THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012
Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát và Giá Trị Ứng Dụng
Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát và Giá Trị Ứng Dụng
"Nhẫn, nhẫn, nhẫn, trái chủ oan gia tòng thử tận
Nhiêu, nhiêu, nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu"
(Nhẫn nhẫn, nhẫn những oan gia trái chủ từ đây dứt
Khoan dung, tha thứ ngàn vạn tai họa đều tiêu tan.
Phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát mới đọc vào chúng ta thấy một vị Bồ-tát có một hạnh nguyện ngộ nghĩnh, có vẻ gì đó buồn cười và dường như phiền toái đến người khác. Nhưng nghiên cứu kỹ, hiểu rõ về hạnh nguyện của Ngài chúng ta thấy rằng Ngài đại diện cho chư vị Bồ-tát vì bi nguyện vào đời khéo dùng phương tiện thiện xảo để giáo hóa tứ chúng. Qua hành trạng của của vị Bồ-tát này chúng ta rút ra những bài học giá trị sau đây:
IV.1. TINH THẦN VÔ NGÃ
Vô ngã là giáo lý đặc biệt quan trọng trong Phật giáo. Nó là hệ quả thẩm sát liên tục các nguyên lý duyên khởi, vô thường. Vô thường là tính thay đổi trong khi vô ngã là tính không đồng nhất. Khi một cái gì đó do nhân duyên mà thay đổi thì nó không có tính cách đồng nhất. Do đó nó vô ngã hay về bản chất nó không có chủ thể riêng biệt. Các pháp là vô thường, là khổ cho nên là vô ngã, là giả hợp cho nên vô ngã. Vì vô ngã mới có thể thay đổi, tiến bộ và có thể giác ngộ.
Trong phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát, tinh thần vô ngã được thể hiện rất rõ và rất đặc biệt. Bồ-tát Thường Bất Khinh đạt đến trí tuệ Ba La Mật nên thấy được vô thường, vô ngã. Si mê là vô thường, sân giận là vô thường,... nên mọi chúng sanh đều có thể thay đổi suy nghĩ, bản tính, hành động,... có thể tu tập, có thể đạt đến sáng suốt của trí tuệ siêu việt. Chính vô ngã nên không thấy cái Ta ở chính mình, không chấp thủ, không phân biệt cái khác giữa Ta và Người, thấy tất cả chúng sanh đều bình đẳng trên thể tánh. Mặc dù trên hình tướng biệt nghiệp có sai khác, nhưng tánh giác thì đầy đủ như nhau nên Ngài mới tận lực mà hành trì theo chủ trương của mình, theo bổn hoài độ sanh của Chư Phật là không phân biệt một ai, ngu si hay trí tuệ, đó là trên thể tướng, còn trên thể tánh thì đều như nhau, có tánh giác, không khinh rẻ một ai, luôn tôn trọng mọi người, tôn trọng cái tánh giác của họ để khơi dậy mầm mống giác ngộ nơi họ.
Thiết nghĩ đây là bài học quan trọng cho hành giả trên con đường tu đạo và độ sanh, luôn lấy tâm bình đẳng đại bi mà giáo hóa mọi người, không phân biệt bỉ thử, không chê đây bỏ kia, không lựa chọn để giáo hóa mà đều thương tưởng như nhau, đều tôn trọng lẫn nhau, để sách tấn cho nhau, giúp đỡ nhau trên con đường tu nhơn học Phật. Đồng thời tinh thần vô ngã vị tha của Bồ-tát Thường Bất Khinh đã cho chúng ta một cái nhìn thiện chí, thiện cảm đối với tất cả mọi người dù ác hay thiện. Biết tùy cơ mà giáo hóa, không vì ngu si mà bỏ, không vì lanh lợi mà ưu tiên, không vì giàu nghèo sang hèn mà để tâm phân biệt... mà trái lại luôn luôn dùng tâm đại bi bình đẳng mà độ sanh. Có như thế mới trọn hạnh nguyện của một vị Bồ-tát vào đời độ sanh, độ tận chúng sanh mới tròn hạnh nguyện.
Do đạt đến vô ngã nên Ngài không còn buồn, vui, thương ghét đối với từng đối tượng, cũng không xao động trước lời khen tiếng chê, luôn luôn thấy các pháp là duyên sinh, là không thật nên không sanh tâm, chỉ vì độ sanh mà thực hành hạnh nguyện. Một hành giả tu đạo, tự độ, độ tha phải được như thế thì mới lợi mình lợi người được. Vô ngã mới là Niết bàn, chưa vô ngã thì chưa thể tịch tịnh, cho nên tinh thần vô ngã của Bồ-tát Thường Bất Khinh sẽ là bài học giá trị cho tiến trình tự độ, độ tha tiến lên giác ngộ viên mãn. Người tu chúng ta, điểm cốt yếu là diệt ngã, diệt ngã tức là sống hòa mình cùng tất cả, không phân chia. Vậy cho nên cần phải biết Niết bàn là một cái gì tuyệt đối không dung ngã, do đó điều kiện chính yếu để vào Niết bàn phải là vô ngã. Người tập tu hạnh vô ngã phải thật sự xả ly mọi lời khen chê ở đời, phải thật sự vượt ngoài đối đãi phân chia và phải nghĩ rằng tất cả những chướng duyên ấy cũng chỉ là cái duyên cho ta tu tập để tôi luyện cái tâm vô ngã cho thuần thục. Hãy nhớ lại câu Pháp Cú Phật đã từng dạy:
Như ngọn núi kiên cố
Không gió nào lay động
Cũng vậy giữa khen chê
Người trí không dao động
(Pháp Cú 81)
IV.2. TINH THẦN KHÍCH LỆ VÀ LÒNG TỰ TIN
Khuyến khích là một tinh thần rất cao đẹp, nó vừa thể hiện sự tôn trọng khả năng của người khác, đồng thời bày tỏ lòng vị tha cao cả và cũng chính là thể hiện lòng từ bi vô hạn đối với mọi người.
Trước hết Bồ-tát Thường Bất Khinh được khuyến khích kéo dài thọ mạng khi Ngài sắp tịch... "... nơi giữa hư không nghe trọn hai mươi nghìn muôn ức bài kệ kinhh Pháp Hoa... nghe xong đều có thể thọ trì... liền được sáu căn thanh tịnh, lại sống thêm hai trăm muôn ức na do tha tuổi..." làm cho hàng tăng thượng mạn Tỳ kheo tin phục tùy tùng. Đây là bài học lớn cho chúng ta. Bồ-tát Thường Bất Khinh đã thể nghiệm cho chính mình giáo lý kinh Pháp Hoa, vì hết lòng tin giáo pháp nên kéo dài được mạng sống, hay đúng hơn là hành trì kinh Pháp Hoa, nên chứng đạt được quả vị bất sanh bất diệt.
Cuộc đời tu hành của Bồ-tát Thường Bất Khinh chính là thể hiện tinh thần quả cảm cẩn trọng, bền bỉ không bao giờ lùi bước để khuyến khích mọi người, xua đi mặc cảm tự ti ở người khác, làm cho họ dần dần tự tin vào khả năng mình để tu hành tiến bước.
Chỉ với một hành động đơn lẻ và câu nói duy nhất "các ngươi sẽ thành Phật", Bồ-tát đã gieo vào lòng người một niềm tin sâu sắc, khiến cho mọi người không nên tự khi mình mà phải tin tưởng mình cũng có khả năng như mọi người; tất cả đều có thể tu hành, có thể chứng ngộ, thậm chí là chứng ngộ như Phật.
Khen ngợi, khuyến khích, khích lệ cái khả năng vốn có của người khác là cách tốt nhất để khai phát nguồn giác ở họ. Đây là điểm khởi đầu để giáo hóa, giác tha. Cùng với lời khai thị của Bồ-tát Thường Bất Khinh, hẳn ấy là sự khích lệ lớn lao cho những ai thối chí trong đời sống tu hành của họ. Lắm khi có người vì mặc cảm mình không có khả năng bằng người khác nên không dám làm gì cả, không tin mình có khả năng giác ngộ nên thối chí, không tin mình có khả năng độ sanh nên sống thụ động, không thể thuyết pháp độ sanh. Bồ-tát Thường Bất Khinh đã cho chúng ta bài học: sống không nên thụ động mà phải nên chủ động đến với mọi người để khích lệ họ, khuyến khích họ tu đạo và ngộ đạo.
Tinh thần khích lệ này sẽ giúp cho mình và người đều hưng khởi niềm tin sâu sắc. Tin mình và người đều có khả năng hoàn thành giác ngộ nên luôn phấn đấu để đạt được. Trong thực tế có nhiều người có mặc cảm là mình không giỏi, không thể thành đạt như người khác nên rất tự ti dẫn đến đau khổ. Nhìn người thì sang cả, hạnh phúc, nhìn mình thì nhỏ bé thấp hèn. Theo Bồ-tát Thường Bất Khinh thì mình nên đến với họ, khuyến khích họ rằng: đừng có mặc cảm tự ti mà phải tự tin rằng mình có khả năng trở thành một con người thành đạt... ngươi có thể hoàn toàn đạt đến sự toàn bích. Như trong Cảnh Sách Văn, ngài Quy Sơn dạy:
"Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ. Bất ưng tự khinh như thối khuất"
(Kẻ kia đã là bậc trượng phu, ta cũng như vậy, do đó ta không nên tự khinh mình để rồi cứ thụt lùi mãi).
Đây chính là tinh thần khuyến khích đề cao giá trị của mình và người để cùng nhau tin tưởng mà phấn đấu, xua đi mặc cảm tự ti, làm cho mình và người được hạnh phúc. Đó là một trong những tinh thần thực tiễn của phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát đối với đời sống hiện tại và cũng là giá trị thiết thực trong việc khai phát Bồ đề tâm, khai thị Phật Tri kiến ở mỗi hành giả.
Chỉ với một hành động lễ lạy và xưng tán của Bồ-tát, chúng ta cũng rút ra cho mình thêm một bài học giá trị đó là niềm tự tin sâu sắc vào khả tính thành Phật của bản thân. Đồng thời qua đó cũng chứng tỏ niềm tin Phật, tin Pháp cao tột, tin vào sự hiểu biết của mình để rồi tin tưởng sự giác ngộ ở người khác, để hổ tương cho nhau trên con đường minh tâm kiến tánh, không luống uổng một đời tu hành của kiếp người.
Bằng tâm từ bi bao la và trí tuệ sáng suốt tuyệt vời, Đức Phật đã ban trải ra suốt cuộc đời của Ngài thông qua tam tạng giáo điển mà Ngài truyền lại cho chúng sanh. Chúng ta là người con Phật, đang dấn mình đào sâu giáo nghĩa đó thì phải phát khởi lòng tin tuyệt đối vào lời chỉ dạy của Ngài. Đến đây, ta không còn hoang mang đi tìm cái gì khác nữa ngoài đức tin. Đức tin chính là niềm khát khao muốn vượt thoát ra ngoài khổ đau sinh tử. Niềm tin đó ăn sâu vào lòng đất "Tâm giác ngộ" của chính mình. Vả lại, đức Phật cũng đã dạy "Đức tin là mẹ đẻ của các công đức", nên tự tin là điều tối quan trọng để một hành giả tinh tấn tu hành. Vì tin tưởng mình có thể đạt được sự giác ngộ như Phật nên mới nỗ lực công phu để hầu đạt thành quả giác trong tương lai. Nhưng không phải đặt hết tất cả vào niềm tin để rồi sống một cách tự khi, buông lung, vô trách nhiệm đối với bản thân mình. Niềm tin sẽ rất quan trọng vì không ai có thể giúp đỡ mình bằng mình được. Lòng tự tin sẽ là động lực thúc đẩy cho chúng ta hành động tích cực, biết phấn đấu vươn lên. Đồng thời niềm tin này cũng giúp cho chúng ta biết tôn trọng người khác, tích lũy công đức cho mình, trau dồi đức hạnh và khơi hạnh độ tha. Và cũng là nền móng cho mình phát Bồ đề tâm. Hãy noi gương Đức Phật, noi gương Bồ-tát Thường Bất Khinh để làm sáng lại con người chân thật của chính mình, bản tâm trong sạch của chính mình bằng tâm lực tu tập của chính mình.
IV.3. TINH THẦN KIÊN TRÌ & LÒNG NHẪN NHỤC
Kiên trì và nhẫn nhục là hai đức tính góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành một chí nguyện. Bồ-tát Thường Bất Khinh đã thực hành trọn vẹn hai tinh thần này và đã đạt được mục đích Ngài cần đạt, bằng chứng là Ngài đi khai phát niềm tin nơi mọi người. Lễ lạy, tôn trọng mọi người mà bị người ta khinh rẻ, mắng nhiếc thậm chí đánh đập nhưng Ngài vẫn không thối chí. Ngài vẫn kiên trì, bền bỉ với công việc của mình trong suốt mấy mươi năm như vậy. Trước tiên Ngài là mối phiền toái cho tất cả những người kiêu mạn, vì hạnh kiên nhẫn của Ngài mà khiến họ nổi giận. Nhưng cuối cùng họ đã ghi nhận sự chân thành đó. Chúng ta có thể học tập rất nhiều ở thái độ tích cực của vị Bồ-tát trong sự nghiệp truyền giáo của Ngài.
Muốn làm nên việc lớn thì phải kiên trì và nhẫn nhục. "Có công mài sắt có ngày nên kim", cứ kiên trì lặp đi lặp lại một việc như thế thì cuối cùng cũng sẽ thành công. Như người mài củi lấy lửa cứ kiên trì mài như thế mãi thì mới có lửa, còn nếu mài rồi nghỉ, nghỉ rồi mài thì làm sao có lửa được. Bồ-tát dù bị ngược đãi về thân thể bị đánh đập, thì phải chạy tránh nhưng vẫn giữ niềm tin và không bao giờ chối bỏ chân lý, bởi chân lý vốn hẳn đã hiện hữu từ quá khứ vĩnh hằng. Vì chân lý là vĩnh cửu và bất diệt nên khi một người xuất chúng xuất hiện trên đời này, người ấy có thể tái phát hiện chân lý. Bồ-tát Thường Bất Khinh là một người như thế.
Cuộc đời với biết bao cảnh khổ đau thường diễn ra hằng ngày trong bóng tối mà không ai biết tới để tránh né. Do đó, hạnh nhẫn nhục là dòng nước cam lộ có công năng dập tắt ngọn lửa sân hận trong lòng mình và lòng người, cũng tránh cho mình khỏi bị khổ đau nhiều hơn. Nhẫn nhục lại là liều thuốc đắng để trừ sân hận, được ví như ngọn lửa tam muội dùng để thiêu đốt những sân hận, oán thù, oan trái. Nhẫn nhục thường phải dùng đến trong những trường hợp nghịch cảnh đau thương, nếu vượt qua được thì chóng thành Phật quả.
Ngược lại nếu trong cơn thử thách mà không lấy nhẫn nhục để đối trị là vô tình để cho ngọn lửa sân hận trổi lên, sẽ tiêu tan tàn phá cả một rừng công đức, như trong kinh Phật dạy: "Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai" – một niệm giận hờn nổi lên thì trăm vạn chướng ngại cũng nổi lên là ý nghĩa ở đây vậy.
Nhưng muốn tu hạnh nhẫn nhục được tăng trưởng, ta phải có ý niệm như thế nào? Ta cần phải có trí nhớ để luôn cân nhắc mình rằng: người nào nói xấu hay mắng chửi ta, hoặc nói dèm pha vu oan làm cho ta bực tức,... chính đó là bậc ân nhân của ta đã đem phúc báo cho ta, nhờ đó mà đức nhẫn nhục được bội phần. Và càng phải nhớ lời Phật dạy:
"Nhẫn, nhẫn, nhẫn, trái chủ oan gia tòng thử tận
Nhiêu, nhiêu, nhiêu, thiên tai vạn họa nhất tề tiêu"
(Nhẫn nhẫn, nhẫn những oan gia trái chủ từ đây dứt
Khoan dung, tha thứ ngàn vạn tai họa đều tiêu tan).
Như vậy tinh thần kiên trì và lòng nhẫn nhục qua phẩm Thường Bất Khinh đã cho chúng ta những kinh nghiệm hết sức quý báu để tô bồi thêm cho cuộc hành trình diệu vợi của mỗi người. Người tu pháp nhẫn nhục phải luyện sao cho tâm ý phẳng lặng như tờ, sân hận lắng xuống và tâm bất động tựa như tảng đá lớn mặc cho mưa gió dập vùi, nắng sương dầu dãi, vẫn cứ trơ trơ, đó là cuộc chiến thắng nội tâm đầy ý nghĩa. Tóm lại, kiên trì và nhẫn nhục là hai yếu tố không thể thiếu giúp cho hành giả hoàn thành chí nguyện tự độ và độ tha.
IV.4. BÀI HỌC ỨNG XỬ
Hơn bộ kinh nào hết, kinh Pháp Hoa nêu rõ nhân duyên mà chư Phật xuất thế đó là vì giác ngộ cho chúng sanh thoát vòng sinh tử, tám vạn bốn ngàn pháp môn với thiên kinh vạn quyển được chép ra cũng không ngoài mục đích tối hậu đó. Đức Phật đã nêu ra tôn chỉ, phương pháp để cho chúng sanh noi theo mà được giác ngộ như Phật. Đức Phật là bậc đã giác ngộ, Pháp là con đường, phương pháp mà Phật chỉ ra cho chúng sanh hành trì tu tập và chúng Tăng là những người thừa tự Pháp, là những vị sống theo phương châm " hoằng Pháp thị gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp", là những người có thể" truyền đăng tục diệm" làm cho chánh pháp mãi trường tồn trong thế gian. Chúng tăng - đệ tử của Phật phải là những người có trách nhiệm truyền trao giáo lý của đức Phật đến cho khắp chúng sanh hữu duyên với Phật pháp. Họ là những người học Phật, đồng thời là người thừa hành làm cho giáo lý của đức Phật được sống giữa thế gian. Không có Tăng, Phật pháp không thể tồn tại, họ chính là sứ giả của Như Lai" Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự" và Tỳ kheo Bồ tát Thường Bất Khinh với trí tuệ làm hành trang, hạnh lục độ làm sức mạnh đã hoàn thành chí nguyện đem thông điệp của chư Phật đến cho tất cả mọi người, hoàn thành trách vụ của một vị Tỳ kheo tự độ, độ tha, giác hạnh viên mãn. Do ngộ được pháp Phật hay nói rõ hơn là ngộ được lý nghĩa trong kinh Pháp Hoa mà Ngài hành theo kinh Pháp Hoa, đó là khẳng định chứng minh cho mọi người thấy" tất cả chúng sanh đều trọn thành quả Phật" Với niềm tin tuyệt đối vào Pháp Hoa, tin vào trí tuệ của Phật, của mình nên Ngài xả thân vì việc hoằng truyền chánh Pháp dù cho có gặp phải chống trái, hiềm khích, hủy nhục vẫn không từ nan. Đây là bài học lớn cho mỗi người đệ tử Phật trong khi hành đạo cần phải có. Chúng sanh thời mạt pháp cang cường khó giáo hóa, nói gần hơn con người ngày nay chạy theo cuộc sống vật chất, hiện đại luôn lấy khoa học lạnh lùng làm kim chỉ nam mà sống, quên đi cuộc sống tâm linh hay ít ra cũng hời hợt với cuộc sống tinh thần của mình, nên người hoằng pháp sẽ phải đối đầu với nhiều khó khăn. Hạnh Lục độ của Bồ tát Thường Bất Khinh sẽ là bài học vô giá cho những người học đạo và hành đạo, những người vì bi nguyện mà hoan hỷ vào đời dù cho có phải gặp nhiều gian nan, vì chúng sanh nên hỷ xả, và vì sự giác ngộ mà vong ngã.
Chúng ta, những người học Phật, cần tin tưởng sâu sắc vào lời Phật dạy:" Tất cả đều có Phật tánh"," Hết thảy đều làm Phật đà". Với lòng tin tưởng đó, chúng ta sẽ biết tôn trọng mình và người, vì đó chính là tôn trọng Phật tính. Ở đây, người viết xin được trích lời của Hòa Thượng Cố Viện Trưởng để thay cho lời kết của chương này:
"Cho nên người Phật tử chân chính phải luôn luôn cố gắng phát huy Phật tánh cao quý cho mình và chúng sinh. Không xem thường, không khinh rẻ một chúng sinh nào, dù là hạng người mà xã hội cho là thấp kém, huống chi đến sự giết hại một cách vô ý thức, vì tự kỷ, vì vô minh. Vậy nên, hết thảy hành động tự lợi, lợi tha hoặc người Phật tử mà gọi rằng lợi, là phải hướng về mục đích phát huy Phật tánh ấy. Phật tử gánh vác nhiệm vụ ấy và hành động với tất cả cố gắng vì tự nhận là bổn phận thì dầu bị khổ nhục, dầu bị tai hại gì, cũng bền chí lướt qua và coi đó là thành công chứ không phải hy sinh. Ngài Bồ tát Thường Bất Khinh là tượng trưng cho tinh thần Phật tử đó vậy.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét