THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm Thứ Nhất

Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm Thứ Nhất "Phẩm" : Tức là phẩm loại. Phẩm nầy nói về chủ thế gian và chủ xuất thế gian, đủ loại cảnh giới trang nghiêm vi diệu, trang nghiêm cõi nước, trang nghiêm cõi Phật không thể nghĩ bàn. "Thế" : Tức là thế giới. "Chủ" : Tức là chủ nhân. Chủ nhân của thế giới là Ðức Phật. Ngài không những là chủ thế gian, mà còn là chủ xuất thế gian. Chủ thế gian tức là tất cả Chuyển Luân Thánh Vương, tức cũng là : Kim Chuyển Luân Vương, Ngân Chuyển Luân Vương, Ðồng Chuyển Luân Vương, và Thiết Chuyển Luân Vương. Bốn vị Luân Vương nầy, chỉ làm được chủ thế gian mà không làm được chủ xuất thế gian. "Diệu" : Thì không thể dùng tâm suy nghĩ, không thể dùng lời nói để bàn luận, nghĩa là nghĩ không đến, nói không ra. "Nghiêm" : Tức là trang nghiêm. Sự trang nghiêm nầy chẳng phải một số người có thể biết được, thấy được. "Thứ nhất" : Nghĩa là bắt đầu, phẩm nầy thuộc về phẩm thứ nhất, cho nên gọi là Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm Thứ Nhất. Tôi nghe như vầy. Bốn chữ "Tôi Nghe Như Vầy" rất là quan trọng. Phàm là bắt đầu Kinh của Ðức Phật nói, đều có bốn chữ nầy. Dùng bốn chữ "Tôi Nghe Như Vầy" để mở đầu Kinh. Có sáu ý nghĩa : 1. Khác với ngoại đạo : Tức là chẳng giống như ngoại đạo. Vì Kinh của ngoại đạo mở đầu thì dùng hai chữ "A Ẩu". A là không, Ẩu là có. Pháp nói ra chẳng phải có thì là không, cho nên dùng A Ẩu hai chữ để mở đầu Kinh. Phật pháp thì chẳng phải như thế. Phật pháp thì chẳng có chẳng không, chẳng không chẳng có, chẳng rơi vào có, chẳng rơi vào không. Ngoại đạo cho rằng có tức là có, không có thì là không, đó là "hai bên". Phật pháp thì không rơi về hai bên, cho nên dùng bốn chữ "Tôi Nghe Như Vầy", để đại biểu mở đầu Kinh. Hai chữ "Như Vầy" là chỉ lời văn của Pháp. "Tôi Nghe": Nghĩa là lãnh nạp. Thế nào là chỉ lời văn của pháp ? "Như Vầy": Tức là pháp nầy, không "Như Vầy" thì chẳng phải pháp nầy. Pháp nầy là pháp gì ? Tức là pháp trung đạo liễu nghĩa. Thế nào gọi là lãnh nạp ? "Tôi Nghe", tức là Tôn Giả A Nan nghe pháp, nghe được pháp nầy, nghĩa là lãnh thọ tiếp nạp. 2. Dứt tranh luận : Tranh tức là tâm háo thắng, là trái với đạo, sinh ra bốn tướng : tướng ta, tướng người, tướng chúng sinh, và tướng thọ mạng, làm sao đắc được tam muội ! Tranh những gì ? Tranh đệ nhất, tức là bây giờ chúng sinh đều muốn tranh đệ nhất, cho nên có tranh luận. Bốn chữ "Tôi Nghe Như Vầy" là biểu thị bộ Kinh nầy chẳng phải Tôn giả A-Nan tự nói, mà là nghe được từ Ðức Phật. Vì đây là Ðức Phật nói, cho nên đại chúng không có gì để nói, do đó mà chẳng còn tranh luận nữa. 3. Không tăng giảm : Từ "Tôi Nghe Như Vầy" về sau, nhất thời, Phật tại xứ nào ? với đại chúng bao nhiêu ? nói Kinh gì ? Tất cả đệ tử không dám sửa đổi, không thể nhuận sắc, tức là Kinh văn không thể tăng một chữ, cũng không thể giảm một chữ. 4. Dứt sự nghi ngờ của đại chúng : Vì Tôn Giả A-Nan ở trong đại chúng, Ngài là người trẻ tuổi nhất, đương nhiên đạo đức không đủ để cảm hoá người, nhưng Ðức Phật đem Tạng Pháp truyền trao cho Ngài, dạy Ngài kết tập Kinh điển. Khi Tôn giả A-Nan lên pháp toà, thì đại chúng sinh ra ba điều nghi hoặc. A : Nghi hoặc Ðức Phật Thích Ca không vào Niết Bàn ? Còn trở lại thuyết pháp cho chúng ta. Vì Ngài A-Nan cũng có 32 tướng tốt trang nghiêm giống như Ðức Phật, chỉ thân thấp hơn thân của Phật một chút mà thôi. B : Nghi hoặc mười phương chư Phật đến thuyết pháp ? C : Nghi hoặc Tôn giả A-Nan đột nhiên chứng được quả vị Phật ? Vì tướng tốt của Tôn giả rất trang nghiêm. Khi Tôn Giả A Nan mở miệng nói :"Tôi Nghe Như Vầy", thì đầu não của các vị đại A La Hán tỉnh lại, không mê hoặc nữa. 5. Sinh tín tâm : Khiến cho tất cả chúng sinh sinh tín tâm, vì pháp "Như vầy" là đáng tin, pháp "không như vầy" thì không đáng tin. Cho nên nói "Như vầy" là chỉ lời văn của pháp. 6. Thuận đồng : Ðều thuận đồng với chư Phật ba đời, vì ba đời chư Phật mở đầu Kinh điển, đều nói bốn chữ "Tôi Nghe Như Vầy", cho nên Kinh của Phật câu thứ nhất mở đầu là : "Tôi Nghe Như Vầy". Khi Ðức Phật sắp vào Niết Bàn thì Ngài A Nan chưa chứng quả A La Hán, cũng chưa đoạn dục khử ái, cho nên đau đớn khóc lóc rơi lệ bi ai đến cực điểm, chẳng còn nhớ đến việc gì. Lúc đó, Tôn Giả A Nậu Lâu Ðà đến nói với Tôn giả A Nan :"A Nan ! Ðừng quá bi ai, Phật đem tất cả Tạng Pháp truyền cho Ngài, Ngài là người tương lai kết tập Kinh điển, trách nhiệm trọng đại, bây giờ nên đi thưa hỏi Ðức Phật, việc tương lai phải làm như thế nào ?" Tôn Giả A Nan nói : Phật vào Niết Bàn rồi, tương lai còn có việc gì nữa mà hỏi ? Chẳng còn việc gì nữa." Tôn Giả A Nậu Lâu Ðà nói :"Phật vào Niết Bàn rồi, việc quan trọng trong tương lai là hoằng dương Phật pháp, phải mau đến hỏi Ðức Phật !" Tôn Giả A Nan hỏi lại :"Vậy tôi phải hỏi Ðức Phật về vấn đề gì ?" Tôn Giả A Nậu Lâu Ðà nói :"Có bốn vấn đề vô cùng quan trọng, không hỏi không được". 1. Khi Ðức Phật còn ở đời thì chúng ta nương theo Phật, khi Phật vào Niết Bàn rồi thì chúng ta nương theo ai ? Tôn Giả A Nan cảm thấy vấn đề nầy rất có đạo lý, tương lai chúng ta đi ở đâu ? điều nầy nên hỏi. 2. Khi Ðức Phật còn ở đời thì chúng ta nương Phật làm thầy, khi Phật vào Niết Bàn rồi thì chúng ta nương theo ai làm thầy ? Tôn Giả A Nan nghĩ nếu không có Phật thì làm sao tu hành ? Vấn đề nầy không hỏi không được. 3. Khi Ðức Phật còn ở đời thì những Tỳ Kheo ác tánh, Phật có thể hàng phục, khi Ðức Phật vào Niết Bàn rồi thì do ai điều phục ? Làm sao điều phục ? Tôn Giả A Nan cảm thấy vấn đề nầy cũng nghiêm trọng, càng nên hỏi. 4. Khi kết tập Kinh điển thì mở đầu Kinh văn phải dùng chữ gì ? Tôn Giả A Nan nghĩ vấn đề nầy càng nên hỏi Ðức Phật. Do đó, Tôn Giả A Nan đến bên cạnh Ðức Phật, hỏi bốn vấn đề nầy. Phật trả lời cho Ngài A Nan :"Khi ta vào Niết Bàn rồi thì y theo Bốn Niệm Xứ mà trụ", đó là câu trả lời thứ nhất. "Khi ta vào Niết Bàn rồi thì phải lấy giới làm thầy", đây là câu trả lời thứ hai. "Khi ta vào Niết Bàn rồi, nếu có Tỳ Kheo ác tính không giữ giới luật, thì đừng nói năng gì với họ", đó là câu trả lời thứ ba. "Khi kết tập Kinh điển thì mở đầu Kinh dùng :"Tôi Nghe Như Vầy", đó là câu trả lời thứ tư. Bốn Niệm Xứ là gì ? Tức là : Thân niệm xứ Thọ niệm xứ Tâm niệm xứ Pháp niệm xứ. Y chiếu theo Bốn Niệm Xứ nầy để tu hành, thì có thể chứng quả, có thể giải thoát. Tại sao chúng ta chẳng chứng quả ? Tại sao không thể thoát khỏi luân hồi ? Vì không : Quán thân bất tịnh Quán thọ là khổ, Quán tâm vô thường Quán pháp vô ngã. Chấp trước cái ta, đây là của ta. Nhà là của ta, đợi đến khi hơi thở không còn nữa, thì gì cũng chẳng phải của ta. Cho nên có câu : "Cá nhảy trong nước, Người nào ở nhân gian, Chẳng biết gieo phước lành, Tâm cứ tạo tội nghiệp, Vàng bạc chất thành núi, Nhắm mắt bỏ lại hết, Tay không chầu Diêm Vương Hối hận quá muộn màng". Bây giờ giải thích đại ý về Bốn Niệm Xứ : 1. Quán thân bất tịnh : Thân thể của chúng ta vốn chẳng sạch sẽ, chín cái lỗ thường chảy ra những thứ bất tịnh dơ dáy, như mắt thì có ghèn, lỗ tai có cức váy, mũi thì có nước mũi, miệng thì có đàm, thêm vào đại và tiểu tiện. Ðã biết thân thể bất tịnh, là túi da hôi thối thì không nên chấp trước nó. Nếu không chấp trước thì sẽ đắc được giải thoát, không bị thân thể làm phiền luỵ. Lão Tử biết được ý nầy cho nên nói : "Sở dĩ ta có đại hoạn vì ta có thân, Nếu ta không có thân nầy thì sao có hoạn ?" Lão Tử hiểu được lý quán bất tịnh. 2. Quán thọ là khổ : Tất cả những gì tiếp thọ đều là khổ. Khổ có ba thứ khổ, tám thứ khổ, vô lượng thứ khổ. Ba thứ khổ là gì ? Tức là : Khổ khổ Hoại khổ Hành khổ. A. Khổ khổ : Tức là khổ trong sự khổ, khổ lại thêm khổ. Ví như có người vốn chẳng có nhà để ở, lại gặp ngày trời mưa. Hoặc là không có quần áo mà gặp phải thời tiết lạnh. Hoặc là vốn không có cơm ăn lại sinh bệnh. Sinh bệnh không có tiền đi khám bác sĩ, không có tiền mua thuốc uống, đó là khổ trong sự khổ của kẻ nghèo. B. Hoại khổ : Người nghèo thì có khổ khổ, còn người giàu thì có hoại khổ. Hoại khổ là gì ? Người giàu thì ở lầu cao cửa rộng, trang hoàng đẹp đẽ, chẳng may bị cháy nhà, thiêu trụi nhà cửa, hoặc là người có vàng bạc châu báu bị người trộm cắp, hoặc là bị tai nạn như chiến tranh, nạn gió, nạn nước, đó đều là hoại khổ. C. Hành khổ : Tức là con người từ khi sinh ra, lớn lên trưởng thành, rồi già nua và chết đi, luôn luôn biến đổi không ngừng, đó là hành khổ. Trong cuộc đời tuy nhiên không có khổ khổ, không có hoại khổ, nhưng có hành khổ. Những thứ khổ nầy, bất cứ ai cũng đều phải chịu, không có ai tránh khỏi được. Ðức Phật lúc tám mươi tuổi còn phải thị hiện vào Niết Bàn. Tám sự khổ là gì ? Tức là : Sinh, già, bệnh, chết, thương yêu xa lìa, ghét mà gặp nhau, cầu mong không được, năm ấm xí thạnh. A. Sinh là khổ : Khi con người sinh ra thì giống như ở giữa hai hòn núi đè ép sinh ra, cho nên trẻ con mới sinh ra thì khóc lên, đó là biểu thị sự khổ, bắt đầu tiếp thọ sự khổ. B. Già là khổ : Con người đến tuổi già thì tứ chi không linh hoạt, cử động rất bất tiện, mắt loà, tai điết, tóc bạc, răng rụng, luôn luôn không được tự tại, do đó có câu :"Tâm có thừa mà sức chẳng đủ". C. Bệnh là khổ : Ðất nước gió lửa không đều hoà thì sinh bệnh, bệnh có đủ sự thống khổ khó mà tả được. D. Chết là khổ : Bệnh khổ qua rồi thì chết khổ lại đến. Ðến lúc chết thì sự thống khổ giống như bò sống lột da, như rùa lột mai, thứ khổ nầy chẳng cách chi mà hình dung được. E. Khổ về thương yêu xa lìa : Sự khổ nhất của đời người là sinh ly tử biệt. Vì có ái, ái là vực thẳm tạo nghiệp, nếu đoạn dục khử ái thì nghiệp chướng sẽ nhẹ bớt. Nếu tình ái quá nặng thì nghiệp chướng sẽ nặng thêm. Do đó có câu : "Nghiệp sạch tình không là Phật Nghiệp nặng tình mê là phàm phu". Phàm phu vì tình mà mê, nhìn không thấu được ái tình, buông chẳng đặng ái tình, cho nên mới có khổ. Ái là một thứ chấp trước lớn nhất, thứ chấp trước nầy không dễ gì buông bỏ đặng. Khổ về thương yêu xa lìa, tức là vốn chẳng muốn từ bỏ, nhưng nhất định phải từ bỏ, là bị bắt buộc cưỡng bách mà từ bỏ, tình trạng nầy rất là thống khổ. Như vợ chồng thì có khổ xa lìa của vợ chồng, con cái thì có khổ xa lìa của con cái, bạn bè thì có khổ xa lìa của bạn bè. Tóm lại có ái thì khi xa lìa sẽ khổ. F. Khổ về ghét gặp nhau : Thương cũng có sự khổ, ghét cũng có sự khổ. Người mà ta ghét không muốn gặp nhưng lại gặp, đó cũng là một thứ khổ. G. Khổ về cầu mong không được : Cầu danh không được danh, cầu lợi không được lợi, cầu con trai, con gái không được mãn nguyện, cầu giàu sang không được giàu sang. Tóm lại, những gì mong muốn mà không thành công cũng là một thứ khổ. H. Khổ về năm ấm xí thạnh : Năm ấm tức là : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức năm ấm nầy chẳng không thì khổ, cũng giống như bị núi năm ấm đè, một chút tự do cũng không có, không có tự do tức là khổ. Thứ khổ nầy giống như lửa thiêu ở trong tâm. Vô lượng khổ là gì ? Ở trên đã nói qua ba sự khổ và tám sự khổ, nếu phân tích tỉ mỉ thì trong mỗi thứ khổ lại có vô lượng khổ, trong vô lượng khổ lại có vô lượng khổ. Khổ vô cùng vô tận, cho nên gọi là vô lượng khổ. 3. Quán tâm vô thường : Tức là tâm quá khứ, tâm hiện tại và tâm vị lai, ba tâm không thể bắt lấy, là vô thường, cũng có thể nói :"Các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt", chẳng hằng thường bất biến, cho nên gọi là vô thường. Quán sát tâm người là vô thường, chân tâm mới là thường. Tại sao nói tâm người vô thường ? Vì tâm người khéo biến đổi, giống như sóng vậy, chẳng khi nào ngừng nghỉ. Tâm niệm nầy sinh thì tâm niệm kia diệt, niệm niệm liên tục không ngừng. Lại giống như hạt bụi trong hư không, hốt lên hốt xuống, hốt đông hốt tây, không có nhất định, đó là tâm vô thường. Gì là thường ? Tức là thường trụ chân tâm, tính tịnh minh thể. Ðây là đạo lý quán tâm vô thường. 4. Quán pháp vô ngã : Tức là quán sát : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức năm uẩn chẳng có "cái ta"(ngã). Nếu như có "cái ta" thì có chấp "cái ta"(ngã chấp). Nếu lại chấp trước nơi pháp thì có pháp chấp. Như thế thì chẳng được tự tại, chẳng được giải thoát. Nếu quán pháp vô ngã, hai pháp đều không, người cũng chẳng có ngã, pháp cũng chẳng có ngã, thì phá được người và pháp hai chấp. Ðó là đạo lý quán pháp vô ngã. A. Sắc pháp : Phàm là thấy được hình tướng, nói ra được danh từ thì tất cả hết thảy đều gọi là sắc pháp. Thứ pháp nầy nhìn không thủng, buông chẳng đặng, thì chẳng đắc được tự tại. Thứ sắc pháp nầy có nội sắc và ngoại sắc. Ngoại sắc tức là có hình chất. Tức nhiên sắc bên ngoài có hình chất, bên trong thì có bóng. Nội sắc tức là bóng. Có bóng thì có vọng tưởng về sắc, thì không thể vô ngã, bạn ái trước sắc nầy là vì có cái ta (ngã), bạn chấp trước sắc nầy cũng là vì bạn có cái ta (ngã). Nếu chẳng có cái ta thì không có gì để chấp trước, thì chẳng có chướng ngại, đó là nhìn xuyên thủng. Nhìn xuyên thủng được thì buông bỏ được. Buông bỏ được thì sẽ đắc được tự tại. B. Thọ pháp : Phàm là tiếp xúc cảnh giới bên ngoài ban đầu có sự lãnh thọ. Nếu không có cái ta thì chẳng có xúc trần, không có xúc trần thì đắc được tự tại. Ngược lại, nếu có cái ta tồn tại thì không được tự tại. C. Tưởng pháp : Tức là vọng tưởng. Tại sao bạn chẳng đối trị được vọng tưởng ? Tức là vì có cái ta. Nếu không có cái ta, thì vọng tưởng gì cũng chẳng có, liền đắc được cảnh giới vô sở tưởng. D. Hành pháp : Nghĩa là liên tục. Niệm niệm biến đổi không ngừng. Giống như nước chảy, đó là hành uẩn. Muốn nhìn xuyên thủng hành uẩn thì phải đừng có cái ta. E. Thức pháp : Tức là : mắt, tai mũi, lưỡi, thân, ý, Mạt na, A lại da tám thức. Tám thức nầy cũng ở trong chân và vọng. Chỉ một cái biến thì biến thành Ðại viên cảnh trí. Không biến thì là tám thức. Chuyển tám thức thành bốn trí, thì chẳng còn cái ta (vô ngã). Quán pháp năm uẩn vô ngã được, thì đó là quán pháp vô ngã. Tại sao đức Phật dạy đệ tử lấy giới làm thầy ? Vì giới là sinh thiện diệt ác. Nương giới làm thầy thì sẽ sinh ra các điều lành. Nương giới làm thầy thì sẽ diệt trừ các điều ác. Tôi Nghe Như Vầy là gì ? Cái gì là tôi ? Phàm phu có sự chấp trước về cái tôi (ngã), chấp trước hết thảy đều là sở hữu của tôi. Ngoại đạo có cái ngã. Bậc A La Hán và Bồ Tát có cái giả ngã. Tôn giả A Nan đã đắc được quả vị Thánh nhân, thì chẳng còn cái ta (ngã) nữa. Chữ "tôi " nầy là giả danh làm "tôi", trên thực tế thì chẳng phải tôi. Tại sao phải có "tôi" giả danh ? Vì nếu nói không có cái tôi, thì tất cả chúng sinh đều sinh tâm sợ sệt. Họ nghĩ tức nhiên chẳng có cái tôi, thì hà tất phải tu đạo ? Tu hành cái gì ? Bèn sinh tâm sợ sệt. Cho nên thuận theo thế tục nói giả danh là ngã, đó là cái tôi của Tôn giả A Nan. "Tôi Nghe". Tôi làm sao nghe ? Nghe là lỗ tai nghe, thân thể con người mỗi bộ phận đều có tên của nó, đầu thì có tên đầu, tay thì có tên tay, chân thì có tên chân, mỗi bộ phận đều có tên của nó, nhưng tìm cái tôi không thể được. Bây giờ tại sao lại nói có cái tôi ? Vì cái tôi nầy là tổng quát toàn thân, tên là tôi. Vì tôi là tổng quát thân thể, cho nên tôi nghe. "Như" là bất biến. "Vầy" là vô phi. Dùng hằng thường bất biến làm "như", quyết định không có chẳng phải làm "vầy". "Như" là chỉ lời văn của pháp, pháp như vầy tức là như vầy. Pháp không như vầy tức là không như vầy. Ðịnh như vầy, huệ như vầy, tĩnh như vầy, động như vầy. Tức là định huệ động tĩnh. Pháp như vầy là tôi A Nan nghe từ Ðức Phật. Một thời, Ðức Phật ở tại nước Ma Kiệt Ðề, trong A lan nhã pháp bồ đề tràng. "Một thời" : Tức là một thời, một thời nầy là thời nào ? Là thời mà Tôn giả A Nan nghe Ðức Phật thuyết pháp. Vậy vào năm nào ? Tháng nào ? Ngày nào ? Giờ nào ? Tại sao chẳng có ngày tháng chính xác ? Vì sự dùng lịch ở Ấn Ðộ và Trung Quốc chẳng giống nhau, giống như bây giờ có âm lịch và dương lịch. Nếu đem ngày tháng của Ấn Ðộ dịch thành ngày tháng của Trung Quốc, thì phải tìm tòi tính toán khảo chứng, cần thời gian, kết quả chẳng có đại dụng là bao. Hơn nữa, vì Phật pháp thì có chư Thiên và chúng sinh, trong mười phương thế giới đều đến nghe pháp, càng không cách chi nhớ ngày tháng chính xác, hơn nữa vì bộ Kinh nầy có lúc nói ở nhân gian, có lúc nói ở trên cung trời. Do đó, trong Kinh chẳng nói năm nào tháng nào ngày nào giờ nào, mà dùng "Một thời" để đại biểu cho ngày tháng. Một thời tức là "thời thành tựu" ở trong sáu thành tựu. Sáu thành tựu là : 1. Tin thành tựu. 2. Nghe thành tựu. 3. Thời thành tựu. 4. Chủ thành tựu. 5. Xứ thành tựu. 6. Chúng thành tựu. 1. Tin thành tựu : Như vầy là tin thành tựu. Pháp như vầy là đáng tin, là chánh tri chánh kiến. 2. Nghe thanh tựu : Tôi nghe là nghe thành tựu. Tôi A Nan nghe được pháp nầy, y pháp tu hành thì sẽ thành tựu đạo nghiệp. 3. Thời thành tựu : Một thời là thời thành tựu, tức là lúc Ðức Phật thuyết pháp. 4. Chủ thành tựu : Ðức Phật là chủ thuyết pháp. Trong Kinh Hoa Nghiêm có lúc Bồ Tát là chủ thuyết pháp. 5. Xứ thành tựu : Ðạo tràng là xứ thành tựu. Ðức Phật thuyết pháp ở dưới cội bồ đề, đây là đạo tràng. 6. Chúng thành tựu : Những người nghe pháp là chúng thành tựu. Các đại Bồ Tát và đại A La Hán đều nghe Ðức Phật thuyết pháp. Ðức Phật ở tại nước Ma Kiệt Ðề. Phật là nửa chữ Phạn, gọi đầy đủ là Phật Ðà Gia, còn gọi là Bố Ðạt Gia. Phật nghĩa là bậc giác ngộ. Phật giác ngộ có ba nghĩa tức là : Tự giác, giác tha, giác mãn. Do đó có câu :"Ba giác tròn, vạn đức đầy", cho nên xưng là Phật. Tự giác khác với phàm phu, phàm phu tuy nhiên có bổn giác, nhưng không giác ngộ, vẫn hồ đồ, lấy phải làm trái, lấy trái làm phải, một đời bận rộn ở trong danh lợi. Cho nên Phật giác và tự giác của phàm phu chẳng giống. Giác tha khác với tiểu thừa. Người tiểu thừa chỉ tự giác mà không giác tha, mình minh bạch đạo lý sinh tử mà không đi giáo hoá chúng sinh, khiến cho chúng sinh cũng minh bạch đạo lý sinh tử. Cho nên giác tha chẳng giống với tiểu thừa. Giác mãn khác với Bồ Tát. Bồ Tát thì tự giác rồi lại giác ngộ kẻ khác, nhưng không giác mãn. Phật thì giác hạnh viên mãn, cho nên giác mãn chẳng giống Bồ Tát. Làm thế nào để giác hạnh viên mãn ? Ðó là : "Ba A Tăng Kỳ tu phước huệ, Trăm ngàn ức kiếp trồng tướng tốt". Ðức Phật ở trong ba đại A Tăng Kỳ kiếp tu phước tu huệ, trong trăm đại kiếp tu công đức tướng tốt. Cho nên Ðức Phật ba giác đều viên mãn, vạn đức đầy đủ, nên đã thành Phật. Nước Ma Kiệt Ðề ở tại hướng đông Ấn Ðộ, dịch là "không độc hại", vì dân chúng của nước nầy đều có tinh thần từ bi hỷ xả, ai cũng chẳng độc hại ai, ai cũng chẳng làm thương hại đến ai, đều biết bỏ ác hướng thiện, cho nên Phật lựa chọn nơi nầy để thành Phật. "Trong A Lan Nhã Pháp Bồ Ðề Tràng". A Lan Nhã dịch là "nơi vắng lặng", là nơi không có ồn náo. Tại Tùng Lâm trong núi là đạo tràng tu hạnh Ðầu đà (khổ hạnh), tuy nhiên ở trong Tùng Lâm cũng khởi vọng tưởng. Nếu thanh tịnh thì dù ở thành thị cũng chẳng có vọng tưởng, đó tức là nơi A Lan Nhã. Pháp : Là phương pháp, là tu phương pháp vắng lặng. Phải minh bạch phương pháp tu hành, mới không bị cảnh giới làm lay chuyển, ngược lại chuyển được cảnh giới, do đó "Người chuyển được cảnh giới, cảnh giới không chuyển được ngưới". Ðó tức là A Lan Nhã Pháp. Bồ Ðề Tràng : Tức là nơi Ðức Phật giác ngộ. Lúc trước, khi Phật chưa thành Phật thì cũng là chúng sinh. Sau khi thành Phật rồi là chúng sinh "đại giác viên mãn", cho nên nói là đạo tràng giác ngộ. Ai giác ngộ ? Là chúng sinh giác ngộ. Ðạo tràng chúng sinh giác ngộ, cho nên thành Phật. Do đó : "Giác là Phật, mê là chúng sinh". Ðức Phật tu khổ hạnh sáu năm tại núi Tuyết, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè. Sau đó mới đến dưới cội bồ đề, phát nguyện nếu không thành đạo thì ngồi chỗ nầy, quyết không đứng dậy. Ngài tĩnh toạ bốn mươi chín ngày, đêm cuối cùng thấy sao mai mọc mà ngộ đạo. Ngộ đạo gì ? Biết được sinh từ đâu đến ? Chết rồi đi về đâu ? Sau khi giác ngộ Ngài nói :"Lành thay ! Tất cả chúng sinh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, nhưng vì vọng tưởng chấp trước nên không chứng đắc"! Ban đầu thành Chánh giác. Vì đức Phật tu nhân hoa vạn hạnh, nên thành tựu quả vị Phật vô thượng. Tu nhân tròn thì kết quả đầy, cho nên thành Phật, vị Phật nầy là ai ? Tức là Ðức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, giáo chủ thế giới Ta Bà nầy. (Thích Ca dịch là Năng Nhân là họ của Ðức Phật. Mâu Ni dịch là tịch mặc, là tên của Ðức Phật. Năng Nhân biểu thị thiện, hay ban hành nhân từ. Tịch mặc biểu thị tịch nhiên bất động). Sau khi Ðức Phật thành đạo, Ngài suy tư chư Phật quá khứ sau khi thành Phật, trước hết đều nói Kinh Hoa Nghiêm. Chư Phật hiện tại sau khi thành Phật, trước hết cũng nói Kinh Hoa Nghiêm. Chư Phật vị lai sau khi thành Phật cũng sẽ nói Kinh Hoa Nghiêm. Tóm lại, trước hết chư Phật đều nói Kinh Hoa Nghiêm, mới kiến lập được cơ sở của pháp, cho nên Kinh Hoa Nghiêm là gốc rễ của tất cả các pháp. Khi đức Phật ban đầu thành chánh giác thì nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy. Thời gian hai mươi mốt ngày, thì nói xong bộ Kinh nầy. Thời nói Kinh Hoa Nghiêm là thời thành tựu, ban đầu thành chánh giác là chủ thành tựu. Nước Ma Kiệt Ðề trong A Lan Nhã Pháp Bồ Ðề Tràng là xứ thành tựu. Mặt đất kiên cố, do kim cang làm thành. Chỗ của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ban đầu thành chánh giác, là ở tại nước Ma Kiệt Ðề dưới cội bồ đề. Lúc đó đất ở bốn phía chung quanh cây bồ đề, đều biến thành rất kiên cố, đất nầy chẳng phải đất mà là do đá kim cương làm thành. Ðá kim cương là vật cứng chắc nhất. Có ba thứ tác dụng đó là : Cứng chắc, sáng, và sắc bén. 1. Cứng chắc : Là biểu thị chí nguyện của con người phải kiên cố, bất cứ vật gì cũng không thể phá hoại được. 2. Sáng : Tức là quang minh, biểu thị trí huệ của con người phải sáng suốt. 3. Sắc bén : Là biểu thị sự tinh tấn của con người, phải nhanh chóng như sự sắc bén của thanh kiếm. Phía trên có bánh xe báu tốt đẹp, có vô số hoa báu và châu ma ni thanh tịnh dùng để nghiêm sức. Phía trên nhất có bánh xe báu không thể nghĩ bàn, và có rất nhiều thứ hoa báu anh lạc, còn có châu ma ni báu thanh tịnh dùng để nghiêm sức đạo tràng. Bánh xe báu và hoa báu rất mỹ lệ, lại thêm châu ma ni báu thanh tịnh, càng làm cho trang nghiêm thêm. Các biển màu sắc tướng, hiển hiện vô biên. Châu Ma ni là một thứ báu, màu sắc của nó đặc biệt rất đẹp, có rất nhiều màu sắc ánh sáng vạn tía ngàn hồng, vì màu sắc rất nhiều tướng, giống như biển, nhìn rất trang nghiêm phi thường, đặc biệc đẹp đẽ, cho nên nói các biển màu sắc. Màu sắc và sự trang nghiêm nầy, hiển hiện ra vô lượng vô biên để trang nghiêm đạo tràng. Châu ma ni dùng làm tràng, thường phóng ánh sáng, luôn vang ra âm thanh hay, các mành lưới báu có hương thơm, hoa xinh đẹp, chuỗi anh lạc rất đẹp giăng bủa khắp nơi. Dùng ma ni báu làm thành tràng, lọng, vì dùng ma ni báu kiến tạo, cho nên tại mỗi châu ma ni đều phóng ra ánh sáng, không những phóng ra vô lượng ánh sáng mà còn có vô lượng âm thanh rất hay. Ánh sáng đó hơn hẳn ánh sáng của mặt trời mặt trăng. Thứ âm thanh hay đó hơn hẳn tất cả âm nhạc ở nhân gian và trên trời. Do rất nhiều thứ báu chế thành mành lưới La võng để trang nghiêm Bồ đề đạo tràng. Lưới La võng báu nầy có hương thơm ngào ngạt, hoa đẹp, chuỗi anh lạc rất đẹp, giăng bủa khắp chung quanh đạo tràng, khiến cho tất cả chúng sinh ngửi được thứ hương nầy, thấy được thứ hoa nầy và thứ chuỗi anh lạc nầy, đều gieo xuống hạt giống bồ đề, tương lai sẽ thành Phật quả. Châu ma ni vương báu biến hiện tự tại, mưa xuống châu báu vô tận, và các thứ hoa xinh đẹp rải khắp mặt đất. Ở trong các mành lưới báu có châu ma ni vương báu, nghĩ cái gì thì có cái đó, toại tâm như ý, cho nên biến hiện tự tại, lại mưa xuống châu báu vô tận và các thứ hoa xinh đẹp, rải khắp mặt đất chung quanh đạo tràng. Các cây báu thẳng hàng, cành lá sum sê tươi tốt. Các cây báu do các thứ báu làm thành, có thứ tự từng hàng từng hàng, từ bốn phía nhìn lại đều thẳng tắp. Các thứ cây báu đó dùng vàng làm thân cây, dùng mã não làm cành, dùng chuỗi anh lạc làm lá. Màu sắc các thứ báu có ngàn vạn thứ. Cành lá các cây báu đó, không những phóng ra ánh sáng, mà còn rất rực rỡ sum sê tươi tốt. Do thần lực của đức Phật, khiến cho Ðạo tràng tất cả đều trang nghiêm ảnh hiện. Cảnh giới đó là do thần thông oai lực của Ðức Phật mà có được. Thần thông oai lực của Ðức Phật do từ đâu mà có ? Nhiều thứ lưới báu, nhiều châu ma ni vương, nhiều cây báu .v.v… đều là do Ðức Phật tại nhân địa nghiêm trì giới luật, tơ hào cũng không phạm giới. Giới sát sinh : Không những tay không giết hại, mà tâm cũng không sinh tâm niệm giết hại, từ bi thương sót tất cả chúng sinh. Không trộm cắp : Không những thân không trộm cắp, mà tâm cũng không khởi ý niệm trộm cắp, nghiêm hành tu trì giới luật. Giới dâm : Cũng lại như thế, càng không khởi ý niệm dâm dục, đời nầy tuy kết hôn, song chỉ trên danh nghĩa mà thôi. Giới nói dối : Thấy thì nói thấy, không thấy nói không thấy, biết thì nói biết, cũng không sinh ý niệm nói dối. Giới rượu : Phàm là chất có sự kích thích đều không uống, không riêng gì rượu. Ðức Phật giữ năm giới căn bản nầy, cho nên mới có thần thông oai lực như thế, dùng các thứ báu để trang nghiêm đạo tràng. Công đức của Phật viên mãn, mới có thần thông oai lực, làm cho đạo tràng trang nghiêm long trọng. Ở trong đạo tràng nầy ảnh hiện ra cảnh giới không thể nghĩ bàn nầy. Cây bồ đề cao lớn hiển hiện lạ thường. Vì Ðức Phật thành Phật dưới cội bồ đề nầy, cho nên cây bồ đề nầy cũng biến thành cao lớn, chẳng giống những cây bồ đề khác, cho nên nói cao lớn hiển hiện lạ thường. Thân cây làm bằng kim cang, gốc bằng lưu ly, các thứ báu đẹp xen tạp dùng làm cành lá. Các lá báu chen nhau phủ che như mây. Thân cây bồ đề đó do kim cang làm thành, lưu ly báu làm gốc cây bồ đề. Lại dùng rất nhiều thứ báu đẹp làm cành lá, giữa lá và lá chen nhau, cành cây thòng rũ xuống, lá cây che rợp, giống như lọng bằng mây che trong hư không. Có các hoa báu nhiều màu, trổ ra các cành bày ảnh la liệt. Lại dùng châu ma ni làm quả, đều chói sáng rực rỡ như lửa ngọn xen lẫn trong hoa. Hoa báu có trăm ngàn thứ màu sắc, trổ ra các cành bày ảnh la liệt rất nghiêm đẹp. Lại dùng châu ma ni làm quả bồ đề. Quả nầy đều phát ra ánh sáng rực rỡ chiếu soi. Ánh sáng rực rỡ như lửa ngọn đều xen lẫn trong hoa. Khắp chung quanh cây bồ đề đều phóng quang minh, ở trong quang minh mưa xuống châu ma ni báu, trong ma ni báu, có các Bồ Tát đông nhiều như mây, đồng thời xuất hiện. Khắp ba bên bốn phía cây bồ đề nầy đều phóng ra ánh sáng của Phật, ở trong ánh sáng lại mưa châu ma ni báu, trong châu ma ni báu lại có rất nhiều Bồ Tát, đông nhiều như mây, đồng thời cùng nhau xuất hiện. Lại nhờ thần thông oai lực của Như Lai, mà cây bồ đề luôn vang ra âm thanh rất hay, diễn nói các pháp không cùng tận. Cảnh giới nầy có đủ thứ quang minh, đủ thứ ánh sáng, đủ thứ hoa, đủ thứ màu sắc, phối hợp với nhau làm thành đạo tràng trang nghiêm tốt đẹp mỹ lệ, khiến cho đạo tràng thù thắng. Ðó là do đại oai thần lực của Ðức Phật. Cây bồ đề nầy không những cao hiển lạ thường, mà còn phát ra âm thanh rất hay, khiến cho người nghe đều đắc được đủ loại tam muội. Cây bồ đề nầy luôn luôn phát ra âm thanh rất hay, trong âm thanh hay đó, lại nói đủ thứ các pháp, không khi nào hết được, tức cũng là không khi nào nói hết được, luôn luôn đều nói, thời khắc đều nói, suốt thuở vị lai đều nói pháp không gián đoạn. Chỗ của Như Lai ngồi là cung điện lầu các, rộng lớn trang nghiêm mỹ lệ đầy khắp mười phương. Vì đức Phật thành chánh giác dưới cội bồ đề, cho nên gọi là Như Lai, là một trong mười hiệu của Phật. Những gì là mười hiệu : 1. Như Lai. 2. Ứng Cúng. 3. Chánh Biến Tri. 4. Minh Hạnh Túc. 5. Thiện Thệ Thế Gian Giải. 6. Vô Thượng Sĩ. 7. Ðiều Ngự Trượng Phu. 8. Thiên Nhân Sư. 9. Phật. 10. Thế Tôn. Khi nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy thì đức Như Lai hiện thân Lô Xá Na cao ngàn trượng, cho nên cung điện đương nhiên phải cao ba ngàn trượng. Cảnh giới nầy là do đại oai thần lực của Như Lai biến hoá hiện ra. Cung điện lầu các nầy rất rộng lớn phi thường, vừa trang nghiêm vừa mỹ lệ, không những đầy khắp một phương mà đầy khắp mười phương. Dùng các màu sắc châu ma ni tạo thành. Ðủ loại hoa báu dùng để trang nghiêm. Toà cung điện lầu các nầy, dùng rất nhiều các màu sắc châu ma ni báu làm thành, dùng đủ loại hoa báu để trang nghiêm toà cung điện nầy. Sau khi Ðức Phật thành đạo rồi, dùng đại oai thần lực để trang nghiêm đạo tràng, hiện thân Lô Xá Na ngàn trượng để diễn nói Kinh Hoa Nghiêm Ðại Phương Quảng Phật nầy. Một số phàm phu tục tử nghe rồi, cảm thấy sự trang nghiêm đạo tràng nầy, có vẻ chẳng có gì quan trọng. Thật tế thì sự trang nghiêm nầy là biểu pháp. Biểu thị Phật lúc tại nhân địa tu đủ thứ hạnh môn, thực hành đủ thứ sự khổ hạnh khó làm. Bây giờ thành Phật mới có đủ thứ sự trang nghiêm nầy. Những đồ trang nghiêm, đều phóng ánh sáng như mây. Từ trong cung điện lầu các, hoa ảnh làm thành tràng. Có vô số Bồ Tát, và chúng hội đạo tràng, đều vân tập đến. Chư Phật đều phóng quang minh, trong quang minh có âm thanh vi diệu không thể nghĩ bàn, lại có châu ma ni vương báu làm thành lưới. Tất cả hoa báu trang nghiêm đều phóng quang minh, giống như các loại mây báu, trong cung điện có khoảng không gian, thứ quang ảnh nầy tụ hội thành hình tràng báu, trong tràng báu nầy có vô lượng vô biên Bồ Tát, không những có vô lượng vô biên Bồ Tát, mà mỗi vị Bồ Tát đều đem chúng sinh trong đạo tràng của mình, đều suất lãnh đến Bồ đề đạo tràng. Khi chư Bồ Tát đến đạo tràng của Ðức Phật, thì xuất hiện quang minh của chư Phật chiếu soi với nhau. Trong quang minh của Phật cũng phát ra âm thanh vi diệu không thể tả, lại có châu ma ni vương báu làm lưới báu. Do thần thông oai lực tự tại của Như Lai, khiến cho tất cả cảnh giới đều xuất hiện trong đạo tràng. Vì Như Lai đắc được thần thông oai lực tự tại, tất cả các thứ âm thanh hay, các thứ ánh sáng, các thứ cảnh giới, đều từ trong đạo tràng hiện ra. Cho nên trong Bồ đề đạo tràng, có cảnh giới không thể nghĩ bàn nầy. Nhà cửa phòng xá, chỗ ở của tất cả chúng sinh, đều hiện ra hình bóng ở trong đó. Sức thần thông tự tại của Như Lai, biến hiện cảnh giới không thể nghĩ bàn, ở trong cảnh giới giống như lưu ly, như hư không, tất cả chúng sinh ở trong hư không, nơi ăn chốn ở đều hiện ra hình bóng trong cảnh giới nầy. Vì vậy, cho nên trong Kinh Kim Cang có nói : "Tất cả chúng sinh, có những tâm gì, Như Lai đều biết", nghĩa là tất cả tâm niệm và hành vi của chúng sinh, không biết có bao nhiêu thứ tâm ? Như Lai đều biết đều thấy. Vì đều không ra ngoài phạm vi bốn trí của Như Lai. Bốn trí là gì ? Tức là : Thành sở tác trí. Diệu quán sát trí. Bình đẳng tánh trí. Ðại viên cảnh trí. Bốn trí nầy là từ tám thức của phàm phu biến ra. Mục đích chúng ta tu đạo là chuyển thức thành trí. Lại nhờ thần lực của chư Phật gia trì, trong khoảng một niệm bao khắp pháp giới. Tòa sư tử cao lớn tốt đẹp. Tòa của đức Phật ngồi gọi là tòa sư tử, vì sư tử là chúa của loài thú, khi sư tử hống lên, thì tất cả loài thú đều sợ hãi. Cho nên Phật nói pháp dụ như sư tử hống, thiên ma ngoại đạo nghe được, thì sinh tâm sợ hãi mà hàng phục được chúng, do đó tòa ngồi của đức Phật gọi là tòa sư tử. Tòa sư tử nầy cao lớn tốt đẹp lạ thường. Ðài làm bằng châu ma ni, lưới bằng hoa sen, châu báu đẹp thanh tịnh dùng viềng chung quanh, các loại hoa đẹp nhiều màu kết thành chuỗi anh lạc. Tòa sư tử nầy dùng châu ma ni báu làm đài, dùng các loại hoa sen nhiều màu để làm lưới, lại dùng châu báu đẹp thanh tịnh viềng chung quanh, thứ châu báu đẹp thanh tịnh nầy lại gọi là "tị trần châu". Thứ châu báu nầy để ở chỗ nào, thì chỗ đó chẳng dính một hạt bụi. Thứ châu báu nầy do đâu mà thành tựu ? Là do trì giới thanh tịnh, mà cảm ứng châu báu đẹp hiện ra. Lại dùng đủ loại hoa nhiều màu để làm chuỗi anh lạc. Cung điện lầu các, cửa nẻo thềm bực thảy đều trang nghiêm. Cây báu cành lá bông trái chen nhau la liệt. Cung điện lầu các, cửa nẻo thềm bực, tất cả đều tốt đẹp trang nghiêm, có mười thứ mỹ lệ trang hoàng không thể nghĩ bàn, khiến cho ai thấy thì đều sinh tâm bồ đề và tâm thanh tịnh. Người trên thế giới nầy tại sao có tâm ô nhiễm ? có tư tưởng không thanh tịnh ? Vì nghiệp chướng của chúng ta không thanh tịnh, cho nên hiển hiện ra thế giới không thanh tịnh. Nếu nghiệp thanh tịnh thì sẽ cảm hiện ra thế giới cũng thanh tịnh. Dùng bảy thứ báu để trang nghiêm cành lá và trái thật. Cây báu nầy ở ba bên bốn phía tòa sư tử, xen nhau la liệt. Châu ma ni tuông ra ánh sáng như mây, hổ tương chiếu soi lẫn nhau. Châu ma ni báu tuông ra ánh sáng như mây, ánh sáng nầy chiếu ánh sáng kia, ánh sáng kia chiếu ánh sáng nọ, hổ tương chiếu soi lẫn nhau. Mười phương chư Phật, hoá hiện châu vương. Lúc bấy giờ, mười phương chư Phật đến bên tòa sư tử, hóa hiện châu vương (nghĩa là lý tròn giải đầy), phàm là khi mới thành Phật, đều có tất cả chư Phật hiện hình quán đảnh, tất cả Bồ Tát thân cận kính ngưỡng. Báu đẹp từ trong búi tóc của tất cả Bồ Tát, đều phóng ánh sáng chiếu sáng đạo tràng. Báu đẹp từ trong búi tóc của vô số Bồ Tát trong mười phương, đều phóng ra ánh sáng chiếu sáng đạo tràng. Lại nhờ oai thần lực của chư Phật gia trì, các Bồ Tát đều diễn nói cảnh giới rộng lớn của Như Lai, âm thanh rất hay, chẳng có chỗ nào mà không nghe được. Lại nhờ oai đức thần thông của tất cả mười phương chư Phật gia trì, các Bồ Tát đều diễn nói diệu pháp của Như Lai. Cảnh giới rộng lớn nầy dùng âm thanh hay, thông đạt bốn phương, chẳng có chỗ nào mà không nghe được âm thanh hay nầy, tức là ở trong một hạt bụi cũng nghe được, vì đều đang chuyển bánh xe pháp. Bấy giờ, Ðức Thế Tôn ngồi trên toà sư tử, ở trong tất cả các pháp, Ðức Phật là tối Chánh giác. Trí huệ của Phật nhập vào ba đời, thảy đều bình đẳng. Lúc đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi trên tòa sư tử, ở trong tất cả các pháp, đức Phật là tối chánh giác. Bồ Tát có thể nói là chánh giác, nhưng chưa đạt được tối chánh giác. Hàng nhị thừa có thể nói là giác, không thể nói là chánh giác. Ngoại đạo và phàm phu thì không giác, không giác mà cho rằng tự giác, đó là tà tri tà kiến, không giác tức là ngu si. Người ngu si cho rằng mình làm gì cũng đều đúng, chẳng có gì không đúng, cho nên mới gọi là không giác. Trí huệ của Phật nhập vào được ba đời, biết được quá khứ trồng nhân gì ? đời hiện tại kết quả gì ? đời bây giờ trồng nhân gì ? đời vị lai kết quả gì ? Ðức Phật không những biết chính mình, mà cũng biết tất cả chúng sinh. Ðời quá khứ cũng bình đẳng, đời hiện tại cũng bình đẳng, đời vị lai cũng bình đẳng. Ba đời là gì ? Tức là quá khứ, hiện tại và vị lai. Quá khứ là kiếp trước, hiện tại là đời nầy, vị lai là đời sau, đó là ba đời. Lúc nầy có người nói :"Tôi không tin, tôi một đời còn chưa hiểu làm sao tin ba đời ? " Bạn nói rất có lý ! Tuy nhiên bạn không minh bạch một đời, đương nhiên không thể minh bạch ba đời. Không tin ba đời là có thể, nhưng bạn có tin có ngày hôm qua chăng ? có ngày hôm nay chăng ? có ngày mai chăng ? Việc hôm qua, ngày hôm nay đã quên mất, việc ngày mai càng không biết. Sự việc ba ngày nầy còn không nhớ rõ, hà huống là sự việc ba đời làm sao nhớ được ? Thân Ðức Phật đầy khắp tất cả thế gian. Âm thanh của Ðức Phật, vang đến tất cả cõi nước trong mười phương. Thân của đức Phật không những đầy khắp tất cả thế giới, mà còn đầy khắp pháp giới. Do đó : "Thân Phật đầy khắp trong pháp giới, Hiện khắp trước tất cả chúng sinh". Âm thanh của Phật lại thông đạt đến khắp các cõi nước trong mười phương, do đó : "Phật dùng một diệu âm, Nghe khắp trong mười phương". Ví như hư không bao trùm hết thảy vạn vật, mà trong các cảnh giới chẳng có phân biệt. Pháp thân của Phật giống như hư không, bao dung tất cả sum la vạn tượng, mà hư không đối với tất cả cảnh giới chẳng có phân biệt, không phân biệt đó đây. Lại như hư không cùng khắp tất cả bình đẳng, mà vào trong các cõi nước. Pháp thân Phật lại giống như hư không, cùng khắp tất cả chỗ. Ở cõi nước lớn thì có hư không lớn, ở cõi nước nhỏ thì có hư không nhỏ, tóm lại cõi nước lớn bao nhiêu, thì hư không lớn bấy nhiêu, là bình đẳng, không có lớn có nhỏ. Thân Ðức Phật thường ngự khắp tất cả đạo tràng. Trong tất cả đạo tràng có vô số Bồ Tát, oai đức quang minh như mặt trời mọc, chiếu sáng thế giới. Pháp thân của Phật thường đầy khắp pháp giới, ngồi khắp tất cả đạo tràng. Ở trong đạo tràng có vô số Bồ Tát, oai đức quang minh như ánh sáng mặt trời giữa trưa, chiếu sáng làm cho mắt không thể mở được, lại giống như mặt trời vừa mới mọc lên, chiếu khắp thế giới. Ðức Phật ở trong ba đời tu hành, phước báu như biển cả, hoàn toàn thanh tịnh. Ðức Phật trong ba đời tích lũy phước báu nhiều như biển cả, đã hoàn toàn thanh tịnh không ô nhiễm. Phước báu mà chúng ta tu, chẳng phải tu trong một đời một kiếp, mà là tu trong nhiều đời nhiều kiếp. Tu phước thì tương lai sẽ có phước báo. Tu huệ thì tương lai sẽ có trí huệ. Tốt nhất là phước huệ đều tu, thì tương lai phước huệ đều song toàn, nên nhớ : "Ðừng cho rằng việc thiện nhỏ mà không làm, Ðừng cho rằng việc ác nhỏ mà làm". Việc thiện tuy nhỏ cũng phải làm, việc thiện nhiều là do tích tập từ ít mà thành. Việc ác tuy nhỏ cũng đừng làm, việc ác lớn là từ việc ác nhỏ tích tập mà thành. Nên chú ý ! Phải luôn luôn tu phước tu huệ, mới có phước báu như biển cả. Ở trong phước có tu phước thanh tịnh, có tu phước ô nhiễm. Phật và Bồ Tát tu phước đều là thanh tịnh, nghĩa là Hằng hà sa số phiền não đều đã đoạn sạch. Các Bồ Tát thường thị hiện sinh vào cõi nước của các đức Phật, có vô lượng vô biên tướng tốt, quang minh viên mãn, chiếu khắp pháp giới, không có phân biệt. Bồ Tát thường thị hiện trăm ngàn ức hóa thân, trong các cõi nước chư Phật mười phương. Tướng tốt trang nghiêm nhiều không có bờ mé. Thân Bồ Tát có quang minh viên mãn. Quang minh nầy chiếu khắp tất cả pháp giới. Quang minh nầy ở trong pháp giới, đều giống nhau chẳng có gì phân biệt. Diễn nói tất cả các pháp, như vầng mây lớn giăng che. Trong mỗi đầu sợi lông, đều dung chứa tất cả các thế giới, mà không chướng ngại. Ở trong pháp giới diễn nói tất cả diệu pháp, giống như vầng mây lớn giăng bày ở trong hư không, khiến cho thân tâm chúng sinh đều được mát mẻ. Trên mỗi đầu sợi lông của đại Bồ Tát và chư Phật đều dung nạp tất cả thế giới. Sợi lông tuy nhỏ nhưng dung chứa được thế giới. Thế giới tuy lớn, nhưng không ra ngoài đầu sợi lông. Do đó :"Nơi đầu sợi lông hiện cõi Bảo vương", chẳng phải một đầu sợi lông hiện được cõi Bảo vương, mà là mỗi đầu sợi lông đều hiện được cõi Bảo vương. "Ngồi trong hạt bụi chuyển pháp xe pháp", ngồi ở trong một hạt hạt bụi mà chuyển bánh xe pháp, giáo hóa chúng sinh, có vô lượng vô biên chúng sinh ở trong một hạt bụi, nghe Ðức Phật thuyết pháp. Ðầu sợi lông nhỏ như thế, làm sao dung chứa được thế giới ? Cảnh giới nầy chẳng có cách chi có thể giải thích, chỉ có thể nói không có chướng ngại. Các Bồ Tát đều hiện vô lượng sức thần thông, để giáo hóa điều phục tất cả chúng sinh. Tại sao trong nhỏ dung được lớn ? Lớn lại ở trong nhỏ ? Ðó là đạo lý gì ? Thật làm cho người bối rối không hiểu được. Cảnh giới nầy là các Bồ Tát đều hiện sức thần thông. Các Ngài hiện cảnh giới nầy, là khiến cho chúng sinh tiêu diệt tri kiến của mình, phải học Phật pháp, giáo hóa chúng sinh, điều phục chúng sinh, khiến cho chúng sinh đừng thấy cái thấy của mình, khiến cho chúng sinh phải có tâm hổ thẹn. Không hổ không thẹn là buộc chân vào đá mà học Phật pháp, vĩnh viễn không thể thành tựu. Thân Phật đầy khắp mười phương mà không đến đi. Trí hụê của Phật vào tất cả các tướng, thấu rõ các pháp vắng lặng. Thân của các đức Phật là khắp cùng mười phương, cho nên chẳng có đến, cũng chẳng có đi. Ví như một ly nước đã đầy rồi, còn đựng gì được nữa ? Lúc chưa đầy thì có thể đựng thêm nước, đó là đến. Uống nước rồi, đó là đi. Bây giờ ly nước nầy đầy, không có ai đến uống, không có ai đến thêm vào, cho nên không có đến đi. Bây giờ đầy khắp rồi, từ đâu đến ? Ði đến nơi nào ? Làm sao đầy ? Ðó là một thứ thần thông diệu dụng của các đức Phật. Ai chứng được cảnh giới nầy thì người đó chẳng đến đi. Trí huệ tùy thuận được tất cả tướng, thấu rõ được pháp vốn là vắng lặng. Vì tính tĩnh cho nên là tịch, vì vô tướng cho nên là không. Tất cả thần thông biến hóa của chư Phật ba đời, đều thấy rõ ở trong quang minh, tất cả sự trang nghiêm của tất cả cõi Phật, trải qua kiếp số không thể nghĩ bàn, thảy đều hiển hiện ra. Những vị đại Bồ Tát nầy, thấy được tất cả thần thông biến hóa, của hết thảy ba đời chư Phật ở trong quang minh. Lại thấy được tất cả cõi Phật, chẳng có cách chi tính được kiếp số trong quá khứ, tất cả sự trang nghiêm của các đức Phật ba đời đều hiển hiện ra, những vị đại Bồ Tát nầy đều biết, làm sao biết được ? Vì trí huệ nhập vào các tướng. Có các vị đại Bồ Tát, nhiều như số hạt bụi mười Phật thế giới, cùng nhiễu quanh Ðức Phật. Bồ Tát nói đầy đủ là Bồ Ðề Tát Ðỏa. Bồ đề dịch là "giác", Tát Ðoả dịch là "hữu tình", vì gọi tắc cho nên gọi là Bồ Tát. Có các đại Bồ Tát (pháp thân Ðại Sĩ, từ bát địa trở lên), số đông nhiều như số hạt bụi mười Phật thế giới, hết thảy đều cùng nhau nhiễu quanh toà sư tử của Ðức Phật. Tại sao Kinh Hoa Nghiêm dùng số mục mười ? Vì mười là một vòng, số tròn đầy. Ví như mười lần một là mười, mười lần mười là trăm, mười lần trăm là ngàn, mười lần ngàn là vạn, như thế mà tính thì sẽ được số vô lượng. Biểu thị trùng trùng vô tận, vì Kinh Hoa Nghiêm là nói đạo lý trùng trùng vô tận. Cho nên dùng mười. Mười Phật thế giới tức là vô lượng vô biên thế giới của Phật, nghĩa là không cách chi hình dung biết được số lượng. Danh hiệu của các Ngài là : Ðại Bồ Tát Phổ Hiền. Ðại Bồ Tát Phổ Ðức Tối Thắng Ðăng Quang Chiếu. Ðại Bồ Tát Phổ Quang Sư Tử Tràng. Ðại Bồ Tát Phổ Bảo Diệm Diệu Quang. Ðại Bồ Tát Phổ Âm Công Ðức Hải Tràng. Ðại Bồ Tát Phổ Trí Quang Chiếu Như Lai Cảnh. Ðại Bồ Tát Phổ Bảo Kế Hoa Tràng. Ðại Bồ Tát Phổ Giác Duyệt Ý Thanh. Ðại Bồ Tát Phổ Thanh Tịnh Vô Tận Phước Quang. Ðại Bồ Tát Phổ Quang Minh Tướng. Vị đại Bồ Tát thứ nhất danh hiệu là Bồ Tát Phổ Hiền. Ngài là thượng thủ trong chúng nầy. Ðức tính của Ngài là phổ khắp, địa vị là Ðẳng giác. Ngài là Ðẳng giác Bồ Tát. Ðức Phật là Diệu giác Bồ Tát. Cho nên gần kề địa vị với Phật. Nguyện lực của vị đại Bồ Tát nầy, vượt hơn các Bồ Tát khác. Hạnh lực cũng hơn các Bồ Tát khác, từ bi cũng hơn các Bồ Tát khác, trí huệ cũng hơn Bồ Tát khác, cho nên gọi là đại Bồ Tát. Bồ Tát là nửa chữ Phạn, đầy đủ gọi là "Bồ đề tát đoả", tức là giác hữu tình, lại gọi là hữu tình giác. Sao gọi là giác hữu tình ? Dùng đạo lý giác ngộ để giáo hóa tất cả hữu tình. Khiến cho tất cả hữu tình đều đắc được giác ngộ, cho nên gọi là giác hữu tình. Sao gọi là hữu tình giác ? Vì Bồ Tát là người giác ngộ ở trong hữu tình, cho nên gọi là hữu tình giác. Bồ Tát vốn chẳng có danh hiệu gì ? Nhưng nếu không có danh hiệu, thì không thể biểu hiện được đức hạnh, hạnh môn, hạnh nguyện của các Ngài, cho nên mới dựa theo những đức tính trên, mà ban cho các Ngài danh hiệu. Thể tính cùng khắp là Phổ, tùy duyên thành đức là Hiền, đó là nguồn gốc danh hiệu của Bồ Tát Phổ Hiền. Vị đại Bồ Tát thứ hai là Phổ Ðức Tối Thắng Ðăng Quang Phổ Chiếu. Vì công đức của Ngài viên mãn cùng khắp, vượt qua đăng quang chiếu khắp mọi nơi. Cho nên được tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ ba là Phổ Quang Sư Tử Tràng. Vì âm thanh của Ngài thuyết pháp, giống như tiếng hống của sư tử, còn quang minh thì chiếu khắp như lưới tràng, cho nên có tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ tư là Phổ Bảo Diệm Diệu Quang. Vì hạnh môn của Ngài tu, vô cùng thanh tịnh, trí huệ của Ngài như bảo diệm diệu quang, cho nên có tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ năm là Phổ Âm Công Ðức Hải Tràng. Vì âm thanh vi diệu của Ngài, khắp cùng pháp giới, vạn hạnh công đức của Ngài như biển cả, như tràng báu. Cho nên có tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ sáu là Phổ Trí Quang Chiếu Như Lai Cảnh. Vì trí huệ quang minh của Ngài chiếu khắp cảnh giới Như Lai. Cảnh giới của Như Lai chẳng phải một số Bồ Tát biết được, thế mà vị đại Bồ Tát nầy thấu rõ cảnh giới của Như Lai. Vị đại Bồ Tát thứ bảy là Phổ Bảo Kế Hoa Tràng. Vì kế hoa của Ngài cao như tràng báu, cho nên có tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ tám là Phổ Giác Duyệt Ý Thanh. Vì âm thanh của Ngài vô cùng êm tai, khiến giác ngộ khắp cùng, sinh tâm khoái lạc, cho nên chúng sinh muốn thưởng thức diệu âm của Ngài. Do đó có tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ chín là Phổ Thanh Tịnh Vô Tận Phước Quang. Vì phước đức của Ngài thanh tịnh khắp hết thảy, làm cho pháp giới thanh tịnh, phước đức của Ngài vô cùng vô tận, trong phước đức nầy sinh ra quang minh, cho nên có tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ mười là Phổ Quang Minh Tướng. Vì tướng hảo quang minh của Ngài cũng khắp cùng pháp giới, cho nên có tên nầy. Mười vị Bồ Tát nầy là đại Bồ Tát trong các Bồ Tát. Ðức Phật bắt đầu giảng Kinh Hoa Nghiêm, thì mười vị đại Bồ Tát nầy, xuất lãnh quyến thuộc của các Ngài, đến bồ đề đạo tràng, trợ giúp đức Phật để hoằng dương diệu pháp Hoa Nghiêm. Ðại Bồ Tát Hải Nguyện Quang Ðại Minh. Ðại Bồ Tát Vân Âm Hải Quang Vô Cấu Tạng. Ðại Bồ Tát Công Ðức Bảo Kế Trí Sinh. Ðại Bồ Tát Công Ðức Tự Tại Vương Ðại Quang. Ðại Bồ Tát Thiện Dũng Mãnh Liên Hoa Kế. Ðại Bồ Tát Phổ Trí Vân Nhật Tràng. Ðại Bồ Tát Ðại Tinh Tấn Kim Cang Tề. Ðại Bồ Tát Hương Diệm Quang Tràng. Ðại Bồ Tát Ðại Minh Ðức Thâm Mỹ Âm. Ðại Bồ Tát Ðại Phước Quang Trí Sinh. Trong pháp hội của Phật thuyết pháp, có mười bộ chúng đến nghe pháp. Mười bộ chúng là : 1. Chúng ảnh hưởng. 2. Chúng thường theo. 3. Chúng hộ pháp. 4. Chúng nghiêm hộ. 5. Chúng cúng dường. 6. Chúng phát tâm. 7. Chúng đương cơ. 8. Chúng biểu pháp. 9. Chúng chứng pháp. 10. Chúng hiển pháp. 1. Chúng ảnh hưởng : Tức là các đại Bồ Tát trong mười phương, vốn đã nghe qua pháp của đức Phật nói, không những đã nghe qua một vị Phật nói, mà là mười phương chư Phật nói pháp, các Ngài đều đã nghe qua, cũng hiểu rõ, còn nhớ rõ nữa, căn bản không cần nghe nữa, nhưng các Ngài vẫn đến nghe pháp. Tại sao ? Vì làm chúng ảnh hưởng. Khi Phật nói bộ Kinh Hoa Nghiêm nầy, thì những vị đại Bồ Tát nầy, có vị từ dưới đất vọt lên, có vị từ trên trời xuống, có vị từ mười phương hạt bụi cõi nước mà đến, có vị từ hư không mà đến, đến Bồ đề đạo tràng để nghe pháp. Tại sao ? Vì hướng dẫn đại chúng đến nghe diệu pháp, làm ảnh hưởng đại chúng tinh tấn nghiên cứu diệu pháp, cho nên gọi là chúng ảnh hưởng. 2. Chúng thường theo : Tức là một ngàn hai trăm năm mươi vị đệ tử, thường theo Ðức Phật nghe pháp. Phật đi đến đâu thuyết pháp, thì các vị đó đều theo Phật đến đó nghe pháp. Ðức Phật ban đầu nói Kinh Hoa Nghiêm, tuy nhiên không có đệ tử kế bên, nhưng có mười phương chư Phật đến làm thường tùy chúng, luôn luôn không rời khỏi pháp hội Hoa Nghiêm. 3. Chúng hộ pháp : Tức là bảo hộ người thuyết pháp an toàn. Phật đã thành Phật, lại có thần thông diệu dụng, tại sao còn phải bảo hộ ? Phật tuy nhiên có thần thông, nhưng đệ tử phải tận hết trách nhiệm của mình, muốn làm chúng hộ pháp. 4. Chúng nghiêm hộ : Tức là đại chúng trang nghiêm pháp hội, dùng tràng phan bảo cái đến trang nghiêm đạo tràng. Ðó là sự trang nghiêm hữu hình, dùng tín giải hạnh chứng để trang nghiêm pháp hội, đó là trang nghiêm vô hình. 5. Chúng cúng dường : Trong pháp hội không thể không có người cúng dường, cho nên phải có chúng cúng dường. 6. Chúng phát tâm : Phải có thiện nam tín nữ phát tâm đến hộ trì pháp hội, cho nên gọi là chúng phát tâm. 7. Chúng đương cơ : Tức là Phật vì những chúng sinh nầy mà thuyết pháp, khiến cho họ y pháp phụng hành, đó gọi là chúng đương cơ. 8. Chúng biểu pháp: Tức là chúng sinh đại biểu cho pháp nầy. 9. Chúng chứng pháp : Nghe pháp rồi chứng được sơ quả, nhị quả, tam quả, hoặc tứ quả A La Hán. 10. Chúng hiển pháp : Tức là chúng sinh làm cho Phật pháp hiển lộ ra. Do đó có mười bộ chúng đến thành tựu pháp hội. Dưới đây là mười vị đại Bồ Tát đến Bồ Ðề Ðạo Tràng, làm chúng ảnh hưởng trong pháp hội Hoa Nghiêm, vì những vị Bồ Tát nầy có sức lực hiệu chiêu. Các Ngài đều đến thì những chúng sinh khác, tự nhiên cũng đều đến nghe Phật nói diệu pháp Hoa Nghiêm. Mười vị Bồ Tát nầy là đại Bồ Tát trong các Bồ Tát. Vị đại Bồ Tát thứ nhất là Hải Nguyệt Quang Ðại Minh. Trí huệ quang minh của Ngài lớn như biển, lại sáng như mặt trăng, cho nên đựơc tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ hai tên là Vương Âm Hải Quang Vô Cấu Tạng. Âm thanh của Ngài thuyết pháp như tiếng sấm sét lớn, ở trong hư không phát ra âm thanh ầm ầm, kẻ điết nghe rồi thì hết điết, người ngủ nghe rồi thì tỉnh dậy. Kẻ điết là ai ? Tức là người không thích nghe Phật pháp. Kẻ ngủ là ai ? Tức là người không muốn xem Kinh Phật. Vị đại Bồ Tát nầy dùng tiếng sấm sét lớn để chấn tỉnh họ, không muốn nghe cũng nghe được, không muốn xem cũng xem được. Hải quang là hải ấn phát quang, đem sâm la vạn tượng đều ấn ở trong biển. Vô cấu tạng tức là thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ ba là Công Ðức Bảo Kế Trí Sinh. Công đức của Ngài lớn vô cùng, như bảo kế (búi tóc báu) trên đỉnh của Phật, trong bảo kế nầy sinh ra vô lượng trí huệ quang, chảy ra vô lượng bảo tạng, cho nên được tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ tư là Công Ðức Tự Tại Vương Ðại Quang. Công đức của Ngài rất lớn, cũng đắc được đại tự tại, đại quang minh, cho nên được tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ năm là Thiện Dũng Mãnh Liên Hoa Kế. Ngài là dũng mãnh hoá sinh, nhưng không nhiễm tướng của sự biến hóa, thuyết pháp huyền diệu giống như mưa, lại giống như châu giải liên hoa kế cho nên được tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ sáu là Phổ Trí Vân Nhật Tràng : Mây từ bi (vân) và trí huệ mặt trời (nhựt) của Ngài trợ giúp nương với nhau, hổ tương chiếu soi. Trong vô lượng kiếp khắp cùng tương ưng, cao lớn như tràng, do đó đựơc tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ bảy là Ðại Tinh Tấn Kim Cang Tề. Ngài có trí huệ kiên cố sắc bén, dũng mãnh tinh tấn, không giải đãi, cho nên gọi là đại. Kim cang tề tức là trí huệ thọ mạng vô lượng, như kim cang không bao giờ hủy diệt, do đó được tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ tám là Hương Diệm Quang Tràng. Ngài trì giới rất tinh nghiêm, không bao giờ phạm giới, cho nên trên thân phóng ra hương diệm quang. Ðạo đức trí quang của Ngài rất cao vô cùng giống như tràng, cho nên được tên nầy. Vị Bồ Tát thứ chín là Ðại Minh Ðức Thâm Mỹ Âm. Trí huệ quang minh của Ngài chiếu khắp, là đại minh đức. Âm thanh của Ngài cao thâm ưu mỹ vô cùng êm tai, khiến cho người nghe phát bồ đề tâm, cho nên được tên nầy. Vị đại Bồ Tát thứ mười là Ðại Phước Quang Trí Sinh. Trí huệ quang của Ngài chiếu khắp cảnh giới của Phật. Phước của Ngài cũng lớn, cho nên được tên nầy. Có các đại Bồ Tát, số đông như hạt bụi mười Phật thế giới đều làm thượng thủ. Ở trên đã giảng qua hai mươi vị Bồ Tát, các Ngài đều là thượng thủ trong chúng đại Bồ Tát. Thượng thủ tức là lãnh tụ, là người đại biểu trong chúng Bồ Tát. Tổng cộng hết thảy có các Bồ Tát, số đông nhiều như số hạt bụi mười Phật thế giới. Số hạt bụi trong mỗi Phật thế giới, cứ mỗi hạt bụi lại thành một thế giới, rồi mỗi hạt bụi trong thế giới nầy lại thành một thế giới. Vậy có bao nhiêu hạt bụi thì có bấy nhiêu thế giới. Bổn lai số lượng nầy không thể tính ra được. Dù Bồ Tát dùng pháp nhãn (con mắt pháp) cũng không biết được số mục chính xác là bao nhiêu ? Chỉ dùng Phật nhãn quán sát, mới biết thế giới có nhiều như thế ? Ðức Phật không nói dối, có bao nhiêu thì nói bấy nhiêu, phải tin lời nói của Phật là thiên chân vạn quyết, không thể sinh tâm hoài nghi. Ðức Phật có ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông, mười lực, mười tám pháp bất cộng, cho nên đức Phật quán sát vũ trụ rõ như chỉ trong bàn tay. Trong quá khứ, các vị Bồ Tát nầy, với Tỳ Lô Giá Na Như Lai, cùng tu tập căn lành, tu hành hạnh Bồ Tát. Ðều từ biển căn lành của Như Lai sinh ra. Tỳ Lô Giá Na dịch là "biến nhất thiết xứ"(khắp tất cả mọi nơi). Là pháp thân của Phật Thích Ca Mâu Ni (tướng tâm chân thật sở hiện, chân thường bất biến). Bồ Tát số đông như hạt bụi trong mười phương thế giới, trong vô lượng kiếp về trước, đều cùng với Phật Tỳ Lô Giá Na tu tập căn lành, trong cùng một pháp hội, mỗi người tu lục độ vạn hạnh của mỗi người. Siêng tu công đức lành, dứt hẳn mọi điều tội ác, đó gọi là đồng tu căn lành. Hạnh Bồ Tát tức là lợi ích chúng sinh, tức cũng là lợi người lợi mình, giác mình giác người, độ mình độ người. Những căn lành nầy đều từ trong Tỳ Lô Giá Na Phật, giống như từ biển cả sinh ra. Vì căn lành của những Bồ Tát nầy giống như sông ngòi, còn căn lành của Phật giống như biển cả. Tuy nhiên mỗi vị Bồ Tát tự tu tập căn lành, nhưng đều phải chảy vào trong biển của Như Lai, đó gọi là từ trong biển căn lành của Như Lai sinh ra. Các hạnh Ba la mật đều đã viên mãn. Những vị Bồ Tát nầy đều tu đầy đủ các pháp môn Ba La Mật, đã hoàn toàn đạt đến cảnh giới viên mãn không thiếu khuyết. Ba La Mật dịch là "đến bờ kia". Bờ kia tức là không sinh không diệt, cảnh giới Niết Bàn. Pháp môn Ba La Mật tức là lục độ. 1. Bố thí Ba La Mật : Tức là thí xả. Môn nầy gồm có ba loại, muốn nói tỉ mỉ thì có tám vạn bốn ngàn loại, mỗi một thứ loại có tám vạn bốn ngàn pháp môn, phân tích ra thì nhiều vô cùng, bây giờ chỉ nói ba loại. a. Bố thí tài : Bố thí tài không dễ gì làm được. Tục ngữ có câu "xả tài như lóc thịt", hơn nữa làm sao bỏ được thành quách vợ con, đầu mắt tủy não. Có đủ tinh thần như vầy, mới chân thật hành Bồ Tát đạo. b. Bố thí pháp : Ðem Phật pháp bố thí cho tất cả chúng sinh, kết pháp duyên với chúng sinh. Do đó :"Thí tài như lóc thịt, thí pháp như mất mạng". Bố thí pháp thì cứu được huệ mạng của người, nhưng bố thí ra thì mình hao khí lực, khí lực tức là mạng sống. Giảng Kinh phải dùng khí lực, thuyết pháp phải dùng khí lực, đem ý nghĩa mỗi câu mỗi chữ tống vào trong đầu não của người nghe pháp, giống như đem mạng sống bố thí không khác. c. Bố thí không sợ hãi : Tức là khi chúng sinh gặp tai nạn rủi ro, hồn phi phách tán thì phải an ủi họ, khuyên họ "đừng sợ, chư Phật Bồ Tát sẽ bảo hộ bạn, bạn niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì nhất định sẽ được cứu", đó là trị bằng tâm lý. Thực ra chẳng phải chư Phật Bồ Tát, từ vô lượng vô biên cõi nước, bay đến đây để gia hộ cho bạn, mà là bạn không sợ sệt, Phật tánh của bạn bình an, đó là thừa mông chư Phật Bồ Tát bảo hộ. Hoặc là có người sợ sệt thì bạn làm bằng mọi cách cho họ hết sợ, đó là vô úy thí. 2. Trì giới Ba La Mật : Giới là quy luật, cũng là con đường tu hành, cho nên tu hành phải nghiêm trì giới luật. Người trì giới luật thì sẽ có lợi ích, mỗi người giữ năm giới, thì gia đình hạnh phúc, xã hội yên ổn, thế giới hoà bình. Giới có năm giới lớn căn bản, tức là : Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, (kể cả không hút thuốc, không hút xì ke ma túy), lại có tám giới (Bát Quan Trai), giới Bồ Tát có mười giới trọng bốn mươi tám giới khinh, Sa Di có mười giới, Tỳ Kheo có hai trăm năm mươi giới, Tỳ Kheo Ni có ba trăm bốn mươi tám giới. 3. Nhẫn nhục Ba La Mật : Tức là nhẫn chịu sự khi nhục, nhẫn những gì người không thể nhẫn. Nhẫn có ba thứ. A. Sinh nhẫn : Tức là phải nhẫn chịu đối với tất cả chúng sinh. Có người mắng bạn, phỉ báng bạn, thậm chí đánh bạn, đều phải nhẫn chịu. Tu hành tức là tu nhẫn nhục, nhẫn được thì không nóng giận. Không nóng giận thì không có vô minh. Không có cô minh thì trí tuệ hiện tiền. B. Pháp nhẫn : Tức là phải nhẫn chịu đối với tất cả các pháp. Phải nhẫn nóng lạnh, đói khát, tiếp thọ mọi sự khảo nghiệm. C. Vô sinh pháp nhẫn : Sinh nhẫn được thì người không, pháp nhẫn được thì pháp không. Hơn nữa, nhẫn được thì chẳng có chút pháp sinh, cũng chẳng có chút pháp diệt, tức là trung đạo. Người không, pháp không thì đắc được trung đạo liễu nghĩa, tức là vô sinh pháp nhẫn. 4. Tinh tấn Ba La Mật : Tức là không lười biếng, không giải đãi, không phóng dật. Tinh tấn có hai : a. Thân tinh tấn : Tức là ngày đêm sáu thời tinh tấn hành đạo. b. Tâm tinh tấn : Niệm niệm cầu vô thượng đạo, niệm niệm tu vô thượng đạo, niệm niệm ngộ vô thượng đạo, niệm niệm chứng vô thượng đạo. 5. Thiền định Ba La Mật : Ở trong thiền định đắc được công phu, thì tùy thời tùy lúc, ở trong định đắc được thiền định tam muội, mới có thể đến được bờ kia. 6. Bát nhã Ba La Mật : Bát Nhã dịch là trí hụê. Bát Nhã có ba thứ : a. Văn tự Bát Nhã : Tức là văn tự Tam Tạng mười hai bộ, văn tự giống như thuyền qua sông, qua sông rồi, đừng chấp thuyền. b. Quán chiếu Bát Nhã : Tức là tự tu huệ. Có trí huệ quán sát giác chiếu rồi, thì sẽ đoạn trừ được kiến tư hoặc, trần sa hoặc và vô minh hoặc. c. Thật tướng Bát Nhã : Thật tướng là tướng chân thật, tức cũng là vô tướng, tướng không hư vọng. Thường quán như thế, thì sẽ không bị vô minh che đậy, mà hiển lộ ra đại quang minh tạng. Mắt huệ thấu triệt, thấy hết thảy ba đời. Nói các môn Tam muội đều đầy đủ thanh tịnh. Biện tài như biển, rộng lớn vô tận. Người có con mắt trí huệ (huệ nhãn), thì thấu triệt được thật tướng của các pháp. Vì người đầy đủ năm nhãn, thì quán sát thời gian ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều là giả danh mà thôi, cho nên quán sát ba đời đều bình đẳng, tức cũng biết rõ hôm qua và hôm nay là giống nhau, hôm nay và ngày mai cũng chẳng có gì khác biệt. Quán sát bình đẳng có ích lợi gì ? Là dạy bạn đừng có tâm phân biệt, không có tâm phân biệt thì quán sát được ba đời đều bình đẳng. Bất cứ tu môn tam muội gì, đều phải đầy đủ viên mãn thanh tịnh. Tu thiền định thì đắc được thiền định tam muội, tu nhẫn nhục thì đắc được nhẫn nhục tam muội, tu niệm Phật thì đắc được niệm Phật tam muội, tu quán tưởng thì đắc được quán tưởng tam muội. Tóm lại, tu pháp môn gì thì đắc được tam muội pháp môn đó. Biện tài tức là khéo biện luận. Những vị đại Bồ Tát nầy, biện luận với bất cứ người biện luận nào, cũng đều là người thắng lợi, biện tài giống như biển cả, rộng lớn không có ngằn mé, cho nên nói vô tận biện tài. Có bốn vô ngại biện. a. Pháp vô ngại biện : Nói rõ được các pháp, ở trong giáo pháp không có gì mà chẳng hiểu biết, nhưng không chấp trước. b. Nghĩa vô ngại biện : Biết được nghĩa lý sai biệt của giáo pháp, mà thông đạt vô ngại. c. Từ vô ngại biện : Từ vô ngại biện : Nói được ngôn ngữ của các nước, thông đạt tự tại. Ở trong một lời gồm có nhiều thứ nghĩa lý. d. Lạc thuyết vô ngại biện : Có pháp, nghĩa ,từ ba trí huệ vô ngại biện, vì chúng sinh ưa thích, mà khéo léo thuyết pháp. Ðầy đủ công đức của Phật, tôn nghiêm đáng kính. Biết rõ căn tánh của chúng sinh, theo đó mà giáo hóa điều phục. Nhập vào pháp giới tạng, trí vô sai biệt. Chứng được giải thoát của Phật, sâu rộng quảng đại. Những vị đại Bồ Tát nầy, đều đầy đủ công đức của Phật, cho nên tất cả chúng sinh đều cung kính các Ngài. Không những phải cung kính mười phương chư Phật và Bồ Tát, mà các bậc A La Hán đại Thánh nhân, cũng phải cung kính. Chúng sinh cung kính các Ngài, các Ngài cũng biết căn tánh của họ lợi hay là độn. Nếu lợi căn thì nói pháp thật tướng, nếu độn căn thì nói pháp phương tiện hoặc pháp ví dụ, khiến cho họ thấu rõ khai ngộ. Vì những vị Bồ Tát nầy biết căn tánh của họ, cho nên biết được nên dùng pháp gì để hóa độ họ, điều phục họ, khiến cho họ có tâm kính sợ. Trí huệ của các vị Bồ Tát nầy, với pháp giới hợp mà làm một, đắc được trí vô sai biệt, mới chứng được giải thoát. Sự giải thoát nầy lìa tất cả chấp trước, chẳng có chấp người, cũng chẳng có chấp pháp, do đó "người không, pháp không". Xưa kia có vị Sa Di nhỏ tuổi, giảng pháp giảng đến chỗ : chẳng còn pháp để giảng thì lén trốn bỏ đi. Người cầu pháp đợi rất lâu, mà chẳng nghe nói gì nữa, bèn ngẩng đầu lên nhìn, thì chẳng thấy người thuyết pháp nữa. Lúc đó bèn đốn ngộ đạo lý "người không pháp không". Những vị đại Bồ Tát nầy, đều chứng được giải thoát của Phật. Buông xả đặng, thì đắc được tự tại, tự tại tức là giải thoát. Cảnh giới nầy sâu như biển cả, rộng như pháp giới. Các Ngài trong quá khứ, đã từng làm thầy của Phật Thích Ca Mâu Ni, bây giờ lại làm đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni. Cho nên nói cảnh giới nầy, sâu rộng quảng đại, chẳng giống như phàm phu chúng ta, có tâm chấp trước, các Ngài chẳng có tâm chấp trước. Tùy phương tiện nhập vào một bậc, mà dùng sở trì của tất cả biển nguyện, thường cùng với trí huệ, suốt thuở vị lai thấu rõ được cảnh giới, rộng lớn bí mật hiếm có của chư Phật, khéo biết tất cả các pháp bình đẳng của chư Phật. Những vị Bồ Tát nầy tùy thuận pháp phương tiện, mà nhập vào tất cả các bậc. Pháp phương tiện chẳng dễ gì thực hành, xem ra là phương tiện, nhưng thực hành thì chẳng phương tiện. Ðịa vị Bồ Tát thực hành thì phương tiện, nhưng địa vị phàm phu thực hành, thì chẳng tự tại chút nào. Bồ Tát tu hành thì phải phát hạnh nguyện, nguyện phải lớn, hạnh phải chân thật. Nếu phát nguyện không lớn thì có lúc sẽ sinh tâm thối chuyển. Cho nên tín, nguyện, hạnh như đỉnh ba chân, thiếu một thì không được. 1. Tín tâm : Trước hết phải sinh tâm tin. Cho nên : "Tin là nguồn gốc mẹ công đức, Dưỡng lớn tất cả các căn lành". Tin pháp do chính đức Phật nói ra, tin Kinh điển là pháp của Phật nói. 2. Nguyện lực : Sinh tâm tin rồi, thì phải phát nguyện rộng lớn, rộng như biển cả, như thế thì mới sinh ra được sức lực, để giáo hóa chúng sinh. 3. Hành : Phát nguyện mà không thực hành, thì như hoa nở trong hư không, chẳng kết được quả thật, chẳng có ích gì. Dùng nguyện lực để chi trì, và trợ giúp thì thường cùng với trí huệ. Có trí huệ thì thường sinh chánh tri chánh kiến, không có trí huệ thì sinh tà tri tà kiến. Chánh tri chánh kiến, thì đi trên con đường của Phật, tà tri tà kiến thì đi vào địa ngục. Nếu muốn không đọa địa ngục, thì phải có chánh tri chánh kiến. Bồ Tát suốt kiếp thuở vị lai, mới biết rõ cảnh giới, rộng lớn vô biên không thể nghĩ bàn, hy kỳ ít có của chư Phật. Các Ngài đều biết sự thực hành của chư Phật, là pháp bình đẳng, những gì chư Phật nói, là pháp bình đẳng, pháp chứng đắc của chư Phật, cũng là pháp bình đẳng. Do đó :"Phật Phật đạo đồng", thể tính bình đẳng, pháp thân không hai. Trí huệ bình đẳng, tức không tăng không giảm, trong ngoài bình đẳng, bi nguyện ứng khắp. Ðã đạt được bậc phổ quang minh của Như Lai. Nhập vào biển Tam muội vô lượng môn. Ðều tùy loại mà hiện thân khắp tất cả chỗ. Ðồng với thế gian mà thật hành pháp thế gian. Những vị Bồ Tát nầy, đã đạt đến bậc phổ quang minh của Phật. Bậc phổ quang minh tức là bậc trí huệ. Vì các Ngài cung hành thực tiễn pháp của Phật dạy, cho nên mới đắc được trí huệ chân thật của Phật. Ðịnh lực của các Ngài như biển cả, cho nên các Ngài nhập vào biển Tam muội vô lượng môn. Những vị Bồ Tát nầy trong tất cả thời, tất cả chỗ đều tùy thuận chúng sinh, mà hoá hiện thân tướng của họ. Tất cả những việc làm của pháp thế gian, các Ngài dùng công việc giống nhau, mà hiện ra ở trước họ. Chúng sinh làm gì ? Thì các Ngài làm như vậy, dùng bốn Pháp Nhiếp đả thành một phiến với chúng sinh. Khiến cho chúng sinh sinh ra cảm tình, rồi mới thuyết pháp cho họ, giáo hóa họ, khiến cho họ lìa khổ được vui. Nay giải thích đơn giản Bốn Pháp Nhiếp. 1. Bố thí : Ban cho chúng sinh những gì cần thiết, sau đó tiếp dẫn cảm hóa họ. 2. Ái ngữ : Dùng lời hay tốt khuyên họ, để hóa độ họ đạt được mục đích. 3. Lợi hành : Thân miệng ý khéo làm lợi ích cho chúng sinh 4. Ðồng sự : Tức là làm cùng việc, cùng nghề với chúng sinh để cảm hóa họ. Tổng trì rộng lớn, tích tập tất cả biển pháp, biện tài khéo léo, chuyển bánh xe pháp bất thối. Công đức của tất cả Như Lai, rộng lớn như biển cả, đều nhập vào thân các Ngài. Tất cả cõi nước của chư Phật, các Ngài đều phát nguyện đi đến. Những vị Bồ Tát nầy đều "tổng tất cả pháp, trì vô lượng nghĩa", rộng lớn vô cùng. Các Ngài đem tám vạn bốn ngàn pháp môn đều tích tập vào thân. Biện tài vô ngại của các Ngài, và phương tiện khéo léo vô tận, các Ngài chuyển bánh xe pháp, vĩnh viễn không thối chuyển, tu đạo chỉ tiến về trước mà không thối lùi về sau. Tất cả biển công đức của tất cả Như Lai, đều nhập vào trong một thân của Bồ Tát. Tất cả cõi nước của mười phương chư Phật, đều tùy theo nguyện lực của Bồ Tát mà vãng sinh. Các Ngài đã từng cúng dường tất cả các đức Phật, trải qua không biết bao nhiêu số kiếp, luôn luôn hoan hỉ không biết nhàm mỏi. Chỗ của tất cả Như Lai chứng được bồ đề, các Ngài thường ở trong đó thân căn không rời, luôn đem biển hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền đã chứng được, khiến cho tất cả chúng sinh đều đầy đủ trí thân, mà thành tựu vô lượng công đức như vậy. Những vị Bồ Tát nầy trong đại kiếp, nhiều bất khả thuyết bất khả thuyết (không thể nói không thể nói) về trước, đã từng cúng dường hết thảy tất cả chư Phật, khen ngợi Phật, luôn luôn hoan hỉ mà không biết nhàm mỏi. Tất cả chỗ chư Phật khai ngộ, chứng được quả vị Phật, các vị Bồ Tát nầy đều đến Bồ Ðề Ðạo Tràng, thân cận gần gũi thường làm chúng ảnh hưởng, chúng thường đi theo, chúng hộ pháp, chúng nghiêm hội, chúng cúng dường, chúng phát tâm, chúng đương cơ, chúng biểu pháp, thường ở trong đạo tràng ủng hộ pháp hội. Những vị Bồ Tát nầy, thường dùng biển đại hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền, khiến cho tất cả chúng sinh, chứng đắc được thân trí huệ. Những vị Bồ Tát nầy, thành tựu được vô lượng vô biên công đức như vậy. Những gì đã giảng ở trên là "đồng sinh chúng" (chúng sinh giống nhau), hai mươi vị đại Bồ Tát nầy xuất lãnh vô lượng quyến thuộc, đồng đến Bồ Ðề Ðạo Tràng ở trong pháp hội. Pháp hội Hoa Nghiêm chia làm mười bộ chúng bây giờ đã giảng xong. Bây giờ bắt đầu giảng "dị sinh chúng" (chúng sinh khác nhau). Dị sinh chúng phân làm ba bộ phận lớn. 1. Tạp loại chư Thần chúng. 2. Bát bộ Tứ Vương chúng. 3. Dục giới, sắc giới chư thiên chúng. Ở trong các Thần chúng tạp loại, có mười chín chúng, trong bát bộ Tứ Vương chúng có tám chúng, trong dục giới, sắc giới chư Thiên chúng có mười hai chúng. Tổng cộng có ba mươi chín chúng. Ở trong mỗi chúng lại có mười vị làm thượng thủ, tổng cộng có ba trăm chín mươi vị dị sinh chúng. Các Ngài cũng xuất lãnh vô lượng quyến thuộc đến Bồ Ðề Ðạo Tràng làm thiện thần hộ pháp. Lại có các vị Thần Chấp Kim Cang, số đông như hạt bụi Phật thế giới. Lại có Thần Chấp Kim Cang, số đông như hạt bụi Phật thế giới. Thần Chấp Kim Cang tức là hộ pháp thiện thần, tay cầm chày kim cang. Các Ngài chuyên hàng phục thiên ma ngoại đạo, làm cho chúng không nhiễu loạn thân tâm của người tu hành. Khiến cho người tu hành, thân tâm thanh tịnh, một lòng một dạ tham thiền đả tọa. Người tại gia cư sĩ đều là người hộ pháp, hộ trì Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, thân cận thừa sự Tam Bảo, cư sĩ đều có trách nhiệm hộ pháp, phải ủng hộ Tam Bảo, trang nghiêm Tam Bảo, không thể phá hoại Tam Bảo, phỉ báng Tam Bảo. Tam Bảo là gì ? Tức là : Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Phải cung kính, phải lễ bái, kiền thành cảm ứng đạo giao, mới đắc được lợi ích của Tam Bảo. Những vị Thần Chấp Kim Cang là : Thần Chấp Kim Cang Diệu Sắc Na La Diên. Thần Chấp Kim Cang Nhật Luân Tốc Tật Tràng. Thần Chấp Kim Cang Tu Di Hoa Quang. Thần Chấp Kim Cang Thanh Tịnh Vân Âm. Thần Chấp Kim Cang Chư Căn Mỹ Diệu. Thần Chấp Kim Cang Khả Ái Lạc Quang Minh. Thần Chấp Kim Cang Ðại Thụ Lôi Âm. Thần Chấp Kim Cang Sư Tử Vương Quang Minh. Thần Chấp Kim Cang Mật Diệm Thắng Mục. Thần Chấp Kim Cang Liên Hoa Quang Ma Ni Kế. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ nhất tên là Diệu Sắc Na La Diên. Vị nầy thấy tướng tốt trang nghiêm của Như Lai vĩnh viễn không hoại, do đó vị nầy cũng chứng được pháp bất hoại nầy. Cho nên gọi là Na la diên, dịch là "kiên cố". Vị Thần Chấp Kim Cang thứ hai là Nhật Luân Tốc Tật Tràng. Vị nầy thấy quang minh của Như Lai, như ánh sáng mặt trời, hiện đủ loại tia sáng, cấp tốc tiêu diệt phiền não chướng ngại. Vị nầy chứng được pháp tràng trang nghiêm, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ ba là Tu Di Hoa Quang. Vị nầy thấy thân của Như Lai phóng quang chiếu khắp tất cả, giống như núi Tu Di, hiển hiện như biển cả. Thần thông của vị nầy như hoa sen phóng quang minh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ tư là Thanh Tịnh Vân Âm. Âm thanh của vị nầy, thanh tịnh phi thường, vang dội trong mây, giống như sấm sét, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ năm là Chư Căn Mỹ Diệu. Vị nầy hiện làm chủ thế gian, dùng các căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý mỹ diệu, khiến cho tất cả chúng sinh đều khai ngộ, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ sáu là Khả Ái Lạc Quang Minh. Vị nầy dùng trí huệ quang minh để diễn nói Phật pháp, khiến cho người nghe, sinh tâm vui thích tin nhận, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ bảy là Ðại Thụ Lôi Âm. Vị nầy dùng bảy báu nghiêm sức diệu tướng. Dùng hoa báu để trang nghiêm cây, phương tiện cảnh cáo chúng sinh, không thể sinh tâm thối chuyển, âm thanh của vị nầy như sấm, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ tám là Sử Tử Vương Quang Minh. Phước báu của vị nầy sâu dày phi thường, tướng mạo của vị nầy, cũng tốt đẹp phi thường, như sư tử vương, không sợ sệt bất cứ chỗ nào, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ chín là Mật Diệm Thắng Mục. Mắt từ bi của vị nầy, có tia sáng lửa ngọn cát tường, mật hiện ở trước chúng sinh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chấp Kim Cang thứ mười là Liên Hoa Quang Ma Ni Kế. Vị nầy có quang minh hoa sen, và có diệu kế ma ni báu, cho nên được tên nầy. Có số đông Thần Chấp Kim Cang, nhiều như hạt bụi Phật thế giới như vậy làm thượng thủ. Những vị Thần Chấp Kim Cang nầy, đều là thượng thủ trong chúng Thần Kim Cang. Nếu nói tỉ mỉ tên các vị Thần Kim Cang thì nhiều như số hạt bụi Phật thế giới, nói không hết được. Kinh Hoa Nghiêm bất cứ nói pháp môn gì, cũng đều nói mười. Vì sao ? Vì mười là biểu thị mười lần mười thành trăm, mười lần trăm thành ngàn, mười lần ngàn thành vạn. Mười là số đại biểu trăm ngàn vạn ức. Nếu nói số trăm ngàn vạn ức thì quá nhiều, cho nên chỉ dùng mười. Kinh Hoa Nghiêm được cất giữ ở dưới Long Cung, cộng hết thảy có ba quyển : Thượng, trung và hạ. Bây giờ chúng ta đang giảng, là quyển hạ của Kinh Hoa Nghiêm. Số Thần Kim Cang nói ở trong quyển thượng dùng số ức làm đơn vị. Số Thần Kim Cang nói ở trong quyển trung, dùng số vạn làm đơn vị. Số Thần Kim Cang nói ở trong quyển hạ nầy, dùng số mười làm đơn vị. Mười nầy là biểu thị vô lượng. Vì chúng ta phàm phu không nhớ hết số vị Thần nhiều như thế, cho nên dùng mười để tượng trưng. Các vị Thần này, ở trong vô lượng kiếp quá khứ, thường phát nguyện lớn. Nguyện thường gần gũi cúng dường chư Phật. Theo hạnh nguyện mà thực hành, thảy đều đã viên mãn, đến được bờ bên kia. Những vị Thần Chấp Kim Cang nầy, rất lâu xa trong quá khứ, vô lượng kiếp về trước, thường phát nguyện lực rất lớn. Nguyện lực gì ? Tức là phát nguyện luôn luôn cùng với chư Phật, gần gũi chư Phật, cúng dường chư Phật. Chư Phật đi đến đâu, các Ngài đều theo đến đó. Vì các Ngài phát đủ thứ nguyện lớn, thường theo học Phật. Những lời nguyện nầy, và hạnh môn đã viên mãn, cho nên đến được bờ bên kia. Các Ngài tích tập vô biên phước nghiệp thanh tịnh. Cảnh giới thực hành ở trong các Tam muội đều đã thông đạt. Ðắc được thần thông lực, theo ở với Như Lai, nhập vào cảnh giới giải thoát không nghĩ bàn. Oai đức và quang minh của các Ngài, đặc biệt thông đạt trong chúng hội. Tùy loại chúng sinh mà hiện thân để giáo hóa điều phục. Tất cả các hóa Phật ở chỗ nào, thì các Ngài đều hóa theo ở chỗ đó. Tất cả chỗ Như Lai ở, các Ngài thường xuyên hộ vệ. Những vị Thần Chấp Kim Cang nầy, đều tích tập vô lượng vô biên phước nghiệp thanh tịnh. Ở trong tất cả thiền định, đắc được Tam muội gì, thì có thứ cảnh giới đó. Các Ngài đều thấu rõ thông đạt vô ngại. Những vị Thần Chấp Kim Cang nầy, đều đắc được đủ loại thần thông lực, thường theo ở với Phật, hộ trì Tam Bảo, còn đắc được cảnh giới giải thoát không thể nghĩ bàn. Những vị Thần Chấp Kim Cang nầy, ở trong đại chúng hội, đều có oai quang đặc biệt, đều thông đạt, chẳng giống quang minh của một số Hộ Pháp thiện thần khác. Các Ngài tùy theo loại chúng sinh, mà hiện thân để giáo hóa điều phục, khiến cho tất cả chúng sinh, thấy các Ngài thì liền phát bồ đề tâm, trên cầu Phật đạo, dưới độ chúng sinh. Những vị Thần Chấp Kim Cang nầy, đều theo nguyện lực của các Ngài, đã phát trong quá khứ, để hóa hiện vào trong cõi nước, mà chư Phật hóa hiện, phàm là chỗ các Như Lai ở, các Ngài luôn luôn bảo hộ chư Phật, không để cho thiên ma nhiễu loạn. Ở trên là chúng thứ nhất Thần Chấp Kim Cang. Lại có Thần Thân Chúng số đông như hạt bụi Phật thế giới. Tên của các Ngài là : Thần Thân Chúng Hoa Kế Trang Nghiêm. Thần Thân Chúng Quang Chiếu Thập Phương. Thần Thân Chúng Hải Âm Ðiều Phục. Thần Thân Chúng Tịnh Hoa Nghiêm Kế. Thần Thân Chúng Vô Lượng Oai Nghi. Thần Thân Chúng Vô Lượng Quang Nghiêm. Thần Thân Chúng Tịnh Quang Hương Vân. Thần Thân Chúng Thủ Hộ Nhiếp Trì. Thần Thân Chúng Phổ Hiện Nhiếp Thủ. Thần Thân Chúng Bất Ðộng Quang Minh. Vị Thần Thân Chúng thứ nhất là, Hoa Kế Trang Nghiêm. Vì vị nầy dùng hoa kế để trang nghiêm, cho nên được tên nầy. Vị Thần Thân Chúng thứ hai là, Quang Minh Thập Phương. Vì quang minh của vị nầy chiếu khắp mười phương thế giới, cho nên được tên này. Vị Thần Thân Chúng thứ ba là, Hải Âm Ðiều Phục. Vì âm thanh của vị nầy, như tiếng hải triều, khiến cho tất cả chúng sinh, nghe được âm thanh nầy, thì cải ác hướng thiện, phát bồ đề tâm, cho nên được tên nầy. Vị Thần Thân Chúng thứ tư là, Tịnh Hoa Nghiêm Kế. Vì vị nầy dùng hoa sen thanh tịnh, để trang nghiêm bảo kế, cho nên được tên nầy. Vị Thần Thân Chúng thứ năm là, Vô Lượng Oai Nghi. Vì vị nầy thường hiện vô lượng vô biên oai nghi, đi đứng nằm ngồi đều hợp pháp, cho nên được tên nầy. Vị Thần Thân Chúng thứ sáu là, Tối Thượng Hoa Nghiêm. Vì vị nầy thường phát ra quang minh tối thượng, để trang nghiêm đạo tràng, cho nên được tên nầy. Vị Thần Thân Chúng thứ bảy tên là, Tịnh Quang Hương Vân. Vì vị nầy không những có quang minh thanh tịnh, mà còn có mây thanh hương. Cho nên được tên nầy. Vị Thần Thân Chúng thứ tám là, Thủ Hộ Nhiếp Trì. Vì vị nầy thường thủ hộ đạo tràng, nhiếp trì chúng sinh, khiến cho chúng sinh cải ác hướng thiện, sửa lỗi làm mới, cho nên được tên nầy. Vị Thần Thân Chúng thứ chín là, Phổ Hiện Nhiếp Thủ. Vì vị nầy có thể hiện khắp trước chúng sinh, để nhiếp thủ họ, khiến cho họ phát bồ đề tâm, cho nên được tên nầy. Vị Thần Thân Chúng thứ mười là, Bất động Quang Minh. Vì vị nầy có định lực tâm bất động, lại có quang minh, cho nên được tên nầy. Có số đông Thần Thân Chúng, nhiều như hạt bụi Phật thế giới như vậy làm thượng thủ. Trong quá khứ, các vị Thần này, đều thành tựu nguyện lớn, cúng dường thừa sự tất cả chư Phật. Mười vị Thần Thân Chúng nầy, làm lãnh tụ ở trong các Thần Thân Chúng, ngoài ra còn có vô lượng vô biên Thần Thân Chúng, nhiều như số hạt bụi Phật thế giới. Những vị Thần Thân Chúng nầy, trong quá khứ đều phát nguyện lớn. Phát nguyện lớn gì ? Các vị Thần nầy phát nguyện cúng dường tất cả chư Phật, cung kính thừa sự tất cả chư Phật. Trên đây là chúng thứ hai Thần Thân Chúng. Lại có Thần Túc Hành số đông như hạt bụi Phật thế giới. Ðó là : Thần Túc Hành Bảo Ấn Thủ. Thần Túc Hành Liên Hoa Quang. Thần Túc Hành Thanh Tịnh Hoa Kế. Thần Túc Hành Nhiếp Chư Thiện Kiến. Thần Túc Hành Diệu Bảo Tinh Tràng. Thần Túc Hành Lạc Thổ Diệu Âm. Thần Túc Hành Chiên Ðàn Thụ Quang. Thần Túc Hành Liên Hoa Quang Minh. Thần Túc Hành Vi Diệu Quang Minh. Thần Túc Hành Tích Tập Diệu Hoa. Lại có Thần Túc Hành số đông như hạt bụi Phật thế giới. Thần Túc Hành tức là thần thủ hộ đường xá, vì các vị thần nầy ngưỡng mộ đức của Như Lai, cho nên theo dấu chân Như Lai. Vị Thần Túc Hành thứ nhất là Bảo Ấn Thủ. Vì trong tay của vị nầy cầm giữ bảo ấn để hộ trì chúng sinh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ hai là Liên Hoa Quang. Vì liên hoa phóng quang, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ ba là Thanh Tịnh Hoa Kế. Vì vị nầy có hoa kế thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ tư là Nhiếp Chư Thiện Kiến. Vì khi chúng sinh thấy vị nầy, liền phát tâm bồ đề, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ năm là Diệu Bảo Tinh Tràng. Vì diệu bảo của vị nầy phóng quang giống như tinh tràng, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ sáu là Lạc Thổ Diệu Âm. Vì âm thanh ca xướng của vị nầy, vi diệu phi thường, rất êm tai, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ bảy là Chiên Hành Thụ Quang. Vì quang minh của vị nầy, phóng ra giống như hương cây chiên đàn, khiến cho tất cả chúng sinh ngửi được mùi hương nầy, thì khai mở trí huệ quang, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ tám là Liên Hoa Quang Minh. Vì quang minh của vị nầy phóng ra thanh tịnh như hoa sen, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ chín là Vi Diệu Quang Minh. Vì vị nầy phóng quang minh, vi diệu không thể nghĩ bàn, cho nên được tên nầy. Vị Thần Túc Hành thứ mười là Tích Tập Diệu Hoa. Vì vị nầy tích tập tất cả diệu bảo hoa, cho nên được tên nầy. Có các vị Thần Túc Hành, nhiều như số hạt bụi Phật thế giới làm thượng thủ. Các vị Thần Túc Hành nầy, ở trong vô lượng kiếp quá khứ, đều gần gũi Như Lai, theo đuổi tu hành không muốn lìa xa. Mười vị Thần Túc Hành nầy, làm lãnh tụ trong các Thần Túc Hành mà làm thượng thủ, quyến thuộc Thần Túc Hành của các vị nầy, nhiều như số hạt bụi Phật thế giới. Những vị Thần Túc Hành nầy, trong vô lượng kiếp quá khứ, đều gần gũi Như Lai, cúng dường Như Lai, theo đuổi tu hành, không muốn rời bỏ. Trên đây là chúng thứ ba Thần Túc Hành. Lại có Thần Ðạo Tràng số đông như hạt bụi Phật thế giới. Ðó là : Thần Ðạo Tràng Tịnh Trang Nghiêm Tràng. Thần Ðạo Tràng Tu Di Bảo Quang. Thần Ðạo Tràng Lôi Âm Tràng Tướng. Thần Ðạo Tràng Vũ Hoa Diệu Nhẫn. Thần Ðạo Tràng Hoa Anh Quang Kế. Thần Ðạo Tràng Vũ Bảo Trang Nghiêm. Thần Ðạo Tràng Dũng Mãnh Hương Nhãn. Thần Ðạo Tràng Kim Cang Thể Vân. Thần Ðạo Tràng Liên Hoa Quang Minh. Thần Ðạo Tràng Diệu Quang Chiếu Diệu. Lại có Thần Ðạo Tràng nhiều như số hạt bụi Phật thế giới. Thần Ðạo Tràng tức là thần giữ gìn đạo tràng. Phàm là chỗ nào có người tu hành, thì gọi là đạo tràng. Những vị thần nầy, đều là thiện thần hộ pháp, khiến cho người tu hành được thanh tịnh, không bị thiên ma ngoại đạo làm nhiễu loạn. Vị Thần Ðạo Tràng thứ nhất là Tịnh Trang Nghiêm Tràng. Vì vị nầy thường hộ trì đạo tràng, khiến cho đạo tràng thanh tịnh, trang nghiêm như tràng, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ hai là Tu Di Bảo Quang. Vì vị nầy thường hộ trì, thường phóng bảo quang, quang minh như núi Tu Di, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ ba là Lôi Âm Tràng Tướng. Vì vị nầy có âm thanh giống như sấm, lại có tướng bảo tràng, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ tư là Vũ Hoa Diệu Nhãn. Vì vị nầy luôn luôn mưa hoa báu, mà được diệu nhãn thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ năm là Hoa Anh Quang Kế. Vì hoa anh kế của vị nầy phóng quang minh, chiếu khắp chúng sinh trong đạo tràng, khiến cho tâm của họ thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ sáu là Vũ Bảo Trang Nghiêm. Vì vị nầy mưa bảy báu để trang nghiêm đạo tràng, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ bảy là Dũng Mãnh Hương Nhãn. Vì sức dũng mãnh của vị nầy hàng phục được ma quân, lại có hương con mắt quan sát được hành vi của ma quân, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ tám là Kim Cang Thể Vân. Vì kim cang quang minh của vị nầy chiếu soi đạo tràng, hình thành vạn đạo mây hào quang rực rỡ, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ chín là Liên Hoa Quang Minh. Vì vị nầy thường hiện ra hoa sen, lại có quang minh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ðạo Tràng thứ mười là Diệu Quang Chiếu Diệu. Vì quang minh vi diệu của vị nầy phóng ra chiếu sáng hư không, cho nên được tên nầy. Có số đông các vị Thần Ðạo Tràng, nhiều như hạt bụi Phật thế giới làm thượng thủ. Trong quá khứ các Ngài đã gặp vô lượng chư Phật, thành tựu nguyện lực, thường cúng dường chư Phật. Mười vị Thần Ðạo Tràng nầy, làm lãnh tụ trong các Thần Ðạo Tràng mà làm thượng thủ. Ngoài ra Thần Ðạo Tràng còn có vô lượng vô biên, nhiều như số hạt bụi Phật thế giới. Những vị Thần Ðạo Tràng nầy, trong kiếp quá khứ, đã gặp vô lượng chư Phật. Các vị nầy đã thành tựu nguyện lực, luôn luôn cúng dường mười phương chư Phật. Những vị thần nầy chẳng phải là thần bình thường, mà là đại Bồ Tát thị hiện, cho nên sức thần thông của các Ngài không thể nghĩ bàn, nguyện lực của các Ngài cũng không thể nghĩ bàn. Hộ pháp lực của các Ngài càng không thể nghĩ bàn. Ở trên là chúng thứ tư Thần Ðạo Tràng. Lại có Thần Chủ Thành số đông như hạt bụi Phật thế giới. Ðó là : Thần Chủ Thành Bảo Phong Quang Diệu. Thần Chủ Thành Diệu Nghiêm Cung Ðiện. Thần Chủ Thành Thanh Tịnh Hỉ Bảo. Thần Chủ Thành Ly Ưu Thanh Tịnh. Thần Chủ Thành Hoa Ðăng Diệm Nhãn. Thần Chủ Thành Diệm Tràng Minh Hiện. Thần Chủ Thành Thịnh Phước Quang Minh. Thần Chủ Thành Thanh Tịnh Quang Minh. Thần Chủ Thành Hương Kế Trang Nghiêm. Thần Chủ Thành Diệu Bảo Quang Minh. Lại có Thần Chủ Thành nhiều như số hạt bụi Phật thế giới. Thần Chủ Thành tức là thần hộ trì người thành thị, làm cho người trong thành được bình an, chẳng có tai hại, đó là trách nhiệm củ Thần Chủ Thành. Vị Thần Chủ Thành thứ nhất là Bảo Phong Quang Diệu. Vì vị nầy có thần thông bảo phong, luôn luôn phóng quang, chiếu sáng hư không, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ hai là Diệu Nghiêm Cung Ðiện. Vì vị nầy làm cho tất cả cung điện, đặc biệt trang nghiêm tốt đẹp, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ ba là Thanh Tịnh Hỉ Bảo. Vì quang minh của vị nầy phóng ra rất thanh tịnh, trong quang minh lại hiện ra màu bảy báu, khiến cho người thấy sinh tâm hoan hỷ, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ tư là Ly Ưu Thanh Tịnh, vì vị nầy thường bảo hộ thành ấp, khiến cho chúng sinh hết ưu sầu, trong tâm thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ năm là Hoa Ðăng Diệm Nhãn. Vì hai chân của vị nầy đứng trên hoa sen, hai tay của vị nầy nâng hai cái đèn nhỏ, trong hai con mắt của vị nầy, phóng ra quang minh lửa ngọn, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ sáu là Diệm Tràng Minh Hiện. Vì trên đỉnh đầu của vị nầy phóng ra quang minh lửa ngọn, quang minh giống như tràng báu, làm cho thiên ma ngoại đạo sinh tâm sợ sệt, lập tức bỏ chạy, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ bảy là Thịnh Phước Quang Minh. Vì huệ phước của vị nầy luôn luôn phóng quang minh, bất cứ ai thấy vị nầy thì tăng phước tăng thọ tăng trí huệ, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ tám là Thanh Tịnh Quang Minh. Vị nầy thường phóng quang minh thanh tịnh, chẳng có nhiễm ô. Do đó : "Quang thanh tịnh không dơ, Mặt trời huệ phá tối, Hàng phục nạn gió lửa, Chiếu sáng khắp thế gian". Nghĩa là : quang minh thanh tịnh chẳng có dơ bẩn, giống như tia sáng của mặt trời, phá trừ tất cả đen tối. Quang minh mát mẻ nầy, hàng phục được tất cả tai nạn, chiếu sáng thế gian, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ chín là Hương Kế Trang Nghiêm. Vì bảo kế của vị nầy toả ra hương thơm, tất cả chúng sinh ngửi được hương thơm nầy, thì tiêu tai sống lâu, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Thành thứ mười là Diệu Bảo Quang Minh. Vì vị nầy có bảo châu rất đẹp, thường phóng quang minh. Dùng quang minh nầy, để quản lý chúng sinh trong thành, khiến cho họ tín ngưỡng Tam Bảo, cúng dường Tam Bảo, trang nghiêm Tam Bảo, cho nên được tên nầy. Có số đông các vị Thần Chủ Thành, như hạt bụi Phật thế giới làm thượng thủ. Các vị Thần Chủ Thành nầy, trải qua kiếp số vô lượng không thể nghĩ bàn, luôn trang nghiêm thanh tịnh cung điện của Như Lai ở. Mười vị Thần Chủ Thành nầy làm đại biểu cho các Thần Chủ Thành. Ngoài ra còn có vô lượng Thần Chủ Thành, nhiều như số hạt bụi Phật thế giới. Những vị Thần Chủ Thành nầy trải qua số kiếp, nhiều vô lượng không thể nghĩ bàn, trang nghiêm thanh tịnh cung điện của Như Lai ở. Các Ngài Không những bảo hộ cung điện, mà còn quản lý cung điện, ở trên là chúng thứ năm Thần Chủ Thành. Lại có Thần Chủ Ðất số đông như hạt bụi Phật thế giới. Ðó là : Thần Chủ Ðất Phổ Ðức Tịnh Hoa. Thần Chủ Ðất Kiên Phước Trang Nghiêm. Thần Chủ Ðất Diệu Hoa Nghiêm Thụ. Thần Chủ Ðất Phổ Tán Chúng Bảo. Thần Chủ Ðất Tịnh Mục Quán Thời. Thần Chủ Ðất Diệu Sắc Thắng Nhãn. Thần Chủ Ðất Hương Mao Phát Quang. Thần Chủ Ðất Duyệt Ý Âm Thanh. Thần Chủ Ðất Diệu Hoa Toàn Kế. Thần Chủ Ðất Kim Cang Nghiêm Thể. Lại có Thần Chủ Ðất nhiều như số hạt bụi Phật thế giới. Thần Chủ Ðất tức là thần quản lý đất đai. Thần Chủ Ðất có vô lượng vô biên, bây giờ cử ra mượi vị Thần Chủ Ðất làm đại biểu. Vị Thần Chủ Ðất thứ nhất là Phổ Ðức Tịnh Hoa. Vì đức hạnh quang minh của vị nầy, chiếu khắp chúng sinh trong đạo tràng, kết duyên với chúng sinh, hoa quang của vị nầy thanh tịnh, chiếu soi chúng sinh, khiến cho họ phát tâm đại bồ đề. Tâm đại bồ đề tức là : "Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn Pháp môn vô lượng thệ nguyện học Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành". Cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ hai là Kiên Phước Trang Nghiêm. Vì phước của vị nầy vừa kiên cố vừa trang nghiêm, ai thấy được vị nầy, thì người đó phước báo cũng sẽ kiên cố trang nghiêm, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ ba là Diệu Hoa Nghiêm Thụ. Vì vị nầy trang nghiêm diệu hoa cây bồ đề, khiến cho cây bồ đề phóng đại quang minh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ tư là Phổ Tán Chúng Bảo. Vì vị nầy rải bảy báu khắp nơi, khiến cho chúng sinh phát bồ đề tâm, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ năm là Tịnh Mục Quán Thời. Vì vị nầy có mắt thanh tịnh như hoa sen, thời quán thấy làm cho tất cả tai nạn chuyển biến thành cát tường, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ sáu là Diệu Sắc Thắng Nhãn. Vì vị nầy dùng hoa cỏ cây cối trang nghiêm đất đai, có diệu sắc thù thắng, khiến cho chúng sinh hoan hỉ thưởng thức cảnh đẹp tự nhiên, mà sinh ra mắt thanh tịnh không nhiễm, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ bảy là Hương Mao Phát Quang. Vì vị nầy quảng lý đất đai, để sinh trưởng hương mao đặc biệt của hoa. Hoa nầy không những thơm khắp nơi, mà còn có quang minh, phát ra và phân tán khắp trong bồ đề đạo tràng, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ tám là Duyệt Ý Âm Thanh. Vì vị nầy thường phát ra một thứ âm thanh êm tai, giống như tiếng hót của chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già, khiến cho tất cả chúng sinh nghe rồi, đều sinh tâm hoan hỉ, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ chín là Diệu Hoa Toàn Kế. Vì vị nầy có hoa sen đẹp trên đầu quay liệng, giống như bảo kế, cho nên được tên nầy. Vị Thần Chủ Ðất thứ mười là Kim Cang Nghiêm Thể. Vì vị nầy dùng kim cang để trang nghiêm thân thể, bất cứ thiên ma ngoại đạo nào, cũng không thể phá hoại được thân thể của vị nầy, cho nên được tên nầy. Có các vị Thần Chủ Ðất, số đông như hạt bụi Phật thế giới làm thượng thủ. Trong quá khứ, các vị Thần Chủ Ðất này, đều phát đại nguyện rộng lớn sâu dày. Nguyện thường gần gũi chư Phật Như Lai, cùng tu phước nghiệp. Mười vị Thần Chủ Ðất nầy là lãnh tụ trong Thần Chủ Ðất, ngoài ra còn có vô lượng vô biên Thần Chủ Ðất, số đông nhiều như hạt bụi Phật thế giới. Những vị Thần Chủ Ðất nầy, trong quá khứ đều phát nguyện lớn sâu nặng, luôn luôn gần gũi chư Phật, Bồ Tát và A La Hán. Tóm lại, gần gũi các vị Thánh nhân chứng quả, đều cùng tu phước tu huệ. Tu phước thì trang nghiêm tướng tốt, tu huệ thì trí huệ như biển. Tại sao chúng ta ngu si ? Tại sao bần cùng ? Vì không biết tu phước tu huệ, trên đây là chúng thứ sáu Thần Chủ Ðất. Lại có vô lượng Chủ Thần Núi. Ðó là : Chủ Thần Núi Bảo Phong Khai Hoa. Chủ Thần Núi Hoa Lâm Diệu Kế. Chủ Thần Núi Cao Tràng Phổ Chiếu. Chủ Thần Núi Ly Trần Tịnh Kế. Chủ Thần Núi Quang Chiếu Thập Phương. Chủ Thần Núi Ðại Lực Quang Minh. Chủ Thần Núi Oai Quang Phổ Thắng. Chủ Thần Núi Vi Mật Quang Luân. Chủ Thần Núi Phổ Nhãn Hiện Kiến. Chủ Thần Núi Kim Cang Mật Nhãn. Vị Chủ Thần Núi thứ nhất là Bảo Phong Khai Hoa. Vì vị nầy tu Bảy Bồ Ðề Phần, bảy báu trang nghiêm diệu cao phong, thường khai nở hoa sen lớn, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ hai là Hoa Lâm Diệu Kế. Vì công đức của vị nầy viên mãn, hoa sen nở rộ tươi tốt như rừng cây, diệu kế của vị nầy phóng quang minh mà trang nghiêm, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ ba là Cao Tràng Phổ Chiếu. Vì tràng báu của vị nầy rất cao, chiếu khắp thế giới, cứu độ vô lượng chúng sinh, lìa khổ được vui, chấm dứt sinh tử, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ tư là Ly Trần Tịnh Kế. Vì vị nầy từ bỏ được bụi trần phiền não, mà thanh tịnh bảo kế, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ năm là Quang Chiếu Thập Phương. Vì quang minh của vị nầy chiếu khắp mười phương thế giới, chúng sinh nào được quang minh nầy chiếu đến, thì đều phát tâm bồ đề, tương lai có cơ hội thành Phật, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ sáu là Ðại Lực Quang Minh. Vì sức lực của vị nầy rất lớn, lại phóng quang minh mãnh liệt, chiếu khắp thế giới, khiến cho quỷ lị mị, vọng lượng, không dám xuất hiện, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ bảy là Oai Quang Phổ Thắng. Vì vị nầy có quang minh oai mãnh, chiếu khắp mà thù thắng, quang minh của các vị thần khác không thể sánh bằng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ tám là Vi Mật Quang Luân. Vì quang luân của vị nầy vi diệu kế mật, phát ra được quang minh thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ chín là Phổ Nhãn Hiện Kiến. Vì vị nầy dùng huệ nhãn quán sát, xuất hiện ra đời, khiến cho chúng sinh thấy được vị nầy, liền phát tâm bồ đề, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Núi thứ mười là Kim Cang Mật Nhãn. Vì vị nầy có mật mắt kim cang bất hoại, quán sát được mười phương thế giới, cho nên được tên nầy. Có vô lượng Chủ Thần Núi như vậy làm thượng thủ. Các vị Chủ Thần Núi này, ở trong các pháp đắc được mắt thanh tịnh. Mười vị Chủ Thần Núi nầy là thượng thủ trong chúng Chủ Thần Núi, ngoài ra còn có vô lượng vô biên Chủ Thần Núi, chẳng có cách chi tính đếm được. Những vị Chủ Thần Núi nầy, ở trong các pháp, đắc được mắt chọn pháp (trạch pháp nhãn) thanh tịnh, mắt trí huệ thanh tịnh, nhận rõ được các pháp. Ở trên là chúng thứ bảy Chủ Thần Núi. Lại có Chủ Thần Rừng số đông không thể nghĩ bàn. Ðó là : Chủ Thần Rừng Bố Hoa Như Vân. Chủ Thần Rừng Trạch Cán Thư Quang. Chủ Thần Rừng Sinh Nha Phát Diệu. Chủ Thần Rừng Cát Tường Tịnh Diệp. Chủ Thần Rừng Thùy Bố Diệm Tạng. Chủ Thần Rừng Thanh Tịnh Quang Minh. Chủ Thần Rừng Khả Ý Lôi Âm. Chủ Thần Rừng Quang Hương Phổ Biến. Chủ Thần Rừng Diệu Quang Hồi Diệu. Chủ Thần Rừng Hoa Quả Quang Vị. Vị Chủ Thần Rừng thứ nhất tên là Bố Hoa Như Vân. Vì vị nầy giăng hoa nhiều như mây, khiến cho hoa sen từ không trung rơi xuống tấp nập, đầy khắp mặt đất, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ hai tên là Trạc Cán Thư Quang. Vì vị nầy đề bạt thân cây mà thư triển quang minh, chiếu soi tất cả, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ ba tên là Sinh Nha Phát Diệu. Vì bồ đề của vị nầy sinh mầm, phát quang chiếu soi tùng lâm, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ tư tên là Cát Tường Tịnh Diệp. Vì vị nầy có tướng cát tường, Ngài ở tùng lâm nào thì tùng lâm đó cát tường, chẳng có quỷ đến tác quái, cho nên cành và lá của cây cối đều thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ năm tên là Thùy Bố Diệm Tạng. Vì tất cả cây cối do vị nầy quảng lý giống như lọng dù, che ánh sáng lửa ngọn, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ sáu tên là Thanh Tịnh Quang Minh. Vì những tùng lâm vị nầy quảng lý, đều thanh tịnh không có bụi bặm dơ bẩn, mà luôn luôn phóng quang minh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ bảy tên là Khả Ý Lôi Âm. Vì vị nầy khiến cho tất cả chúng sinh thấy rừng cây đều sinh tâm hoan hỉ, vị nầy còn có oai đức lôi âm, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ tám là Quang Hương Phổ Biến. Vì quang minh và hương thơm của vị nầy, chiếu khắp mọi nơi, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ chín là Diệu Quang Hồi Diệu. Vì diệu quang minh của vị nầy chiếu sáng thế giới, khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được lợi ích, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Rừng thứ mười là Hoa Quả Quang Vị. Vì tất cả hoa và quả của vị nầy quảng lý, đều có ánh sáng đẹp lạ và hương vị ngọt, cho nên được tên nầy. Có số đông Chủ Thần Rừng không thể nghĩ bàn như vậy làm thượng thủ. Các vị Chủ Thần Rừng này, đều có vô lượng quang minh đáng ưa thích. Mười vị Chủ Thần Rừng nầy, là lãnh tụ trong các Chủ Thần Rừng, còn có số đông Chủ Thần Rừng không thể nghĩ bàn. Những vị Chủ Thần Rừng nầy, đều có vô lượng vô biên quang minh đáng ưa thích. Vì những vị đại Bồ Tát nầy phát nguyện, đến làm Chủ Thần Rừng hành Bồ Tát đạo. Ở trên là chúng thứ tám Chủ Thần Rừng. Lại có vô lượng Chủ Thần Dược. Ðó là : Chủ Thần Dược Cát Tường. Chủ Thần Dược Chiên Ðàn Lâm. Chủ Thần Dược Thanh Tịnh Quang Minh. Chủ Thần Dược Danh Xưng Phổ Văn. Chủ Thần Dược Mao Khổng Quang Minh. Chủ Thần Dược Phổ Trị Thanh Tịnh. Chủ Thần Dược Ðại Phát Hống Thanh. Chủ Thần Dược Tế Nhật Quang Tràng. Chủ Thần Dược Minh Kiến Thập Phương. Chủ Thần Dược Ích Khí Minh Mục. Vị Chủ Thần Dược thứ nhất tên là Cát Tường. Vì vị nầy chủ quản lý cam thảo, vị thuốc nầy giải được trăm thứ bệnh. Bất cứ trúng độc gì, uống cam thảo thì sẽ khỏi, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ hai là Chiên Ðàn Lâm. Vì vị nầy trị bệnh tim đặc biệt hiệu nghiệm. Thứ gỗ chiên đàn nầy, lại có thể chế thành hương, nóng thì khiến cho tim gan của người mát mẻ, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ ba là Thanh Tịnh Quang Minh. Vì vị nầy thanh tịnh lại quang minh, khiến cho chúng sinh không sinh bệnh nhiệt não, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ tư tên là Danh Xưng Phổ Văn. Vì vị nầy chủ quản nhân sâm. Vị thuốc nầy là thuốc bổ dưỡng, có bệnh thì trị bệnh, không có bệnh thì thân thể khoẻ mạnh, do đó vang danh khắp nơi, mọi người đều biết, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ năm tên là Mao Khổng Quang Minh. Vì mỗi lỗ chân lông của vị nầy đều phóng một luồng hào quang, chiếu đến người bệnh thì được khoẻ mạnh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ sáu tên là Phổ Trị Thanh Tịnh. Vì vị nầy trị được trăm bệnh, giải nhiệt tan độc, làm cho bệnh nhân thân tâm thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ bảy tên là Ðại Phát Hống Thanh. Vì tiếng hống của vị nầy, trị được tất cả bệnh nan y và tạp chứng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ tám tên là Tế Nhật Quang Tràng. Vì Ngài che được ánh sáng mặt trời, giống như tràng báu cao lớn, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ chín tên là Minh Kiến Thập Phương. Vì vị nầy có con mắt thấu thị, thấy rõ được căn bệnh của tất cả bệnh nhân như thế nào ? và uống thuốc vào thì hết bệnh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Dược thứ mười tên là Ích Khí Minh Mục. Vì vị nầy biết nhân sâm bổ khí, hoa cúc bổ mắt, khiến cho bệnh nhân dùng hai thứ thuốc nầy, thì hiệu dụng không thể nghĩ bàn, cho nên được tên nầy. Có vô lượng số Chủ Thần Dược như vậy làm thượng thủ. Các vị thần này, tánh đều lìa cấu bẩn nhiễm ô, nhân từ lợi ích muôn vật. Mười vị Chủ Thần Dược nầy, là thượng thủ trong chúng Chủ Thần Dược, ngoài ra còn có vô lượng số Chủ Thần Dược như vậy. Những vị Chủ Thần Dược nầy đã tu đến mức không còn ô nhiễm, đều có tâm nhân từ, giúp đỡ chúng sinh, lợi ích chúng sinh, cho nên đều là đại Bồ Tát hóa thân. Ở trên là chúng thứ chín Chủ Thần Dược. Lại có vô lượng Chủ Thần Ngũ Cốc. Ðó là : Chủ Thần Ngũ Cốc Nhu Nhuyến Thắng Vị. Chủ Thần Ngũ Cốc Thời Hoa Tịnh Quang. Chủ Thần Ngũ Cốc Sắc Lực Dũng Kiện. Chủ Thần Ngũ Cốc Tăng Trưởng Tinh Khí. Chủ Thần Ngũ Cốc Phổ Sinh Căn Quả. Chủ Thần Ngũ Cốc Diệu Nghiêm Hoàn Kế. Chủ Thần Ngũ Cốc Nhuận Trạch Tịnh Hoa. Chủ Thần Ngũ Cốc Thành Tựu Diệu Hương. Chủ Thần Ngũ Cốc Kiến Giả Ái Lạc. Chủ Thần Ngũ Cốc Ly Cấu Tịnh Quang. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Ngũ Cốc. Chủ Thần Ngũ Cốc tức là thần quản lý ngũ cốc. Ngũ cốc tức là các thứ rau trái, do con người trồng trọt. Mỗi loại cây đều có một vị thần quản lý. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ nhất tên là Nhu Nhuyến Thắng Vị. Vì tất cả cây cối do vị nầy cai quản, đều là chất mềm mại, có vị đạo thù thắng và hương thơm đặc biệt cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ hai tên là Thời Hoa Tịnh Quang. Vì ngũ cốc tạp loại do vị nầy cai quản, đúng thời thì hoa nở, còn phóng quang minh thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ ba tên là Sắc Lực Dũng Kiện. Vì ngũ cốc do vị nầy cai quản, làm cho người ăn rồi thì thân thể kiện khang, và còn có sức dũng mãnh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ tư là Tăng Trưởng Tinh Khí. Vì ngũ cốc do vị nầy cai quản, ăn rồi thì sẽ tăng thêm tinh thần và thể lực, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ năm tên là Phổ Sinh Căn Quả. Vì ngũ cốc do vị nầy cai quản, ăn rồi thì khiến cho căn lành sinh trưởng, được sinh vào nhà Phật, đắc được quả vị Phật, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ sáu tên là Diệu Nghiêm Hoàn Kế. Vì ngũ cốc do vị nầy cai quản, ăn rồi thì sinh bảo kế hình tròn, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ bảy tên là Nhuận Trạch Tịnh Hoa. Vì ngũ cốc do vị nầy cai quản, ăn rồi thì làm cho da thấm nhuần, thanh tịnh như hoa sen, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ tám là Thành Tựu Diệu Hương. Vì ngũ cốc do vị nầy cai quản đều có hương thơm vi diệu, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ chín là Kiến Giả Ái Lạc. Vì ngũ cốc do vị nầy cai quản, làm cho người thấy rồi thì vui vẻ và khoái lạc, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ngũ Cốc thứ mười tên là Ly Cấu Tịnh Quang. Vì ngũ cốc do vị nầy cai quản, ăn rồi thì thân tâm thanh tịnh, xa lìa trần cấu, chẳng có vọng tưởng nhiễm ô, cho nên được tên nầy. Có vô lượng số Chủ Thần Ngũ Cốc như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần này đều đắc được đại hỉ thành tựu. Mười vị Chủ Thần Ngũ Cốc nầy, làm thượng thủ trong các Chủ Thần Ngũ Cốc. Ngoài ra còn có vô lượng vô biên Chủ Thần Ngũ Cốc. Những vị Chủ Thần Ngũ Cốc nầy, đều đắc được đại hỉ thành tựu. Mỗi năm đến mùa thu thì thu hoạch được dồi dào, người trồng trọt đều hoan hỉ vui mừng, đều đắc được đại hoan hỉ thành tựu. Trên đây là chúng thứ mười Chủ Thần Ngũ Cốc. Lại có vô lượng Chủ Thần Sông. Ðó là : Chủ Thần Sông Phổ Phát Tấn Lưu. Chủ Thần Sông Phổ Khiết Tuyền Giản. Chủ Thần Sông Ly Trần Tịnh Nhãn. Chủ Thần Sông Thập Phương Biến Hống. Chủ Thần Sông Cứu Hộ Chúng Sinh. Chủ Thần Sông Vô Nhiệt Tịnh Quang. Chủ Thần Sông Phổ Sinh Hoan Hỉ. Chủ Thần Sông Quảng Ðức Thắng Tràng. Chủ Thần Sông Quang Chiếu Phổ Thế. Chủ Thần Sông Hải Ðức Quang Minh. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Sông. Chủ Thần Sông tức là thần quản lý sông hồ. Bất cứ sông ngòi, ao hồ, biển cả, đều có thần đến quản lý cá rùa tôm cua, khiến cho chúng không dám tác quái, không được hại người. Vị Chủ Thần Sông thứ nhất tên là Phổ Phát Tấn Lưu. Vì vị nầy làm cho nước chảy mau, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Sông thứ hai tên là Phổ Khiết Tuyền Giản. Vì vị nầy làm cho nước suối và sông, đều trong sạch thanh khiết, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Sông thứ ba tên là Ly Trần Tịnh Nhãn. Vì vị nầy khử trừ cấu bẩn tất cả nước sông, khiến cho trong sạch phi thường, như con mắt, chẳng có chút hạt bụi nào, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Sông thứ tư tên là Thập Phương Biến Hống. Vì vị nầy làm cho âm thanh của nước sông, giống như âm thanh của thú dữ, chấn động mười phương, khắp mọi nơi, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Sông thứ năm tên là Cứu Hộ Chúng Sinh. Vì trong quá khứ vị nầy đã phát nguyện, nếu có chúng sinh rớt vào trong sông, thì vị nầy nhất định đi cứu họ trước, không để cho sinh mạng của họ nguy hiểm, cho nên được tên nầy Vị Chủ Thần Sông thứ sáu tên là Vô Nhiệt Tịnh Quang. Vì vị nầy có quang minh thanh tịnh mát mẻ, chiếu soi chúng sinh khiến cho họ không có nhiệt não, cho nên đựơc tên nầy. Vị Chủ Thần Sông thứ bảy tên là Phổ Sinh Hoan Hỉ. Vì vị nầy khiến cho tất cả chúng sinh, đều sinh tâm hoan hỉ, cho nên đựơc tên nầy. Vị Chủ Thần Sông thứ tám tên là Quảng Ðức Thắng Tràng, vì đức đức tính của vị nầy, rất thù thắng như tràng báu, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Sông thứ chín tên là Quang Chiếu Phổ Thế. Vì quang minh của vị nầy chiếu khắp tất cả thế giới, cho nên đựơc tên nầy. Vị Chủ Thần Sông thứ mười tên là Hải Ðức Quang Minh. Vì đức tính quang minh của vị nầy như biển, cho nên được tên nầy. Có vô lượng số Chủ Thần Sông như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần này, luôn phát tâm lợi ích chúng sinh. Ðây là mười vị Chủ Thần Sông, làm thượng thủ trong các Chủ Thần Sông, ngoài ra còn có vô lượng biên Chủ Thần Sông. Những vị Chủ Thần Sông nầy, luôn luôn phát tâm làm lợi ích chúng sinh. Trên đây là chúng thứ mười một Chủ Thần Sông. Lại có vô lượng Chủ Thần Biển. Ðó là : Chủ Thần Biển Xuất Hiện Bảo Quang. Chủ Thần Biển Thành Kim Cang Tràng. Chủ Thần Biển Viễn Ly Trần Cấu. Chủ Thần Biển Phổ Thủy Cung Ðiện. Chủ Thần Biển Cát Tường Bảo Nguyệt. Chủ Thần Biển Diệu Hoa Long Kế. Chủ Thần Biển Phổ Trì Quang Vị. Chủ Thần Biển Bảo Diệm Hoa Quang. Chủ Thần Biển Kim Cang Diệu Kế. Chủ Thần Biển Hải Triều Lôi Âm. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Biển. Chủ Thần Biển tức là thần quản lý biển cả, bây giờ cử ra mười vị làm tượng trưng. Vị Chủ Thần Biển thứ nhất tên là Xuất Hiện Bảo Quang. Vì vị nầy hiện ra rất nhiều quang minh báu, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ hai tên là Thành Kim Cang Tràng, vì vị nầy thành tựu công đức, giống như kim cang tràng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ ba là Viễn Ly Trần Cấu. Vì vị nầy xa lìa tất cả bụi trần dơ bẩn, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ tư là Phổ Thủy Cung Ðiện. Vì vị nầy làm cho trong nước đều có cung điện, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ năm là Cát Tường Bảo Nguyệt. Vì vị nầy có sự cát tường giống như trăng tròn, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ sáu tên là Diệu Hoa Long Kế. Vì vị nầy có bảo kế như diệu hoa long, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ bảy tên là Phổ Trì Quang Vị. Vì vị nầy có quang minh và hương vị giữ được lâu, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ tám tên là Bảo Diệm Hoa Quang. Vì vị nầy có quang minh bảo diệm hoa, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ chín tên là Kim Cang Diệu Kế. Vì vị nầy có bảo kế kim cang kỳ diệu, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Biển thứ mười là Hải Triều Lôi Âm. Vì vị nầy có diệu âm hải triều giống như sấm, cho nên được tên nầy. Có vô số Chủ Thần Biển như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần này, đều dùng biển công đức của Như Lai, sung mãn thân mình. Mười vị Chủ Thần Biển nầy, đều là thượng thủ trong Chủ Thần Biển, còn có vô lượng vô biên Chủ Thần Biển. Ở trên là chúng thứ mười hai Chủ Thần Biển. Những vị Chủ Thần Biển nầy, hoàn toàn dùng biển công đức của Như Lai để sung mãn trong thân của các Ngài. Lại có vô lượng Chủ Thần Nước. Ðó là : Chủ Thần Nước Phổ Hưng Vân Tràng. Chủ Thần Nước Hải Triều Vân Âm. Chủ Thần Nước Diệu Sắc Luân Kế. Chủ Thần Nước Thiện Xảo Tuyền Phục. Chủ Thần Nước Ly Cấu Hương Tích. Chủ Thần Nước Phước Kiều Quang Âm. Chủ Thần Nước Tri Túc Tự Tại. Chủ Thần Nước Tịnh Hỉ Thiện Âm. Chủ Thần Nước Phổ Hiện Oai Quang. Chủ Thần Nước Hống Âm Biến Hải. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Nước. Chủ Thần Nước tức là thần quản lý nước. Nay cử ra mười vị làm đại biểu. Vị Chủ Thần Nước thứ nhất tên là Phổ Hưng Vân Tràng. Vì vị nầy nổi mây khắp nơi, để tạo tràng báu cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ hai tên là Hải Triều Vân Âm. Vì vị nầy có âm thanh giống như tiếng hải triều, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ ba tên là Diệu Sắc Luân Kế. Vì kế của vị nầy có diệu sắc luân quang, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ tư tên là Thiện Xảo Tuyền Phục. Vì vị nầy dùng thần lực khéo léo, làm cho nước chảy lại, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ năm tên là Ly Cấu Hương Tích. Vì vị nầy lìa khỏi tất cả pháp nhiễm ô, làm cho nước trong sạch, mà tích tụ hương vị, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ sáu tên là Phước Kiều Quang Âm. Vì vị nầy bố thí làm phước cho chúng sinh, công đức đủ như kiều lương. Vị nầy phóng quang minh, trong quang minh thuyết pháp, khiến cho chúng sinh được lợi ích, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ bảy tên là Tri Túc Tự Tại. Vì tất cả nước do vị nầy quản lý, đều rất trong sạch, ngọt ngào, chúng sinh uống rồi, thì tự nhiên đắc được tri túc tự tại, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ tám tên là Tịnh Hỷ Thiện Âm. Vì tất cả nước do vị nầy quản lý, là nước cam lồ, uống rồi thì sinh tâm thanh tịnh hoan hỉ, âm thanh diệu hòa êm tai, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ chín là Phổ Hiện Oai Quang. Vì vị nầy có oai quang hiện khắp tất cả, khiến cho chúng sinh thấy được rồi, thì sinh tâm cung kính tín ngưỡng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Nước thứ mười tên là Hống Âm Biến Hải. Vì nước do vị nầy quản lý, thường phát ra tiếng hống khắp biển cả, bất cứ chúng sinh nơi nào, nghe được thì đều sinh bồ đề tâm, cho nên được tên nầy. Có vô lượng Chủ Thần Nước như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần này, luôn luôn cứu hộ và làm lợi ích cho chúng sinh. Mười vị Chủ Thần Nước nầy, đều làm thượng thủ trong Chủ Thần Nước, và còn có vô lượng vô biên Chủ Thần Nước. Những vị Chủ Thần Nước nầy, luôn luôn lấy sự cứu hộ chúng sinh, làm trách nhiệm của mình, làm cho tất cả chúng sinh, đều đắc được lợi ích, trên đây là chúng thứ mười ba Chủ Thần Nước. Lại có vô số Chủ Thần Lửa. Ðó là : Chủ Thần Lửa Phổ Quang Diệm Tạng. Chủ Thần Lửa Phổ Tập Quang Tràng. Chủ Thần Lửa Ðại Quang Phổ Chiếu. Chủ Thần Lửa Chúng Diệu Cung Ðiện. Chủ Thần Lửa Vô Tận Quang Kế. Chủ Thần Lửa Chủng Chủng Diệm Nhãn. Chủ Thần Lửa Thập Phương Cung Ðiện. Chủ Thần Lửa Oai Quang Tự Tại. Chủ Thần Lửa Quang Minh Phá Ám. Chủ Thần Lửa Lôi Âm Ðiện Quang. Lại có vô lượng Chủ Thần Lửa. Chủ Thần Lửa là thần quản lý lửa, trong vô lượng Chủ Thần Lửa chỉ đưa ra mười vị tượng trưng. Vị Chủ Thần Lửa thứ nhất tên là Phổ Quang Diệm Tạng. Vì quang diệm của vị nầy biến khắp rộng lớn, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ hai tên là Phổ Tập Quang Tràng. Vì vị nầy có hỏa quang phổ tập giống như tràng báu, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ ba tên là Ðại Quang Phổ Chiếu. Vì quang minh của vị nầy chiếu khắp tất cả, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ tư tên là Chúng Diệu Cung Ðiện. Vì vị nầy dùng các thứ báu vi diệu để trang nghiêm cung điện, khiến cho cung điện phóng quang, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ năm tên là Vô Tận Quang Kế. Vì vị nầy có bảo kế phóng ra vô lượng vô tận quang minh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ sáu tên là Chủng Chủng Diệm Nhãn. Vì vị nầy có đủ loại diệm nhãn, phát ra hào quang lửa ngọn vạn trượng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ bảy tên là Thập Phương Cung Ðiện. Vì vị nầy làm cho tất cả cung điện trong mười phương, nguy nga trang nghiêm như núi Tu Di, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ tám tên là Oai Quang Tự Tại. Vì oai lực của vị nầy, vừa quang minh vừa tự tại, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ chín tên là Quang Minh Phá Ám. Vì quang minh của vị nầy, có oai lực phá trừ tất cả đen tối, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Lửa thứ mười tên là Lôi Âm Ðiện Quang. Vì âm thanh của vị nầy như sấm, quang minh của vị nầy như điện, cho nên được tên nầy. Có các vị Chủ Thần Lửa, nhiều không thể nói hết được như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần này, đều thị hiện đủ loại quang minh, khiến cho phiền não của tất cả chúng sinh đều tiêu trừ. Mười vị Chủ Thần Lửa nầy làm thượng thủ trong Chủ Thần Lửa, ngoài ra còn có rất nhiều Chủ Thần Lửa không thể tính đếm hết được. Những vị Chủ Thần Lửa nầy đều thị hiện đủ loại quang minh, làm cho bệnh nhiệt não của chúng sinh đều đoạn trừ tiêu diệt. Chúng ta cũng không biết tại sao lại sinh ra tà tri tà kiến ? Cũng không biết tại sao lại sinh ra tư tưởng không trong sạch ? Cũng không biết tại sao mình không tự làm chủ được ? Ðó đều là do quá khứ, đã gieo trồng gốc rễ tội nghiệp quá nhiều, quá sâu, cho nên mới như thế. Vậy phải làm sao ? Phải diệt trừ gốc rễ vô minh, thì sẽ tiêu trừ nhiệt não. Tu hành tức là phải phá vô minh, có vô minh thì có sinh tử, không còn vô minh, thì chẳng còn sinh tử nữa. Ở trong mười hai nhân duyên nói rất rõ ràng. Ở trên là chúng thứ mười bốn Chủ Thần Lửa. Lại có vô lượng Chủ Thần Gió. Ðó là : Chủ Thần Gió Vô Ngại Quang Minh. Chủ Thần Gió Phổ Hiện Dũng Nghiệp. Chủ Thần Gió Phiêu Kích Vân Tràng. Chủ Thần Gió Tịnh Quang Trang Nghiêm. Chủ Thần Gió Lực Năng Kiệt Thủy. Chủ Thần Gió Ðại Thanh Biến Hống. Chủ Thần Gió Thụ Diểu Thùy Kế. Chủ Thần Gió Sở Hành Vô Ngại. Chủ Thần Gió Chủng Chủng Cung Ðiện. Chủ Thần Gió Ðại Quang Phổ Chiếu. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Gió. Chủ Thần Gió tức là thần quản lý gió. Gió có nhiều loại hình thái, như gió nhẹ, gió mạnh. Cuồng phong thổi rất là lợi hại. Vị Chủ Thần Gió thứ nhất tên là Vô Ngại Quang Minh. Vì quang minh của vị nầy không có chướng ngại, chiếu khắp thế giới, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ hai tên là Phổ Hiện Dũng Nghiệp. Vì oai phong của vị nầy, dũng mãnh phi thường, phổ hiện khắp nơi, thổi tan ma quân, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ ba tên là Phiêu Kích Vân Tràng. Vì oai lực của vị nầy càng lợi hại, phiêu kích vân tràng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ tư tên là Tịnh Quang Trang Nghiêm. Vì quang minh của vị nầy, vừa thanh tịnh vừa trang nghiêm, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ năm tên là Lực Năng Kiệt Thủy. Vì sức lực của vị nầy, có thể thổi khô cạn biển cả, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ sáu tên là Ðại Thanh Biến Hống. Vì oai lực phong thanh của vị nầy, Kinh thiên động địa, như tiếng hống của loài thú, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ bảy là Thụ Diểu Thùy Kế. Vì bảo kế của vị nầy, như cành cây rũ xuống, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ tám là Sở Hành Vô Ngại. Vì vị nầy thổi gió đến đâu, cũng chẳng có chướng ngại, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ chín tên là Chủng Chủng Cung Ðiện. Vì vị nầy có rất nhiều loại cung điện chẳng giống nhau, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Gió thứ mười là Ðại Quang Phổ Chiếu. Vì đại quang minh của vị nầy chiếu soi khắp tất cả, cho nên được tên nầy. Có vô lượng Chủ Thần Gió như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần này, đều tinh tấn diệt trừ tâm ngã mạn. Mười vị Chủ Thần Gió nầy, làm thượng thủ trong Chủ Thần Gió. Ngoài ra còn có vô lượng vô biên Chủ Thần Gió. Những vị Chủ Thần Gió nầy, đều tinh tấn tiêu trừ tâm ngã mạn. Ngã mạn là gì ? Tức là tự mình kiêu căn ngạo mạn, xem thiên hạ chẳng ra gì. Cho rằng mình giỏi hơn bất cứ ai. Tóm lại, ai cũng chẳng bằng mình. Người học Phật ! Nên nhớ ! Ðừng có tâm ngã mạn. Nếu có cái ngã tức là ngã mạn. Ðừng dạy mọi người phải tôn kính mình, nếu dạy người phải tôn kính mình cũng là ngã mạn. Vậy thì dạy người khinh mình chăng ? Cũng chẳng phải. Tức là không cần phải kính trọng hoặc khinh thường, tự mình tu cho mình, tự mình hành cho mình, đừng dạy người khác tôn kính, mà là tự mình tôn kính mình. Phải hỏi lương tâm mình còn tâm tham chăng ? Còn tâm sân chăng ? Còn tâm si chăng ? Nếu ba thứ tâm nầy không đoạn trừ, thì căn bản là người ngu si. Chúng ta là người tu đạo, phải luôn luôn hồi quang phản chiếu, xem mình như thế nào ? Có sinh tâm cống cao ngã mạn chăng ? Nếu có thì phải mau sửa đổi. Phải trở lại cầu chính mình, luôn luôn đề cao cảnh giác, phản tỉnh những gì làm trong ngày, thiện thì khỏi, ác thì phải sửa đổi. luôn luôn kiểm điểm như thế, thì không thể sinh tâm cống cao ngã mạn. Lại có vô lượng Chủ Thần Không. Ðó là : Chủ Thần Không Tịnh Quang Phổ Chiếu. Chủ Thần Không Phổ Du Thâm Quảng. Chủ Thần Không Sinh Cát Tường Phong. Chủ Thần Không Ly Chướng An Trụ. Chủ Thần Không Quảng Bộ Diệu Kế. Chủ Thần Không Vô Ngại Quang Diệm. Chủ Thần Không Vô Ngại Thắng Lực. Chủ Thần Không Ly Cấu Quang Minh. Chủ Thần Không Thâm Viễn Diệu Âm. Chủ Thần Không Quang Biến Thập Phương. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Không. Chủ Thần Không tức là thần quản lý không (khoảng không), tức là gì cũng chẳng có, nhưng gì cũng đều có. Nghĩa là gì ? Giống như chúng ta ở trong (khoảng) không, lại giống như phòng xá ở trong (khoảng) không, đó gọi là khoảng không mà chẳng không, tức là diệu hữu, hữu mà phi hữu (có mà chẳng có), lại là chân không. Cho nên nói một vật mà có được chẳng phải là bao bọc ở khoảng không chăng ? Nếu nói về không, có khoảng không nào chẳng phải là hàm tàng ở trong hữu (có) chăng. Thân thể của chúng ta, giống như làm chật đầy một khoảng không. Thật ra, thân thể của chúng ta cũng là không, bất quá có hình tướng mà thôi. Vì có một chướng ngại vật bèn cảm thấy có. Thực ra, có tức là không, không tức là có. Chân không chẳng ngại diệu hữu, diệu hữu chẳng ngại chân không, cho nên nói chân không chẳng không, diệu hữu phi hữu. Chân không chẳng không, cho nên gọi diệu hữu, diệu hữu phi hữu, cho nên gọi chân không. Khoảng không chẳng có dụng gì, nhưng dụng gì cũng đều từ trong khoảng không sinh ra. Ví như chúng ta ngồi thiền thì quán không, bên trong thì quán tâm, tâm chẳng có tâm, bên ngoài thì quán hình, hình chẳng có hình, ở xa thì quán vật, vật chẳng có vật. Ba thứ đều không. Trong chẳng có thâm tâm, ngoài chẳng có thế giới. Lúc nầy, còn có cái gì ? Tức có cái không. Nhưng tuy nhiên nói là không, thế mà tất cả chúng sinh đều tồn tại ở trong không. Nói nó là không, nó lại là có, nói nó là có, nó lại là không. Không chẳng có bờ mé, tất cả đều không. Chẳng có ai quản lý, cho nên tìm thần lại quản lý. Bạn có không của bạn, tôi có không của tôi, không của bạn không thể phá hoại không của tôi, không của tôi không thể phá hoại không của bạn, không và không đều viên dung vô ngại. Vị Chủ Thần Không thứ nhất tên là Tịnh Quang Phổ Chiếu. Vì vị nầy có quang minh thanh tịnh, chiếu khắp tất cả, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ hai tên là Phổ Du Thâm Quảng. Vì vị nầy du hành khắp hư không, quán tất cả pháp rất sâu rộng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ ba tên là Sinh Cát Tường Phong. Vì gió do vị nầy sinh ra đều cát tường, ai gặp phải gió cát tường thì sẽ cát tường, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ tư tên là Ly Chướng An Trụ. Vì vị nầy lìa khỏi chướng ngại, an trụ nơi bậc bất động, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ năm tên là Quảng Bộ Diệu Kế. Vì vị nầy đi bộ rất nhanh, lại có kế diệu quang, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ sáu tên là Vô Ngại Quang Diệm. Vì quang diệm (quang minh lửa ngọn) của vị nầy chiếu khắp, tơ hào chẳng có chướng ngại, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ bảy tên là Vô Ngại Thắng Lực. Vì sức lực của vị nầy thắng hết tất cả mà không chướng ngại, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ tám tên là Ly Cấu Quang Minh. Vì vị nầy đã lìa khỏi trần cấu, cho nên hiện ra quang minh, do đó được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ chín tên là Thâm Viễn Diệu Âm. Vì âm thanh của vị nầy, không những rất hay, mà còn vang rộng sâu xa, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Không thứ mười tên là Quang Biến Thập Phương. Vì quang minh của vị nầy chiếu khắp mười phương, cho nên được tên nầy. Có vô lượng Chủ Thần Không như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần nầy, tâm đều xa lìa trần cấu, tâm lượng rộng lớn, quang minh trong sáng. Mười vị Chủ Thần Không nầy làm thượng thủ trong chúng Chủ Thần Không. Những vị Chủ Thần Không nầy tâm đều xa lìa trần cấu nhiễm ô, cho nên tâm lượng rộng lớn, phóng quang minh trong sáng. Ở trên là chúng thứ mười sáu Chủ Thần Không. Lại có vô lượng Chủ Thần Phương Hướng. Ðó là : Chủ Thần Phương Hướng Biến Trụ Nhất Thiết. Chủ Thần Phương Hướng Phổ Hiện Quang Minh. Chủ Thần Phương Hướng Quang Hành Trang Nghiêm. Chủ Thần Phương Hướng Chu Hành Bất Ngại. Chủ Thần Phương Hướng Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc. Chủ Thần Phương Hướng Phổ Du Tịnh Không. Chủ Thần Phương Hướng Ðại Vân Tràng Âm. Chủ Thần Phương Hướng Kế Mục Vô Loạn. Chủ Thần Phương Hướng Phổ Quán Thế Nghiệp. Chủ Thần Phương Hướng Chu Biến Du Lãm. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Phương Hướng. Chủ Thần Phương Hướng tức là thần quảng lý về phương hướng. Phương có mười phương, trong mười phương lại có thể phân ra làm trăm ngàn vạn phương. Nhưng có năm phương chủ yếu tức là : Ðông, tây, nam, bắc và giữa. Năm phương nầy thuộc về ngũ hành. Phương đông thuộc mộc, phương nam thuộc hỏa, phương tây thuộc kim, phương bắc thuộc thủy, chính giữa thuộc thổ. Một năm bốn mùa thịnh vượng ở năm phương và ngũ hành. Mùa xuân thuộc mộc, thịnh vượng hướng đông, mùa hạ thuộc hỏa, thịnh vượng hướng nam, mùa thu thuộc kim, thịnh vượng hướng tây, mùa đông thuộc thủy, thịnh vượng hướng bắc, thổ thịnh vượng chính giữa, chính giữa là tứ thông bát đạt, cho nên thịnh vượng suốt bốn mùa. Phương đông Giáp ất mộc, thuộc về màu xanh, thần quảng lý phương đông gọi là Thanh đế. Phương nam Bính đinh hỏa thuộc màu đỏ, thần quảng lý phương nam gọi là Xích đế. Phương tây Canh tân kim thuộc màu trắng, thần quảng lý phương tây gọi là Bạch đế. Phương bắc Nhâm quý thủy, thuộc màu đen, thần quảng lý phương bắc gọi là Hắc đế. Chính giữa Dậu kỷ thổ thuộc màu vàng, thần quảng lý chính giữa gọi là Huỳnh đế. Những vị thần năm phương nầy mỗi vị đều có chức vụ riêng. Vị Chủ Thần Phương Hướng thứ nhất tên là Biến Trụ Nhất Thiết. Vì vị nầy trụ ở bất cứ mọi phương, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Phương Hướng thứ hai tên là Phổ Hiện Quang Minh. Vì vị nầy hiện quang minh khắp tất cả, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Phương Hướng thứ ba tên là Quang Hạnh Trang Nghiêm. Vì vị nầy dùng quang minh để trang nghiêm, dùng hạnh để trang nghiêm, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Phong Thần thứ tư tên là Chu Hành Bất Ngại. Vì vị nầy đến bất cứ nơi nào, cũng đều không chướng ngại, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Phương Hướng Thứ năm tên là Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc. Vì vị nầy vĩnh viễn đoạn trừ mê hoặc của chính mình, và còn giúp cho chúng sinh, vĩnh viễn đoạn trừ mê hoặc, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Phương Hướng thứ sáu tên là Phổ Du Tịnh Không. Vì vị nầy ở trong hư không, có thể đến bất cứ nơi nào, làm cho không khí thanh tịnh mà không ô nhiễm, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Phương Hướng thứ bảy tên là Ðại Vân Tràng Âm. Vì vị nầy có âm thanh đại vân tràng, vang rộng khắp mười phương thế giới, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Phương Hướng thứ tám tên là Kế Mục Vô Loạn. Vì bảo kế của vị nầy rất ngay ngắn, mắt của vị nầy rất sáng suốt, không tán loạn, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Phương Hướng thứ chín tên là Phổ Quán Thế Nghiệp. Vì vị nầy quán sát khắp hết tất cả nghiệp thế gian, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Phương Hướng thứ mười tên là Chu Biến Du Lãm. Vị vị nầy đi du lãm tất cả mọi nơi, cho nên được tên nầy. Có vô lượng Chủ Thần Phương Hướng như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần nầy, đều dùng phương tiện phóng đại quang minh, thường chiếu sáng khắp tất cả mười phương liên tục không dứt. Mười vị Chủ Thần Phương Hướng nầy, làm thượng thủ trong chúng Chủ Thần Phương Hướng. Ngoài ra còn có vô lượng vô biên Chủ Thần Phương Hướng. Những vị Chủ Thần Phương Hướng nầy, đều dùng phương tiện, luôn luôn phóng quang minh, chiếu khắp tất cả mười phương, chẳng có đen tối, quang minh nầy liên tục không đoạn tuyệt. Ở trên là chúng thứ mười bảy Chủ Thần Phương Hướng. Lại có vô lượng Chủ Thần Ban Ðêm. Ðó là : Chủ Thần Ban Ðêm Phổ Ðức Tịnh Quang. Chủ Thần Ban Ðêm Hỉ Nhãn Quán Thế. Chủ Thần Ban Ðêm Hộ Thế Tinh Khí. Chủ Thần Ban Ðêm Tịch Tịnh Hải Âm. Chủ Thần Ban Ðêm Phổ Hiện Cát Tường. Chủ Thần Ban Ðêm Phổ Phát Thụ Hoa. Chủ Thần Ban Ðêm Bình Ðẳng Hộ Dục. Chủ Thần Ban Ðêm Du Hí Khoái Lạc. Chủ Thần Ban Ðêm Chư Căn Thường Hỉ. Chủ Thần Ban Ðêm Xuất Sinh Tịnh Phước. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Ban Ðêm. Chủ Thần Ban Ðêm là thần quảng lý ban đêm. Thần ban đêm là dương trong âm. Vì đêm là đen tối. Ðen tối thuộc âm. Thần Ban Ðêm ở trong đen tối, thường phóng quang minh. Quang minh thuộc về dương, cho nên nói Chủ Thần Ban Ðêm là dương trong âm. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ nhất tên là Phổ Biến Tịnh Quang. Vì đức hạnh của vị nầy biến khắp, mà quang minh của vị nầy thanh tịnh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ hai tên là Hỷ Nhãn Quán Thế. Vì vị nầy dùng con mắt hoan hỉ, để quán sát tất cả nhân duyên thế gian, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ ba tên là Hộ Thế Tinh Khí. Vì vị nầy hộ trì tất cả tinh khí của tất cả chúng sinh thế gian, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ tư tên là Tịch Tĩnh Hải Âm. Vì vị nầy ở trong động tĩnh hộ trì chúng sinh, khiến cho họ đắc được định lực, không có vọng tưởng cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ năm tên là Phổ Hiện Cát Tường. Vì vị nầy hiện ra khắp cảnh giới cát tường như ý, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ sáu tên là Phổ Phát Thụ Hoa. Vì vị nầy quảng lý tất cả cây cỏ, nở hoa khắp tất cả, phóng đại quang minh, cho nên được tên nầy. Vị Thần Ban Ðêm thứ bảy tên là Bình Ðẳng Hộ Dục. Vì vị nầy đối đãi với tất cả chúng sinh đều bình đẳng, không phân biệt đó đây, bảo hộ chúng sinh, giáo hóa chúng sinh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ tám tên là Du Hí Khoái Lạc. Vì vị nầy thích du hí, khiến cho tất cả chúng sinh đắc được hoan hỉ và khoái lạc cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ chín tên là Chư Căn Thường Hỉ. Vì sáu căn của vị nầy thường hoan hỉ, khiến cho chúng sinh thấy được, đều sinh tâm hoan hỉ mà không ưu sầu cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ðêm thứ mười tên là Xuất Sinh Tịnh Phước. Vì vị nầy khiến cho tất cả chúng sinh, đều đắc được phước báu thanh tịnh, trợ giúp cho chúng sinh lìa khổ được vui, cho nên được tên nầy. Có vô lượng Chủ Thần Ban Ðêm như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần nầy, đều tinh tấn tu tập lấy pháp làm vui. Mười vị Chủ Thần Ban Ðêm nầy làm thượng thủ trong chúng Chủ Thần Ban Ðêm. Ngoài ra còn có vô lượng vô biên Chủ Thần Ban Ðêm. Những vị Chủ Thần Ban Ðêm nầy đều tinh tấn tu hành, không giải đãi, lấy sự tu tập Phật pháp làm khoái lạc, cũng khiến cho chúng sinh lấy Phật pháp làm vui. Ở trên là chúng thứ mười tám Chủ Thần Ban Ðêm. Lại có vô lượng Chủ Thần Ban Ngày. Ðó là : Chủ Thần Ban Ngày Thị Hiện Cung Ðiện. Chủ Thần Ban Ngày Phát Khởi Huệ Hương. Chủ Thần Ban Ngày Lạc Thắng Trang Nghiêm. Chủ Thần Ban Ngày Hương Hoa Diệu Quang. Chủ Thần Ban Ngày Lạc Tác Hỉ Mục. Chủ Thần Ban Ngày Phổ Hiện Chư Phương. Chủ Thần Ban Ngày Ðại Bi Quang Minh. Chủ Thần Ban Ngày Thiện Căn Quang Chiếu. Chủ Thần Ban Ngày Diệu Hoa Anh Lạc. Lại có vô lượng vô biên Chủ Thần Ban Ngày. Chủ Thần Ban Ngày là thần quảng lý ban ngày ở thế gian. Thần Ban Ngày là dương trong dương, vì ban ngày có ánh sáng, ánh sáng thuộc về dương, Thần Ban Ngày ở trong ánh sáng lại phóng ánh sáng, cho nên là dương trong dương. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ nhất tên là Thị Hiện Cung Ðiện. Vì vị nầy thị hiện cung điện nhiều loại hình dáng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ hai tên là Phát Khởi Hụê Hương. Vì vị nầy phát ra hương trí hụê, khiến cho chúng sinh ngửi được bèn sinh trí hụê, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ ba tên là Lạc Thắng Trang nghiêm. Vì vị nầy thích thú trang nghiêm, tất cả chỗ ở của chúng sinh, khiến cho chúng sinh đắc được phòng xá thù thắng, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ tư tên là Hương Hoa Diệu Quang. Vì vị nầy thường tỏa ra mùi thơm hương hoa, lại có màu sắc quang minh vi diệu, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ năm tên là Phổ Tập Diệu Dược. Vì vị nầy thường tụ tập khắp hết tất cả cỏ thuốc, để chữa trị bệnh cho chúng sinh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ sáu tên là Lạc Tác Hỉ Mục. Vì vị nầy muốn làm cho chúng sinh khoái lạc, khiến cho chúng sinh mắt thường hoan hỉ, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày Thứ bảy tên là Phổ Hiện Chư Phương. Vì vị nầy thường thị hiện khắp tất cả mọi nơi, khiến cho chúng đều thấy được, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ tám tên là Ðại Bi Quang Minh. Vì vị nầy có tâm đại bi, phổ độ chúng sinh, thường phóng quang minh, gia bị cho chúng sinh, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ chín tên là Thiện Căn Quang Chiếu. Vì vị nầy có quang minh, chiếu soi chúng sinh có căn lành, chúng sinh không có căn lành, thì làm cho họ sinh căn lành, chúng sinh đã có căn lành, thì khiến cho họ được thành thục, căn lành thành thục, thì khiến cho giải thoát, cho nên được tên nầy. Vị Chủ Thần Ban Ngày thứ mười tên là Diệu Hoa Anh Lạc. Vì vị nầy dùng một thứ diệu hoa làm thành chuỗi, không những rất đẹp, mà còn phóng quang, cho nên được tên nầy. Có vô lượng Chủ Thần Ban Ngày như vậy làm thượng thủ. Các vị Thần nầy, đều sinh tâm tin hiểu, ở trong diệu pháp. Luôn luôn cùng siêng năng tinh tấn, nghiêm sức cung điện. Mười vị Chủ Thần Ban Ngày nầy, làm thượng thủ trong Chủ Thần Ban Ngày, ngoài ra còn có vô lượng vô biên Chủ Thần Ban Ngày. Những Chủ Thần Ban Ngày nầy đều ở trong diệu pháp sinh ra tâm tin hiểu, không những tin mà còn hiểu rõ. Các Ngài thường tu hành nghiên cứu với nhau, dũng mãnh tinh tấn không giải đãi. Các Ngài cùng trang nghiêm tất cả cung điện, trên đây là chúng thứ mười chín Chủ Thần Ban Ngày. Ở trên đã giảng xong mười chín chúng tạp loại, bây giờ ở dưới đây bắt đầu giảng tám chúng Bát bộ Tứ Vương. Lại có vô lượng A Tu La Vương. Ðó là : A Tu La Vương La Hầu. A Tu La Vương Tỳ Ma Chất Ða La. A Tu La Vương Xảo Huyễn Thuật. A Tu La Vương Ðại Quyến Thuộc. A Tu La Vương Ðại Lực. A Tu La Vương Biến Chiếu. A Tu La Vương Kiên Cố Hạnh Diệu Trang Nghiêm. A Tu La Vương Quảng Ðại Nhân Huệ. A Tu La Vương Xuất Hiện Thắng Ðức. A Tu La Vương Diệu Hảo Âm Thanh. Bây giờ giải thích chúng Bát bộ Tứ Vương (tám bộ bốn vua), Bát bộ tức là : 1. A Tu La Vương. 2. Ca Lâu La Vương. 3. Khẩn Na La Vương. 4. Ma Hầu La Già Vương. 5. Dạ Xoa Vương. 6. Long Vương. 7. Cưu Bàn Trà Vương. 8. Càn Thát Bà Vương. Tứ Vương tức là : 1. Phương bắc Ða Văn Thiên Vương. 2. Phương tây Quảng Mục Thiên Vương. 3. Phương nam Tăng Trưởng Thiên Vương. 4. Phương đông Trì Quốc Thiên Vương. Mỗi vị thống lãnh hai bộ chúng. Lại có vô lượng A Tu La Vương. A Tu La dịch là "phi thiên". Vì chúng có phước trời, mà chẳng có đức trời. Tại sao chẳng có đức trời ? Vì trong quá khứ chúng chuyên môn hiềm kỵ người khác, tức là tâm không ngay thẳng, dùng tâm giả dối đi ca ngợi người khác, khiến cho họ hoan hỷ, cho nên chẳng có đức trời. A Tu La còn dịch là "không đoan chánh". Vì tướng mạo của chúng không đoan chánh. Người nam thì tướng mạo xấu xí, người nữ thì tướng mạo xinh đẹp. A Tu La còn dịch là "vô tửu" (không có rượu) người nam rất thích uống rượu, thích đấu tranh, nếu có rượu thì phát sinh chiến tranh, cho nên chẳng có rượu để uống. A Tu La có bốn thứ đó là : 1. A Tu La ở trên trời. Thường tác chiến với chư thiên. Vì A Tu La Vương muốn làm chủ Trời Ðạo Lợi. Tay của vị này có thể lay động núi Tu Di, làm cho cung điện của trời Ðế Thích, chấn động không được yên. Trời Ðế Thích mới xuất lãnh Tứ Thiên Vương làm tiên phong, giao chiến với nhau, nhưng thường đánh không thắng, mới cầu cứu Ðức Phật. Ðức Phật mới dạy niệm câu : "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật", do đó mới thắng được A Tu La Vương. Con gái của Vua A Tu La dâng cho trời Ðế Thích làm vợ, hai bên hòa đàm với nhau. 2. A Tu La ở trong loài người. Chúng chuyên đố kỵ, rất cao hứng đối với bất cứ việc gì, đều có tâm tranh cường háo thắng, thắng thì vui, thua thì sân hận, nổi gió làm sóng, thường xảy ra chiến tranh. 3. A Tu La ở trong loài súc sinh. Thích đấu tranh ỷ mạnh hiếp yếu, lấy lớn khinh nhỏ. 4. A Tu La ở trong loài ngạ quỷ. Cũng lại như thế. Bất cứ trong loài nào, cũng đều có tâm đấu tranh, tâm thắng phụ, tức là có tâm tranh cường luận thắng. Cung điện của A Tu La tại núi Kim Cang, tuy nhiên là ma, nhưng mỗi ngày ba thời, phải chịu khổ hình đao bén từ không trung bay vào trong cung, nếu không tránh thì sẽ bị giết hại, cho nên muốn làm chủ Trời Ðao Lợi. Vị A Tu La Vương thứ nhất tên là La Hầu. Dịch là "nhiếp não". Vì vị này có thể dùng hai tay che mặt trời, mặt trăng, làm cho đen tối, khiến cho chư thiên oán nộ, cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ hai tên là Tỳ Ma Chất Ða La. Tỳ Ma dịch là "ti" (sợi tơ). Chất Ða La dịch là "đủ thứ", vì vị này dùng một sợi tơ, biến ra đủ thứ hình tướng vật thể chẳng giống nhau, cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ ba tên là Xảo Huyễn Thuật. Vì vị này dùng huyễn thuật xảo diệu tự có hóa không, tự không hóa có, lúc thì hiện hòn núi cao, khi thì hiện biển lớn, còn có thể dời núi lấp biển, làm cho mặt trời mặt trăng biến đổi lẫn nhau, thiên biến vạn hóa như vậy, làm cho người sinh ra huyễn giác, cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ tư tên là Ðại Quyến Thuộc. Vì vị này thích nhất là quyến thuộc, càng nhiều càng tốt, cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ năm tên là Ðại Lực. Vì khí lực của vị này lớn vô cùng, một tay có thể nâng núi Tu Di lên, cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ sáu tên là Biến Chiếu. Vì vị này có một loại quang minh, sáng hơn so với ánh sáng mặt trời, chiếu khắp mười phương cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ bảy tên là Kiên Cố Hạnh Diệu Trang Nghiêm. Vì hạnh nguyện của vị này kiên cố, mà còn trang nghiêm tốt đẹp, cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ tám tên là Quảng Ðại Nhân Huệ. Vì vị này lúc còn ở tại nhân đîa, thì tu trí huệ rộng lớn, cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ chín tên là Xuất Hiện Thắng Ðức. Vì vị này có đức hạnh đặc biệt thù thắng, luôn luôn hiển hiện, làm cho chúng sanh thấy được, thì biết là vị này có đức hạnh, cho nên được tên này. Vị A Tu La Vương thứ mười tên là Diệu Hảo Âm Thanh. Vì âm thanh của vị này rất hay, êm tai vô cùng, làm cho người nghe đều sinh tâm vui vẻ, cho nên được tên này. Có vô lượng A Tu La Vương như vậy làm thượng thủ. Các vị đó đều siêng năng tinh tấn, phá trừ ngã mạn và các phiền não. Mười vị A Tu La Vương này, làm thượng thủ trong vô lượng vô biên A Tu La Vương, ngoài ra còn nhiều không thể tính đếm được. Các A Tu La Vương đều có tâm ngã mạn. Nhưng những vị A Tu La Vương này, họ rất tinh tấn siêng tu Phật đạo, y giáo phụng hành, theo pháp tu học, cho nên dẹp phá được tập khí ngã mạn, dập tắt vô minh. Chẳng còn vô minh, tất cả phiền não cũng theo đó mà dứt trừ. Trên đây là chúng thứ nhất A Tu La Vương. Lại có vô số Ca Lâu La Vương không thể nghĩ bàn. Ðó là : Ca Lâu La Vương Ðại Tốc Tật Lực. Ca Lâu La Vương Vô Năng Hoại Bảo. Ca Lâu La Vương Thanh Tịnh Tốc Tật. Ca Lâu La Vương Tâm Bất Thối Chuyển. Ca Lâu La Vương Ðại Hải Xứ Nhiếp Trì Lực. Ca Lâu La Vương Kiên Cố Tịnh Quang. Ca Lâu La Vương Xảo Nghiêm Quan Kế. Ca Lâu La Vương Phổ Tiệp Thị Hiện. Ca Lâu La Vương Phổ Quán Hải. Ca Lâu La Vương Phổ Âm Quảng Mục. Lại có vô số Ca Lâu La Vương không thể nghĩ bàn. Ca Lâu La dịch là "kim sí" (chim cánh vàng). Vì cánh của loài chim này, sáng chói giống như vàng thật. Lại dịch là "diệu sí", cánh của nó dùng đủ loại sắc đẹp để trang nghiêm, ở trong ánh sáng mặt trời phản xạ xuống, phóng ra vạn luồng ánh sáng vàng. Lại dịch là "đại tố hạng", loài chim này khi ăn vật gì thì đều đem con mồi để vào trong bụng, để đó từ từ tiêu hóa. Loài chim này gọi là Ðại Bàng Kim Sí Ðiểu (chim Ðại Bàng cánh vàng), to lớn cỡ nào ? Thân thể của nó lớn như tòa núi lớn. Cánh của nó xòe ra khoảng, ba trăm ba mươi đại do tuần (một do tuần dài tám mươi dặm). Khi nó quạt cánh, thì nước biển rẽ làm hai bắt rồng ăn. Loài chim này chuyên môn ăn rồng. Mỗi ngày phải ăn một con rồng lớn, năm trăm con rồng nhỏ. Khi nó ăn rồng thì trước hết nuốt đuôi rồng vào trong bụng, từ từ tiêu hóa. Long Vương (vua rồng) rất lo âu, vì quyến thuộc của loài rồng càng ngày càng bớt đi, sẽ diệt chủng, cho nên đi các nơi cầu cứu, nhưng ai nấy đều bó tay. Có người nói với ông ta nên đi gặp Ðức Phật. Long Vương bèn đến chốn Phật, cầu Phật từ bi, che chở cho rồng con, rồng cháu, để khỏi tuyệt chủng loài rồng. Ðức Phật nói với Long Vương : ‘’Nếu các nhà ngươi giữ được Bát Quan Trai giới, thì chim Ðại Bàng không ăn các ngươi nữa.’’ Do đó Long Vương dẫn quyến thuộc đến chốn Phật, thọ Bát Quan Trai giới. Thọ giới rồi, Phật cho mỗi con rồng một sợi tơ áo Cà Sa cột vào thân. Từ đó về sau, chim Ðại Bàng không còn cách chi ăn rồng được nữa. Nhưng chim Ðại Bàng không có vật thực để ăn. Y cũng đến chốn Phật khẩn cầu nói : ‘’Chúng tôi hôm nay lấy gì để ăn ? ‘’ Ðức Phật nói : ‘’Ta sẽ dạy đệ tử của ta, khi đến bữa trưa ăn cơm, thì trước hết đem ít cơm thí cho các ngươi.’’ Cho nên bây giờ các Chùa khi cúng ngọ, thì đều đem ít cơm thí cho chúng. Ðó là lòng từ bi của Phật, độ hóa loài rồng và chim Ðại Bàng sống hòa bình với nhau. Chim và rồng đều có bốn thứ sinh, chim sinh bằng trứng không thể ăn rồng hóa sinh, cũng không thể ăn rồng sinh bằng thai, thấp sinh (sinh bằng ẩm ướt), chỉ ăn được rồng sinh bằng trứng. Chim hóa sinh mới ăn được rồng sinh bằng : thai, thấp, hóa, noãn. Chim đại bàng ở tại núi Kim Cang, cung điện của chúng dùng bảy báu để trang nghiêm. Khi chúng muốn chết thì không thể ăn rồng, tại sao ? Vì thân thể rồng có chất độc. Bình thường chim Ðại Bàng ăn rồng, thì không sợ chất độc, nhưng khi chúng gần chết, thì thân rồng phóng ra chất độc bắn vào mắt, khiến cho mắt không thể mở được, thì không thể bắt rồng để ăn. Bị đói thật khó mà chịu được, bèn nghỉ ngơi trên cây Thiết Thụ. Ðến khi không thể chịu được nữa thì lại bay đến biển tìm rồng để ăn, rồng lại phóng chất độc, y lại chạy đi, cứ như thế đến bảy lần, cuối cùng thể lực kiệt sức, chất độc phát ra mà chết. Lúc bấy giờ, thi thể của chim Ðại Bàng bị lửa độc thiêu, giống như hỏa diệm sơn bộc phát, thiêu hết tất cả chất cứng chảy ra thành nước. Long Vương Nan Ðà sợ Bảo Sơn (núi báu) bị hủy hoại, bèn làm xuống một trận mưa lớn, hạt mưa lớn như bánh xe để dập tắt ngọn lửa. Bây giờ toàn thân của chim Ðại Bàng đã thành tro, chỉ còn quả tim không bị thiêu hủy, trở thành hạt châu báu, ánh sáng màu lưu ly óng ánh rất đẹp. Vua Chuyển Luân Thánh Vương được hạt châu này, gọi là châu Như Ý, vua Trời Ðế Thích được châu này gọi là Dạ Minh châu. Trong phẩm Xuất Hiện có bài kệ rằng : "Bồ Tát Ca Lâu La, Như ý vi kiên túc, Phương tiện dũng mãnh sí, Từ bi thanh tịnh nhãn, Trụ nhất thiết trí thụ, Quán tam hữu đại hải, Bạt tróc thiên nhân long, Án chí Niết Bàn ngạn". Qua bài kệ này đủ thấy, chim Ðại Bàng cũng là Bồ Tát thị hiện, để điều phục tất cả chúng sinh. Cho nên ý nghĩa bài kệ trên mới nói : Bồ Tát Ðại Bàng Kim Sí Ðiểu, toại tâm như ý, bay lượn trong không trung, chân rất kiên cố phi thường, cánh phương tiện rất dũng mãnh, cặp mắt rất từ bi và trong sáng. Tuy nhiên chuyên ăn rồng, nhưng chỉ ăn rồng sắp chết. Trước mắt thì bị chim Ðại Bàng ăn, nhưng thực tế thì hóa độ rồng, khiến cho chúng không còn thọ khổ trong luân hồi nữa, mà thẳng đến bờ bên kia. Cây của chim Ðại Bàng ở gọi là cây Trí Huệ. Y quán sát dục giới, sắc giới và vô sắc giới ba cõi biển cả, bắt rồng ở trên trời hoặc rồng ở nhân gian, độ chúng đến bờ Niết Bàn bên kia. Cảnh giới này chẳng phải phàm phu chúng ta biết được, người không chứng quả thì không thể tin đạo lý này, đợi khi chứng quả rồi mới biết là như thế. Ðức Phật là người chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác, tuyệt đối không nói dối, cảnh giới này là ngàn chân vạn thật. Vị Ca Lâu La Vương thứ nhất tên là Ðại Tốc Tật Lực. Vì sức lực của vị này không những mạnh mà còn rất nhanh. Vị này ở trên núi Kim Cang, cây Thiết Thụ, xem thấy rồng trong biển xuất hiện, thì vỗ cánh quạt nước biển rẽ ra, bắt lấy rồng, rồi trở về cây Thiết Thụ, nước biển vẫn chưa hòa hợp lại, do đó được tên này. Vị Ca Lâu La Vương thứ hai tên là Vô Năng Hoại Bảo Kế. Vì bảo kế của vị này rất kiên cố, chẳng có cách chi phá hoại được, càng không có sức để phá hoại, do đó được tên này. Vị Ca Lâu La Vương thứ ba tên là Thanh Tịnh Tốc Tật. Vì thân thể của vị này thanh tịnh, bay đi rất nhanh, trong một sát na bay hơn mười vạn tám ngàn dặm, do đó được tên này. Vị Ca Lâu La Vương thứ tư tên là Tâm Bất Thoái Chuyển. Vì vị này đắc được pháp vĩnh viễn không thối chuyển A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề, đắc được : Niệm bất thối, hạnh bất thối, vị bất thối, do đó được tên này. Vị bất thối : Ðã chứng được vị đại Bồ Tát, thì không thể thối về vị A La Hán. Ðã phát bồ đề tâm, thì không thể thối về vị A La Hán hoặc là vị phàm phu. Niệm bất thối : Chuyên tâm nhất ý tu thiền định, tư tưởng không thối chuyển. Chẳng giống chúng ta suốt ngày đến tối, chuyên khởi vọng tưởng, thấy lạ muốn đổi, hôm nay tu thiền, mai tu tịnh, mốt tu giáo, hoặc tu luật, thậm chí tu mật, kết quả chẳng có pháp nào thành tựu. Cho nên tu hành phải chuyên nhất. Hành bất thối : Phải dũng mãnh tinh tấn tu hành, càng ngày càng tiến bộ, tức là tu hành càng tu hành, tinh tấn càng tinh tấn, đó là tu hành không thối chuyển. Vị Ca Lâu La Vương thứ năm tên là Ðại Hải Xứ Nhiếp Trì Lực. Vì vị này có thể nhiếp trì tất cả nước sông ngòi ao hồ, chảy vào biển cả, lại có thể ở trong không trung, thu nhiếp rồng vào trong miệng, do đó được tên này. Vị Ca Lâu La Vương thứ sáu tên là Kiên Cố Tịnh Quang. Vì thân thể của vị này cứng chắc phi thường, và có quang minh thanh tịnh, quang minh này có thể chiếu thấu trong biển, nhìn thấy chỗ của rồng ở, do đó được tên này. Vị Ca Lâu La Vương thứ bảy tên là Xảo Nghiêm Quan Kế. Vì quan kế của vị này rất trang nghiêm tốt đẹp, quan kế của các Vua Ca Lâu La kia chẳng thể sánh được, do đó được tên này. Vị Ca Lâu La Vương thứ tám tên là Phổ Tiệp Thị Hiện. Vì vị này có thể thị hiện tất cả các nơi, mà còn nhanh nhẹn khắp cùng, do đó được tên này. Vị Ca Lâu La Vương thứ chín tên là Phổ Quán Hải. Vì vị này có mắt từ bi và thanh tịnh, quán sát được trong ba cõi biển cả, rồng lớn ở đâu, rồng nhỏ ở đâu ? Nhìn thấy rất rõ ràng, do đó được tên này. Vị Ca Lâu La Vương thứ mười tên là Phổ Âm Quảng Mục. Vì âm thanh của vị này như sấm sét, rồng ở trong biển mà nghe được tiếng hống này, thì hồn phi phách tán, không dám động đậy, vì sợ bị bắt ăn. Cặp mắt của vị này đặc biệt to lớn, thân ở núi Kim Cang, mà mắt quán sát rồng trong bốn biển, do đó được tên này. Có vô số Ca Lâu La Vương không thể nghĩ bàn như vậy làm thượng thủ. Các vị Ca Lâu La Vương này, đã thành tựu sức đại phương tiện, cứu độ nhiếp hết thảy tất cả chúng sinh. Mười vị Ca Lâu La Vương này làm thượng thủ, đại biểu cho vô lượng Ca Lâu La Vương, số nhiều vô lượng không thể nghĩ bàn. Những vị Ca Lâu La Vương này, đã hoàn toàn thành tựu sức đại phương tiện, đều là đại Bồ Tát thị hiện. Một số Bồ Tát chẳng có sức đại phương tiện như thế. Chúng bắt rồng ăn là hóa độ rồng, ăn voi là hóa độ voi, ăn ngựa là hóa độ ngựa, ăn cá là hóa độ cá, tóm lại ăn loài gì thì hóa độ loài đó, dùng phương tiện ăn để hóa độ chúng sinh. Thực ra chẳng phải ăn mà là cứu độ, là nhiếp trì. Tại sao ? Vì đáng chết cho nên mới ăn, tức là có thể đến bờ Niết Bàn. Ở trên là chúng thứ hai Ca Lâu La Vương. Lại có vô lượng Khẩn Na La Vương. Ðó là : Khẩn Na La Vương Thiện Huệ Quang Minh Thiên. Khẩn Na La Vương Diệu Hoa Tràng. Khẩn Na La Vương Chủng Chủng Trang Nghiêm. Khẩn Na La Vương Duyệt Ý Hống Thanh. Khẩn Na La Vương Bảo Thụ Quang Minh. Khẩn Na La Vương Kiến Giả Hân Lạc. Khẩn Na La Vương Tối Thắng Quang Trang Nghiêm. Khẩn Na La Vương Vi Diệu Hoa Tràng. Khẩn Na La Vương Ðộng Ðịa Lực. Khẩn Na La Vương Nhiếp Phục Ác Chúng. Lại có vô lượng vô biên Khẩn Na La Vương. Khẩn Na La Vương dịch là "phi nhân". Vì tướng mạo của chúng giống như người, ngũ quan đoan chánh, nhưng trên đầu sinh ra một cái sừng, cho nên chẳng phải người. Lại dịch là "nghi thần". Vì trên đầu có sừng, làm cho người thấy sinh nghi, cho rằng là thần. Lại dịch là "ca Thần". Chúng là Thần tấu âm nhạc cho trời Ðế Thích, trên cung trời có pháp hội, thì hai nách của chúng tự động chảy mồ hôi, liền biết là trời Ðế Thích muốn tấu âm nhạc, bèn lên cung trời vì chư thiên đàn tấu âm nhạc khúc điệu trang nghiêm. Những vị Khẩn Na La Vương này, cũng là Bồ Tát thị hiện, đến tất cả các pháp hội ca xướng tấu nhạc, khiến cho người nghe sinh tâm niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng mà ngộ đạo. Vị Khẩn Na La Vương thứ nhất tên là Thiện Huệ Quang Minh. Vì vị này khéo độ tất cả chúng sinh, làm cho chúng sinh khai mở đại trí huệ, đắc được quang minh, cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ hai tên là Diệu Hoa Tràng. Vì vị này có tràng hoa sen vi diệu, rất trang nghiêm cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ ba tên là Chủng Chủng Trang Nghiêm. Vì vị này dùng đủ thứ bảy báu để nghiêm sức cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ tư tên là Duyệt Ý Hống Thanh. Vì âm thanh của vị này như tiếng hống, khiến cho người nghe đều vừa ý cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ năm tên là Bảo Thụ Quang Minh. Vì bảo thụ của vị này phóng ra quang minh giác cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ sáu tên là Kiến Giả Hân Lạc. Vì tướng mạo từ bi cát tường của vị này rất trang nghiêm, ai thấy cũng đều sinh tâm hoan hỷ, cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ bảy tên là Tối Thắng Quang Trang Nghiêm. Vì vị này dùng quang minh tối thù thắng để trang nghiêm tất cả mọi nơi, cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ tám tên là Vi Diệu Hoa Tràng. Vì vị này có tràng hoa sen vi diệu không thể nghĩ bàn, cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ chín tên là Ðộng Ðịa Lực. Vì mỗi cử chỉ hành động của vị này, khiến cho đại địa chấn động, cho nên được tên này. Vị Khẩn Na La Vương thứ mười tên là Nhiếp Phục Ác Chúng. Vì vị này nhiếp phục được tất cả chúng sinh ác tính, khiến cho họ cải tà quy chánh, cho nên được tên này. Có vô lượng Khẩn Na La Vương như vậy làm thượng thủ. Các vị Khẩn Na La Vương này, đều siêng năng tinh tấn, quán tất cả các pháp, tâm luôn luôn khoái lạc du hí tự tại. Mười vị Khẩn Na La Vương này, đều làm thượng thủ trong vô lượng vô biên Khẩn Na La Vương, ngoài ra còn có vô lượng nhiều không thể tính đếm được. Những vị Khẩn Na La Vương này, đều rất dũng mãnh tinh tấn, không giải đãi mà luôn luôn quán sát tất cả các pháp, trong tâm luôn khoái lạc, đem tất cả Phật pháp mình đã hiểu giáo hóa cho họ cũng hiểu. Chẳng có tâm đố kỵ, đó là du hí tự tại. Ở trên là chúng thứ ba Khẩn Na La Vương. Lại có vô lượng vô biên Ma Hầu La Già Vương. Ðó là : Ma Hầu La Già Vương Thiện Huệ. Ma Hầu La Già Vương Thanh Tịnh Oai Âm. Ma Hầu La Già Vương Thắng Huệ Trang Nghiêm Kế. Ma Hầu La Già Vương Diệu Mục Chủ. Ma Hầu La Già Vương Như Ðăng Tràng Vi Chúng Sở Quy. Ma Hầu La Già Vương Tối Thắng Quang Minh Tràng. Ma Hầu La Già Vương Sư Tử Ức. Ma Hầu La Già Vương Chúng Diệu Trang Nghiêm Âm. Ma Hầu La Già Vương Tu Di Kiên Cố. Ma Hầu La Già Vương Khả Ái Lạc Quang Minh. Lại có vô lượng vô biên Ma Hầu La Già Vương. Ma Hầu La Già Vương dịch là "đại phục hành". Vì chúng chẳng có chân, chỉ dùng bụng để đi, tức cũng là đại mãng xà. Chúng đều là Bồ Tát thị hiện, cố ý hiện ra đại phục hành. Ðó là biểu thị sự từ bi của Bồ Tát, vì hạnh môn lợi kẻ khác mà thị hiện, không chấp trước hình tướng của mình. Cho nên hiện ra hình tướng Bát bộ. Ðại phục hành còn gọi là "địa long", chúng chẳng có thần thông, nhưng độc hại người. Tuy nhiên hại người, nhưng chịu cảm hóa của Phật pháp mà làm thần hộ pháp. Phàm là người có tâm đố kỵ, đời sau sẽ chiêu cảm làm loài này. Hoàng hậu của vua Lương Võ Ðế, vì sinh tâm đố kỵ, cho nên sau khi chết đọa làm đại mãng xà. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ nhất tên là Thiện Huệ. Vì vị này có trí huệ thiện, lại có tri thức thiện, nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ hai tên là Thanh Tịnh Oai Âm. Vì âm thanh của vị này không những có oai lực mà còn thanh tịnh, cho nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ ba tên là Thắng Huệ Trang Nghiêm Kế. Vì vị này có trí huệ thù thắng, lại có diệu kế trang nghiêm nhiều thứ báu, cho nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ tư tên là Diệu Mục Chủ. Vì mắt của vị này rất vi diệu và trang nghiêm mỹ lệ, thành chủ của ngũ quan, cho nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ năm tên là Như Ðăng Tràng Vi Chúng Sở Quy. Vì vị này thường phóng quang minh, giống như đèn sáng mà thành tràng, làm chỗ quy y và ngưỡng vọng cho đại chúng, cho nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ sáu tên là Tối Thắng Quang Minh Tràng. Vì vị này có tràng báu thù thắng nhất và sáng nhất. Tràng báu này giống như lưới La Tràng cung điện trời Ðế Thích, ánh sáng này chiếu ánh sáng kia, lỗ này thông với lỗ kia, trùng trùng vô tận cho nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ bảy tên là Sư Tử Ức. Vì tâm của vị này khoan hồng đại lượng, như tấm lòng của sư tử, nhẫn được việc khó nhẫn, cho nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ tám tên là Chúng Diệu Trang Nghiêm Âm. Vì âm thanh của vị này thanh tao hòa nhã, rất êm tai, dùng tất cả diệu báu để trang nghiêm, cho nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ chín tên là Tu Di Kiên Cố. Vì thân thể của vị này rất cao, kiên cố như núi Tu Di, cho nên được tên này. Vị Ma Hầu La Già Vương thứ mười tên là Khả Ái Lạc Quang Minh. Vì trên thân của vị này phóng ra một thứ quang minh, khiến cho người thấy được sinh tâm vui thích đáng ưa, cho nên được tên này. Có vô lượng Ma Hầu La Già Vương như vậy làm thượng thủ. Các vị này đều siêng năng tu tập, phương tiện rộng lớn, khiến cho tất cả chúng sinh, vĩnh viễn cắt đứt lưới ngu si. Mười vị Ma Hầu La Già Vương này, làm thượng thủ trong chúng Ma Hầu La Già Vương, ngoài ra còn có vô lượng vô biên Ma Hầu La Già Vương không thể tính đếm được. Những vị Ma Hầu La Già Vương này, đều siêng năng tu tập pháp phương tiện rộng lớn. Khiến cho tất cả chúng sinh vĩnh viễn cắt đứt lưới ngu si, không còn bị trói buộc, mà đắc được trí huệ tự tại. Ở trên là chúng thứ tư Ma Hầu La Già Vương. Lại có vô lượng Dạ Xoa Vương. Ðó là : Dạ Xoa Vương Tỳ Sa Môn. Dạ Xoa Vương Tự Tại Âm. Dạ Xoa Vương Nghiêm Trì Khí Trượng. Dạ Xoa Vương Ðại Trí Huệ. Dạ Xoa Vương Diệm Nhãn Chủ. Dạ Xoa Vương Kim Cang Nhãn. Dạ Xoa Vương Dũng Kiện Tý. Dạ Xoa Vương Dũng Ðịch Ðại Quân. Dạ Xoa Vương Phú Tư Tài. Dạ Xoa Vương Lực Hoại Cao Sơn. Phương Bắc Thiên Vương tên là Tỳ Sa Môn dịch là "đa văn". Vì phước đức của vị này danh truyền khắp bốn phương, cho nên được tên này. Vị này quản lý hai bộ chúng, một là Dạ Xoa (quỷ nam) hai là La Sát (quỷ nữ). Dạ Xoa là tên của loài quỷ dịch là "tiệp khoái", vì hành động của chúng rất cấp tốc, mau chóng. Lại dịch là "khổ hoạt", vì sự sinh hoạt của chúng rất khổ sở. Dạ Xoa có rất nhiều loại, như : Dạ Xoa đi trên không, Dạ Xoa đi dưới đất .v.v. Dạ Xoa không hành (đi trên không) có hai cánh dài, bay được ở trong không trung, thiên biến vạn hóa, có khi hiện màu đỏ, có khi hiện màu lam, có khi hiện màu vàng, bất cứ là màu gì, cũng đều có một thứ ánh sáng đen tối, thứ ánh sáng này rất lợi hại. Thân thể của chúng có khi biến làm thân người đầu thú, hoặc đầu trâu, bò, ngựa .v.v., làm cho người sợ hãi. Chúng rất thích làm nhiễu loạn người. Dạ Xoa đi dưới đất, càng làm cho người khiếp sợ. Ðầu tóc của chúng màu lửa ngọn, cao mấy trượng. Mắt thì một con ở trên đảnh môn, một con ở dưới lông mày, hình thù rất quái dị, hoặc là hình tam giác, hoặc là hình bán nguyệt. Còn lỗ mũi thì một lỗ hướng lên trời, một lỗ hướng xuống đất, giống như xúc giác của con sên, có khi duỗi ra có khi rụt vào. Còn lỗ tai thì một lỗ ở trước, một lỗ ở sau, hình thù thật là khiếp sợ, khiến cho người thấy phải khiếp vía. Chúng chẳng thích giúp đỡ người, chuyên môn muốn hại người. La Sát cũng là tên của loài quỷ. La Sát dịch là "đáng sợ". Vì chúng thường làm cho người phá giới, làm tổn hại huệ mạng, cho nên được tên này. La Sát có hai loài, một loài gọi là Ái La Sát, một loài gọi là Kiến La Sát. Sự tác quái của Ái La Sát ví như người muốn tu hành, căn bản cũng có chánh tri chánh kiến. Nhưng mê tình quá sâu nặng, bị nước ái trói buộc, vì sức mạnh của ái trói buộc, cho nên ý niệm trước thì muốn tu hành, ý niệm sau thì muốn kết hôn ; trong một niệm khởi, một niệm diệt. Vì bị sức mạnh của ái tình trói buộc quá lợi hại, do đó mà phá giới. Ðó là Ái La Sát tác quái, làm cho người tu đạo chẳng có định lực. Kiến La Sát là tà tri tà kiến, không đúng cũng nói đúng, không thừa nhận chỗ sai lầm, phạm giới lại nói không phạm. Trong Kinh Lăng Nghiêm có nói rằng : Tỳ Kheo Ni Bảo Liên Hương nói dâm dục chẳng phải sát sinh, chẳng phải trộm cắp, chẳng có nghiệp báo, sau bị đọa vào địa ngục vô gián. Thứ tư tưởng này giống như La Sát thật đáng sợ. Lại có vô lượng vô biên Dạ Xoa Vương, loài Dạ Xoa này bay trên không ăn người, cho nên Bồ Tát thị hiện làm vua của chúng, quản lý Ái La Sát và Kiến La Sát không cho hại pháp thân huệ mạng của người. Vị Dạ Xoa Vương thứ nhất tên là Tỳ Sa Môn. Vì vị này quản lý những Dạ Xoa không giữ quy cụ, cấm Dạ Xoa gây tai họa cho người, cho nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ hai tên là Tự Tại Âm. Vì âm thanh của vị này rất tự tại phi thường, bất cứ âm điệu gì cũng đều có thể biểu diễn được cho nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ ba tên là Nghiêm Trì Khí Trượng. Vì vị này rất trang nghiêm và cầm giữ vũ khí và nghi trượng, cho nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ tư tên là Ðại Trí Huệ. Vì vị này có đại trí huệ, quán sát được vọng tưởng của Da Xoa và La Sát đang hại người, cấm chúng hành động, nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ năm tên là Diệm Nhãn Chủ. Vì con mắt của vị này phát ra ánh sáng như lửa ngọn, khiến cho Dạ Xoa và La Sát sinh tâm sợ hãi, cho nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ sáu tên là Kim Cang Nhãn. Vì mắt của vị này phóng quang giống như đá kim cang, thứ ánh sáng này rất sáng vô cùng, cho nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ bảy tên là Dũng Kiện Tý. Vì sức mạnh cánh tay của vị này mạnh nhất, có thể dời núi lấp biển, cho nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ tám tên là Dũng Ðịch Ðại Quân. Vì vị này không những dũng cảm mà còn có trí thao lược, bất cứ có bao nhiêu ma quân đều chống lại được. Vị này biết người biết ta, bách chiến bách thắng, cho nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ chín tên là Phú Tư Tài. Vì vị này là đại phú ông, có rất nhiếu tiền tài châu báu và vật chất, cho nên được tên này. Vị Dạ Xoa Vương thứ mười tên là Lực Hoại Cao Sơn. Vì sức lực của vị này lớn vô cùng, một quyền có thể đánh xập núi hoặc chẻ làm hai, cho nên được tên này. Có vô lượng Dạ Xoa Vương như vậy làm thượng thủ. Các vị Dạ Xoa Vương này, siêng năng bảo hộ tất cả chúng sinh. Mười vị Dạ Xoa Vương này làm thượng thủ trong chúng Dạ Xoa Vương, ngoài ra còn có vô lượng vô biên, không thể tính đếm được. Những vị Dạ Xoa Vương này, không những không gây phiền não cho chúng sinh, mà còn bảo hộ chúng sinh, khiến cho chúng sinh được bình an. Vì chúng đều là Bồ Tát thị hiện, cho nên chẳng giống những Dạ Xoa khác. Ở trên là chúng thứ năm Dạ Xoa Vương. Lại có vô lượng các Ðại Long Vương. Ðó là : Long Vương Tỳ Lâu Bác Xoa. Long Vương Sa Kiệt La. Long Vương Vân Âm Diệu Tràng. Long Vương Diệm Khẩu Hải Quang. Long Vương Phổ Cao Vân Tràng. Long Vương Ðức Xoa Ca. Long Vương Vô Biên Bộ. Long Vương Thanh Tịnh Sắc. Long Vương Phổ Vận Ðại Thanh. Long Vương Vô Nhiệt Não. Lại có vô lượng vô số Ðại Long Vương. Long (rồng) thuộc về đường súc sinh, nhưng chúng có thần thông, biến lớn, biến nhỏ ; lớn thì trấn đầy biển cả ; nhỏ thì ẩn tàng ở trong hạt bụi. Lúc ẩn lúc hiện, khi ẩn thì nhìn chẳng thấy, khi hiển thì hiện ra. Chúng có bản lãnh biến hóa vô cùng như vậy, lại có oai lực không thể sánh được. Ðáng lý ra chúng phải sung sướng khoái lạc ! Nhưng chúng cũng có bốn thứ thống khổ : 1. Khổ về làm thức ăn cho chim Ðại Bàng : Thứ chim này chuyên ăn rồng, ngoài mười vạn tám ngàn dặm có thể thấy rồng dưới nước (tức là rồng sắp chết), lập tức bay đến bắt ăn. 2. Hành dâm thì khổ. : Rồng đực rồng cái giao hợp, đuôi thì phải hiện ra hình thể con rắn, sự biến hóa này phải chịu đủ thứ thống khổ. 3. Khổ về trùng : Ở trong da rồng có rất nhiều con trùng nhỏ ăn thịt uống máu, rất ngứa ngáy khó chịu, đó cũng là khổ. Phương Tây Thiên Vương tên là Tỳ Lâu Bác Xoa, dịch là "quảng mục", vì cặp mắt của vị này có đủ thứ màu, thấy rộng bốn phương cho nên được tên này. Vị Thiên Vương này quản hạt hai bộ, một là rồng, hai là Phú Ðơn Na. 4. Khổ về cát nóng đốt thân : Vì trong da có trùng, rồng bèn đến bãi cát nóng, dùng cát chà lăn cho hết ngứa, nhưng cát bị ánh nắng mặt trời, do đó cát rất nóng, khiến cho rồng cũng khó mà chịu được, đó cũng là khổ. Rồng có bốn thứ sinh : Sinh bằng thai, bằng trứng, bằng biến hóa và sinh bằng ẩm thấp. Biến hóa thành rồng có năm loài : 1. Voi hóa rồng. 2. Rắn hóa rồng. 3. Ngựa hóa rồng. 4. Cá hóa rồng. 5. Ếch hóa rồng. Voi hình rồng, Long Vương Thiện Trụ là chủ. Rắn hình rồng, Long Vương Nan Ðà là chủ. Ngựa hình rồng, Long Vương A Na Bà Ðạt Ða là chủ. Ếch hình rồng, Long Vương Ma Na Tư là chủ. Năm vị Long Vương đại biểu năm hình rồng. Tâm sân loài rồng rất nặng, thích nóng giận, chuyên phóng chất độc hại người. Vì quá khứ chúng siêng tu pháp đại thừa, cho nên có thần thông, nhưng không giữ giới luật, do đó bị đọa làm súc sinh. Nhiệm vụ của chúng là giữ cung điện cõi trời, nổi mây làm mưa bảo hộ Phật pháp. Phú Ðơn Na là tên của loài quỷ, dịch là "xú ngạ quỷ". Trên thân của chúng bay ra một thứ mùi hôi thối, thứ mùi hôi này, nếu người nào hít vào thì sẽ bị sốt nặng, mất tự chủ, mất trí. Chúng dùng pháp thuật này để hại người, cho nên gọi là nhiệt tật quỷ. Lại có vô lượng vô biên Ðại Long Vương. Những đại Long Vương này đều là đại Bồ Tát thị hiện, để quản lý rồng độc không giữ quy cụ, không để cho chúng nổi gió làm sóng hại người, càng không để cho chúng phun chất độc hại người. Vị Ðại Long Vương thứ nhất tên là Tỳ Lâu Bác Xoa. Dịch là "quảng mục" là một trong bốn vị Thiên Vương, thống lãnh phương tây. Vì vị này quản lý rồng không giữ giới luật, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ hai tên là Sa Kiệt La. Dịch là "hải". Vì vị này là Hải Long Vương, quản lý tất cả rồng trong biển, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ ba tên là Vân Âm Diệu Tràng. Vì vị này phát ra một thứ âm thanh, ở trong hư không biến thành mây hình bảo tràng, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ tư tên là Diệm Khẩu Hải Quang. Vì trong miệng của vị này phun ra lửa ngọn, lại ở trong biển phóng quang, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ năm tên là Phổ Cao Vân Tràng. Vì vị này hiện ra mây cao khắp hết, giống như tràng báu, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ sáu tên là Ðức Xoa Ca. Ðức Xoa dịch là "năng hại". Ca dịch là "sở hại". Rồng là năng hại, chúng sinh là sở hại. Khi rồng nổi giận thì bất cứ chúng sinh nào, mà vị này thấy đều sẽ bị độc mà chết. Lại dịch là "đa thiệt", vì vị này thích nói hơn các rồng khác, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ bảy tên là Vô Biên Bộ, chẳng có nơi nào mà vị này chẳng đến được, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ tám tên là Thanh Tịnh Sắc. Vì vị này có màu sắc thanh tịnh mà không tạp nhiễm, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ chín tên là Phổ Văn Ðại Thanh. Vì âm thanh của vị này rất cao xa diệu vợi, truyền đạt đến khắp bốn phương, cho nên được tên này. Vị Ðại Long Vương thứ mười tên là Vô Nhiệt Não. Vì vị này đắc được pháp thanh lương, chẳng có nhiệt phiền não, cho nên được tên này. Có vô lượng số Ðại Long Vương như vậy làm thượng thủ. Các vị Ðại Long Vương này, đều siêng năng tu tập. Nổi mây làm mưa, khiến cho nhiệt não của tất cả chúng sinh đều tiêu diệt. Mười vị Ðại Long Vương này là đại biểu thượng thủ các Ðại Long Vương khác, ngoài ra còn có vô lượng vô biên Ðại Long Vương. Những vị Ðại Long Vương này đều siêng năng tinh tấn tu tập Phật pháp. Nhiệm vụ của chúng là nổi mây làm mưa, làm cho chúng sinh tiêu diệt nhiệt não, đắc được thanh lương. Chúng là một trong tám bộ đại hộ pháp thiện thần. Ở trên là chúng thứ sáu Ðại Long Vương. Lại có vô lượng Cưu Bàn Trà Vương. Ðó là : Cưu Bàn Trà Vương Tăng Trưởng. Cưu Bàn Trà Vương Long Chủ. Cưu Bàn Trà Vương Thiện Trang Nghiêm Tràng. Cưu Bàn Trà Vương Phổ Nhiêu Ích Hành. Cưu Bàn Trà Vương Thậm Khả Bố Úy. Cưu Bàn Trà Vương Mỹ Mục Ðoan Nghiêm. Cưu Bàn Trà Vương Cao Phong Huệ. Cưu Bàn Trà Vương Dũng Kiện Tý. Cưu Bàn Trà Vương Vô Biên Tịnh Hoa Nhãn. Cưu Bàn Trà Vương Quảng Ðại Thiên Diện A Tu La Nhãn. Thiên Vương phương nam tên là Tỳ Lâu Lặc Xoa. Dịch là "tăng trưởng". Vì vị này có thể làm cho căn lành của mình và người đều tăng trưởng, cho nên được tên này. Vị này quản lý hai bộ, một là Cưu Bàn Trà, hai là quỷ Yểm Mị. Cưu Bàn Trà là tên của loài quỷ, dịch là "quỷ đông qua", vì hình thù giống như đông qua, chẳng có đầu, cũng chẳng có tứ chi. Lại dịch là "úng quỷ", vì hình thù của chúng như hũ rượu, miệng nhỏ bụng to. Ðây là loài quỷ hại người. Chúng đến các nơi tìm người âm thạnh dương suy để hại. Loài quỷ này khinh suy sợ thạnh. Gặp người dương khí thạnh thì chúng trốn đi ; nếu gặp người dương khí suy thì chúng hại người. Quỷ Yểm Mị chuyên ở trong mộng hại người, làm cho người khiếp sợ vạn phần, mà thân thể không động đậy, loài quỷ này chuyên môn hại thân thể bệnh nhân suy nhược. Quỷ Mị, thứ quỷ này lợi hại vô cùng, gặp loài vật thì biến thành hình, làm hồ ly tinh, hoặc làm lang sói, hoặc làm mãng xà, chuyên môn trộm tinh khí của người để bổ thân mình. Nếu đối tượng là người nam thì chúng biến thành người nữ ; nếu đối tượng là người nữ thì chúng biến thành người nam. Tóm lại, chúng dùng sắc đẹp để dẫn dụ kẻ khác làm mất đi đồng thể. Cho nên chúng ta là người tu đạo, phải luôn luôn đặc biệt chú ý cẩn thận, đừng để bị hại mà mất đạo nghiệp. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ nhất tên là Tăng Trưởng. Vì vị này là một trong bốn vị Thiên Vương. Nam Thiên Vương Tăng Trưởng, quản lý Cưu Bàn Trà và quỷ Yểm Mỵ, hai loài quỷ này là bạn tốt với nhau, dựa nhau làm bậy, hợp tác với nhau, chuyên làm việc ác. Vị Thiên Vương này, khiến cho chúng tăng trưởng căn lành, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ hai tên là Long Chủ. Vì vị này là thủ lãnh trong loài rồng, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ ba tên là Thiện Trang Nghiêm Tràng. Vì vị này khéo trang nghiêm tràng báu, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ tư tên là Phổ Nhiêu Ích Hành. Vì vị này nhiêu ích khắp hết thảy chúng sinh, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ năm tên là Thâm Khả Bố Úy. Vì tướng mặt của vị này rất xấu ác, không những người thấy vị này sinh tâm sợ sệt, mà quỷ thấy vị này cũng sợ hãi vô cùng, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ sáu tên là Mỹ Mục Ðoan Nghiêm. Vì mắt của vị này rất mỹ lệ và trong sáng, tướng mạo của vị này rất đoan chánh và trang nghiêm, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ bảy tên là Cao Phong Huệ. Vì trí huệ của vị này rất cao, giống như đỉnh núi cao, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ tám tên là Dũng Kiện Tý. Vì sức mạnh cánh tay của vị này rất khoẻ và cứng chắc, dũng mãnh kiện tráng, do đó chẳng sợ bất cứ vũ khí gì, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ chín tên là Vô Biên Tịnh Hoa Nhãn. Vì mắt của vị này thanh tịnh như hoa, chẳng có trần cấu lại có thể phóng vô lượng quang minh, cho nên được tên này. Vị Cưu Bàn Trà Vương thứ mười tên là Quảng Ðại Thiên Diện A Tu La Nhãn. Vì bộ mặt của vị này rất lớn, mắt là nộ mục (trợn mắt) như mắt của A Tu La, rất đáng sợ giống như nổi sân hận, cho nên được tên này. Có vô lượng số Cưu Bàn Trà Vương như vậy làm thượng thủ. Các vị này đều siêng năng tu học pháp môn vô ngại, đều phóng đại quang minh. Mười vị Cưu Bàn Trà Vương này làm thượng thủ trong chúng Cưu Bàn Trà Vương, ngoài ra còn có vô lượng vô biên chẳng thể tính đếm được. Những vị Cưu Bàn Trà Vương này, đều rất tinh tấn siêng năng tu tập Phật pháp, tu pháp môn vô ngại. Bổn lai chúng là đen tối, bây giờ tu pháp môn vô ngại, cho nên phóng đại quang minh. Ở trên là chúng thứ bảy Cưu Bàn Trà Vương. Lại có vô lượng Càn Thát Bà Vương. Ðó là : Càn Thát Bà Vương Trì Quốc. Càn Thát Bà Vương Thụ Quang. Càn Thát Bà Vương Tịnh Mục. Càn Thát Bà Vương Hoa Quan. Càn Thát Bà Vương Phổ Âm. Càn Thát Bà Vương Lạc Giao Ðộng Diệu Mục. Càn Thát Bà Vương Diệu Âm Sư Tử Tràng. Càn Thát Bà Vương Phổ Phóng Bảo Quang Minh. Càn Thát Bà Vương Kim Cang Thụ Hoa Tràng. Càn Thát Bà Vương Lạc Phổ Hiện Trang Nghiêm. Thiên Vương phương đông tên là Ðề Ðầu Lai Thác dịch là "trì quốc". Vì vị này hộ trì quốc độ, an trụ chúng sinh, cho nên được tên này. Vị này quản lý hai bộ, một là Càn Thát Bà, hai là Tỳ Xá Xà. Càn Thát Bà là tên của Thần, dịch là "tầm hương", chúng dùng hương làm thức ăn, thân của chúng cũng tỏa hương thơm. Ðến thời chúng ăn cơm thì ngửi đến thức ăn chay nhà nào thì đến nhà đó tấu nhạc ca xướng, khiến cho họ sinh tâm hoan hỷ mà cung cấp thức ăn, chúng bèn ngửi mùi hương rồi đi. Lại dịch là "Thần ca". Chúng là thần ca nhạc của trời Ðế Thích, khi thiên cung có nhạc hội hoặc là yến tiệc, thì chỉ đốt hương trầm thủy chiên đàn thì vị thần này sẽ đến, vì chư thiên mà diễn xướng ca hát. Hình dáng của Càn Thát Bà, đầu đội mũ tám cạnh, tóc màu sáng đỏ, tướng thân màu thịt đỏ, thể như đại ngưu vương, tay trái cầm ống sáo ống địch (một thứ nhạc cụ), tay phải cầm bảo kiếm, đủ loại oai lực của vị tướng. Tỳ Xá Xà là tên của loại quỷ, dịch là "ăn tinh khí", chuyên hút tinh khí của người và ngũ cốc. Chúng ta là người tu đạo, nếu không đoạn dục khử ái, thì loài quỷ này sẽ đến nhiễu loạn. Bạn tu đến trình độ vô lậu, thì chúng chẳng làm gì được bạn. Nếu bạn chưa đến trình độ vô lậu, thì chúng sẽ đến dẫn dụ bạn rỉ lậu, như thế thì đối với chúng có ích, nhưng có hại đối với bạn. Nên nhớ, đừng để mất đạo nghiệp. Vị Càn Thát Bà Vương thứ nhất tên là Trì Quốc. Vì vị này là một trong bốn vị Thiên Vương. Ðông phương Trì Quốc Thiên Vương, vị này chuyên hộ trì quốc độ được bình an, khiến cho chúng sinh an cư lạc nghiệp, nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ hai tên là Thụ Quang. Vì quang minh của vị này phóng ra giống như đại thụ, cho nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ ba tên là Tịnh Mục. Vì vị này có cặp mắt thanh tịnh, sáng suốt vô cùng, cho nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ tư tên là Hoa Quan. Vì mão của vị này đội dùng hoa làm thành, rất đẹp vô cùng, vừa thơm vừa trang nghiêm, cho nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ năm tên là Phổ Âm. Vì âm nhạc của vị này tấu khắp cùng thế gian, các nơi đều nghe được thứ diệu âm này, cho nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ sáu tên là Lạc Giao Ðộng Diệu Mục. Vì vị này thích nhảy múa, vừa ca hát vừa nhảy múa. Mắt của vị này rất đẹp, rất được mọi người hoan nghênh, và mọi người đều muốn nhảy múa với vị này, cho nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ bảy tên là Diệu Âm Sư Tử Tràng. Vì nhạc phổ do vị này làm ra, tấu lên rất hay và êm tai. Âm thanh của vị này ca oai nghiêm như sư tử tràng, cho nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ tám tên là Phổ Phóng Bảo Quang Minh. Vì vị này phóng ra khắp hết thảy quang minh bảy báu, cho nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ chín tên là Kim Cang Thụ Hoa Tràng. Vì vị này dùng hoa cây Kim Cang làm thành tràng báu, không những có hương quang mà còn trang nghiêm, cho nên được tên này. Vị Càn Thát Bà Vương thứ mười tên là Nhạc Phổ Hiện Trang Nghiêm. Vì âm nhạc của vị này tấu, khắp hiện ra rất trang nghiêm, khiến cho người nghe sinh tâm cung kính, cho nên được tên này. Có vô lượng số Càn Thát Bà Vương như vậy làm thượng thủ. Các vị này đều sinh tâm tin hiểu thâm sâu ở trong pháp đại thừa. Hoan hỷ ái trọng siêng tu không mỏi mệt. Mười vị Càn Thát Bà Vương này làm thượng thủ trong chúng Càn Thát Bà. Ngoài ra còn có vô lượng vô biên Càn Thát Bà số nhiều không thể tính đếm được. Những vị Càn Thát Bà Vương này đều tu hành pháp đại thừa. Sinh tâm tin và thấu hiểu rất thâm sâu. Sinh tâm hoan hỷ cho nên ái trọng pháp đại thừa, siêng năng tu pháp đại thừa, không biết mệt mỏi. Ở trên là chúng thứ tám Càn Thát Bà Vương. Vừa qua đã giảng xong Tám bộ bốn Vương chúng. Dưới đây bắt đầu giảng mười hai chúng chư Thiên thuộc về dục giới và sắc giới. Mười hai chúng chư thiên thuộc dục giới và sắc giới. Tại dục giới có bảy chúng : 1. Nguyệt Thiên Tử. 2. Nhật Thiên Tử. 3. Tam Thập Tam Thiên Vương. 4. Tu Dạ Ma Thiên Vương. 5. Ðâu Xuất Thiên Vương. 6. Hóa Lạc Thiên Vương. 7. Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương. Tại Sắc giới có năm chúng : 1. Ðại Phạm Thiên Vương. 2. Quang Âm Thiên Vương . 3. Biến Tịnh Thiên Vương. 4. Quảng Quả Thiên Vương. 5. Ðại Tự Tại Thiên Vương. Nay lược giới thiệu về thời gian, thọ mạng, thân cao, trọng lượng y phục, của sáu cõi trời thuộc về dục giới. Thời gian trên trời : Tại nhân gian năm mươi năm, thì bằng một ngày một đêm, ở cõi trời Tứ Thiên Vương. Tại nhân gian một trăm năm, thì bằng một ngày một đêm ở cõi trời Ðao Lợi. Tại nhân gian hai trăm năm, thì bằng một ngày một đêm ở cõi trời Dạ Ma. Tại nhân gian bốn trăm năm, thì bằng một ngày một đêm ở cõi trời Ðâu Suất. Tại nhân gian tám trăm năm, thì bằng một ngày một đêm ở cõi trời Hóa Lạc. Tại nhân gian một ngàn sáu trăm năm, thì bằng một ngày một đêm ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại. Thọ mạng của chư Thiên : Thọ mạng của Tứ Thiên Vương là năm trăm tuổi. Thọ Mạng của chư thiên trời Ðao Lợi là một ngàn tuổi. Thọ mạng của chư thiên trời Dạ Ma là hai ngàn tuổi. Thọ mạng của chư thiên trời Ðâu Suất là bốn ngàn tuổi. Thọ mạng của chư thiên trời Hóa Lạc là tám ngàn tuổi. Thọ mạng của chư thiên trời Tha Hóa Tự Tại là một vạn sáu ngàn tuổi. Thân của chư thiên : Thân của Tứ Thiên Vương cao nửa dặm. Thân của chư thiên trời Ðao Lợi cao một dặm. Thân của chư thiên trời Dạ Ma cao một dặm rưỡi. Thân của chư thiên trời Ðâu Suất cao hai dặm. Thân của chư thiên trời Hóa Lạc cao hai dặm rưỡi. Thân của chư thiên trời Tha Hóa Tự Tại cao ba dặm. Trọng lượng y phục của các cõi trời : Y phục của trời Tứ Thiên Vương nặng hai mươi lạng. Y phục của trời Ðao Lợi sáu lạng. Y phục của trời Dạ Ma ba lạng. Y phục của trời Ðâu Suất một lạng rưỡi. Y phục của trời Hóa Lạc một lạng. Y phục của trời Tha Hóa Tự Tại nửa lạng. Thân cao và thọ mạng của chư thiên sắc giới mười tám cõi trời : Trời thứ nhất là Trời Phạm Chúng, thân cao nửa tiểu do tuần (20 dặm), tuổi thọ nửa tiểu kiếp (tám vạn ba ngàn chín trăm chín mươi tuổi). Trời thứ hai là trời Phạm Phụ, thân cao một tiểu do tuần, thọ mạng một tiểu kiếp. Trời thứ ba trời Ðại Phạm, thân cao một do tuần rưỡi, thọ mạng một kiếp rưỡi. Các cõi trời còn lại lấy đây làm tiêu chuẩn. Vô sắc giới bốn cõi trời, chư Thiên cõi này chẳng có thân thể, chỉ có tư tưởng, nhưng có thọ mạng : Trời thứ nhất : Trời Không Vô Biên Xứ, thọ mạng hai vạn đại kiếp, còn ba cõi trời còn lại là bốn vạn đại kiếp, tám vạn đại kiếp và mười sáu vạn đại kiếp. Lại có vô lượng Nguyệt Thiên Tử. Ðó là : Thiên Tử Nguyệt. Thiên Tử Hoa Vương Kế Quang Minh. Thiên Tử Chúng Diệu Tịnh Quang Minh. Thiên Tử An Lạc Thế Gian Tâm. Thiên Tử Thụ Vương Nhãn Quang Minh. Thiên Tử Thị Hiện Thanh Tịnh Quang. Thiên Tử Phổ Du Bất Ðộng Quang. Thiên Tử Tinh Tú Vương Tự Tại. Thiên Tử Tịnh Giác Nguyệt. Thiên Tử Ðại Oai Ðức Quang Minh. Lại có vô lượng vô biên Nguyệt Thiên Tử. Nguyệt Thiên Tử tức gọi chung là mặt trăng. Nguyệt còn có tên gọi là thái âm, bây giờ phân làm tên gọi mười vị Thiên tử. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ nhất đó là Thiên Tử Nguyệt. Nguyệt nghĩa là khuyết, có lúc thiếu khuyết, vẫn mát vẫn chiếu, biểu thị Bồ Tát đắc được tâm từ bi mát mẻ, chiếu màn đêm sinh tử, khiến cho chúng sinh ra khỏi biển sinh tử. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ hai tên là Hoa Vương Kế Quang Minh. Vì trong hoa vương kế của vị này phóng ra quang minh, chiếu đến thân chúng sinh, khiến cho họ đắc được lợi ích, cho nên được tên này. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ ba tên là Chúng Diệu Tịnh Quang Minh. Vì vị này có quang minh vi diệu thanh tịnh, chiếu sáng chúng sinh, khiến cho họ đắc được trí huệ, cho nên được tên này. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ tư tên là An Lạc Thế Gian Tâm. Vì vị này khiến cho tất cả chúng sinh thế gian đắc được an lạc, cho nên được tên này. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ năm tên là Thụ Vương Nhãn Quang Minh. Vì vị này thanh tịnh quang minh, giống như đại thụ vương, cho nên được tên này. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ sáu tên là Thị Hiện Thanh Tịnh Quang. Vì vị này thị hiện khắp tất cả thế giới, đều có quang minh thanh tịnh, cho nên được tên này. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ bảy tên là Phổ Du Bất Ðộng Quang. Vì vị này chu du khắp mười phương thế giới, mà quang minh chẳng động, cho nên được tên này. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ tám tên là Tinh Tú Vương Tự Tại. Vì vị này là vua trong tinh tú, lại tự tại tiêu dao, cho nên được tên này. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ chín tên là Tịnh Giác Nguyệt. Vì vị này giác hạnh thanh tịnh viên mãn như ánh sáng mặt trăng, cho nên được tên này. Vị Nguyệt Thiên Tử thứ mười tên là Ðại Oai Ðức Quang Minh. Vì vị này có đại oai đức, đại quang minh, cho nên được tên này. Có vô lượng số Nguyệt Thiên Tử như vậy làm thượng thủ, các vị đó đều siêng năng hiển hiện tâm bảo của chúng sinh. Mười vị Nguyệt Thiên Tử này, đều làm thượng thủ trong chúng Nguyệt Thiên Tử. Ngoài ra còn có vô lượng vô biên Nguyệt Thiên Tử không thể tính đếm được. Những vị Thiên Tử này, đều tinh tấn tu tập Bồ Tát giống như trăng sáng ở trong hư không, tùy nước lắng trong ở trong tâm chúng sinh, liền hiển hiện ra mặt trăng sáng. Do đó có câu : ‘’ Phật pháp như trăng sáng, Lơ lững trên bầu trời, Tâm chúng sinh thanh tịnh, Bóng bồ đề hiện ở trong.’’ Tức là đạo lý "ngàn cái ao nước đều có ngàn mặt trăng", trên đây là chúng thứ nhất Nguyệt Thiên Tử. Lại có vô lượng Nhựt Thiên Tử. Ðó là : Thiên Tử Nhựt. Thiên Tử Quang Diệm Nhãn. Thiên Tử Tu Di Quang Khả Uý Kính Tràng. Thiên Tử Ly Cấu Bảo Trang Nghiêm. Thiên Tử Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển. Thiên Tử Diệu Hoa Anh Quang Minh. Thiên Tử Tối Thắng Tràng Quang Minh. Thiên Tử Bảo Kế Phổ Quang Minh. Thiên Tử Quang Minh Nhãn. Thiên Tử Trì Thắng Ðức. Thiên Tử Phổ Quang Minh. Lại có vô lượng vô biên Nhựt Thiên Tử. Nhựt Thiên Tử gọi chung là mặt trời. Bây giờ đại diện gồm có mười vị. Nhựt Thiên Tử. Nhựt ý nghĩa là "thật", vì thường sung thật, vừa nóng vừa chiếu sáng, biểu thị trí huệ sở chiếu của Bồ Tát. Nhựt dùng dương đức, Nguyệt dùng âm linh. Một thường phá đen tối, biểu thị căn bản phá hoặc ; một thường mát mẻ, biểu thị đức dày lợi ích vạn vật. Ðó là công đức của Nhựt, Nguyệt (mặt trời, mặt trăng). Vị Nhựt Thiên Tử thứ nhất tên là Quang Diệm Nhãn. Vì mắt của vị này phóng ra quang minh như lửa ngọn, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ hai tên là Tu Di Quang Khả Uý Kính Tràng. Vì vị này có quang minh cao như núi Tu Di, khiến cho người thấy sinh tâm kính sợ, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ ba tên là Ly Cấu Bảo Trang Nghiêm. Vì vị này có bảo châu khử dơ bẩn, quét bụi trần, vừa thanh tịnh vừa trang nghiêm, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ tư tên là Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển. Vì vị này có tâm dũng mãnh tinh tấn, chỉ hướng đến trước mà không lùi về sau, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ năm tên là Diệu Hoa Anh Quang Minh. Vì vị này có chuỗi diệu hoa, có quang minh như cầu vồng, năm quang mười sắc, sáng lạng khả ái, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ sáu tên là Tối Thắng Tràng Quang Minh. Vì vị này có tràng quang minh thù thắng nhất, thứ quang minh này không thể so sánh phỏng theo được, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ bảy tên là Bảo Kế Phổ Quang Minh. Vì bảo kế của vị này phóng ra quang minh chiếu khắp tất cả thế gian, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ tám tên là Quang Minh Nhãn. Vì mắt của vị này phóng ra một thứ quang minh đặc biệt thù thắng, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ chín tên là Trì Thắng Ðức. Vì đức hạnh của vị này thù thắng nhất, không ai sánh kịp, cho nên được tên này. Vị Nhựt Thiên Tử thứ mười tên là Phổ Quang Minh. Vì vị này phóng quang minh chiếu sáng khắp tất cả chúng sinh, khiến cho họ đắc được trí huệ, cho nên được tên này. Có vô lượng số Nhựt Thiên Tử như vậy làm thượng thủ. Các vị này đều siêng năng tu tập lợi ích, và làm tăng trưởng căn lành của chúng sinh. Mười vị Nhựt Thiên Tử này làm thượng thủ trong các chúng Nhựt Thiên Tử, ngoài ra còn có vô lượng vô biên, không cách chi tính đếm được. Những vị Nhựt Thiên Tử này, đều siêng tu tập pháp đại thừa, lợi ích tất cả chúng sinh, và làm tăng trưởng căn lành của chúng sinh. Người chưa trồng căn lành, thì khiến cho họ trồng căn lành, người đã trồng căn lành, thì khiến cho sinh trưởng, người căn lành đã sinh trưởng, thì khiến cho thành thục, người căn lành đã thành thục, thì khiến cho được giải thoát. Ở trên là chúng thứ hai Nhựt Thiên Tử

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét