng, sẽ được thành Phật, hiệu là Danh Tướng Như Lai, ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Ngài Tu Bồ Ðề thân cuối cùng, hành Bồ Tát đạo sẽ được thành Phật, hiệu là Danh Tướng Như Lai. Ngài Tu Bồ Ðề là giải không đệ nhất, Ngài biết các pháp không tướng. Tất cả các pháp không cũng là danh tướng, do đó Ngài thành Phật rồi hiệu gọi là ‘’Danh Tướng’’. Danh tướng cũng là thật danh, có một tướng, hoặc gọi là hư không. Như Lai : Tức là hành đạo của chư Phật, Lai thành chánh giác. Ứng Cúng : Xứng đáng thọ lãnh trời người cúng dường. Chánh Biến Tri : Biết tâm sinh vạn pháp gọi là chánh tri, biết vạn pháp duy tâm gọi là biến tri. Minh Hạnh Túc : Vì tu hành cho nên trí huệ quang minh thanh tịnh đều hiện ra. Thiện Thệ Thế Gian Giải : Một bậc giải thoát viên mãn, đã đạt đến chỗ tốt cùng cực. Vô Thượng Sĩ : Trên thế gian chẳng có ai cao hơn Ngài. Ðiều Ngự Thượng Phu : Bậc đại trượng phu điều ngự chúng sinh ba cõi. Thiên Nhơn Sư : Ðại đạo sư của dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Phật : Phật là gì ? Phật tức là người, người tức là Phật. Phật là người tu thành. Song, chúng ta phải tu hành mới có thể thành Phật, không thể nói hiện tại mình là Phật. Phải tu hành như thế nào ? Trước hết phải giác ngộ chính mình, do đó : ‘’Giác là Phật, mê là chúng sinh‘’. Khi bạn giác ngộ, tức là một vị Phật tương lai trong chúng sinh, khi bạn mê thì biến thành Phật tính chẳng giác ngộ trong chúng sinh. Giác ngộ tức là chân chánh minh bạch tất cả đạo lý trong vũ trụ. Tại sao chúng ta không giác ngộ ? Vì có nhiều tập khí mao bệnh, vô minh phiền não, thân khẩu ý đều không thanh tịnh, đủ thứ nghiệp lực chướng ngại, nên không thể giác ngộ. Nếu chúng ta muốn giác ngộ, thì phải đừng làm ác, làm điều lành, đoạn dục khử ái, siêng tu giới định huệ, tiêu diệt tham sân si, đó gọi là tự giác. Nếu chỉ là tự giác, mà không giác tha, thì vẫn không đủ ! Phải dùng phương pháp mình giác ngộ, đi giác ngộ tất cả chúng sinh, đó cũng là phát đại bồ đề tâm, hành Bồ Tát đạo, với tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo, đây gọi là ‘’tự giác giác tha’’. Tuy nhiên tự giác giác tha, song hạnh nguyện vẫn chưa viên mãn, nếu viên mãn thì xưng là Phật. Thế Tôn : Bậc tôn kính của người thế gian và xuất thế gian. Kiếp tên là Hữu Bảo, nước tên là Bảo Sinh, cõi đó bằng phẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, chẳng có hầm hố, cát sỏi gai góc, đồ tiện lợi do bẩn. Hoa báu rải đất khắp nơi đều sạch sẽ. Nhân dân cõi đó, đều ở đài báu lầu các trân quý. Hàng đệ tử Thanh Văn đông vô lượng vô biên, dùng toán số ví dụ cũng không thể biết được. Các chúng Bồ Tát đông vô số ngàn vạn ức Na do tha. Phật sống lâu hai mươi tiểu kiếp. Chánh pháp lưu lại đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng lưu lại đời hai mươi tiểu kiếp. Ðức Phật đó, thường ở trong hư không vì đại chúng nói pháp, độ thoát vô lượng Bồ Tát và chúng hàng Thanh Văn. Khi đó, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa trên, bèn nói bài kệ rằng. Danh Tướng Như Lai sẽ ra đời tại một thế giới, kiếp đó gọi là Hữu Bảo. Vì trong kiếp đó, có đủ Phật Pháp Tăng Tam Bảo, cho nên gọi là Hữu Bảo. Vì có Phật Pháp Tăng Tam Bảo sinh vào nước của Ngài, cho nên nước của Ngài gọi là Bảo Sinh. Cõi nước đó bằng phẳng, vì Ngài Tu Bồ Ðề tu tâm địa bình đẳng. Ðất làm bằng chất lưu ly, cũng do Ngài Tu Bồ Ðề có đầy đủ trí huệ quang minh chiếu sáng. Lại có bảy hàng cây báu trang nghiêm, chẳng có núi đồi, hầm hố, cát sỏi, ngói đá, gai góc. Nhân dân chẳng có đại tiểu tiện dơ dáy. Mặt đất rải hoa bảy báu, khắp nơi đều rất trang nghiêm sạch sẽ. Nhân dân ở trong đài bằng bảy báu, tất cả lầu các cũng bằng bảy báu làm thành. Tại cõi nước đó, hàng Thanh Văn nhị thừa đông vô lượng vô biên, dù dùng toán số tính đếm cũng chẳng biết được số lượng. Tất cả các chúng Bồ Tát cũng đông vô số ngàn vạn ức Na do tha. Ðức Phật đó sống lâu đến hai mươi tiểu kiếp. Chánh pháp và tượng pháp lưu lại đời đều hai mươi tiểu kiếp. Ðức Như Lai Danh Tướng thường ở trong hư không vì đại chúng nói vi diệu pháp, độ thoát vô lượng chúng Bồ Tát và chúng hành nhị thừa. Khi ấy, Phật muốn đem ý nghĩa trường hàng ở trên nói rõ hơn để đại chúng nghe, do đó dùng kệ để nói. Ðại chúng Tỳ Kheo ! Nay bảo các ông Ðều nên một lòng Lóng nghe ta nói. Ðại đệ tử ta Ông Tu Bồ Ðề Sẽ được thành Phật Hiệu là Danh Tướng. Sẽ cúng vô số Vạn ức đức Phật Tu hành theo Phật Dần đủ đại đạo. Thân cuối cùng được Ba mươi hai tướng Tốt đẹp trang nghiêm Dường như núi báu. Phật bảo các đại chúng Tỳ Kheo, các ông đều nên một lòng lóng nghe ta nói pháp. Ðệ tử lớn của ta ông Tu Bồ Ðề, tương lai sẽ thành Phật, hiệu là Danh Tướng. Khi Ngài chưa thành Phật, sẽ cúng dường vô lượng số vạn ức các Ðức Phật. Ngài theo Phật tu hành, thường hành những gì Phật hành, tu những gì Phật tu, nhận chân tu đạo, từng bước từng bước mà đạt được đại đạo thành Phật. Người chân chánh tu đạo, thì phải tu từng bước từng bước, ngày ngày dụng công biện đạo, lâu ngày thì đạo hạnh tự nhiên sẽ viên mãn. Do đó : ‘’Căng thì đứt, chậm thì chùng, Không căng không chậm mới thành công‘’. Ngài Tu Bồ Ðề hành Bồ Tát đạo, nơi thân cuối cùng đắc được ba mươi hai tướng. Tướng mạo trang nghiêm tốt đẹp, giống như tòa núi báu. Ai thấy được Ngài, đều sinh tâm vui mừng cung kính. Cõi nước Phật đó Nghiêm sạch bậc nhất Chúng sinh thấy được Thảy đều ưa thích. Phật ở nơi đó Ðộ vô lượng chúng Trong pháp hội đó Ðông các Bồ Tát. Thảy đều lợi căn Chuyển bánh xe pháp Nước đó thường dùng Bồ Tát trang nghiêm. Các chúng Thanh Văn Không thể tính kể Ðều được ba minh Ðủ sáu thần thông. Trụ tám giải thoát Có oai đức lớn Phật đó thuyết pháp Hiển hiện vô lượng. Thần thông biến hóa Không thể nghĩ bàn Trời người nhân dân Ðông như Hằng sa. Ðều cùng chắp tay Nghe Phật nói pháp Phật đó sống lâu Hai mươi tiểu kiếp. Chánh pháp ở đời Hai mươi tiểu kiếp Tượng pháp cũng trụ Hai mươi tiểu kiếp. Cõi nước của đức Danh Tướng Như Lai, trang nghiêm sạch sẽ bậc nhất, tất cả chúng sinh trong cõi nước đó thảy đều hoan hỉ. Ðức Danh Tướng Như Lai ở trong cõi nước đó, độ thoát vô lượng vô biên chúng sinh. Có rất đông các chúng Bồ Tát đều là lợi căn, chuyển bánh xe pháp bất thoái, giáo hóa chúng sinh. Cõi nước đó thường dùng chúng Bồ Tát để trang nghiêm đạo tràng, hết thảy chúng Thanh Văn đông cũng nói chẳng hết được. Các Ngài đều đắc được ba minh : Thiên nhãn minh, Thiên nhĩ minh, lậu tận minh, cũng đầy đủ lục thông : Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông, lậu tận thông, và trụ ở tám giải thoát. Tất cả Bồ Tát, Thanh Văn chúng đệ tử đều đầy đủ tướng đại oai đức. Khi Phật thuyết pháp, thì hiện đủ thứ vô lượng thần thông biến hóa, ở trong hư không thuyết pháp có đông trời người, nhiều như số cát sông Hằng, đều chắp tay lại, một lòng nghe Phật nói pháp. Phật đó sống lâu đến hai mươi tiểu kiếp, chánh pháp lưu lại ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp lưu lại ở đời cũng hai mươi tiểu kiếp. Bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo các chúng Tỳ Kheo : Nay ta nói với các ông, ông Ca Chiên Diên nầy, ở đời vị lai, dùng các đồ cúng dường, để cúng dường phụng thờ tám ngàn ức đức Phật, cung kính tôn trọng. Chư Phật diệt độ rồi, xây dựng các tháp miếu cao một nghìn do tuần, bề ngang rộng năm trăm do tuần. Dùng vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, xích châu, bảy báu tạo thành. Dùng các thứ chuỗi hoa, hương đốt, hương thoa, hương bột, lọng thêu, tràng phan, để cúng đường tháp miếu. Cúng dường như vậy xong rồi, lại cúng dường hai vạn ức đức Phật, cũng lại như thế. Cúng dường các đức Phật đó rồi, đầy đủ đạo Bồ Tát, sẽ được thành Phật, hiệu là Diêm Phù Na Ðề Kim Quang Như Lai, ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Phật thụ ký cho Ngài Tu Bồ Ðề rồi, lại bảo các đại Tỳ Kheo ở trong pháp hội : Hôm nay ta đối với các ông nói pháp, các ông đều phải bình tâm một lòng lóng nghe. Ông Ca Chiên Diên ở đời vị lai, cũng dùng đủ thứ đồ cúng dường, để cúng dường cung kính tám ngàn ức Ðức Phật. Ngài dùng chánh pháp cung kính khen ngợi, tôn trọng tất cả các Ðức Phật Thế Tôn đó. Sau khi các Ðức Phật đó vào Niết Bàn rồi, Ngài lại dựng tháp làm chùa để cúng dường. Tất cả tháp cao khoảng một ngàn do tuần, bề ngang rộng năm trăm do tuần. Ðều dùng vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, chân châu, xích châu, bảy báu tạo thành. Ngài lại dùng đủ thứ chuỗi hoa, hương thoa, hương bột, hương đốt, lọng thêu, tràng phan, để cúng dường tháp miếu. Cúng dường xong rồi, Ngài lại cung kính cúng dường hai vạn ức vị Phật. Cúng dường hai vạn ức vị Phật rồi, Ngài đầy đủ đạo Bồ Tát, sẽ được thành Phật, hiệu là Diêm Phù Na Ðề Kim Quang Như Lai, Ũng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Cõi đó bằng phẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, hoa quý rải trên mặt đất, khắp nơi sạch sẽ, ai thấy cũng hoan hỉ. Chẳng có bốn đường ác : Ðịa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A tu la. Trời người rất đông, các chúng hàng Thanh Văn và Bồ Tát, đông vô lượng vạn ức trang ngiêm cõi nước đó. Vì Ngài Ca Chiên Diên tại nhân địa tu hành pháp môn bình đẳng, cho nên mặt đất cõi nước tương lai của Ngài bằng phẳng. Mặt đất dùng pha lê tạo thành, đủ thứ cây quý bằng bảy báu trang nghiêm, dây làm bằng vàng ròng giăng bên vệ đường, tiên nữ từ trên trời rải xuống hoa báu tốt đẹp thơm tho, phủ đầy mặt đất, khắp nơi đều sạch sẽ. Tại sao cõi nước đó trang nghiêm sạch sẽ như thế ? Vì khi tại nhân địa, thì Ngài tu hành thanh tịnh, làm tất cả các điều lành. Ai thấy được cõi nước đó, đều sinh tâm hoan hỉ. Trong cõi nước đó chẳng có bốn đường ác : Ðịa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và A tu la. Tại sao mà có địa ngục ? Vì con người có tâm sân hận, nên đọa vào địa ngục. Người có tâm tham thì đọa làm ngạ quỷ, chuyên môn đố kị người khác, thì tương lai sẽ đọa làm súc sinh. Nếu người nào tranh cường háo thắng, thì tương lai sẽ đọa vào loài A tu la. Nhân dân trong cõi nước đó, tâm địa đều lương thiện, làm các điều lành, thanh tịnh tâm mình, chẳng chịu quả báo ác, nên cõi nước đó chẳng có bốn đường ác. Trời người đông vô lượng vạn ức, còn có hàng nhị thừa A La Hán, Thanh Văn, Duyên Giác, và chúng đại Bồ Tát, đều đến cõi nước đó để trang nghiêm cõi nước đó. Phật sống lâu hai mươi tiểu kiếp, chánh pháp lưu lại đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng lưu lại hai mươi tiểu kiếp. Khi đó, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa nầy, bèn nói bài kệ rằng. Ðức Phật đó, sống lâu hai mươi tiểu kiếp, chánh pháp lưu lại đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp lưu lại đời cũng hai mươi tiểu kiếp. Phật muốn nói rõ ràng hơn pháp vừa nói ở trên, bèn dùng kệ để thuật lại. Các chúng Tỳ Kheo ! Ðều một lòng nghe Pháp của ta nói Chân thật không khác. Này các Tỳ Kheo ! Các ông nên một lòng lắng nghe, pháp ta nói với các ông là chân thật hằng thường bất biến. Ca Chiên Diên nầy Sẽ dùng đủ thứ Ðồ cúng tốt đẹp Cúng dường chư Phật. Chư Phật diệt rồi Dựng tháp bảy báu Cũng dùng hoa hương Cúng dường xá lợi. Nơi thân cuối cùng Ðược trí huệ Phật Thành Ðẳng chánh giác. Ngài Ca Chiên Diên biện tài vô ngại, luận nghị bậc nhất, sẽ ở đời vị lai, dùng đủ thứ đồ cúng dường trang nghiêm tốt đẹp nhất, để cung kính cúng dường tất cả chư Phật. Các Ðức Phật đó diệt độ rồi, Ngài dùng bảy báu để dựng tháp làm chùa, lại dùng hoa và hương để cúng dường xá lợi của Phật. Thân cuối cùng của Ngài Ca Chiên Diên sẽ được trí huệ của Phật, thành Chánh đẳng chánh giác. Cõi nước sạch sẽ Ðộ thoát vô lượng Vạn ức chúng sinh Ðều từ mười phương. Ðến để cúng dường Quang minh Phật đó Không ai sánh bằng Phật đó hiệu là. Diêm Phù Kim Quang Bồ Tát Thanh Văn Dứt tất cả cõi Vô lượng vô số Trang nghiêm nước đó. Cõi nước của Ngài rất thanh tịnh sạch sẽ, độ thoát vô lượng vô biên chúng sinh, có hàng vạn ức chúng sinh đều từ mười phương đến cúng dường Ngài. Quang minh và trí huệ của Phật đó hơn hết tất cả, cho nên hiệu là Diêm Phù Kim Quang. Các chúng đại Bồ Tát, hàng Thanh Văn, đều đã đoạn trừ cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc, số đông vô lượng vô biên, đều đến trang nghiêm cõi nước của Phật đó. Bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo đại chúng : Nay ta nói với các ông, Ðại Mục Kiền Liên nầy, sẽ dùng đủ thứ đồ cúng dường, để cúng dường tám ngàn các đức Phật, cung kính tôn trọng. Các đức Phật đó diệt độ rồi, đều xây dựng tháp miếu, cao một ngàn do tuần, bề ngang rộng năm trăm do tuần. Dùng vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, xích châu, bảy báu tạo thành. Dùng các thứ chuỗi hoa, hương thoa, hương bột, hương đốt, lọng báu, tràng phan, để cúng dường. Việc làm đó xong rồi, lại cúng dường hai trăm vạn ức các đức Phật, cũng lại như thế. Khi đó, Phật lại bảo đại chúng nói : Hôm nay ta muốn nói với các ông rằng, tôn giả Ðại Mục Kiền Liên ở đời vị lai, sẽ dùng đủ thứ đồ cúng dường để cúng dường tám ngàn vị Phật. Ngài dùng tâm cung kính tôn trọng như là cúng dường. Sau khi các Ðức Phật đó diệt độ rồi, Ngài lại dựng tháp làm chùa, cao một ngàn do tuần, bề ngang rộng năm trăm do tuần. Ðều dùng vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, xích châu, để tạo thành. Ngài lại dùng đủ thứ hoa, chuỗi, hương thoa, hương bột, hương đốt, lọng thêu, tràng phan, để cúng dường tháp chùa. Cúng dường những tháp chùa đó rồi, Ngài lại tiếp tục như ở trên, cúng dường hai trăm vạn ức các Ðức Phật. Sẽ được thành Phật, hiệu là Ða Ma La Bạt Chiên Ðàn Hương Như Lai, ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ thế gian giải, Vô thượng sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Sau khi Ngài cúng dường hai trăm vạn ức các Ðức Phật rồi, sẽ được thành Phật, hiệu là Ða Ma La Bạt Chiên Ðàn Hương Như Lai. Ða Ma La là tiếng Phạn, nghĩa là "tự tính thanh tịnh, bụi trần chẳng nhiễm". Chiên Ðàn Hương là một thứ gỗ thơm tối thượng nhất. Kiếp tên là Hỉ Mãn. Nước tên là Ý Lạc. Cõi đó bằng phẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, rải các thứ hoa trân châu, khắp nơi đều sạch sẽ, ai thấy cũng đều hoan hỉ. Rất đông trời người, các chúng Bồ Tát và Thanh Văn số đông vô lượng. Kiếp tên là Hỉ Mãn. Vì trong kiếp đó đầy dẫy sự vui thích, cho nên cõi nước cũng có tên là Ý Lạc. Mặt đất cõi nước đó, dùng pha lê tạo thành, bảy hàng cây báu trang nghiêm. Từ trên trời rải xuống các thứ hoa bằng trân châu, khắp nơi đều sạch sẽ, ai thấy được nước đó, cũng đều sinh tâm hoan hỉ vui thích. Có rất đông trời người, Thanh Văn và Bồ Tát không thể nào tính kể hết được. Phật sống lâu hai mươi bốn tiểu kiếp, chánh pháp lưu lại đời bốn mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng lưu lại đời bốn mươi tiểu kiếp. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa nầy, bèn nói bài kệ rằng. Ðức Phật đó sống lâu đến hai mươi bốn tiểu kiếp, chánh pháp lưu lại đời bốn mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng lưu lại đời bốn mươi tiểu kiếp. Khi Phật nói đoạn kinh trên đây xong rồi, lại muốn dùng kệ thuật lại khiến cho đại chúng hiểu rõ hơn. Ðệ tử ta đây Ðại Mục Kiền Liên Bỏ thân nầy rồi Ðược thấy tám ngàn. Hai trăm vạn ức Chư Phật Thế Tôn Vì thành Phật đạo Cung kính cúng dường. Ở chỗ chư Phật Thường tu phạm hạnh Trong vô lượng kiếp Phụng trì Phật pháp. Chư Phật diệt rồi Dựng tháp bảy báu Cao rộng tốt đẹp Dùng các hương hoa. Kỹ nhạc cúng dường Tháp chùa chư Phật. Vị đại đệ tử Mục Kiền Liên của ta đây, khi bỏ thân nầy rồi, sẽ được gặp tám nghìn hai trăm vạn ức các Ðức Phật Thế Tôn. Vì tu thành Phật đạo, Ngài rất cung kính cúng dường tất cả các vị Phật. Ngài ở trước các Ðức Phật, thường học theo các Ðức Phật, tu phạm hạnh thanh tịnh, ở trong vô lượng kiếp, Ngài nhất tâm phụng trì Phật pháp. Khi các Ðức Phật diệt độ rồi, Ngài lại xây tháp chùa bằng bảy báu, cao rộng tốt đẹp trang nghiêm. Dùng các thứ hoa, hương, kỹ nhạc, để cúng dường những tháp chùa đó. Dần dần đầy đủ Bồ Tát đạo rồi Ở nước Ý Lạc Mà được thành Phật Hiệu Ða Ma La Bạt Chiên Ðàn Hương Phật đó sống lâu Hai mươi bốn kiếp. Ngài dần dần đầy đủ viên mãn lục độ vạn hạnh, hàng sinh ở nước Ý Lạc mà thành Phật đạo, hiệu là Ða Ma La Bạt Chiên Ðàn Hương Phật. Vì Ngài tại nhân địa tu hành thanh tịnh, cho nên được thanh tịnh trang nghiêm không nhiễm, trên thân thoảng ra mùi hương chiên đàn, Phật đó sống lâu hai mươi bốn tiểu kiếp. Thường vì trời người Diễn nói Phật đạo Thanh Văn vô lượng Như cát sông Hằng. Có oai đức lớn Ba minh sáu thông Bồ Tát vô số Chí bền tinh tấn. Ðều chẳng thối chuyển Nơi trí huệ Phật. Ngài thường vì trời người diễn nói Phật pháp, trong cõi nước của Ngài có vô lượng chúng hàng Thanh Văn, đông nhiều như cát sông Hằng, các Ngài đều đầy đủ tam minh, lục thông và có đủ tướng oai đức, lại có vô lượng số đại Bồ Tát, các Ngài chí nguyện đều bền vững, dũng mãnh tinh tấn, đắc được trí huệ vô lượng của Phật, đều được bất thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Phật diệt độ rồi Chánh pháp trụ thế. Bốn mươi tiểu kiếp Tượng pháp cũng thế Các đệ tử ta Oai đức đầy đủ. Số đông năm trăm Ðều được thọ ký Ở đời vị lai Ðều được thành Phật. Ta và các ông Ðời trước có duyên Nay ta sẽ nói Các ông khéo nghe. Phật đó diệt độ rồi, chánh pháp lưu lại thế gian bốn mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng như thế. Trong các vị đệ tử của ta, có năm trăm vị đầy đủ tướng oai đức, đều được thụ ký, ở đời vị lai sẽ được thành Phật. Ta với các ông đều có nhân duyên trong quá khứ, cho nên nay ta phải nói với các ông pháp nầy. Các ông phải khéo lắng nghe cho kỹ. Cập nhật cuối (Thứ 2, 28 Tháng 12 2009 23:36) No images KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 12 TẬP 03 Quyển 04 Phẩm Đề Bà Đạt Đa thứ mười hai Ðề Bà Ðạt Ða là anh em chú bác với Ðức Phật, song ở đâu Ngài cũng làm ngược lại với Ðức Phật. Có người nói Ngài có cừu hận với Ðức Phật. Kỳ thật, Ðức Phật thành đạo, Ngài thuộc về người nghịch tăng thượng duyên trợ đạo, mà đời đời kiếp kiếp Ðề Bà Ðạt Ða còn đến trợ giúp Phật thành tựu đạo nghiệp. Do đó, Ngài dùng nhân vật phản diện để giúp thành Phật đạo, đó là người ‘’nghịch trợ giúp’’ vậy. Ðề Bà Ðạt Ða là tiếng Phạn, dịch là ‘’thiên nhiệt’’, vì khi Ngài tại thế thì chuyên môn phản diện để trợ giúp người, khiến cho người cảm thấy rất nhiệt não, khí trời cũng biến thành nóng bức, do nhân duyên đó mà được tên. Tại sao Ngài phải phản diện để trợ giúp Ðức Phật thành đạo ? Ðó cũng có một nhân duyên. Vào thuở xa xưa về quá khứ, có một vị trưởng giả giàu có tên là Tu Ðàn. Ông ta có hai người con. Người con lớn tên là Tu Ma Ðề, người con kế tên là Tu Tỳ Gia. Sau khi ông ta qua đời, thì hai người con tính toán thừa kế di sản của cha. Ông anh cả Tu Ma Ðề bèn nghĩ : ‘’Nếu mình chia một nửa tài sản cho Tu Tỳ Gia, thì chẳng phải là mình bớt đi một nửa tài sản chăng ?’’ Do đó, anh ta hẹn với người em Tu Tỳ Gia, đến núi Linh Thứu để du ngoạn. Khi đến tới đỉnh núi, thì Tu Ma Ðề xô người em xuống hang núi, người em tan thân nát xương qua đời, sau đó người anh còn lấy đá đập thi thể, vì sợ người em bị thương tích không chết. Một người anh dùng phương pháp tàn ác để giết em mình, chỉ vì đoạt lấy tài sản của cha để lại. Tu Ma Ðề thuở đó, tức là tiền thân của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn Tu Tỳ Gia tức là tiền thân của Ðề Bà Ðạt Ða, người cha Tu Ðàn tức là Vua A Xà Kỳ. Mà phẩm nầy Phật nói nhân duyên Ðề Bà Ðạt Ða, trợ giúp Phật thành tựu đạo nghiệp. Bấy giờ, Phật bảo các vị Bồ Tát và trời người bốn chúng : Ta ở trong vô lượng kiếp quá khứ, cầu Kinh Pháp Hoa chẳng khi nào lười mỏi. Ở trong nhiều kiếp thường làm vua, phát nguyện cầu vô thượng bồ đề, tâm chẳng thối chuyển, vì muốn đầy đủ sáu Ba la mật, tâm chẳng xan tham, nên siêng thực hành bố thí : Voi ngựa bảy báu, đất nước vợ con, nô tì tôi tớ, đầu mắt tủy não, thân thịt tay chân, chẳng tiếc thân mạng. Ðoạn văn nầy nói về Ðức Phật trong đời quá khứ, vì cầu vô thượng bồ đề. Bố thí ngoại tài, nội tài, hết thảy tất cả đều vì cấu pháp mà bố thí. Sau khi nói xong phẩm Hiện Bảo Tháp, thì Phật lại không hỏi mà nói, bảo các vị Bồ Tát và trời, người, Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ : Ta ở trong vô lượng kiếp quá khứ, vì cầu diệu lý Kinh Pháp Hoa, mà luôn luôn chưa từng sinh một niệm lười mỏi giải đãi. Ở trong nhiều kiếp ta thường làm vua, ta phát nguyện cầu vô thượng bồ đề, tâm chẳng thối chuyển, muốn đầy đủ pháp môn sáu Ba la mật : 1. Bố thí : Siêng tu pháp môn bố thí, thì tâm chẳng tham lam. Phật đem hết thảy châu báu như : Ngựa báu, vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, xích châu, trân châu, mã não, đất nước, thành ấp, thê thiếp, con cái, nô tì, tôi tớ, những gì kẻ khác cần, Phật đều bố thí hết. Ở trên là thuộc về ngoại tài. Còn có nội tài bố thí tức là : Ðầu, mắt, tủy, não, xương thịt, tay chân, chẳng có tơ hào thương tiếc thân thể và tính mạng của mình, vì cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi biển khổ mà hành bố thí . Ðức Phật vì viên mãn sáu Ba la mật, cho nên y báo, chánh báo đều cùng xả bỏ, không ngoài mục đích cầu sớm chứng quả vị Phật, đó là hành vi thực hành Bồ Tát đạo chân chánh. 2. Trì giới : Tức là không làm ác ngừa điều quấy, tức cũng là ba điều ác nơi thân : Sát hại, trộm cắp, tà dâm. Bốn điều ác nơi miệng : Nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, chưởi mắng. 3. Nhẫn nhục : Khó nhẫn mà nhãn được, dù bị người đánh đập, mắng chưởi cũng nhẫn được. 4. Tinh tấn : Bất cứ làm gì cũng đều có trước có sau, thân tâm chẳng lười mới là tinh tấn. 5. Thiền định : Tứ thiền bát định, tức là : Sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Ðến cảnh giới sơ thiền, thì hơi thở chẳng còn. Cảnh giới nhị thiền, thì các mạch máu ngưng lại. Cảnh giới tam thiền, thì niệm cũng ngừng. Cảnh giới tứ thiền, thì niệm đã dứt. Sơ thiền còn gọi là Ly sinh hỷ lạc địa, cảnh giới lìa khỏi phiền não mà sinh ra khoái lạc. Nhị thiền là Ðịnh sinh hỷ lạc địa. Tam thiền là Ly hỷ diệu lạc địa. Tứ thiền là Xả niệm thanh tịnh địa. Bát định là ngoài tứ thiền ra, còn có: Không vô biên định .v.v. 6. Bát nhã : Phát ra trí huệ chân chánh của tự tánh, đoạn trừ tham sân si ba độc, thì trí huệ sẽ hiện tiền. Nghĩa lý sáu Ba la mật rất nhiều. Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, tức là một thứ bố thí Ba la mật. Không nói hai lưỡi, là trì giới Ba la mật, không chưởi mắng là nhẫn nhục Ba la mật, không nói thêu dệt là tinh tấn Ba la mật, không tham sân là thiền định Ba la mật, không tà kiến là Bát Nhã Ba la mật. Sáu ba la mật còn có ba lối nói : A. Ðối trị. B. Tương sinh. C. Quả báu. A. Ðối trị : 1. Bố thí đối trị với xan tham. 2. Trì giới đối trị hủy phạm. 3. Nhẫn nhục đối trị sân hận. 4. Tinh tấn đối trị giải đãi. 5. Thiền định đối trị tán loạn. 6. Bát nhã đối trị ngu si. B. Tương sinh : Trì giới thì gặp chuyện nhục nhã, sẽ nhẫn được, nhẫn được sẽ tinh tấn được, tinh tấn sẽ điều phục được năm căn : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, năm căn điều phục rồi, thì nhiếp được vào nơi pháp giới, nhiếp được vào pháp giới, tức là Bát nhã. C. Quả báo : Bố thí sẽ được quả báo giàu sang, trì giới sẽ được quả báo các căn đầy đủ, nhẫn nhục sẽ được quả báo tướng mạo đoan chánh, tinh tấn sẽ được quả báo thế lực lớn, thiền định sẽ được quả báo sống lâu, Bát nhã sẽ được quả báo biện tài vô ngại. Mỗi thứ Ba La Mật lại có mười điều lợi ích : Bố thí Ba la mật : 1. Hàng phục được phiền não xan tham. 2. Xả niệm tương tục, chân chánh hành bố thí. 3. Bình đẳng với tất cả chúng sinh, chẳng khởi tâm phân biệt. 4. Sinh vào nhà giàu sang. 5. Ðời đời kiếp kiếp khởi tâm bố thí. 6. Bốn chúng kính mến. 7. Vào trong chúng không khiếp sợ, người thiện ác chẳng sinh tâm sợ hãi. 8. Danh tốt đồn khắp. 9. Tay chân mềm mại. 10. Gặp được thiện tri thức chân chánh. ‘’Trì giới là không làm ác ngừa việc quấy‘’. Không làm ác là không làm điều ác nào, ‘’ngừa việc quấy‘’ là làm các điều lành. Ðừng cho rằng việc lành nhỏ mà không làm, đừng cho rằng điều ác nhỏ mà làm. Phải biết việc lành to lớn, là do việc lành nhỏ tích lũy mà thành. Do đó, trì giới thanh tịnh thì được mười điều lợi ích : 1. Viên mãn nhất thiết trí. 2. Vào sở học của Phật lấy giới làm thầy, vì kim cang quang minh bảo giới là bổn thể của chư Phật. 3. Chẳng hủy báng bậc trí, chẳng những chẳng huỷ báng người có trí huệ, mà còn khen ngợi, trước hết đừng tranh đệ nhất, phải lão lạo thật thật cung hành thực tiễn, tâm chân thì việc thật, thì tự nhiên bạn sẽ đệ nhất. 4. Thệ nguyện chẳng thối lùi, phát tâm cầu Phật đạo. Ðầu mắt tủy não, thân thịt tay chân, cho đến tính mạng vĩnh viễn không thối chuyển nơi bồ đề tâm. 5. An trụ chánh hạnh, chẳng sinh tâm phan duyên, thường lợi ích kẻ khác. 6. Xả bỏ sanh tử : Xả bỏ tất cả để nhận chân tu hành. 7. Mộ niệm Niết Bàn bốn đức. 8. Tâm chẳng hà tiện, tâm chẳng bị tham sân si mạn nghi làm hại. 9. Ðược tam muội thù tháng. 10. Chẳng thiếu tín tài, có tín tâm là một thứ tài báu, mới sinh ra tâm bồ đề. Nhẫn nhục chẳng dễ gì làm được, cho nên trên chữ nhẫn có cái đao cắm ở trên chữ tâm (忍), mà đao lại nhọn, đao nhọn đè trên tim (tâm), ‘’nhẫn‘’ giống như đao đâm ở trong tim, đủ thấy chẳng dễ gì nhẫn được. Nếu không dễ gì nhẫn mà nhẫn được, thì phá được quan ải nhẫn. Lúc đó, sẽ đắc được nhẫn nhục Ba la mật. Từ bờ sinh tử qua dòng phiền não, đến được bờ Niết Bàn bên kia. ‘’Nhẫn là báu vô giá, mọi người xử không tốt, nếu hay nhẫn nhục được, thì mọi việc đều tốt đẹp‘’. Bồ Tát Di Lặc lại có một bài kệ rằng : ‘’Lão quê mặc áo vá Cơm hẩm no đầy bụng Áo vá che rét lạnh Vạn sự hãy tùy duyên. Có ai mắng lão quê Lão quê chỉ nói tốt Có ai đánh lão quê Lão quê nằm lăn ra. Khạc nhổ vào mặt lão Ðể nó tự khô lấy Ta cũng chẳng nhọc sức Họ cũng chẳng phiền não. Ðây là Ba la mật Tức là báu trong diệu Nếu làm được như thế Lo gì đạo chẳng thành‘’. Nhẫn nhục Ba la mật có mười điều lợi ích : 1. Lửa chẳng thiêu được, vì trong tâm chẳng có lửa sân, lửa bên ngoài chẳng cách gì làm hại được. 2. Ðao chẳng hại được, vì bên trong chẳng có đao thương vũ khí, và tâm thương hại, nên đao thương bên ngoài cũng không làm hại được. 3. Ðộc không hại được, do đó có câu : ‘’Dù gặp đao nhọn vẫn ung dung, Hoặc uống thuốc độc cũng an nhàn‘’. Cho nên Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma bị ngoại đạo hạ độc sáu lần, mà Ngài chẳng trúng độc, cũng không chết. Vì trong vô lượng kiếp về trước, Ngài tu hạnh nhẫn nhục viên mãn. Bên trong chẳng có tâm độc, bên ngoài chẳng hại được. 4. Nước ngập chẳng chết. 5. Tất cả Thiên Long bát bộ, người, chẳng phải người, đều ủng hộ. Thân tướng thanh tịnh trang nghiêm, mọi người thấy, tâm đều sinh kính mến. 7. Vĩnh viễn chẳng đọa vào ba đường ác. 8. Ðược sinh cõi Trời Phạm Thiên. 9. Ngày đêm an lạc. 10. Thân tâm thường sinh vui mừng. Tinh tấn tức chẳng lười biếng giải đãi, ví như khi nghe kinh thì ngủ, khởi vọng tưởng, hoặc nói chuyện với người khác, đó đều là chẳng tinh tấn. Vậy thế nào mới là tinh tấn ? Tức là chẳng tham ngủ, chẳng khởi vọng tưởng, chẳng nói chuyện với kẻ khác, tất cung tất kính, chú ý nghe kinh, mới là tinh tấn. Hơn nữa ngày đêm sáu thời chẳng có mệt mỏi, luôn luôn niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, đó là thân tâm tinh tấn. Tinh tấn có mười điều lợi ích : 1. Họ không triết phục được, vì định lực kiên cố, biện luận với bất cứ ai, chắc chắn sẽ trăm chiến trăm thắng. 2. Ðược Phật nhiếp hộ. 3. Ðược phi nhân (chẳng phải người) hộ trì, Thiên Long bát bộ, người, chẳng phải người, đều đến hộ trì. 4. Nghe pháp không quên, một khi lọt qua tai chẳng bao giờ quên. 5. Chưa nghe được nghe, chẳng có cơ hội được nghe pháp thì có thể sẽ được nghe. 6. Tăng trưởng biện tài, đắc được biện tài vô ngại, hay khiến cho người nghe pháp hỷ sung mãn. 7. Ðược tánh tam muội. 8. Ít bệnh ít não. 9. Tâm được khinh an. 10. Hoa Lộ Ưu Ba và Hoa Ưu Ðàm Bát (những thứ hoa nầy ba ngàn năm mới nở một lần), ngày ngày tăng dần. Cho nên người tu phải dũng mãnh tinh tấn, tinh tấn hóa trùng biến thành rồng. Thiền na Ba la mật. Thiền na là tiếng Phạn, dịch là "Tư duy tu", tiếng tàu gọi tắc là thiền. Thông thường tham câu ‘’Niệm Phật là ai ?’’ Gọi là tham thiền, như dùng máy khoan để khoan lỗ, lại như mèo rình chuột. Chuột đại biểu cho vô minh của chúng ta. Tham thiền là kéo chân tâm lại, lại như là rồng giữ hạt châu, thời khắc luôn luôn tự tại tức là quán tự tại, nếu không thể quán tự tại, tức là đang khởi vọng tưởng. Do đó : ‘’Niệm dấy lên, trăm việc đều có, Ý niệm ngừng, vạn sự đều không Tâm ngừng niệm bặc, giàu sang thật Lòng dục đoạn sạch, là ruộng phước‘’. Tại sao con người bần cùng ? Vì trong tâm có tham sân si, như hố không đáy, nếu buông bỏ đặng, không phan duyên bên ngoài, không chấp trước sắc trần, đó mới là một người giàu sang thật sự. Nếu đoạn sạch lòng tư dục, thì mới là phước báo thật sự, tham thiền cũng có mười điều lợi ích : 1. An trụ oai nghi : Tham thiền đến cảnh giới : "Trên chẳng biết có trời Dưới chẳng biết có đất". ‘’Không người, không ta, quán tự tại, Chẳng không, chẳng sắc, thấy Như Lai‘’. 2. Hành từ cảnh giới : Hay từ bi nhiếp thọ giáo hoá tất cả chúng sinh. 3. Chẳng có phiền não. 4. Giữ gìn sáu căn, mắt chẳng chạy theo sắc trần, tai chẳng chạy theo thanh trần, mũi chẳng chạy theo hương trần, lưỡi chẳng chạy theo vị trần, thân chẳng chạy theo xúc trần, ý chẳng chạy theo pháp trần. Sáu căn phóng quang chấn động trời đất, trí huệ quang minh chiếu khắp ba nghìn đại thiên thế giới. 5. Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. Nghĩa là lấy niềm vui của thiền làm thức ăn, niềm vui của pháp hỷ tràn trề. 6. Lìa khỏi ái dục, tại sao con người có sinh tử ? Vì ái dục chưa đoạn, cho nên luân hồi ở trong sáu nẻo. Nếu đoạn dục khử ái, thì cửa địa ngục cũng đóng bít, chẳng đọa vào đường ác nữa. Do đó, có câu: ‘’Nghiệp không nặng không sinh Ta Bà Ái không dứt không sinh tịnh độ‘’. 7. Tu thiền bất không : Thời khắc luôn luôn tham thiền, thì nhất định sẽ tăng trưởng huệ mạng, khai mở đại trí huệ. 8. Giải thoát ma nghiệp : Ma chẳng cách gì chướng ngại đạo nghiệp của bạn. 9. An trụ cảnh Phật, an trụ ở cảnh giới của Phật. 10. Giải thoát thành thục, chẳng quái chẳng ngại, được pháp thân thanh tịnh. Bát Nhã Ba La Mật, ‘’Bát Nhã‘’ là tiếng Phạn, dịch là "Trí huệ". Tại sao hai chữ không đọc là ‘’Trí huệ‘’? Vì hai chữ ‘’Bát Nhã‘’ nầy, hay hình dung trí huệ siêu nhiên của Phật, khác với trí huệ mà phàm phu nói, cho nên không dịch. ‘’Bát Nhã‘’ còn bao hàm ba ý nghĩa: A. Văn tự Bát nhã : Tất cả kinh điển của Phật nói, đều thuộc về văn tự Bát nhã. B. Quán chiếu Bát nhã : Do văn tự Bát nhã, mà khởi quán chiếu Bát nhã, thâm nhập kinh điển Phật giáo, sau đó sinh ra quán chiếu trí huệ. C. Do quán chiếu Bát nhã, mà đạt được thật tướng Bát nhã. Thật tướng vốn là vô tướng, song vô tướng bất tướng, nên gọi là thật tướng, tức cũng là phi không phi hữu (chẳng không chẳng có). Văn tự bát nhã tức là có, quán chiếu bát nhã tức là không, nếu từ có mà đạt đến không, thì từ không đạt đến phi không phi hữu, được như thế thì ngộ được cảnh giới chân không diệu hữu, cho nên gọi là thật tướng Bát nhã. Ai có trí huệ tức là Bát nhã, ai không có trí huệ thì ngu si. Nếu ai biết mình ngu si, thì bắt đầu có trí huệ. Vì tự biết mình ngu si, thì trí huệ quang minh tất nhiên hiện tiền. Nếu mình tự cho rằng mình đúng, chẳng chịu sửa đổi, thì đó chẳng có Bát nhã trí huệ. Bát nhã tức cũng chẳng chấp trước, do đó ‘’Trí quang thường sáng‘’, nếu chúng ta tu trì Bát nhã, thì chắc chắn cũng đắc được mười điều lợi ích của Bát nhã: 1. Bố thí chẳng giữ tướng bố thí, chẳng giữ lấy tướng thọ bố thí, chẳng chấp trước, tức cũng là tam luân thể không. Nghĩa là: Người thí, kẻ nhận, vật bố thí, đều không. Nếu chẳng chấp trước về người thí và kẻ nhận, thì gọi là chẳng thủ lấy tướng bố thí. Chúng ta đừng học theo Vua Lương Võ Ðế, ông ta từng hỏi Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma : ‘’Tôi tạo dựng nhiều chùa, làm nhiều cầu, bố thí cho nhiều tăng chúng, vậy Ngài nói tôi có công đức nhiều bao nhiêu ?’’ Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma vì chẳng thuận nhân tình, nói thật với ông ta rằng : ‘’Chẳng có công đức‘’. Kỳ thật, chẳng có công đức, tức là chẳng có chấp trước, chẳng chấp trước tức là công đức. Công đức như hư không, không thể dò lường được. 2. Chẳng y vào giới : Nếu có người cho rằng mình giữ gìn giới luật là giỏi nhất, mà còn chấp trước thì đó là sai. Vì còn chấp trước vào ngã tướng (tướng ta). Nếu không chấp trước vào trì giới, có thể không trì mà trì, trì mà vô tâm, đó mới là chân chánh trì giới. 3. Không trụ vào sức nhẫn : Chẳng chấp trước mình có sức nhẫn nhục, mới là thật nhẫn. Thật nhẫn thì thì chẳng có tâm hay nhẫn, hay nhẫn mà chẳng nhẫn, căn bản chẳng cho rằng như thế. Nếu nói ta đang nhẫn nhục, thì giống như đầu lại thêm đầu. Cho nên chân chánh tu đạo nhẫn nhục, thì phải minh bạch tướng không của các pháp, đó mới là chân chánh tu đạo. 4. Chẳng lìa thân tâm mà tinh tấn : Thân tâm đều tinh tấn, song cũng đừng chấp trước mình suốt ngày tinh tấn. Nếu có sự chấp trước, thì chẳng phải là Bát Nhã tinh tấn. Bát nhã tinh tấn là tinh tấn, mà chẳng chấp vào sự tinh tấn, chẳng vì tinh tấn mà tinh tấn, quét tất cả pháp, lìa tất cả tướng, hàng phục được tâm, vẫn phải lìa tướng hàng phục. 5. Thiền vô sở trụ : Tham thiền đến cảnh giới chẳng chấp trước vào đâu, thì phá được ngã (cái ta), pháp hai chấp, được đại giải thoát, cho nên gọi là Bát nhã thiền. 6. Ma không thể nhiễu loạn : Ma đến nhiễu loạn, song tâm chẳng giao động, chẳng mất chánh tri chánh kiến. 7. Lời bàn luận của kẻ khác chẳng động tâm : Ví như người chẳng có trí huệ, niệm ba ngày danh hiệu A Di Ðà Phật, nghe người khác nói tu mật tông là tốt nhất, y bèn chạy theo. Nếu tâm không định, thì rất dễ chạy theo lời lẽ của kẻ khác. Tôi xin kể một câu chuyện : Xưa kia, Ngài Ngưỡng Sơn ở tại một túp lều tranh dột nát, túp lều tranh dột nát không thể che gió che mưa được. Lúc bấy giờ, tướng quốc Bùi Hưu nhìn thấy vị tu hành nầy, ở trong một túp lều tranh dột nát chẳng đành lòng. Do đó, bèn phát tâm đại bồ đề, cúng dường ba trăm lạng bạc, để tạo dựng một ngôi chùa mới. Tướng quốc Bùi Hưu đem ba trăm lạng bạc để ở trên đống cỏ ở trước cửa lều tranh rồi bỏ đi. Ba năm sau, ông ta lại trở lại xem Ngài Ngưỡng Sơn, thì phát giác Ngài Nhưỡng Sơn vẫn ở túp lều tranh dột nát đó, ông ta nghĩ : ‘’Ðáo để vị Hòa Thượng nầy dùng ba trăm lạng bạc để làm gì ? Sao chẳng thấy chùa đâu cả?‘’ Do đó, bèn hỏi Ngài : ‘’Lão Hoà Thượng ! Trước kia tôi cúng cho Ngài ba trăm lạng bạc, Ngài làm việc gì mà chẳng thấy đem ra làm chùa : ‘’Ngài Ngưỡng Sơn nói : ‘’Trước kia ông để ba trăm lạng bạc ở đâu, thì đến đó tìm ! ‘’Do đó, tướng quốc Bùi Hưu bèn đến đống cỏ xem lại, thì quả nhiên ba trăm lạng bạc vẫn còn nằm đó, mới biết lão hòa thượng nầy là một vị chân tu, kính ngưỡng vô cùng, đích thân thế Ngài làm chùa. Sau đó, đem con (Hàn Lâm) cho vào chùa xuất gia, có pháp hiệu là Pháp Hải thiền sư. Còn có câu chuyện nữa : Thuở xưa, có hai vị sư huynh đệ phát tâm cùng tu hành với nhau, ngày ăn một bữa, chịu khổ chịu cực. Một ngày nọ, hai người đến núi Ngũ Ðài, lúc đó trời đổ tuyết lớn, nên hai vị tá túc trong một túp lều dột nát. Vì chẳng có lương thực, cho nên phải chịu đói ba ngày. Lúc đó, vị sư đệ khởi vọng tưởng : ’’Sư huynh là người xuất thân từ gia đình giàu có, chưa bao giờ chịu nhịn đói, lần nầy chịu đói với mình ở đây đã ba ngày, thật đáng thương ! Phải chi có ai đến cúng dường một tô mì nóng, thì tốt biết bao‘’. Vị đó khởi vọng tưởng như thế, thì thần thổ địa biết được cũng lo lắng. Vì thấy huynh đệ hai vị chân chánh tu hành nhịn đói đã ba ngày, nếu không phát tâm đến trợ giúp, thì hai vị có thể sẽ chết đói. Do đó, thần thổ địa báo mộng cho một cặp vợ chồng ở sau núi, kêu họ đến cúng dường hai vị tu hành. Sáng sớm ngày thứ hai, thì cặp vợ chồng đó đem hai tô mì lớn đến cúng cho hai vị. Vị sư đệ gặp cặp vợ chồng đó đến, vui mừng cười lớn tiếng. Lúc đó, vị sư huynh biết chắt là vị sư đệ khởi vọng tưởng ăn mì, nên bèn mổi giận nói : "Bây giờ đường ai nấy đi". Tu đạo, nếu đầy đủ công phu, thì chẳng hướng tâm bên ngoài phan duyên, mọi lời lẽ cũng chẳng làm cho tâm giao động định lực, mà vị sư huynh đó khống chế được vọng tâm hướng cầu bên ngoài. 8. Vượt qua dòng sinh tử : Ðạt đến cảnh giới Niết Bàn, lìa bờ sinh tử bên nầy, mà chứng được thường lạc ngã tịnh, bốn đức Niết Bàn bời bên kia. 9. Tăng trưởng tâm từ bi. 10. Không ưa trụ ở bậc nhị thừa : Chẳng ưa thích trụ ở quả vị hàng nhị thừa, nguyện đi trên đường đại thừa, hồi tiểu hướng đại, tu pháp đại thừa Bát nhã. Thuở đó, nhân dân sống lâu vô lượng. Vì cầu pháp mà xả bỏ ngôi vua, giao phó lại cho thái tử, đánh trống tuyên cáo, cầu pháp khắp bốn phương rằng : Ai có thể vì ta nói pháp đại thừa, thì ta sẽ suốt đời hầu hạ cung phụng người đó. Trong vô lượng kiếp về trước, Ðức Phật làm vua, lúc ấy Ngài hay xả bỏ sinh mạng tu sáu độ vạn hạnh. Thuở đó nhân dân sống rất lâu. Vì vị vua đó muốn cầu pháp, cho nên xả bỏ ngôi vua, giao phó ngôi vua lại cho thái tử. Sau đó đánh trống tuyên bố với nhân dân : ‘’Ta muốn đi khắp bốn phương cầu pháp, vị nào có đạo đức vì ta nói pháp đại thừa, thì ta suốt đời đem thân nầy hầu hạ, phụng dưỡng làm tôi tớ cho người đó‘’. Bấy giờ, có vị tiên nhân đến bạch với vua rằng : Ta có pháp đại thừa tên là Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nếu không làm trái ý của ta, thì ta sẽ vì nhà ngươi mà nói. Vua nghe vị tiên nói rất vui mừng hớn hở, bèn đi theo vị tiên nhân, cung phụng hái quả, gánh nước, nhặt củi, nấu cơm cho đến dùng thân mà làm giường tòa, thân tâm chẳng biết mệt mỏi, phụng sự như thế trải qua một ngàn năm, vì cầu pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ, khiến cho vị thiên nhân chẳng thiếu thốn gì cả. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ rằng: Lúc đó, có vị tiên nhân đến bạch với vua rằng : ‘’Ta có bộ kinh đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa, nếu nhà vua không trái lời ta dạy, thì ta sẽ vì nhà vua mà nói.’’ Nhà vua nghe vị tiên Trường Thọ nói rồi, tâm rất vui mừng hớn hở, lập tức đi theo vị tiên nhân, cung phụng những gì ông ta cần, lại đến núi hái quả, gánh nước, nhặt củi, nấu cơm, cho đến dùng thân thể của Ngài để làm giường tòa cho vị tiên, làm như thế mà thân tâm chẳng sinh chút mệt mỏi nào, cứ làm như vậy trải qua suốt một ngàn năm. Vì kiên thành cầu pháp, nên chẳng khi nào giải đãi, khiến cho vị tiên nhân chẳng thiếu thốn gì ! Lúc bấy giờ, Ðức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa lý ở trên, nên dùng kệ để nói. Ta nhớ kiếp quá khứ Vì cầu pháp đại thừa Tuy làm vua trong đời Chẳng tham vui năm dục. Ðánh trống khắp bốn phương Ai có pháp đại thừa Nếu vì ta giải nói Ta sẽ làm tôi tớ. Bèn có tiên A Tư Ðến bạch với đại vương: Ta có pháp vi diệu Hiếm có ở trong đời. Nếu mà tu hành được Ta sẽ vì ngươi nói. Ta nhớ lại vô lượng kiếp trong quá khứ, vì cầu pháp đại thừa, tuy làm vua của một nước lớn trong thế gian, song chẳng tham luyến sự vui của năm dục. Do đó, ta bèn đánh trống khắp bốn phương tuyên bố rằng : ‘’Ai hiểu pháp đại thừa, nếu vì ta giải thích nói, tuy ta là ông vua, song ta nguyện làm tôi tớ cho người đó. ‘’Vì Ngài cầu pháp vô thượng, lúc đó có vị thiên A Tư (tiên trường thọ) đến bạch với vua rằng : ‘’Ta có pháp vi diệu cao thượng nhất, pháp nầy rất hiếm có trong đời, nếu như Ngài muốn y pháp tu hành, chẳng trái lời dạy của ta, thì ta sẽ vì ngươi nói diệu pháp đó.’’ Khi vua nghe tiên nói Trong tâm rất vui mừng. Lập tức theo tiên nhân Cung cấp thứ cần dùng Nhặt củi và hái quả Theo lời cung kính dâng. Vì muốn cầu diệu pháp Thân tâm chẳng mệt mỏi Khắp vì các chúng sinh Siêng cầu pháp đại thừa. Cũng chẳng vì thân mình Và cầu vui năm dục Nên làm đại quốc vương Siêng cầu được pháp này. Cuối cùng được thành Phật Nên nay vì ông nói. Lúc đó, ông vua nghe vị tiên nói, trong tấm rất vui vẻ mừng rỡ, lập tức theo vị tiên nhân, cung cấp những thứ cần dùng của vị tiên, lên núi hái củi, hái trái cây, theo thời mà cung kính hầu hạ vị tiên, tại sao phải làm như thế ? Vì ông vua muốn cầu vô thượng diệu pháp, cho nên thân tâm chẳng giải đãi để hầu hạ vị tiên. Ðó chẳng phải vì lợi ích cho chính mình, mà là vì muốn minh bạch tất cả các pháp, sau đó phổ độ tất cả chúng sinh. Cho nên ông vua rất tinh tấn để cầu pháp đại thừa. Ông vua chẳng vì lợi ích thân tâm của chính mình, hoặc cầu sự vui của năm dục. Tuy là một ông vua lớn, song vì siêng cầu pháp mà cuối cùng được diệu pháp vô thượng, cho đến viên mãn vô thượng bồ đề. Hiện tại ta đem nhân duyên hành Bồ Tát đạo của ta trong quá khứ, nói ra cho các ông nghe. Phật bảo các Tỳ Kheo ! Ông vua thuở đó, chính là thân ta, còn vị tiên đó, nay là Ðề Bà Ðạt Ða vậy. Sau khi Phật nói xong bài kệ, bảo đại chúng Tỳ Kheo Tỳ kheo Ni, cư sĩ nam cư sĩ nữ rằng: Ông vua xả bỏ ngôi vua trong vô lượng kiếp quá khứ, để hầu hạ cung phụng vị tiên A Tư, tức là tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni. Vị tiên A Tư thuở đó, tức là tiền thân của Ðề Bà Ðạt Ða. Ðề Bà Ðạt Ða là tiếng Phạn. ‘’Ðề Bà‘’ dịch là "Thiên", ‘’Ðạt Ða‘’ dịch là ‘’Nhiệt‘’, tức là ‘’Thiện nhiệt‘’. Ðề Bà Ðạt Ða là thiện tri thức của Ðức Phật trong đời quá khứ, cũng từng làm thầy của Ðức Phật. Ðức Phật từng làm tôi tớ cho Ðề Bà Ðạt Ða, cuối cùng đắc được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ðề Bà Ðạt Ða chuyên môn phản đối Ðức Phật, phá hoại tăng đoàn, lập riêng ra năm pháp: 1. Suốt đời đi khất thực. 2. Suốt đời mặc y phấn tảo. 3. Suốt đời ngồi ngoài trời. 4. Suốt đời không ăn muối. 5. Suốt đời không ăn cá thịt. Chuyên môn làm ngược lại với Ðức Phật, muốn cao hơn Ðức Phật một bậc. Có những Tỳ Kheo tham danh háo lợi theo Ðề Bà Ðạt Ða học tập. Ðề Bà Ðạt Ða cũng từng làm thân Phật chảy máu. Một ngày nọ, Phật đi ngang qua núi Linh Thứu, Ðề Bà Ðạt Ða ở trên đỉnh núi dùng một tảng đá lớn lăn xuống núi. Lúc đó, thần hộ pháp cấp tốc đứng dậy dùng bảo chùy đập nát tảng đá, song có một mảnh đá nhỏ rớt trúng chân Ðức Phật. Ðề Bà Ðạt Ða đã giết Tỳ Kheo ni Liên Hoa Sắc, một vị đã chứng quả A La Hán, ông ta dùng bàn tay chưởng một cái làm cho Tỳ kheo ni Liên Hoa Sắc phải qua đời. Ông ta còn phá hòa hợp tăng, khiến cho chúng Tỳ Kheo bất hòa. Lại xúi vua A Xà Thế giết cha giết mẹ, cho nên ông ta phạm đủ năm tội nặng. Tuy ông ta là một vị ác tri thức, chuyên môn phá hoại Ðức Phật, song tương lai ông ta cũng sẽ thành Phật. Trên thật tế thì, ông ta đã thành Phật trong vô lượng kiếp. Do thiện tri thức Ðề Bà Ðạt Ða, mà khiến cho ta đầy đủ sáu Ba la mật, từ bi hỉ xả, ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, được thân màu vàng tía, mười lực, bốn vô sở úy, bốn pháp nhiếp, mười tám pháp bất cộng, thần thông, thành Ðẳng chánh giác, rộng độ chúng sinh, đều do thiện tri thức Ðề Bà Ðạt Ða vậy. Ðức Phật nói : ‘’Do thiện tri thức Ðề Bà Ðạt Ða đến dạy tôi, cho nên khiến cho tôi viên mãn sáu Ba la mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ). Bây giờ giải thích về sáu Ba la mật : Bố thí Ba la mật : 1. Tu bố thí Ba la mật thì giải trừ san tham của mình. 2. Trang nghiêm tự tính bồ đề. 3. Tự lợi lợi tha. 4. Ðời sau được quả lớn, tôn quý giàu có. Trì giới Ba la mật : 1. Tu các việc thiện, diệt các nghiệp ác. 2. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh. 3. Thân tâm an lạc. 4. Ðời sau hưởng sự vui Niết Bàn. Nhẫn nhục Ba la mật : 1. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh. 2. Ðó đây lìa sợ hãi. 3. Ðời sau chẳng có tâm sân hận, được quyến thuộc hòa thuận, chẳng thọ phiền não, được vui Niết Bàn. Tinh tấn Ba la mật : 1. Phá được tâm giải đãi. 2. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh. 3. Tăng trưởng pháp lành nên lợi mình, chẳng não hại người nên lợi người. 4. Dùng đại lực, được bồ đề. Thiền định Ba la mật : 1. Trừ tâm tán loạn. 2. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh. 3. Thân tâm tịch tĩnh nên lợi mình, chẳng não hại chúng sinh nên lợi người. 4. An ổn đắc được rốt ráo Niết bàn. Bát nhã Ba la mật : 1. Phá vô minh. 2. Trang nghiêm bồ đề nhiếp thọ chúng sinh. 3. Có trí huệ, nên lợi mình. Lại hay giáo hóa chúng sinh nên lợi người. 4. Ðược chân chánh đại trí huệ, trừ trí huệ chướng ngại. Ðức Phật viên mãn sáu Ba la mật, lại được từ bi hỷ xả, bốn tâm vô lượng. Từ hay ban vui cho chúng sinh, bi hay cứu khổ chúng sinh, hỷ khiến cho chúng sinh sinh vui mừng. Xả, khó xả bỏ mà xả bỏ đặng. Phật dùng bốn tâm vô lượng viên mãn bồ đề. Thành Phật rồi lại dùng bốn tâm vô lượng để giáo hóa chúng sinh. Phật lại được ba mươi hai tướng đại trượng phu. Tạng giáo nói rằng do tu giữ giới mà được ba mươi hai tướng, thông giáo nói rằng do tu bố thí nhẫn nhục mà được ba mươi hai tướng, biệt giáo nói rằng do tu các pháp không mà thành tựu ba mươi hai tướng, viên giáo nói rằng do thọ ký mà thành tựu ba mươi hai tướng. Ở trên là do tạng, thông, biệt, viên giáo, nói về ba mươi hai tướng. Phật lại được tám mươi vẻ đẹp. Viên mãn báo thân của Phật hiện ra một thứ màu sắc vàng tía rất thù thắng. Phật có mười lực, bốn vô sở úy. Khi Phật thuyết pháp thì như tiếng hống của sư tử, chẳng sợ hãi. Lại có bốn vô sở úy của Bồ Tát : 1. Tổng trì chẳng quên : Nhớ rất rõ ràng hết thảy các pháp, cho nên được khéo thuyết pháp yếu vô sở úy. 2. Biết hết các pháp : Biết thuốc nào chữa bệnh gì của chúng sinh. 3. Hỏi đáp về pháp vô sở úy. 4. Giải được sự nghi ngờ của chúng sinh, thuyết pháp vô sở úy. Phật lại dùng bốn nhiếp pháp để nhiếp thọ chúng sinh : 1. Bố thí. 2. Ái ngữ. 3. Lợi hành: Thân khẩu ý làm việc lành. 4. Ðồng sự : Cùng với chúng sinh làm cùng một việc. Phật lại đắc được mười tám pháp bất cộng : 1. Thân chẳng lỗi : Từ vô lượng khiếp đến nay, đời đời kiếp kiếp Phật đều giữ gìn pháp thân huệ mạng, chẳng có lỗi lầm, thân chẳng phạm giới giết hại, trộm cắp, tà dâm. 2. Miệng chẳng lỗi : Những gì miệng nói ra đều là diệu pháp thâm sâu vô thượng. 3. Không quên : Gọi là niệm không lỗi. 4. Chẳng có nghĩ tưởng khác : Chỉ có Phật đời đời kiếp kiếp cầu vô thượng giác đạo, chẳng có vọng tưởng và dục niệm khác. 5. Vô bất định tâm : Phật chẳng những chẳng có vọng tưởng khác, mà đời đời kiếp kiếp còn tu thiền định, cho nên có diệu định thâm sâu, tâm chẳng tán loạn. 6. Vô bất tri kỷ xả tâm : Phật biết hết thảy tất cả các pháp, song chẳng chấp trước đối với tất cả các pháp, xả bỏ tất cả các pháp, cho nên bất khả đắc. 7. Ý chẳng giảm : Phật đời đời kiếp kiếp nguyện giáo hóa chúng sinh, tiếp dẫn hữu tình, tâm chẳng thối chuyển. 8. Tinh tấn chẳng giảm : Chỉ có tinh tấn, chẳng khi nào thối lùi. 9. Niệm chẳng giảm : Nhớ pháp của tất cả chư Phật tu ba đời mà chẳng gián đoạn, luôn luôn chẳng giảm thiểu. 10. Huệ chẳng giảm : Trí huệ càng ngày càng tăng thêm. 11. Giải thoát chẳng giảm : Dần dần đắc được giải thoát, càng ngày càng tự tại. 12. Giải thoát tri kiến chẳng giảm. 13. Tất cả thân nghiệp tùy trí huệ hành. 14. Tất cả khẩu nghiệp tùy trí huệ hành. 15. Tất cả ý nghiệp tùy trí huệ hành. 16. Trí huệ quá khứ vô chướng. 17. Trí huệ vị lai vô chướng. 18. Trí huệ hiện tại vô chướng. Mười tám pháp nầy chỉ có Phật mới có. Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn ba thừa, chẳng có cùng mười tám pháp nầy, nên gọi là mười tám pháp bất cộng. Ðức Phật lại bảo bốn chúng : Ðề Bà Ðạt Ða qua vô lượng kiếp sau này, sẽ được thành Phật, hiệu là Thiên Vương Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Thế giới tên là Thiên Ðạo. Phật Thiên Vương đó sống lâu ở đời hai mươi trung kiếp. Rộng vì chúng sinh diễn nói diệu pháp. Chúng sinh nhiều như số cát sông Hằng, đều đắc được quả A la hán. Vô lượng chúng sinh phát tâm Duyên Giác, nhiều chúng sinh như số cát sông Hằng, phát tâm vô thượng đạo, được vô sinh nhẫn, cho đến bất thối chuyển. Ðức Phật lại bảo bốn chúng rằng : Ðề Bà Ðạt Ða từ nay cho đến vô lượng kiếp vị lai, sẽ được thành Phật, danh hiệu là Thiên Vương Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Thế giới Ngài thành Phật tên là Thiên Ðạo. Phật Thiên Vương đó, trụ ở đời hai mươi trung kiếp. Thế giới của chúng ta một lần tăng một lần giảm là một kiếp. Tuổi thọ của con người cứ một trăm năm giảm xuống một tấc. Từ tuổi thọ con người tám vạn bốn ngàn tuổi, dần dần giảm xuống còn mười tuổi. Từ mười tuổi lại dần dần tăng lên đến tám vạn bốn ngàn tuổi. Một tăng một giảm là một kiếp. Hai mươi tiểu kiếp làm một trung kiếp, bốn trung kiếp làm một đại kiếp. Trong hai mươi trung kiếp, Phật Thiên Vương vì hết thảy chúng sinh rộng nói bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy. Lúc đó, có chúng sinh nhiều như số cát sông Hằng chứng được quả vị A la Hán, vô lượng vô biên chúng sinh phát tâm Duyên Giác thừa, có chúng sinh nhiều như số cát sông Hằng, phát đạo tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Họ đều đắc được vô sinh nhẫn, đến cảnh giới bất thối chuyển. Sau khi Phật Thiên Vương đó vào Niết Bàn, chánh pháp lưu lại ở đời hai mươi trung kiếp. Toàn thân xá lợi được tạo dựng tháp bằng bảy báu, cao sáu mươi do tuần, bề ngang rộng bốn mươi do tuần. Chư thiên nhân dân đều dùng các thứ hoa, hương bột, hương đốt, hương xoa, y phục, anh lạc, tràng phan, lọng báu, âm nhạc, ca xướng, lễ bái cúng dường tháp báu. Vô lượng chúng sinh được quả A la hán, vô lượng chúng sinh ngộ Bích Chi Phật, có nhiều chúng sinh không thể nghĩ bàn phát bồ đề tâm, đến quả vị bất thối chuyển. Lúc đó, vị Phật Thiên Vương giáo hóa xong chúng sinh đáng được giáo hóa, cũng độ xong chúng sinh đáng được độ, viên mãn thệ nguyện của Phật đã phát, cho nên vào Niết Bàn. Khi Phật tại thế, thì chánh pháp trụ thế hai mươi trung kiếp. Sau khi Phật diệt độ, thì đem toàn thân xá lợi của Phật an trí vào trong tháp bảy báu. Tháp cao sáu mươi do tuần (biểu thị cho sáu độ), bề ngang rộng bốn mươi do tuần (biểu thị cho bốn niệm xứ). Tất cả chư Thiên, nhân dân, đều dùng các thứ hoa, hương bột, hương đốt, hương xoa, y phục, anh lạc, tràng phan, lọng báu, âm nhạc, ca xướng, cung kính lễ bái, cung kính cúng dường tháp bảy báu. Sau khi Phật Thiên Vương vào Niết Bàn, vẫn có vô lượng chúng sinh chứng được quả A La Hán. Vô lượng chúng sinh được quả Bích Chi Phật. Có nhiều chúng sinh không thể nghĩ bàn, phát bồ đề tâm đến quả vị bất thối chuyển. Ðức Phật bảo các Tỳ Kheo ! Trong đời vị lai, nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào, nghe Kinh Pháp Hoa Phẩm Ðề Bà Ðạt Ða, mà tâm tin kính thanh tịnh, chẳng sinh tâm nghi hoặc, thì chẳng đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, được sinh ở trước mười phương chư Phật, chỗ được sinh về thường nghe Kinh này. Nếu sinh trong loài người, trên trời, thì được hưởng sự vui thù thắng vi diệu. Nếu sinh ở trước chư Phật, thì được hoa sen hóa sinh. Ðức Phật lại bảo các Tỳ Kheo rằng : Trong đời vị lai, nếu có người thiện nam người thiện nữ, tu năm giới làm mười điều lành, nghe được Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Phẩm Ðề Bà Ðạt Ða, mà trong tâm chẳng có pháp ô nhiễm, tâm tin kinh thanh tịnh chẳng hoài nghi. Nếu có ai phê bình Ðề Bà Ðạt Ða là người ác, đó là sai lầm. Kỳ thật, Ngài thật là một vị đại Bồ Tát, chỉ bất quá Ngài hiện tướng tôn giả phản diện để giúp Phật độ người. Phải tin rằng người mà đời đời kiếp kiếp đến phản đối bạn, hoặc là người nhiễu loạn bạn, đều là đang trợ giúp bạn thành Phật. Ðó cũng giống như ở trong lò đúc rèn luyện, rèn luyện đến lúc, một chút tập khí mao bệnh đều chẳng còn, tâm tính nhu hòa. Nếu được như thế thì mới là ‘’Thật tin‘’. Nên coi những oán hận sân khuể phiền não, sẽ thành chân chánh thiện tri thức của mình, chân chánh hay sinh tâm cung kính thiện tri thức. Ví như chuông cần phải dùng dùi bằng gỗ để đánh nó, thì mới phát ra âm thanh. Vàng thật phải dùng lửa để nung mới thành vàng ròng. Hoa mai phải trải qua một phen rét lạnh mới tỏa hương thơm ngào ngạt, do đó có câu : ‘’Không trải qua một phen lạnh thấu xương Sao được hoa mai thơm ngát mũi.’’ Tuy nhiên Ðề Bà Ðạt Ða làm những điều ác, song nếu chúng ta đối với phẩm nầy, mà chẳng sinh tâm phân biệt, chẳng sinh hoài nghi, tức là chứng minh chúng ta có : Văn, tư, tu, huệ chân chánh, vĩnh viễn chẳng đọa vào ba đường ác. Luôn luôn hay cúng dường chư Phật, lại hay gần gũi Tam Bảo, được nghe diệu pháp vô thượng, và còn được sinh về cõi Phật trong mười phương, được nghe Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tức là hoa sen hóa sinh ra, chín phẩm hoa sen là cha mẹ. Nếu sinh về cõi trời thì cũng được hưởng sự vui thù thắng vi diệu. Lúc đó, phương dưới đức Ða Bảo Thế Tôn, có vị Bồ Tát đi theo tên là Trí Tích, bạch đức Phật Ða Bảo để trở về bổn quốc, thì đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ Tát Trí Tích rằng : Thiện nam tử ! Hãy đợi chốc lát, sẽ có Bồ Tát tên là Văn Thù Sư Lợi, có thể gặp nhau luận bàn về diệu pháp, rồi hãy trở về bổn quốc. Lúc đó, phương dưới Phật Ða Bảo có vị thị giả đi theo Ngài, là một vị Bồ Tát tên là Trí Tích. Ngài nói với Phật Ða Bảo : ‘’Bây giờ con có thể về được chăng ?’’ Lúc ấy, Phật Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ Tát Trí Tích rằng : ‘’Thiện nam tử ! Ông nên đợi một chút nữa, trong pháp hội nầy, sẽ có một vị Bồ Tát tên là Văn Thù Sư Lợi, sẽ gặp ông cùng nhau đàm luận về đạo lý Kinh Kiệu Pháp Liên Hoa, sau đó hãy trở về ! Lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ngồi trên hoa sen báu ngàn cánh, lớn như bánh xe, những Bồ Tát cùng đến, cũng ngồi trên hoa sen báu, từ biển Long cung Ta Kiệt La, tự nhiên vọt ra trụ ở trong hư không, đi thẳng đến núi Linh Thứu. Từ hoa sen bước xuống, đến ở trước Phật, đầu mặt kính lễ dưới chân hai vị Thế Tôn, làm lễ xong rồi, đến chỗ Bồ Tát Trí Tích cùng nhau thăm hỏi, bèn ngồi qua một bên. Bồ Tát Trí Tích hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng : Ngài đến Long cung giáo hóa chúng sinh, số được bao nhiêu ? Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói : Số nhiều vô lượng, không thể tính kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm đo lường được, hãy đợi chốc lát tự nhiên sẽ biết. Lúc đó, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ngồi trên hoa sen báu ngàn cánh, hoa sen lớn như bánh xe. Những vị Bồ Tát theo Ngài cùng đến pháp hộI, cũng đều ngồi trên hoa sen báu, từ biển Long cung Ta Kiệt La tự nhiên vọt ra, trụ ở trong hư không đến thẳng núi Linh Thứu, nơi Phật đang nói pháp, rồi từ hoa sen bước xuống đến ở trước Phật, năm thể sát đất, cung kính lễ lạy Phật Thích Ca và Phật Ða Bảo. Lễ lạy xong, lại đến chỗ của Bồ Tát Trí Tích ngồi cùng nhau hỏi thăm, rồi ngồi qua một bên. Bồ Tát Trí Tích hỏi Bồ Tát văn Thù : ‘’Thưa Ngài ! Ngài đến cung rồng giáo hóa được bao nhiêu rồng‘’? Bồ Tát Văn Thù đáp : ‘’Rồng được độ, không thể nào tính kể được, chẳng phải miệng nói ra được, cũng chẳng phải tâm có thể dò lường được, Ngài hãy đợi một chút thì sẽ biết rõ.’’ Nói chưa dứt lời, thì có vô số Bồ Tát ngồi trên hoa sen báu, từ dưới biển vọt lên, đến núi Linh Thứu, trụ ở trong hư không. Các vị Bồ Tát đó, đều do Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi hóa độ, đủ hạnh Bồ Tát, đều cùng đàm luận nói sáu Ba la mật. Họ vốn là hàng Thanh Văn, ở trong hư không nói hạnh Thanh Văn, nay đều tu hành nghĩa không của đại thừa. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói với Bồ Tát Trí Tích rằng: Việc giáo hóa ở trong biển là như thế. Bấy giờ, Bồ Tát Trí Tích nói bài kệ, để khen ngợi rằng: Ðại trí đức dũng mãnh Hóa độ vô lượng chúng Nay trong đại hội này Ta đều đã thấy hết. Diễn nói nghĩa thật tướng Mở bày pháp một thừa Rộng độ các chúng sinh Khiến mau thành bồ đề. Khi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi chưa nói chưa dứt lời, thì đột nhiên có vô số Bồ Tát đại thừa, ngồi trên hoa sen báu từ dưới biển vọt lên, đến núi Linh Thứu chỗ của Phật Thích Ca đang nói pháp, hiện ra đủ thứ thần thông diệu dụng, trụ ở trong hư không. Những vị Bồ Tát đó, đều do Bồ Tát Văn Thù giáo hóa ở trong biển, ai cũng đầy đủ hạnh Bồ Tát, cùng nhau thảo luận sáu pháp Ba la mật. Các Ngài vốn chứng quả vị Thanh Văn, song các Ngài đã hồi tiểu hướng đại, hành Bồ Tát đạo. Cho nên, các Ngài ở trong hư không trước hết nói pháp Thanh Văn thừa, vì các Ngài chưa vào sâu pháp đại thừa. Như nay tất cả hàng Thanh Văn thừa và Bồ Tát thừa, đều cùng nhau phát tâm tu hành nghĩa không của đại thừa, tức là tu hành pháp môn thật tướng của đại thừa. Bồ Tát Văn Thù nói với Bồ Tát Trí Tích : ‘’Ngài hỏi tôi việc giáo hóa bao nhiêu chúng sinh ở trong biển, thì việc đó như thế .’’ Bấy giờ Bồ Tát Trí Tích nhìn thấy chúng sinh của Bồ Tát Văn Thù hóa độ, hiện nay đều tu nghĩa không đại thừa của đại Bồ Tát. Cho nên dùng một bài kệ để khen ngợi Bồ Tát Văn Thù. ‘’Ngài là một vị tôn giả đầy đủ đại trí huệ, đại công đức, đại dũng mãnh, đại thù thắng, cho nên giáo hóa được vô lượng vô biên chúng sinh hành Bồ Tát đạo. Hiện tại tất cả chúng sinh ở trong pháp hội nầy, đề đã nhìn thấy hết. Ngài hay diễn nói tất cả diệu pháp, khiến cho hết thảy chúng sinh minh bạch nghĩa lý thật tướng của đại thừa. Ngài lại hay mở bày diệu pháp một thừa, rộng giáo hóa chúng sinh, khiến cho họ mau thành tựu diệu quả Vô thượng bồ đề, là bậc chúng ta đáng kính tin phụng. Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi nói : Tôi ở trong biển chỉ thường nói Kinh Pháp Hoa. Bồ Tát Trí Tích hỏi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi : Kinh này thâm sâu vi diệu, là báu trong các kinh, ít có ở trong đời. Nếu có chúng sinh siêng năng tinh tấn tu hành kinh này, thì mau được thành Phật chăng ? Bồ Tát Văn Thù đáp : Có con gái của Long Vương Ta Kiệt La, mới tám tuổi mà trí huệ lanh lợi, khéo biết các căn hành nghiệp của chúng sinh, được Ðà la ni, hay thọ trì pháp bí tàng thâm sâu của các đức Phật nói, vào sâu thiền định, thấu hiểu thông đạt các pháp, trong khoảng sát na phát tâm bồ đề, được chẳng thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sinh như con đỏ, công đức đầy đủ, trong tâm nhớ pháp, miệng diễn nói pháp vi diệu rộng lớn, từ bi đối với tất cả chúng sinh, ý chí nhu hòa, đến được bồ đề. Bồ Tát Văn Thù nói : ‘’Tôi ở trong biển, luôn một lòng diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa’’. Bồ Tát Trí Tích nghe rồi tâm sinh hoài nghi bèn hỏi : ‘’Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là một bộ kinh thâm sâu vi diệu không thể nghĩ bàn, cho nên gọi là bảo bối trong các kinh, rất ít có ở trong thế gian. Nếu có chúng sinh nghe được kinh nầy, và siêng năng tinh tấn tu hành kinh nầy, thì người đó chẳng phải sớm có thể thành Phật chăng‘’ ? Bồ Tát Văn Thù đáp : ‘’Ở trong biển có một Long cung, Long Vương của long cung có một người con gái mới tám tuổi, tuy tuổi nhỏ mà trí huệ rất lanh lợi. Cô ta biết tiền nhân hậu quả của chúng sinh, cô ta đắc được mười pháp Ðà la ni. (Ðà la ni dịch là "tổng trì". ‘’Tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa.’’ Tức cũng là tổng trì thân khẩu ý thanh tịnh, thân khẩu ý chẳng phạm nghiệp ác. Pháp của Phật nói cô ta đều minh bạch). Do đó, tạng bí mật là bí pháp vì đây nói mà kia chẳng biết, vì kia nói mà đây chẳng biết, đồng nói một pháp nhưng đắc được nghĩa lý chẳng giống nhau, cho nên gọi là bí tàng. Song Long Nữ tám tuổi hay thọ trì đọc tụng và đều hiểu rõ tạng bí mật thâm sâu của chư Phật nói. Cô ta lại vào được thiền định thâm sâu, mà còn thấu rõ thông đạt các pháp, trong khoảng một sát na phát đại bồ đề tâm, được vĩnh viễn chẳng thối chuyển, được biện tài vô ngại. Song cô ta thương nhớ tất cả chúng sinh, xem tất cả chúng sinh như con đỏ, cô ta công đức viên mãn, trong tâm nhớ pháp, miệng diễn nói pháp vi diệu xâu xa. Cô ta có tâm từ hay ban vui, tâm bi hay cứu khổ, mà còn khiêm nhường ái hộ tất cả chúng sinh. Chí khí và ý niệm của cô ta đều rất nhu hòa, sớm thành tựu bồ đề.’’ Bồ Tát Trí Tích nói : Tôi thấy đức Thích Ca Như Lai trong vô lượng kiếp, làm những việc khó làm, tích lũy công đức, cầu đạo bồ đề chưa từng nghỉ ngơi. Tôi quán ba ngàn đại thiên thế giới, cho đến chẳng có nơi nào nhỏ như hạt cải, mà chẳng phải là nơi Bồ Tát vì chúng sinh xả bỏ thân mạng của, rồi sau đó mới thành tựu đạo bồ đề, tôi không tin cô Long Nữ này, trong chốc lát mà được thành Chánh giác. Bồ Tát Văn Thù nói ra việc Long Nữ sớm thành bồ đề, thì Bồ Tát Trí Tích bèn sinh nghi hoặc, liền hỏi : ‘’Tôi thấy Phật Thích Ca thành Phật, chẳng phải là việc dễ dàng. Trong vô lượng kiếp về trước, Ngài làm những việc khó làm, tích lũy công đức nhỏ như hạt cát, như hạt bụi, như sợi lông. Vì cầu bồ đề mà chưa từng nghỉ ngơi. Hiện tại tôi quán khắp ba ngàn thế giới, chẳng có nơi nào nhỏ như hạt cải, như hạt bụi, mà chẳng phải là chỗ xả bỏ thân mạng của Bồ Tát, vì cứu độ tất cả chúng sinh. Sau đó, độ chúng hết rồi mới thành Phật đạo. Tôi không tin cô Long Nữ nầy trong khoảng chốc lát, mà lập tức thành Phật. Nói chưa xong thì Long Nữ đột nhiên hiện ra ở trước, đầu mặt lễ kính đức Phật, rồi đứng qua một bên, bèn nói bài kệ khen ngợi rằng: Thông đạt tướng tội phước Chiếu khắp mười phương cõi Pháp thân tịnh vi diệu Ðủ ba mươi hai tướng. Và tám mươi vẻ đẹp Dùng trang nghiêm pháp thân Chỗ trời người kính ngưỡng Rồng thần đều cung kính. Hết thảy loài chúng sinh Chẳng ai không sùng bái Lại nghe thành bồ đề Chỉ Phật chứng biết được. Con nói pháp đại thừa Ðộ thoát chúng sinh khổ. Tong lúc Bồ Tát Văn Thù và Bồ Tát Trí Tích đàm luận chưa xong, thì Long Nữ đột nhiên hiện thân ở trong pháp hội, cung kính đảnh lễ chư Phật Bồ Tát, rồi lui ngồi về một bên. Sau đó, dùng bài kệ khen ngợi đức Ða Bảo Như Lai : ‘’Phật thông đạt minh bạch được quả báu tội nghiệp và tướng phước thiện ác, cho nên tu phước tu huệ, mới đắc được tướng siêu nhiên thành Phật. Vì thân tâm thanh tịnh, nên trí huệ quang minh chiếu khắp mười phương thế giới vô cùng vô tận. Pháp thân thanh tịnh vi diệu không thể nghĩ bàn đó, tức được ba mươi hai tướng đại nhân, đó là vì Phật đã đầy đủ viên mãn sáu độ Ba la mật. Ðức Phật lại dùng tám mươi vẻ đẹp để trang nghiêm pháp thân. Là chỗ kính ngưỡng của trời người, hết thảy rồng thần đều cung kính, hết thảy chúng sinh chẳng có ai mà chẳng sùng bái kính ngưỡng Phật. Tôi lại nghe cảnh giới thành Phật, chỉ có Phật mới chứng minh được, cho nên hiện tại con xiển dương giáo lý đại thừa, muốn độ thoát tất cả chúng sinh lìa khỏi biển khổ sinh tử. Bấy giờ, Xá Lợi Phất nói với Long Nữ rằng : Cô nói chẳng bao lâu cô đắc được vô thượng đạo, đó là việc khó tin. Vì sao ? Vì thân người nữ dơ bẩn, chẳng phải pháp khí, sao lại có thể đắc được Vô thượng bồ đề ? Phật đạo lâu xa, phải trải qua vô lượng kiếp tinh tấn siêng tu khổ hạnh, tu đủ các Ba la mật, sau đó mới thành. Hơn nữa, thân người nữ có năm điều chướng ngại : Thứ nhất chẳng được làm Phạm Thiên Vương, thứ hai chẳng được làm Ðế Thích, thứ ba chẳng được làm ma vương, thứ tư chẳng được làm Chuyển luân thánh vương, thứ năm không thể thành Phật. Sao thân nữ lại mau được thành Phật ? Khi Long Nữ nói xong bài kệ rồi, thì Ngài Xá Lợi Phất bèn nói với Long nữ rằng : ‘’Cô nói việc sớm được thành Phật, thật là khiến cho người khó tin được. Tại sao chúng tôi không tin ? Vì cô là thân người nữ, mà thân người nữ chẳng thanh tịnh, có sự nhơ uế, chẳng phải pháp khí thành Phật. Tại sao có thể nói cô sớm đắc được bồ đề ? Con đường thành Phật rất là xa vời, do đó đức Phật Thích Ca ba đại A tăng kỳ tu phước huệ, trăm kiếp gieo trồng tướng tốt, chẳng biết trải qua bao nhiêu vô lượng đại kiếp, tinh tấn siêng tu khổ hạnh, mới được thành tựu Phật đạo. Hà huống thân người nữ có năm điều chướng ngại. 1. Không thể làm vua Ðại Phạm Thiên, vì thân người nữ chẳng thanh tịnh. 2. Không thể làm Ðế Thích. 3. Không thể làm ma vương. 4. Không thể làm Chuyển Luân Thánh Vương. 5. Không thể thành Phật. Thân người nữ có năm điều chướng ngại như thế, sao lại có thể thành Phật ? Sao lại có thể nói thân người nữ cũng có thể thành Phật ? Bấy giờ, Long Nữ có một hạt bảo châu, giá trị ba ngàn đại thiên thế giới, cầm dâng lên đức Phật, đức Phật bèn thọ nhận. Long Nữ bảo Bồ Tát Trí Tích và tôn giả Xá Lợi Phất rằng : Tôi cúng hạt bảo châu, đức Thế Tôn thọ nhận, việc đó có mau chăng ? - Ðáp rằng : Rất mau. - Long nữ nói : Dùng thần lực của các Ngài để quán sát tôi thành Phật, còn mau hơn việc đó. Lúc đó, trong chúng hội đều thấy Long nữ đột nhiên biến thành thân nam, đầy đủ hạnh Bồ Tát, bèn đi qua phương nam thế giới Vô Cấu, ngồi trên hoa sen báu thành Ðẳng chánh giác, đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, khắp vì hết thảy chúng sinh trong mười phương, mà diễn nói diệu pháp. Kỳ thật, tôn giả Xá Lợi Phất ở trong Kinh Duy Ma Cật, đã biết chẳng có tướng nam nữ khả đắc. Song, tại sao Ngài lại ở trong pháp hội Diệu Pháp Liên Hoa hoài nghi việc Long nữ thành Phật ? Ðó là vì Ngài muốn vì tất cả chúng sinh mà thưa hỏi pháp đó, sợ rằng chúng sinh sinh tâm hoài nghi đối với việc đó, chẳng tin đây là bộ Kinh Pháp Hoa, cho nên Ngài đại biểu chúng sinh thỉnh pháp. Thật ra, tôn giả Xá Lợi Phất và Bồ Tát Trí Tích, đều biết rõ chẳng có tướng nam nữ khả đắc, song một số phàm phu thấy thì có tướng nam nữ phân biệt. Cho nên, tôn giả Xá Lợi Phất cố ý biện luận với Long nữ, vì tất cả chúng sinh khai quyền hiển thật. Lúc đó, Long nữ có một hạt bảo châu, giá trị quý hơn ba ngàn đại thiên thế giới, cô ta tay cầm hạt châu báu cúng dường đức Phật, Phật liền thọ nhận. Long nữ nói với Bồ Tát Trí Tích và tôn giả Xá Lợi Phất rằng : - ‘’Tôi dâng cúng hạt bảo châu lên đức Phật, Phật đã thọ nhận, các Ngài nói việc đó phát sinh có mau chăng‘’? - Các Ngài nói : ‘’Rất mau‘’! - Long nữ nói : ‘’Dùng oai thần lực hai Ngài để quán sát tôi thành Phật, còn mau hơn so với việc tôi mới cúng dường đức Thế Tôn’’. Lập tức, ở trong pháp hội đều thấy Long nữ trong khoảng sát na hiện thân người nam, viên mãn hạnh môn Bồ Tát, lập tức đi về phương nam thế giới Vô Cấu, ngồi trên tòa hoa sen báu hóa thân thành Phật. Nếu ai muốn được hoa sen hóa thân, thì chẳng phải là việc dễ dàng, phải đầy đủ tám nhân duyên : 1. Thậm chí xả bỏ thân mạng cũng đừng nói lỗi lầm và thị phi của kẻ khác. 2. Người biến hóa quy y Tam Bảo, mà còn hóa ra tất cả súc sinh đến quy y Tam Bảo, hành Bồ Tát đạo. 3. Tất cả việc lành đều để ở trong bồ đề tâm. 4. Tu phạm hạnh thanh tịnh, không tham, không sân, không si để tinh tấn tu phạm hạnh. 5. Tạo hình tượng Phật để trên tòa sen. 6. Hay trừ ái não của chúng sinh. 7. Ðối với kẻ cống cao nên khiêm nhường. 8. Không làm cho kẻ khác sinh phiền não. Chánh giác tức là chẳng có vọng tưởng. Lúc đó, Long nữ lập tức thành Phật, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, khắp vì tất cả chúng sinh trong mười phương, diễn nói diệu pháp vô thượng. Bấy giờ, ở thế giới Ta Bà, hàng Bồ Tát Thanh Văn, Thiên Long bát bộ, người, chẳng phải người, đều thấy Long Nữ thành Phật, khắp vì chúng hội trời người ở cõi đó nói pháp, tâm đều hoan hỉ, đều kính lễ Long Nữ. Vô lượng chúng sinh nghe pháp hiểu rõ tỏ ngộ, được không thối chuyển, vô lượng chúng sinh được thọ ký thành Phật. Thế giới Vô Cấu có sáu thứ chấn động. Thế giới Ta Bà có ba ngàn chúng sinh được bất thối chuyển, ba ngàn chúng sinh phát tâm bồ đề, mà được thọ ký. Bồ Tát Trí Tích và Xá Lợi Phất, tất cả chúng hội đều yên lặng tin nhận. Long Nữ đến thế giới Vô Cấu diễn nói diệu pháp, thì ở thế giới Ta Bà rất nhiều vị Bồ Tát, Thanh Văn, Thiên Long bát bộ, người, chẳng phải người, đều nhìn thấy Long Nữ thành Phật. Khắp vì trời người của pháp hội đó nói pháp. Hết thảy tất cả chúng sinh đều sinh tâm hoan hỉ, pháp hỉ sung mãn, mọi người đều kính lễ Long Nữ. Vô lượng vô biên chúng sinh nghe Phật pháp, thấu triệt hiểu rõ tất cả các pháp, được quả vị bất thối chuyển, còn có vô lượng chúng sinh được thọ ký thành Phật. Ở thế giới Vô Cấu có sáu thứ chấn động : Chấn, hống, kích, dũng, động, khởi. Chấn hống kích thuộc về tiếng; động dũng khởi thuộc về hình. Người tu đạo, tu đến trình độ nào đó, thì sẽ cảm thấy sáu căn có sáu thứ chấn động nầy. Mỗi sáu thứ chấn động phân ra làm ba, cho nên có mười tám giới. Tức là phân làm sáu trần, sáu căn, sáu thức. Lúc đó, ở thế giới Ta Bà có ba ngàn chúng sinh được quả vị bất thối chuyển, đều phát tâm đại bồ đề, còn được Phật thọ ký. Bồ Tát Trí Tích và Xá Lợi Phật, tất cả pháp hội đại chúng yên lặng tin nhận thánh nghĩa. Cập nhật cuối (Thứ 5, 31 Tháng 12 2009 06:21) Phẩm Khuyên Trì thứ mười ba Khuyên trì là gì ? Khuyên là khuyên nói, trì là phụng trì. Tức là bạn có thể dùng đủ thứ lời lẽ khuyên nói người khác, hoan hỉ đọc tụng bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, hoặc là hoan hỉ phụng trì bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa nầy, thì chắc chắn sẽ có công đức không thể nghĩ bàn. Nếu không tin thì đừng ngại hãy thử xem ! Một khi đọc kinh nầy, thì cảm thấy diệu không thể tả. Muốn không đọc tụng cũng không thể ngưng được. Do đó, hằng ngày đọc tụng kinh nầy, hằng ngày phụng trì kinh nầy, thì có vô lượng công đức. Các vị hằng ngày nghe Kinh Pháp Hoa càng có vô lượng công đức. Kinh Pháp Hoa là vua trong các kinh, là kinh thành Phật. Cho nên, chư Phật, Bồ Tát, A La Hán, đều khuyên nói mọi người đọc tụng thọ trì bộ Kinh Pháp Hoa nầy. Ðây là một phẩm trong hai mươi tám phẩm Kinh Pháp Hoa, phẩm thứ mười ba, cho nên gọi là Phẩm Khuyên Trì Thứ Mười Ba. Bấy giờ, đại Bồ Tát Dược Vương và Bồ Tát Ðại Nhạo Thuyết, cùng hai vạn vị Bồ Tát quyến thuộc, cùng nhau đồng đến trước đức Phật phát thệ nguyện rằng : Xin nguyện đức Thế Tôn, đừng lấy làm lo lắng, sau khi đức Phật diệt độ, chúng con sẽ phụng trì đọc tụng diễn nói kinh này. Sau khi Ðức Phật nói xong phẩm Ðề Bà Ðạt Ða, tiếp theo là Phẩm Khuyên Trì. Lúc đó, đại Bồ Tát Dược Vương và Ðại Bồ Tát Dược Thượng, cùng với hai vạn vị Bồ Tát quyến thuộc, cùng nhau đồng đến trước Ðức Phật phát thệ nguyện rằng : ‘’Chúng con đại chúng xin nguyện đức Thế Tôn yên tâm, đừng vì việc nầy mà lo lắng. Sau khi Thế Tôn vào Niết Bàn, chúng con đại chúng sẽ phụng trì đọc tụng bộ Kinh Pháp Hoa nầy, sẽ cung kính cúng dường bộ Kinh Pháp Hoa nầy‘’. Trong quá khứ Bồ Tát Dược Vương tên là Tinh Tú Quang. Lúc ấy, có Tỳ Kheo Nhật Tạng tuyên dương truyền bá chánh pháp. Ông ta đem các thứ thuốc A lê lặc dâng lên Tỳ Kheo Nhật Tạng, và đại chúng phát nguyện đời sau, hay trị lành hai bệnh thân, tâm của chúng sinh, đời đời làm lương y, khéo trị bệnh, có thuốc đến thì bệnh tiêu trừ. Ông ta biết rành tính thuốc thảo, mộc, kim, thạch, bốn thứ. Như cam thảo thì ngọt, hoàng liên thì đắng. Tính lạnh trị được bệnh nhiệt, tính nóng trị được bệnh lạnh. Ðại Nhạo Thuyết Bồ Tát có đủ bốn vô ngại biện : 1. Pháp vô ngại biện : Nói được pháp thế gian và xuất thế gian, đối với tất cả các danh tướng, chẳng có gì mà không biết. Tuy biết tất cả các pháp, song chẳng chấp trước các pháp. 2. Nghĩa vô ngại biện : Nói phân biệt được nghĩa của các pháp, thông đạt vô ngại. Tuy biết nghĩa lý của các pháp, song chẳng chấp trước. 3. Từ vô ngại biện : Trong một lời bao hàm vô lượng nghĩa. Ðối với từng lời lẽ thông đạt tự tại, viên dung vô ngại. 4. Lạc thuyết vô ngại biện : Tùy thuận sự vui thích của chúng sinh, mà thiện xảo phương tiện nói Phật pháp, cho nên gọi là Bồ Tát Ðại Nhạo Thuyết. Chúng sinh đời ác sau này, căn lành dần dần bớt đi, tăng nhiều thượng mạn, tham lợi cúng dường, tăng trưởng căn chẳng lành, xa lìa giải thoát. Tuy khó có thể giáo hóa, nhưng chúng con sẽ khởi sức nhẫn nhục lớn, đọc tụng kinh này, biên chép giải nói, đủ thứ cúng dường, chẳng tiếc thân mạng. Chúng sinh trong đời ác năm trược chẳng tin Phật, nói Phật pháp cũng chẳng ai nghe. Tại sao ? Vì căn lành của chúng sinh dần dần giảm bớt đi, cho nên phước mỏng manh. Tuy nhiên người tăng trưởng căn lành giảm bớt, song người tăng thượng mạn thì nhiều. Như có người nói : ‘’Các vị có biết tôi là ai ? Tôi là Phật, chẳng những tôi đã thành Phật, mà mọi người cũng đều là Phật.’’ Ðó là biểu hiện tăng thượng mạn. Thứ người đó chẳng biết hổ thẹn, đối với kinh điển của Phật nói, y chẳng hiểu một bộ kinh nào hết, vậy mà chẳng biết hổ thẹn nói mình là Phật. Thứ người đó tương lai chắt chắn sẽ đọa vào địa ngục vô gián. Tại sao tự nói mình là Phật ? Ðó là vì tham đồ lợi ích, tham đồ cúng dường. Như thế thì tăng thêm căn chẳng lành, vĩnh viễn xa lìa đạo giải thoát. Giải thoát là gì ? Nói đơn giản là chẳng chấp trước những thứ gì, đắc được cảnh giới vô câu vô thúc, thân tâm tự tại. Người tăng thượng mạn tuy khó giáo hóa, song chúng con đại chúng dùng sức đại nhẫn nhục để giáo hóa, độ thoát họ. Dùng phương pháp gì để độ ? Hoặc là đọc tụng Kinh Pháp Hoa, hoặc là thuyết giảng Kinh Pháp Hoa, hoặc là biên chép ấn tống Kinh Pháp Hoa, thậm chí chẳng tiếc thân mạng để cúng dường Kinh Pháp Hoa. Thuở xưa, có vị Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỉ Kiến (tiền thân của Bồ Tát Dược Vương), Ngài phát tâm đốt thân cúng dường Phật và Kinh Pháp Hoa. Chư Phật cùng khen ngợi rằng : ‘’Lành thay ! Lành thay ! Thiện nam tử ! Là chân tinh tấn, gọi là chân pháp cúng dường Như Lai‘’. Trí Giả đại sư đọc kinh đến chỗ nầy, đột nhiên nhập định. Ở trong định thấy pháp hội trên núi Linh Thứu chưa tan. Ðức Phật Thích Ca vẫn vì các đại Bồ Tát và hàng Thanh Văn diễn nói Kinh Pháp Hoa. Cảnh giới đó thật là không thể nghĩ bàn. Nhân tạo ra đời ác trược là do tâm trược mà ra. Nếu ai ai cũng thanh tâm quả dục, chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng ích kỷ, chẳng lợi mình, chẳng nói dối, thì tâm tự nhiên thanh tịnh, trở thành cõi tịnh độ nhân gian. Năm trược là gì ? Tức là : 1. Kiếp trược : Tuổi thọ con người vốn là tám vạn bốn ngàn tuổi, song vì phước cạn mỏng, dần dần giảm bớt mà đi vào kiếp trược. Kiếp trược vốn chẳng có thể, lấy bốn trược làm thể. 2. Kiến trược : Vì kiến giải của chúng sinh chẳng chân chánh, mê hoặc chánh kiến, trở thành kiến hoặc, tức cũng là năm lợi sử : Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cẩm thủ kiến). 3. Phiền não trược : Sáu căn đối với sáu trần, bèn sinh năm độn sử (tham, sân, si, mạn, nghi) mà có đủ thứ phiền não sinh ra. 4. Chúng sinh trược : Vì ảnh hưởng thọ kiến trược và phièn mão trược, nên phước báo của chúng sinh càng tổn giảm, còn khổ báo thì dần dần tăng lên, cho nên gặp nhiều tai họa. 5. Mạng trược : Chúng sinh vì phiền não sinh, nên thân tâm ốm gầy, cho nên mạng sống ngắn ngủi. Bấy giờ, năm trăm vị A la hán ở trong chúng, được thọ ký bạch Phật rằng : Ðức Thế Tôn ! Chúng con cũng tự thệ nguyện, ở cõi nước khác rộng nói kinh này. Lúc đó, ở trong chúng có năm trăm vị A La Hán đều được Ðức Phật thọ ký, các Ngài đại chúng cùng hướng Phật nói : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con năm trăm A La Hán cũng tự phát thệ nguyện, đến cõi nước khác hoằng dương Kinh Pháp Hoa, chẳng khi nào lười mỏi‘’. Lại có bậc hữu học, và vô học hai ngàn người được thọ ký, từ tòa ngồi đứng dậy, chắp tay hướng về đức Phật phát thệ nguyện nói : Ðức Thế Tôn ! Chúng con cũng sẽ ở cõi nước khác, rộng nói kinh này. Lại có Tỳ Kheo hữu học (sơ quả, nhị quả, tam quả A La Hán) và các Tỳ kheo vô học (tứ quả A La Hán), cùng với tám ngàn người đều được Ðức Phật thọ ký. Ðại chúng cùng nhau từ tòa ngồi đứng dậy, cùng chắp tay hướng về Ðức Phật, mà phát thệ nguyện rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con tám ngàn người, cũng đến mười phương cõi nước khác, để rộng nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy chẳng ngừng nghỉ‘’. Sơ quả A La Hán là kiến đạo vị (bậc thấy đạo). Nhị quả và tam quả A La Hán là tu đạo vị (bậc tu đạo), cho nên gọi là hữu học vị (bậc hữu học). Tứ quả A La Hán là chứng đạo vị (bậc chứng đạo), cho nên gọi là vô học vị (bậc vô học). Tại sao ? Vì nhiều người ở thế giới Ta Bà tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, tâm sân hận ô trược siểm khúc chẳng thật. Tại sao ? Vì người ở thế giới Ta Bà tính tình đa số rất tệ ác. Trong tâm ôm lòng cống cao ngã mạn, khinh khi mọi người. Công đức của họ vừa cạn vừa mỏng, tâm của họ sân hận nhất, ô trược nặng nhất, siểm cuống nhất, chẳng chân thật. Chúng sinh ở thế giới Ta Bà hay kham nhẫn mọi sự khổ, lấy khổ làm vui, chẳng biết tu pháp lìa khổ được vui, suốt ngày dụng công trên sự danh lợi, bạn tranh thì tôi giành, chẳng ngừng nghỉ. Vì khởi hoặc, tạo nghiệp, cho nên thọ quả báo. Nếu hồi quang phản chiếu, vạn duyên buông bỏ, thì tự nhiên thoát khỏi luân hồi, do đó : ‘’Biển khổ mênh mông, quay đầu là bờ .’’ Bấy giờ, dì của đức Phật là Tỳ Kheo Ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề, với các Tỳ Kheo Ni hữu học và vô học sáu ngàn người, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, một lòng chắp tay chiêm ngưỡng tôn nhan đức Thế Tôn, mắt chẳng tạm rời. Lúc đó, dì của Ðức Phật, cũng là mẹ kế của Ðức Phật, Tỳ Kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề (Ðại Ái Ðạo), với các vị Tỳ Kheo ni hữu học và vô học, cả thảy là sáu ngàn người cùng nhau đứng dậy, chuyên tâm chắp tay lại chiêm ngưỡng tôn nhan của Phật, mắt chẳng tạm rời, tựa như nhập định. Tỳ Kheo ni Ma Ha Ba Xà Ba Ðề, là em gái của Ma Gia phu nhân. Sau theo Phật xuất gia trở thành Tỳ Kheo ni bậc nhất, tức là người lãnh đạo các Tỳ Kheo ni. Ðương thời họ muốn xuất gia tu đạo, Phật vốn chẳng cho phép, sau tôn giả A Nan ba lần thỉnh cầu Ðức Phật, cuối cùng Phật miễn cưỡng đáp ứng. Lúc đó, đức Thế Tôn bảo Kiều Ðàm Di rằng : Sao lại buồn rầu mà nhìn Như Lai ! Có phải trong tâm ngươi cho rằng, ta không nói đến tên ngươi, thọ ký quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác chăng ! Lúc ấy, đức Thế Tôn bảo Kiều Ðàm Di (Tỳ Kheo ni thượng thủ) : ‘’Vì sao ngươi buồn rầu nhìn ta như thế ? Ở trong tâm ngươi có phải vì ta không nói đến tên ngươi, thọ ký quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác‘’ ? Phật hòa nhan duyệt sắc hỏi, khiến cho hàng đệ tử hòa mục khả thân, tự nhiên khởi kính. Kiều Ðàm Di ! Trước ta đã nói tổng quát, tất cả hàng Thanh Văn đều đã thọ ký. Nay ngươi muốn biết thọ ký chăng ? Ðời vị lai ngươi sẽ làm đại pháp sư, ở trong sáu vạn tám ngàn các Phật pháp, và sáu ngàn vị Tỳ Kheo ni hữu học vô học, cũng đều làm pháp sư. Ðức Phật bảo Kiều Ðàm Di ! Ta ở trước vừa nói tổng quát tất cả hàng Thanh Văn (nghe tiếng của Phật mà ngộ đạo), đều đã được thọ ký. Bây giờ ngươi muốn biết thì hãy chú ý nghe. Ở đời vị lai trải qua sáu vạn tám ngàn ở trong các Phật pháp, ngươi sẽ làm đại pháp sư và sáu nghìn vị Tỳ Kheo ni hữu học và vô học kia, cũng đều làm pháp sư. Ðại pháp sư có mười đức : 1. Khéo biết nghĩa của pháp. 2. Hay rộng tuyên nói. 3. Ở trong đại chúng chẳng sợ. 4. Khéo nói phương tiện. 5. Vô đoạn biện tài. 6. Pháp tùy đức hành. 7. Ðầy đủ oai nghi. 8. Dũng mãnh tinh tấn. 9. Thân tâm chẳng mệt. 10. Thành tựu sức nhẫn nhục. Ðầy đủ mười đức hạnh nầy, mới đủ tư cách xưng là đại pháp sư. Như thế, ngươi dần dần đầy đủ Bồ Tát đạo, sẽ được thành Phật, hiệu là Nhất Thiết Chúng Sinh Hỉ Kiến Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như thế ngươi trải qua sáu vạn tám ngàn ức chư Phật, gần gũi chư Phật, cúng dường chư Phật, dần dần đầy đủ Bồ Tát đạo. Ðến khi ba giác tròn vạn đức đầy, thì sẽ thành Phật, hiệu là Nhất Thiết Chúng Sinh Hỉ Kiến Như Lai. Ðầy đủ mười hiệu, tức là: Như Lai : Thừa đạo như thật, lai thành chánh giác. Ứng Cúng : Xứng đáng thọ lãnh sự cúng dường của chín pháp giới. Chánh Biến Tri : Trí của Phật chiếu soi tất cả các pháp, vừa chánh lại vừa biến. Minh Hạnh Túc : Ba minh thuộc về huệ, Năm hạnh thuộc về phước, phước huệ đều đầy đủ. Thiện Thệ : Tu chánh đạo, vào Niết Bàn. Thế Gian Giải : Thế và xuất thế tất cả các tướng đều thấu rõ. Vô Thượng Sĩ : Tu đến địa vị vô tu vô chứng. Ðiều Ngự Trượng Phu : Hóa đạo chúng sinh, điều phục chúng sinh. Thiên Nhân Sư : Làm đại đạo sư của trời người. Phật: Bậc giác ngộ. Thế Tôn : Người tôn quý nhất của thế và xuất thế. Ðầy đủ mười danh hiệu mới xưng là Thế Tôn. Pháp môn của Bồ Tát tu là lục độ vạn hạnh. Lục độ là gì ? Tức là sáu pháp Ba la mật đến bờ kia : 1. Bố thí : Gồm có ba thứ. Thứ nhất là tài thí : Dùng của cải tiền bạc cứu tế người nghèo. Bồ Tát xả bỏ được nội tài (Ðầu mắt tủy não), và ngoại tài (Ðất nước vợ con), chẳng có gì mà xả bỏ chẳng đặng. Thứ hai là pháp thí : Tức là giảng kinh thuyết pháp, đem pháp lành mà mình biết, khiến cho mọi người cũng biết, do đó có câu : ‘’Trong các sự bố thí, Bố thí pháp là hơn hết.’’ Thứ ba là vô úy thí : Có người gặp nguy hiểm, phải có tinh thần dũng mãnh cứu người gặp nạn, thoát khỏi cảnh khổ dầu sôi lửa bỏng . 2. Trì giới : Giới là điều răn cấm, ngưng làm ác ngừa việc quấy. Cho nên người tại gia phải giữ năm giới hoặc tám giới. Sa di phải giữ mười giới, Tỳ Kheo giữ hai trăm năm mươi giới, Tỳ Kheo ni giữ ba trăm bốn tám giới. Dù tại gia hoặc xuất gia, sau khi thọ giới Bồ Tát, phải hành Bồ Tát đạo, vì người chẳng vì mình. 3. Nhẫn nhục : Người tu đạo nhất định phải tu nhẫn nhục, nhẫn những gì người khác không nhẫn được, chịu đựng những điều người khác chịu không được, như thế mới có thể chứng được vô sinh pháp nhẫn. 4. Tinh tấn : Tức là dũng mãnh hướng về trước, chẳng giải đãi, chẳng phóng dật, tuyệt đối không lùi bước. Không thể một ngày nóng mười ngày lạnh, không thể có trước chẳng có sau. Tóm lại, phải có ý chí khiên nhẫn không lùi bước, mới có sở thành tựu. 5. Thiền định : Tức là tĩnh lự. Nghĩa là ngưng bặc hết mọi tạp niệm lăn xăn, một niệm không sinh thì trí huệ hiện tiền. 6. Bát nhã : Dịch là "trí huệ". Có trí huệ thì rõ thiện ác, thị phi, trắng đen, chánh tà, chẳng làm nghiệp ác. Trí huệ từ đâu mà có ? Có hai phương pháp : Một là tham thiền, phải tham đến khi sơn cùng thủy tận (Núi mòn nước cạn), thì sẽ có cảnh giới "liễu ám hoa minh". Thứ hai là tụng kinh, do đó có câu : ‘’Thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải‘’. (Vào sâu tạng kinh, trí huệ như biển). Kiều Ðàm Di ! Phật Nhất Thiết Chúng Sinh Hỉ Kiến đó, và sáu ngàn vị Bồ Tát, lần lượt thọ ký Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Phật lại bảo Kiều Ðàm Di ! Ngươi sẽ thành Phật hiệu là Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến Phật, và sáu ngàn vị Bồ Tát lần lược thọ ký cho nhau. Nghĩa là vị Bồ Tát thứ nhất thọ ký cho vị Bồ Tát thứ hai, cứ như thế thọ ký cho đến sáu ngàn vị Bồ Tát, đều chứng quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. A La Hán chứng được Chánh giác, còn Bồ Tát chưa chứng được Chánh đẳng và vô thượng. Bồ Tát chỉ chứng được Chánh đẳng, chứ chưa chứng được Vô thượng. Phật đã chứng được Vô thượng, chẳng còn gì cao hơn Phật. Bấy giờ, mẹ của La Hầu La là Tỳ Kheo Ni Gia Du Ðà La, nghĩ như vầy : Ðức Thế Tôn thọ ký, mà riêng chẳng nói đến tên tôi. Lúc đó, mẹ của tôn giả La Hầu La (Phú chướng) Tỳ Kheo ni Gia Du Ðà La (Hoa sắc), trong tâm nghĩ rằng : ‘’Ta với Ðức Phật có danh là vợ chồng, tại sao thọ ký cho hàng Tỳ Kheo và Tỳ Kheo ni, mà riêng tên tôi chẳng đề cập đến?’’ Trong tâm bà ta nghĩ như vậy, song Phật có trí huệ tha tâm thông, cho nên biết tư tưởng của bà ta, do đó có câu : ‘’Bao nhiêu tâm tánh của chúng sinh Như Lai đều biết đều thấy.’’ Tôn giả La Hầu La là con của đức Phật Thích Ca. Xuất gia lúc bảy tuổi, là một trong mười vị đại đệ tử của Ðức Phật, được xưng là mật hạnh đệ nhất. Trong quá khứ tôn giả là người tu đạo. Một ngày nọ, đang lúc tọa thiền nghe tiếng chuột kêu, bèn khởi tâm sân hận đến bít lỗ hang chuột. Sáu ngày sau mới nghĩ đến chuyện nầy, bèn khởi tâm đại bi thương xót, tâm nghĩ chuột ở trong hang chẳng phải sẽ chết đói chăng ? Do đó, mới lấy đá ra. Do quả báu đó, mà sáu năm ở trong bụng mẹ, cho nên gọi là ‘’Phú chướng‘’. Gia Du Ðà La em gái bà con với Ðức Phật, dung mạo đoan chánh rất xinh đẹp, xa gần đều nghe danh, cho nên gọi là Hoa sắc. Khi Ðức Phật mười bảy tuổi, thì kết hôn với cô ta. Một ngày nọ, cô ta cầu con với Ðức Phật. Phật dùng ngón tay chỉ vào bụng cô ta, thì cô ta thọ thai. Phật xuất gia sáu năm sau mới sinh La Hầu La. Lúc đó, dòng họ Thích bàn tán xôn xao, cả thành đều cho rằng Gia Du Ðà La chẳng giữ đạo vợ chồng. Gia Du Ðà La biểu thị sự thanh bạch ở trước công chúng tuyên bố : ‘’Nếu La Hầu La chẳng phải là con của thái tử Tất Ðạt Ða, thì nguyện lửa lớn sẽ thiêu hủy mẹ con chúng tôi, bằng ngược lại thì lửa lớn không thể thiêu đốt mẹ con chúng tôi.’’ Nói xong lập tức bồng La Hầu La nhảy vào hầm lửa. Hầm lửa lập tức biến thành ao sen, mẹ con an nhiên ngồi trên hoa sen. Lúc đó, dòng họ Thích biết Gia Du Ðà La thân thanh bạch như ngọc. Sau khi trải qua sóng gió, về sau mới được mọi người cung kính. Sau đó, theo Ma Ha Ba Xà Ba Ðề cùng nhau xuất gia tu đạo làm Tỳ Kheo ni. Phật bảo Gia Du Ðà La rằng : Ngươi ở đời vị lai, trong trăm ngàn vạn ức các Phật pháp tu hạnh Bồ Tát, làm đại pháp sư, dần dần đủ Phật đạo, sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Phật đó sống lâu vô lượng A tăng kỳ kiếp. Ðức Phật bảo Gia Du Ðà La : Ngươi ở đời vị lai, trong trăm ngàn vạn ức các Phật pháp, tu lục độ vạn hạnh tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, tự độ độ tha, làm đại pháp sư, dần dần thành tựu Phật đạo. Ở trong nước Thiện Lương sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, đầy đủ mười hiệu. Phật đó sống lâu vô lượng A tăng kỳ kiếp. Bấy giờ, Tỳ Kheo Ni Ma Ha Ba Xà Ba Đề và Tỳ Kheo Ni Gia Du Đà La, cùng với quyến thuộc đều rất hoan hỉ, được chưa từng có, bèn ở trước đức Phật nói bài kệ rằng : Đấng Đạo sư Thế Tôn An ổn các trời người Chúng con nghe thọ ký Tâm an đã đầy đủ. Lúc đó, Tỳ Kheo ni Ðại Ái Ðạo và Tỳ kheo ni Hoa Sắc, cùng với quyến thuộc được Phật thọ ký, đều rất hoan hỉ, được chưa từng có, lập tức ở trước Phật nói ra bài kệ : Ðức Thế Tôn ! Ngài là đại Đạo sư của trời người, Ngài hay khiến cho trời người được an ổn, được an lạc. Chúng con hàng Tỳ Kheo ni, nghe đức Thế Tôn thọ ký cho chúng con, ai nấy trong tâm đều an ủi chẳng cách gì hình dung được. Các Tỳ Kheo ni nói kệ xong, bèn bạch đức Phật nói : Ðức Thế tôn ! Chúng con cũng ở nơi cõi nước phương khác, rộng nói kinh này. Các vị Tỳ Kheo ni nói xong rồi, mới bạch với Phật rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Chúng con hàng Tỳ Kheo ni, cũng ở nơi nước khác hoằng dương bộ Kinh Pháp Hoa nầy, rộng nói bộ Kinh Pháp Hoa nầy‘’. Bấy giờ, đức Thế Tôn nhìn tám mươi vạn ức Na do tha các vị đại Bồ Tát. Các vị Bồ Tát đó, đều là chuyển bất thối pháp luân, đắc được các Đà la ni, bèn từ tòa ngồi đứng dậy, đến trước đức Phật, một lòng chắp tay mà nghĩ như vầy : Nếu đức Thế Tôn dạy bảo chúng con thọ trì diễn nói kinh này, thì chúng con sẽ y theo lời Phật dạy, mà rộng tuyên nói pháp này. Lại nghĩ như vầy : Nay đức Phật yên lặng, chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào ? Lúc đó, đức Phật chăm chú nhìn tám vạn ức Na do tha (một trong số mục lớn nhất của Ấn Ðộ) các vị đại Bồ Tát. Các Ngài đều là: Vị bất thối, niệm bất thối, hạnh bất thối, chuyển bất thối đại pháp luân, chứng được Đà la ni (dịch là "tổng trì", tổng tất cả các pháp, trì vô lượng nghĩa). Các vị Bồ Tát nầy; cùng nhau từ tòa ngồi đứng dậy, đều đi đến trước Ðức Phật, cung kính một lòng chắp tay. Ðó là biểu thị thân cung kính và tâm cung kính. Các vị đại Bồ Tát đó, cùng nghĩ như vầy : ‘’Nếu như Ðức Thế Tôn dạy bảo chúng ta thọ trì diễn nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thì chúng ta đại chúng nhất định tuân theo lời Phật dạy, rộng vì chúng sinh diễn nói diệu pháp nầy.’’ Các vị Bồ Tát đó lại nghĩ như vầy : ‘’Tuy chúng ta cùng nhau phát tâm nguyện như vậy, song Phật nay lại yên lặng chẳng nói, chẳng thấy Phật dạy bảo chúng ta. Bây giờ chúng ta phải làm thế nào ? Phát nguyện hoằng dương Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ? Hay là chờ đợi Phật dạy bảo‘’? Bấy giờ, các vị đại Bồ Tát đó, cung kính thuận theo ý của đức Phật, và muốn đầy đủ nguyện của mình đã phát ra, bèn ở trước đức Phật làm sư tử hống, mà phát thệ nguyện rằng : Đức Thế Tôn ! Sau khi Như Lai diệt độ, chúng con sẽ đi khắp mười phương thế giới, để khiến cho chúng sinh, thọ trì đọc tụng biên chép ấn tống giải nói kinh này, theo như pháp mà tu hành, nghĩ nhớ chân chánh, đó đều là oai lực của đức Phật. Xin nguyện đức Thế Tôn ở nơi phương khác, trông thấy mà bảo hộ. Lúc đó, Ðức Phật chẳng nói gì cả, tám mươi vạn ức Na do tha các vị đại Bồ Tát, vì muốn cung kính tùy thuận tâm ý của Phật, và còn muốn đầy đủ đại nguyện của mình đã phát ra. Mới cùng nhau ở trước Ðức Phật làm sư tử hống (tiếng đại vô úy) mà phát thệ nguyện rằng : ‘’Ðức Thế Tôn ! Sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đại chúng, sẽ đi đến khắp mười phương thế giới, khiến cho chúng sinh thọ trì, biên chép, ấn tống, diễn nói, bộ kinh nầy. Chúng con giảng giải nghĩa lý bộ kinh nầy, khiến cho chúng sinh minh bạch y chiếu theo nghĩa kinh mà tu hành, luôn thường nghĩ nhớ. Chúng con khiến cho chúng sinh chẳng quên bộ kinh nầy, đó đều là nhờ đại oai thần lực của Phật mà thành tựu. Xin nguyện đức Thế Tôn từ bi ở phương khác, trông thấy Bồ Tát chúng con và chúng sinh, bảo hộ Bồ Tát chúng con và chúng sinh. Tức thời, các vị Bồ Tát cùng nhau phát ra tiếng, mà nói kệ rằng : Xin nguyện Phật đừng lo Sau khi Phật diệt độ Trong đời ác sợ hãi Chúng con sẽ rộng nói. Có những kẻ vô trí Miệng ác chưởi mắng thảy Dùng đao gậy đánh đập Chúng con đều nhẫn nhịn. Lúc đó, hết thảy các vị đại Bồ Tát cùng nhau phát ra tiếng, khác miệng cùng lời nói ra bài kệ dưới đây. Chúng con đại chúng, xin nguyện Ðức Thế Tôn phóng tâm, đừng lo lắng chẳng có ai hoằng dương Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hiện tại chúng con phát nguyện hoằng dương bộ kinh nầy. Sau khi Phật vào Niết Bàn rồi, ở trong đời ác sợ hãi, chúng con sẽ rộng nói Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Nếu như có người chẳng có trí huệ, làm những hành vi thô bạo, mắng chưởi hoặc dùng đao gậy đánh người, chúng con sẽ tiếp nhận sự ngược đãi của họ, chúng con tu pháp môn nhẫn nhục sẽ nhẫn nhịn. Nếu có người mắng bạn, mà bạn chẳng tiếp nhận (chẳng đếm xỉa gì đến họ), thì sự mắng chưởi đó sẽ trở về người đó. Giống như có người mang quà tặng đến cho người nọ, song người nọ chẳng tiếp nhận, thì quà tặng đó trở về người tặng quà, cũng đồng lý ấy. Lại như có người, ngửa mặt lên trời phun nước miếng, muốn làm dơ trời, cuối cùng nước miếng rơi vào mặt người đó, tự thọ lấy hậu quả. Công phu nhẫn nhục của Bồ Tát Di Lặc tu đã đến nhà, có người nhổ nước miếng lên mặt của Ngài, song Ngài chẳng phản ứng, cũng chẳng dùng tay lau chùi, để cho nó khô tự nhiên. Nếu ai ai cũng có công phu hàm dưỡng như vậy, thì trên thế gian chẳng có sự việc tranh giành phát sinh. Người thông minh đều có sự tu dưỡng, bị người chưởi mắng thì xem như là họ ca hát, được như thế thì mọi sự đều thành công, do đó có câu : ‘’Nhẫn phiến khắc phong bình lãng tịnh Thối nhất bộ hải khoát thiên không‘’. Nghĩa là : ‘’Nhịn một chút gió yên sóng lặng Lùi một bước biển êm trời xanh‘’. Như thế thì tiêu dao tự tại biết bao ! Chẳng những bị chưởi mắng phải nhẫn nhịn, mà dù bị giết bằng đao, bị đánh bằng gậy, cũng phải nhẫn chịu, đó là tác phong của Bồ Tát. Có người nói : ‘’Tôi là Bồ đề tát đỏa‘’. Song, bị người mắng chưởi thì lửa vô minh nổi dậy cao đến ba trượng, liều mạng sống chết, đó là Bồ Tát gì ? Tỳ Kheo trong đời ác Tà trí tâm siểm khúc Chưa chứng nói đã chứng Tâm ngã mạn đầy dẫy. Hoặc có vị Tỳ kheo Mặc nạp y chỗ vắng Tự cho hành chân đạo Khinh khi người nhân gian. Tỳ kheo và Tỳ kheo ni ở trong đời ác năm trược, trong tâm của họ có tư tưởng tà tri tà kiến, xem mọi người chẳng bằng mình, cảm thấy mình giỏi hơn người, trong mắt chẳng xem ai ra gì. Loại người có tà trí huệ chẳng có chánh trí huệ nầy, dạy họ giảng kinh thuyết pháp, thì họ giảng chẳng thông nói chẳng rõ, song đối với việc rượu chè cờ bạc, thì họ chẳng học mà tự thông. Tâm tánh của họ siểm khúc. Siểm là siểm nịnh, thấy người có tiền có thế, thì sinh tâm phan duyên, nói những lời ngọt ngào, khiến cho họ sinh tâm hoan hỉ. Tại sao ? Ðó là vì tham đồ danh văn lợi dưỡng. Khúc là quanh co, chẳng nói lời ngay thẳng với người, nói lời giả dối. Ðó là hành vi của kẻ tiểu nhân, chẳng phải là tác phong của quân tử. Có những người tu đạo, chẳng đắc đạo mà nói với mọi người rằng mình đã chứng đạo, chẳng chứng quả mà nói đã chứng quả, đó là chưa được nói đã được, chưa chứng nói đã chứng. Phạm đại vọng ngữ thì tương lai chắc chắn phải đọa vào địa ngục cắt lưỡi. Người phạm mao bệnh cống cao ngã mạn, chẳng xem ai ra gì cả, ngã mạn đầy dẫy trong tâm, nói mình là Phật, nói mình khai ngộ, tự mình tuyên truyền quảng cáo khắp nơi. Tại sao ? Vì tâm phan duyên đang tác quái, hy vọng có người đến cúng dường. Hoặc có Tỳ Kheo ở nơi A lan nhã (nơi vắng lặng), mặc y phấn tảo mà tu ở nơi vắng lặng. Tự nói mình đang tu chân đạo : ‘’Ta là Tăng tu khổ hạnh, ta là cao Tăng hành đạo‘’, càng khinh khi người giảng Kinh Pháp Hoa. A lan nhã là nơi chẳng có tiếng ồn ào, là nơi người tu khổ hạnh ở, tức cũng là nơi cách xa thành thị huyên náo, nơi tĩnh tâm tu hành. Ban đêm họ ngồi thiền dưới gốc cây chẳng ngủ. Y phấn tảo là y vá, cũng là y phục của người xuất gia mặc. Người xuất gia phải trừ tâm tham, cho nên chẳng mặc y phục tốt, thứ y phục nầy dùng vải cũ may thành, rất dễ rách nát. Do đó, chỗ nào rách thì vá chỗ đó, do đó có câu : ‘’Thiên châm vạn tuyến bổ nạp y‘’. Nghĩa là ‘’Ngàn đường kim vạn sợi tơ vá y rách‘’. Nạp y còn biểu thị năm tuổi tu đạo. Còn gọi là y phấn tảo, là y lượm ở trong đống rác, dùng nước giặc sạch rồi may thành y. Vì tham trước lợi dưỡng Nói pháp với cư sĩ Để người đời cung kính Như lục thông La Hán. Người đó ôm lòng ác Thường nhớ việc thế tục Giả danh A lan nhã Chuyên nói lỗi của người. Những Tỳ Kheo ác có tâm tham đồ lợi dưỡng, vì người tại gia nói pháp. Nói pháp chẳng phải là chân đạo, song làm giả dạng để được người đời cung kính, giống như cung kính bậc A La Hán đã chúng lục thông. Tỳ Kheo ác tính thường ôm lòng ác độc, ác ý hủy báng pháp sư giảng nói Kinh Pháp Hoa, song ông ta luôn luôn nghĩ nhớ đến việc thế tục, làm thế nào mới có thể thành tựu danh lợi ? Làm thế nào mới có người cúng dường ? Cho nên phan duyên khắp nơi, hóa duyên các nơi. Họ mượn danh nghĩa giả, ở chỗ vắng vẻ. Kỳ thật, họ tham đồ danh văn lợi dưỡng mà thôi. Họ tự cho rằng họ là thanh cao, mà chuyên môn nói lỗi của người thuyết pháp, đó là hành vi của vi trùng ở trong thân của sư tử. Tông chỉ của tôi (Hòa Thượng Tuyên Hóa) là : ‘’Dù chết lạnh chẳng van xin Dù chết đói chẳng cầu xin Dù nghèo chết chẳng cầu cạnh. Tùy duyên mà không đổi, Không thay đổi mà tùy duyên. Giữ gìn ba tông chỉ của chúng ta Xả bỏ thân mạng làm Phật sự Tạo mạng là việc gốc Nuôi mạng chân chánh là việc Tăng Gặp việc thì rõ lý Rõ lý tức là việc Giữ gìn tổ sư một mạch tâm truyền.’’ Mà nói như thế này Các vị Tỳ Kheo đó Vì tham cầu lợi dưỡng Nói luận nghị ngoại đạo. Tự làm kinh điển này Dối gạt người thế gian Vì cầu danh cầu lợi Phân biệt nói kinh này. Người đó nói kinh nầy : ‘’Những vị Tỳ kheo đó, họ vì tham đồ lợi dưỡng, cho nên vì chúng sinh nói lý luận của ngoại đạo. Họ tự làm bộ kinh Pháp Hoa nầy, mục đích là lường gạt người thế gian, vì cầu danh lợi, cho nên phân biệt để diễn nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Ngoại đạo : Tức là người tu hành, cầu pháp bên ngoài tâm. Lúc Ðức Phật còn tại thế, ở Ấn Ðộ có sáu thứ ngoại đạo, học thuyết của họ không ngoài nói về đoạn về thường, bác vô nhân quả, tự nhiên thành tựu. Cho nên hình thành hai chủ nghĩa lớn : Một là phái hưởng thụ, hai là phái khổ hạnh, song đều chẳng cứu kính. Thường ở trong đại chúng Muốn hủy báng chúng ta Hướng quốc vương đại thần Bà la môn cư sĩ. Và chúng Tỳ Kheo khác Phỉ báng nói ta ác Người đó kẻ tà kiến Nói luận nghị ngoại đạo. Người đó, thường ở trong đại chúng, vì muốn hủy báng chúng con, nên thường nói với quốc vương và đại thần, thường nói với hàng Bà la môn, cư sĩ và chúng Tỳ Kheo khác. Nói cái gì ? Nói vị pháp sư giảng nói Kinh Pháp Hoa là người tà tri tà kiến, chuyên môn giảng nói luận nghị của ngoại đạo, chẳng phải là Phật pháp chân chánh. Chúng sinh vào thời mạc pháp, chẳng có mắt lựa chọn pháp, bạn nói với họ pháp thật, thì họ cho là giả. Nếu bạn nói pháp giả, thì họ cho là pháp thật, đó tức là điên đảo. Chẳng phân biệt được rõ ràng thật giả, thiện ác, chánh tà, trắng đen. Bà la môn là một trong bốn dòng dõi của Ấn Ðộ, thờ phụng trời Phạm Thiên, tu hạnh thanh tịnh. Khi nhi đồng đến bảy tuổi, thì ở nhà học tập kinh điển, đến mười lăm tuổi, thì có thể ra ngoài học giáo lý Bà la môn, đi cầu học các nơi. Bốn mươi tuổi thì trở về nhà kết hôn, sinh con nối dòng, ‘’Truyền tông tiếp đại‘’, năm mươi tuổi thì vào núi tu đạo. Vì chúng con kính Phật Phải nhẫn các việc ác Họ nói lời khinh khi Các ông đều là Phật. Lời khinh mạn như thế Chúng con đều nhẫn nhịn Trong đời ác kiếp trược Có nhiều việc kinh hãi. Chúng con đại chúng vì cung kính Ðức Phật, dù những người ác gây ra đủ thứ chuyện ác, song chúng con đều phải nhẫn nhịn, chẳng biện luận với họ, cũng chẳng để ý đến lời nói phá hoại của họ. Những người đó ít xít cho nhiều, dùng lời nói tâng bốc nói chúng con : ‘’Các ông đều là Phật‘’. Những lời nói khinh mạn như thế, chúng ta đều phải nhẫn nhịn. Ở trong đời ác năm trược có nhiều việc đáng sợ hãi, để nhiễu loạn thân tâm người tu đạo, khiến cho chẳng thanh tịnh, rất dễ mất đạo tâm. Ác quỷ nhập thân họ Mắng chưởi hủy nhục con Chúng con kính tin Phật Phải mặc giáp nhẫn nhục. Do vì nói kinh này Nhẫn các việc khó đó Con chẳng tiếc thân mạng Chỉ tiếc đạo vô thượng. Vào thời đại mạc pháp, ma mạnh pháp yếu. Ma quỷ nhập vào thân người tác quái. Có người hỏi : ‘’Ác ma sao có thể nhập vào thân người được‘’? Vì tâm con người bất chánh, thường sinh tà niệm, cho nên dễ làm cho ma quỷ nhập vào. Quảng đông có câu rằng : ‘’Quỷ trong thân‘’. Quỷ mà đã nhập vào thân người rồi, thì người đó chẳng còn làm chủ được nữa, chẳng còn tri giác, bị ma quỷ chi phối. Ác quỷ lợi dụng miệng của họ nói những lời tiên đoán tựa như đúng, nhưng là sai, người chẳng có trí huệ rất dễ bị lừa. Trước kia, tôi có gặp một cô gái bị quỷ nhập. Cô ta nói cô ta là Bồ Tát, tôi nói với cô ta : ‘’Bồ Tát cái gì cũng biết, sao cô chẳng biết gì hết’’? Cô ta chẳng có lời nào để nói bèn bỏ đi. Bây giờ rất dễ mạo xưng là thánh nhân, đi khắp nơi tuyên truyền mình là Phật, là Bồ Tát. Kỳ thật, đó là quỷ trong thân mình, mà mình chẳng biết mà thôi. Những người tà đó, đi khắp nơi vì chúng sinh nói pháp giảng đạo, giáo hóa chúng sinh, khiến cho chúng sinh lầm vào đường tà. Quỷ ở trong thân ác Tỳ Kheo, chuyên môn mắng chưởi hủy nhục chúng con, nói pháp sư giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là ngoại đạo. Chúng con đại chúng vì cung kính Phật, tín ngưỡng Phật, cho nên thường mặc áo giáp nhẫn nhục, để bảo hộ huệ mạng của chúng con. Vì hoằng dương Kinh Pháp Hoa, lưu truyền ở đời, cho nên vui lòng nhẫn nhịn đủ thứ những việc khó nhẫn. Vì tuyên nói bộ kinh nầy, mà chúng con chẳng thương tiếc thân mạng của mình, chỉ muốn bảo hộ bộ kinh nầy, thương tiếc đạo vô thượng. Chúng con đời vị lại Hộ trì Phật phó chúc Thế Tôn sẽ tự biết Tỳ Kheo đời ác trược. Chẳng biết Phật phương tiện Tùy nghi mà nói pháp Miệng ác còn nhăn nhó Thường thấy đuổi họ ra. Xa lìa nơi chùa tháp Những việc ác như thế Vì nhớ lời Phật dạy Nên đều phải nhẫn nhịn. Chúng con đại chúng ở đời vị lai, giữ gìn lời phó chúc của Phật, hộ trì bộ Kinh Pháp Hoa nầy. Ðức Thế Tôn ! Ngài chắc chắn sẽ biết, Tỳ Kheo ác ở trong đời ác năm trược chẳng biết pháp môn phương tiện của Phật nói, mới thuận theo căn cơ của chúng sinh mà nói tất cả các pháp. Họ dùng miệng ác hủy báng, biểu tình nhăn nhó, cău mày. Nhiều lần đuổi Tỳ Kheo lánh xa lìa chùa tháp. Những việc ác như thế, thật làm cho con người khó nhẫn nhịn. Song chúng con thường nhớ lời Phật dạy, cho nên mọi việc ác, chúng con đều phải nhẫn nhịn, tuyệt đối chẳng nổi sân với Tỳ Kheo ác. Các xóm làng thành ấp Nếu có người cầu pháp Con đều đến chỗ họ Nói pháp của Phật nói. Con là sứ của Phật Trong chúng đều chẳng sợ Con sẽ khéo nói pháp Xin Phật hãy yên lòng. Con ở trước Thế Tôn Và chư Phật mười phương Phát thệ nguyện như thế Phật tự biết tâm con. Ở trong các xóm làng thành ấp, nếu có người thỉnh cầu Phật pháp, thì con đều đến chỗ của họ, để vì họ diễn nói pháp của Phật nói, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Con là sứ giả của Phật, phàm là việc của Phật, con đều đi làm. Ở trong đại chúng đạo tràng, vì nói Kinh Pháp Hoa nên con chẳng có sợ hãi. Con sẽ khéo nói pháp, phân biệt tất cả nghĩa lý thật tướng của các pháp. Xin nguyện Phật hãy yên lòng, đừng lo lắng việc hoằng dương Kinh Pháp Hoa. Chúng con ở trước đức Thế Tôn, ở trước mười phương chư Phật phát thệ nguyện như thế, chắc chắn Phật sẽ biết tâm nguyện của con. Tâm nguyện của con là bảo hộ thọ trì Kinh Pháp Hoa, hoằng dương Kinh Pháp Hoa, biên chép ấn tống Kinh Pháp Hoa, cúng dường Kinh Pháp Hoa, đó là đại tâm nguyện của chúng con đại chúng. Cập nhật cuối (Thứ 5, 31 Tháng 12 2009 06:22) KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 08 Quyển 04 Phẩm Thọ Ký Cho Năm Trăm Vị Đệ Tử Thứ Tám Phẩm nầy Ðức Phật vì năm trăm vị đệ tử mà thọ ký, thật ra đã thọ ký bao quát ở trong một nghìn hai trăm năm mươi vị đệ tử. Lúc này, Phật khai quyền hiển thật, mở bày một Phật thừa, ngoài hai thừa thì chẳng chân thật. Vì A La Hán, Bích Chi Phật, hàng nhị thừa mà khai thị Bồ Tát đạo, đều thọ ký cho đời vị lai đều sẽ thành Phật. Phàm là người nào nghe được, thọ trì, đều phát tâm đại thừa, tu học theo Bồ Tát đạo, làm đệ tử dự ký trong hội Pháp Hoa ở đời vị lai. Bấy giờ, Ngài Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử, từ đức Phật nghe trí huệ phương tiện tùy nghi thuyết pháp, và nghe thọ ký quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác, cho các vị đệ tử lớn, lại nghe việc nhân duyên đời trước, và nghe chư Phật có sức thần thông đại tự tại, được chưa từng có, tâm thanh tịnh hớn hở, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước đức Phật, đầu mặt lễ dưới chân đức Phật, rồi đứng qua một bên, chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật, mắt chẳng tạm rời mà nghĩ như vầy : Ðức Thế Tôn rất kỳ đặc, làm những việc ít có, tùy thuận bao nhiêu thứ tánh thế gian, dùng phương tiện tri kiến mà vì họ thuyết pháp, cứu vớt chúng sinh ra khỏi những chỗ tham trước. Chúng con ở nơi công đức của Phật, không lời lẽ nào mà nói cho hết được, chỉ có đức Phật Thế Tôn, mới biết được nguyện xưa trong thâm tâm của chúng con. Lúc đó, Ngài Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử, tức là Mãn Từ Tử, nghe đức Phật nói, biết được hóa thành phương tiện trí huệ (phẩm thứ bảy), tùy căn cơ của chúng sinh mà vì họ nói pháp, lại nghe các vị đệ tử lớn, tức một nghìn hai trăm năm mươi người, được Phật thọ ký sẽ thành Phật, lại nghe việc nhân duyên đời trước, tức là Phẩm Hoá Thành Dụ, nói về các vị vương tử thuở xưa, và nói về nhân duyên. Lại nghe chư Phật có đại trí huệ, tùy duyên tự tại, thông đạt vô ngại, đây là những việc từ trước chưa từng nghe, cho nên trong tâm thanh tịnh hớn hở khác thường. Bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến ở trước đức Phật cuối đầu cung kính lễ dưới chân đức Phật. Lễ Phật xong, lui về đứng một bên, chiêm ngưỡng tôn nhan của Phật, mắt chẳng nhấp nháy. Trong tâm nghĩ như vầy : "Ðức Thế Tôn rất ít có kỳ đặc, những gì Phật làm càng hy hữu, hay dùng trí huệ quyền xảo phương tiện, để tùy thuận chúng sinh, mà nói đủ thứ Phật pháp phương tiện, khiến cho chúng sinh tiêu trừ tham trước, chẳng còn nhiễm ô cảnh sáu trần. Chúng con trí huệ mỏng manh, căn cơ cạn cợt, cho nên không thể nói hết và tuyên dương công đức của chư Phật, chỉ có Phật, đại giác Thế Tôn, mới biết đại nguyện ở trong thâm tâm của con và chúng sinh". Bấy giờ, đức Phật bảo các vị Tỳ Kheo rằng ! Các ông có thấy ông Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử đây chăng, ta thường khen ông ta là người thuyết pháp giỏi bậc nhất, cũng thường khen ngợi ông ta tu đủ thứ công đức, tinh tấn siêng năng hộ trì, trợ giúp tuyên dương pháp của ta, hay ở trong bốn chúng khai thị giáo hóa, khiến cho mọi người được lợi ích vui mừng, giải thích đầy đủ chánh pháp của Phật, khiến cho bậc đồng phạm hạnh được lợi ích rất lớn. Ngoài đức Như Lai ra, chẳng có ai biện luận bằng ông Phú Lâu Na. Lúc đó, Phật bảo các vị đại Tỳ Kheo: ‘’Các ông bây giờ có thấy vị Thanh Văn thừa Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử đây chăng ? Ông ta ở trong đời trước, đã từng phát nguyện lớn, muốn trợ giúp Phật hoằng dương Phật pháp. Ta thường khen ngợi ông ta, vì ông ta thuyết pháp giỏi bậc nhất‘’. Ban đầu Phật chuyển bánh xe diệu pháp, ngoài đức Phật đích thân nói pháp ra, cũng nhờ đồ chúng luân phiên thuyết pháp. Vì khích lệ trí lực biện tài giảng kinh thuyết pháp của đồ chúng, nên đức Phật luôn luôn cho người thuyết pháp bình luận, khiến cho họ "đầu sào trăm trượng tiến thêm một bước". Tại Vạn Phật Thành cũng làm theo đức Phật chế, chuyển bánh xe pháp, thuyết pháp khiến cho người thuyết pháp tùy ý phát huy, thâm nhập sự áo diệu của Phật pháp, song phải hợp với đạo lý ở trong kinh. Ngài Phú Lâu Na khéo nói pháp vi diệu, do đó trời người, cho đến loài quỷ, súc sinh, đều thích nghe, tức khiến cho loài A tu la háo chiến, cũng lập tức ngưng chiến, mà yên lặng nghe pháp, ngoài ra bậc A la hán và Bồ Tát, cũng thích nghe Ngài nói pháp. Phật thường khen ngợi Phú Lâu Na trong đời quá khứ, rộng tu cúng dường Tam Bảo, và làm đủ thứ công đức, tinh tấn siêng tu, khéo hộ trì tuyên dương Phật pháp, lại khéo vì bốn chúng khai thị, khiến cho họ được pháp ích lớn. Ngoại trừ Phật ra, ở trong đại chúng chẳng có ai có biện tài vô ngại như Ngài Phú Lâu Na, ở trong hàng đệ tử của Phật, Ngài là người giỏi thuyết pháp bậc nhất. Các ông chớ cho rằng, ông Phú Lâu Na chỉ hộ trì tuyên dương pháp của ta thôi, mà trong quá khứ, nơi chín mươi ức chư Phật, cũng hộ trì tuyên dương chánh pháp của chư Phật. Trong hàng người nói pháp, ông Phú Lâu Na cũng là bậc nhất, và nơi pháp không của các đức Phật nói, thấu rõ thông đạt, đắc được bốn trí vô ngại, thường hay suy xét kỹ lưỡng thanh tịnh, thuyết pháp chẳng có nghi hoặc, đầy đủ sức thần thông của Bồ Tát, tùy theo thọ mạng, thường tu phạm hạnh. Người ở đời thuở các đức Phật kia, đều cho rằng ông thật là Thanh Văn, nhưng ông Phú Lâu Na dùng phương tiện đó, lợi ích vô lượng trăm nghìn chúng sinh, và hóa độ số người nhiều vô lượng A tăng kỳ, khiến cho họ trụ nơi quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì tịnh cõi Phật, mà thường làm Phật sự giáo hóa chúng sinh. Ðức Phật Thích Ca nói: ‘’Các ông đừng cho rằng ông Phú Lâu Na chỉ hộ trì trợ giúp tuyên dương pháp của ta nói, mà ông ta sớm ở trong quá khứ trong vô lượng kiếp, đã hộ trì pháp của vô lượng các đức Phật. Ở chỗ các đức Phật, cũng là người nói pháp giỏi bậc nhất‘’. Ngài còn thông đạt pháp không của các đức Phật nói, đắc được bốn trí vô ngại tức là : 1. Pháp vô ngại biện. 2. Nghĩa vô ngại biện: Từ một nghĩa mà diễn nói thành vô lượng nghĩa, lại từ vô lượng nghĩa mà quy nạp làm một. Một làm vô lượng, vô lượng làm một. Một tức vô lượng, vô lượng tức một, viên dung vô ngại. 3. Từ vô ngại biện : Nguyện nói Phật pháp. 4. Lạc thuyết vô ngại biện : Thích nói pháp, chưa từng giải đãi. Khéo về quán cơ thí giáo, thậm chí thấy heo, chó .v.v., cũng vì chúng thuyết pháp. Nói với heo rằng: ‘’Ngươi đừng quá tham ăn tham ngủ nữa, cũng đừng quá làm biến không tinh tấn, nếu không đời sau cũng sẽ bị đọa làm heo nữa, tức vĩnh viễn khó có ngày thoát khỏi ba đường ác‘’. Khuyên nói với chó rằng: ‘’Ngươi từ nay về sau, đừng có san tham nữa, nên sớm quay đầu, bỏ mê về với giác ngộ.’’ ‘’Thường hay suy xét kỹ lưỡng thanh tịnh thuyết pháp, chẳng có nghi hoặc‘’: Thường hay suy xét những pháp nói ra đều thanh tịnh, chẳng có tâm nghi hoặc. Nếu người khởi hoài nghi pháp của mình nói‘’. Pháp của mình vừa mới nói có đúng chăng? Mình khởi nghi thì cũng khiến cho người nghe khởi nghi. ‘’Ông nầy nói tầm bậy, đùng nghe ông ta nói’’. Tuy Ngài Phú Lâu Na là bậc A La Hán, song đã đầy đủ sức thần thông của Bồ Tát, đó là vì Ngài ở trong đời quá khứ, đã hành Bồ Tát đạo, tùy theo thọ mạng nơi chỗ các đức Phật tu đủ thứ tịnh hạnh. ‘’Người đời ở thuở các Ðức Phật kia, đều cho rằng ông ta thật là Thanh Văn‘’. Ngài Phú Lâu Na vốn là Bồ Tát, song Ngài: ‘’Nội bí Bồ Tát hạnh, Ngoại hiện Thanh Văn thân‘’. Nghĩa là : Bên trong bí mật tu hạnh Bồ Tát, Bên ngoài hiện thân Thanh Văn. Ẩn thật hiện quyền, thị hiện hình tướng Thanh Văn, nhờ vậy mà phá ‘’thấy dấu vết thì mê gốc‘’ của người thế tục. Cho nên Ngài Phú Lâu Na dùng pháp quyền xảo phương tiện, ẩn lớn hiện nhỏ, lợi ích vô lượng trăm ngàn chúng sinh. ‘’Lại hóa độ số người nhiều vô lượng A tăng kỳ, khiến cho họ trụ nơi quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.’’: Lại giáo hóa vô lượng chúng sinh, khiến cho họ lập chí tu thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ngài Phú Lâu Na vì trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật, cho nên phàm là có việc lợi ích cho Phật giáo, Ngài chưa từng phóng dật, dùng sở đắc của mình, giáo hóa chúng sinh làm trách nhiệm của mình. Ngài Phú Lâu Na thích nói Phật pháp, Ngài có bốn trí vô ngại. Pháp sư thời nay cũng cần có bốn trí vô ngại, nên đầy đủ bốn trí nầy, bằng không chỉ có một trí ‘’thích nói‘’ Phật pháp, bị cảnh lay chuyển, ví như, vốn muốn độ người nào đó, song định lực chẳng đủ, kết quả ngược lại bị người đó lay chuyển. Lại ví như ‘’người độ chó‘’, nếu thương mến tham luyến, cũng sẽ bị chó độ lại. Xưa kia, có người diễn kịch, rất tinh thông về nghề kịch, diễn rất khéo léo, song anh ta thương một con chó, song con chó đó chẳng phải là ai xa lạ, mà chính là vợ của anh ta ! Vì vợ của anh ta suốt ngày thích mắng chưởi người, bộ dạng như chó sủa, suốt ngày sủa gâu ! Gâu ! Gâu ! Ðối với anh diễn kịch. Chẳng có ngày nào yên ổn, không được nghỉ, cũng không thể tu hành. Khi anh ta bực bội đến cực điểm, thì tôi nói với anh ta : ‘’Nếu anh có định lực, thì phiền não tự nhiên sẽ bỏ anh mà đi. Bây giờ anh nên tu nhẫn nhục, nhẫn thọ tất cả sự chưởi mắng. Do đó có câu: ‘’Duyên tụ thì thành, duyên tan thì lìa‘’. Anh ta nghe rồi, quả nhiên tu pháp môn nhẫn nhục. Ba năm sau, anh ta từ từ đã nhẫn thọ được nghịch cảnh, còn vợ của anh ta trường từ với đời, cuối cùng bỏ anh ta mà ra đi. Các Tỳ Kheo ! Ông Phú Lâu Na ở nơi bảy đức Phật, cũng là người thuyết pháp bậc nhất. Nay trong hàng đệ tử của ta, cũng là người thuyết pháp bậc nhất. Nơi các đức Phật vị lai trong Hiền kiếp, cũng là người thuyết pháp bậc nhất, đều hộ trì tuyên dương Phật pháp. Ðời vị lai, ông Phú Lâu Na cũng hộ trì tuyên dương, pháp của vô lượng vô biên các đức Phật, giáo hóa lợi ích vô lượng chúng sinh, khiến cho họ trụ nơi quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì tịnh cõi Phật, nên thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sinh. Các Tỳ Kheo ! Vị Phú Lâu Na ẩn lớn hiện nhỏ nầy, ở nơi bảy đức Phật và Phật Thích Ca, cũng đều là người thuyết pháp bậc nhất trong hàng đệ tử của Phật. Bảy Ðức Phật là : 1. Phật Tỳ Bà Thi. 2. Phật Thi Khí. 3. Phật Tỳ Xá Phù. 4. Phật Câu Lưu Tôn. 5. Phật Câu Na Hàm Mâu Ni. 6. Phật Ca Diếp. 7. Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì nhân duyên gì, mà Ngài Phú Lâu Na là người thuyết pháp bậc nhất trong bảy Ðức Phật ? Ngài Phú Lâu Na ở trong quá khứ vô lượng ức kiếp, chẳng biết thuyết pháp, song đối với Phật pháp Ngài rất khao khát ngưỡng mộ, cho nên mỗi lần nghe có pháp hội giảng kinh, thì Ngài nhất định phải đến tham dự. Dù Ngài có thể không ăn không uống không ngủ, song không thể nào không đến nghe pháp, cho nên lấy pháp làm thức ăn, lấy pháp làm nước, chẳng những như thế, mà vì biểu thị lòng cung kính, chẳng màng là ai thuyết pháp, Ngài cũng đều cung kính, Ngài từng nguyện như vầy: ‘’Tương lai sau khi xuất gia, tôi nguyện sẽ là người thuyết pháp bậc nhất, tại mỗi vị Phật ra đời, đều phải dưới Phật tòa giảng kinh thuyết pháp vào hàng bậc nhất‘’. Ngài đời đời kiếp kiếp đều phát nguyện nầy, quả nhiên toại tâm mãn nguyện, vì phát nguyện trồng xuống hạt giống bồ đề, thì sẽ nảy mầm lớn dần. Khi cơ duyên thành thục, thì trí huệ phát sinh biện tài vô ngại. ‘’Nơi các đức Phật vị lai trong Hiền kiếp, cũng là người thuyết pháp bậc nhất‘’. Hiền kiếp tức là thời Thánh hiền ra đời, Phật Câu Lưu Tôn là vị Phật thứ nhất của Hiền kiếp, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni là thứ hai, Phật Ca Diếp là thứ ba, Phật Thích Ca Mâu Ni là thứ tư của Hiền kiếp. Vị lai, Ngài Phú Lâu Na cũng là người thuyết pháp bậc nhất. Ngài nghe pháp thì dẹp trừ hết mọi vọng tưởng, dùng tâm chân thành hằng thật, chuyên chú tu hành mới có thành tựu như thế. Do đó, chúng ta khi tu đạo, thì chớ tồn tại tơ hào tâm đố kị chướng ngại, đừng tham cầu danh văn lợi dưỡng, đừng ham đệ nhất, nên thường sinh tâm khen ngợi người khác mới tương ưng, chẳng trở ngại đối với pháp, đắc được pháp cảnh tương dung, lạc thuyết vô ngại, không đệ nhất mà tự nhiên đệ nhất. Thuở xưa, có vị Phật sống chùa Kim Sơn, đầy đủ thần thông, lại chữa trị được bệnh, song bất cứ ai đang thuyết pháp, Ngài cũng đều cung kính chắp tay ngồi xuống. Phật sống còn trọng pháp như thế, hà huống là phàm phu chúng ta ? Ngài cũng nhiều kiếp khổ tu, mới cảm ứng và đầy đủ thần thông. Một số nhân sĩ ở Thượng Hải, chẳng ai mà không cung kính khâm phục Ngài. Nếu gặp trong chùa chẳng còn gạo ăn, thì Ngài chỉ niệm ‘’Gạo đến, gạo đến’’ ! Thì gạo quả nhiên sẽ đến. Kẻ thấy Ngài, chẳng ai mà không ngạc nhiên kính phục. Ngài Phú Lâu Na thuyết pháp bậc nhất, song Ngài chẳng ‘’tranh giành‘’ mà tự nhiên có được. Chẳng những trong Hiền kiếp, mà suốt thuở vị lai vô biên chỗ các Ðức Phật, Ngài cũng hộ trì diễn nói tuyên dương chánh pháp, giáo hóa lợi lạc quần sinh, khiến cho họ kiến lập thành tựu nhân duyên, quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nếu ai tinh tấn siêng năng giáo hoá chúng sinh, thì người đó thanh tịnh cõi Phật. Cho nên hiện tại ở Vạn Phật Thành ai tuyên dương Phật pháp, khổ tu hành, tức là nhân duyên thù thắng thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật. Bây giờ, chúng ta trang nghiêm cõi Phật khác, thì ngày nào đó, khi mình thành Phật, thì cõi nước của mình cũng sẽ trang nghiêm. Do đó : ‘’Lấy sự trang nghiêm của Phật, trang nghiêm cho mình‘’. Thanh tịnh cõi Phật khác, tức là thanh tịnh cõi Phật tự tánh. Nếu ai biết mà không thực hành, thì tự tánh của người đó ô uế hơn đời ác năm trược. Các vị chớ thấy mà bỏ qua, hiện tại tôi giảng kinh thuyết pháp được, cũng có thể nói là đã từng thọ qua sự giáo hóa của Ngài Phú Lâu Na. Lúc còn trẻ, tôi ngu dốt hơn một số người, chẳng khéo ăn nói, cũng chẳng dám nói nhiều, nếu chưa từng thọ sự khai thị của Ngài Phú Lâu Na, thì dù chính mình khổ tu, cũng không được như vậy. Dần dần đầy đủ đạo Bồ Tát, trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp, sẽ ở cõi này đắc được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, hiệu là Pháp Minh Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Phật đó, dùng ba ngàn đại thiên thế giới, nhiều đồng như số các sông Hằng làm một cõi Phật. Bảy báu làm đất, mặt đất bằng phẳng như bàn tay, chẳng có núi gò khe suối rạch ngòi. Ðài quán bảy báu đầy dẫy trong đó. Cung điện của chư Thiên ở gần nơi hư không, trời người giao tiếp nhau, và thấy được nhau. Ngài Phú Lâu Na dần dần sẽ đầy đủ đạo Bồ Tát, tu thành tựu viên mãn rồi sẽ thành Phật, giác hạnh viên mãn. Ngài tương lai sẽ thành Phật ở thế giới Ta Bà nầy, hiệu là Phật Pháp Minh. Ðức Phật đó, dùng ba ngàn đại thiên thế giới, nhiều như số cát sông Hằng làm một cõi Phật, làm nơi giáo hóa của Phật. Có : Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, pha lê, bảy thứ báu nghiêm sức. Mặt đất bằng phẳng như bàn tay của Phật, tâm của Phật bằng phẳng, nên mặt đất cũng bằng. Mặt đất bằng chẳng có núi, gò, khe, suối, rạch, ngòi .v.v., dụ cho đất chẳng có âm hiểm, bất bình, tham dục. Lại có đài quán dùng bảy báu tạo thành, cung điện của chư Thiên gần nơi hư không. Trời và người nhìn thấy nhau, giao tiếp với nhau. Chẳng có các đường ác, cũng chẳng có các người nữ. Tất cả chúng sinh đều hóa sinh ra, chẳng có dâm dục, được đại thần thông, thân phóng quang minh, bay đi tự tại, chí niệm vững chắc, tinh tấn trí huệ, thảy đều màu vàng thật, ba mươi hai tướng tự trang nghiêm. Chúng sinh trong nước đó, thường dùng hai thứ ăn uống, một là dùng niềm vui của pháp, thứ hai là dùng niềm vui của thiền định. Vì ‘’chẳng có các đường ác‘’, cho nên cõi tịnh độ đó chẳng đói khác, chẳng có thống khổ phiền não, cũng chẳng có súc sinh. ‘’Cũng chẳng có người nữ‘’, tại sao chẳng có người nữ ? Con người lại từ đâu đến ? Chúng sinh đồng ở nơi thế giới Ta Bà ác trược ô uế nầy, có bốn đường ác và người nữ. Song trong cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh, cho nên chẳng có đường ác và người nữ. Thế giới Lưu Ly ở phương đông và thế giới Cực Lạc phương tây có người nữ, song chẳng có nhân sự, cũng chẳng có tâm dâm dục, tất cả chúng sinh đều là pháp tử, từ pháp hóa sinh, đoạn dục khử ái tu thành pháp thân, cho nên thế giới Lưu Ly cũng gọi là thế giới hoan hỉ. Chúng sinh trong cõi nước của Phật Pháp Minh, đều là hóa sinh mà chẳng có thai sinh, tự có hóa không, tự không hóa có, biến hóa vô cùng. Có chúng sinh biến hóa ra từ trong hoa sen, biến hóa ra từ trong cây, biến hóa ra từ trong biển, cảnh giới trong nước đó, đều không thể nghĩ bàn. ‘’Chẳng có dâm dục‘’, nếu người muốn tu đạo, thì đừng nên có tơ hào về tham dục, hà huống là tự làm ? Ai đoạn được dâm dục thì có định lực, mới có thể chứng đại thần thông, trí huệ hiển hiện, thân phóng quang minh. Từ thế giới định huệ ba học vô lậu mà sinh ra, bay đi tự tại, tùy ý mà đến. Tâm bồ đề tu tập Phật pháp có tiến chẳng có lùi, vững chắc chẳng động lay, càng ngày càng tiến bộ, vì có chí nguyện tinh tấn nầy mới có đại trí huệ. Người trong cõi nước đó, vì tu trung đạo thắng hạnh thanh tịnh, cho nên thân thể đều hiện sắc màu vàng thật, tự trang nghiêm cõi nước mà thành tựu ba mươi hai tướng. Cõi nước đó, có hai thứ ăn uống: Một là dùng niềm vui của pháp làm thức ăn, tâm lìa tham trước. Từ xưa phàm phu đều dùng thực vật làm thức ăn, còn tham trước mùi vị. Nếu không tham ăn mà dùng pháp làm thức ăn, thì pháp hỉ sung mãn (niềm vui tràn đầy), chẳng cảm thấy đói khát. Hai là dùng niềm vui của thiền định làm thức ăn. Nếu ai ai cũng đều tu tập thiền định, thì hằng ngày chẳng đoạn thực, càng ngồi càng sinh hoan hỉ, chẳng muốn rời khỏi chỗ ngồi, diệu đến cực điểm. ‘’Ăn uống‘’ có nhiều thứ, phàm phu là phần đoạn thực (ăn uống từng phần từng đoạn), chư thiên là tư thực, (muốn ăn gì, nghĩ đến liền có), quỷ thần là xúc thực, chúng dùng mũi ngửi, cho nên cũng gọi là khứu thực. Có vô lượng A tăng kỳ ngàn vạn ức Na do tha các chúng Bồ Tát, được đại thần thông, bốn trí vô ngại, khéo giáo hóa chúng sinh. Chúng hàng Thanh Văn dù tính toán cũng không biết được số lượng, đều được đầy đủ sáu thần thông, ba minh và tám giải thoát. Cõi nước đức Phật đó, có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế, kiếp tên là Bảo Minh, cõi nước đó tên là Thiện Tịnh, tuổi thọ của đức Phật đó, vô lượng A tăng kỳ kiếp, pháp lưu lại ở đời rất lâu. Sau khi đức Phật diệt độ, tạo dựng tháp bằng bảy báu, đầy khắp cõi nước đó. Có vô lượng vô số chúng Bồ Tát đại thừa, được đại thần thông và bốn trí vô ngại (bốn biện tài vô ngại), khéo quán sát căn cơ rồi nói pháp. Chúng Thanh Văn cũng chẳng cách chi tính đếm được, đều đầy đủ sáu thông, ba minh (thiên nhãn minh, túc mạng minh, lậu tận minh) và bên trong có sắc tưởng quán ngoại sắc, bên trong chẳng có sắc tưởng quán ngoại sắc .v.v., tám pháp giải thoát. Phật Pháp Minh ứng hóa ra cõi nước như đã nói ở trên, dùng vô lượng công đức để trang nghiêm. Trong kiếp Bảo Minh, Ðức Phật Pháp Minh nơi cõi nước Thiện Tịnh thành Phật, Ðức Phật đó sống lâu vô lượng A tăng kỳ kiếp, Phật pháp trụ ở đời rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, chúng đệ tử dùng bảy báu tạo tháp cúng dường, đầy khắp cõi nước đó. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ rằng: Các Tỳ Kheo lóng nghe Ðạo của Phật tử hành Vì khéo học phương tiện Không thể nghĩ bàn được. Biết chúng ưa pháp nhỏ Mà sợ nơi trí lớn Cho nên các Bồ Tát Làm Thanh Văn Duyên Giác. Dùng vô số phương tiện Ðộ các loài chúng sinh Tự nói là Thanh Văn Cách Phật đạo rất xa. Ðộ thoát vô lượng chúng Thảy đều được thành tựu Tuy tiểu thừa giải đãi Dần sẽ khiến thành Phật. Trong ẩn hạnh Bồ Tát Ngoài hiện là Thanh Văn Ít muốn nhàm sinh tử Thật tự tịnh cõi Phật. Thị hiện có ba độc Lại hiện tướng tà kiến Ðệ tử ta như thế Phương tiện độ chúng sinh. Nếu ta nói đầy đủ Các thứ việc hóa hiện Chúng sinh nghe như thế Tâm bèn sinh nghi hoặc. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa ở trên, bèn dùng kệ để nói: Các chúng Tỳ Kheo hãy chú ý nghe, Phật tử Phú Lâu Na hành đạo, khéo học phương tiện huệ, cho nên dùng quyền xảo phương tiện, làm việc không thể nghĩ bàn. Biết chúng sinh ưa thích pháp tiểu thừa, mà sợ đại thừa, cho nên các vị Bồ Tát ẩn lớn hiện nhỏ, hiện thân Thanh Văn, Duyên Giác, dùng vô số phương tiện pháp môn, giáo hóa tất cả chúng sinh. Tự nói là nhị thừa Thanh Văn, cách Phật đạo rất xa, nhờ phương tiện đó mà độ thoát vô lượng chúng sinh, khiến cho thành tựu đạo xuất thế. Tuy nhiên người tiểu thừa muốn giải đãi, trung đạo tự tận, cũng phải khiến cho họ từ từ hồi tiểu hướng đại, thành tựu Phật đạo. Bên trong ẩn hạnh Bồ Tát, mà bên ngoài hiện thân Thanh Văn, làm Thanh Văn thực hành pháp thiểu dục, nhàm chán sinh tử, bên trong tâm thật tự du hí thần thông, tự trang nghiêm cõi Phật, song cố ý hiện có ba độc (tham, sân, si) và tướng tà kiến mà chẳng tham hiểm, dùng đủ thứ phương tiện nhân duyên, dẫn dắt kẻ mê hoặc thì dễ thành công. Như Ngài Ca Lưu Ðà Di giả hiện tướng cô gái đẹp, song thật thì chẳng phải như thế. Người có trí thì đều biết được đó chẳng phải là sắc đẹp thật, bất quá đó là quyền xảo phương tiện thị hiện tướng đó. Ngoài ra, đệ tử của Phật như Ngài Xá Lợi Phất thì hiện tướng sân, hoặc tướng tham, hoặc tướng si, cũng không ngoài dùng pháp phương tiện, tùy theo loài mà giáo hoá, do đó mà hiện đủ thứ hình tướng, nay chỉ nói sơ lược, không dám nói hết, vì sợ người nghe tín tâm chưa vững chắc sinh ra nghi hoặc. Nay Phú Lâu Na đây Nơi ngàn ức Phật xưa Siêng tu Bồ Tát đạo Tuyên dương pháp chư Phật. Vì cầu huệ vô thượng Nên nơi chỗ chư Phật Hiện ở trong đệ tử Ða văn có trí huệ. Thuyết pháp vô sở úy Hay khiến chúng hoan hỉ Chưa từng có mệt nhọc Ðể trợ giúp Phật sự. Ðã được đại thần thông Ðủ bốn trí vô ngại Biết các căn lợi độn Thường nói pháp thanh tịnh. Diễn xướng nghĩa như thế Ðộ ngàn ức chúng sinh Khiến trụ pháp đại thừa Mà tự tịnh cõi Phật. Vị lai cũng cúng dường Vô lượng vô số Phật Trợ giúp tuyên chánh pháp Cũng tự tịnh cõi Phật. Thường dùng các phương tiện Thuyết pháp vô sở úy Ðộ chúng không tính được Thành tựu Nhất thiết trí. Hiện tại Phú Lâu Na đây, nơi chỗ chư Phật trong quá khứ, siêng tu thanh tịnh Bồ Tát đạo, tuyên dương hộ trì pháp của chư Phật, vì cầu trí huệ vô thượng của Như Lai. Ở chỗ chư Phật bậc nhất về thuyết pháp, hiện ở trong tất cả đệ tử làm bác học đa văn, có đại trí huệ, thuyết pháp được vô sở úy, hay khiến cho người nghe sinh tâm hoan hỉ, chưa từng có tướng mỏi mệt. Trợ giúp làm Phật sự, đắc được đại thần thông. Vì đủ bốn trí vô ngại, nên biết căn tính lợi hoặc độn của các chúng sinh. Thường nói thanh tịnh vô thượng diệu pháp, lưu thông diễn xướng nghĩa như thế. Giáo hóa vô số ức chúng sinh, khiến cho được an trụ nơi pháp đại thừa, thanh tịnh tự trang nghiêm cõi Phật. Ở vị lai cúng dường chư Phật. Bên ngoài hiện tướng Thanh Văn, ứng các căn cơ, trợ giúp tuyên dương chánh pháp, bên trong ẩn chân tâm, tự tâm thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật. Thường dùng pháp phương tiện thiện xảo, thuyết pháp vi diệu vô thượng mà tâm vô sở úy, độ vô số chúng sinh, đều khiến cho thành tựu Nhất thiết trí huệ. Cúng dường các Như Lai Hộ trì tạng pháp bảo Sau đó được thành Phật Hiệu là Phật Pháp Minh. Nước đó tên Thiện Tịnh Ðất đai bằng bảy báu Kiếp tên là Bảo Minh Chúng Bồ Tát rất nhiều. Có đến vô lượng ức Ðều có đại thần thông Sức oai đức đầy đủ Ðầy dẫy trong nước đó. Thanh Văn cũng vô số Ba minh tám giải thoát Ðược bốn trí vô ngại Dùng họ để làm Tăng. Các chúng sinh nước đó Ðều đã đoạn dâm dục Chỉ biến hóa sinh ra Thân đủ tướng trang nghiêm. Ăn pháp hỉ thiền duyệt Càng chẳng có nghĩ ăn Chẳng có những người nữ Cũng chẳng có đường ác. Tỳ Kheo Phú Lâu Na Công đức đều viên mãn Sẽ được tịnh độ đó Chúng hiền Thánh rất đông. Vô lượng việc như thế Nay ta chỉ lược nói. Cúng dường Phật là tu phước, nói pháp là tu huệ, phước huệ song tu, đến khi đầy đủ thì thành Phật, hiệu là Pháp Minh, cõi nước đó tên là Thiện Tịnh, đất đai đều do bảy báu hợp thành, kiếp tên là Bảo Minh, trong nước đó có vô số ức Bồ Tát, đều có đại thần thông, đầy đủ sức oai đức. Lại có vô lượng Thanh Văn, đã được ba minh, tám giải thoát và bốn trí vô ngại, dùng hàng tiểu thừa như thế tu công đức vô lậu. Chúng sinh nước đó chẳng có dâm dục. Nếu ai ở thế giới Ta Bà nầy, tu đạo thanh tịnh, giữ gìn giới luật, tâm chẳng nghĩ về dâm dục, thì cũng như sống ở trong nước đó không khác. Trong cõi nước Thiện Tịnh đã đoạn dâm dục, chúng sinh đều từ hoa sen hóa sinh ra, đủ tướng trang nghiêm, dùng sự nghe kinh, thiền duyệt, pháp hỉ sung mãn làm thức ăn, một khi vui mừng thì được an lạc vô hạng. Có người nói: ‘’Không có người nữ ở trong nước đó thì làm sao có người ?‘’ Bạn chỉ biết có người nữ mà không biết đoạn dục khử ái, tính tịnh thể sáng. Nước đó chẳng có người nữ, chẳng có đường ác, càng chẳng nghĩ đến sự ăn uống. Ngài Phú Lâu Na viên mãn tất cả công đức, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, sẽ được đồng cư tịnh độ như thế. Bồ Tát Thanh Văn, trời người rất đông không thể biết được số lượng, chỉ lược nói thôi, tránh khiến cho chúng sinh sinh ra nghi hoặc. Bấy giờ, một nghìn hai trăm vị A la hán, tâm tự tại nghĩ như vầy : Chúng ta vui mừng được chưa từng có. Nếu được đức Thế Tôn đều thọ ký, như các vị đệ tử lớn, thì sung sướng lắm. Ðức Phật biết tâm suy nghĩ của các vị đó, bèn nói với ngài Ma Ha Ca Diếp rằng : Một nghìn hai trăm vị A la hán này, nay ta sẽ lần lược thọ ký quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ở trong chúng đây, đệ tử lớn của ta, Tỳ Kheo Kiều Trần Như sẽ cúng dường sáu vạn hai nghìn ức đức Phật, sau đó sẽ được thành Phật, hiệu là Phổ Minh Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Lúc đó, một nghìn hai trăm vị A La Hán đều đã chứng vô học, tâm tự tại, đã sạch phiền não. Tại nhân địa tu hành thì làm Tỳ Kheo, đến quả địa là A La Hán. A La Hán có ba nghĩa : 1. Ứng Cúng : Xứng đáng thọ trời người và thần cúng dường. 2. Sát tặc : Giết tặc phiền não. Bồ Tát là giết ‘’bất tặc‘’, A La Hán chẳng nhận thức cho là tặc, song Bồ Tát nhận thức cho là tặc mà trừ đi. 3. Vô sinh : Nghĩa là phiền não chẳng sinh. Vì ‘’sinh’’ mới phải diệt, ‘’bất sinh‘’ thì chẳng cần diệt. Không sinh không diệt tức vô minh pháp nhẫn. A La Hán tự do tự tại, vô câu vô thúc, chẳng quái ngại, chẳng có tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ mạng. Song các vị A La Hán thấy Ðức Phật thọ ký cho Ngài Phú Lâu Na, bèn nghĩ như vầy : ‘’Việc Phật thọ ký, trước kia chưa từng có. Nếu được Phật thọ ký riêng cho chúng ta thì sung sướng lắm‘’ ! Ðức Phật đều biết, đều thấy tâm của mọi người, cho nên nói với Ngài Ma Ha Ca Diếp rằng : Nói với mọi người đừng hấp tấp, Phật sẽ vì các vị đó lần lược thọ ký. Ở trong chúng đó, người ta độ trước nhất là Kiều Trần Như, ông ta là vị đệ tử lớn tinh tấn siêng năng tu đạo và chủ trì Phật pháp, sẽ cúng dường sáu vạn hai ngàn ức Ðức Phật, sau đó sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai. Ngài Kiều trần Như, tức "giải bổn tế", hiểu rõ bổn lai diện mục. Ngài là người thọ giới cụ túc đầu tiên, cũng là đệ tử ngộ trước nhất, cho nên làm trưởng lão của một nghìn hai trăm vị A La Hán. Năm trăm vị A la hán đó, Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp, Già Gia Ca Diếp, Na Ðề Ca Diếp, Ca Lưu Ðà Di, Ưu Ðà Di, A Nậu Lâu Ðà, Ly Bà Ða, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, Châu Ðà, Sa Già Ðà .v.v... đều sẽ được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều đồng một danh hiệu là Phổ Minh. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ rằng : Năm trăm vị A La Hán đó, Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp, Già Gia Ca Diếp, Na Ðề Ca Diếp, dịch ra là "giang" hoặc "hà" (sông). Ðó là biểu thị tu hành bên bờ sông. Ca Lưu Ðà Di, nghĩa là "hắc quang", vì tướng mạo đen thui, Ngài chẳng giữ giới luật, thích đi ban đêm. Một đêm nọ trời tối đen như mực, trong đêm tối càng thấy rõ bộ diện của Ngài phát quang. Ngài đi đến trước của một nhà nọ, thuận tay gõ mấy tiếng, bèn có một phụ nữ mang thai ra mở cửa, bất thình lình cô ta thấy một vật phát quang đứng ở trước cửa, cô ta ngất xỉu, sau một lúc bèn tỉnh dậy. Vì một niệm sợ hãi mà động bào thai, đưa đến đứa bé chào đời, cô ta quở trách vị Tỳ Kheo đó. Ðức Phật nghe tin bèn họp đại chúng lại, chế ra luật Tỳ Kheo không được du hành ban đêm. Tuy vị Tỳ Kheo đó từng phạm lỗi lầm, nhưng rất nhân duyên, rất được đồ chúng tôn kính và tín nhiệm, và từng hóa độ rất đông người. Ngài Ca Lưu Ðà Di đó, vì giáo hóa chúng sinh mà giả hiện thái độ không giữ quy cụ, là một sự dạy đạo ‘’phản diện‘’. Ưu Ðà Di là học trò của Ngài A Nan, nghĩa là "xuất hiện", nghiêm thủ giới luật nhất. A Nậu Lâu Ðà, đã từng bảy ngày không ngủ, khiến cho cặp mắt bị mù. Một lần nọ, Phật thuyết pháp, song Ngài A Nậu Lâu Ðà ngủ gục bị Ðức Phật quở. Sau khi Ngài tỉnh dậy, bèn phát nguyện từ đây về sau không giải đãi nữa, chẳng tham ngủ nữa. Kết quả vì Ngài không ngủ, dụng công quá độ, mà cặp mắt bị mù. Phật thương xót Ngài, bèn dạy Ngài tu tam muội kim cang chiếu minh. Chẳng bao lâu, Ngài chứng được thiên nhãn thông, quán chiếu được ba ngàn thế giới, như thấy quả trái cây trong lòng bàn tay. A Nậu Lâu Ðà nghĩa là "không nghèo". Thuở xưa, Ngài từng cúng dường một vị Tỳ Kheo đã chứng quả Thánh. Vị Thánh nhân nầy, khi tu hành tại nhân địa thì chỉ tu huệ mà chẳng tu phước, cho nên đi khất thực luôn luôn ôm bát không về. Do đó, Ngài quyết định mỗi bảy ngày mới hóa duyên một lần, mỗi lần hóa duyên bảy nhà, nếu chẳng có ai cho gì thì không ăn. Một ngày nọ, Ngài ôm bát không trở về, đi ngang qua đồng ruộng, thì có một nông phu mới làm xong, nghỉ việc chuẩn bị để ăn cơm trưa. Từ xa thấy vị tu hành ôm bát không đi ngang qua. Ngài A Nậu Lâu Ðà phát tâm cúng dường phần cơm trưa của mình cho vị tu hành đó. Tuy Ngài A Nậu Lâu Ðà rất đói, song vì tâm thành muốn cúng dường cho vị đó. Vị tu hành đó nhận sự cúng dường rồi bèn hồi hướng: ‘’Sở vị bố thí giả, Tất hoạch kỳ lợi ích Nhược vị lạc bố thí Hậu tất đắc an lạc.’’ Nghĩa là: Những gì mình bố thí Sẽ đắc được lợi ích Nếu vui vẻ bố thí Sau sẽ được an lạc. Nói xong bỏ đi. Người nông dân lúc đó bất ngờ thấy con thỏ chạy lên vai, song dính ở trên vai, người nông dân kinh dị, bèn lập tức chạy về nhà, nói lại với vợ. Người vợ lấy tay cầm xuống, thì đột nhiên thấy con thỏ đã biến thành vàng. Do đó, bèn chặt hai cái chân đi đổi thành tiền để sinh sống, thì lạ thay chỗ chặt đi lại biến lại như cũ, lại chặt đi, lại biến lại như cũ, dùng không hết, càng ngày càng trở nên giàu có. Cho nên, Ngài đời đời kiếp kiếp không nghèo, trải qua chín mươi mốt kiếp được quả báo giàu có. Ly Bà Ða dịch ra nghĩa là "Tinh tú". Kiếp Tân Na dịch ra nghĩa là "Phòng tú", vì sao thứ tư ở trong Nhị Thập Bát Tú. Ngài Kiếp Tân Na và Ngài Ly Bà Ða đều thuộc về tinh tú. Tại sao lại như thế ? Vì xưa kia, cha mẹ của các Ngài gần về tuổi già mà chẳng có con, cho nên bèn ở trước bàn thờ Nhị Thập Bát Tú mà cầu con, phát nguyện siêng tu làm việc lành, cúng sường Tam Bảo, kết quả được mãn nguyện, cho nên được tên là Phòng Tú (Kiếp Tân Na). Bạc Câu La ở trong quá khứ từng giữ giới chẳng sát sinh, cho nên được năm thứ phước báo. Ngài vừa chào đời thì cười hà hà, mẹ của Ngài thấy vậy rất sợ hãi, nghi là yêu quái, mới đem Ngài bỏ vào chảo dầu sôi, muốn dùng dầu sôi thiêu chết Ngài, song chẳng thành công. Kế tiếp, lại đem Ngài bỏ vào nước sôi, muốn nấu chết Ngài, song lại thất bại. Sau đó, đem Ngài bỏ xuống biển sâu, song bị cá nuốt vào bụng, con cá nầy bị người đánh cá câu được, mổ bụng ra, bỗng thấy đứa bé ở trong bụng cá còn sống. Ngài Bạc Câu La có năm điều không hại Ngài chết được, tức là : 1. Lửa đốt không chết. 2. Nước đun không chết. 3. Rớt xuống biển không chết. 4. Cá ăn không chết. 5. Dao mổ không chết. Ðó là năm thứ quả báo giữ giới không giết hại. Châu Ðà còn gọi là Châu Lợi Bàn Ðà Gia là anh của Sa Già Ðà, dịch là "Tiểu lộ". Cho nên anh em hai người gọi là "Ðại lộ" và "Tiểu lộ". Người anh thông minh hơn người em. Thời xưa phong tục ở Ấn Ðộ, người nữ đều phải về nhà mẹ sinh sản. Cho nên, bà mẹ của Châu Ðà cũng thế, song Châu Ðà chẳng đợi bà mẹ trở về đến nhà, thì đã sinh ra giữa đường, cho nên gọi là "Ðại lộ". Bà mẹ của Ngài đã trải qua một lần kinh nghiệm, khi mang thai lần thứ hai, thì sớm trở về nhà mẹ để sinh sản, song lần nầy vẫn sinh ra "Tiểu lộ" tại giữa đường. Do đó, hai anh em tên gọi là "Ðạo sinh" và "Kế đạo". Châu Ðà căn cơ sâu dày, quán thông Phật lý, đối với kinh điển qua mắt chẳng quên. Song người em căn tánh rất ngu độn, đọc kinh sách chẳng nhớ câu nào, giải đãi chẳng tinh tấn. Do đó, mọi người đều nghị luận về tính cách rất cực đoan của hai anh em. Nghe vậy Ngài Châu Ðà quở trách người em nói: ‘’Chú mày thật là vô dụng, năm trăm vị A La Hán dùng hết sức để dạy chú mày, mà chú mầy vẫn không hiểu, tốt nhất hãy hoàn tục cho rồi‘’. Người em chẳng muốn hoàn tục, song người anh rất kiên quyết, chẳng muốn người em xuất gia nữa. Người em thì chẳng muốn hoàn tục, song không thể không nghe lời anh, nên bèn bỏ đi vì xấu hổ quá. Phật biết câu chuyện nầy, bèn đến trước cản lại, an ủi Sa Già Ðà và dạy Ngài niệm : ‘’Chổi quét đất tâm, Tự tịnh ý mình, Ðất tâm quét sạch, Tự nhiên sẽ ngộ‘’. Song, Sa Già Ðà trí nhớ rất kém, nhớ được chữ ‘’chổi‘’ thì quên chữ ‘’quét‘’. Song, Phật vẫn nhắc lại cho Ngài. Sa Già Ðà đọc đi đọc lại nhiều lần, thời gian sau Ngài khai ngộ ! Tin rằng, những người đang nghe pháp ở đây, thông minh hơn Ngài nhiều, đừng nói chổi quét hai chữ, dù bốn chữ một khi nghe thì nhớ liền. Niệm ‘’A Di Ðà Phật‘’ càng dễ hơn nữa, song sao chúng ta vẫn chưa khai ngộ ? Tôn giả tuy nhiên ‘’ngu‘’ hơn chúng ta, song ‘’khai ngộ‘’ mau hơn chúng ta. Ðó là vì tôn giả ở trong đời quá khứ, đã từng cúng dường ba đời tất cả chư Phật, nuôi lớn căn lành, cho nên căn cơ sâu dày. Hiện tại, vì ứng cơ giáo hóa chúng sinh, nên cố ý hiện tướng ngu độn, vì chúng sinh làm mô dạng như thế. Chúng sinh thấy Ngài ngu si như thế, mà còn có thể khai ngộ, mình còn thông minh hơn Ngài nhiều, cơ hội khai ngộ chắc chắn rất nhiều, cho nên cố gắng tinh tấn tu hành. Sa Già Ðà trong đời quá khứ, tự cho rằng thông minh, tuy hiểu pháp lý vi diệu, song chẳng muốn vì chúng sinh thuyết pháp, đó là tham lam pháp, chảng bố thí pháp, cho nên đời nầy mắc quả báo ngu si. Chẳng muốn người khác thông minh, thì chính mình càng biến thành không thông minh. Do Ngài đã từng gieo trồng căn lành sâu dày, nên vẫn có một ngày khai mở trí huệ. Chúng ta học Phật đã lâu, nhưng đã lâu mà vẫn chưa khai ngộ. Vì thuở xưa chưa từng cúng dường Tam Bảo và tất cả chư Phật ba đời. Ðây cũng ví như đang vun bồi cây, nếu gốc rễ sâu dày, thì cây sẽ phát triển sum sê. Ngược lạ, nếu ban đầu gốc rễ chẳng vững chắc, thì dần dần cành lá nhất định sẽ khô rụng. Do đó, làm người phải trồng nhiều căn lành, làm nhiều việc thiện, công đức viên mãn, thì tự nhiên sẽ khai ngộ. Ai muốn phước huệ song tu thì một mặt tu hành, một mặt cũng phải làm việc thiện, nên nhớ đừng tham lam pháp, hiểu một câu thì phải nói một câu, phải cung hành thực tiễn, lấy thân làm phép tắc. Do đó, có câu : ‘’Ma Ha Tát bất quản tha, Di Ðà Phật các cố các‘’. Bồ Tát chẳng để ý đến lỗi lầm mao bệnh của kẻ khác, bất cứ kẻ khác đúng hay sai. Chúng ta đừng cứ giặt quần áo cho kẻ khác, ngược lại quần áo của mình thì dơ bẩn. Cho nên hiểu và thực hành mới là chân tu hành, công đức mới viên mãn. Tham lam pháp là chướng ngại lớn trong việc tu hành, quả báo chẳng những chỉ ngu si, mà còn bị quả báo câm ngọng, chẳng những chẳng nhớ hai chữ chổi quét, mà cho đến cơ hội nói cũng chẳng có, đó mới là nhiều khổ ! Cơ hội khai ngộ thật là mỏng manh. Ở trên nói về các vị A La Hán, đều đại biểu cho một nghìn hai trăm vị A La Hán. Các Ngài đều được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều đồng một danh hiệu là Phổ Minh. Lúc đó, sợ chúng sinh không minh bạch, nên Ðức Phật từ bi dùng kệ để thuật lại. Tỳ Kheo Kiều Trần Như Sẽ gặp vô lượng Phật Qua A tăng kỳ kiếp Mới thành Ðẳng chánh giác. Thường phóng đại quang minh Ðầy đủ các thần thông Danh đồn khắp mười phương Tất cả đều cung kính. Thường nói đạo vô thượng Nên hiệu là Phổ Minh Cõi nước đó thanh tịnh Bồ Tát đều dũng mãnh. Ðều lên lầu các đẹp Ðến các nước mười phương Dùng đồ cúng vô thượng Cúng dường các đức Phật. Cúng dường như thế rồi Trong tâm rất hoan hỉ Chốc lát về bổn quốc Có thần thông như thế. Tỳ Kheo Kiều Trần Như ở đời vị lai, sẽ gặp vô lượng các Ðức Phật, thừa sự cúng dường, trải qua vô lượng kiếp sau mới thành Phật đạo. Thường phóng quang minh trí huệ, viên mãn đầy đủ các thần thông, danh hiệu Phật vang khắp cõi nước mười phương, là chỗ quy kính của tất cả chúng sinh. Thường nói diệu pháp thâm sâu vô thượng, như trí huệ quang phóng ra, nên hiệu là Phổ Minh. Ở trong cõi nước thanh tịnh đó, chúng Bồ Tát đều dũng mãnh tinh tấn, đều thăng lên lầu các đẹp đẽ, được đạo phẩm vi diệu nhất, du hành đến cõi nước mười phương, để tu các công đức, dùng đồ cúng bằng bảy báu để cúng dường chư Phật. Làm các sự cúng dường như thế rồi, trong tâm rất vui mừng sung sướng, sinh đại hoan hỉ, trong chốc lát trở về bổn quốc, vì có đủ thứ thần thông nên được như thế. Phật thọ sáu vạn kiếp Chánh pháp trụ hơn thọ Tượng pháp lại hơn chánh Pháp diệt trời người lo. Năm trăm Tỳ Kheo này Lần lượt sẽ thành Phật Ðồng hiệu là Phổ Minh Lần lượt thọ ký nhau. Sau khi ta diệt độ Vị đó sẽ thành Phật Thế gian Phật đó độ Cũng như ta ngày nay. Cõi nước đó nghiêm tịnh Và các sức thần thông Chúng Bồ Tát Thanh Văn Chánh pháp và tượng pháp. Kiếp thọ mạng bao nhiêu Ðều đã nói ở trên Ca Diếp ông đã biết Năm trăm vị tự tại. Ngoài các chúng Thanh Văn Cũng sẽ lại như thế Ai chẳng có ở đây Ông nên vì họ nói. ứng thân của Phật thọ mạng sáu vạn kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi vạn kiếp, còn tượng pháp trụ hai mươi bốn vạn kiếp. Nếu pháp diệt thì trời người đều lo âu. Năm trăm tôn giả thứ tự thọ ký, Phật diệt độ rồi, cùng nhau lần lược sẽ thành Phật, đều hiệu là Phổ Minh Như Lai. Thế gian của vị Phật đó độ, như thế giới Ta Bà hiện tại nầy, song trong cõi nước đó nghiêm tịnh, và đủ thứ sức thần thông biến hóa tự tại. Các chúng Bồ Tát, Thanh Văn, chánh pháp và tượng pháp, thọ mạng bao nhiêu kiếp, giống như Phổ Minh Như Lai không khác, đều như đã nói ở trên. Ca Diếp ông đã biết, ta vì năm trăm vị A La Hán mà thọ ký, tức cũng vì các chúng hàng Thanh Văn khác, một nghìn hai trăm vị mà thọ ký, nếu hôm nay những người nào không có ở đây, ông nên vì họ mà nói. Bấy giờ, năm trăm vị A La Hán ở trước đức Phật được thọ ký rồi, vui mừng hớn hở, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, hối lỗi tư trách rằng : Ðức Thế Tôn ! Chúng con thường nghĩ như vầy : Tự cho rằng đã được diệt độ rốt ráo, nay mới biết là người chẳng có trí huệ. Tại sao ? Vì chúng con đáng được trí huệ của đức Như Lai, mà tự cho rằng trí nhỏ là đủ. Ðức Thế Tôn ! Ví như có người nọ, đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó bạn thân bận việc quan phải đi, bèn lấy hạt châu vô giá, buộc vào trong áo của gã say rồi bỏ đi. Gã đó tỉnh dậy cũng chẳng biết, đi lang thang đến nước khác, vì ăn mặc nên gắng sức tìm cầu rất là khốn khổ, được chút ít bèn cho là đủ. Năm trăm vị tôn giả, ở trước Phật được thọ ký rất vui mừng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Ðức Phật đảnh lễ dưới chân Phật, sám hối tự trách. Ai có thể biết hối lỗi tự trách, là hành vi của bậc Thánh Hiền, người chẳng biết hối lỗi là hành vi ngu si. Các vị A La Hán tự trách, được ít cho là đủ, chưa được cứu kính Niết Bàn, mà tự cho đã được. Trên thì chẳng biết có Phật đạo có thể thành, dưới thì chẳng biết có chúng sinh có thể độ. Chỉ biết tự tại an lạc, gì cũng chẳng lo. Bây giờ mới biết xưa kia đều là sai lầm, đều là sở làm của kẻ chẳng có trí huệ. Nay mới biết chúng con tu hành, đáng chứng được hết thảy công đức trí huệ của Như Lai. Nếu ai tự cho tứ quả tiểu thừa là cứu kính Niết Bàn, thì ví như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm. ‘’Người‘’ ví cho chính mình, ‘’nhà bạn thân‘’ ví cho Ðức Phật. Say rượu mà nằm, ‘’say‘’ biểu thị cho rượu năm dục mê hoặc, cho nên hôn mê ngu si, được ít cho là đủ. Lúc đó, Phật độ xong chúng sinh ở thế giới nầy, thì đến nước khác. Bận ‘’việc quan phải đi‘’. Thấy gã nầy duyên đã hết, nên đến phương khác giáo hóa chúng sinh, dùng thật tướng diệu lý giáo hóa chúng sinh, dùng đại thừa để giáo hóa. Song người đó chẳng có trí huệ, chỉ trầm mê ở trong mộng say ngu si, nằm chẳng dậy, chẳng nghe pháp đại thừa. Khi tỉnh dậy thì biết muốn cầu pháp, do đó bèn đến nước khác, hành pháp tiểu thừa. Vì ăn mặc nên cầu học tiểu thừa, như lạnh đi tìm áo, như đói đi tìm cơm, rất là khốn khổ vô cùng, đi khắp nơi tìm cầu, không thể tự an, ở trong tiểu thừa được ít cảnh giới, thì tự cho là đủ, càng chẳng tinh tấn. Thời gian sau, người bạn thân gặp lại gã kia bèn nói rằng : Lạ thay anh này ! Sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi này. Trước kia, ta muốn khiến cho anh được an lạc, tha hồ thọ hưởng năm dục. Vào ngày tháng năm đó, ta lấy hạt châu vô giá buộc vào trong áo của anh, mà đến bây giờ anh vẫn không biết, để phải cực khổ lo buồn tìm cầu tự sống, rất là ngu si vậy. Nay ông có thể dùng hạt châu báu đó, đổi lấy những đồ cần dùng, thì sẽ được như ý, chẳng còn thiếu thốn. Phật cũng như thế, khi làm Bồ Tát thì giáo hóa chúng con, khiến cho phát tâm Nhất thiết trí, mà chúng con bỏ quên không hay không biết. Tức được quả A la hán, mà tự cho là đã diệt độ. Khổ nhọc sinh sống được ít cho là đủ. Nguyện Nhất thiết trí vẫn còn chẳng mất. Hôm nay đức Thế Tôn giác ngộ chúng con, bèn bảo rằng : Này các Tỳ Kheo ! Chỗ các ông được chẳng phải rốt ráo diệt độ. Từ lâu, ta đã khiến cho các ông trồng căn lành của Phật, dùng phương tiện nên thị hiện tướng Niết Bàn, mà các ông cho rằng thật được diệt độ. Thời gian sau, ‘’Bạn thân‘’ lại gặp gã kia, dụ cho nay trên núi Linh Thứu, Thầy và đệ tử gặp lại, Phật ngạc nhiên bảo : Lạ thay ông này ! Tại sao vì cầu ăn mặc mà phải chịu khốn khổ ? Tại sao lại bần cùng như thế ? Vì các ông được ít cho là đủ, chẳng biết trên cầu quả vị Phật, dưới độ tất cả chúng sinh, chỉ biết làm tự liễu hán thôi. Xưa kia, ta muốn khiến cho các ông được an lạc, tha hồ hưởng thọ năm dục, tức sắc thanh hương vị xúc đều viên mãn, tức cũng là viên mãn năm căn lực, cho nên dùng pháp đại thừa giáo hóa chúng sinh. Chỉ vì các ông không biết ‘’Trong áo có buộc hạt châu báu‘’, chỉ biết cầu tiểu thừa, mà phải bị khổ cực lo buồn, giống như một số người, vì sinh sống mà phải bôn ba khổ sở để cầu sự sống, bèn cho là đủ, đó thật là quá ngu si. Nay ta tu pháp đại thừa, vì các ông ‘’trong áo có châu báu‘’ chưa từng mất đi. Nghĩa là Phật tánh vẫn tồn tại. Nếu tu pháp đại thừa, thì sẽ đắc quả vị, luôn được như ý, chẳng còn bần cùng nữa. Ðức Phật cũng như bạn thân của chúng con, thuở xưa làm Bồ Tát Diệu Quang giáo hóa chúng con, khiến cho chúng con phát tâm nhất thiết trí huệ, song chúng con từ lâu không gần gũi Bồ Tát, chẳng biết chẳng hay, quên mất pháp đại thừa, chỉ biết dụng công phu trên năm dục, quay lưng với giác ngộ mà hợp với sáu trần, còn tự cho rằng đã được vô thượng đạo. Quả vị tiểu thừa A La Hán, như đời sống của gã cùng tử, được một chút thì mãn nguyện. Thuở xưa, đã từng phát nguyện lớn, nhất thiết trí nguyện vẫn chẳng mất, hôm nay gặp đấng đại giác Thế Tôn, giác ngộ cho chúng con. Nếu ai trong thuở xưa đã từng phát đại nguyện, thì đời nầy nhân duyên được gặp cũng sẽ phát đại nguyện, trồng xuống hạt giống đại thừa. Như các vị A La Hán hiện tại, tuy thuở xưa đã từng phát đại nguyện, song vì thời gian quá lâu, tâm sinh mê hoặc, chẳng biết tiến lùi, tự khốn bên trong, lo rầu không ngui, may gặp lương sư Ðại Giác Như Lai, khiến cho họ bỏ mê muội về với giác ngộ, tự biết châu báu của chính mình. Này các Tỳ Kheo! Hiện tại các ông chứng được quả vô học, chỉ là tiểu thừa, chẳng phải thật diệt độ. Ta từ nhiều kiếp đến nay, khiến cho các ông gieo trồng căn lành của Phật, dùng phương tiện quyền xảo thị hiện tướng hữu dư Niết Bàn, song các ông lầm lẫn cho rằng là rốt ráo diệt độ. Ðức Thế Tôn ! Nay chúng con mới biết thật là Bồ Tát, được thọ ký Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhờ nhân duyên đó, nên chúng con rất vui mừng được chưa từng có. Bấy giờ, Ngài A Nhã Kiều Trần Như muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ rằng : Chúng con nghe vô thượng Tiếng thọ ký an ổn Vui mừng chưa từng có Lễ vô lượng trí Phật. Nay ở trước Thế Tôn Tự sám hối lỗi lầm Nơi vô lượng Phật bảo Ðược chút phần Niết Bàn. Như kẻ ngu vô trí Bèn tự cho là đủ. Ðức Thế Tôn ! Chúng con hôm nay mới biết vốn là Bồ Tát, được thọ ký Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhờ nhân duyên được Phật thọ ký, nên chúng con vui mừng được chưa từng có. Lúc đó, Ngài Kiều Trần Như nói với Phật: ‘’Chúng con nghe Vô thượng bồ đề, tâm niệm an ổn, tiếng Phật thọ ký, vui mừng tin nhận, được chưa từng có. Nay ở trước Phật sinh tâm sám hối, tự hối lỗi chấp tiểu thừa, mê muội đại thừa. Ðược ít phần hữu dư Niết Bàn mà tự cho là đủ, giống như người ngu chẳng có trí huệ không khác‘’. Ví như gã bần cùng Ði đến nhà bạn thân Nhà đó rất giàu có Bày đủ cỗ tiệc ngon. Lấy châu báu vô giá Buộc chặc vào trong áo Yên lặng mà bỏ đi Gã nằm chẳng hay biết. Sau gã đó thức dậy Lang thang đến nước khác Cầu ăn mặc tự sống Sinh sống rất khốn khổ. Ðược ít cho là đủ Càng không muốn đồ tốt Chẳng biết ở trong áo Có châu báu vô giá. ‘’Ví như gã bần cùng, đi đến nhà bạn thân‘’ : Gã bần cùng ví như chúng sinh; bạn thân giàu có ví như Ðức Phật. Chúng sinh quy y Phật, giống như gã bần cùng đến nhà bạn thân rất giàu có. Nhà đó bày cỗ tiệc rất ngon, ví như món ăn thiền duyệt và món ăn pháp hỉ. Sau đó, người bạn thân vì có việc đi ra ngoài, nên lấy pháp đại thừa vô giá cho gã bần cùng, rồi bỏ đi giáo hoá chúng sinh khác. Song ‘’gã bần cùng‘’ chẳng biết tự cầu tiến tới, chẳng biết đại thừa là báu vô giá, mà ‘’nằm chẳng hay biết gì‘’. Sau khi tỉnh dậy, vì có tri giác bèn phát tâm tu hành nên gọi là ‘‘dậy’’. Song quên mất đại thừa mà tu tiểu thừa, như lang thang đến nước khác. Tiểu thừa quả A La Hán chẳng phải Niết Bàn rốt ráo, như gã bần cùng kia, xin ăn tự sống, đời sống rất là vất vả. Chẳng cầu Phật đạo, được ít cho là đủ, chẳng biết trong tự tánh vốn đã có hạt giống đại thừa. Bạn thân cho hạt châu Sau gặp lại gã nghèo Khổ thiết trách gã rồi Chỉ cho chỗ buộc châu. Gã nghèo thấy châu rồi Trong tâm rất vui mừng Giàu có các của cải Tha hồ hưởng năm dục. Chúng con cũng như thế Thế Tôn từ thuở xưa Thường giáo hóa chúng con Khiến trồng nguyện vô thượng. Vì chúng con vô trí Chẳng biết cũng chẳng hay Ðược ít phần Niết Bàn Cho đủ chẳng cầu nữa. Nay Phật giác ngộ con Nói chẳng thật diệt độ Ðược Phật trí vô thượng Ðó mới là thật diệt. Nay con nghe từ Phật Thọ ký việc trang nghiêm Và lần lược thọ ký Khắp thân tâm vui mừng. Phật vì chúng sinh nói pháp môn đại thừa thâm sâu vô thượng, song chúng sinh vì căn cơ ám độn mà chẳng hiểu. Ví như người nọ, vì khiến cho họ khai mở đại trí huệ, mà nói pháp môn thành Phật, song người đó chưa thể hoàn toàn tin, cũng chẳng thấu rõ nghĩa sâu xa, thời gian lâu từ từ quay lưng với đạo mà bỏ đi, bỏ đại thừa mà cầu pháp tiểu thừa, hoặc là đi Ấn độ, hoặc là đi Thái Lan, Miến điện, Tích Lan, tìm đến tìm lui lại càng khốn cùng. Ðó là bỏ gốc tìm ngọn, bỏ gần cầu xa. May thay lại gặp thầy tốt, trách cứ gã bần cùng nầy. ‘’Trách‘’ đó là biểu hiện lòng từ bi của Phật Bồ Tát. Mục đích khiến cho họ phát tâm hồi tiểu hướng đại, vào một Phật thừa. Sau khi Ðức Phật ngộ đạo, vốn trước hết muốn nói Kinh Pháp Hoa đại thừa, chỉ vì chúng sinh ngu si ám độn, chẳng thể tiếp thọ, cho nên trước hết nói tam tạng, Kinh Phương Ðẳng, tiếp theo nói Bát Nhã, dần dần vào viên đốn giáo, chê tiểu thừa khen đại thừa. Khai quyền hiển thật, vì thật thí quyền, đó tức là ‘’khổ thiết trách gã‘’. ‘’Chỉ cho nơi buộc châu‘’ : Chỉ cho vốn đã có đủ Phật tánh, khiến cho họ biết tu pháp môn đại thừa, như hàng Thanh Văn, thấy được Phật tánh, như nghèo được châu báu, vui mừng tin nhận. Nếu ai thấu rõ và thực hành tu pháp đại thừa, tức là người giàu có, có Phật pháp ở trong tâm. ‘’Giàu có các của cải, tha hồ hưởng năm dục‘’ : Sắc thanh hương vị xúc, đâu chẳng phải là tam muội, tùy duyên ứng dụng, rộng lớn tư tại, được thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn. Như người muốn sắc thì có sắc, muốn thanh thì có thanh, cho đến hương, vị, xúc, cũng lại như thế, đó chẳng phải là diệu chăng ? ‘’ Tài sắc danh thực thùy‘’: Thảy đều đầy đủ viên mãn, giống như sơ tổ Ma Ha Ca Diếp nhập định ở trong núi Kê Túc, đó chẳng phải là ‘’ngủ lâu dài‘’ chăng ? Ngủ một ngàn năm cũng chẳng kể là lâu dài, mấy vạn năm cũng chỉ trôi qua nột nháy mắt. ‘’Thực‘’, trong pháp giới có thực vật là ngon hơn hết. ‘’Danh‘’, được danh mà người không thể được. Muốn ‘’tài‘’ thì chỉ cần tùy ý dũi tay một cái thì có được. Chúng con cũng như gã bần cùng không khác, quay lưng với sự giác ngộ mà hợp với trần lao. Ðức Thế Tôn thấy vậy thương xót, luôn giáo hóa khiến cho chúng con gieo trồng nguyện vô thượng bồ đề rộng lớn. Song chúng con chẳng có trí huệ, chẳng biết thuở xưa đã từng phát nguyện, cũng chẳng biết vốn có Phật tánh, được chút ít sự vui không sinh không diệt mà tự cho là đủ, chẳng cầu pháp môn đại thừa. Bây giờ nghe Ðức Phật nói, mới giác ngộ đây chẳng phải là cứu kính, chỉ là ‘’hoá thành‘’ ở giữa đường, chẳng phải thật diệt độ. Chỉ khi nào đắc được trí huệ của Phật, mới là rốt ráo diệt độ. Phật thọ ký cho chúng con sẽ thành Phật rồi, mới biết đại thừa là vô thượng chánh biến tri giác, cõi nước đó trang nghiêm thù thắng, và lần lược thọ ký, khiến cho khắp thân tâm của chúng con vui mừng vô kể. Người cầu Phật pháp phải đầy đủ tâm nhẫn nhục, chẳng sợ gian nan khốn khổ mới có hy vọng thành tựu. Có người nói ‘’tha hồ hưởng thọ năm dục‘’ thật là quá vi diệu, vậy chúng ta vì muốn được cảnh giới nầy mà phát tâm. Bạn sai lầm rồi ! Nếu ai vì năm dục mà phát tâm, thì không lâu về sau sẽ đọa vào địa ngục. Ðó là dụng tâm sai lầm, ai cầu năm dục thì tâm người đó bất chánh, tất rơi vào đường ma, làm quyến thuộc của ma vương, pháp đại thừa mới là xả bỏ dục, đoạn dục, vô dục, mà phát bồ đề tâm. Ở trên nói về ‘’tha hồ hưởng năm dục‘’, chỉ bất quá là ví dụ, hình dung biểu hiện sức thần thông tự tại của đại quyền Bồ Tát. Phàm là Bồ đề tát đỏa có căn tánh đại thừa, không thể nào ít có sự ‘’an lạc‘’, không chấp cảnh giới nầy, thì gọi là cảnh giới lành, nếu chấp cảnh giới nầy, thì tức là cảnh giới ma. Bồ Tát chẳng trụ tâm vào bất cứ chỗ nào. Nếu ai muốn thành tựu Phật đạo, thì trước phải dứt trừ lòng dâm dục, dục là gốc của khổ, bằng không thì tướng chúng sinh điên đảo. Cập nhật cuối (Thứ 4, 30 Tháng 12 2009 08:02) KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA 08 Quyển 04 Phẩm Thọ Ký Cho Năm Trăm Vị Đệ Tử Thứ Tám Phẩm nầy Ðức Phật vì năm trăm vị đệ tử mà thọ ký, thật ra đã thọ ký bao quát ở trong một nghìn hai trăm năm mươi vị đệ tử. Lúc này, Phật khai quyền hiển thật, mở bày một Phật thừa, ngoài hai thừa thì chẳng chân thật. Vì A La Hán, Bích Chi Phật, hàng nhị thừa mà khai thị Bồ Tát đạo, đều thọ ký cho đời vị lai đều sẽ thành Phật. Phàm là người nào nghe được, thọ trì, đều phát tâm đại thừa, tu học theo Bồ Tát đạo, làm đệ tử dự ký trong hội Pháp Hoa ở đời vị lai. Bấy giờ, Ngài Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử, từ đức Phật nghe trí huệ phương tiện tùy nghi thuyết pháp, và nghe thọ ký quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác, cho các vị đệ tử lớn, lại nghe việc nhân duyên đời trước, và nghe chư Phật có sức thần thông đại tự tại, được chưa từng có, tâm thanh tịnh hớn hở, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước đức Phật, đầu mặt lễ dưới chân đức Phật, rồi đứng qua một bên, chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật, mắt chẳng tạm rời mà nghĩ như vầy : Ðức Thế Tôn rất kỳ đặc, làm những việc ít có, tùy thuận bao nhiêu thứ tánh thế gian, dùng phương tiện tri kiến mà vì họ thuyết pháp, cứu vớt chúng sinh ra khỏi những chỗ tham trước. Chúng con ở nơi công đức của Phật, không lời lẽ nào mà nói cho hết được, chỉ có đức Phật Thế Tôn, mới biết được nguyện xưa trong thâm tâm của chúng con. Lúc đó, Ngài Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử, tức là Mãn Từ Tử, nghe đức Phật nói, biết được hóa thành phương tiện trí huệ (phẩm thứ bảy), tùy căn cơ của chúng sinh mà vì họ nói pháp, lại nghe các vị đệ tử lớn, tức một nghìn hai trăm năm mươi người, được Phật thọ ký sẽ thành Phật, lại nghe việc nhân duyên đời trước, tức là Phẩm Hoá Thành Dụ, nói về các vị vương tử thuở xưa, và nói về nhân duyên. Lại nghe chư Phật có đại trí huệ, tùy duyên tự tại, thông đạt vô ngại, đây là những việc từ trước chưa từng nghe, cho nên trong tâm thanh tịnh hớn hở khác thường. Bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến ở trước đức Phật cuối đầu cung kính lễ dưới chân đức Phật. Lễ Phật xong, lui về đứng một bên, chiêm ngưỡng tôn nhan của Phật, mắt chẳng nhấp nháy. Trong tâm nghĩ như vầy : "Ðức Thế Tôn rất ít có kỳ đặc, những gì Phật làm càng hy hữu, hay dùng trí huệ quyền xảo phương tiện, để tùy thuận chúng sinh, mà nói đủ thứ Phật pháp phương tiện, khiến cho chúng sinh tiêu trừ tham trước, chẳng còn nhiễm ô cảnh sáu trần. Chúng con trí huệ mỏng manh, căn cơ cạn cợt, cho nên không thể nói hết và tuyên dương công đức của chư Phật, chỉ có Phật, đại giác Thế Tôn, mới biết đại nguyện ở trong thâm tâm của con và chúng sinh". Bấy giờ, đức Phật bảo các vị Tỳ Kheo rằng ! Các ông có thấy ông Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử đây chăng, ta thường khen ông ta là người thuyết pháp giỏi bậc nhất, cũng thường khen ngợi ông ta tu đủ thứ công đức, tinh tấn siêng năng hộ trì, trợ giúp tuyên dương pháp của ta, hay ở trong bốn chúng khai thị giáo hóa, khiến cho mọi người được lợi ích vui mừng, giải thích đầy đủ chánh pháp của Phật, khiến cho bậc đồng phạm hạnh được lợi ích rất lớn. Ngoài đức Như Lai ra, chẳng có ai biện luận bằng ông Phú Lâu Na. Lúc đó, Phật bảo các vị đại Tỳ Kheo: ‘’Các ông bây giờ có thấy vị Thanh Văn thừa Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử đây chăng ? Ông ta ở trong đời trước, đã từng phát nguyện lớn, muốn trợ giúp Phật hoằng dương Phật pháp. Ta thường khen ngợi ông ta, vì ông ta thuyết pháp giỏi bậc nhất‘’. Ban đầu Phật chuyển bánh xe diệu pháp, ngoài đức Phật đích thân nói pháp ra, cũng nhờ đồ chúng luân phiên thuyết pháp. Vì khích lệ trí lực biện tài giảng kinh thuyết pháp của đồ chúng, nên đức Phật luôn luôn cho người thuyết pháp bình luận, khiến cho họ "đầu sào trăm trượng tiến thêm một bước". Tại Vạn Phật Thành cũng làm theo đức Phật chế, chuyển bánh xe pháp, thuyết pháp khiến cho người thuyết pháp tùy ý phát huy, thâm nhập sự áo diệu của Phật pháp, song phải hợp với đạo lý ở trong kinh. Ngài Phú Lâu Na khéo nói pháp vi diệu, do đó trời người, cho đến loài quỷ, súc sinh, đều thích nghe, tức khiến cho loài A tu la háo chiến, cũng lập tức ngưng chiến, mà yên lặng nghe pháp, ngoài ra bậc A la hán và Bồ Tát, cũng thích nghe Ngài nói pháp. Phật thường khen ngợi Phú Lâu Na trong đời quá khứ, rộng tu cúng dường Tam Bảo, và làm đủ thứ công đức, tinh tấn siêng tu, khéo hộ trì tuyên dương Phật pháp, lại khéo vì bốn chúng khai thị, khiến cho họ được pháp ích lớn. Ngoại trừ Phật ra, ở trong đại chúng chẳng có ai có biện tài vô ngại như Ngài Phú Lâu Na, ở trong hàng đệ tử của Phật, Ngài là người giỏi thuyết pháp bậc nhất. Các ông chớ cho rằng, ông Phú Lâu Na chỉ hộ trì tuyên dương pháp của ta thôi, mà trong quá khứ, nơi chín mươi ức chư Phật, cũng hộ trì tuyên dương chánh pháp của chư Phật. Trong hàng người nói pháp, ông Phú Lâu Na cũng là bậc nhất, và nơi pháp không của các đức Phật nói, thấu rõ thông đạt, đắc được bốn trí vô ngại, thường hay suy xét kỹ lưỡng thanh tịnh, thuyết pháp chẳng có nghi hoặc, đầy đủ sức thần thông của Bồ Tát, tùy theo thọ mạng, thường tu phạm hạnh. Người ở đời thuở các đức Phật kia, đều cho rằng ông thật là Thanh Văn, nhưng ông Phú Lâu Na dùng phương tiện đó, lợi ích vô lượng trăm nghìn chúng sinh, và hóa độ số người nhiều vô lượng A tăng kỳ, khiến cho họ trụ nơi quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì tịnh cõi Phật, mà thường làm Phật sự giáo hóa chúng sinh. Ðức Phật Thích Ca nói: ‘’Các ông đừng cho rằng ông Phú Lâu Na chỉ hộ trì trợ giúp tuyên dương pháp của ta nói, mà ông ta sớm ở trong quá khứ trong vô lượng kiếp, đã hộ trì pháp của vô lượng các đức Phật. Ở chỗ các đức Phật, cũng là người nói pháp giỏi bậc nhất‘’. Ngài còn thông đạt pháp không của các đức Phật nói, đắc được bốn trí vô ngại tức là : 1. Pháp vô ngại biện. 2. Nghĩa vô ngại biện: Từ một nghĩa mà diễn nói thành vô lượng nghĩa, lại từ vô lượng nghĩa mà quy nạp làm một. Một làm vô lượng, vô lượng làm một. Một tức vô lượng, vô lượng tức một, viên dung vô ngại. 3. Từ vô ngại biện : Nguyện nói Phật pháp. 4. Lạc thuyết vô ngại biện : Thích nói pháp, chưa từng giải đãi. Khéo về quán cơ thí giáo, thậm chí thấy heo, chó .v.v., cũng vì chúng thuyết pháp. Nói với heo rằng: ‘’Ngươi đừng quá tham ăn tham ngủ nữa, cũng đừng quá làm biến không tinh tấn, nếu không đời sau cũng sẽ bị đọa làm heo nữa, tức vĩnh viễn khó có ngày thoát khỏi ba đường ác‘’. Khuyên nói với chó rằng: ‘’Ngươi từ nay về sau, đừng có san tham nữa, nên sớm quay đầu, bỏ mê về với giác ngộ.’’ ‘’Thường hay suy xét kỹ lưỡng thanh tịnh thuyết pháp, chẳng có nghi hoặc‘’: Thường hay suy xét những pháp nói ra đều thanh tịnh, chẳng có tâm nghi hoặc. Nếu người khởi hoài nghi pháp của mình nói‘’. Pháp của mình vừa mới nói có đúng chăng? Mình khởi nghi thì cũng khiến cho người nghe khởi nghi. ‘’Ông nầy nói tầm bậy, đùng nghe ông ta nói’’. Tuy Ngài Phú Lâu Na là bậc A La Hán, song đã đầy đủ sức thần thông của Bồ Tát, đó là vì Ngài ở trong đời quá khứ, đã hành Bồ Tát đạo, tùy theo thọ mạng nơi chỗ các đức Phật tu đủ thứ tịnh hạnh. ‘’Người đời ở thuở các Ðức Phật kia, đều cho rằng ông ta thật là Thanh Văn‘’. Ngài Phú Lâu Na vốn là Bồ Tát, song Ngài: ‘’Nội bí Bồ Tát hạnh, Ngoại hiện Thanh Văn thân‘’. Nghĩa là : Bên trong bí mật tu hạnh Bồ Tát, Bên ngoài hiện thân Thanh Văn. Ẩn thật hiện quyền, thị hiện hình tướng Thanh Văn, nhờ vậy mà phá ‘’thấy dấu vết thì mê gốc‘’ của người thế tục. Cho nên Ngài Phú Lâu Na dùng pháp quyền xảo phương tiện, ẩn lớn hiện nhỏ, lợi ích vô lượng trăm ngàn chúng sinh. ‘’Lại hóa độ số người nhiều vô lượng A tăng kỳ, khiến cho họ trụ nơi quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.’’: Lại giáo hóa vô lượng chúng sinh, khiến cho họ lập chí tu thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ngài Phú Lâu Na vì trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật, cho nên phàm là có việc lợi ích cho Phật giáo, Ngài chưa từng phóng dật, dùng sở đắc của mình, giáo hóa chúng sinh làm trách nhiệm của mình. Ngài Phú Lâu Na thích nói Phật pháp, Ngài có bốn trí vô ngại. Pháp sư thời nay cũng cần có bốn trí vô ngại, nên đầy đủ bốn trí nầy, bằng không chỉ có một trí ‘’thích nói‘’ Phật pháp, bị cảnh lay chuyển, ví như, vốn muốn độ người nào đó, song định lực chẳng đủ, kết quả ngược lại bị người đó lay chuyển. Lại ví như ‘’người độ chó‘’, nếu thương mến tham luyến, cũng sẽ bị chó độ lại. Xưa kia, có người diễn kịch, rất tinh thông về nghề kịch, diễn rất khéo léo, song anh ta thương một con chó, song con chó đó chẳng phải là ai xa lạ, mà chính là vợ của anh ta ! Vì vợ của anh ta suốt ngày thích mắng chưởi người, bộ dạng như chó sủa, suốt ngày sủa gâu ! Gâu ! Gâu ! Ðối với anh diễn kịch. Chẳng có ngày nào yên ổn, không được nghỉ, cũng không thể tu hành. Khi anh ta bực bội đến cực điểm, thì tôi nói với anh ta : ‘’Nếu anh có định lực, thì phiền não tự nhiên sẽ bỏ anh mà đi. Bây giờ anh nên tu nhẫn nhục, nhẫn thọ tất cả sự chưởi mắng. Do đó có câu: ‘’Duyên tụ thì thành, duyên tan thì lìa‘’. Anh ta nghe rồi, quả nhiên tu pháp môn nhẫn nhục. Ba năm sau, anh ta từ từ đã nhẫn thọ được nghịch cảnh, còn vợ của anh ta trường từ với đời, cuối cùng bỏ anh ta mà ra đi. Các Tỳ Kheo ! Ông Phú Lâu Na ở nơi bảy đức Phật, cũng là người thuyết pháp bậc nhất. Nay trong hàng đệ tử của ta, cũng là người thuyết pháp bậc nhất. Nơi các đức Phật vị lai trong Hiền kiếp, cũng là người thuyết pháp bậc nhất, đều hộ trì tuyên dương Phật pháp. Ðời vị lai, ông Phú Lâu Na cũng hộ trì tuyên dương, pháp của vô lượng vô biên các đức Phật, giáo hóa lợi ích vô lượng chúng sinh, khiến cho họ trụ nơi quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì tịnh cõi Phật, nên thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sinh. Các Tỳ Kheo ! Vị Phú Lâu Na ẩn lớn hiện nhỏ nầy, ở nơi bảy đức Phật và Phật Thích Ca, cũng đều là người thuyết pháp bậc nhất trong hàng đệ tử của Phật. Bảy Ðức Phật là : 1. Phật Tỳ Bà Thi. 2. Phật Thi Khí. 3. Phật Tỳ Xá Phù. 4. Phật Câu Lưu Tôn. 5. Phật Câu Na Hàm Mâu Ni. 6. Phật Ca Diếp. 7. Phật Thích Ca Mâu Ni. Vì nhân duyên gì, mà Ngài Phú Lâu Na là người thuyết pháp bậc nhất trong bảy Ðức Phật ? Ngài Phú Lâu Na ở trong quá khứ vô lượng ức kiếp, chẳng biết thuyết pháp, song đối với Phật pháp Ngài rất khao khát ngưỡng mộ, cho nên mỗi lần nghe có pháp hội giảng kinh, thì Ngài nhất định phải đến tham dự. Dù Ngài có thể không ăn không uống không ngủ, song không thể nào không đến nghe pháp, cho nên lấy pháp làm thức ăn, lấy pháp làm nước, chẳng những như thế, mà vì biểu thị lòng cung kính, chẳng màng là ai thuyết pháp, Ngài cũng đều cung kính, Ngài từng nguyện như vầy: ‘’Tương lai sau khi xuất gia, tôi nguyện sẽ là người thuyết pháp bậc nhất, tại mỗi vị Phật ra đời, đều phải dưới Phật tòa giảng kinh thuyết pháp vào hàng bậc nhất‘’. Ngài đời đời kiếp kiếp đều phát nguyện nầy, quả nhiên toại tâm mãn nguyện, vì phát nguyện trồng xuống hạt giống bồ đề, thì sẽ nảy mầm lớn dần. Khi cơ duyên thành thục, thì trí huệ phát sinh biện tài vô ngại. ‘’Nơi các đức Phật vị lai trong Hiền kiếp, cũng là người thuyết pháp bậc nhất‘’. Hiền kiếp tức là thời Thánh hiền ra đời, Phật Câu Lưu Tôn là vị Phật thứ nhất của Hiền kiếp, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni là thứ hai, Phật Ca Diếp là thứ ba, Phật Thích Ca Mâu Ni là thứ tư của Hiền kiếp. Vị lai, Ngài Phú Lâu Na cũng là người thuyết pháp bậc nhất. Ngài nghe pháp thì dẹp trừ hết mọi vọng tưởng, dùng tâm chân thành hằng thật, chuyên chú tu hành mới có thành tựu như thế. Do đó, chúng ta khi tu đạo, thì chớ tồn tại tơ hào tâm đố kị chướng ngại, đừng tham cầu danh văn lợi dưỡng, đừng ham đệ nhất, nên thường sinh tâm khen ngợi người khác mới tương ưng, chẳng trở ngại đối với pháp, đắc được pháp cảnh tương dung, lạc thuyết vô ngại, không đệ nhất mà tự nhiên đệ nhất. Thuở xưa, có vị Phật sống chùa Kim Sơn, đầy đủ thần thông, lại chữa trị được bệnh, song bất cứ ai đang thuyết pháp, Ngài cũng đều cung kính chắp tay ngồi xuống. Phật sống còn trọng pháp như thế, hà huống là phàm phu chúng ta ? Ngài cũng nhiều kiếp khổ tu, mới cảm ứng và đầy đủ thần thông. Một số nhân sĩ ở Thượng Hải, chẳng ai mà không cung kính khâm phục Ngài. Nếu gặp trong chùa chẳng còn gạo ăn, thì Ngài chỉ niệm ‘’Gạo đến, gạo đến’’ ! Thì gạo quả nhiên sẽ đến. Kẻ thấy Ngài, chẳng ai mà không ngạc nhiên kính phục. Ngài Phú Lâu Na thuyết pháp bậc nhất, song Ngài chẳng ‘’tranh giành‘’ mà tự nhiên có được. Chẳng những trong Hiền kiếp, mà suốt thuở vị lai vô biên chỗ các Ðức Phật, Ngài cũng hộ trì diễn nói tuyên dương chánh pháp, giáo hóa lợi lạc quần sinh, khiến cho họ kiến lập thành tựu nhân duyên, quả vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nếu ai tinh tấn siêng năng giáo hoá chúng sinh, thì người đó thanh tịnh cõi Phật. Cho nên hiện tại ở Vạn Phật Thành ai tuyên dương Phật pháp, khổ tu hành, tức là nhân duyên thù thắng thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật. Bây giờ, chúng ta trang nghiêm cõi Phật khác, thì ngày nào đó, khi mình thành Phật, thì cõi nước của mình cũng sẽ trang nghiêm. Do đó : ‘’Lấy sự trang nghiêm của Phật, trang nghiêm cho mình‘’. Thanh tịnh cõi Phật khác, tức là thanh tịnh cõi Phật tự tánh. Nếu ai biết mà không thực hành, thì tự tánh của người đó ô uế hơn đời ác năm trược. Các vị chớ thấy mà bỏ qua, hiện tại tôi giảng kinh thuyết pháp được, cũng có thể nói là đã từng thọ qua sự giáo hóa của Ngài Phú Lâu Na. Lúc còn trẻ, tôi ngu dốt hơn một số người, chẳng khéo ăn nói, cũng chẳng dám nói nhiều, nếu chưa từng thọ sự khai thị của Ngài Phú Lâu Na, thì dù chính mình khổ tu, cũng không được như vậy. Dần dần đầy đủ đạo Bồ Tát, trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp, sẽ ở cõi này đắc được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, hiệu là Pháp Minh Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ðức Phật đó, dùng ba ngàn đại thiên thế giới, nhiều đồng như số các sông Hằng làm một cõi Phật. Bảy báu làm đất, mặt đất bằng phẳng như bàn tay, chẳng có núi gò khe suối rạch ngòi. Ðài quán bảy báu đầy dẫy trong đó. Cung điện của chư Thiên ở gần nơi hư không, trời người giao tiếp nhau, và thấy được nhau. Ngài Phú Lâu Na dần dần sẽ đầy đủ đạo Bồ Tát, tu thành tựu viên mãn rồi sẽ thành Phật, giác hạnh viên mãn. Ngài tương lai sẽ thành Phật ở thế giới Ta Bà nầy, hiệu là Phật Pháp Minh. Ðức Phật đó, dùng ba ngàn đại thiên thế giới, nhiều như số cát sông Hằng làm một cõi Phật, làm nơi giáo hóa của Phật. Có : Vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, trân châu, pha lê, bảy thứ báu nghiêm sức. Mặt đất bằng phẳng như bàn tay của Phật, tâm của Phật bằng phẳng, nên mặt đất cũng bằng. Mặt đất bằng chẳng có núi, gò, khe, suối, rạch, ngòi .v.v., dụ cho đất chẳng có âm hiểm, bất bình, tham dục. Lại có đài quán dùng bảy báu tạo thành, cung điện của chư Thiên gần nơi hư không. Trời và người nhìn thấy nhau, giao tiếp với nhau. Chẳng có các đường ác, cũng chẳng có các người nữ. Tất cả chúng sinh đều hóa sinh ra, chẳng có dâm dục, được đại thần thông, thân phóng quang minh, bay đi tự tại, chí niệm vững chắc, tinh tấn trí huệ, thảy đều màu vàng thật, ba mươi hai tướng tự trang nghiêm. Chúng sinh trong nước đó, thường dùng hai thứ ăn uống, một là dùng niềm vui của pháp, thứ hai là dùng niềm vui của thiền định. Vì ‘’chẳng có các đường ác‘’, cho nên cõi tịnh độ đó chẳng đói khác, chẳng có thống khổ phiền não, cũng chẳng có súc sinh. ‘’Cũng chẳng có người nữ‘’, tại sao chẳng có người nữ ? Con người lại từ đâu đến ? Chúng sinh đồng ở nơi thế giới Ta Bà ác trược ô uế nầy, có bốn đường ác và người nữ. Song trong cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh, cho nên chẳng có đường ác và người nữ. Thế giới Lưu Ly ở phương đông và thế giới Cực Lạc phương tây có người nữ, song chẳng có nhân sự, cũng chẳng có tâm dâm dục, tất cả chúng sinh đều là pháp tử, từ pháp hóa sinh, đoạn dục khử ái tu thành pháp thân, cho nên thế giới Lưu Ly cũng gọi là thế giới hoan hỉ. Chúng sinh trong cõi nước của Phật Pháp Minh, đều là hóa sinh mà chẳng có thai sinh, tự có hóa không, tự không hóa có, biến hóa vô cùng. Có chúng sinh biến hóa ra từ trong hoa sen, biến hóa ra từ trong cây, biến hóa ra từ trong biển, cảnh giới trong nước đó, đều không thể nghĩ bàn. ‘’Chẳng có dâm dục‘’, nếu người muốn tu đạo, thì đừng nên có tơ hào về tham dục, hà huống là tự làm ? Ai đoạn được dâm dục thì có định lực, mới có thể chứng đại thần thông, trí huệ hiển hiện, thân phóng quang minh. Từ thế giới định huệ ba học vô lậu mà sinh ra, bay đi tự tại, tùy ý mà đến. Tâm bồ đề tu tập Phật pháp có tiến chẳng có lùi, vững chắc chẳng động lay, càng ngày càng tiến bộ, vì có chí nguyện tinh tấn nầy mới có đại trí huệ. Người trong cõi nước đó, vì tu trung đạo thắng hạnh thanh tịnh, cho nên thân thể đều hiện sắc màu vàng thật, tự trang nghiêm cõi nước mà thành tựu ba mươi hai tướng. Cõi nước đó, có hai thứ ăn uống: Một là dùng niềm vui của pháp làm thức ăn, tâm lìa tham trước. Từ xưa phàm phu đều dùng thực vật làm thức ăn, còn tham trước mùi vị. Nếu không tham ăn mà dùng pháp làm thức ăn, thì pháp hỉ sung mãn (niềm vui tràn đầy), chẳng cảm thấy đói khát. Hai là dùng niềm vui của thiền định làm thức ăn. Nếu ai ai cũng đều tu tập thiền định, thì hằng ngày chẳng đoạn thực, càng ngồi càng sinh hoan hỉ, chẳng muốn rời khỏi chỗ ngồi, diệu đến cực điểm. ‘’Ăn uống‘’ có nhiều thứ, phàm phu là phần đoạn thực (ăn uống từng phần từng đoạn), chư thiên là tư thực, (muốn ăn gì, nghĩ đến liền có), quỷ thần là xúc thực, chúng dùng mũi ngửi, cho nên cũng gọi là khứu thực. Có vô lượng A tăng kỳ ngàn vạn ức Na do tha các chúng Bồ Tát, được đại thần thông, bốn trí vô ngại, khéo giáo hóa chúng sinh. Chúng hàng Thanh Văn dù tính toán cũng không biết được số lượng, đều được đầy đủ sáu thần thông, ba minh và tám giải thoát. Cõi nước đức Phật đó, có vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu như thế, kiếp tên là Bảo Minh, cõi nước đó tên là Thiện Tịnh, tuổi thọ của đức Phật đó, vô lượng A tăng kỳ kiếp, pháp lưu lại ở đời rất lâu. Sau khi đức Phật diệt độ, tạo dựng tháp bằng bảy báu, đầy khắp cõi nước đó. Có vô lượng vô số chúng Bồ Tát đại thừa, được đại thần thông và bốn trí vô ngại (bốn biện tài vô ngại), khéo quán sát căn cơ rồi nói pháp. Chúng Thanh Văn cũng chẳng cách chi tính đếm được, đều đầy đủ sáu thông, ba minh (thiên nhãn minh, túc mạng minh, lậu tận minh) và bên trong có sắc tưởng quán ngoại sắc, bên trong chẳng có sắc tưởng quán ngoại sắc .v.v., tám pháp giải thoát. Phật Pháp Minh ứng hóa ra cõi nước như đã nói ở trên, dùng vô lượng công đức để trang nghiêm. Trong kiếp Bảo Minh, Ðức Phật Pháp Minh nơi cõi nước Thiện Tịnh thành Phật, Ðức Phật đó sống lâu vô lượng A tăng kỳ kiếp, Phật pháp trụ ở đời rất lâu. Sau khi Phật diệt độ, chúng đệ tử dùng bảy báu tạo tháp cúng dường, đầy khắp cõi nước đó. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ rằng: Các Tỳ Kheo lóng nghe Ðạo của Phật tử hành Vì khéo học phương tiện Không thể nghĩ bàn được. Biết chúng ưa pháp nhỏ Mà sợ nơi trí lớn Cho nên các Bồ Tát Làm Thanh Văn Duyên Giác. Dùng vô số phương tiện Ðộ các loài chúng sinh Tự nói là Thanh Văn Cách Phật đạo rất xa. Ðộ thoát vô lượng chúng Thảy đều được thành tựu Tuy tiểu thừa giải đãi Dần sẽ khiến thành Phật. Trong ẩn hạnh Bồ Tát Ngoài hiện là Thanh Văn Ít muốn nhàm sinh tử Thật tự tịnh cõi Phật. Thị hiện có ba độc Lại hiện tướng tà kiến Ðệ tử ta như thế Phương tiện độ chúng sinh. Nếu ta nói đầy đủ Các thứ việc hóa hiện Chúng sinh nghe như thế Tâm bèn sinh nghi hoặc. Lúc đó, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa ở trên, bèn dùng kệ để nói: Các chúng Tỳ Kheo hãy chú ý nghe, Phật tử Phú Lâu Na hành đạo, khéo học phương tiện huệ, cho nên dùng quyền xảo phương tiện, làm việc không thể nghĩ bàn. Biết chúng sinh ưa thích pháp tiểu thừa, mà sợ đại thừa, cho nên các vị Bồ Tát ẩn lớn hiện nhỏ, hiện thân Thanh Văn, Duyên Giác, dùng vô số phương tiện pháp môn, giáo hóa tất cả chúng sinh. Tự nói là nhị thừa Thanh Văn, cách Phật đạo rất xa, nhờ phương tiện đó mà độ thoát vô lượng chúng sinh, khiến cho thành tựu đạo xuất thế. Tuy nhiên người tiểu thừa muốn giải đãi, trung đạo tự tận, cũng phải khiến cho họ từ từ hồi tiểu hướng đại, thành tựu Phật đạo. Bên trong ẩn hạnh Bồ Tát, mà bên ngoài hiện thân Thanh Văn, làm Thanh Văn thực hành pháp thiểu dục, nhàm chán sinh tử, bên trong tâm thật tự du hí thần thông, tự trang nghiêm cõi Phật, song cố ý hiện có ba độc (tham, sân, si) và tướng tà kiến mà chẳng tham hiểm, dùng đủ thứ phương tiện nhân duyên, dẫn dắt kẻ mê hoặc thì dễ thành công. Như Ngài Ca Lưu Ðà Di giả hiện tướng cô gái đẹp, song thật thì chẳng phải như thế. Người có trí thì đều biết được đó chẳng phải là sắc đẹp thật, bất quá đó là quyền xảo phương tiện thị hiện tướng đó. Ngoài ra, đệ tử của Phật như Ngài Xá Lợi Phất thì hiện tướng sân, hoặc tướng tham, hoặc tướng si, cũng không ngoài dùng pháp phương tiện, tùy theo loài mà giáo hoá, do đó mà hiện đủ thứ hình tướng, nay chỉ nói sơ lược, không dám nói hết, vì sợ người nghe tín tâm chưa vững chắc sinh ra nghi hoặc. Nay Phú Lâu Na đây Nơi ngàn ức Phật xưa Siêng tu Bồ Tát đạo Tuyên dương pháp chư Phật. Vì cầu huệ vô thượng Nên nơi chỗ chư Phật Hiện ở trong đệ tử Ða văn có trí huệ. Thuyết pháp vô sở úy Hay khiến chúng hoan hỉ Chưa từng có mệt nhọc Ðể trợ giúp Phật sự. Ðã được đại thần thông Ðủ bốn trí vô ngại Biết các căn lợi độn Thường nói pháp thanh tịnh. Diễn xướng nghĩa như thế Ðộ ngàn ức chúng sinh Khiến trụ pháp đại thừa Mà tự tịnh cõi Phật. Vị lai cũng cúng dường Vô lượng vô số Phật Trợ giúp tuyên chánh pháp Cũng tự tịnh cõi Phật. Thường dùng các phương tiện Thuyết pháp vô sở úy Ðộ chúng không tính được Thành tựu Nhất thiết trí. Hiện tại Phú Lâu Na đây, nơi chỗ chư Phật trong quá khứ, siêng tu thanh tịnh Bồ Tát đạo, tuyên dương hộ trì pháp của chư Phật, vì cầu trí huệ vô thượng của Như Lai. Ở chỗ chư Phật bậc nhất về thuyết pháp, hiện ở trong tất cả đệ tử làm bác học đa văn, có đại trí huệ, thuyết pháp được vô sở úy, hay khiến cho người nghe sinh tâm hoan hỉ, chưa từng có tướng mỏi mệt. Trợ giúp làm Phật sự, đắc được đại thần thông. Vì đủ bốn trí vô ngại, nên biết căn tính lợi hoặc độn của các chúng sinh. Thường nói thanh tịnh vô thượng diệu pháp, lưu thông diễn xướng nghĩa như thế. Giáo hóa vô số ức chúng sinh, khiến cho được an trụ nơi pháp đại thừa, thanh tịnh tự trang nghiêm cõi Phật. Ở vị lai cúng dường chư Phật. Bên ngoài hiện tướng Thanh Văn, ứng các căn cơ, trợ giúp tuyên dương chánh pháp, bên trong ẩn chân tâm, tự tâm thanh tịnh trang nghiêm cõi Phật. Thường dùng pháp phương tiện thiện xảo, thuyết pháp vi diệu vô thượng mà tâm vô sở úy, độ vô số chúng sinh, đều khiến cho thành tựu Nhất thiết trí huệ. Cúng dường các Như Lai Hộ trì tạng pháp bảo Sau đó được thành Phật Hiệu là Phật Pháp Minh. Nước đó tên Thiện Tịnh Ðất đai bằng bảy báu Kiếp tên là Bảo Minh Chúng Bồ Tát rất nhiều. Có đến vô lượng ức Ðều có đại thần thông Sức oai đức đầy đủ Ðầy dẫy trong nước đó. Thanh Văn cũng vô số Ba minh tám giải thoát Ðược bốn trí vô ngại Dùng họ để làm Tăng. Các chúng sinh nước đó Ðều đã đoạn dâm dục Chỉ biến hóa sinh ra Thân đủ tướng trang nghiêm. Ăn pháp hỉ thiền duyệt Càng chẳng có nghĩ ăn Chẳng có những người nữ Cũng chẳng có đường ác. Tỳ Kheo Phú Lâu Na Công đức đều viên mãn Sẽ được tịnh độ đó Chúng hiền Thánh rất đông. Vô lượng việc như thế Nay ta chỉ lược nói. Cúng dường Phật là tu phước, nói pháp là tu huệ, phước huệ song tu, đến khi đầy đủ thì thành Phật, hiệu là Pháp Minh, cõi nước đó tên là Thiện Tịnh, đất đai đều do bảy báu hợp thành, kiếp tên là Bảo Minh, trong nước đó có vô số ức Bồ Tát, đều có đại thần thông, đầy đủ sức oai đức. Lại có vô lượng Thanh Văn, đã được ba minh, tám giải thoát và bốn trí vô ngại, dùng hàng tiểu thừa như thế tu công đức vô lậu. Chúng sinh nước đó chẳng có dâm dục. Nếu ai ở thế giới Ta Bà nầy, tu đạo thanh tịnh, giữ gìn giới luật, tâm chẳng nghĩ về dâm dục, thì cũng như sống ở trong nước đó không khác. Trong cõi nước Thiện Tịnh đã đoạn dâm dục, chúng sinh đều từ hoa sen hóa sinh ra, đủ tướng trang nghiêm, dùng sự nghe kinh, thiền duyệt, pháp hỉ sung mãn làm thức ăn, một khi vui mừng thì được an lạc vô hạng. Có người nói: ‘’Không có người nữ ở trong nước đó thì làm sao có người ?‘’ Bạn chỉ biết có người nữ mà không biết đoạn dục khử ái, tính tịnh thể sáng. Nước đó chẳng có người nữ, chẳng có đường ác, càng chẳng nghĩ đến sự ăn uống. Ngài Phú Lâu Na viên mãn tất cả công đức, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, sẽ được đồng cư tịnh độ như thế. Bồ Tát Thanh Văn, trời người rất đông không thể biết được số lượng, chỉ lược nói thôi, tránh khiến cho chúng sinh sinh ra nghi hoặc. Bấy giờ, một nghìn hai trăm vị A la hán, tâm tự tại nghĩ như vầy : Chúng ta vui mừng được chưa từng có. Nếu được đức Thế Tôn đều thọ ký, như các vị đệ tử lớn, thì sung sướng lắm. Ðức Phật biết tâm suy nghĩ của các vị đó, bèn nói với ngài Ma Ha Ca Diếp rằng : Một nghìn hai trăm vị A la hán này, nay ta sẽ lần lược thọ ký quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Ở trong chúng đây, đệ tử lớn của ta, Tỳ Kheo Kiều Trần Như sẽ cúng dường sáu vạn hai nghìn ức đức Phật, sau đó sẽ được thành Phật, hiệu là Phổ Minh Như Lai, ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Lúc đó, một nghìn hai trăm vị A La Hán đều đã chứng vô học, tâm tự tại, đã sạch phiền não. Tại nhân địa tu hành thì làm Tỳ Kheo, đến quả địa là A La Hán. A La Hán có ba nghĩa : 1. Ứng Cúng : Xứng đáng thọ trời người và thần cúng dường. 2. Sát tặc : Giết tặc phiền não. Bồ Tát là giết ‘’bất tặc‘’, A La Hán chẳng nhận thức cho là tặc, song Bồ Tát nhận thức cho là tặc mà trừ đi. 3. Vô sinh : Nghĩa là phiền não chẳng sinh. Vì ‘’sinh’’ mới phải diệt, ‘’bất sinh‘’ thì chẳng cần diệt. Không sinh không diệt tức vô minh pháp nhẫn. A La Hán tự do tự tại, vô câu vô thúc, chẳng quái ngại, chẳng có tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, tướng thọ mạng. Song các vị A La Hán thấy Ðức Phật thọ ký cho Ngài Phú Lâu Na, bèn nghĩ như vầy : ‘’Việc Phật thọ ký, trước kia chưa từng có. Nếu được Phật thọ ký riêng cho chúng ta thì sung sướng lắm‘’ ! Ðức Phật đều biết, đều thấy tâm của mọi người, cho nên nói với Ngài Ma Ha Ca Diếp rằng : Nói với mọi người đừng hấp tấp, Phật sẽ vì các vị đó lần lược thọ ký. Ở trong chúng đó, người ta độ trước nhất là Kiều Trần Như, ông ta là vị đệ tử lớn tinh tấn siêng năng tu đạo và chủ trì Phật pháp, sẽ cúng dường sáu vạn hai ngàn ức Ðức Phật, sau đó sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai. Ngài Kiều trần Như, tức "giải bổn tế", hiểu rõ bổn lai diện mục. Ngài là người thọ giới cụ túc đầu tiên, cũng là đệ tử ngộ trước nhất, cho nên làm trưởng lão của một nghìn hai trăm vị A La Hán. Năm trăm vị A la hán đó, Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp, Già Gia Ca Diếp, Na Ðề Ca Diếp, Ca Lưu Ðà Di, Ưu Ðà Di, A Nậu Lâu Ðà, Ly Bà Ða, Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, Châu Ðà, Sa Già Ðà .v.v... đều sẽ được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều đồng một danh hiệu là Phổ Minh. Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ rằng : Năm trăm vị A La Hán đó, Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp, Già Gia Ca Diếp, Na Ðề Ca Diếp, dịch ra là "giang" hoặc "hà" (sông). Ðó là biểu thị tu hành bên bờ sông. Ca Lưu Ðà Di, nghĩa là "hắc quang", vì tướng mạo đen thui, Ngài chẳng giữ giới luật, thích đi ban đêm. Một đêm nọ trời tối đen như mực, trong đêm tối càng thấy rõ bộ diện của Ngài phát quang. Ngài đi đến trước của một nhà nọ, thuận tay gõ mấy tiếng, bèn có một phụ nữ mang thai ra mở cửa, bất thình lình cô ta thấy một vật phát quang đứng ở trước cửa, cô ta ngất xỉu, sau một lúc bèn tỉnh dậy. Vì một niệm sợ hãi mà động bào thai, đưa đến đứa bé chào đời, cô ta quở trách vị Tỳ Kheo đó. Ðức Phật nghe tin bèn họp đại chúng lại, chế ra luật Tỳ Kheo không được du hành ban đêm. Tuy vị Tỳ Kheo đó từng phạm lỗi lầm, nhưng rất nhân duyên, rất được đồ chúng tôn kính và tín nhiệm, và từng hóa độ rất đông người. Ngài Ca Lưu Ðà Di đó, vì giáo hóa chúng sinh mà giả hiện thái độ không giữ quy cụ, là một sự dạy đạo ‘’phản diện‘’. Ưu Ðà Di là học trò của Ngài A Nan, nghĩa là "xuất hiện", nghiêm thủ giới luật nhất. A Nậu Lâu Ðà, đã từng bảy ngày không ngủ, khiến cho cặp mắt bị mù. Một lần nọ, Phật thuyết pháp, song Ngài A Nậu Lâu Ðà ngủ gục bị Ðức Phật quở. Sau khi Ngài tỉnh dậy, bèn phát nguyện từ đây về sau không giải đãi nữa, chẳng tham ngủ nữa. Kết quả vì Ngài không ngủ, dụng công quá độ, mà cặp mắt bị mù. Phật thương xót Ngài, bèn dạy Ngài tu tam muội kim cang chiếu minh. Chẳng bao lâu, Ngài chứng được thiên nhãn thông, quán chiếu được ba ngàn thế giới, như thấy quả trái cây trong lòng bàn tay. A Nậu Lâu Ðà nghĩa là "không nghèo". Thuở xưa, Ngài từng cúng dường một vị Tỳ Kheo đã chứng quả Thánh. Vị Thánh nhân nầy, khi tu hành tại nhân địa thì chỉ tu huệ mà chẳng tu phước, cho nên đi khất thực luôn luôn ôm bát không về. Do đó, Ngài quyết định mỗi bảy ngày mới hóa duyên một lần, mỗi lần hóa duyên bảy nhà, nếu chẳng có ai cho gì thì không ăn. Một ngày nọ, Ngài ôm bát không trở về, đi ngang qua đồng ruộng, thì có một nông phu mới làm xong, nghỉ việc chuẩn bị để ăn cơm trưa. Từ xa thấy vị tu hành ôm bát không đi ngang qua. Ngài A Nậu Lâu Ðà phát tâm cúng dường phần cơm trưa của mình cho vị tu hành đó. Tuy Ngài A Nậu Lâu Ðà rất đói, song vì tâm thành muốn cúng dường cho vị đó. Vị tu hành đó nhận sự cúng dường rồi bèn hồi hướng: ‘’Sở vị bố thí giả, Tất hoạch kỳ lợi ích Nhược vị lạc bố thí Hậu tất đắc an lạc.’’ Nghĩa là: Những gì mình bố thí Sẽ đắc được lợi ích Nếu vui vẻ bố thí Sau sẽ được an lạc. Nói xong bỏ đi. Người nông dân lúc đó bất ngờ thấy con thỏ chạy lên vai, song dính ở trên vai, người nông dân kinh dị, bèn lập tức chạy về nhà, nói lại với vợ. Người vợ lấy tay cầm xuống, thì đột nhiên thấy con thỏ đã biến thành vàng. Do đó, bèn chặt hai cái chân đi đổi thành tiền để sinh sống, thì lạ thay chỗ chặt đi lại biến lại như cũ, lại chặt đi, lại biến lại như cũ, dùng không hết, càng ngày càng trở nên giàu có. Cho nên, Ngài đời đời kiếp kiếp không nghèo, trải qua chín mươi mốt kiếp được quả báo giàu có. Ly Bà Ða dịch ra nghĩa là "Tinh tú". Kiếp Tân Na dịch ra nghĩa là "Phòng tú", vì sao thứ tư ở trong Nhị Thập Bát Tú. Ngài Kiếp Tân Na và Ngài Ly Bà Ða đều thuộc về tinh tú. Tại sao lại như thế ? Vì xưa kia, cha mẹ của các Ngài gần về tuổi già mà chẳng có con, cho nên bèn ở trước bàn thờ Nhị Thập Bát Tú mà cầu con, phát nguyện siêng tu làm việc lành, cúng sường Tam Bảo, kết quả được mãn nguyện, cho nên được tên là Phòng Tú (Kiếp Tân Na). Bạc Câu La ở trong quá khứ từng giữ giới chẳng sát sinh, cho nên được năm thứ phước báo. Ngài vừa chào đời thì cười hà hà, mẹ của Ngài thấy vậy rất sợ hãi, nghi là yêu quái, mới đem Ngài bỏ vào chảo dầu sôi, muốn dùng dầu sôi thiêu chết Ngài, song chẳng thành công. Kế tiếp, lại đem Ngài bỏ vào nước sôi, muốn nấu chết Ngài, song lại thất bại. Sau đó, đem Ngài bỏ xuống biển sâu, song bị cá nuốt vào bụng, con cá nầy bị người đánh cá câu được, mổ bụng ra, bỗng thấy đứa bé ở trong bụng cá còn sống. Ngài Bạc Câu La có năm điều không hại Ngài chết được, tức là : 1. Lửa đốt không chết. 2. Nước đun không chết. 3. Rớt xuống biển không chết. 4. Cá ăn không chết. 5. Dao mổ không chết. Ðó là năm thứ quả báo giữ giới không giết hại. Châu Ðà còn gọi là Châu Lợi Bàn Ðà Gia là anh của Sa Già Ðà, dịch là "Tiểu lộ". Cho nên anh em hai người gọi là "Ðại lộ" và "Tiểu lộ". Người anh thông minh hơn người em. Thời xưa phong tục ở Ấn Ðộ, người nữ đều phải về nhà mẹ sinh sản. Cho nên, bà mẹ của Châu Ðà cũng thế, song Châu Ðà chẳng đợi bà mẹ trở về đến nhà, thì đã sinh ra giữa đường, cho nên gọi là "Ðại lộ". Bà mẹ của Ngài đã trải qua một lần kinh nghiệm, khi mang thai lần thứ hai, thì sớm trở về nhà mẹ để sinh sản, song lần nầy vẫn sinh ra "Tiểu lộ" tại giữa đường. Do đó, hai anh em tên gọi là "Ðạo sinh" và "Kế đạo". Châu Ðà căn cơ sâu dày, quán thông Phật lý, đối với kinh điển qua mắt chẳng quên. Song người em căn tánh rất ngu độn, đọc kinh sách chẳng nhớ câu nào, giải đãi chẳng tinh tấn. Do đó, mọi người đều nghị luận về tính cách rất cực đoan của hai anh em. Nghe vậy Ngài Châu Ðà quở trách người em nói: ‘’Chú mày thật là vô dụng, năm trăm vị A La Hán dùng hết sức để dạy chú mày, mà chú mầy vẫn không hiểu, tốt nhất hãy hoàn tục cho rồi‘’. Người em chẳng muốn hoàn tục, song người anh rất kiên quyết, chẳng muốn người em xuất gia nữa. Người em thì chẳng muốn hoàn tục, song không thể không nghe lời anh, nên bèn bỏ đi vì xấu hổ quá. Phật biết câu chuyện nầy, bèn đến trước cản lại, an ủi Sa Già Ðà và dạy Ngài niệm : ‘’Chổi quét đất tâm, Tự tịnh ý mình, Ðất tâm quét sạch, Tự nhiên sẽ ngộ‘’. Song, Sa Già Ðà trí nhớ rất kém, nhớ được chữ ‘’chổi‘’ thì quên chữ ‘’quét‘’. Song, Phật vẫn nhắc lại cho Ngài. Sa Già Ðà đọc đi đọc lại nhiều lần, thời gian sau Ngài khai ngộ ! Tin rằng, những người đang nghe pháp ở đây, thông minh hơn Ngài nhiều, đừng nói chổi quét hai chữ, dù bốn chữ một khi nghe thì nhớ liền. Niệm ‘’A Di Ðà Phật‘’ càng dễ hơn nữa, song sao chúng ta vẫn chưa khai ngộ ? Tôn giả tuy nhiên ‘’ngu‘’ hơn chúng ta, song ‘’khai ngộ‘’ mau hơn chúng ta. Ðó là vì tôn giả ở trong đời quá khứ, đã từng cúng dường ba đời tất cả chư Phật, nuôi lớn căn lành, cho nên căn cơ sâu dày. Hiện tại, vì ứng cơ giáo hóa chúng sinh, nên cố ý hiện tướng ngu độn, vì chúng sinh làm mô dạng như thế. Chúng sinh thấy Ngài ngu si như thế, mà còn có thể khai ngộ, mình còn thông minh hơn Ngài nhiều, cơ hội khai ngộ chắc chắn rất nhiều, cho nên cố gắng tinh tấn tu hành. Sa Già Ðà trong đời quá khứ, tự cho rằng thông minh, tuy hiểu pháp lý vi diệu, song chẳng muốn vì chúng sinh thuyết pháp, đó là tham lam pháp, chảng bố thí pháp, cho nên đời nầy mắc quả báo ngu si. Chẳng muốn người khác thông minh, thì chính mình càng biến thành không thông minh. Do Ngài đã từng gieo trồng căn lành sâu dày, nên vẫn có một ngày khai mở trí huệ. Chúng ta học Phật đã lâu, nhưng đã lâu mà vẫn chưa khai ngộ. Vì thuở xưa chưa từng cúng dường Tam Bảo và tất cả chư Phật ba đời. Ðây cũng ví như đang vun bồi cây, nếu gốc rễ sâu dày, thì cây sẽ phát triển sum sê. Ngược lạ, nếu ban đầu gốc rễ chẳng vững chắc, thì dần dần cành lá nhất định sẽ khô rụng. Do đó, làm người phải trồng nhiều căn lành, làm nhiều việc thiện, công đức viên mãn, thì tự nhiên sẽ khai ngộ. Ai muốn phước huệ song tu thì một mặt tu hành, một mặt cũng phải làm việc thiện, nên nhớ đừng tham lam pháp, hiểu một câu thì phải nói một câu, phải cung hành thực tiễn, lấy thân làm phép tắc. Do đó, có câu : ‘’Ma Ha Tát bất quản tha, Di Ðà Phật các cố các‘’. Bồ Tát chẳng để ý đến lỗi lầm mao bệnh của kẻ khác, bất cứ kẻ khác đúng hay sai. Chúng ta đừng cứ giặt quần áo cho kẻ khác, ngược lại quần áo của mình thì dơ bẩn. Cho nên hiểu và thực hành mới là chân tu hành, công đức mới viên mãn. Tham lam pháp là chướng ngại lớn trong việc tu hành, quả báo chẳng những chỉ ngu si, mà còn bị quả báo câm ngọng, chẳng những chẳng nhớ hai chữ chổi quét, mà cho đến cơ hội nói cũng chẳng có, đó mới là nhiều khổ ! Cơ hội khai ngộ thật là mỏng manh. Ở trên nói về các vị A La Hán, đều đại biểu cho một nghìn hai trăm vị A La Hán. Các Ngài đều được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đều đồng một danh hiệu là Phổ Minh. Lúc đó, sợ chúng sinh không minh bạch, nên Ðức Phật từ bi dùng kệ để thuật lại. Tỳ Kheo Kiều Trần Như Sẽ gặp vô lượng Phật Qua A tăng kỳ kiếp Mới thành Ðẳng chánh giác. Thường phóng đại quang minh Ðầy đủ các thần thông Danh đồn khắp mười phương Tất cả đều cung kính. Thường nói đạo vô thượng Nên hiệu là Phổ Minh Cõi nước đó thanh tịnh Bồ Tát đều dũng mãnh. Ðều lên lầu các đẹp Ðến các nước mười phương Dùng đồ cúng vô thượng Cúng dường các đức Phật. Cúng dường như thế rồi Trong tâm rất hoan hỉ Chốc lát về bổn quốc Có thần thông như thế. Tỳ Kheo Kiều Trần Như ở đời vị lai, sẽ gặp vô lượng các Ðức Phật, thừa sự cúng dường, trải qua vô lượng kiếp sau mới thành Phật đạo. Thường phóng quang minh trí huệ, viên mãn đầy đủ các thần thông, danh hiệu Phật vang khắp cõi nước mười phương, là chỗ quy kính của tất cả chúng sinh. Thường nói diệu pháp thâm sâu vô thượng, như trí huệ quang phóng ra, nên hiệu là Phổ Minh. Ở trong cõi nước thanh tịnh đó, chúng Bồ Tát đều dũng mãnh tinh tấn, đều thăng lên lầu các đẹp đẽ, được đạo phẩm vi diệu nhất, du hành đến cõi nước mười phương, để tu các công đức, dùng đồ cúng bằng bảy báu để cúng dường chư Phật. Làm các sự cúng dường như thế rồi, trong tâm rất vui mừng sung sướng, sinh đại hoan hỉ, trong chốc lát trở về bổn quốc, vì có đủ thứ thần thông nên được như thế. Phật thọ sáu vạn kiếp Chánh pháp trụ hơn thọ Tượng pháp lại hơn chánh Pháp diệt trời người lo. Năm trăm Tỳ Kheo này Lần lượt sẽ thành Phật Ðồng hiệu là Phổ Minh Lần lượt thọ ký nhau. Sau khi ta diệt độ Vị đó sẽ thành Phật Thế gian Phật đó độ Cũng như ta ngày nay. Cõi nước đó nghiêm tịnh Và các sức thần thông Chúng Bồ Tát Thanh Văn Chánh pháp và tượng pháp. Kiếp thọ mạng bao nhiêu Ðều đã nói ở trên Ca Diếp ông đã biết Năm trăm vị tự tại. Ngoài các chúng Thanh Văn Cũng sẽ lại như thế Ai chẳng có ở đây Ông nên vì họ nói. ứng thân của Phật thọ mạng sáu vạn kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi vạn kiếp, còn tượng pháp trụ hai mươi bốn vạn kiếp. Nếu pháp diệt thì trời người đều lo âu. Năm trăm tôn giả thứ tự thọ ký, Phật diệt độ rồi, cùng nhau lần lược sẽ thành Phật, đều hiệu là Phổ Minh Như Lai. Thế gian của vị Phật đó độ, như thế giới Ta Bà hiện tại nầy, song trong cõi nước đó nghiêm tịnh, và đủ thứ sức thần thông biến hóa tự tại. Các chúng Bồ Tát, Thanh Văn, chánh pháp và tượng pháp, thọ mạng bao nhiêu kiếp, giống như Phổ Minh Như Lai không khác, đều như đã nói ở trên. Ca Diếp ông đã biết, ta vì năm trăm vị A La Hán mà thọ ký, tức cũng vì các chúng hàng Thanh Văn khác, một nghìn hai trăm vị mà thọ ký, nếu hôm nay những người nào không có ở đây, ông nên vì họ mà nói. Bấy giờ, năm trăm vị A La Hán ở trước đức Phật được thọ ký rồi, vui mừng hớn hở, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước đức Phật, đảnh lễ dưới chân đức Phật, hối lỗi tư trách rằng : Ðức Thế Tôn ! Chúng con thường nghĩ như vầy : Tự cho rằng đã được diệt độ rốt ráo, nay mới biết là người chẳng có trí huệ. Tại sao ? Vì chúng con đáng được trí huệ của đức Như Lai, mà tự cho rằng trí nhỏ là đủ. Ðức Thế Tôn ! Ví như có người nọ, đến nhà bạn thân say rượu mà nằm, lúc đó bạn thân bận việc quan phải đi, bèn lấy hạt châu vô giá, buộc vào trong áo của gã say rồi bỏ đi. Gã đó tỉnh dậy cũng chẳng biết, đi lang thang đến nước khác, vì ăn mặc nên gắng sức tìm cầu rất là khốn khổ, được chút ít bèn cho là đủ. Năm trăm vị tôn giả, ở trước Phật được thọ ký rất vui mừng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Ðức Phật đảnh lễ dưới chân Phật, sám hối tự trách. Ai có thể biết hối lỗi tự trách, là hành vi của bậc Thánh Hiền, người chẳng biết hối lỗi là hành vi ngu si. Các vị A La Hán tự trách, được ít cho là đủ, chưa được cứu kính Niết Bàn, mà tự cho đã được. Trên thì chẳng biết có Phật đạo có thể thành, dưới thì chẳng biết có chúng sinh có thể độ. Chỉ biết tự tại an lạc, gì cũng chẳng lo. Bây giờ mới biết xưa kia đều là sai lầm, đều là sở làm của kẻ chẳng có trí huệ. Nay mới biết chúng con tu hành, đáng chứng được hết thảy công đức trí huệ của Như Lai. Nếu ai tự cho tứ quả tiểu thừa là cứu kính Niết Bàn, thì ví như có người đến nhà bạn thân say rượu mà nằm. ‘’Người‘’ ví cho chính mình, ‘’nhà bạn thân‘’ ví cho Ðức Phật. Say rượu mà nằm, ‘’say‘’ biểu thị cho rượu năm dục mê hoặc, cho nên hôn mê ngu si, được ít cho là đủ. Lúc đó, Phật độ xong chúng sinh ở thế giới nầy, thì đến nước khác. Bận ‘’việc quan phải đi‘’. Thấy gã nầy duyên đã hết, nên đến phương khác giáo hóa chúng sinh, dùng thật tướng diệu lý giáo hóa chúng sinh, dùng đại thừa để giáo hóa. Song người đó chẳng có trí huệ, chỉ trầm mê ở trong mộng say ngu si, nằm chẳng dậy, chẳng nghe pháp đại thừa. Khi tỉnh dậy thì biết muốn cầu pháp, do đó bèn đến nước khác, hành pháp tiểu thừa. Vì ăn mặc nên cầu học tiểu thừa, như lạnh đi tìm áo, như đói đi tìm cơm, rất là khốn khổ vô cùng, đi khắp nơi tìm cầu, không thể tự an, ở trong tiểu thừa được ít cảnh giới, thì tự cho là đủ, càng chẳng tinh tấn. Thời gian sau, người bạn thân gặp lại gã kia bèn nói rằng : Lạ thay anh này ! Sao lại vì ăn mặc mà đến nỗi này. Trước kia, ta muốn khiến cho anh được an lạc, tha hồ thọ hưởng năm dục. Vào ngày tháng năm đó, ta lấy hạt châu vô giá buộc vào trong áo của anh, mà đến bây giờ anh vẫn không biết, để phải cực khổ lo buồn tìm cầu tự sống, rất là ngu si vậy. Nay ông có thể dùng hạt châu báu đó, đổi lấy những đồ cần dùng, thì sẽ được như ý, chẳng còn thiếu thốn. Phật cũng như thế, khi làm Bồ Tát thì giáo hóa chúng con, khiến cho phát tâm Nhất thiết trí, mà chúng con bỏ quên không hay không biết. Tức được quả A la hán, mà tự cho là đã diệt độ. Khổ nhọc sinh sống được ít cho là đủ. Nguyện Nhất thiết trí vẫn còn chẳng mất. Hôm nay đức Thế Tôn giác ngộ chúng con, bèn bảo rằng : Này các Tỳ Kheo ! Chỗ các ông được chẳng phải rốt ráo diệt độ. Từ lâu, ta đã khiến cho các ông trồng căn lành của Phật, dùng phương tiện nên thị hiện tướng Niết Bàn, mà các ông cho rằng thật được diệt độ. Thời gian sau, ‘’Bạn thân‘’ lại gặp gã kia, dụ cho nay trên núi Linh Thứu, Thầy và đệ tử gặp lại, Phật ngạc nhiên bảo : Lạ thay ông này ! Tại sao vì cầu ăn mặc mà phải chịu khốn khổ ? Tại sao lại bần cùng như thế ? Vì các ông được ít cho là đủ, chẳng biết trên cầu quả vị Phật, dưới độ tất cả chúng sinh, chỉ biết làm tự liễu hán thôi. Xưa kia, ta muốn khiến cho các ông được an lạc, tha hồ hưởng thọ năm dục, tức sắc thanh hương vị xúc đều viên mãn, tức cũng là viên mãn năm căn lực, cho nên dùng pháp đại thừa giáo hóa chúng sinh. Chỉ vì các ông không biết ‘’Trong áo có buộc hạt châu báu‘’, chỉ biết cầu tiểu thừa, mà phải bị khổ cực lo buồn, giống như một số người, vì sinh sống mà phải bôn ba khổ sở để cầu sự sống, bèn cho là đủ, đó thật là quá ngu si. Nay ta tu pháp đại thừa, vì các ông ‘’trong áo có châu báu‘’ chưa từng mất đi. Nghĩa là Phật tánh vẫn tồn tại. Nếu tu pháp đại thừa, thì sẽ đắc quả vị, luôn được như ý, chẳng còn bần cùng nữa. Ðức Phật cũng như bạn thân của chúng con, thuở xưa làm Bồ Tát Diệu Quang giáo hóa chúng con, khiến cho chúng con phát tâm nhất thiết trí huệ, song chúng con từ lâu không gần gũi Bồ Tát, chẳng biết chẳng hay, quên mất pháp đại thừa, chỉ biết dụng công phu trên năm dục, quay lưng với giác ngộ mà hợp với sáu trần, còn tự cho rằng đã được vô thượng đạo. Quả vị tiểu thừa A La Hán, như đời sống của gã cùng tử, được một chút thì mãn nguyện. Thuở xưa, đã từng phát nguyện lớn, nhất thiết trí nguyện vẫn chẳng mất, hôm nay gặp đấng đại giác Thế Tôn, giác ngộ cho chúng con. Nếu ai trong thuở xưa đã từng phát đại nguyện, thì đời nầy nhân duyên được gặp cũng sẽ phát đại nguyện, trồng xuống hạt giống đại thừa. Như các vị A La Hán hiện tại, tuy thuở xưa đã từng phát đại nguyện, song vì thời gian quá lâu, tâm sinh mê hoặc, chẳng biết tiến lùi, tự khốn bên trong, lo rầu không ngui, may gặp lương sư Ðại Giác Như Lai, khiến cho họ bỏ mê muội về với giác ngộ, tự biết châu báu của chính mình. Này các Tỳ Kheo! Hiện tại các ông chứng được quả vô học, chỉ là tiểu thừa, chẳng phải thật diệt độ. Ta từ nhiều kiếp đến nay, khiến cho các ông gieo trồng căn lành của Phật, dùng phương tiện quyền xảo thị hiện tướng hữu dư Niết Bàn, song các ông lầm lẫn cho rằng là rốt ráo diệt độ. Ðức Thế Tôn ! Nay chúng con mới biết thật là Bồ Tát, được thọ ký Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhờ nhân duyên đó, nên chúng con rất vui mừng được chưa từng có. Bấy giờ, Ngài A Nhã Kiều Trần Như muốn thuật lại nghĩa này, bèn nói bài kệ rằng : Chúng con nghe vô thượng Tiếng thọ ký an ổn Vui mừng chưa từng có Lễ vô lượng trí Phật. Nay ở trước Thế Tôn Tự sám hối lỗi lầm Nơi vô lượng Phật bảo Ðược chút phần Niết Bàn. Như kẻ ngu vô trí Bèn tự cho là đủ. Ðức Thế Tôn ! Chúng con hôm nay mới biết vốn là Bồ Tát, được thọ ký Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhờ nhân duyên được Phật thọ ký, nên chúng con vui mừng được chưa từng có. Lúc đó, Ngài Kiều Trần Như nói với Phật: ‘’Chúng con nghe Vô thượng bồ đề, tâm niệm an ổn, tiếng Phật thọ ký, vui mừng tin nhận, được chưa từng có. Nay ở trước Phật sinh tâm sám hối, tự hối lỗi chấp tiểu thừa, mê muội đại thừa. Ðược ít phần hữu dư Niết Bàn mà tự cho là đủ, giống như người ngu chẳng có trí huệ không khác‘’. Ví như gã bần cùng Ði đến nhà bạn thân Nhà đó rất giàu có Bày đủ cỗ tiệc ngon. Lấy châu báu vô giá Buộc chặc vào trong áo Yên lặng mà bỏ đi Gã nằm chẳng hay biết. Sau gã đó thức dậy Lang thang đến nước khác Cầu ăn mặc tự sống Sinh sống rất khốn khổ. Ðược ít cho là đủ Càng không muốn đồ tốt Chẳng biết ở trong áo Có châu báu vô giá. ‘’Ví như gã bần cùng, đi đến nhà bạn thân‘’ : Gã bần cùng ví như chúng sinh; bạn thân giàu có ví như Ðức Phật. Chúng sinh quy y Phật, giống như gã bần cùng đến nhà bạn thân rất giàu có. Nhà đó bày cỗ tiệc rất ngon, ví như món ăn thiền duyệt và món ăn pháp hỉ. Sau đó, người bạn thân vì có việc đi ra ngoài, nên lấy pháp đại thừa vô giá cho gã bần cùng, rồi bỏ đi giáo hoá chúng sinh khác. Song ‘’gã bần cùng‘’ chẳng biết tự cầu tiến tới, chẳng biết đại thừa là báu vô giá, mà ‘’nằm chẳng hay biết gì‘’. Sau khi tỉnh dậy, vì có tri giác bèn phát tâm tu hành nên gọi là ‘‘dậy’’. Song quên mất đại thừa mà tu tiểu thừa, như lang thang đến nước khác. Tiểu thừa quả A La Hán chẳng phải Niết Bàn rốt ráo, như gã bần cùng kia, xin ăn tự sống, đời sống rất là vất vả. Chẳng cầu Phật đạo, được ít cho là đủ, chẳng biết trong tự tánh vốn đã có hạt giống đại thừa. Bạn thân cho hạt châu Sau gặp lại gã nghèo Khổ thiết trách gã rồi Chỉ cho chỗ buộc châu. Gã nghèo thấy châu rồi Trong tâm rất vui mừng Giàu có các của cải Tha hồ hưởng năm dục. Chúng con cũng như thế Thế Tôn từ thuở xưa Thường giáo hóa chúng con Khiến trồng nguyện vô thượng. Vì chúng con vô trí Chẳng biết cũng chẳng hay Ðược ít phần Niết Bàn Cho đủ chẳng cầu nữa. Nay Phật giác ngộ con Nói chẳng thật diệt độ Ðược Phật trí vô thượng Ðó mới là thật diệt. Nay con nghe từ Phật Thọ ký việc trang nghiêm Và lần lược thọ ký Khắp thân tâm vui mừng. Phật vì chúng sinh nói pháp môn đại thừa thâm sâu vô thượng, song chúng sinh vì căn cơ ám độn mà chẳng hiểu. Ví như người nọ, vì khiến cho họ khai mở đại trí huệ, mà nói pháp môn thành Phật, song người đó chưa thể hoàn toàn tin, cũng chẳng thấu rõ nghĩa sâu xa, thời gian lâu từ từ quay lưng với đạo mà bỏ đi, bỏ đại thừa mà cầu pháp tiểu thừa, hoặc là đi Ấn độ, hoặc là đi Thái Lan, Miến điện, Tích Lan, tìm đến tìm lui lại càng khốn cùng. Ðó là bỏ gốc tìm ngọn, bỏ gần cầu xa. May thay lại gặp thầy tốt, trách cứ gã bần cùng nầy. ‘’Trách‘’ đó là biểu hiện lòng từ bi của Phật Bồ Tát. Mục đích khiến cho họ phát tâm hồi tiểu hướng đại, vào một Phật thừa. Sau khi Ðức Phật ngộ đạo, vốn trước hết muốn nói Kinh Pháp Hoa đại thừa, chỉ vì chúng sinh ngu si ám độn, chẳng thể tiếp thọ, cho nên trước hết nói tam tạng, Kinh Phương Ðẳng, tiếp theo nói Bát Nhã, dần dần vào viên đốn giáo, chê tiểu thừa khen đại thừa. Khai quyền hiển thật, vì thật thí quyền, đó tức là ‘’khổ thiết trách gã‘’. ‘’Chỉ cho nơi buộc châu‘’ : Chỉ cho vốn đã có đủ Phật tánh, khiến cho họ biết tu pháp môn đại thừa, như hàng Thanh Văn, thấy được Phật tánh, như nghèo được châu báu, vui mừng tin nhận. Nếu ai thấu rõ và thực hành tu pháp đại thừa, tức là người giàu có, có Phật pháp ở trong tâm. ‘’Giàu có các của cải, tha hồ hưởng năm dục‘’ : Sắc thanh hương vị xúc, đâu chẳng phải là tam muội, tùy duyên ứng dụng, rộng lớn tư tại, được thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn. Như người muốn sắc thì có sắc, muốn thanh thì có thanh, cho đến hương, vị, xúc, cũng lại như thế, đó chẳng phải là diệu chăng ? ‘’ Tài sắc danh thực thùy‘’: Thảy đều đầy đủ viên mãn, giống như sơ tổ Ma Ha Ca Diếp nhập định ở trong núi Kê Túc, đó chẳng phải là ‘’ngủ lâu dài‘’ chăng ? Ngủ một ngàn năm cũng chẳng kể là lâu dài, mấy vạn năm cũng chỉ trôi qua nột nháy mắt. ‘’Thực‘’, trong pháp giới có thực vật là ngon hơn hết. ‘’Danh‘’, được danh mà người không thể được. Muốn ‘’tài‘’ thì chỉ cần tùy ý dũi tay một cái thì có được. Chúng con cũng như gã bần cùng không khác, quay lưng với sự giác ngộ mà hợp với trần lao. Ðức Thế Tôn thấy vậy thương xót, luôn giáo hóa khiến cho chúng con gieo trồng nguyện vô thượng bồ đề rộng lớn. Song chúng con chẳng có trí huệ, chẳng biết thuở xưa đã từng phát nguyện, cũng chẳng biết vốn có Phật tánh, được chút ít sự vui không sinh không diệt mà tự cho là đủ, chẳng cầu pháp môn đại thừa. Bây giờ nghe Ðức Phật nói, mới giác ngộ đây chẳng phải là cứu kính, chỉ là ‘’hoá thành‘’ ở giữa đường, chẳng phải thật diệt độ. Chỉ khi nào đắc được trí huệ của Phật, mới là rốt ráo diệt độ. Phật thọ ký cho chúng con sẽ thành Phật rồi, mới biết đại thừa là vô thượng chánh biến tri giác, cõi nước đó trang nghiêm thù thắng, và lần lược thọ ký, khiến cho khắp thân tâm của chúng con vui mừng vô kể. Người cầu Phật pháp phải đầy đủ tâm nhẫn nhục, chẳng sợ gian nan khốn khổ mới có hy vọng thành tựu. Có người nói ‘’tha hồ hưởng thọ năm dục‘’ thật là quá vi diệu, vậy chúng ta vì muốn được cảnh giới nầy mà phát tâm. Bạn sai lầm rồi ! Nếu ai vì năm dục mà phát tâm, thì không lâu về sau sẽ đọa vào địa ngục. Ðó là dụng tâm sai lầm, ai cầu năm dục thì tâm người đó bất chánh, tất rơi vào đường ma, làm quyến thuộc của ma vương, pháp đại thừa mới là xả bỏ dục, đoạn dục, vô dục, mà phát bồ đề tâm. Ở trên nói về ‘’tha hồ hưởng năm dục‘’, chỉ bất quá là ví dụ, hình dung biểu hiện sức thần thông tự tại của đại quyền Bồ Tát. Phàm là Bồ đề tát đỏa có căn tánh đại thừa, không thể nào ít có sự ‘’an lạc‘’, không chấp cảnh giới nầy, thì gọi là cảnh giới lành, nếu chấp cảnh giới nầy, thì tức là cảnh giới ma. Bồ Tát chẳng trụ tâm vào bất cứ chỗ nào. Nếu ai muốn thành tựu Phật đạo, thì trước phải dứt trừ lòng dâm dục, dục là gốc của khổ, bằng không thì tướng chúng sinh điên đảo. Cập nhật cuối (Thứ 4, 30 Tháng 12 2009 08:02)