THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC BÀI PHẬT TÂM CA CỦA

GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG THIỀN HỌC BÀI PHẬT TÂM CA CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ I. DẪN NHẬP : Kể từ khi đạo Phật du nhập nước ta, đến thời Trần thì đạo Phật đã thể nhập và có một vị trí đặc biệt, đứng vững trong lòng dân tộc. Trong một bối cảnh đất nước độc lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực với hào khí Đông A, Thiền phái Trúc Lâm ra đời là một quy luật tất yếu của lịch sư Phật giáo nói riêng và trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung. Nói cách khác, Thiền phái này đã kề vai sát cánh cùng dân tộc đi đến sự thống nhất đất nước, nhất là góp phần phục hưng mọi giá trị tinh thần văn hóa truyền thống của dân tộc. Đây chính là sức mạnh nội tại để Phật giáo Việt Nam cùng với dân tộc Việt Nam phát triển song hành trong việc tiếp nối mọi giá trị truyền thống, hiện thực hóa trong hiện tại và định hướng cho tương lai trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước ở mọi thời đại. Và như thế, sự tích cực hoạt động trong đời của Thiền phái Trúc Lâm đã góp phần thúc đẩy diện mạo và đặc trưng đời sống văn học nước ta, thay đổi về chất và lượng, vượt bậc từ giá trị nội dung tư tưởng cho đến giá trị nghệ thuật mà trước đó thời Lý còn nhiều hạn chế. Các tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm thực sự trở thành đối tượng để chúng ta tiếp cận nền học thuật Phật giáo thời Lý - Trần nói riêng, sự tiếp nối hòa nhập vào chủ lưu yêu nước và nhân văn của văn học trung đại nói chung. Lần đầu tiên các giá trị tư tưởng triêt lý, văn học Phật giáo Đại Việt, cụ thể là văn học Thiền phái được hiển bày qua từng tác phẩm cụ thể. Nếu các tác phẩm văn học Thiền đời Lý chỉ xoay quanh đề tài giáo lý, triết học, khái niệm qua các bài kệ, thiền ngữ, khá thiên về loại hình văn học duy lý thì sang nhà Trần, các sáng tác đã phản ánh nội dung tư tưởng Thiền gần với đời sống hiện thực mang nhiều màu sắc. Một trong những đại biểu sáng giá, trở thành cây đại thụ của Thiền phái Trúc Lâm chính là Tuệ Trung Thượng sĩ. Ông đã để lại dấu ấn tâm linh thiền đạo qua những sáng tác văn chương khá lớn, đóng góp không nhỏ cho văn học Thiền và văn học trung đại Việt Nam. Việc nghiên cứu tìm hiểu bài "Phật tâm ca" của Tuệ Trung Thượng sĩ sẽ cho ta cái nhìn đúng về các giá trị tư tưởng Thiền thể nhập vào đời sống sinh hoạt tâm linh và đời sống thực tiễn của nhân dân trong dòng chảy của văn hóa, văn học nước ta thời bấy giờ. II. NỘI DUNG: III. CHÁNH VĂN : 佛心歌 佛佛佛不可見, 心心心不可說。 若心生時是佛生, 若佛滅時是心滅。 滅心存佛是處無, 滅佛存心何時歇。 欲知佛心生滅心, 直待當來彌勒決。 昔無心, 今無佛, 凡聖人天如電拂。 心體無是亦無非, 佛性非虛又非實。 忽時起, 忽時止, 往古來今徒擬擬。 豈惟埋沒祖宗乘, 更起妖魔自家祟。 欲求心, 休外覓, 本體如如似空寂。 涅槃生子曼羅籠, 煩惱菩提閑對敵。 心即佛, 佛即心, 妙旨明明達古今。 春來自是春花笑, 秋到無非秋水深。 捨妄心, 守真性, 似人尋影而忘鏡。 豈知影現鏡中來, 不覺妄從真裏蹦。 妄來非實亦非虛, 鏡受無邪亦無正。 也無罪, 也無福, 錯比摩尼兼白玉。 玉有瑕兮珠有纇, 性底無紅也無綠。 亦無得, 亦無失, 四十九來是七七。 六度萬行海上波, 三毒九情空裏日。 默默默, 沈沈沈, 萬法之心即佛心。 佛心卻與我心合, 法爾如然亙古今。 行亦禪, 坐亦禪, 一朵紅爐火裏蓮。 沒意氣時添意氣, 得安便處且安便。 咦咦咦, 咄咄咄, 大海中漚閑出沒。 諸行無常一切空, 何處先師覓靈骨。 醒醒著, 著醒醒, 四稜踏地勿欹傾。 阿誰於此信得及, 高步毗盧頂上行。 喝! IV. PHIÊN ÂM : PHẬT TÂM CA Phật! Phật! Phật! bất khả kiến! Tâm! Tâm! Tâm! bất khả thuyết! Nhược tâm sanh thời thị Phật sanh, Nhược Phật diệt thời thị tâm diệt. Diệt tâm tồn Phật thị xứ vô, Diệt Phật tồn tâm hà thời yết. Dục tri Phật tâm sanh diệt tâm, Trực đãi đương lai Di lặc quyết. Tích vô tâm, kim vô Phật, Phàm thánh nhân thiên như điện phất. Tâm thể vô thị diệc vô phi, Phật tánh phi hư hựu phi thực. Hốt thời khởi, hốt thời chỉ, Vãng cổ lai kim đồ nghĩ nghị. Khởi duy mai một tổ tông thừa, Cánh khởi yêu ma tự gia túy. Dục cầu tâm, hưu ngoại mích, Bản thể như nhiên tự không tịch. Niết bàn sanh tử mạn la lung, Phiền não Bồ đề nhàn đối địch. Tâm tức Phật, Phật tức tâm, Diệu chỉ linh minh đạt cổ câm. Xuân lai tự thị xuân hoa tiếu, Thu đáo vô phi thu thủy thâm. Xả vọng tâm, thủ chân tánh, Tợ nhân tầm ảnh nhi vong kính. Khởi tri ảnh hiện kính trung lai, Bất giác vọng tùng chân lý bính. Vọng lai phi thực diệc phi hư, Kính thọ vô tà diệc vô chính. Dã vô tội, dã vô phúc, Thác tỷ ma ni kiêm bạch ngọc. Ngọc hữu hà hề châu hữu lỗi, Tánh để vô hồng diệc vô lục. Diệc vô đắc, diệc vô thất, Tứ thập cửu lai thị thất thất. Lục độ vạn hạnh hải thượng ba, Tam độc cửu tình không lý nhật. Mặc! mặc! mặc! Trầm! trầm! trầm! Vạn pháp chi tâm tức Phật tâm. Phật tâm khước dữ ngã tâm hiệp, Pháp nhĩ như nhiên cắng cổ câm. Hành diệc thiền, tọa diệc thiền, Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên. Một ý khí thời thiêm ý khí, Đắc an tiện xứ thả an tiện. Di! di! di! Đốt! đốt! đốt! Đại hải trung âu nhàn xuất một. Chư hạnh vô thường nhất thiết không, Hà xứ tiên sư mịch linh cốt. Tỉnh tỉnh trước! Trước tỉnh tỉnh! Tứ lăng đạp địa vật khi khuynh. A thùy ư thử tín đắc cập, Cao bộ Tỳ lô đỉnh thượng hành. Hát V. DỊCH NGHĨA : KHÚC CA PHẬT TÂM Phật! Phật! Phật! không thể thấy! Tâm! Tâm! Tâm! không thể nói! Khi tâm sanh tức là Phật sanh, Bằng Phật diệt là lúc tâm diệt. Diệt tâm còn Phật chuyện không đâu, Diệt Phật còn tâm bao giờ hết. Muốn biết tâm Phật, tâm sanh diệt, Hãy chờ Di lặc sau sẽ quyết. Xưa không tâm, nay không Phật, Phàm Thánh trời người như điện phất. Tâm thể không thị cũng không phi, Phật tánh chẳng hư cũng chẳng thực. Bỗng dưng khởi, bỗng dưng dừng, Xưa nay qua lại luống lẩn quẩn. Há chỉ chôn vùi nếp tổ tông, Lại khiến yêu ma vào nhà lộng. Muốn cầu tâm, chớ tìm ngoài, Bản thể như nhiên vốn không tịch. Niết bàn sanh tử buộc ràng suông, Phiền não Bồ đề hư giả nghịch. Tâm tức Phật, Phật tức tâm, Linh diệu chiếu cùng kim cổ thông. Xuân đến, tự hoa xuân mỉm miệng, Thu về, đâu chẳng nước thu trong. Bỏ vọng tâm, giữ chân tánh, Khác nào tìm ảnh mà quên kính. Nào hay ảnh vốn tự gương ra, Chẳng biết vọng do từ chân hiện. Vọng lên chẳng thực cũng chẳng hư, Gương nhận không tà cũng không chính. Vẫn không tội, vẫn không phúc, Lầm sánh ma ni cùng bạch ngọc. Ngọc có vết chừ châu có tỳ, Tánh vốn không hồng cũng không lục. Cũng không được, cũng không mất, Bốn mươi chín ấy là thất thất. Sáu độ muôn hạnh: biển sóng trào, Ba độc chín tình: giữa không nhật. Lặng! lặng! lặng! Chìm! chìm! chìm! Tâm của muôn loài tức Phật tâm. Phật tâm bèn với tâm ta hiệp, Pháp vốn như nhiên suốt cổ kim. Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, Giữa lò lửa rực một cành sen. Ý khí mất đi thêm ý khí, Được an tiện đấy cứ an tiện. Chao! chao! chao! Ối! ối! ối! Bọt trong biển cả uổng chìm nổi. Các hạnh vô thường thảy thảy không, Linh cốt tiên sư tầm đâu tá! Thức thức tỉnh! Tỉnh tỉnh thức! Dẫm đất bốn bề chớ lệch nghiêng. Ai có như lời tin được vậy, Đạp đảnh Tỳ lô bước bước lên. Hét VI. GIỚI THIỆU TÁC GIẢ - TÁC PHẨM: Không phải ngẫu nhiên mà vua Trần Thánh Tông cảm phục đạo học của Tuệ Trung Thượng sĩ và tôn ông là sư huynh, đồng thời nhờ ông dạy Thiền học cho thái tử sau này là Trần Nhân Tông; chính tên tuổi và sự nghiệp Tuệ Trung Thượng sĩ đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử tư tưởng Thiền học Trúc Lâm. Chỉ cần nghiên cứu và tiếp cận kỹ bài thơ Trần Nhân Tông viết về ông, tức là bài “Tán Tuệ Trung Thượng sĩ” thì rõ: "Vọng chi nhĩ cao, Toàn chi nhĩ kiên. Chiêm nhi tại tiền, Phù thị chi vị, Thượng sĩ chi Thiền” (Càng nhìn càng cao, Càng khoan càng bền. Chợt phía sau đó, Ngắm phía trước liền, Cái này tên gọi, Là Thượng sĩ Thiền). Rõ ràng, ông là một nhân vật kỳ bích, chứng nhập tâm linh, ngộ đạo lý chơn thường, dung hợp đạo đời, sống an bình tự tại, vô niệm vô cầu trong thực tại đời thường. Căn cứ vào bản tiểu sử của Thượng sĩ do vua Trần Nhân Tông viết "Thượng sĩ hanh trạng" tờ 35a5-40a2 thì “Thượng sĩ là con thứ nhất của Khâm Minh Từ Thiện Thái vương, anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Nguyên trước Thái vương mất, Thái Tông Hoàng đế cảm nghĩa phong làm Hưng Ninh vương”. Như vây, Tuệ Trung là con đầu của An Sinh vương Trần Liễu và anh cả Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Tên thật của ông là Trần Tung, sinh năm 1230 và mất năm 1291, chứ không như trước đây sách Hoang Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích ghi nhầm ông là Trần Quốc Tảng. Thượng sĩ là anh vợ của vua Thánh Tông, cũng là bạn chí cốt của vua, được Thánh Tông tôn xưng là sư huynh, đồng thời ký thác con mình là Trần Nhân Tông cho ông làm thầy trực tiếp dạy bảo. Là một trong những tướng lĩnh có công nước nhà, trong cuộc chiến tranh vệ quốc lần hai, ông đã dẫn hai vạn quân đón đánh và truy quét đạo quân Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt. Trong cuộc chiến tranh lần thứ ba, Tuệ Trung đã vào bộ chỉ huy của giặc để điều đình trì hoãn để quân ta có thời gian củng cố lực lượng, tạo tiền đề cho chiến thắng Bạch Đằng vang dội xảy ra một tháng sau đó. Ông được nhà nước giao cho chức Tiết độ sứ trại Thái Bình và được phong ấp ở Tịnh Bang, dựng Dưỡng Chân Trang, tiếp tục tham thiền, sống đạo nhập thế tích cực. Tuệ Trung trở thành “một nhà Thiền học có bản lĩnh, có lý trí, không câu nệ ở giáo điều sách vở, biết đập vỡ thái độ khư khư bám víu vào những khái niệm có sẵn, biết hòa quang đồng trần”. Có thể nói, ông là một trong những bậc long tượng của Phật giáo Đại Việt. Sự nghiệp trước tác, trước thuật của Tuệ Trung chủ yếu được tập hợp trong bộ Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục. Theo thư tịch cổ, sách Thượng sĩ ngữ lục nằm trong bộ “Trần Triều dật tồn Phật điển lục”, đây là bộ Phật điển của nhà Trần còn lại, gồm có Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục và Tam Tổ thực lục. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang thì sách Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục do Pháp Loa biên tập, Trần Nhân Tông khảo đính, Đỗ Khắc Chung đề bạt. Bản hiện có là bản in năm 1943 của Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ, căn cứ trên bản in cũ của năm 1903 do Sa môn Thanh Cừ chùa Pháp Vũ thực hiện, có bài lược dẫn của Tỳ kheo Thanh Hanh viết vào năm ấy. Các bản in này đều mang một bài lược dẫn của Tỳ kheo Huệ Nguyên chùa Long Động núi Yên Tử viết trong dịp trùng san năm 1763. Nội dung của sách gồm có bốn phần: Phần thứ nhất: Đối cơ, gồm những mẩu đối thoại giữa Tuệ Trung với các môn đệ và các học giả. Phần thứ hai: Cử Công án, gồm 13 công án, mỗi công án có lời niêm (nhận xét) và một bài kệ của Tuệ Trung. Phần thứ ba: Thi tụng, gồm 49 bài thơ vừa thơ vừa kệ của Tuệ Trung. Phần thứ tư: Thượng sĩ hành trạng, do Trần Nhân Tông viết. Sau bài của Trần Nhân Tông là một số bài kệ tụng của các vị đệ tử nổi danh của ông viết. Thơ văn Lý-Trần, tập 2 cho rằng, sáng tác của Tuệ Trung được tập hợp trong bộ Thượng sĩ ngữ lục. Sách được cấu trúc thành ba phần. Phần thứ nhất là phần Ngữ lục, bao gồm Đối cơ, Tụng cổ, trình bày những bài giảng của Thượng sĩ cho các đệ tử và những công án tham thiền của ông. Phần này do Pháp Loa ghi và Trần Nhân Tông khảo đính. Phần thứ hai gồm 49 bài thơ với nhiêu đề tài, thể loại khác nhau. Phần thứ ba gồm một bài "Thượng sĩ hành trạng" do Trần Nhân Tông viết, tám bài tán của tám nhà Thiền học phái Trúc Lâm và một bài bạt của Đỗ Khắc Chung. Thông qua tác phẩm Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục, toàn bộ giá trị tư tưởng Thiền học, triết học của Tuệ Trung Thượng sĩ đã được phô diễn một cách tuyệt tác không chỉ về giá trị nội dung mà còn cả giá trị nghệ thuật sáng tác. Tác phẩm này có thể tóm tắt trong ba phần chính: Đối cơ, Tụng cổ, Thi ca. Tác phẩm này đã mở đường thực sự cho Thiền phái Trúc Lâm tham gia tích cực đóng góp cho đạo pháp hưng thịnh, đất nước phồn vinh, làm rạng rỡ thời đại. Đối cơ là những pháp thoại giưa Thượng sĩ và các thiền sinh tham vấn học hỏi về các chủ đề sinh tử đại sự, hay cứu cánh giải thoát… Đây cũng là một hình thức sáng tác nghệ thuật trong văn học Thiền, vượt ra ngoài suy diễn tầm thường, những khái niệm vọng tưởng mang tính sương mù của ngôn ngữ. Vấn đề đặt ra là trực nhận và sở đắc tâm ý người thầy muốn nói gì với học trò. Tụng cô là thể loại sáng tác đặc biệt trong văn học Thiền, được diễn bày qua ý tưởng từ các bài kệ tụng, điển cố, công án, những cốt tủy Phật lý mà mình tâm đắc. Tại đây người học Thiền sẽ tiếp nhận thông điệp pháp ý để thọ lĩnh và hành trì. Thi ca là những bài thơ thể hiện sự chứng đắc về thiền ý với những nguồn cảm hứng vô tận mang tính nghệ thuật thẩm mỹ và tư tưởng siêu trần giải thoát. NỘI DỤNG TƯ TƯỞNG THIỀN HCOJ CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ NGỮ LỤC QUA BÀI “PHẬT TÂM CA” Bài "Phật tâm ca" của Tuệ Trung Thượng sĩ là tác phẩm văn học Thiền được viết theo thể Ca, một hình thức sáng tác chỉ xuất hiện trong các sáng tác của các thiền gia, thiền sư đời Trần thuộc Thiền phái Trúc Lâm mà thôi, chứ vào đời Lý thì hầu như không có. Theo thư tịch cổ, thơ văn Thiền phái chỉ còn bảo lưu hai bản văn được sáng tác theo thể loại này. Đó la "Phật tâm ca" của Tuệ Trung viết bằng chữ Hán và "Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca" của Trần Nhân Tông viết bằng chữ Nôm. "Phật tâm ca" là bài ca gồm 12 khổ, 55 câu. Khổ đầu gồm 8 câu thất ngôn xen lục ngôn (2 câu đầu) "Phật, Phật Phật bất khả kiến; Tâm, tâm, tâm, bất khả tư thuyết”; mười một khổ còn lại, mỗi khổ 5 câu, câu 1 và câu 2 mỗi câu 3 tiếng, ba câu còn lại mỗi câu 7 tiếng. Có điều lý thú là mỗi khổ ở đây là một bài thơ tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn và câu đầu chính là câu lục ngôn được tách ra làm hai. Vần gieo ở cuối câu (cước vận) và đa số là vần trắc (8/12 khổ gieo vần trắc), chỉ có 4 khổ gieo vần bằng. Rõ ràng, số câu trong bài không hạn định, không bị gò bó về niêm luật, vần điệu… nó thích ứng cho cảm hứng giải thoát trong chiều hướng khai mở tâm thức và bừng sáng trí tuệ. Và như thế, bài "Phật tâm ca" không chỉ có giá trị về nội dung tư tưởng Thiền học mà còn mang tính đặc sắc âm vang nghệ thuật thi ca Thiền tông. Giá trị nội dung tư tưởng bài "Phật tâm ca" TƯ TƯỞNG HÒA QUANG ĐỒNG TRẦN: Có thể nói, tư tưởng chính xuyên suốt của toàn bộ tác phẩm văn học Thiền của Tuệ Trung là hòa quang đồng trần; "Phật tâm ca" cũng không ngoại lệ. Tư tưởng này là sự kết tinh của một tiến trình phát triển lịch sử tư tưởng Việt Nam và Phật giáo Việt Nam từ thời vua Lý Thánh Tông cho đến vua Trần Thái Tông và sau này là Trân Nhân Tông, cũng như các thành viên Thiền phái Trúc Lâm. Chính Trần Nhân Tông sau khi trở thành Tổ khai sáng Thiền phái đã đúc kết tư tưởng này như là tư tưởng Đại Việt và Phật giáo nước ta được ghi vào trong "Thượng sĩ hành trạng" với lời nhận định như sau: “Hỗn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc ngỗ. Cố năng thiệu long pháp chủng, du dịch sơ cơ” (Thượng sĩ nhờ hòa quang đồng trần, cùng vật chưa từng xúc phạm nên có thể thiệu long giống pháp, dỗ dắt kẻ sơ cơ). Cho nên tư tưởng hòa quang đồng trần là tư tưởng của Tuệ Trung để làm hưng thịnh đạo pháp và dân tộc. Thực tế, vào thời nhà Trần, yêu cầu của lịch sử đặt ra là cả nước tập trung nhân lực và trí tuệ để xây dựng đất nước. Mọi người dân, Phật tử đều phải tích cực vào đời làm rạng rỡ cho đời. Ngay trong bài "Phật tâm ca", Tuệ Trung đã khẳng định Phật không phải bậc Sáng tạo, Thượng đế, hay Thiên thần gì cả; Phật là con người cụ thể, có thể luôn hóa hiện ngay giữa cõi đời trần tục: “Nhược tâm sinh thì thị Phật sinh”(Khi tâm sinh thì Phật sinh), và Phật thị hiện giữa đời chẳng khác nào hoa sen thơm ngát vươn lên trong bùn lầy nhơ bẩn: “Liên nhị hồng hương bất trước nê” (Nhị sen đỏ thơm chẳng nhuốm bùn) như trong bài "Thị chúng" mà ông đã cụ thể hóa bằng hình ảnh hoa sen. Thực ra, đây cũng là chủ trương có từ thời Đức Phật, sự chứng đạt là do tự thân tu tập mà vượt thoát từ trong cuộc sống trần tục. Tuệ Trung dấn thân, sống dung tục với đời mà đạt ngộ với tông chỉ của Thiền sư Tiêu Diêu. Tông chỉ ấy, ông từng trả lời với Trần Nhân Tông: “Hãy quay về tự thân mà tìm thấy tông chỉ, không thể từ ai khác”. Quay về tự thân mà tìm lấy tông chỉ là tự mình trở về chính mình để an trú giải thoát. Do đó, ta chẳng ngạc nhiên gì Tuệ Trung trao tông chỉ cho Trần Nhân Tông là phù hợp với tinh yếu lời dạy của Phật. Thời Phật còn tai thế, các Tăng sĩ tìm về tông chỉ trong nếp sống xuất gia, các cư sĩ thì tìm về tông chỉ ở đời sống xã hội. Điểm sáng ở đây là vào thời Trần, Ứng Thuận là cư sĩ - thầy truyền đạo cho Tăng sĩ Tiêu Diêu, Quốc sư Nhất Tông, Giới Ninh, Giới Thuận. Còn Tuệ Trung là cư sĩ - thầy truyền đạo cho Nhân Tông - người khai sáng ra dòng thiền Trúc Lâm hoạt động cho đời. Rõ ràng, Tuệ Trung là người thực hiện chủ trương tìm thấy tông chỉ trong cuộc sống đời thường, nhất là trong bối cảnh xã hội Đại Việt luôn chuẩn bị để đối phó và đập tan các cuộc chiến tranh ngoại xâm thường trực. Đời sống sinh hoạt Phật giáo luôn gắn liền đời sống sinh hoạt của dân tộc. Chủ trương hòa quang đồng trần, tức là phải nhập cuộc với đời sống trần tục và phải làm cho đời thêm sáng tươi là nhiệm vụ hàng đầu không chỉ dành cho giới Phật giáo mà còn phải huy động toàn thể sức mạnh cả dân tộc. Trên cơ sở đó, chủ trương hòa quang đồng trần được phát biểu với nhiều dạng thức khác nhau trong các tác phẩm của Tuệ Trung và được vận dụng vào trong đời sống thực tiễn, mục đích là làm hưng thịnh đạo pháp, tức là làm phồn vinh đất nước và ngược lại. Cho nên, mỗi cá nhân không thể tách rời cộng đồng, không thể buông bỏ cuộc đời, chỉ trong sinh tử mới tìm thấy không có sinh tử, ở trong phàm tục mới có bậc Thánh giác ngộ ở đời. Với cái nhìn như thế, con người không còn phân biệt đối đãi giữa các cặp phạm trù Niết bàn hay sinh tử, tội hay phước, phiền não hay bồ đề. Các khái niệm đó cần được đập vỡ từ trong nhận thức: “Niết bàn sinh tử mạn la lung, Phiền não Bồ đề nhàn đối địch.” (Niết bàn và sinh tử ràng buộc lỏng lẻo thôi, Phiền não và Bồ đề coi thường cả sự đối nghịch của chúng). Phật tâm ca Cũng ý tứ này, Trong bài "Trữ từ tự cảnh văn", Tuệ Trung tuyên bố: “Cầu chân như nhi đoạn vọng niệm, Tự dương thanh chỉ hưởng tương ma. Xả phiền não như thủ nê hoàn, Như nhật ảnh đào hình ban loại”. (Tìm chân như mà dứt vọng niệm, Có khác chi dối nhau bằng cách thét lớn để ngăn tiếng vang. Bỏ phiền não mà lấy Niết bàn, Thực chẳng khác trốn hình trong nắng trời). Theo Thượng sĩ, kinh điển, giới luật, tọa thiền, niệm Phật chỉ nhằm giới thiệu con đường, phương thức sống. Con người cần phải sống và thực hành mới có cơ duyên tiếp cận và chứng đat chân lý. Thế nên, con người không cần chấp vào giới thuyết bó buộc tâm thức, mà cần thực thi bằng hành động cụ thể dưới ánh sáng của chánh kiến. Xưa nay, lý thuyết là màu xám, hiện thực mới thực sự là màu xanh của sự sống. Khi buông xả cái nhìn chấp trước nhị nguyên giữa có và không thì mọi sự tu trì trên hình thức lý luận sẽ chẳng còn ý nghĩa gì. Ông thẳng thắn nói: “Trì giới kiêm nhẫn nhục, Chiêu tội bất chiêu phúc. Dục tri vô tội phúc, Phi trì giới nhẫn nhục. Như nhơn thướng thọ thời, An trung tự cầu nguy. Như nhơn bất thướng thọ, Phong nguyệt hà sở vi”(Trì giới và nhẫn nhục, Chỉ chuốc tội chứ không chuốc phúc, Muốn biết không tội phúc, Thì đừng trì giới nhẫn nhục. Như khi người trèo lên cây, Là đang trong bình an lại tìm lấy sự nguy hiểm. Nếu người ta không trèo lên cây thì gió lay, trăng dọi, có làm gì được). (Trì giới kiêm nhẫn nhục). Như vậy, các vấn đề nan giải như sinh tử và Niết bàn, phiền não và Bồ đề, có và không… đến giai đoạn này đã được Tuệ Trung kiến giải một cách triệt để. Các quan điểm, tư tưởng đối với các vấn đề này trước đó cũng được các thiền sư, Phật tử nổi tiếng như Diệu Nhân, Ỷ Lan đời Lý phát biểu nhiều lần, nhưng biện pháp giải quyết chúng thì chưa thấu đáo và khó trở thành hệ thống luận lý. Đến đây, những chủ đề tư tưởng Phật giáo ở giai đoạn này đã được Tuệ Trung đúc kết và tính tích cực nhập thế của Thiền tông đã được đẩy lên cao, mang một diện mạo và đặc trưng mới. Nếp sống thiền không còn giới hạn trong khuôn viên nhà chùa với việc tu trì hay chấp tác bình thường mà còn ra vào tự tại mọi nơi, thậm chí ngay giữa chiến trường bảo vệ non sông Tổ quốc trong ý nghĩa “chiến trường là thiền đường”. PHẬT VÀ CHÚNG SANH KHÔNG KHÁC: Với chủ trương tùy tục, tích cực nhập thế và làm cho đời sáng tươi mà Tuệ Trung đề ra, con người không cần đi tìm Phật ở đâu xa, Phật hiện hữu ngay trong tâm thức mình. Ngay từ đầu thời Trần, Quốc sư Viên Chứng - thầy của Trần Thái Tông - đã đưa ra quan điểm về Phật: “tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật” (lòng lặng mà biết, đó chính là chân Phật) . Và sau đó, Trần Thái Tông phát biểu dứt khoát: “Phật thân tức ngã thân thị, vô hữu nhị tướng” (Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng) . Tuệ Trung chủ trương Phật tại tâm ở trong bài Phật tâm ca, còn trong Thượng sĩ ngữ lục thì khi mê không biết ta là Phật, hay Phật và chúng sinh không khác nhau: “Mi mao tiêm hoành tỵ khổng thùy, Phật dữ chúng sinh đô nhất diện”(Mày ngang mũi dọc cũng như nhau, Phật với chúng sinh không khác mặt) . Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo thì tuyên bố: “Bụt ở cong nhà, chẳng phải tìm xa. Nhân khuấy bản, nên ta tìm Bụt, Đến cốc hay chỉn Bụt là ta” . Như vậy, vào thời Trần, một quan điểm mới về Phật được hình thành trong một bối cảnh đất nước Đại Việt đang nỗ lực bảo vệ các thành quả của cha ông đạt được, cũng như dốc lòng xây dựng và phát triển đất nước, ắt hẳn sẽ tạo sự tác động lớn vào tâm thức con người và xã hội. Mỗi khi tư duy về đức Phật thay đổi thì nội dung sinh hoạt Phật giáo cũng thay đổi hẳn. Chỉ cần lòng lặng mà biết, thân ta không khác thân Phật, khi tâm sinh thì Phật sinh, và thì ai cũng thành Phật. Nói cách khác, ở đâu có con người, ở đó có sự giác ngộ của chân tâm, có sự sinh hoạt Phật giáo Thiền tông trong bất kỳ môi trường nào. Tuệ Trung Thượng sĩ đã hát ca về Phật giữa trần thế như vậy, Phật với ta chẳng có khác gì trong thực tại đời thường. Con người thật của chúng ta là Phật. Còn con người giả mà chúng ta tưởng thật với cái tâm vọng động của tham sân si là con người giả. Mỗi người cần trở về với con người thật. Đó là giá trị nhân sinh cao nhất mà Tuệ Trung và các thiền sư Trúc Lâm nhìn nhận như là một lời giải đáp tại sao chúng ta hiện hữu trên đời này. Quan điểm về Phật tại tâm như thế sẽ cung cấp cho con người một lý tưởng sống đẹp, cao quý đủ để tạo một cảm hứng sáng tao vươn lên, không những cho một đời mà nhiều đời, thậm chí cho đến khi mỗi con người đều trở thành một vị Phật. Sự thành Phật ở đây lại không khác là nhận chân con người thật của chính mình ngay chính cõi lòng. Có gì để nói khi cuộc sống đang trôi chảy, một tâm thức đang vận hành. Vấn đề đặt ra là thực tại thì luôn nhiệm mầu đối với con người: “Phật Phật Phật bất khả kiến, Tâm tâm tâm bất khả thuyết”. (Phật, Phật, Phật không thể thấy được, Tâm, tâm, tâm không thể nói được) (Phật tâm ca). Rõ ràng, Tuệ Trung Thượng sĩ đã muốn tuyên ngôn thông điệp thiền“Bất lập văn tự, trực chỉ chân tâm, kiến tính thành Phật.” Thế là, chừng nào con người còn an trú trong ngôn từ, trong đôi kính màu trần thế thì còn xa rời thực tại - bây giờ, ở đây. Kinh nghiệm cho thấy, thể chứng thực tại một cách trọn vẹn chỉ khi nào tâm thức đã chuyển hoá thành tuệ giác vô thượng. Rõ ràng, Phật và tâm, phàm phu và bậc Thánh chỉ là khái niệm giả danh trên ngôn từ chữ nghĩa của tư duy hữu ngã phân biệt: “Tích vô Tâm, Kim vô Phật; Phàm Thánh nhân thiên như điện Phật. Tâm thể vô thị diệc vô phi. Phật tính phi hư hựu phi thật.” (Xưa không có tâm, Nay không có Phật; Phàm, Thánh, người, trời nhanh như chớp giật. Tâm thể không phải cũng không trái, Phật tính không hư cũng không thực). (Phật tâm ca). Vén bức màn vô minh để trở về thực tại là tâm ý của Tuệ Trung Thượng sĩ muốn khai mở tâm thức người học thiền. Ông đã quán triệt tinh thần này để bước ra ngoài vòng luẩn quẩn phân biệt từ cái nhìn “nhị kiến” để an nhiên tự tại mà Trần Nhân Tông từng ca ngợi và tâm đắc trong Thượng sĩ hành trạng. Theo ông, suối nguồn hạnh phúc không phải được định chế trên cái tâm thường xuyên hay sinh diệt thường tình, đối đãi bỉ thử hàng ngày mà thực sự an lạc khi biết hướng tâm vào thực tại: “Tâm tức Phật, Phật tức tâm, Diệu chỉ linh minh dạt cổ câm. Xuân lai tự thị xuân hoa tiếu, Thu đáo vô phi thu thuỷ thâm” (Tâm là Phật, Phật là Tâm, Tính huyền diệu thì sáng, linh và thông suốt xưa nay, Mùa xuân tới, hoa xuân cười, Mùa thu về, không chỗ nào là nước thu không sâu). (Phật tâm ca). Tâm Phật và tâm chúng sinh đâu có sai khác, bởi một điều đơn giản, ai cũng hiểu, ai cũng thấy Phật là người đã chứng ngộ nhờ công phu tự thân tu tập. Chúng sinh cũng thế thôi! Tự thân tu tập, tự thân hành trì, tự thân chứng ngộ thì họ cũng nhất định thành Phật. Trong đời thường, ta cứ nghĩ Phật đã nhập Niết bàn, không còn hiện hữu trần thế, thật ra chúng ta vẫn gặp những người can đảm như Phật, hiền như Bụt, có lòng từ như mẹ hiền Quan Âm thường xuyên có mặt trong đời sống hàng ngày khi chúng ta biết gieo trồng những hạt giống tốt lành. An nhiên vui đạo mà sống, chẳng có gì lo âu cả. Xuân đến thì hoa nở, thu về nước lại trong, có gì để bận tâm đâu. Đây là nếp sống bình thường tâm thị đạo mà Tuệ Trung Thượng sĩ khẳng khái hát ca về ông Phật của chính mình. NẾP SỐNG ĐẠO THIỀN – SUỐI NGUỒN HẠNH PHÚC: Khi con người chấp nhận quan điểm Phật tại tâm và thể nhập vào đời sống thì họ có thể hiểu và hành động theo bản tâm chân thật của chính mình, mục đích là đem lại các giá trị hạnh phúc cho chính mình và mọi người. Một quan điểm về đức Phật như thế sẽ tạo ra cái nhìn mới về bản chất bình đẳng của con người. Mọi người đều bình đẳng không phân biệt đẳng cấp, sang hèn, giàu nghèo, nam nữ… vì họ đều có khả năng thành Phật ở đời. Nó sẽ tạo ra sự đồng cảm, không còn tự ti, mặc cảm mà tích cực hoàn thiện nhân cách cá nhân và sẵn sàng đóng góp cho đời cho đạo. Mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân hiện hữu đều được nhìn nhận trên cơ sở bình đẳng, từ đó người ta dễ dàng thông cảm, sẻ chia và đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận một vấn đề và cùng nhau có một hướng giải quyết tốt đẹp nhất mà không có một thế lực nào chi phối cả. Rõ ràng một lối sống thiền mà Tuệ Trung đề xuất như thế không có gì là cao siêu, huyền bí mà thật đơn giản, cụ thể rất hiện thực hóa ở đời. Phật giáo quan niệm hạnh phúc là sự vắng mặt khổ đau. Xem ra, hạnh phúc khởi nguyên từ trong thực tại để rồi tuôn chảy về thực tại nhiệm mầu. Trong ý nghĩa tận cùng đó, nếu có một người nào cố tình cắt chia thực tại bằng tư duy phân biệt, chẻ chia thì chẳng bao giờ có một giây phút bình an, hỷ lạc. Thực tế sinh mệnh con người từ khi cất tiếng chào đời vốn đã tự trói mình trong cac xiềng xích từng ý niệm phân biệt giả hợp. Cho nên, con người vội vã tìm kiếm ảo giác hạnh phúc bên ngoài đời thường. Kinh Viên Giác từng tuyên bố: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”, nghĩa là Phật pháp chỉ có ơ thế gian này, ngoài thế gian này không có Phật pháp. Cho nên, các hành giả trong giới thiền học thường xuyên khuyến cáo đừng bao giờ chấp trước chẻ chia thế giới thực tại này thành Phật quốc hay điạ ngục trần gian. Sự phân biệt này sẽ làm cho con người càng trở nên thôi thúc tìm cầu một thế giới hão huyền chất chứa vị ngọt của “ái thủ” (sự yêu thương đối đãi và chấp trước). Chính thiền sư Hy Vận từng tuyên bố: “Nếu muốn thành Phật thì không cần phải học hết Phật pháp, chỉ nên học vô cầu vô trước. Nếu không cầu, tức trở thành tâm bất diệt, bất sinh bất diệt tức là Phật”. Tuệ Trung Thượng sĩ cũng thế thôi, ông sống giữa đời nhưng thể nhập diệu tính của cuộc đời. Ông vượt ra ngoài thế giới lý luận để trở về hiện thực hằng ngày: “Xả vọng tâm, Thủ chân tính; Tự nhân tầm ảnh nhi vong kính. Khởi tri ảnh hiện kính trung lai, Bất giác vọng tâm chân lý bỉnh. Vọng lai phi thực diệc phi hư, Kính thụ vô tà diệc vô chính. Dã vô tội, Dã vô phúc; Thác tỷ ma – ni kiêm bạch ngọc. Ngọc hữu hà hề, châu hữu loại, Tính để vô hồng dã vô lục” (Bỏ vọng tâm, Tìm chân tính; Giống như người tìm bóng quên gương. Nào có biết bóng từ trong gương mà ra, Nào có biết cái vọng tâm dẫn đến từ trong cái thực. Cái vọng đến thì chẳng thực cũng chẳng hư, Cái gương tiếp nhận không tà cũng không chính. Không có tội, Không có phúc; Lẫn cả hạt trai và ngọc trăng. Ngọc thì có vết mà hạt trai thì có tỳ, Còn “linh” thì không đỏ cũng không xanh) (Phật tâm ca). Đạo Phật là đạo giải thoát, giải thoát mọi hệ luỵ của cuộc đời. Kinh Kim Cương dạy rằng: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, thế nên Tuệ Trung mời gọi mọi người hãy từ bỏ những công ước, những giới điều trói buộc tâm thức con người, hãy lên đường bước vào đời sống và thể nhập thực tại. Hãy an trú vào chánh niệm, giải thoát luôn có mặt trong cuộc sống hàng ngày. Ông đã truyền cái sức sống mới, niềm tin mới, khác với những gì mà người ta đã từng sống và hành động: “Hành diệc thiền, Tọa diệc thiền; Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên, Một ý khí thì thiêm ý khí Đắc an tiện xứ thả an tiên”. (Đi cũng thiền, Ngồi cũng thiền; Một đóa hoa sen trong lò lửa hồng. Khi không có ý khí thì tăng thêm ý khí, Được nơi an định hãy cứ an định.) (Phật tâm ca). Phải chăng đây là nếp sống hướng thiện mà con người luôn khát vọng. Khát vọng này rất thiết thực: hiện tại, bây giờ, ở đây. Như con tim nắm giữ sinh mệnh con người, cũng vậy, nếp sống này đưa con người đến miền đất an lạc ngay giữa trần thế: “A thuỳ ư thử tín đắc cập, Cao bộ Tỳ lư đỉnh thượng hành” (Ấy ai tin được tới chỗ đó, Cất cao bước đi trên đầu Tỳ lư) (Phật tâm ca). Chính nếp sống thiền mà Tuệ Trung thiết lập là sự kết tinh tinh hoa của cả quá trình biến chuyển từ một hình thức Phật giáo chức năng chuyển sang hình thức sinh hoạt Phật giáo thế sự, nghĩa là một Phật giáo với chủ trương nhập thế, làm cho đời sáng tươi. Đỉnh cao của một giai đoạn Phật giáo mới này thông qua vị vua kiêm thiền sư Trần Nhân Tông, đã trở thành một lối sống Cư trần lạc đạo, tạo ra những kỳ tích của lịch sử với ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, mở mang bờ cõi, góp phần bảo lưu và phát triển mọi thành quả giá trị văn hóa văn học nước nhà từ xưa cho đến nay. TƯ TƯỞNG VÔ NGÃ VÀ PHÁ CHẤP: Tư tưởng phá chấp xuất hiện rất sớm trong các kinh của Phật giáo. Khi còn tại thế Đức Phật thường nói: “Trong suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp, ta chưa hề nói một lời nào”. Lời nói ấy để nhắc nhở người học đạo phải nắm lấy cái “tư tưởng”, cái “hồn” trong kinh chứ không phải chấp vào câu chữ trong kinh. Trong kinh Viên giác cũng viết, các lời dạy trong kinh chẳng khác nào ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu thấy mặt trăng rồi thì có thể biết cái để chỉ mặt trăng (ngón tay) không phải là mặt trăng. Tất cả lời nói của Như Lai, Bồ tát cũng đều như thế. Đối với Phật giáo, thì giới có vai trò nền tảng trên con đường giác ngộ. Người học nhờ công phu trì giới mà có được trí tuệ sáng suốt. Theo Tuệ Trung, giới chỉ là phương tiện. Muốn giác ngộ chân lí, người học đạo không nên chấp vào giáo lí mà phải vượt lên trên giáo lí. Do đó, Tuệ Trung yêu cầu người học phải hiểu bản chất của giới nhằm mục đích gì, chứ không thể dựa vào giới một cách máy móc. Không chỉ phá chấp trong giới luật, nhiều vấn đề trong kinh Phật cũng được Tuệ Trung nhận thức theo tinh thần ấy. Trong sự nghiệp hành đạo, Tuệ Trung có rất nhiều cuộc đối thoại, trong đó ông thường dùng pháp Thoại đầu, Công án để khai thị cho học trò. Chẳng hạn, một hôm có vị tăng đến hỏi Tuệ Trung: “Thế nào là thanh tịnh pháp thân”, Tuệ Trung trả lời: “Ra vào trong nước đái trâu, Chui rúc giữa đống phân ngựa”. Tuệ Trung cho rằng, không nên phí thời gian vào những chuyện đã bàn nhiều và không bao giờ giải quyết được, không hay ho gì. Tuệ Trung phá chấp vào tư tưởng muốn giải thích về Phật pháp. Vị tăng lại hỏi: Vậy làm thế nào để chứng ngộ được? Tuệ Trung đáp: Không có niệm nhơ bẩn tức là pháp thân thanh tịnh. Tuệ Trung đọc bài kệ: “Xưa nay không bẩn, sạch, Pháp thân không vướng mắc, Nào “trọc” với nào “thanh!” Bẩn, sạch đều hư danh. “Bẩn, sạch” là khái niệm do con người tự bày đặt, đối với đạo thì khái niệm ấy ám chỉ sự thanh tịnh hay không thanh tịnh. Theo Tuệ Trung, bẩn, sạch đều là một. Người học do mê chấp nên sinh ra phân biệt, cũng như tính Phật thì ai cũng có, cũng giống nhau nên phải phá chấp triệt để vào những quan niệm ấy. Trên cơ sở đó, ông đưa người học đạo đến với pháp thân như một thực tại, vượt qua khái niệm thanh tịnh và ô nhiễm. Lần khác, có người hỏi Tuệ Trung: Trong giáo lí Phật nói: “Không tức là sắc, Sắc tức là không, ý nghĩa thế nào? Tuệ Trung trả lời: Người có sắc thân không? Vậy sao nói “sắc tức là không?” Người có nhìn thấy cái “không” có tướng mạo gì không? Vậy sao nói “không tức là sắc”. Tuệ Trung đọc bài kệ: “Sắc vốn chẳng phải không, Không vốn không phải sắc”. Bài kệ trên có vẻ đi ngược lại với giáo lí kinh điển, nhưng thực tế Tuệ Trung phê phán những người do chấp (mê chấp), không biết đâu là giả, đâu là thật nên khi nói “sắc tức là không, không tức là sắc” liền chấp luôn vào đó. Suy cho cùng thì “sắc” và “không” cũng chỉ là những ảo giác, do tâm vọng, do nhị kiến mà ra. Ông nói tiếp: “Sắc tức là không, không tức sắc, Ba đời chư Phật quyền biến đặt. Không vốn không sắc, sắc không không, Thể tính sáng làu, chẳng được mất”. Tuệ Trung giải thích cho người học đạo biết rằng, sắc cũng là không và không cũng là sắc, tuy hai mà vẫn một, tất cả đều là không. Con người do mê nên sinh ra “không” với “sắc”, “một” với “hai”, khi ngộ rồi thì hết thảy đều là không. Chư Phật quá khứ, hiện tại, tương lai đều coi giáo lí là phương tiện để thuyết pháp, chứ vốn Không không có Sắc, Sắc không có Không. Bản thể (bản tính, chân như) của con người vốn sáng làu chẳng được mất. Hiểu như vậy tức nắm được bản chất của đạo. Trên quan điểm bản thể không, giác ngộ phải tự mình, do mình, Tuệ Trung đã phá chấp vào việc cầu Phật, cầu thiền. Ông nói: “Thanh Văn ngồi thiền, ta không ngồi, Bồ tát thuyết pháp, ta nói thực”. Theo thuật ngữ đạo Phật, Thanh Văn để chỉ người tụng kinh, nghe giảng mà ngộ đạo. Nhưng từ Thanh Văn vẫn phải tu mấy bậc nữa mới đến Bồ tát. Tuệ Trung cho rằng, Phật tại tâm, Phật ở trong ta chứ không ở ngoài ta. Kẻ ngu, người trí, Phật tính vốn không khác nhau, chỉ vì mê, ngộ không giống nhau nên có kẻ ngu, người trí. Tuệ Trung khác Thanh Văn ở chỗ, ông là bậc thượng trí đã đắc đạo, mà đắc đạo rồi thì không cần phải ngồi thiền, còn Thanh Văn thì phải ngồi thiền. Do đó, Tuệ Trung mới nói “Thanh Văn ngồi thiền, ta không ngồi”. Mặt khác, cũng là bậc giác ngộ nhưng Tuệ Trung lại khác với Bồ tát, vì Bồ tát thuyết pháp còn Tuệ Trung nói thực. Cái thực mà Tuệ Trung nói ở đây, trước hết là thực tướng của vạn pháp và có thể là thực trạng của đất nước, xã hội. Và nếu cái “thực” mà Tuệ Trung nói đến là thực trạng của đất nước thời kì đó thì cũng là đóng góp tích cực của ông vào lịch sử tư tưởng dân tộc. Phải chăng, nhờ phương pháp nhận thức đặc biệt ấy mà tác giả Lịch sử Phật giáo Việt Nam đã viết: “Điểm đáng chú ý là quan điểm nhận thức mang mầu sắc chủ nghĩa tương đối đó đã không dẫn Tuệ Trung đến sự phủ định hư vô chủ nghĩa. Mà ngược lại, dường như nhờ nó, ông bỏ mọi ràng buộc trong nếp nghĩ cũng như trong nếp sống”. Tuệ Trung không chỉ là một cư sĩ tinh thông về đạo mà còn là một vị tướng của nhà Trần. Việc ông tu Phật trước hết là giác ngộ cho mình, sau đó giác ngộ cho mọi người. Đó là lí do giải thích tại sao Tuệ Trung tu Thiền mà không đi đến phủ định hư vô chủ nghĩa. Tư tưởng của ông còn chỉ cho người học biết, nếu cứ ngồi tụng kinh, gõ mõ, niệm Phật mà không biết Phật là bản tính tự nhiên của mình thì không bao giờ giác ngộ được. Điều này cũng giống như “miệng nói không” mà muôn kiếp không thấy tính nên cũng chẳng có ích gì. Giác ngộ phải thực hành từ trong tâm chứ không tụng niệm suông, vì miệng tụng mà tâm không hành thì chỉ như huyễn, như hóa, như dòng điện thoáng qua rồi biến mất. Không chỉ phá chấp vào giới, Tuệ Trung còn phê phán người học do chấp vào hình thức thiền nên đã tự trói buộc mình. Trên tinh thần ấy, ông tuyên bố: “Ví gặp Cồ Đàm quen cóng lạnh, Tránh sao khỏi ngang hông một đạp”. Cồ Đàm phiên âm theo tiếng Phạn là Gautama, cũng để gọi tên Phật. Tuệ Trung đã mượn họ của Phật để chỉ những bậc tu hành đắc đạo. Tuệ Trung tu Phật nhưng không giữ giới, không cầu Phật, thậm chí còn tuyên bố nếu gặp Cồ Đàm thì cứ cho thẳng một đạp. Điều này có vẻ như mâu thuẫn và không chấp nhận được đối với một người tu Phật như Tuệ Trung. Nhưng theo Thiền tông, thì giáo lí, giới, thậm chí cả Phật cũng chỉ là phương tiện để đạt đến đích mà thôi. Khi ngộ rồi thì phương tiện (kể cả Phật) cũng phải bỏ, quẳng đi, đạp đổ. Quan niệm trên chỉ có ở những người giác ngộ viên mãn. Thời Trần không chỉ có Tuệ Trung mà cả Trần Thái Tông cũng cho rằng, khi đã hiểu được “Phật cũng không có, Tổ cũng không” thì chẳng cần trì giới, tụng kinh gõ mõ nữa. Nghĩa là giác ngộ phải tự tâm, tự mình chứ không cần đến bất cứ một thứ ngoại lực nào khác. Rõ ràng, ông công khai chống lại sự mê chấp của người học đạo, chống lại niềm tin có tính chất tôn giáo. Xung quanh quan niệm đã giác ngộ thì không chấp vào giới luật của Tuệ Trung, cũng có một số người cho rằng, như thế, Tuệ Trung không cần đến phương tiện, mà vẫn sang được “đáo bỉ ngạn” (đắc đạo). Hiểu như vậy là không đúng, vì Tuệ Trung giác ngộ là nhờ tu thiền. Trong quá trình dìu dắt học trò đến với đạo, Tuệ Trung đã sử dụng giáo lí và coi đó như một phương tiện. Khi ngộ rồi thì không cần đến phương tiện nữa. Đó là tư tưởng cơ bản trong triết lí giác ngộ của Tuệ Trung. Trên quan điểm giác ngộ ấy nên khi có người hỏi Tuệ Trung: Trước khi thiền thì lễ Phật trước hay lễ Tổ trước? Tuệ Trung đáp: “Tổ và Phật đều không lễ”, và ông đọc bài tụng: “Một phen phất áo bước thong dong, Tháp chủ trừng trừng, giận chẳng xong, Phật, Tổ rốt cùng đều chẳng lễ, Ngọc ngân khe sớm, ánh thu trong”. Thờ Phật hay thờ Tổ là do con người tự đặt ra, trên phương diện giác ngộ là chấp, vì tâm hướng ra bên ngoài. Việc Tuệ Trung không lễ Phật, không lễ Tổ phản ánh đúng bản chất của đạo. Mục đích nhận thức trong Phật giáo không phải để cải tạo thế giới bên ngoài, mà để phục vụ cho sự hướng nội, về với cái mà Tuệ Trung gọi là “cố hương”. Vì vậy, chấp và tin vào giáo lí một cách mù quáng con người sẽ thành nô lệ cho chính mình. Xuất phát từ quan niệm Phật ở trong ta, Phật không ở ngoài ta, Tuệ Trung khẳng định một quan điểm: giác ngộ chỉ có thể thực hiện được ngay trong cuộc sống trần tục, chứ không ở một thế giới nào khác. Muốn vậy, người tu hành hãy sống một cách bình thường và tìm sự giải thoát ở trong cái bình thường ấy. Quan điểm giác ngộ trên đã được tác giả Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1 viết: “Cái gọi là tư tưởng nhập thế của Tuệ Trung chẳng qua chỉ là cái quan niệm cho rằng, người tu hành có thể sống một cuộc đời trần tục, một cách tự do không hề bị ước thúc bởi một quy định nào của giới luật nhà chùa kể cả việc ăn chay, niệm Phật, trì giới nhẫn nhục và toạ thiền, vì họ thực hiện sự kiến tính thành Phật ngay trong cuộc sống trần tục”. Phá chấp trong Thiền học Tuệ Trung không chỉ thể hiện tư tưởng của một thiền sư giác ngộ, mà còn thể hiện quan điểm của con người thực tiễn. Nhận thức “ phá chấp ” như vậy, vừa phản ánh bản chất của đạo vừa chống lại sự si mê của người tu hành. Tư tưởng ấy nói lên rằng, không phải vì ăn thịt hay ăn cá mà người ta trở thành ô uế, nhưng chính vì sự say mê cố chấp, cuồng tín, lừa bịp, tham lam, tự đề cao mình, khinh rẻ người khác và ác ý, mới làm cho người ta trở thành ô uế. Hơn nữa, trong sách Sa di luật, quyển hạ, chương 5 cũng viết: “ Con người phải ăn để sống, có thực mới vực được đạo, tuỳ theo người ta cho thứ gì, thì ăn thứ ấy, cho nên phải quý trọng không được bỏ phí. (Mạnh y thực thụ, đạo do thực tồn, tuỳ thí đắc thực, cố nghi tích chi, bất khả điện khí)”. KẾT LUẬN: Phật tâm ca của Tuệ Trung Thượng sĩ là bài ca được thi hứng từ trong cảm nhận hỷ lạc chứng ngộ, cho nên nó không chỉ khai phóng từ một tâm hồn thi sĩ chất chứa ý thơ mà trên hết là ý chỉ thiền tông diệu hạnh tuyệt trác. Một tâm thức khai phóng nhiệm mầu hẳn nhiên là một áng văn chương đầy đủ chất thẩm mỹ nghệ thuật. Bài ca kết cấu ý tứ chặt chẽ, giọng ca vừa mang chất liệu âm hưởng thiền, vừa giàu hình anh văn học, thuật ngữ Phật học, đã đem đến cho người tiếp nhận một cái nhìn thoáng mở, nhất là mở cửa lòng. Chân lý vốn có mặt trong cuộc sống, chỉ cần thể nhập nguồn tâm, nhảy vào biển Đại giác, lên núi Trí tuệ, thảnh thơi ở đất Từ bi, hít thở làn gió trong thanh, nhân ái Tình người, tôi tin chắc rằng chúng ta đang sống trong suối nguồn hạnh phúc. Bài Phật tâm ca thực chất là bài ca Tâm Phật của mỗi người trong cuộc sống hiện thực nhiệm mâu với tất cả các giá trị tư tưởng vốn có của Thiền học Đại Việt thời bấy giờ. MỤC LỤC THAM KHẢO : 1. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB.Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1988. 2. Đại Việt Sử Ký toàn thư, Bản Kỷ, Bản in Nội Các Quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). 3. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam 1985 – 1992, nhà xuất bản: Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1993. 4. Theo số liệu điều tra công trình Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 5. Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1977. 6. Thơ Văn Lý – Trần (tập 3), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1978. 7. Thơ Văn Lý – Trần (tập 2 – quyển thượng), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1989.

“An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký

MỤC LỤC: I. DẪN NHẬP: II. NỘI DUNG: CHƯƠNG I. 1. Chánh văn: 2. Phiên âm: 3. Dịch nghĩa: III. NỘI DUNG: CHƯƠNG II: 1. tư tưởng bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường triều đại nhà Lý: 2. Bối cảnh lịch sử Phật giáo Việt Nam dưới thời nhà Lý: 3. Giới thiệu tác giả - tác phẩm: 4. Nội dung tư tưởng bài văn bia: 4.1. Lý duyên khởi - vô ngã là nguồn gốc của thiện pháp: 4.2. Vai trò và công hạnh của Lý Thường Kiệt đối với quốc gia và phát triển đạo pháp: 4.3. Tiến trình xây dựng và phát triển chùa Báo Ân núi An Hoạch 4.3.1 Nguyên nhân xây chùa: 4.3.2 Vị trí địa lý và kiến trúc chùa: 4.3.3 Mô tả toàn bộ quan cảnh chùa Báo Ân: 5. Ý nghĩa và giá trị Chùa Báo Ân đối với đời sống xã hội Đại Việt: IV. KẾT LUẬN: SÁCH THAM KHẢO: I. DẪN NHẬP: Phật giáo Việt Nam từ thời du nhập, Khi Phật giáo ăn sâu vào lòng người và phát triển đến mức độ cực thịnh, đó chính là Phật giáo thời Lý – Trần. Nhưng khởi đầu cho việc phát triển Phật giáo là Thời Lý. Nhằm mục đích để cho đời sau biết được nền Phật giáo thời ấy thì thông qua việc xây dựng chùa. Nhưng muốn chứng tích được lưu truyền thì việc tạo dựng văn bia là điều tất yếu. Những đóng góp của Phật giáo đối với quốc gia là một dấu ấn quan trọng, đáng nhớ. Chính vì thế, những vị vua triều Lý đặc biệt là Lý Thái Tổ, sau khi lên ngôi, việc đầu tiên là chủ trương ủng hộ Phật pháp với hành động thiết thực là lo xây dựng chùa chiền, dựng bia, lập tháp. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà sử thần Lê Văn Hưu khi nhận định đạo Phật thời Lý ông đã phát biểu: “Lý Thái Tổ lên ngôi hoàng đế mới hai năm, nhà tông chưa xây đàn, xã tắc chưa dựng, đã tạo tác tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, lại sửa sang các tự quán quốc lộ, độ hơn ngàn người làm tăng…” . Đồng thời sử gia Ngô Thì Sĩ thì nhận định như sau: “Vua Lý Thái Tổ thì sinh trưởng nhờ cửa Phật, Khánh Vân nuôi lớn, muốn kiến quốc đã sáng tạo nhiều chùa, cấp điệp độ chúng tăng, muốn đưa cả thế giới vào nước Phật” . Như thế, cũng đủ biết Phật giáo trong giai đoạn này rất quan trọng, triều đình chủ trương lấy tư tưởng Phật giáo cai trị đất nước. Mục đích, muốn giữ vững biên cương lãnh thổ cũng như xây dựng đời sống văn hóa tâm linh, hướng người dân đến cuộc sống an lạc, thì mối quan hệ giữa “Đất vua – Chùa làng – Phong cảnh Bụt” càng không thể tách rời. Để lưu giữ những gì tốt đẹp, đáng trân trọng ở thời đại nhà Lý, thì sự xuất hiện của văn bia là điều cần thiết không thể thiếu. Điển hình là bài “An Hoạch Sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường, đã góp phần làm sáng tỏ giá trị cũng như tư tưởng Đại Việt vào thời vua Lý Nhân Tông. Qua đó, nội dung bài văn bia cũng nêu lên tinh thần hộ quốc an dân của nhà quân sự lỗi lạc Lý Thường Kiệt, với cuộc chinh phạt Chiêm Thành và chiến thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt (1077) làm rạng danh một anh hùng dân tộc, đồng thời cũng là tấm gương soi sáng cho hậu thế. Với khả năng và sức học còn thiển cận, người viết đã chọn đề tài khảo sát bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” để trình bày trong tiểu luận của mình. Mong rằng qua bài viết này có thể đóng góp một số kiến thức nhỏ về một tác phẩm mang dấu ấn trong lịch sử nước nhà. II. NỘI DUNG: CHƯƠNG I. 1. Chánh văn: 安 荻 山 报 恩 寺 碑 记 朱 文 常 昭 昭 乎 妙 理 湛 寂 。照 物 物 而 物 不 相 侵 。荡 荡 乎 迥 彼 真 空 。纳 尘 尘 而 尘 莫 混 迹 。是 亦 不 谓 幽 深 宏 远 哉 。 佛 之 有 金 色 。人 之 有 佛 性 。而 不 能 自 觉 自 悟 也 。人 之 欲 征 者 。必 资 善 以 证 焉 。 所 可 参 者 。莫 大 于 像 法 。像 法 之 所 崇 莫 崇 于 净 剎 。 故 仿 优 阗 阿 欲 之 芳 踪 。挈 摩 腾 法 兰 之 遗 迹 。 今 有 太 尉 李 公 佐 皇 越 第 四 帝 。授 推 诚 。叶 谋 。保 节 。宁 正 。佐 理 ,翊 戴 功 臣 。 守 尚 书 令 。 开 府 。 钦 同 三 司 。 入 内 内 侍 省 。都 都 知。捡 校 太 慰 。兼 御 史 大 夫 遙 授 诸 镇 节 度 使 。同 中 书 门 下 平 章 事 。上 柱 国 。天 子 义 弟 。 开 国 上 将 军 越 国 公 。 食 邑 一 万 户 .食 实 封 四 千 户 。图 监 大 节 。言 受 缀 旒 。信 乎 六 尺 之 孤 可 托 。百 里 之 命 可 寄。 厥 后 乃 XX 于 师 。 北 征 邻 国 。西 讨 不 庭 。善 七 纵 七 擒 之 朕 敌 。非 汉有 韩 彭 之 功 。岂 齐 有 管 晏 之 烈 唯 公 辅 君 。国 家 殷 富 多 历 年 。所 可 垂 臣 道 千 古 之 熙 绩 也 。 至 壬 戌 之 岁 。皇 帝 特 加 清 化 一 军 。赐 公 封 邑 。群 牧 响 风 。万 民 慕 德 。正 县 西 南 有 山 ,高 而 且 大。名 安 获 。所 产 美 石 。其 石 公 家 之 贵 物 。莹 莹 色 如 蓝 玉 。青 青 质 拟 生 烟 然 后 凿 而 为 器 。其 器 也 。凿 为 响 磬 。扣 处 而 万 里 流 音 。月 作 铭 碑 。遗 文 而 千 龄 盖 固 。是 则 太 尉 李 公 祇 差 侍 者 甲 首 武 承 叨 一 名 。领 九 真 乡 人 也 。搜 其 山 。采 其 石 。十 有 九 年 。实 践 节 操 民 就 焉 。 战 战 而 若 履 轻 冰 恪 勤 特 。盈 ; 己 清 焉 。 兢 兢 而 类 乘 朽 索 。 自 省 曰 。 量 器 微 而 裁 重 本 智 小 而 煤 大 。积 尖 纤 而 岂 拂 。五 岳 渐 成 。注 滴 水 而 无 休 。四 溟 转 溢 。况 蒙 究 锡 之 踰 涯 以 何 能 之 报 效 。贤 愚 列 次 。贫 富 有 宜 。所 见 于 斯 处 者 。芟 夷 翠 野。草 建 仁 祠。号 为 报 恩 之 寺 也。端 伟 能 仁 之 相。次 列 菩 萨 之 容 。颜 丽 双 南。体 完 绘 事 。经 菅 于 己 卯 炎 天 。庆 成 於 庚 辰 噢 景 。其 屋 乃 臺 旦 借 丹 青 点 缀 。百 年 延 气 象 芬 芳 。前 依 赤 帝 之 方 。境 列 古 战 之 县 。省 分 攸 耿 。缘 茂 如 云 。后 联 翔 凤 之 嵎 。旁 耸 白 龙 之 岫 。橫 注 清 流 。势 成 一 带 。左 达 隅 XX 之 表 。之 鬲 分 为 之 间 .遙 拂 扶 桑 敬 宾 出 日 。 右 通 昧 谷 之 都 。逼 镇 尧 岳 之 巍 。夤 饯 斜 晖 隙 临 疏 牖 。双 影 特 涌 尖 丘 。桥 外 花 香。十 里 若 飘 浓 麝 。 但 愚 乃 学 文 眛 浅。胜 事 何 穷 。滥 矢 芜 词 。以 贻 铭 曰 。 空 门 虚 寂 。 俗 累 罕 缨 。 至 小 何 轻 。 吉 凶 由 己 。 祸 福 易 迎 。 尖 途 则 背 。 善 里 归 情 。 纤 尖 岂 让 。 山 岳 渐 成 。 滴 水 不 弃 。 河 海 相 盈 。 若 能 机 要 。 名 器 何 亏 。 贤 愚 列 次 。 贫 富 所 宜 。 明 恩 罔 极 。 何 以 报 之 。 强 芟 翠 野 。 草 建 仁 祠 。 前 分 井 亩 。 后 白 龙 嵋 。 右 通 尧 岫 。 左 达 嵎 夷 。 双 丘 甃 石 。 四 照 芳 花 。 次 列 菩 夹 。 中 坐 释 迦 。 体 完 禅 绘 。 凛 烈 不 磨 。 四 回 胜 事 。 一 境 繁 华 。 募 修 像 法 。 永 保 邦 家 。 名 畱 今 古 。 功 著 迩 遐 。 节 彼 山 兮 碧 龙 巅 。 被 美 石 兮 尤 至 坚 。 莹 莹 滑 兮 禀 自 然 。 青 青 质 兮 拟 生 烟 蒙 皇 锡 兮 十 九 年 。 讲 法 场 兮 仿 优 阗 。 所 庶 几 兮 生 日 迁 。 山 比 寿 兮 永 何 骞 。 沐 慈 恩 兮 福 果 圆 。 至 仁 道 兮 比 尧 天 。 纪 于 铭 兮 百 代 传 。 从 XX 言 兮 愧 后 贤 。 署 敏 书 郎 管 俱 御 府 :同 中书 健 编 修 :兼 守 清 化 寨 九 真 县 公 事 。 朱 文 常 述 。 2. Phiên âm: An Hoặch sơn Báo Ân tự bi ký Chiêu chiêu hồ diệu lý trạm tịch, chiếu vật vật nhi vật bất tương xâm; đãng đãng hồ quýnh bỉ chân không, nạp trần trần hỗn tích. Thị diệc bất vị u thâm hoằng viễn tai! Phật chi hữu kim sắc, nhân chi hữu Phật tính nhi bất năng tự giác tự ngộ dã. Nhân chi dục chứng giả, tất tự thiện dĩ chứng yên. Sở khả tham giả mạc đại ư tượng pháp. Tượng pháp chi sở sùng, mạc sùng ư tịnh sát. Cố phỏng Ưu điền, A dục chi phương tung, kiết Ma đằng, Pháp lan chi di tích. Kim hữu Thái úy Lý công, tá Hoàng Việt đệ tứ đế, thụ suy thành, hiệp mưu, bảo tiết, thủ chính, tá lý, dực đời công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ, khâm đồng tam ty, nhập nội nội thị sảnh, đô đô tri, kiểm hiệu thái úy kiêm ngự sử đại phu, giao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp nhất vạn hộ, thực thực phong tứ thiên hộ. Đồ lâm đại tiết, ngôn thụ xuyết lưu. Tín hồ lục xích chi cô khả thác; bách lý chi mệnh khả ký. Quyết hậu nãi thệ vu sư, Bắc chinh lân quốc; Tây thảo bất đình. Thiện thất túng thất cầm chi thắng địch. Phi Hán hữu Hàn, Bình chi công; khởi Tề hữu Quản, Yến chi liệt. Duy công phụ quân, quốc gia ân phú đa lịch niên, sở khả thùy thần thiên cổ chi hi tích dã. Chí Nhâm tuất chi tuế, hoàng đế đặc gia Thanh hóa nhất quân, tứ công phong ấp. Quân mục hướng phong; vạn dân mộ đức. Chính huyện Tây nam hữu sơn, cao nhi thả đại, danh An hoạch. Sở sản mỹ thạch. Kỳ thạch công gia chi quý vật. Oánh oánh sắc như lam ngọc; thanh thanh chất nghĩ sinh yên. Nhiên hậu lạc nhi vi khí. Ký khí tạc vi hưởng khánh, khấu xứ nhi vạn lý lưu âm; dụng tác minh bi, di văn nhi thiên linh cái cố. Thị tắc Thái úy Lý chỉ sai thị giả Giáp thủ Vũ Thừa Thao nhất danh, lĩnh Cửu chân hương nhân sưu kỳ sơn, thái kỳ thạch, thập hữu cửu niên. Thực tiễn tiết tháo, dân tựu chiến chiến nhi nhược ly khinh băng; khác cần đặc doanh, kỷ thanh căng căng nhi loại thừa hủ sách. Tự tỉnh viết: lượng khí vi nhi tài trọng, bản tiểu nhi mưu đại. Tích trần tiêm nhi khởi phất, ngũ nhạc tiệm thành; trú thuỷ nhi vô hưu, tứ minh chuyển dật. Huống mông cứu tích chi du nhan hà năng chi báo hiệu. Hiền ngu liệt thứ; bần phú hữu nghi. Sở kiến xứ giả, sam nhi thúy dã. Thảo kiến nhân từ, hiệu vi Báo ân chi tự dã. Đoan năng nhân chi tướng; thứ liệt Bồ tát chi dung. Nhan lệ song nam, thể hoàn hội sự. Kinh doanh ư kỷ mão viêm thiên: khánh thành ư Canh thìn áo cảnh ốc nãi nhất đán tá đan thanh điểm xuyết. Bách niên diên khí tượng phân phương. Tiền y xích đế chi phương, cảnh liệt cổ chiến chi huyện, tỉnh phân du cánh duyên mậu như vân; hậu liên. Tường phượng chi ngung, bàng tủng Bạch Long chi tụ, hoành trú thanh lưu, thế thành nhất đời. Tả đạt Ngung chi biểu, chi cách phân vi chi gian dao phất Phù tang, kính tân xuất nhật hữu thông muội cốc chi đô, bức trấn Nghiêu nhạc chi nguy, di tiễn tà huy khích lâm sơ dũ. Môn gian thạch thứu, song ảnh đặc dũng tiêm khâu; kiến ngoại hoa hương, thập lý nhược phiêu nùng xạ. Đãn ngu nãi học văn muội thiển, thắng sự hà cùng, lạm thỉ vu từ, dĩ di minh viết: Không môn hư tịch, Tuy lụy hãn anh, Cực vi nhi hiển, Chí tiểu hà khinh. Cát hung do kỳ, Họa phúc dị nghinh, Trần đồ tắc bội, Thiện lý quy tình, Tiệm trần khởi nhượng Sơn nhạc tiệm thanh Chích thủy bất khí Hà hải tương doanh Nhược năng cơ yếu, Danh khí hà khuy Hiền ngu liệt thứ Bần phú sở nghi Minh ân võng cực, Hà dĩ báo chi. Cưỡng sam thúy dã, Thảo kiến nhân từ Tiền phân tỉnh mẫu, Hậu bạch long mi. Hữu thông Nghiêu thụ, Tả đạt Ngung di. Song khâu thứu thạch, Tứ chiêu phương hoa. Thứ liệt Bồ tát Trung tọa Thích Ca Thể hoàn thần hội, Lẫm liệt bất ma. Tứ hồi thắng sự, Nhất cảnh phồn hoa, Mộ tu tượng pháp Vĩnh bảo bang gia. Danh lưu kim cổ, Công trứ nhĩ hà. Tiệt bỉ sơn hề bích long điên, Bỉ mĩ thạch hề vưu chí kiên Oánh oánh hoạt hề bẩm tự nhiên, Thanh thanh chất hề nghĩ sinh yên. Mộng hoàng tích hề thập cửu niên Giảng pháp trường hề phỏng Ưu điền, Sở thứ cơ hề thánh nhật thiên, Mộc tứ ân hề phúc qảu viên. Chi nhân đạo hề tỉ Nghiêu thiên, Kỷ vu minh hề bách đại truyền, Tùng tỏa ngôn hề quy hậu hiền. Thư mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm thủ Thanh Hóa trại, Cửu Châu 3. Dịch nghĩa: Bài ký bia chùa Báo Ân núi An Hoạch Chói ngời thay diệu lý, lặng lẽ soi mọi vật mà mọi vật chẳng lấn át nhau. Lồng lộng thay cái chân không vẳng lặng kia, thu nạp mọi cảnh mà chẳng cảnh nào lẫn với cảnh nào. Đó chẳng phải là sâu xa lớn rộng hay sao! Phật có sắc vàng như ngườ ta có Phật tính, nhưng không mấy ai tự giác ngộ được. Vì vậy, người muốn chứng quả phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp mà sùng thượng tượng pháp không gì bằng chùa chiền. Cho nên, bắt chước dấu vết thơm tho của Ưu điền, A Dục phỏng theo tung tích sót lại của Ma Đằng. Pháp Lan. Nay có Thái úy Lý công giúp vua thứ tư triều Lý được trao chức: Suy thành, hiệp mưu, bảo tiết thủ chính, tà lý, dực đời công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ khâm đồng tam ly, nhập nội nội thị sảnh đô đô tri, kiểm hiệu thái úy, kiêm ngự sử đại phu, dao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, thực thực phong bốn nghìn hộ. Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm. Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả. Đâu phải riêng nhà hán có công quân Hàn, Bành, nước Tề có sự nghiệp Quản, Ân. Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh vượng nhiều năm. Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy. Đến năm Nhâm tuất (1082), nhà vua đặc biệt ban thêm quân Thanh Hóa cho ông làm phong ấp, chân mục đều ngưỡng mộ phong thanh, muôn dân đều mến đức chính. Ở phía Tây nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An hoạch sản xuất nhiều đá đẹp, đó là sản vật quí giá của mọi người. Sắc ông ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì mãi nghìn đời. Thế là Thái úy công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm. Tiết tháo được thể nghiêm nên dân qui phụ, vậy mà vẫn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Tự xét mình rằng lượng khí nhỏ mà quyết đoán việc quan trọng; tài trí hèn mà gánh vác việc lớn lao. Chứa hạt bụi nhỏ mà không chì, sẽ thành năm núi lớn; rót từng giọt nước mà không nghỉ, sẽ tràn bốn biển khơi. Phương chi lại đội ơn vua ban cho vượt bậc, biết lấy gì báo đền. Cho nên, tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân. Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ tát, sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành. Mái tường rực rỡ là nhờ một sớm nét đan thâm điểm xuyết, trăm năm khí tượng, mãi mãi thơm tho. Phía trước hướng về phương Nam, giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường phượng, bên cạnh vút đồi Bạch long, giòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi cõi ngung di, trong khoảnh giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội cốc, trấn át ngọn núi cao, tiễn ánh tà dương thoáng lướt qua cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi; hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng. Tôi học tài thiển lậu, thắng sự nào hay, lạm viết lời quê, để lưu hậu thế. Minh rằng: Cửa không vắng lặng, Tục lụy ít gần gũi. Cái tâm thể cực mờ mà cực rỡ, Rất nhỏ nhưng nào có nhẹ. Lành dữ đều bởi mình, Họa phúc đều dễ đón. Phải nên xa lánh con đường bụi bặm, Hướng về làng xóm thiện duyên. Há dám khước từ từng hạt bụi nhỏ, Tích mãi sẽ trở thành non cao. Đâu nỡ bỏ rơi từng giọt nước Chứa dần sẽ tràn đầy song bể. Nếu như hiểu rõ điều cơ yếu, Thì danh và khí có sút kém đâu. Hiền và ngu đều lần lượt góp phần, Giàu hay nghèo đều thích nghi cả. Ơn sáng không cùng, Biết lấy gì báo đáp Dẫy cỏ san đất, Bắt đầu dựng một ngôi chùa. Phía trước hướng về đồng ruộng dọc ngang, Phía sau quay về đồi Bạch long Bên hữu thông với non Nghiêu, Bên tả suốt tới cõi ngung di. Núi đá hai gò, Hoa thơm bốn phía rực rỡ. Phía dưới đặt tượng Bồ tát, Chính giữa đặt tượng Phật Thích Ca. Tượng Phật đã hàon thành, tranh Phật đã vẽ xong, Tinh thần lẫm liệt không bao giờ phai mờ. Xung quanh toàn cảnh đẹp, Khắp một cõi phồn hoa, Tu sửa tượng pháp, Mãi mãi gìn giữ nước nhà. Tiếng tăm để mãi xưa nay, Công tích rạng rỡ xa gần. Ngọn núi chót vót kia là ngọn núi Bích long, Có nhiều đá quý đã dẹp lại bền Sắc đá lóng lánh, đó là đặc tính tự nhiên, Chất đá xanh xanh như khói mới bốc lên. Đội ơn vua đã mười chín năm. Cầu đảo ở pháp đường, bắt chước Ưu điền, Ngày tháng của thánh nhân ngõ hầu đổi dời, Mong cho tuổi như núi non, không bao giờ sút kém, Tắm gội từ ơn, phúc quả vẹn tròn. Đạo chí nhân sánh với trời Nghiêu. Ghi ở bài minh này trăm đời lưu truyền, Lời tủn mủn, sợ thẹn với các bậc hiền đời sau. Dịch thơ: Cửa không vắng lặng, Tục tụy vào vương. Nhỏ, nhưng rất nặng, Kín, vẫn rõ ràng. Mình gây lành dữ, Họa phúc dễ mang. Đường trần quay gót, Xóm thiện bước sang. Bụi nhỏ tích lại, Thành ngọn núi vàng. Giọt nước chứa lại, Sông bể mênh mang. Nếu hay cơ yếu, Danh, khí trọn đường. Hiền, ngu lần lượt, Không kể giàu sang. Lấy gì báo đáp, Từ ơn khôn lường. Dẫy cỏ san đất, Dựng ngôi Phật đường. Trước, ruộng ngang dọc, Sau, Bạch long cương. Hữu thông núi thẳm Tả tới Phù tang. Hai gò núi đá, Hoa thắm ngát hương. Dưới tượng Bồ tát, Giữa tượng Phật vàng. Tượng sơn tranh vẽ, Lẫm liệt khác thường. Bốn phen việc tốt, Một cõi huy hoàng. Tu sửa tượng pháp, Nhà nước vững vàng. Tiếng thơm muôn thưở Công chói muôn phương. Ngọn núi chót vót chừ là ngọn Bích long, Đá kia đá đẹp chừ lại thêm bền. Sắc long lanh chừ tinh bẩm tự nhiên, Chất xanh xanh chừ chừ khói mới lên. Đội ơn vua chừ đã mười chín niên, Cầu pháp đường chừ bắt chước Ưu điền, Ngày thánh ngõ hầu chừ đương độ biến thiên. Mong thọ như non chừ mãi mãi bình yên, Tắm từ ân chừ phúc quả vẹn tuyền. Đạo chí nhân chừ sánh với Nghêu thiên. Ghi bài minh chừ muôn thưở lưu truyền, Lời quê vụng về chừ thẹn với hậu hiền. Chu Văn Thường giữ chức Thư mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm coi việc quan huyện Cữu chân, trại Thanh Hóa, soạn thuật III. NỘI DUNG: CHƯƠNG II: 1. Nội dung tư tưởng bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường triều đại nhà Lý: 2. Bối cảnh lịch sử Phật giáo Việt Nam dưới thời nhà Lý: Phật giáo thời Lý là một thời đại mở đầu cho sự cực thịnh của Phật Giáo Đại Việt. Từ khi vua Lý Thái Tổ mở đầu cho triều đại nhà Lý thì Ngài đã cho xây dựng rất là nhiều ngôi chùa, từ khi kinh đô cho đến thị thành, thôn quê, đều ban sắc lệnh xây dựng các ngôi tự viện. Thời đó vua, quan, quân trên dưới một lòng. Nên tới triều đại vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128) thì có Quốc Công Lý Thường Kiệt. Tuy lúc này vua Lý Nhân Tông khi lên ngôi còn rất nhỏ, nhưng được sự ủy nhiệm của Thái Hậu Ỷ Lan, Ngài đã ra sức bảo vệ gian sơn nhà Lý. Sau khi bình loạn xong thiên hạ Ngài liền nhớ ơn đến vua và muốn đất nước được thái bình và vua được trị vì lâu dài mà ông đã cho người xây dựng chùa Báo Ân tại núi An Hoạch. Để ghi lại móc lịch sử thời thịnh trị của nhà Lý Vì Phật giáo luôn song hành với dân tộc trong bối cảnh lịch sử nước nhà không chỉ độc lập, tự chủ trên cương giới lãnh thổ mà còn phát triển, thành tựu về mọi mặt. Các vua triều Lý đã thấm nhuần triết lý Phật giáo, và áp dụng triết lý ấy vào việc trị an xã hội một cách thiết thực, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Về phương diện văn hóa, họ dựng nên được cả một triều đại thuần từ, lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị. Theo Hoàng Xuân Hãn viết trong sách Lý Thường Kiệt: “Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là ảnh hưởng của đạo Phật”. Với những nhà chính trị lấy đức từ bi làm căn bản, và những người xuất gia biết lo giáo dục sự thực hành đạo từ bi trong dân chúng, đời sống xã hội thời Lý trở thành thuần từ và đẹp đẽ. “Đạo đức và từ bi không làm cho dân nghèo nước yếu; trái lại, những yếu tố này đã tạo nên phú cường” . Vì những người lãnh đạo đất nước lúc bấy giờ, không chỉ biết chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập cho nước nhà, mà còn biết sùng mộ Phật pháp, tạo điều kiện cho Phật giáo dễ dàng đến với quần chúng nhân dân. Về bia minh của đời Lý, theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang có ghi lại rất nhiều, trên dưới mười bài. Trong đó, đặc biệt có tới hai bài nói về danh tướng tài ba Lý Thường Kiệt là: “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường và bài “Ngưỡng sơn Linh Xứng tự bi minh” của thiền sư Pháp Bảo soạn. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường soạn, dưới thời vua Lý Nhân Tông, để qua đó thấy được vai trò và công hạnh của Lý thường Kiệt đối với quốc gia và đạo pháp. Với những chiến thắng Chiêm Thành và giặc Tống, đã làm rạng danh một thời, để rồi tiếng thơm vẫn còn lưu mãi đến ngàn sau. 3. Giới thiệu tác giả - tác phẩm: Tác giả của bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” là do Chu Văn Thường soạn. lúc bấy giờ ông đang giữ chức Thư Mẫu thư lang, Quản câu Ngự Phủ, Đồng trung thư Kiện Biên tu, Kiếm coi việc quan huyện Cửu Châu, trại Thanh Hóa. Ông được sự ủy nhiệm của Lý công Thường Kiệt mà khắc bản văn Bia ở chùa Báo Ân núi An Hoạch để lưu truyền cho đời sau biết vậy. Tác phẩm này là một tấm bia được dựng ở chùa Báo Ân núi An Hoạch, trấn Thanh Hóa. Bài văn bia nhằm ghi lại rõ công trạng của Lý Thường Kiệt và sự kiện xây dựng chùa Báo Ân, để lại cho hậu thế biết đến mà noi gương theo. Cũng để lại cho đời sau biết sự trung quân ái quốc của một vị công thần đối với đất nước Đại Việt dưới thời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1128). Thông qua bài văn bia, chúng ta cũng có thể biết Chu Văn Thường tuy là một vị quan cư sĩ, nhưng ít nhiều ông cũng đã thấm nhuần giáo lý nhà Phật một cách sâu sắc. Mục đích ông viết bài bia này là ghi lại công trạng và phẩm hạnh của Lý Thường Kiệt đã có công giúp vua Lý Nhân Tông trong việc cai trị đất nước cũng như phát triển đạo pháp. Tác phẩm này có giá trị nhân văn rất cao, qua đó chúng ta thấy giáo lý Phật giáo là cơ sở căn bản để xây dựng nhân cách con người. Mỗi cá nhân áp dụng giáo lý ấy, là góp phần làm cho đất nước yên bình, nhân dân ấm no hạnh phúc. 4. Nội dung tư tưởng bài văn bia: 4.1. Lý duyên khởi - vô ngã là nguồn gốc của thiện pháp: Theo văn bia để lại .Phật giáo vào thời đại nhà Lý hầu như trở thành quốc giáo và là hệ tư tưởng ấy đã được thể chế triều đình tôn kính, áp dụng trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước và bảo vệ thành quả đạt được với ý thức tự chủ, độc lập sau một thời gian dài bị giặc phương Bắc đô hộ. Cái lý “Duyên khởi - vô ngã” là nguồn gốc sinh ra các pháp lành, đã đi vào đời sống hiện thực, nó đã góp phần hóa giải các mâu thuẫn giữa các tầng lớp trong xã hội. Lý lẽ diệu huyền của vạn pháp, đã được tác giả đề cập ngay ở đầu đề của bài văn bia: “Chói ngời thay diệu lý, lặng lẽ soi mọi vật mà mọi vật chẳng lấn át nhau. Lồng lộng thay cái chân không vắng lặng kia, thu nạp mọi cảnh mà chẳng cảnh nào lẫn với cảnh nào.Đó chẳng phải là sâu xa rộng lớn hay sao?”. Cái thể tánh vắng lặng hư vô của vạn pháp chính là “tịch tịnh”, lặng lẽ nhưng vẫn chiếu sáng khắp hết mọi vật, không bị chướng ngại bất cứ pháp nào. Đó chính là tâm thanh tịnh hư vô, tâm vô ngã vị tha bình đẳng đối với tất cả các pháp, hay nói cách khác đó chính là “Phật tánh”. Chúng sanh do mê mờ nên không thấy được Phật tánh của chính mình, và càng không biết đầu mối của tất cả thiện pháp chính là “lý duyên khởi – vô ngã”. Cho nên nói: “Phật có sắc vàng như người ta có Phật tánh, nhưng không mấy ai tự giác ngộ được. Vì vậy, người muốn chứng quả phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp mà sùng thượng tượng pháp không gì bằng chùa chiền”. Có lẽ vì thế mà thời nhà Lý, từ vua, quan cho đến dân thường điều thấm nhuần tư tưởng ấy. Đồng thời noi gương các vị thiền sư cũng như các vị vua sùng mộ Phật pháp ở Trung Quốc và Ấn Độ như: Ma Đằng, Pháp Lan hay vua Ưu Điền, A Dục,v.v… Cho nên, việc khuyến khích xây dựng chùa chiền tạo phước của nhà Lý là việc làm trở thành nghiễm nhiên lúc bấy giờ. Một trong những vị tướng lừng danh với những chiến công hiển hách như Lý Thường Kiệt, trong buổi đất nước thanh bình cũng trở về nương tựa Phật pháp, bằng hành động thiết thực là phát khởi xây dựng chùa chiền tạo phước cho bá tánh, mà chùa Báo Ân ở núi An Hoạch là một điển hình. 4.2. Vai trò và công hạnh của Lý Thường Kiệt đối với quốc gia và phát triển đạo pháp: Theo lịch sử cho chúng ta biết là Lý Thường Kiệt là một vị khai quốc công thần của nhà Lý. Trên thì ông hết mực trung thành với vua, dưới thì ông thương dân như con vậy. Ông là một vị tướng tài giúp cho vua Lý Nhân Tông giữ yên bờ cõi, ông cũng được dân chúng rất là kính trọng. Sau khi bình định được thiên hạ ông hạ hết tâm, hết sức cùng triều đình giúp cho dân luôn có cuộc sống no đủ, sung túc. Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, tự là Thường Kiệt, sinh năm (1019 – 1105) tại làng An Xá, huyện Quảng Đức, khu vực phía Nam hồ Tây trong thành Thăng Long. Con của Ngô An Ngữ, gia đình ông nối đời làm quan, nhiều mưu lược, có tài làm tướng, vì có công lớn với triều đình nên được ban quốc tính, đổi lấy họ của vua nhà Lý nên gọi là Lý Thường Kiệt. Lý Thường Kiệt tinh thông thao lược, lại có tài thơ văn. Năm 23 tuổi đã được bổ làm Hoàng môn chi hậu (tức thái giám), rồi được thăng đến chức Thái úy, làm quan dưới ba triều vua nhà Lý (Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông). Ông có công rất lớn trong việc xây dựng đất nước cũng như việc đánh Tống, bình Chiêm. Lý Nhân Tông từng ban cho ông hiệu Thiên tử nghĩa đệ (em kết nghĩa với vua), và theo bài văn bia ở chùa Báo Ân núi An Hoạch, Chu Văn Thường có nói ở thời Lý Nhân Tông ông giữ chức: “Suy thành, hiệp mưu, bảo tiết thủ chính, tá lý, dực đới công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ khâm đồng tam ty, nhập nội nội thị sảnh đô đô tri, kiểm hiệu thái úy, kiêm ngự sử đại phu, dao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân…”. Có thể nói, Lý Thường Kiệt là một danh tướng có công trạng rất lớn đối với nhà Lý, đặc biệt là vua Lý Nhân Tông. Vì sau khi Lý Thánh Tông mất, Lý Nhân Tông mới 6 tuổi. Tất cả việc triều chính cho đến ngoại giao, nguyên phi Ỷ Lan giao cho ông trông coi.“Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm”. Dù được triều đình trọng dụng như thế, nhưng ông không tỏ ra kêu ngạo và ỷ quyền, một mực trung thành, đem hết tài đức ra để phục vụ cho đất nước.Trong quân sự, Lý Thường Kiệt là bậc đại danh tướng, là linh hồn của những chiến công lớn nhất lịch sử nước nhà ở thế kỷ XI; Trong chính trị, ông là đấng đại danh thần, là chỗ dựa tin cậy và vững chắc của nhà Lý; Trong lịch sử văn học, ông là cây đại bút, tác giả của Nam quốc sơn hà – áng hùng thi có giá trị thiêng liêng như bản tuyên ngôn lần thứ nhất của nước nhà. Đối với đạo pháp, ông là người có công chỉ đạo, trông coi việc xây cất chùa Linh Xứng ở Ngưỡng sơn, huyện Hà Trung và chùa Báo Ân ở trấn Thanh Hóa. Nương giáo lý Lục Độ của Phật giáo mà đối nhân xử thế, làm cho mọi người hết sức nễ phục. Thái úy tánh tình khoan hòa, nhân từ giản dị, đổi dời phong tục nào có quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì ôn hòa. Chính giáo lý nhà Phật, khiến cho ông trong suốt thời gian trấn nhậm ở Thanh Hóa đã áp dụng vào việc hành xử chấp pháp một cách thành công, dân chúng nương đó mà an bình, xã hội nhờ thế ổn định kỷ cương, đúng như trong bài văn bia ở chùa Linh Xứng Nguyễn Công Bật đã nói: “…Thái úy có tính khoan hòa giúp đỡ quần chúng, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên được nhân dân kính trọng. Dùng oai vũ để trừ bọn gian ác, đem minh chính để giải quyết ngục tù, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng cả đến người già nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó được an thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước, cái thuật yêu dân, sự đẹp tốt đều ở đây cả”. Nhờ thế, lòng dân tin vào chính quyền, có nghĩa là tin vào giáo lý đức Phật. Tại đây, con người mới hết lòng phục vụ đất nước, hết lòng phụng sự đạo pháp. Xây dựng chùa tháp, đúc chuông đồng, thờ Phật nhằm thể hiện tấm lòng vì dân vì nước. Và như thế, đến năm Nhâm Tuất (1082), nhà vua đặc biệt ban thêm cho thái úy quận Thanh Hóa làm phong ấp, chân mục đều ngưỡng mộ phong thanh, muôn dân đều mến đức của ông. Ở đây, ông phát triển Phật pháp với công trình xây dựng ngôi chùa lấy tên là chùa Báo Ân trên núi An Hoạch, với tâm nguyện là muốn đền đáp tứ ân. 4.3. Tiến trình xây dựng và phát triển chùa Báo Ân núi An Hoạch 4.3.1 Nguyên nhân xây chùa: Vì muốn cho người có chỗ sùng tin và nương theo để đến chổ chứng ngộ thì tượng pháp là một đều tất yếu, tượng pháp thì không gì bằng chùa chiền. Cho nên Lý công mới noi theo gương vua Ưu Điền, vua A Dục và phỏng theo tung tích của Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan mà Ngài cho người đi tìm nơi có phong thủy tốt mà cho xây dựng chùa. Khi đến núi An Hoạch thấy địa thế tốt nên cho xây dựng chùa Báo Ân. Cũng nhằm noi gương các vua triều ta mà cho xây dựng chùa Báo Ân để cũng nhằm Báo Ân vua đã thương tưởng và trọng dụng Ngài. Với đức tính khiêm nhường, Lý Thường Kiệt một danh tướng tài ba, đức độ hơn người mà vẫn luôn dè dặt, như trong bài văn bia có ghi: “…vậy mà vẫn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Tự xét mình lượng khí nhỏ mà quyết đoán việc quan trọng; tài trí hèn mà gánh vác việc lớn. Chứa hạt bụi nhỏ mà không chì, sẽ thành năm núi lớn; rót từng giọt nước mà không nghỉ, sẽ tràn bốn biển khơi. Phương chi lại đội ơn vua ban cho vượt bật, biết lấy gì báo đền…”. Cảm thấy ân huệ của vua ban thật là lớn lao đối với mình, Lý Thường Kiệt chẳng biết làm thế nào cho xứng, ông bèn sai thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao xuất lĩnh người ở hương Cửu Chân, hướng về phía Tây Nam huyện dò tìm núi đá khai khẩn lập nghiệp. Cũng nhằm noi gương các vua triều ta mà cho xây dựng chùa Báo Ân để cũng nhằm Báo Ân vua đã thương tưởng và trọng dụng Ngài. 4.3.2 Vị trí địa lý và kiến trúc chùa: Vùng đất ở Thanh Hóa là một vùng đất thiên có rất nhiều khoáng sản quý. Như núi An Hoạch là một vùng đất có nhiều đá quý. Theo như bia khắc thì: “Thái úy Lý công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu Chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm. Vì ở phía Tây Nam huyện có một quả núi lớn cao gọi là núi An Hoạch. Sản xuất nhiều đá đẹp, đó là sản vật quý giá của mọi người. Sắc óng ánh như chiếc ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì còn mãi nghìn đời. Vùng núi An Hoạch là vùng núi linh thiêng và phong cảnh đẹp “phía Nam thì giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường Phượng, bên cạnh vút đồi Bạch Long, dòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi Ngung Di, trong khoảng giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù Tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội Cốc, trấn át ngọn núi cao, tiến ánh tà dương thoáng lượt qua khe cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi; hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng”. Đây đúng là một vùng đất thiên cũng như bức tranh sơn thủy. Với âm hưởng như chốn thiền môn thanh tịnh nên Lý Thường Kiệt đã cho người ra công xây dựng chùa Báo Ân tại núi An Hoạch. Chùa với kiến trúc mang âm hưởng của Kinh Đô Thăng Long, cùng hòa nguyện với phong cảnh hữu tình tạo nên không gian của một cảnh thiền lâm tịch tĩnh. “ Cho nên tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân. Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ Tát, sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành” Chùa Báo Ân có lối kiến trúc rất độc đáo, hạ đường chỉ là một nhà tranh, nhưng thượng đường lại lợp ngói. Bên trong có một pho tượng Phật rất xưa, cao gần 2m đặt ở giữa, dưới đặt tượng Bồ Tát, sắc ánh như vàng. Pho tượng Phật xưa thiếp vàng, nay lớp vàng ấy đã bị phai hết, chỉ còn lớp sơn đen, nhưng trông rất đẹp. Pho tượng ngồi được đặt trên tòa sen, tòa sen đặt trên lưng một con vật bằng đá, điêu khắc rất tinh xảo. Con vật ấy có đầu hình lợn, tất cả được đặt trên một bệ đá, chạm theo lối điêu khắc của cổ vật Chàm. Trong chùa còn có nhiều bệ đá, trong số ấy có chạm hình aguda ở góc dưới. Các tảng đá kê cột cũng chạm hình hoa sen tinh xảo. Chùa với một kiến trúc thanh tao mà đậm nét thiền vị, lại nằm ở một nơi địa thế rất là thanh nhã, sơn thủy hữu tình tạo thành một bức tranh đẹp. 4.3.3 Mô tả toàn bộ quan cảnh chùa Báo Ân: Trong bài văn bia ở chùa Báo Ân, Chu Văn Thường còn mô tả quan cảnh chùa thật khéo léo, với cái nhìn tổng thể từng chi tiết, làm cho người đọc cảm nhận một thế giới thần tiên được hiện lên trước mặt: “Mái tường rực rỡ là nhờ một sớm nét đan thanh điểm xuyết, trăm năm khí tượng, mãi mãi thơm tho. Phía trước hướng về phương Nam, giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường Phượng, bên cạnh vút đồi Bạch Long, dòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi Ngung di, trong khoảng giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù Tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội cốc, trấn ngọn núi cao, tiễn ánh tà dương thoáng lướt qua cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi, hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng”. Qua đó, chúng ta có thể hình dung toàn bộ quan cảnh chùa Báo Ân thật đẹp, giống như một bức tranh vẽ, vừa lộng lẫy vừa linh thiêng huyền tịch, vắng lặng và thanh tịnh. 5. Ý nghĩa và giá trị Chùa Báo Ân đối với đời sống xã hội Đại Việt: Sau khi tìm hiểu nội dung bài văn bia ở Chùa Báo Ân núi An Hoạch, cũng như qua sự miêu tả của tác giả về ngôi chùa. Chúng ta thấy, đây là một vùng địa linh nhân kiệt, phong cảnh thần tiên thoát tục, rất phù hợp để xây dựng một ngôi già lam, là nơi giao hưởng giữa con người với thiên nhiên một cách sâu sắc. Chùa Báo Ân có thể xem là một thành tựu về niềm tự hào của Phật giáo Đại Việt dưới thời nhà Lý nói riêng và của Phật giáo Việt Nam nói chung. Chùa được xem là một di sản văn hóa tâm linh giúp cho mọi người làm nơi nương tựa tinh thần, gạt bỏ những đua chen danh lợi bên ngoài, tất cả được bắt nguồn từ cơ sở giáo lý Phật giáo đã dạy. Mà cụ thể là triều đại nhà Lý, từ vua, quan cho đến dân thường đều áp dụng trong việc điều hành đất nước cũng như trong cuộc sống. Dựng bia là một việc rất quan trọng, để lại đời sau biết rõ được nguyên nhân, nguồn gốc, lý do xây dựng chùa, và nói đến cả phong cảnh và địa thế của nơi xây dựng chùa. Để đời sau có thể biết đến mà kính ngưỡng, cũng nhằm ghi công những vị khai quốc giúp đất nước được thái bình nhân dân ấm no, an cư lạc nghiệp. Đúng với câu: “Ngàn năm bia đá vẫn còn khắc ghi”.   IV. KẾT LUẬN: Khi khảo sát bài văn bia ở chùa Báo Ân núi An Hoạch, chúng ta thấy triều đại nhà Lý đã xây dựng hình tượng nhân vật được trang bị vừa có tấm lòng đầy đủ giới đức, tâm đức, trí tuệ, vô ngã vị tha, biết yêu thương mọi người mà giáo lý nhà Phật đã dạy. Đồng thời những con người ấy có công lao to lớn đối với dân tộc với quốc gia xã tắc, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho muôn dân, mà vua quan nhà Lý là một điển hình. Bài “An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký” của Chu Văn Thường, như một bức thông điệp mà tác giả muốn gợi lại trong lòng mỗi chúng ta về niềm tự hào của dân tộc. Đồng thời, cũng muốn nhắn gởi cho người đời sau hãy noi gương các bậc tiền bối, mà cụ thể như Lý Nhân Tông, Lý Thường Kiệt, họ đã quên mình, vì xã tắc góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và phát triển đạo pháp một cách tích cực. Tất cả những hành động mang tính nhân văn đó, là nhờ thấm nhuần giáo lý Phật giáo, lấy đó làm cơ sở để xây dựng tâm thức con người hướng thiện, bắt nguồn từ việc xây chùa, tạo tượng, thờ Phật, đúc chuông là việc làm vô cùng quan trọng, nó biểu thị sức mạnh đoàn kết toàn dân, khai phóng trí tuệ đời sống văn hóa Đại Việt thật đáng trân trọng. Qua đó, ngôi chùa Báo Ân được xem là một di sản văn hóa, là niềm tự hào của dân tộc cần được giữ gìn và phát triển. Nơi đây không chỉ để thờ cúng mà còn là trung tâm văn hóa, có mối giao lưu mật thiết giữa con người với thiên nhiên, hướng con người đến đời sống thánh thiện. Vì mọi giá trị trong cuộc đời này có mặt khi giá trị tâm thức con người luôn hiện hữu. Lý Thường Kiệt đã vì dân vì nước mà giữ yên bờ cõi đúng tinh thần “hộ quốc an dân” và cho xây dựng chùa Báo Ân để đền ơn vua thương tưởng ban tước, cũng để báo đền bốn ơn nặng. Một con người với tâm thức trong sáng, một trí tuệ cao cả, một tấm lòng biết yêu thương, thì con người ấy chẳng những được sự an lạc ngay bản thân, mà còn đem lại cho mọi người một cuộc sống thanh bình, nhà nhà thịnh vượng, xã hội ấm no hạnh phúc. MỤC LỤC THAM KHẢO : 1. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB.Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1988. 2. Đại Việt Sử Ký toàn thư, Bản Kỷ, Bản in Nội Các Quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697). 3. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam 1985 – 1992, nhà xuất bản: Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1993. 4. Theo số liệu điều tra công trình Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm. 5. Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1977. 6. Thơ Văn Lý – Trần (tập 3), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1978. 7. Thơ Văn Lý – Trần (tập 2 – quyển thượng), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1989.

ĐÔI NÉT VỀ TU VIỆN QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM

Mục Lục A. Dẫn Nhập TỔNG QUAN VỀ NGÔI CHÙA B. Nội Dung I. Đối tượng nghiên cứu II. Phương pháp nghiên cứu III. Thực hiện nghiên cứu III.1. Thực trạng III.2. Đánh giá III.2.1. Vị trí địa lý III.2.2. Lịch sử ngôi chùa và vị Tổ khai sơ. III.2.3. Đường xá III.2.4. Kiến trúc ngôi chánh điện III.2.5. Tổ đường III.2.6. Đông lang và tây lang III.2.7. Tam quan III.2.8. Bảo tháp IV. Hoạt động của chùa IV.1. Tu học IV.2. Văn hóa giáo dục IV.3. Hoằng pháP IV.4. Dự Báo Và Phát Triển IV.5. Kết Quả Của Giải Pháp C. Kết Luận. ĐÔI NÉT VỀ TU VIỆN QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM A. DẪN NHẬP: Từ khi đạo Phật có mặt trên đất nước Việt Nam thì chùa chiền cũng hiện diện khắp nơi, đáp ứng nhu cầu truyền giáo, nhu cầu tín ngưỡng, tinh thần của nhân dân. Từ đó, ngôi chùa trở thành chỗ nương tựa tinh thần và biểu tượng đạo đức của xã hội Việt Nam. Có những ngôi chùa có mặt một cách khiêm tốn hài hòa trong lòng thôn xóm, được sự chăm sóc trân trọng của dân làng và trở thành chùa làng. Có những ngôi chùa được xây dựng nguy nga, đẹp đẽ, kiến trúc độc đáo, biểu tượng cho văn hóa nghệ thuật kiến trúc của dân tộc. Chùa Việt Nam qua 20 thế kỷ, đã thực hiện sứ mạng của mình là giáo dục đạo lý làm người, xây dựng nền tảng đạo đức cho xã hội, bảo tồn và phát huy nền văn hóa dân tộc, nhất là trong thời kỳ đen tối nhất của lịch sử. Tác dụng của ngôi chùa được thấy qua giá trị thẩm mỹ, khung cảnh thiên nhiên, nghệ thuật kiến trúc. Một ngôi chùa luôn luôn gần gũi với thiên nhiên, hài hòa với môi trường, yên tĩnh phù hợp với điều kiện thăng hoa tâm lý, cảm xúc… Cảnh chùa trong văn học, trong lòng người luôn là hình ảnh êm diệu, ngọt ngào và thanh thoát. “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” là câu nói cửa miệng của dân tộc Việt Nam. Sự ảnh hưởng của ngôi chùa đối với tâm tư tình cảm quần chúng thật là sâu sắc và bền chặt. Ngôi chùa trở thành biểu tượng của quê hương, như hai câu thơ đầy mộc mạc của Nguyễn Bính như sau: Mai này tôi bỏ quê tôi, Bỏ trăng, bỏ gió chao ôi bỏ chùa. Tình cảm thiết tha nồng nàn đó, chứng tỏ ngôi chùa là dấu ấn văn hóa ở trong lòng người Việt Nam. Ngôi chùa thật sự đã tác dụng thăng hoa tâm lý, tình cảm của con người. Trong bài viết này người viết chọn Quảng Hương Già Lam xin giới thiệu Đôi Nét Về Tu Viện Quảng Hương Già Lam. TỔNG QUAN VỀ NGÔI TỰ VIỆN I. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Kiến trúc cảnh quan và mỹ thuật là một bộ môn cần phải có sự quan sát, tìm tòi và thực tế cuộc sống của ngôi chùa mình đang cư trú. Như thế chúng ta mới hình dung ra và cảm nhận được khi làm bài. Cũng chính vì thế người viết chọn ngôi chùa mà em đang cứ trú để khảo sát. Đó chính là ngôi tự viện Quảng Hương Già Lam Tu viện. Một tự viện có môi trường tốt để đào tạo tăng tài, cũng góp phần xây dựng giáo hội sau này. II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Ngoài những gì chúng ta cần nghiên cứu, còn đòi hỏi tính thực tế, phài biết hình dung quan sát, phân tích để tổng hợp lại những tư liệu liên quan, nhận xét và đánh giá chung của đề tài mà tác giả đang nghiên cứu. Đây chính là những phương pháp rất thực tế mà mỗi tăng sinh cần có đủ để hoàn chỉnh yêu cầu bài cần có. III. THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU III.1. THỰC TRẠNG • Tự nhiên, văn hóa: Ngôi chùa luôn là hồn thiên của dân tộc. mà ngôi chùa già Lam cũng chính là ưu việt của điều kiện ấy, tự nhiên con người được sự ưu đãi của thiên nhiên. Chùa nằm phía sau của đường Lê Quang Định, với không gian của chùa ngày một lớn nên rất hợp với nơi tu tâm cũng như hợp với những tăng sinh trong việc học tập và nghiên cứu. Trước kia, nơi đây là vùng trung tâm của thành phố (Gia Định). Bây giờ cũng có phần sầm uất nhưng so với những Quận huyện xung quanh thì khu vực này phát triển không mạnh lắm, thay vào đó xã hội hay khu vực con người xung quanh có trật tự, hay nói khác hơn an ninh không có gì phải nói bởi như thế so với trước kia hay những khu vực lân cận thì tốt hơn nhiều. • Lịch sử khí hậu và môi trường: Vùng Sài Gòn Gia Định ngày xưa là một vùng mới lạ, vùng khai khẩn đất hoang, nhưng sau năm 1975 đến ngày nay đã thay da đổi thịt. Dân cư đông đúc, khí hậu thoáng mát. Đặc biệt là những khu vực quanh chùa có sự thoáng mát khí hậu tương đối trong lành so với toàn bộ khu vực thành phố, tự viện có diện tích tương đối rộng, xa sự ồn náo của dân và xung quanh không có những công ty hay xí nghiệp, những khí đốt và chất thải cũng có sự hạn chế. Từ đó mà ngôi tự viện nằm trong sự an toàn của khí hậu và chịu ảnh hưởng của môi trường. III.2. ĐÁNH GIÁ: III.2.1. Vị trí địa lý Tu viện tọa lạc tại số 498/11 đường Lê Quang Định, phường 1, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Tu viện do Hòa thượng Thích Trí Thủ sáng lập vào năm 1960, là nơi tu học của các học Tăng cấp đại học. Tu viện ban đầu có tên là Giải Hạnh Già Lam, đến năm 1964 được đổi tên là Quảng Hương Già Lam. Quảng Hương là tên một học Tăng đã vị pháp thiêu thân vào năm 1963 ở Sài Gòn. Tu Viện Quảng Hương Già Lam Tu viện Quảng Hương Già Lam thuộc hệ phái Bắc tông, thiền phái Lâm Tế. Người khai kiến Quảng Hương Già Lam là Hòa thượng Thích Trí Thủ. Số lượng Tăng thường trú và tạm trú hiện nay là 80 vị. Hiện nay Hòa thượng Thích Đức Chơn làm Viện chủ, Thượng tọa Thích Nguyên Giác Trụ trì. Sau đây là những lời của Hòa thượng Thích Đức Chơn Viện chủ Tu viện Quảng Hương Già Lam nói về lịch sử của ngôi chùa và vị Tổ khai sơn Quảng Hương Già Lam. Tư liệu này được trích dẫn từ Đặc San Về Cội 2009. Lễ tưởng niệm 25 năm ngày Hòa thượng Ân sư viên tịch (1984 – 2009), kỷ niệm lần thứ 40 ngày Về Cội (1969 – 2009). • Địa hình và không gian tự viện là một danh lam ở thành phố Hồ Chí Minh, tuy không nằm trong danh sách của ngôi Chùa danh lam thắng cảnh thế nhưng có kiến trúc cổ đại mà vẫn mang sắc thái văn hóa dân tộc, đây là một kiến trúc mang nét đặc thù của xứ Huế, mang tính chất cổ kính, và là một điểm thắng tích mang dấu ấn của cuộc đấu tranh lịch sử của Phật giáo. Hơn thế nữa, nơi đây là địa điểm hình thành nên những cột mốc lịch sử của tiến trình thống nhất Phật giáo Việt Nam, từ khi ngôi Chùa mới được thành lập cho đến sau ngày Phật giáo được thực sự thống nhất toàn diện. Chùa nhìn bao quát chung là một ngôi chùa thuận lợi trong việc thăm quan, học tập và cũng như mọi mặt trong cuộc sống. Tuy Chùa nằm phía trong của mặt tiền đường Lê Quang Định, cũng chính nhờ thế mà địa hình của ngôi chùa có phần cổ kín, ẩn hiện dưới những bóng cây xanh cổ thụ lâu năm tạo nên cảnh quan chùa thêm phần tĩnh mịch của ngôi Già Lam, không bị những ồn ào, tấp nập hối hả của phố thị. • Cây Xanh: Những ai bước chân vào Già Lam là thấy tâm hồn nhẹ nhõm như trút bỏ tất cả những gì phiền muộn của cuộc sống, vào chùa như bước vào một cõi tâm linh mà con người cảm nhận được sự thanh thoát của tâm hồn. Trước cổng tam quan. Có hàng cây xanh của Ngài Viện Chủ trồng, cộng chung với cây cổ thụ (xa cừ) tạo nên một vùng xanh của màu lá, tô đậm nét dịu dàng của ngày hè oi ả. Phía trước chánh điện có 2 cây sa la và cây hoa ngọc lan làm khung viên chùa đã xanh tươi, nét dịu dàng cổ kính của ngôi chùa lại còn có hương thoảng của mùi hương mỗi ngày. Mùi đặc trưng của hai loài hoa ấy có sự nhẹ nhàng, hương vị thấm nhuần của đạo vị. Vả lại chính cây hoa ngọc Lan ấy ngày xưa được Ôn khai sơn chăm bón, ngoài hương vị lẩn tô xanh đẹp của ngôi chùa, nó còn là báo vật kỉ niệm thiêng liêng mà mỗi người con được Ôn cưu mang không thể không sót xa bùi ngùi nhớ về một đấng cha lành suốt cuộc đời vì đạo. Ngoài ra, chùa có cây cảnh rất đẹp, nhất là những cây hoa mai. Trong chùa có hàng mai nhiều vô số, vào mùa xuân mai nở vàng khắp sân, vàng cả một gốc trời, những người tham quan thấy những chậu hoa mai mà không thổn thức lòng. Nhìn chung, những ngay bình thường, cảnh quan khu vườn rất mộc mạc, nhưng nó mang lại sự dịu hiền của màu nắng chói chang ấy, nhờ cây xanh hấp thụ và tỏa khí oxy mà khuôn viên chùa trở nên quang thoáng, khí hậu trở nên ôn hòa sao ấy. III.2.2. Lịch sử ngôi chùa và vị Tổ khai sơn Vào năm 1960, có một số Tăng sinh các Phật học viện miền Trung học xong Tú tài hai, vào Sài Gòn học không có chỗ ở. Quý thầy xin gởi Tăng sinh ở các chùa rất khó khăn. Do đó, Hòa thượng Thích Trí Thủ đích thân đi tìm chỗ để xây Tăng xá cho học Tăng ở đi học. Sau một thời gian lặn lội tìm kiếm, cuối cùng Hòa thượng cũng đã chọn được lô đất với diện tích 3.940 m2 của ông bà Bùi Văn Sử tọa lạc tại số 300 đường Lê Quang Định, xã Hạnh Thông, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định (nay là 498/11 Lê Quang Định, phường 1, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh). Bức Hoành Phi Quảng Hương Mục đích kiến tạo Quảng Hương Già Lam ban đầu là làm nơi cư trú cho sinh viên Tăng có điều kiện tu học để tương lai có khả năng phụng sự Đạo cũng như đời. Do đó, học Tăng được tự do chọn môn học thích hợp với khả năng và sở trường của mình. Thời gian qua Quảng Hương Già Lam đã đào tạo được nhiều giáo thọ, bác sĩ, dược sĩ, kiến trúc sư, kỷ sư, giáo sư triết học, văn học, trú trì v.v… đi nhiều nơi trong cũng như ngoài nước phụng sự Đạo pháp và nhân loại. Việc đào tạo Tăng tài là mục đích chính của Quảng Hương Già Lam từ ngày thành lập đến nay. Mặc dù đất nước cũng như Đạo pháp có nhiều biến chuyển, đổi thay nhưng Quảng Hương Già Lam vẫn trước sau như một, hoằng pháp lợi sanh là sự nghiệp. Đầu tiên Hòa thượng khai sơn đặt tên chùa là GIẢI HẠNH GIÀ LAM, sau ngày thầy Quảng Hương tự thiêu, vào năm 1964, Ngài đổi tên là QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM. GIẢI HẠNH, chữ GIẢI là hiểu biết, kiến giải, học hỏi. HẠNH là hành trì. GIẢI HẠNH là học và hành. Tu và học cả hai phải song song mới có hiệu quả, nên Hòa thượng đặt tên GIẢI HẠNH GIÀ LAM - nơi chúng Tăng ở tu và học, chứ không phải chỉ học thôi hay chỉ chuyên tu. Hạnh giải tương ưng là vậy. Nhưng chữ GIẢI HẠNH lúc ấy còn mới quá, chưa quen nên Phật tử thường gọi chùa Già Lam cho gọn. GIÀ LAM là tiếng Phạn nói tắt, nói đủ là là TĂNG GIÀ LAM MA (sanghãmã) nghĩa là khu vườn chư Tăng ở, tức là Tăng viên hay Tăng viện, tự viện, chùa v.v… Bức Hoành Phi Già Lam QUẢNG HƯƠNG là tên của một thầy xuất thân từ Phật học viện Hải Đức Nha Trang, được Giáo hội bổ nhiệm làm trú trì chùa Khải Đoan - Buôn Ma Thuột. Thời Pháp nạn năm 1963, thầy phát nguyện tự thiêu để bảo vệ Chánh pháp. Trước khi thiêu, thầy về ở tạm tại chùa Già Lam, đến ngày 05-10-1963 (18-08 năm Quý Mão) vào lúc 12 giờ trưa, thầy châm lửa tự thiêu tại bồn binh chợ Bến Thành - Sài Gòn. Sau đó, chính quyền Ngô Đình Diệm đã cướp xác thầy. Ba hôm sau, họ đến báo cho chùa biết là họ đã đem chôn xác thầy Quảng Hương tại nghĩa trang Quân đội Gò Vấp (hiện nay là công ty xe hơi đường Quang Trung Gò Vấp). Họ chỉ cho một ngôi mộ mới đắp đất có tấm bảng bằng ván ghi tên thầy Quảng Hương rõ ràng. Từ đó, hằng năm đến ngày giỗ thầy, chúng tôi đến đốt hương, tảo mộ cúng dường. Nhưng sau 1975, lúc có lệnh giải tỏa nghĩa trang Quân đội Gò Vấp, chúng tôi đến hốt cốt đem về chùa thờ, lúc đào lên chỉ thấy cái hòm trống rỗng, không có gì trong đó cả! Lúc ấy mới biết chính quyền Ngô Đình Diệm đã thủ tiêu xác của thầy rồi! Tại Già Lam, trong lúc chờ đợi đến ngày tự thiêu để thực hiện hạnh nguyện của mình, thầy đã tự tay trồng cho Già Lam một cây ngọc lan phía bên hông phải chánh điện, hiện giờ cây đã cao to xanh tốt, hàng năm đến mùa trổ hoa thơm ngát sân chùa, và thầy đã viết lời phát nguyện như sau: Thảm trạng đau lòng khi pháp nhược Quê hương tan tóc lúc ma cường Cờ thiêng phất phới đang tung gió Bạo quyền triệt hạ khắp Nam phương! Chủ trương kỳ thị nền Phật giáo Mở đầu chính sách đổ lư hương! Hỡi ơi! Tín ngưỡng thiêng liêng ất Bị kẻ bạo tàn giáng họa ương. Những ai tàn bạo giáng họa ương Gây nên thảm cảnh đoạn can trường Ai kẻ đứng lên đòi tín ngưỡng Bắn giết giam cầm khảo đả thương Tôi người tu sĩ trong Phật giáo Không lẽ ngồi nhìn cảnh nhiễu nhương. Phát nguyện thiêu thân cầu Tam bảo Hộ trì đạo Phật được miên trường. Thích Quảng Hương . Đó là toàn bộ lời của Hòa thượng Thích Đức Chơn Viện chủ Tu Viện Quảng Hương Già Lam tường thuật lại. Đây cũng là tài liệu quý hiếm mà xưa nay chúng ta chưa biết được. Như vậy, Tu Viện Quảng Hương Già Lam là do Hòa thượng Thích Trí Thủ khai sơn vào năm 1960 tại Gò Vấp Gia Định, nay là phường 1, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đây là tiểu sử của Hòa thượng khai sơn Tu viện Quảng Hương Già Lam. Tiểu sử Hòa thượng Thích Trí Thủ Tượng Hòa Thượng Thích Trí Thủ Ngày Về Cội 2009 Hòa thượng húy Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Trí Thủ. Hòa thượng sanh giờ Hợi ngày 19. 9 năm Kỷ Dậu tức ngày 1 tháng 11 năm 1909. Xuất thân từ một dòng tộc nối đời sùng mộ Phật pháp. Hòa thượng thuộc thế hệ thứ tám của họ Nguyễn, họ khai canh và khai khẩn làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Hòa thượng đã sớm có duyên thoát trần, năm 17 tuổi được thiền sư Viên Thành thế độ cho tu học ở chùa Tra Am (Huế), đến năm 20 tuổi thọ cụ túc tại giới đàn chùa Từ Vân (Đà Nẳng). Tại giới đàn này, Hòa thượng đỗ thủ Sa di nên khi trở về chùa được bổn sư ban cho pháp hiệu Thích Trí Thủ. Nhờ sự chỉ dạy tận tình và chu đáo của bổn sư, cùng lòng tinh cần tham phương cầu học với các bậc cao Tăng thạc đức, Hòa thượng đã kiện toàn cho mình một sở học chín chắn về Phật pháp, đặc biệt là Luật học. Năm 27 tuổi, Ngài làm trú trì chùa Ba La ở Vĩ Dạ (Huế). Từ đấy, lấy Chánh pháp và lợi sinh làm sự nghiệp, Hòa thượng cùng chư tôn túc đương thời lèo lái con thuyền đạo pháp vượt qua một giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và thăng trầm của dân tộc và Phật giáo nước nhà. Ngoài việc hằng ngày trì kinh bái sám, nghiên cứu, trước tác và phiên dịch kinh điển, lấy đó làm công phu nuôi dưỡng tuệ mạng cho mình, Ngài đã tận tụy hòa đồng với mọi Phật sự hoằng pháp lợi sanh: tham gia lãnh đạo phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, phong trào đấu tranh bảo vệ Phật giáo; cùng chư tôn đức xây dựng hệ thống giáo dục Tăng Ni và Phật tử, xây dựng Giáo hội, xuất bản báo chí, thành lập các cơ sở kinh tế tự túc để tài trợ cho công tác đào tạo Tăng tài của các Phật học viện v.v… Sự nghiệp nỗi bật nhất, và cũng là mối bận tâm hàng đầu trong suốt cuộc đời Hòa Thượng, đó là công việc nuôi dạy học chúng để đào tạo Tăng tài. Chính qua sự nghiệp này mà nhiều bậc anh tài của Phật giáo Việt Nam đã ra đời, góp phần làm rạng rỡ cho đạo pháp và dân tộc; cũng chính qua sự nghiệp này mà ân đức của Ngài đã để lại dấu ấn sâu sắc nhất trong lòng nhiều thế hệ học Tăng có cơ hội gắn bó thân thiết với Ngài trên bước đường tu thân hành đạo. Hòa thượng đã mãn báo thân 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo. Vào lúc 21 giờ 30 ngày 2 tháng 4 năm 1984 (tức ngày 2 tháng 3 năm Giáp Tý) Hòa thượng thị tịch tại Quảng Hương Già Lam, quàn tháp tại đây chờ di quan phụng Tổ tại tổ đình Báo Quốc theo nguyện ước lúc sinh tiền . Hình Hòa Thượng Thích Trí Thủ III.2.3. Đường xá: Ngôi tự viện trước kia, đây là vùng mới khai khẩn, dân cư thưa thớt. Phía trước là ngôi Tịnh Xá Ngọc Phương và chùa Châu An. Khu vực của ngôi Già Lam là vùng nghĩa trang, nên ảnh hưởng đến cuộc sống dân bản địa rất nhiều, đường sá lầy lội. Theo dòng thời gian dân cư đông đúc, dân cư sống nhiều hơn nên đường mỗi ngày một hoàn thiện. Đường nằm trong hẽm của Đường Lê Quang Định, tuy nói là hẽm nhưng hẽm khá lớn thuận tiện cho xe lớn nhỏ di vào, cộng chung sân tự viện rất lớn nên những ngày lễ lớn của chùa cũng không ảnh hưởng gì đối với số lượng người đến tham dự. Từ chùa ra đường, con hẽm không xa lắm, vừa thuận lợi việc đi lại vừa đảm bảo được sự đi lại và tránh sự ồn ào của xe cộ. Đây là một diều kiện thuận lợi cho Chư Tăng ở chùa mà khó có thể một ngôi tự viện nào ở thành phố có được như thế. Nhìn chung, đường sá ở khu vực xung quanh chùa tương đối ổn định so với ngôi Già Lam thánh địa. Cũng chính nhờ như thế mà chùa lánh xa được hoạt động của con người. Đó chính là điều kiện tu học tốt của con người nói chung và tăng sinh nói riêng trong vấn đề phát triển tâm linh. III.2.4. Kiến trúc cảnh quan của ngôi Già Lam Chánh Điện Ngôi chánh điện đầu tiên là căn nhà tranh vách gạch xây năm 1962. Đến năm 1964 bị triệt hạ để xây chánh điện mới bằng bê tông cốt thép hình bát giác, mái đúc dán ngói âm dương, gồm 2 tầng. Tầng trên thờ Phật, tầng dưới là trai đường. Lễ đặt đá vào ngày 19- 09 năm Giáp Thìn (24- 10- 1964). Sau 5 tháng thi công là hoàn thành. Lễ thỉnh Phật an vị ngày 15- 02 năm Ất Tỵ (17- 03-1965). Số lượng Phật tử quy tụ về chùa tu học ngày càng đông, mỗi khi làm lễ không đủ chỗ đứng. Do đó, chánh điện được trùng tu bằng cách nối tiếp và mở rộng thêm phía trước. Nối từ ngôi chánh điện bát giác ra đến tượng Quán Âm lộ thiên. Lễ khởi công trùng tu lần này vào ngày 19- 09 năm Tân Dậu (16- 09-1981), và hoàn thành sau 6 tháng thi công. Lễ Khánh tạ vào ngày 19- 02 năm Nhâm Tuất (24- 03- 1982). Trong dịp này, chùa tổ chức Đại Giới đàn truyền trao giới pháp cho một số đông Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Sa di, Sa di ni, Thức xoa, Thập thiện và Bồ tát xuất gia - tại gia. Như vậy chánh điện đã qua hai lần trùng tu. Điện Phật III.2.5. Tổ đường Tổ đường là dãy nhà nằm ngay phía sau chánh điện, rộng 7m, dài 11m, gồm 1 trệt 2 lầu. Tầng trệt thờ linh ảnh, cúng quải hằng ngày. Tầng lầu một là bàn thờ Hòa thượng Thích Trí Thủ, thờ liệt vị Tổ sư và chư Tôn đức Tăng đã viên tịch. Tầng lầu hai làm phòng lưu niệm, cất giữ hình ảnh và các kỷ vật của Hòa thượng khai sơn. Nhà Tổ được xây xong năm 1967. Phía trước hậu tổ có một bức hoành phi bốn chữ Hán: 廣 香 伽 藍 QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM. Phía bên phải có một câu đối bằng chữ Hán: 香 薰 海 衆 樹 僧 才 轉 僧 輪 上 求 下 化 無 住 生 心 Hương huân hải chúng thọ tăng tài truyền tăng luân thượng cầu hạ hóa vô trú sanh tâm. Tổ Đường Phía bên trái cũng có một câu đối bằng chữ Hán: 廣 演 三 乘 建 法 幢 擊 法 皷 此 界 他 方 不 二 順 Quảng diễn tam thừa kiến pháp tràng kích pháp cổ thử giới tha phương bất nhị tùy thuận. Phía bên phải cũng có một bức hoành phi bốn chữ Hán: 化 育 恩 深 HÓA DỤC ÂN THÂM phía bên trái cũng có một bức hoành phi bốn chữ Hán: 叢 林 大 樹 TÒNG LÂM ĐẠI THỌ. III.2.6. Đông lang và tây lang - Đông lang là phía bên phải ở ngoài nhìn vô chánh điện. Phía này có 2 dãy lầu. Dãy trước 1 trệt 1 lầu. Tầng trệt phía trước dùng làm văn phòng của chùa, phần sau và toàn bộ trên lầu làm phòng ở của chư Tăng. Diện tích dãy lầu này rộng 11m, dài 24m, xây xong năm 1966. Dãy lầu phía sau là thiền thất 1 trệt 1 lầu, rộng 6m, dài 11m, xây xong năm 1970. Dãy này dành riêng cho chư tôn Hòa thượng ở. Trước năm 1975, có Hòa thượng Đệ I Tăng thống ở. Sau năm 1975, Hòa thượng Thích Thiện Minh ở. Hiện tại Hòa thượng Thích Trí Quang đang ở. - Tây lang là phía bên trái chánh điện. Từ phía Tam quan nhìn vào tuần tự như sau: Dãy thứ nhất 1 trệt 1 lầu, rộng 7m, dài 15m, là nhà để hài cốt Phật tử. Tầng lầu hai có ngôi tháp nhỏ 3 tầng thờ hài cốt chư Tăng. Dãy này xây xong năm 1972. Dãy lầu kế tiếp 1 trệt 1 lầu, rộng 11m, dài 24m, xây xong năm 1976. Tầng trệt làm giảng đường, tầng lầu làm phòng chư Tăng ở. Tượng Phật Nhập Niết Bàn Tại Giảng Đường Dãy nhà sau giảng đường 1 trệt 2 lầu. Tầng trệt, một nửa trước làm kho và phòng để xe gắn máy của Tăng sinh; nửa sau làm phòng ăn của Phật tử. Tầng lầu một là phòng ở của chư Tăng. Tầng lầu hai là thư viện và lớp học. Sau nhà ăn của Phật tử là nhà bếp, phòng trai soạn khá rộng rãi thoáng mát, đầy đủ tiện nghi. III.2.7. Tam quan Tam quan đúc bê tông cốt thép, cổ lầu, được xây xong năm 1986. Có 3 cửa. Cửa giữa thường xuyên đóng, cửa hai bên mở suốt ngày đêm, vì ngoài tam quan có tường bao bọc và cổng ra vào bảo vệ rồi. Cổng tam quan chia thành hai khu vực: Sân ngoài cho xe hơi ra vào và đậu lại ở đó. Sân trong để cây cảnh, có rất nhiều cây cảnh quý như: mai, mai chiếu thủy, trắc bá diệp, sa la, nguyệt quế... tạo ra môi trường sinh thái hài hòa và quang cảnh thiên nhiên đẹp. Cổng Tam Quan - Phía ngoài: Tầng trên thờ ngài Hộ Pháp, có hai câu đối chữ Hán: 衛 伽 籃 而 清 凈, 護 佛 法 以 場 存. Vệ già lam nhi thanh tịnh, Hộ Phật pháp dĩ trường tồn. Tầng dưới có bốn câu đối chữ Hán: 廣 開 方 便 門 善 闡 蹭 伽 普 健 法 幢 于 處 處, 香 遍 莊 嚴 土 茲 培 道 樹 高 僄 德 本 於 重 重. 道 無 頓 漸 非 實 非 權, 理 絕 兩 邊 即 心 即 物. Quảng khai phương tiện môn thiện xiển tằng già phổ kiến pháp tràng vu xứ xứ, Hương biến trang nghiêm độ tư bồi đạo thọ cao tiêu đức bổn ư trùng trùng. Đạo vô đốn tiệm phi thật phi quyền, Lý tuyệt lưỡng biên tức tâm tức vật. - Phía trong: Tầng trên thờ Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn, có hai câu đối chữ Việt: Nghìn mắt sáng soi bao ước nguyện, Nghìn tay cứu vớt vạn nguy nan. Tầng dưới có bốn câu đối chữ Hán: 佛 門 廣 大 出 入 隨 緣 自 他 兼 利 入 不 二 門 空 地 莊 嚴 色 香 不 異 真 俗 互 融 闡 第 一 義 Phật môn quảng đại xuất nhập tùy duyên, Tự tha khiêm lợi nhập bất nhị môn. Không địa trang nghiêm sắc hương bất dị, Chơn tục hỗ dung xiển đệ nhất nghĩa. Tam quan là cổng vào chùa được thiết kế ba lối vào, theo tinh thần giáo lý Phật giáo tam quan có ba ý nghĩa: Không quan có ý nghĩa xét sự vật đều không có thật tính, thật tướng, mọi pháp vốn không. Thể hiện tư tưởng về tánh không trong Phật giáo. Giả quan có nghĩa xét sự vật, các pháp đều biến hóa, giả tạm, vô thường. Thể hiện quan điểm vô thường trong giáo lý Phật giáo. Trung quan có ý nghĩa quán sự vật theo tư tưởng trung đạo trong giáo lý Phật giáo. Nhiều chùa thiết kế theo hai cổng vào gọi là nhị quan, hoặc năm cổng vào gọi là ngũ quan . III.2.8. Bảo Tháp Quảng Hương Gìa Lam có hai ngôi bảo tháp: Tháp thứ nhất, có 3 tầng nằm trên lầu ba của dãy nhà thờ cốt phía Tây lang, đây là tháp thờ cốt chư Tăng. Tháp Thờ Cốt Chư Tăng Tháp thứ hai là tháp của Hòa thượng khai sơn, cao 7 tầng nằm phía Đông lang, gần hậu Tổ và thiền thất, xây xong cuối năm 1984. Nhục thân Hòa thượng khai sơn nằm trong kim quan bằng gỗ Giáng Hương; kim quan lại nằm trong kim tỉnh xây gạch. Trên nắp kim tỉnh có tượng Phật A Di Đà đứng cao 3m20. Tháp xây bằng đá chẻ, tứ giác, bảy tầng, đường nét rất nghệ thuật, quang cảnh thật hùng vĩ, kết hợp chan hòa sắc thái Việt Nam và mẫu hình kiểu kiến trúc của Phật giáo phương Nam. Bảo tháp được tôn trí sau chánh điện về phía phải (từ ngoài nhìn vào) song hàng với Tổ đường, chệch về phía phải ngôi nhà lưu tàng vật kỷ niệm của Hòa thượng khai sơn. So với toàn khuôn viên của chùa, khuôn viên của tháp chiếm khoảng 1 phần 8 diện tích. Mặt tháp quay về hướng Tây. Khi vào cổng tam quan, đi qua dãy lầu phía tay phải, có vẻ sâu hun hút, chúng ta nhìn thấy bảo tháp bảy tầng. Trước tháp là một sân rộng tráng xi măng, với hai cấp đủ cho khoảng 500 Phật tử đứng hành lễ. Sân được trang trí với nhiều chậu cây kiểng, hoa lá và bồn cây, như mai , trắc bá diệp, sa kê, nguyệt quý. Tháp Hòa Thượng Thích Trí Thủ Tháp cao 7 tầng, khoảng 10 thước tây, uy nghiêm đẹp đẽ, nhưng khiêm nhường, thanh nhã. Châu tháp hình vuông rộng 9 thước tây, cao 9 tấc. Chung quanh chân tháp xây bằng gạch thẻ, ngoài gắn một lớp đá chẻ hình chữ nhật, màu xanh, kẻ mạch. Trên nền tháp bao quanh bằng một lớp tường cao 6 tất, tô đá rửa màu xi măng đen. Khoảng giữa ba phía tường (sau và hai bên ) có chậu xi măng gắn liền với tường, hình chữ nhật, rộng 5 tấc, dài 1 thước 3 tấc trồng sứ Thái Lan, hoa màu đỏ, tết đến khoe sắc với mai vàng. Bốn góc tường là bốn trụ vuông, mỗi bề 5 tấc, trên gác bốn đèn chậu cũng bằng xi măng đen. Tường phía trước bảo tháp, cao giống tường ba phía, nhưng hai đầu không nối liền với trụ. Hai khoảng trống là hai cấp thang lên nền tháp, với năm cấp, rộng 9 tấc và bốn con kỳ lân chồm về phía chân thang. Giữa lòng tầng một của bảo tháp là tượng Phật A Di Đà, cao 1 thước 2 kể cả đài sen, do Hòa thượng thỉnh từ hồi còn sinh tiền. Tượng Phật Di Đà Trong Tháp Trên tầng một của tháp là sáu tầng tháp hình dáng cổ lầu, được bóp dần để có hình tháp nhọn. Đỉnh tháp là hình tháp Xá lợi, kiểu Nam truyền. Thân tháp toàn láng bằng xi măng. Các góc tháp nơi cong, có hình đầu long phụng. Các, hình rồng, phụng, lân mang ý nghĩa kiến trúc cổ truyền của đình chùa Việt Nam. Con số bảy tiêu biểu, theo truyền thống Ấn Độ. Bảy tầng tháp tiêu biểu cho lý tưởng siêu tuyệt viên mãn tối thượng của Đức Phật. Số tầng tháp xây cho các vị sư, tiêu biểu cho đức hạnh của vị sư viên tịch. Vào thời phong kiến, các Hòa thượng, Tăng và Trú trì được xây tháp từ 5 tầng đến 7 tầng. Còn những vị sư bậc dưới có thể xây từ 1 đến 3 tầng. Bảo tháp tại Tu viện Quảng Hương Già Lam được khởi công xây dựng sau ngày cúng thất và hoàn chỉnh hình thành trong ngày đại tường của Hòa thượng, năm 1986. Bia tưởng niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ Hòa-thượng họ Nguyễn, húy Văn Kính, Pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Thích Trí Thủ, sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu (1909) tại Trung Kiên, Quảng Trị. 17 tuổi xuất gia, 20 tuổi thọ cụ túc giới, tự pháp đời thứ 48 phái thiền Lâm Tế . Với chí nguyện thượng cầu hạ hóa Hòa thượng là một trong những vị đi đầu trong các cuộc chấn hưng Phật giáo nước nhà. Mở nhiều Phật- học viện, trùng tu nhiều phạm vũ, khai sơn Quảng Hương Già Lam, mở nhiều đại giới đàn và phiên dịch giảng giải Kinh, Luật, Luận, Hòa-thượng không ngừng tiếp dẫn hậu lai cho Tăng tín đồ được nhờ ơn pháp vũ. Bia Tưởng Niệm Xuất thế tinh chuyên đã vậy, nào quên nhập thế độ sinh. Dầu tuổi già chẳng ngại đến thân, hạnh Phổ- Hiền lợi đời lợi đạo. Biết thế sự lắm phen khe khắt, tâm hồn luôn hoan hỷ bao dung. Mãn cơ duyên tứ đại trả về đây. Song thọ Ta la chúng sanh truy niệm: Như thị chân, như thị huyễn, Như thị công đức trang nghiêm. Hòa thượng viên tịch ngày mồng 2 tháng 3 năm Giáp Tý 1984. Tháp bia hình thành 19. 9 Ất Sửu 1985. IV. Hoạt động của chùa IV.1. Tu học Về tu học mỗi thành viên phải tuân giữ giới luật mà mình đã thọ, ngoài ra cũng phải tuân thủ theo nội quy của Tu viện đề ra. Về vấn đề tu học Tu viện lấy việc tụng kinh lễ sám làm cơ bản. Có 6 thời tụng kinh và lễ sám trong một ngày: khuya 4:00 lạy theo nghi thức lễ sám của Hòa thượng khai sơn, 4:45 tụng kinh Lăng Nghiêm, 10:30 cúng ngọ và cúng linh, 16:00 công phu chiều, 19:00 tụng kinh tối, 21:00 tọa thiền. Riêng 3 tháng an cư còn có thêm hai thời tụng kinh: sáng 7:30, chiều 14:30 và lễ cúng nghi thức quá đường thọ trai buổi trưa theo truyền thống. Mỗi tháng có 2 ngày Bố tát là ngày 15 và 30, hai ngày tụng kinh Di Giáo và lạy thù ân là 14 và mùng một. Tăng chúng Già Lam sống và tu học trên tinh thần cởi mở, tự do, khép mình trong nền tảng của giới luật và biết tôn trọng nếp sống kỉ cương, nội quy của Tu viện. Hằng ngày Tăng chúng thường sách tấn nhau tu học. Mỗi chủ nhật cuối tháng, Tăng chúng họp để kiểm điểm các ưu khuyết trong quá trình tu học cũng như công tác hằng ngày . IV.2. Văn hóa giáo dục Về văn hóa, Tu viện có một phòng phát hành kinh sách, một thư viện sách rất lớn và đầy đủ các loại sách nghiên cứu. Toàn bộ Kinh sách để tại Thư viện. Đại tạng kinh gồm có: bộ Đại Chánh Tân tu, Tục tạng, tạng Càn Long, Đại tạng Nhật Bản, Đại tạng Đại Hàn, Đại tạng Việt Nam, Tạng Pali. Các kinh, sách chữ Hán, chữ Phạn, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt v.v… trên ngàn cuốn. Về giáo dục, Tăng sinh ở Tu viện hiện nay phần lớn đang theo học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài chương trình nội điển, Tu viện luôn tạo điều kiện thuận lợi cho học Tăng có cơ hội học tập các chương trình khác để làm phương tiện phục vụ công việc hoằng pháp sau này như ngoại ngữ, vi tính hay các chuyên môn cần thiết khác. Ba tháng an cư kiết hạ, chư Tăng còn được học thêm 4 môn: Luật Tỳ kheo, nghi lễ, kinh Lăng Già và tiếng Sanskrit. Nhìn chung, điều kiện học hành cho học Tăng được quan tâm đúng mức. IV.3. Hoằng pháp Song song với việc đào tạo Tăng, Quảng Hương Già Lam còn lo việc tu học cho giới cư sĩ tại gia Ưu bà tắc, Ưu bà di bằng cách mở lớp giáo lý, khóa tu Bát quan trai, lớp học tình thương cho các con em nghèo thất học, tổ chức Gia đình Phật tử giáo dục lớp thanh thiếu niên, làm từ thiện xã hội, tặng nhà tình thương, bắc cầu, đào giếng, xây chùa, tạo tượng, đúc chuông, in ấn kinh sách, tụng niệm bái sám nguyện cầu âm siêu dương thái pháp giới chúng sanh đồng triêm lợi lạc. IV.4. Dự Báo Phát Triển: Ngôi tu viện Quảng Hương Già Lam được xây dựng từ thời Ôn Trí Thủ. Thời ấy nơi đây chỉ là một tăng xá để tăng sinh có nơi cư trú học tập, nên ngôi chánh điện chỉ là khu bát giác rất nhỏ, phật tử cũng ít người tới lui chiêm bái hay lễ phật. Theo thời gian, trãi qua bao thế hệ trú trì, ngôi tự viện có sự đổi mới. Từ ngôi bát giác xây thêm phía trước và đổ thêm một tấm làm chỗ lễ bái của chư Tăng và phật tử, đó chính là nguyện vọng cũng như tạo điều kiện cho người phật tử đến chùa lễ Phật học hỏi theo tín ngưỡng. Ngôi bát giác ở tầng trệt hồi trước làm thư viện, nhưng do chư Tăng ngày ở một nhiều nên xây thêm phía tây lang một phòng dể chuyển thư viện về đó. Ngôi bát giác bây giờ là phòng chư tăng ăn cơm (trai đường). Theo như Thượng Tọa trú trì Thích Nguyên Giác đang nhiệm. Nếu được thuận duyên trong việc xây dựng trong tương lai, thì chùa vẩn giữ nguyên theo mô hình hiện tại. Nhưng do thời trước đây như một tăng xá để chư tăng lưu trú trong việc học hành và nghiên cứu nên chánh điện hơi nhỏ. Điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng thì từ mô hình cũ ấy ta xây rộng thêm. Con người mỗi ngày một đông, vật chất kinh tế cũng phát triển theo tỉ lệ thuận với con người vì nhu cầu cuộc sống, thì vấn đề tâm linh cần phải bổ sung thêm nhiều nên việc xây dựng là điều phải làm trong nay mai. Như thế, nếu muốn ngôi chùa trở nên khang trang thuần hóa hơn thì có cuộc cách mạng đổi mới toàn diện về ngôi chánh điện. Do cũng xây dựng trong thời kì xưa, có sự chắp vá nên không được hoàn bị, chánh điện nhỏ so với hai dãy hành lang Đông- Tây. Đây chính là điểm yếu cần có hệ thống trùng tu lại, một thiết bị có bản vẽ và có qui mô hơn nữa như thế mới hợp với khu đất của chùa cũng như hài hòa trông mô hình xây dựng. IV.5. Dự Báo Của Giải Pháp. Đây chỉ là dự báo trong tương lai, được hay không là tùy vào sự đóng góp vật chất của bá tánh và giấy tờ cho phép của sở xây dựng. Nhưng đây chính là ước mong của Thượng Tọa Trụ Trì cũng như phật tử. Để xây dựng một ngôi Già Lam thánh địa khang trang hơn, tiện nghi và trang nghiêm hơn trong những ngày giổ cũng như những ngay lễ vía lớn. Già Lam Quảng Hương được phát xuất người miền trung bộ. Nên phần nhiều ảnh hưởng của ngôi chùa theo kiểu phong Huế, có một nét cổ kín, thiêng liêng. Từ kiến trúc cho đến cách sinh hoạt đều có cốt cách trầm lặng mà uy nghiêm. Lối sống không xu bồ, chánh điện cũng như phòng tăng có nét ấm cúng hài hòa trong kiến trúc. Từ những phong thái ấy mà phật tử cũng như những người vào chùa có sự khiêm cung nhã nhặn. + Khuyết điểm của ngôi chùa là đường xá hơi khó khăn trong lưu thông. + Hướng cổng tam quan không hướng ra được hướng đường + Chùa Già Lam hồi xưa chỉ là bát giác nhỏ nên qua thời gian được mở rộng bằng sự chắp vá nên không được như ý. Phần nhà đông lang và tây lang quá rộng so với chánh điện nên chùa có sự nhỏ bé. Trong tương lai xây chánh điện phải lớn hơn so với nhà tăng, có như thế nhìn vào chùa có sự khang trang và trân trọng. Cho nên tương lai là dự báo cần phải có nghiên cứu và bản vẽ thiết thực của ngôi Già Lam mới tạo được nét gì đó liên hoàn so với ngôi chùa có bề dày lịch sử và có nhiều vị tôn túc có giá trị và tiếng nói mạnh trong hàng tăng lữ. + Hai ngôi mộ cổ không thể di dời nên khi làm chùa hay sinh hoạt có hơi khó khăn. Thế nhưng: Đây là ưu điểm cũng như nết văn hóa cổ truyền của phật giáo. Một ngôi chùa lí tưởng, một môi trường hoàn bị cho những tăng sinh trẻ từ tỉnh lên thành thị học tập. Nếu nói là khuyết điểm thì chùa nào cũng có. Nhưng so sánh tất cả các ngôi chùa đang hiện tại ở thành phố thì ngôi TU VIỆN QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM là một ngôi chùa rất hợp với như chí nguyện của Tiếp tăng độ chúng. C. Kết Luận Ngôi chùa với mái ngói đỏ, cổ kính rêu phong, với hình ảnh uốn cong vươn lên nền trời và tiếng chuông ngân nga khoang nhặt; nó không những là một thực tại sinh động, như để lắng đọng, xoa dịu những tâm hồn lạc lõng, mà còn là biểu tượng của nghệ thuật, khơi gợi vô vàn cảm hứng sáng tác cho những tâm hồn mẫn cảm với thi ca, nặng tình với quê hương, đồng bào ruột thịt; và cũng là nếp sống muôn đời của tổ tông, nếp sống đạo đức, ươm mầm trí tuệ. Chuông vẫn nao nao nhớ lạ lùng, Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung, Mái chùa che chở hồn dân tộc, Nếp sống muôn đời của tổ tông. Tu viện Quảng Hương Già Lam hiện diện giữa đất Sài Gòn Gia Định hôm nay bắt nguồn từ hoài bảo đào tạo Tăng tài, phụng sự đạo pháp và dân tộc của cố đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ. Nương nhờ tâm nguyện ấy của Ngài, học Tăng mọi miền về đây lưu trú để tu tập và theo học các trường. Trải qua 45 năm, với bao thăng trầm, thịnh suy của cuộc thế, đến hôm nay, Quảng Hương Già Lam luôn cố gắng để xứng đáng với tâm nguyện của cố đại lão Hòa thượng khai sơn, đưa Quảng Hương Già Lam đi vào sinh hoạt theo nề nếp Tăng già và tạo điều kiện thuận tiện cho Tăng chúng tu học. SÁCH THAM KHẢO 1. Võ Văn Tường, Danh Lam Việt Nam. TP. Hồ Chí Minh 2007 2. Nguyễn Bá Lăng, Kiến Trúc Phật Giáo Việt Nam. Viện Đại Học Vạn Hạnh PL.2516 3. Nội San Quảng Hương số 1. PL.2549 – DL.2005 4. Nội San Quảng Hương số 2. PL.2550 – DL.2006 5. Đặc San Về Cội. PL.2552 – DL.2009 6. Trần Hồng Liên, Phật Giáo Ở Thành Phố Hồ Chí Minh. NXB Tổng hợp TP. HCM, 2007 7. Phan Quang Định (dịch) Tìm Hiểu Mỹ Thuật Phật Giáo. NXB Mỹ thuật 2005 8. Thích Thiện Minh, Trần Văn Huân (dịch), Nghệ Thuật Và Kiến Trúc Phật Giáo. NXB TP. HCM, 2000