THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012
LỜI KHUYÊN DẠY TỪ TRÁI TIM
LỜI KHUYÊN DẠY TỪ TRÁI TIM
Cầu xin Đức Văn Thù, vầng thái dương thanh xuân của ngôn ngữ, trong thân giác ngộ của Ngài,
Với những hảo tướng chánh và phụ, hiện thân của thân, ngữ và tâm bí mật
Của tất cả chư Phật và Bồ Tát kế thừa,
Chuyển tâm các bạn về con đường dẫn tới sự toàn giác!
Có vô số Giáo Pháp, sâu xa và rộng lớn,
Thích hợp với những căn cơ và khuynh hướng của vô lượng chúng sinh,
Tuy thế, bằng cách thâu thập mọi điều then chốt có thể thực hành
Tôi hiến tặng lời khuyên dạy súc tích này cho các bạn, những bằng hữu mà tôi trân quý như trái tim mình.
Trở nên dính mắc vào cuộc đời này, các bạn mất đi sự nối kết đầy may mắn với Pháp,
Không ngừng thỏa mãn dục vọng, sự tham muốn của các bạn sẽ chỉ tăng trưởng mà thôi,
Và các bạn sẽ chẳng bao giờ toại nguyện. Của cải, hạnh phúc, tiếng tăm và lời tán tụng–
Chạy đuổi theo chúng thì giống như mua và bán trong một giấc mộng. Hãy buông bỏ những mối quan tâm như thế!
Nhờ nương tựa một vị Thầy đích thực và có phẩm chất,
Những phẩm tính tâm linh của các bạn sẽ phát triển và tăng trưởng,
Mọi lỗi lầm và khuyết điểm sẽ được ném bỏ,
Vì thế hãy phụng sự bậc Thầy theo ba cách [1] và những mục đích khác sẽ được thành tựu.
Giống như ta không thấy cây cỏ vườn tược phát triển vào buổi trưa,
Mọi tặng phẩm của thượng giới và sự giải thoát,
Sẽ chẳng bao giờ thuộc về các bạn, chừng nào các bạn không giữ gìn giới hạnh,
Vì thế với chánh niệm, tỉnh giác và sự cẩn trọng, hãy kiểm soát tâm mình.
Cho tới bây giờ, các bạn đã lang thang như những kẻ điên không người dẫn dắt,
Xuyên qua bóng tối mênh mông của vô minh trong sự hiện hữu không có lúc khởi đầu,
Vì thế giờ đây, để tìm thấy nơi ẩn náu an bình và hạnh phúc,
Hoan hỉ nghiên cứu đại dương bao la những giáo lý tuyệt hảo là điều đúng đắn.
Nhưng chỉ lắng nghe sẽ không đủ sức tiệt trừ những quan niệm sai lầm,
Và sự xác tín nơi Đạo sư và giáo lý sẽ không xảy đến dễ dàng.
Vì thế hãy lợi dụng hàng trăm cuộc thảo luận, giáo lý và tác phẩm,
Và nương tựa chất cam lồ của tâm là trí tuệ phát sinh từ sự quán chiếu.
Ngay cả người thông thái nhất trong các vị Thầy với một bụng Kinh điển,
Vẫn có thể lập lại ngôn từ như một con vẹt mà không thâm nhập vào tâm khảm,
Nhưng khi cái chết bất ngờ xảy tới, điều này sẽ chỉ mang lại những đớn đau hối tiếc,
Vì thế hãy nương tựa yếu nghĩa của giáo lý, hỡi những bằng hữu thân thiết của tôi!
Vô vàn giáo lý của chư Phật, bao la không kể xiết,
Hoàn toàn được truyền đạt như một phương tiện để điều phục tâm thức chúng ta.
Đừng chỉ đặt niềm tin nơi chữ nghĩa! một lần nữa tôi nài xin các bạn:
Hãy để cốt tủy của ý nghĩa sâu xa thấm nhập trái tim mình!
Hiện hữu vật lý này khó tìm được, như một đóa hoa ưu đàm,
Còn đáng giá hơn việc khám phá một triệu viên ngọc quý.
Thật khó tìm ra cơ hội khác như thế sau này,
Vì thế đừng bỏ lỡ dịp may này mà không thành tựu mục tiêu cao cả nhất!
Thần Chết, kẻ thù vĩ đại của ta, đến như ánh chớp trên bầu trời,
Và chẳng ai có thể biết trước nơi đâu và bao giờ ông ta sẽ đánh tiếp.
Vì thế các bạn không thể trì hoãn hàng tháng và hàng năm,
Giờ đây là lúc thực hành đức hạnh – ngay tại nơi đây, ngay chính lúc này!
Với mọi chúng sinh, những hành động sẽ không uổng phí, mà sẽ kết thành trái quả,
Và khi nghiệp lực chín mùi, không có cách nào thay đổi kết quả của nó.
Vì thế giờ đây, khi vẫn còn đủ may mắn để có sự kiểm soát nào đó,
Nếu các bạn khăng khăng mang thất bại lại cho chính mình thì ai sẽ là người cứu giúp các bạn!
Nếu chỉ nghĩ tới những nỗi khổ khác nhau trong sinh tử,
Cực kỳ dữ dội không thể nào kham chịu, có thể khiến các bạn rùng mình,
Hãy tự hỏi: Tình thế sẽ ra sao khi thân và tâm
Thực sự bị đau đớn bởi vô số hình thức của đau khổ này?
Chỉ Tam Bảo mới đủ năng lực đưa ta ra khỏi nỗi khiếp sợ ghê gớm này,
Thật khó lòng trốn thoát. Không ai khác có thể cứu vớt chúng ta!
Vì thế nên coi ba viên ngọc tôn quý này (Tam Bảo) là nơi nương tựa,
Bởi các Ngài không dối gạt, minh triết, bi mẫn và tràn đầy năng lực.
Mọi đau khổ trong ba cõi đến từ việc mong muốn hạnh phúc cho bản thân,
Và mọi đức hạnh, hạnh phúc phát khởi từ tâm ước muốn điều tốt lành cho người khác.
Vì thế, hãy noi theo gương mẫu của Đạo sư của tất cả trời và người,
Các bạn nên phát triển Bồ đề tâm siêu việt và không gì sánh.
Khi gương tâm của các bạn hoàn toàn bị che phủ,
Bởi lớp bụi dầy là những ô nhiễm ngẫu nhiên,
Quán chiếu sâu xa và thiền định trong trẻo rất khó xuất hiện,
Vì thế hãy dầy công chùi lau gương tâm với tấm vải sạch là bốn năng lực.
Mọi hình tướng, âm thanh và sự tỉnh giác là Bổn tôn, thần chú và dharmata (Pháp tánh).
Và cái thấy (kiến) thấu biết rằng đây là cách nó luôn luôn là.
Không đánh mất cái thấy này, hãy nhắm bắn với mũi tên thiền định của các bạn,
Và thông thạo các thực hành giải trừ và phát triển.
Nếu các bạn có thể phát triển phúc lạc, sự trong sáng, và vô-niệm như phương tiện hỗ trợ,
Nhờ các kỹ thuật thở và tuân theo các tư thế vật lý,
Các bạn sẽ đi tới chỗ làm chủ huyễn thân của tịnh quang,
Vì thế hãy thâm nhập cốt tủy của tâm giác ngộ nhờ giai đoạn thành tựu.
Khi bóng tối của năm suy hoại (ngũ trược) lan tràn,
Không dễ gì chiến thắng bằng ánh sáng từ những vì sao của tám thừa thấp,
Vì thế hãy chiếu soi ánh sáng chói lọi của mặt trời Nyingtik (Tâm yếu) bằng vô số tia sáng của nó.
Cuốn hút tất cả bằng cỗ xe nhanh chóng của ba loại đức tin!
Bất kỳ điều gì xuất hiện, trong giác tánh trong trẻo, nguyên vẹn và không bị giới hạn,
Hãy nhìn vào tâm thức an định tự thân, thư thản tự nhiên.
Nếu các bạn nhận ra sự trong sáng tự nhiên, vô thủy và luôn luôn trống không,
Đột nhiên các bạn vượt qua những con đường và giai đoạn, và chiếm lĩnh pháo đài kết quả.
An trụ trong trạng thái như-thị, nhờ những tư thế và cái nhìn đúng đắn,
Nếu các bạn kinh nghiệm sự hiển lộ tự nhiên của pháp giới nền tảng và những quả cầu ánh sáng như giác tánh thuần tịnh,
Bóng tối của sự nhị nguyên sinh tử sẽ biến mất trong pháp giới tuyệt đối,
Và trải qua bốn thị kiến, các bạn sẽ đạt được sự thuần thục trong thân ánh sáng của sự chuyển di vĩ đại.
Những gì tôi đã nói ở đây – Pháp thoại đơn sơ được soạn thành thi kệ này – là lời khuyên dạy tâm huyết của tôi.
Dù không có những mỹ từ thi vị có thể làm vui lòng những người trí thức,
Như một tuôn tràn tự nhiên và nguyên vẹn tự đáy lòng tôi,
Là văn phong được yêu thích của những trì minh vương thuộc trường phái cựu dịch.
Nhờ công đức của việc làm này, cầu xin tất cả chúng sinh không loại trừ ai
Thọ nhận quán đảnh vương giả siêu việt của bốn thân,
Và cầu xin tôi không bao giờ xa lìa dù chỉ một phút giây,
Dũng lực của Đức Văn Thù tươi trẻ!
Tại chốn cô tịch Ngũ Đài Sơn (Trung quốc), trên đỉnh núi nơi Bổn Tôn thanh xuân siêu việt Văn Thù đã chuyển Pháp luân bao la và sâu xa cho hàng chục ngàn Bồ Tát, kẻ có năng lực vô song của ngôn ngữ và trí tuệ (Khenchen Jikmé Phuntsok) ghi lại trong hai mươi ba phút tất cả những gì xuất hiện trong tâm. Cầu mong điều đức hạnh!
Lời khuyên thực tế
Nhiều người trí thức khi đến với đạo Phật thường dành nhiều thì giờ để tìm hiểu, bàn luận về các vấn đề trừu tượng, tâm lý, triết lý xa vời, mà quên rằng đạo Phật là một lối sống, một con đường để ta áp dụng tu tập trong đời sống hằng ngày. Tam tạng kinh điển nguyên thủy có ghi rất nhiều lời khuyên quý báu và thực tế của Đức Phật, để hướng dẫn chúng ta có được một lối sống trong sạch, thiện lành, tạo một nền tảng vững chắc, một môi trường thích hợp để phát triển trí tuệ. Các trích dẫn sau đây được dựa vào các bài Phật Pháp Phổ Thông đăng trong ấn bản điện tử của báo Daily News, Sri Lanka trong tháng 4, 2005 (www.dailynews.lk).
1. Không nên nói lời giả dối
Những lời nói giả dối là một hiện tượng rất thông thường và quen thuộc trong xã hội hiện đại, cho đến nỗi có nhiều người tin rằng không thể nào có được một thế giới hoàn toàn trống vắng các lời giả dối này. Có lẽ chúng ta cũng nên suy gẫm những lời Đức Phật dạy cho ngài Sa-di La-hầu-la, con trai của Đức Bồ-tát, về đức hạnh không nói dối, về những tai hại của sự nói dối, và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thường xuyên tư duy về những hành động của mình, như đã ghi lại trong bài kinh "Giáo giới La-hầu-la ở rừng Am-ba-la", Trung Bộ 61, mà chúng tôi xin trích lược dưới đây.
Một thời, Đức Thế Tôn trú ở khu vườn Trúc, thành Vương-xá. Lúc bấy giờ, Sa-di La-hầu-la, bảy tuổi, trú ở khu rừng Am-ba-la kế cạnh. Vào một buổi chiều, Thế Tôn đi đến thăm Sa-di La-hầu-la. Tôn giả La-hầu-la thấy Thế Tôn từ xa đi đến, liền sửa soạn chỗ ngồi và nước rửa chân. Khi Sa-di La-hầu-la bưng chậu nước đến cho Đức Phật rửa chân, Ngài đã dùng ví dụ chậu nước để dạy Sa-di.
Trước hết Ngài chừa lại một ít nước trong chậu, chỉ cho La-hầu-la và nói: "Hạnh tu của kẻ cố ý nói dối mà không biết hổ thẹn cũng ít oi như vậy."
Đức Phật đổ hắt chút nước đó và nói: "Hạnh tu của kẻ cố ý nói dối mà không biết hổ thẹn cũng đáng đổ đi như vậy."
Rồi Ngài lật úp chậu, và nói: "Hạnh tu của kẻ cố ý nói dối mà không biết hổ thẹn cũng bị lật úp như vậy."
Cuối cùng, Ngài lật ngửa chậu, chỉ cho La-hầu-la thấy chậu trống rỗng và nói: "Hạnh tu của kẻ cố ý nói dối mà không biết hổ thẹn cũng trống rỗng như vậy."
Ngài nói tiếp:
"Như con voi của hoàng gia lúc lâm trận, khi nó liều lĩnh thí mạng, không còn biết quý trọng bảo vệ cặp ngà và cái vòi của nó, thì không có gì mà nó không dám làm. Cũng vậy, kẻ nào cố ý nói dối mà không biết hổ thẹn thì không có điều ác nào mà kẻ ấy không dám làm. Do vậy, Sư cần phải luôn tự nhắc nhở: Tôi sẽ không nói dối, dù chỉ nói để đùa chơi."
Sau đó, Đức Phật dùng ví dụ tấm gương để dạy Sa-di La-hầu-la không những phải biết giữ gìn lời nói, mà còn phải biết giữ gìn các hành động và tư tưởng. Ngài dạy:
"Cũng như tấm gương dùng để phản chiếu, người tu hành cũng phải luôn luôn phản tỉnh trong mọi hành động nơi thân, mọi lời nói nơi miệng, mọi ý nghĩ trong tâm.
"Khi Sư sắp sửa làm điều gì, phải biết tự phản tỉnh: điều này có hại mình, hại người, hại cả hai? Nếu có, thì tránh, không làm điều đó. Nếu điều đó đưa đến lợi lạc cho mình, cho người, cho cả hai, thì tiến hành.
"Khi Sư đang làm điều gì, phải biết tự phản tỉnh: điều này có hại mình, hại người, hại cả hai? Nếu có, thì ngưng làm điều đó. Nếu điều đó đưa đến lợi lạc cho mình, cho người, cho cả hai, thì tiếp tục.
"Khi Sư đã làm điều gì, phải biết tự phản tỉnh: điều này có hại mình, hại người, hại cả hai? Nếu có, thì Sư cần phải thưa lên, cần phải trình bày trước các vị đạo sư, hay trước các vị đồng phạm hạnh. Sau khi đã tỏ lộ, trình bày, Sư cần phải sám hối và phòng hộ trong tương lai. Nếu điều đó đưa đến lợi lạc cho mình, cho người, cho cả hai, Sư phải an trú trong niềm hoan hỷ, và tiếp tục tu học trong các thiện pháp.
"Cũng vậy cho các lời nói và ý nghĩ. Nếu chúng đưa đến các hậu quả tai hại thì Sư phải biết tránh, không thực hiện. Nếu đã lỡ thực hiện rồi thì phải biết sám hối để chừa bỏ. Nhưng nếu chúng đưa đến kết quả lợi lạc thiện lành thì hãy hoan hỷ tiếp tục thực hiện và tăng trưởng các điều ấy.
"Ðó là đường lối phản tỉnh, phương cách huân tập của mọi người tu trong thời quá khứ cũng như trong hiện tại và tương lai, để làm thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý."
Sau khi nghe Đức Thế Tôn thuyết giảng như vậy, tôn giả La-hầu-la rất hoan hỷ, thành tâm ghi nhận lời dạy của Ngài.
2. Không nên sân hận, căm thù
Lẽ dĩ nhiên là lòng sân hận căm thù không thể nào đưa đến sự giác ngộ giải thoát. Thêm vào đó, Đức Phật dạy cho chúng ta biết rằng sân hận sẽ làm cho ta thêm đau khổ ngay trong hiện tại và có thể có quả xấu trong tương lai, như đoạn kinh sau đây, trích lược tóm tắt từ Chương Bảy Pháp, Tăng Chi Bộ:
1) Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch của mình trở thành xấu xí, không có dung sắc. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dù cho người ấy khéo tắm rửa, khéo chải chuốt, tóc râu khéo sửa soạn, nhưng rồi người ấy cũng trở thành xấu xí, vì bị phẫn nộ chinh phục.
2) Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch của mình ngủ một cách khổ sở. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dù có nằm trên ghế dài, nệm trải bằng len, chăn len trắng, chăn len thêu, nệm bằng da mềm, tấm khảm với lọng che phía trên, ghế dài có đầu gối chân màu đỏ, nhưng rồi người ấy vẫn ngủ một cách khổ sở, vì bị phẫn nộ chinh phục.
3) Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch của mình làm ăn, thâu hoạch không có lời. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, tâm trí người ấy trở nên rối ren, dù làm ăn có lời lại nghĩ rằng không lời, làm ăn không lời lại nghĩ rằng có lời, vì thế lúc nào cũng khổ sở lo lắng.
4) Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch của mình không có tài sản. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dù người ấy đã thu hoạch nhiều tài sản lúc trước do siêng năng làm ăn, nhưng rồi vì tâm trí không còn sáng suốt, người ấy có thể có những hành động sai lầm đưa đến tù tội, phạt vạ, làm tiêu tán tài sản.
5) Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch của mình không có danh tiếng. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dù người ấy đã thu hoạch nhiều danh tiếng lúc trước, nhưng rồi vì tâm trí không còn sáng suốt, người ấy có thể có những hành động sai lầm làm tiêu hoại mọi danh tiếng đã có.
6) Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch của mình không có bạn bè. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, dù người ấy có những bạn bè thân hữu, bà con huyết thống gì, nhưng rồi họ cũng sẽ xa lánh, từ bỏ người ấy, vì người ấy có tính tình nóng nảy, bị phẫn nộ chinh phục.
7) Người có tâm sân hận lúc nào cũng mong muốn kẻ thù địch của mình sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Tuy nhiên người nào có lòng phẫn nộ, bị phẫn nộ chinh phục, bị phẫn nộ chi phối, người ấy làm ác hạnh với thân, người ấy nói lời ác hạnh với lời, người đó nghĩ đến điều ác hạnh với ý, cho nên, khi thân hoại mạng chung, chính người ấy sẽ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
3. Chăm sóc người bệnh
Chung sống trong một tập thể, chúng ta cần phải có lòng từ mẫn và thông cảm để chăm sóc cho nhau, nhất là khi có người bị bệnh. Người bệnh nào cũng cần được chăm sóc, giúp đỡ, cho dù người ấy không được người khác yêu mến khi còn khỏe mạnh. Trong bài giảng sau đây, Đức Phật dạy chúng ta phải biết chăm sóc những người cần được giúp đỡ, và Ngài tuyên bố: "Ai sẵn sàng chăm sóc Ta, vị ấy nên chăm sóc những người bệnh". Ngoài ra, Ngài cũng dạy thế nào là một bệnh nhân tốt và thế nào là một người chăm sóc tốt. Bài kinh nầy được hiệu đính, dựa theo bản Việt ngữ của Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên trong bộ Đại Phẩm VIII.166, Luật Tạng.
Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ-khưu nọ bị bệnh kiết lỵ. Vị ấy đã bị té vào đống phân và nước tiểu của chính mình. Khi ấy, Đức Thế Tôn cùng với đại đức Ānanda, thị giả của Ngài, đang đi bộ dạo quanh và đi ngang qua trú xá của vị tỳ-khưu ấy. Đức Thế Tôn nhìn thấy vị tỳ-khưu té và đang nằm trên đống phân và nước tiểu của chính mình. Thấy vậy, Ngài đi đến gần vị tỳ-khưu ấy, và hỏi:
- Này tỳ-khưu, thầy bị bệnh gì?
- Bạch Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ.
- Này tỳ-khưu, thầy không có ai chăm sóc?
- Bạch Thế Tôn, không có.
- Vì sao các vị tỳ-khưu khác lại không chăm sóc thầy?
- Bạch Ngài, con là người đã không có giúp gì cho các vị tỳ-khưu, do đó, các vị tỳ-khưu không chăm sóc con.
Nghe vậy, Đức Thế Tôn bảo đại đức Ānanda rằng:
- Này Ānanda, hãy đi và mang nước lại. Chúng ta sẽ tắm rửa cho vị tỳ-khưu này.
- Bạch Ngài, xin vâng.
Đại đức Ānanda vâng lời Đức Thế Tôn mang nước đến. Ngài xối nước và đại đức Ānanda tắm rửa cho vị tỳ-khưu. Ngài đỡ phần đầu còn đại đức Ānanda nâng lên ở phần chân, và đặt vị tỳ-khưu lên giường. Sau đó, Đức Thế Tôn nhân lý do ấy, nhân sự kiện ấy, cho triệu tập các vị tỳ-khưu, rồi hỏi các vị ấy rằng:
- Này quý thầy, có phải có vị tỳ-khưu trong trú xá kia đang bị bệnh?
- Bạch Thế Tôn, đúng như thế.
- Này các tỳ-khưu, vị ấy bị bệnh gì?
- Bạch Ngài, đại đức ấy bị bệnh kiết lỵ.
- Này các tỳ-khưu, vị tỳ-khưu ấy có người chăm sóc không?
- Bạch Thế Tôn, không có.
- Vì sao các thầy lại không chăm sóc vị ấy?
- Bạch Ngài, vị tỳ-khưu ấy là người đã không có giúp gì cho các vị khác, do đó, các vị tỳ-khưu khác không chăm sóc vị ấy.
- Này các tỳ-khưu, quý thầy không có mẹ, không có cha là những người có thể chăm sóc quý thầy. Này các tỳ-khưu, nếu quý thầy không chăm sóc lẫn nhau thì khi ấy lấy ai sẽ chăm sóc đây? Này các tỳ-khưu, vị nào sẵn sàng chăm sóc Ta, vị ấy nên chăm sóc những người bệnh.
- Nếu có thầy tế độ, thầy tế độ nên chăm sóc đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu có thầy dạy học, thầy dạy học nên chăm sóc đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu có đệ tử, người đệ tử nên chăm sóc đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu có học trò, người học trò nên chăm sóc đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu có vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy tế độ nên chăm sóc đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu có vị đồng thầy dạy học, vị đồng thầy dạy học nên chăm sóc đến hết đời hoặc nên chờ đợi vị ấy được hồi phục.
- Nếu không có thầy tế độ, thầy dạy học, đệ tử, học trò, vị đồng thầy tế độ, vị đồng thầy dạy học, hội chúng nên chăm sóc.
Nếu không chăm sóc thì phạm tội Tác ác (dukkata).
a) Này các tỳ-khưu, vị bị bệnh là khó chăm sóc khi hội đủ năm điều:
- là vị không làm việc cần làm để chữa bệnh;
- là vị không biết sự vừa phải trong việc cần làm để chữa bệnh;
- là vị không quen dùng dược phẩm;
- là vị không giải thích cho người chăm sóc mình một cách rõ ràng về triệu chứng bệnh của mình, không nói rõ ràng là bệnh đã tăng thêm, đã giảm bớt, hay vẫn như trước.
- là loại người không chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, khó chịu, đe dọa đến mạng sống.
Này các tỳ-khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là khó chăm sóc.
b) Này các tỳ-khưu, vị bị bệnh là dễ chăm sóc khi hội đủ năm điều:
- là vị làm việc cần làm để chữa bệnh;
- là vị biết sự vừa phải trong việc cần làm để chữa bệnh;
- là vị quen dùng dược phẩm;
- là vị giải thích cho người chăm sóc mình một cách rõ ràng về triệu chứng bệnh của mình, nói rõ ràng là bệnh đã tăng thêm, đã giảm bớt, hay vẫn như trước.
- là loại người chịu đựng được các cảm thọ khổ, khốc liệt, sắc bén, gay gắt, khó chịu, đe dọa đến mạng sống.
Này các tỳ-khưu, người bệnh hội đủ năm điều này là dễ chăm sóc.
c) Này các tỳ-khưu, người chăm sóc bệnh nhân không thích hợp để chăm sóc người bệnh là vị hội đủ năm điều:
- là vị không có khả năng để pha chế thuốc men;
- không biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, không làm điều cần thiết trong việc điều trị bệnh;
- chăm sóc người bệnh vì mục đích tài vật, không phải vì tâm từ;
- ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa;
- không có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng các bài Pháp thoại lúc này lúc khác.
Này các tỳ-khưu, người chăm sóc bệnh nhân hội đủ năm điều này là không thích hợp để chăm sóc người bệnh.
d) Này các tỳ-khưu, người chăm sóc bệnh nhân thích hợp để chăm sóc người bệnh là vị hội đủ năm điều:
- là vị có khả năng biết pha chế thuốc men;
- biết điều gì cần làm và điều gì không cần làm, chỉ làm điều cần thiết trong việc điều trị bệnh;
- chăm sóc người bệnh vì tâm từ, không phải vì mục đích tài vật;
- không ghê tởm việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước giải, vật nôn mửa;
- có khả năng để chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người bệnh bằng các bài Pháp thoại lúc này lúc khác.
Này các tỳ-khưu, người chăm sóc bệnh nhân hội đủ năm điều này là thích hợp để chăm sóc người bệnh.
LỜI KHUYÊN TỪ BỎ VIỆC ĂN THỊT
Khi con nghĩ về nỗi khổ mà việc ăn thịt mang lại,
Con không thể chịu đựng nổi điều đó và lòng cảm thấy đau đớn và khổ não.
Om mani padme hum hrih!
Từ tánh Không và lòng bi mẫn, Ngài là bậc dẫn dắt chúng sinh,
Đức Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) cao quý, con đảnh lễ Ngài.
Bản thân không tu hành lòng từ ái và bi mẫn,
Tôi đã ăn thịt những bà mẹ của tôi trong khi rao giảng về nhân và quả.
Không chứng ngộ chân lý tuyệt đối, tôi đã lang thang trên con đường ngôn từ rỗng tuếch.
Tôi, kẻ hành khất-như-con vẹt ở Tảng Đá Trắng,
Đã thực hành những khổ hạnh và ‘trích xuất tinh túy.’ [2]
Rồi một hôm, khi thiền định về Đức Avalokiteshvara,
Phù hợp với sự hợp nhất của những giai đoạn từ Khanyam Rangdrol, [3]
Thân tôi và mọi sự quanh tôi đột nhiên biến mất,
Biến thành thân ánh sáng của Đấng Bi mẫn Vĩ đại,
Bậc xuất hiện như một linh kiến trong không gian trước mặt tôi.
Khi nhìn từ trạng thái tự-tỉnh giác chói ngời,
Tôi nhận ra những đau khổ không thể nghĩ bàn của những cõi thấp.
Và đặc biệt là nỗi khổ mênh mông của Địa ngục Sống lại.
Đặc biệt ở một khu vực của nó tôi nhìn thấy tràn ngập
Đàn ông và đàn bà, trần truồng vàkhông được che chở, và đứng trước mỗi người
Là đám quân binh trông hung ác
Đầu như đầu chim, thú vật và những con thú hung dữ.
Nhiều người trong bọn họ cầm vũ khí sắc bén, chặt đứt những nạn nhân thành từng mảnh và ăn thịt họ.
Họ cứ chặt và thịt vẫn mọc trở lại.
Những nạn nhân không chết cho tới khi nghiệp của họ cạn kiệt,
Và những khuynh hướng quen thuộc của họ không suy giảm mà chỉ tăng trưởng.
Đối với những kẻ cử hành ‘lễ cúng dường đỏ’ thì thậm chí còn trầm trọng hơn nữa.
Bọn họ thét to lên vì đau đớn cực độ.
Khi tôi nhìn mọi hiển lộ bên ngoài này của tri giác của riêng tôi,
Tôi tự hỏi: “Có thể làm điều gì để chấm dứt nỗi khổ này?”
Và ngay lúc đó, trong không gian trước mặt tôi,
Đấng Bi mẫn Vĩ đại xuất hiện, Ngài nói:
“Con ta, con đã thân cận ta trong nhiều đời,
Hãy nghe cho kỹ, con thật tinh cần và kiên quyết!
Con đã nghe những giáo lý về giai đoạn phát triển của yoga Bổn Tôn,
Và thậm chí từng phát triển một ít phẩm tính,
Nhưng cội gốc của Pháp nằm ở lòng từ ái và bi mẫn.
Con có từ tâm và bi mẫn đích thực trong con?
Làm thế nào những người từng tu hành lòng bi mẫn lại có thể ăn thịt?
Hãy nhìn cách thức việc ăn thịt mang lại nỗi khổ đau như thế!
Những kết quả hành động của riêng ta sẽ chỉ chín mùi nơi ta,
Và chư Phật ba thời chẳng làm gì được.
Việc ăn thịt mất hết đức hạnh và kéo theo nhiều lầm lỗi,
Nó là nguồn mạch của bốn trăm hình thức bệnh tật,
Tám mươi ngàn trở lực và tám mươi bốn ngàn cảm xúc phiền não.
Trừ phi nó là một phần của hành vi vô úy của người làm lợi lạc tất cả những ai họ gặp,
Được sử dụng như một phương thuốc hay một chất linh thánh của thần chú bí mật siêu việt,
Còn thì việc dùng thịt không mang lại chút đức hạnh nhỏ bé nào.
Bởi những kẻ ăn thịt là những ma quân hay quỷ La sát,
Giới luật của con sẽ chỉ suy hoại và những cảm xúc tiêu cực tăng trưởng,
Con sẽ không có nguyên nhân là từ tâm và bi mẫn vị tha,
Và vì thế khó gặt hái trái quả là tinh túy của sự giác ngộ.
Những người ăn thịt sẽ không được các Bổn Tôn trí tuệ hộ tống,
Họ sẽ không có những sự ban phước, thành tựu, điều tốt lành và sự hoạt động.
Chất thể của lòng vị tha sẽ không phát triển trong những người ăn thịt,
Và chư thiên và loài rồng có thể coi họ như những quỷ ma.
Những người ăn thịt được bao quanh bởi những gandharva [4], La sát, ma quân.
Thần Chết, quỷ ma, tinh linh, gyalgong [5] và những quỷ ma gãy bể samaya,
Kết quả là việc ăn thịt sẽ dẫn tới sự tái sinh trong những địa ngục,
Hay như một con chim, chó rừng hay quỷ ăn thịt người.
Giống thế, việc ăn thịt mang theo nó nỗi khổ vô biên.
Nhưng khi con từ bỏ nó, con sẽ thoát khỏi mọi lỗi lầm này,
Và luôn luôn được các phi-nhân tôn kính,
Họ sẽ nhìn con như một Bà la môn hay một vị trời thanh tịnh.
Tất cả chư Phật và Bồ Tát khắp mười phương,
Những Guru, Bổn Tôn và Dakini sẽ tụ hội quanh con như những đám mây,
Và đặc biệt là con sẽ được các Bồ Tát nam và nữ hộ tống.
Hoàn toàn tự nhiên, con sẽ có nguyên nhân của lòng từ ái và bi mẫn,
Và nhanh chóng thâu hoạch kết quả là tinh túy của sự giác ngộ.
Đây chỉ là một vài đức hạnh không thể nghĩ bàn mà con đạt được.”
Ngài đã nói như thế và sau đó khi tôi phục hồi tri giác,
Tôi cảm thấy như thể thức dậy từ một giấc mơ minh bạch.
Thân và tâm tôi đau đớn như thể nuốt phải độc dược,
Và cảm thấy sợ hãi và hoảng hốt khiến tôi run rẩy.
Khi nghĩ tới những đau khổ khủng khiếp của Địa ngục Sống lại,
Tôi chỉ có thể cho đi hạnh phúc của tôi để đổi lấy đau khổ của người khác.
Tâm tôi hoàn toàn bị tràn ngập khiến tôi chỉ có thể rơi lệ.
Và cảm thấy một lòng bi mẫn mãnh liệt, không thể chịu đựng nổi.
Rồi để nhận vào mình những đau khổ của người khác,
Và tịnh hóa những lỗi lầm và che chướng của họ do bởi việc ăn thịt,
Đối với mỗi bà mẹ chúng sinh, bao la vô lượng như không gian,
Tôi lập lời nguyện sau đây, thật sự phù hợp với hai cấp độ của thực tại:
“Ôi Hiền giả vĩ đại Thích Ca Mâu Ni, tất cả chư Phật và
Chư vị Bồ Tát khắp không gian và thời gian,
Xin rủ lòng bi mẫn đối với đứa con không hiểu gì về nhân và quả!
Những Đạo sư gốc và Đạo sư dòng truyền thừa nhân từ, xin thương tưởng tới con!
Xin rủ lòng bi mẫn đối với đứa con không hiểu gì về nhân và quả!
Bổn Tôn siêu việt, Đức Avalokiteshvara vĩ đại, xin thương tưởng tới con!
Xin rủ lòng bi mẫn đối với đứa con không hiểu gì về nhân và quả!
Ngập đầy sự vô minh và hai che chướng,
Tôi thường nói tất cả vô lượng chúng sinh từng là cha mẹ của chúng ta ra sao,
Và trong khi hưởng thụ thịt của họ, tôi nói với người khác về nhân và quả.
Tôi không hình dung rằng nỗi khổ được kéo theo thì quá lớn.
Tôi thường nghe nói việc ăn thịt ‘thanh tịnh ba lần’[6]
Được Đức Phật chấp nhận và không là một hành vi tiêu cực.
Nhưng những người nói điều này phải là những vị thánh làm lợi ích bất kỳ ai họ gặp,
Giống như những đóa sen trong sạch, không bị những cảm xúc tiêu cực làm ô nhiễm,
Và những hành giả của con đường sâu xa của Mật chú thừa.
Về phần tôi, tôi không có giáo huấn nào sâu xa hơn
Lòng từ ái và bi mẫn vị tha,
Cũng như sự không thể sai lầm của nhân và quả.
Để tịnh hóa mọi lỗi lầm và che chướng phát sinh từ việc ăn thịt
Trong tất cả chúng sinh trải rộng khắp không gian,
Từ giây phút này trở đi, tôi hoàn toàn từ bỏ việc ăn thịt.
Đây sẽ là hứa nguyện kiên cố của tôi, và tôi sẽ không bao giờ để nó trôi tuột mất.
Cho dù mọi súc sinh trên trái đất bị ăn thịt,
Người ta vẫn không thực sự thỏa mãn, sẽ chỉ tăng thêm sự đói khát.
Và nếu không tìm ra thức gì để ăn hay uống chỉ trong ít ngày,
Ta thấy như thể trước đây chưa từng được nếm ngay cả một mẩu thực phẩm.
Giờ đây là lúc để trốn thoát sự đói khát quỷ ma này.
Chất thịt này đến từ đâu?
Nó chỉ xuất hiện từ sự chấp ngã và tham muốn.
Chỉ nghĩ tới điều này đã khiến tôi rời rã và hầu như buồn nôn.
Đống nhơ nhớp và bẩn thỉu không ngon miệng này,
Bị ô nhiễm bởi ba mươi sáu chất bất tịnh.
Một thân thể được sinh từ những khuynh hướng quen thuộc là căn bản của sự đau khổ,
Và nhiều thú vật có biệt nghiệp rất xấu ác,
Khiến bất kỳ ai ăn thịt của chúng sẽ khó đạt được giải thoát.
Đức Phật đã nói rằng thịt và rượu là những tặng vật bất tịnh
Và cúng dường chúng không được coi là sự bố thí.
Vì thế ai sẽ ăn thực phẩm của những phiền não này?
Những ngạ quỷ sống nhiều ngàn năm của con người
Không tìm ra thức ăn nước uống, và chỉ chịu đựng đau khổ,
Nhưng loài người chúng ta thậm chí có thể uống nước lạnh,
Và ngoài thịt và rượu còn có nhiều thứ để ăn và uống,
Khi ta vẫn chưa thỏa mãn những thực phẩm này,
Làm thế nào ta có thể đền đáp thiện tâm trong quá khứ với sự thiếu ngay thẳng, công bình?
Suốt quá trình vô lượng kiếp trong quá khứ
Trong mỗi thế giới trong vũ trụ này ai không từng là mẹ của ta.
Và sữa mẹ ta từng uống thì đầy ngập một tỉ đại dương.
Giờ đây tôi buông bỏ mọi sự giả dối và lấy Tam Bảo làm nhân chứng:
Trong quá khứ, dưới sự thống trị của vô minh và những khuynh hướng quen thuộc,
Tôi đã ăn thịt những cha mẹ tôi và đã không ăn năn sám hối.
Giờ đây với một động lực trong sạch bao gồm bốn năng lực,
Như trong tục ngữ: “Tôi đã, đang và sẽ không bị dính mắc,”
Từ nay trở đi, cầu mong tư tưởng ăn thịt không bao giờ thâm nhập tâm tôi,
Và nếu tôi ăn thịt, cầu xin Tam Bảo trừng phạt tôi.
Cầu xin các vị bảo trợ và Hộ Pháp luôn luôn chăm sóc tôi.
Giờ đây nếu tôi ăn thịt những bà mẹ trong quá khứ của tôi,
Thì trong ba cõi sẽ chẳng có điều vi phạm nào lớn hơn thế.
Đức Phật đã nói rằng ngay cả việc làm hại người khác đã làm tổn hại chút ít những giới nguyện của ta,
Thì cần gì phải nói tới việc ăn thịt giống như giết hại?
Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Lăng Già và ở những Kinh khác, có nói rằng
Việc ăn thịt thì tương tự sát sinh,
Và nó bị ngăn cấm trong Đại thừa lẫn Tiều thừa,
Nhưng đặc biệt nó không được cho phép đối với một Bồ Tát.
Chính Đạo sư của chúng ta khi xuất hiện là một chú gà gô con,
Và như một thú dữ [7] trong chốn hoang đã không ăn thịt,
Thì làm thế nào những môn đồ của Ngài lại có thể làm thế?
Phù hợp với sự chỉ dạy của chính Đức Phật,
Việc ăn thịt cũng được nhiều Đạo sư vĩ đại Ấn Độ và Tây Tạng từ bỏ,
Vì thế những lỗi lầm của nó thì không sao tưởng tượng nổi.
Không nuôi dưỡng sự tiêu cực tự nó đã là một thực hành Pháp chân thực,
Vì thế cầu mong tôi luôn hòa hợp với Giáo Pháp đích thực!
Khi tôi đã nhận ra vô số lỗi lầm đến từ việc ăn thịt,
Ngay cả việc nghĩ về nó cũng đủ làm tôi kinh tởm giống như bị đầu độc,
Và vì thế tôi, kẻ hành khất vĩ đại tên là Duddul,
Đã viết những lời này để khuyên chính mình từ bỏ nó,
Trong ẩn thất Pháo đài-Không gian nơi Tảng Đá Trắng,
Cầu mong kết quả của đức hạnh này tịnh hoá mọi lỗi lầm và che chướng
Xuất phát từ việc ăn thịt trong tất cả chúng sinh,
Để họ có thể diện kiến một ngàn Đức Phật!
Nyala Pema Duddul
Chú thích:
[1] Nyala Pema Duddul (1816-1872) là guru của Ayu Khandro, Adzom Drugpa và Rigdzin Chang Chub Dorje là những vị thuộc dòng truyền thừa của Namkhai Norbu Rinpoche (xin coi ‘Women of Wisdom’ (Những Phụ nữ Trí tuệ) của Tsultrim Allione.) Trong đời ngài Nyala Pema Duddul đã thực hiện nhiều thực hành Culen (trích xuất các chất tinh túy.) Thực hành ăn chay này có ba cấp độ: Hóa thân, Báo thân và Pháp thân. Nó bao gồm việc từ từ giảm bớt số lượng thực phẩm được dùng cho tới khi hành giả chỉ dùng những lượng nhỏ những tinh chất của khoáng vật, tinh chất của hoa và nước. Đặc biệt là ngài đã sống bằng những năng lực vi tế và vào lúc cuối đời Nyala Pema Duddul để lại thân cầu vồng, thân ngài tan vào ánh sáng lúc ngài mất. Lúc gần mất, Nyala Pema Duddul yêu cầu các đệ tử bọc ngài trong một chiếc lều và chỉ trở lại sau bảy ngày. Vào ngày thứ tám các đệ tử quay lại và lúc mở lều họ chỉ tìm thấy những móng tay và chiếc y của ngài.
[2] (Culen): một phương pháp nhờ đó ta có thể sống bằng những chất hay yếu tố nào đó với số lượng ít ỏi mà không phải dùng những thực phẩm thông thường.
[3] Sự Tự-Giải thoát Ngang bằng Không gian.
[4] Tinh linh sống bằng các mùi hương. Cũng dùng để chỉ chúng sinh sống trong trạng thái trung gian.
[5] Một loại tinh linh hiểm ác.
[6] Có nghĩa là bạn không thấy hay nghe bất kỳ điều gì cho thấy rõ ràng là vì bạn mà con vật bị làm thịt, và không chỉ có thế, thậm chí bạn không nghi ngờ gì là có thể xảy ra một việc như thế.
[7] Những điều này ám chỉ những đời trước của Đức Phật như được thuật lại trong “Truyện Bổn Sanh” hay Jataka.
Bản dịch Anh ngữ của Adam
Nguyên tác: “Advice for Giving Up Meat Eating”
by Nyala Pema Duddul
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên
LỜI KINH QUÁN NIỆM NGÂN VANG
CHÁNH TÍN TAM BẢO THOÁT VÒNG TRẦM LUÂN
Thuở nọ, tại Xá Vệ có 500 Phật tử thuần thành, chánh trực. Mỗi vị có 500 thân hữu rất mực tin yêu và giúp đỡ nhau trong cuộc sống cũng như trên bước đường tu học. Vị Phật tử cao niên và uy tín nhất sanh được bảy người con trai và bảy người con gái. Họ rất hảo tâm và giàu lòng bố thí. Gia đạo của họ mỗi ngày một thêm hưng thịnh, hạnh phúc. Họ làm ăn càng phát đạt bao nhiêu thì họ càng chánh tín Tam bảo bấy nhiêu, và họ coi việc bố thí người nghèo, giúp đỡ người khó, hộ trì Phật pháp là nghĩa vụ thiêng liêng đối với họ.
Một hôm, vị Phật tử cao niên và thâm tín chư Phật ngã bịnh. Thấy sức khỏe mỗi ngày một yếu, sinh lực mỗi ngày một khô và thọ mạng mỗi ngày một giảm, ông gởi lời đến Ðức Thế Tôn, cung thỉnh mười sáu vị Sa môn đến nhà ông tụng kinh, thuyết pháp cho ông nghe. Ðức Phật chấp thuận, và mười sáu thầy tức khắc đến thăm hỏi và ngồi quanh giường bịnh chuẩn bị khai kinh, thuyết pháp. Ông nói:
- Kính bạch chư tôn đức, thật là vạn hạnh cho con được thân cận và gặp gỡ quý thầy. Con yếu lắm rồi! Cái chết đang cận kề bên con. Kính mong quý thầy từ bi tụng cho con nghe một thời kinh ngắn gọn.
- Ðạo hữu muốn nghe thời kinh gì?.- Một trưởng lão hỏi.
- Xin quý thầy cho con nghe thời kinh Quán niệm (Satipatthana Sutta), thời kinh cúng dường chư Phật đó.
Các Sa môn bắt đầu tụng những lời kinh quen thuộc: “Chỉ có một con đường, này các thầy Tỳ kheo, đây là con đường duy nhất đưa chúng sanh đến bến bờ giải thoát ...”
Ngay lúc đó có sáu cỗ xe được trang hoàng lộng lẫy do một ngàn tuấn mã kéo, nối dài một trăm năm mươi dặm từ sáu thiên giới hiện đến. Trên mỗi cỗ xe đều có một thiên thần đứng uy nghiêm trong thế nghinh đón. Họ đều cất tiếng thỉnh nguyện:
- Xin cung nghinh ngài lên thế giới chư thiên, nơi thọ hưởng phước điền, an vui hạnh phúc của những chúng sanh đã bao đời vun trồng phước thiện.
Không muốn bị gián đoạn nghe Pháp, vị đạo hữu chánh tín Tam bảo kia đưa tay ra hiệu, nói:
- Khoan, khoan!
Tưởng là ông yêu cầu ngưng tụng kinh, các Sa môn liền dừng lại. Thế là con trai con gái của ông òa lên khóc, than rằng:
- Trước đây cha chúng con chưa bao giờ được nghe Pháp trọn vẹn, nay được quý Trưởng lão cho văn Kinh thính Pháp thì đột nhiên bảo dừng lại. Thật là thiếu duyên thiếu phước, tội nghiệp cho cha chúng con quá! Nhưng xét cho cùng, không ai là người không sợ chết.
Các Sa môn nhìn nhau, nói:
- Vậy là nhân duyên chưa hội ngộ, chúng ta đâu còn thì giờ và lý do ở lại đây.
Họ đứng lên, ngỏ lời cáo từ và ra về.
Sau một lúc, vị đạo hữu hồi tâm, hỏi các con:
- Vì sao các con khóc?
- Cha ơi! - Chúng nói - Cha thỉnh quý Trưởng lão đến tụng Kinh thuyết Pháp, rồi bỗng dưng cha bảo các ngài dừng lại. Chúng con khóc là vì rốt cuộc thì không ai là người không sợ chết.
- Thế các bậc tôn đức hiện giờ ở đâu?
- Các sư bảo rằng nhân duyên chưa tròn, không còn thời giờ và lý do lưu lại nên họ đã ra về hết rồi!
- Trời ơi! Cha đâu có nói gì với quý thầy.
- Vậy chứ cha nói chuyện với ai?
- Sáu vị thiên thần đứng trên sáu cỗ xe cực kỳ lộng lẫy từ sáu thiên giới đến trụ giữa hư không nói với cha rằng:
- Xin cung thỉnh ngài lên thiên giới, xin cung thỉnh ngài lên thiên giới. Cha nói chuyện với chư thiên đấy.
- Thế các cỗ xe đâu, thưa cha? Chúng con nào có thấy gì!
- Các con có thể cho cha một vòng hoa?
- Vâng, thưa cha!
- Các con biết cảnh giới nào an lạc nhất?
- Cảnh Cực lạc, tức cõi Tịnh độ (Tusita), thưa cha, nơi an trụ của hằng hà sa số phụ mẫu chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
- Thế thì hãy tung vòng hoa này lên, và xin nguyện vòng hoa gắn vào cỗ xe từ cảnh giới Cực lạc đến.
Các con làm theo lời cha, và vòng hoa kia gắn vào cỗ xe đong đưa giữa hư không. Mọi người đều thấy vòng hoa phất phơ theo gió nhưng không thấy cỗ xe. Vị đạo hữu nói:
- Các vị có thấy vòng hoa không?
- Vâng, chúng tôi có thấy.
- Vòng hoa đang gắn vào cỗ xe từ cảnh Cực lạc đến đó. Ta sắp về cõi Tịnh độ đây. Ðừng bịn rịn đau buồn nhé! Nếu quý vị muốn sanh về thế giới Cực lạc với ta thì hãy tạo nhiều công đức phước thiện như ta vậy.
Nói xong, ông đưa tay ra hiệu cáo biệt mọi người và đôi mắt của ông tù từ khép lại. Ông đã để lại cho đời biết bao phước điền ân ích.
Khi các Sa môn về tới tu viện, Ðức Thế Tôn hỏi:
- Này các thầy Tỳ kheo, vị đạo hữu đó có chí tâm nghe các thầy tụng Kinh thuyết Pháp không?
- Thưa có, bạch Thế Tôn. Nhưng đến giữa chừng ông ta bỗng dưng đưa tay bảo: “Khoan, khoan!” nên chúng con dừng lại. Sau đó đám con của ông khóc òa lên, và chúng con thấy phải cáo từ ra về là hợp lý.
- Này các thầy Tỳ kheo, ông ấy đâu có nói gì với các thầy. Sáu thiên thần đứng trên sáu cỗ xe lộng lẫy từ sáu cõi chư thiên đến rước ông ấy về thế giới Cực lạc, ông ấy không muốn thời Kinh bị gián đoạn nên yêu cầu chư thiên: “Khoan khoan!”
- Ðúng vậy sao, bạch Thế Tôn?
- Ðúng vậy!
- Hiện giờ ông ấy được sanh về đâu, bạch Thế Tôn?
- Hẳn là về thế giới Cực lạc.
- Bạch Thế Tôn, trước đây ông ấy sống an vui hạnh phúc giữa gia đình và bà con quyến thuộc, nay ông ấy lại được sanh về cõi Tịnh độ và tiếp tục vui hưởng thanh bình.
- Ðúng như vậy, này các thầy Tỳ kheo. Những ai tinh cần cẩn trọng, chánh hạnh đoan nghiêm, dù tu sĩ hay cư sĩ cũng được thái hòa an lạc ở hai nơi.
Ngài đọc kệ:
Nay vui, đời sau vui,
Làm phúc hai đời vui,
Hắn an vui, hoan hỷ,
Thấy tịnh nghiệp mình nuôi.
(PC. 16)
VỪA MANH TÂM PHẢN PHÚC
LIỀN ÐÚC KẾT OAN KHIÊN
Thuở nọ, Ðức Thế Tôn theo lời cung thỉnh của vua Tần Bà Sa La (Bimbisàra), khởi cuộc hành trình từ Xá Vệ đến Vương Xá. Ði được nửa đường, Ngài dừng chân tại một thị trấn để giáo hóa dân chúng địa phương. Nhiều người đã theo Ngài xuất gia học đạo. A Nậu Lâu Ðà (Anuruddha), một vương tử dòng Thích Ca, thấy bàn dân thiên hạ theo Thế Tôn tu hành và giải thoát khá đông, bèn xin mẹ xuất gia theo Ngài. Bà một mực từ chối, nhưng A Nậu Lâu Ðà cứ van xin mãi, cuối cùng bà nói:
- Nếu quốc vương Bạt Ðề (Bhaddiya), bạn thân của con, xuất gia làm Sa môn thì mẹ cũng chiều theo ý con.
Thế la A Nậu Lâu Ðà đến gặp Bạt Ðề, nhỏ to tâm sự:
- Anh thấy đấy, chúng mình là hoàng thân quốc thích, dòng họ Thích Ca, vậy mà chả có mống nào dám từ bỏ quyền quý cao sang, lên đường theo Thế Tôn học đạo. Trong khi hào quang của Ngài đang tỏa khắp nơi thì chúng ta vẫn còn lủi thủi trong rừng núi vô minh, đêm trường dày đặc, nghĩ mà xấu hổ!
Nghe bùi tai, Bạt Ðề cùng A Nậu Lâu Ðà đến thuyết phục A Nan (Ànanda), Ba-gu (Bhagu), Kim Tỳ La (Kimbila), và Ðề Bà Ðạt Ða (Devadatta), tất cả đều quyết tâm giã từ kinh thành, theo Thế Tôn xuất gia, cầu đạo giải thoát.
Trên đường tầm sư học đạo, họ gặp Ưu Ba Ly (Upàli), một gã hớt tóc, và biếu hết ngọc ngà châu báu cho ông. Biết họ là những công tôn vương tử thuộc dòng quý tộc, Ưu Ba Ly quỳ mọp dưới chân họ van xin từ chối, nhưng họ nói:
- Ơ kìa! Chúng tôi thật tình biếu hết báu vật này cho anh. Chúng tôi không cần những thứ này nữa. Chúng tôi đang trên đường đến gặp Ðức Thích Ca Mâu Ni và xin Ngài xuất gia học đạo.
Ưu Ba Ly tay nâng châu báu mà mắt ngó trân trân các vị vương tử. Họ vẫy tay, cười chào và tiếp tục lên đường. Một lát sau, Ưu Ba Ly tự nghĩ:
- Công danh cái thế, quyền lực ngút trời mà họ còn vất đi như ném bó rạ khô, huống nữa là thân phận hèn mọn và cái quán ọp ẹp của mình. Không, đừng điên rồ mà vướng vào cái của nợ này!
Ưu Ba Ly máng hết báu vật lên cành cây rồi cùng theo họ đến gặp Ðức Thế Tôn và được nhận vào giáo hội đầu tiên. Về sau, Ưu Ba Ly trở thành một trong mười vị đệ tử vĩ đại của Phật, nổi danh về hạnh giữ giới. Sáu vị kia cũng đạt được thánh quả A la hán. Riêng Ðề Bà Ðạt Ða, vừa được thần thông thì đã hiu hiu tự mãn.
Một hôm, các Phật tử đến Kiều Thưởng Di (Kosambi) thăm viếng, cúng dường lễ vật cho Ðức Thế Tôn và các Trưởng lão như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Bạt Ðề, A Nậu Lâu Ðà, A Nan, Ba-gu, Kim Tỳ La v.v... Thấy không ai nhắc đến tên mình, Ðề Bà Ðạt Ða trong lòng cay cú, ấm ức:
- Ta cũng dòng võ tướng, cũng giai cấp cao sang, cũng xuất gia một ngày, cũng đạt được trí tuệ, vậy mà không ai thèm điếm xỉa đến danh tánh. Khinh ta hả! Rồi các ngươi sẽ biết!
Sau đó một ý nghĩ oan nghiệt chợt đến với Ðề Bà Ðạt Ða : triệt hạ quốc vương Tần Bà Sa La, đệ tử trung kiên của Ðức Thế Tôn, và ám sát Phật để thống lãnh Tăng đoàn.
Biết A Xà Thế (Ajàtasattu), nghịch tử của quốc vương Tần Bà Sa La, là một thanh niên nhẹ dạ, ham danh và mù quáng, Ðề Bà Ðạt Ða cải dạng thành một dị nhân, đầu mình tay chân quấn đầy rắn độc, từ trên không hiện xuống ngồi vào lòng A Xà Thế. Thất kinh, A Xà Thế chấp tay với giọng nói run run:
- Xin thưa ... ngài là ai?
- Thái tử không nhận ra bần đạo sao? Ðề Bà Ðạt Ða vừa đáp vừa đứng dậy và hiện nguyên hình Sa môn với ca sa bình bát đầy đủ.
Lòng thầm thán phục, A Xà Thế liền kết thân với Ðề Bà Ðạt Ða và hứa cùng nhau thực hiện mưu đồ.
Một hôm, Ðức Thế Tôn đang thuyết giảng giữa đại chúng, Ðề Bà Ðạt Ða từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính đảnh lễ Ngài và thưa rằng:
- Bạch Ðức Thế Tôn, Ngài nay tuổi cao sức yếu, khó khăn lắm mới điều khiển nổi Tăng đoàn. Thế Tôn nên an thân lập mệnh theo giáo pháp thượng thừa mà Ngài đã chứng đạt, còn giáo hội, xin hãy để đó cho bần tăng.
Ðức Thế Tôn im lặng không trả lời, sau đó bảo Xá Lợi Phất thông báo cho đại chúng và Phật tử thành Vương Xá biết rằng Ðề Bà Ðạt Ða muốn thống lãnh Tăng đoàn; và, từ nay về sau, giáo hội không chịu trách nhiệm về hành vi ngôn ngữ của sư ấy nữa.
Uất ức về lời thông báo của Ðức Thế Tôn, Ðề Bà Ðạt Ða quyết tâm thực hiện mưu đồ lãnh tụ. Y đến gặp A Xà Thế và trổ tài thuyết phục:
- Này! Thái tử thấy đấy, chúng ta đang sống trong một thời đại nhiễu nhương, những bậc hiền tài đáng ngôi thiên tử thì phải sống dở chết mòn hay trọn đời làm tôi vào luồn ra cúi chứ không bao giờ được lên ngôi để cứu dân cứu nước. Ðời người quả thật mong manh, thọ mạng của phụ vương ngài làm tôi lo cho ngài không ít. Nào! Hãy ra tay dứt điểm. Do dự là đại nghiệp bất thành. Hãy thanh toán phụ hoàng càng nhanh càng tốt, còn bổn mạng của Gô-ta-ma thì để ta hạ thủ. Ðược như vậy là vạn phúc cho sơn hà xã tắc và quần chúng nhân dân.
Như bị thôi miên bởi quyền lực và địa vị, A Xà Thế soán ngôi và hành hình vua cha trong ngục tối.
Cậy quyền A Xà Thế, Ðề Bà Ðạt Ða quyết tâm triệt hạ Ðức Thế Tôn. Y thuê một nhóm côn đồ đến ám sát Ngài, nhưng vừa trông thấy ánh mắt hiền hòa và thân tướng uy nghiêm của Ngài là chúng quăng ngay dáo mác, quỳ lạy chân thành và xin quy y với Ngài.
Lòng tràn đầy căm tức, Ðề Bà Ðạt Ða đích thân leo lên đỉnh núi Kền Kền phục kích và chỉ tay lên trời thề rằng: chỉ có cánh tay này mới triệt tiêu mạng sống của Gô-ta-ma. Và y đã xô một tảng đá khổng lồ xuống Ðức Thế Tôn khi Ngài đi ngang qua chân núi, nhưng tảng đá chỉ làm chân Ngài chảy máu chút ít.
Tức khí, Ðề Bà Ðạt Ða tung Na-la-gi-ri (Nàlàgiri), một con voi cực kỳ hung ác để sát hại Ngài. Thấy con voi hung hăng từ xa chạy đến, A Nan vội chạy ra trước, đứng dang hai tay để che cho Ðức Thế Tôn, nhưng Ngài kéo A Nan qua một bên, và con voi liền sụp hai chân trước xuống với hai giọt nước mắt lăn tròn như tỏ lòng ân hận, sám hối.
Sau đó, thấy Phật tử mỗi ngày một thêm phẫn uất và tẩy chay mình, Ðề Bà Ðạt Ða liền đưa ra cái gọi là năm điểm cương lĩnh, mục đích là để vớt vát uy tín, nhằm xác định vai trò và đường hướng tu hành theo giáo hội mới, giáo hội ly khai. Ðó là: Tỳ kheo phải sống trong rừng, phải đi khất thực, phải mặc áo vá, phải ngủ dưới gốc cây và không được ăn thịt cá, tức là không được ăn mặn.
Với 500 Tăng chúng quy phục, Ðề Bà Ðạt Ða dẫn họ đến sống tại Ga-da-xi-a (Gayãsĩa) và sinh hoạt theo tôn chỉ dị giáo.
Một hôm, sau chín tháng mang bịnh liệt giường, Ðề Bà Ðạt Ða muốn gặp Ðức Bổn Sư, y bày tỏ ý định với đồ chúng nhưng được họ đáp:
- Khi khỏe mạnh thì thầy hiềm khích với Ðức Thế Tôn, bây giờ đau yếu khốn khổ thế này thì đi đâu!
- Xin đừng giết ta trong tủi nhục và ân hận. Ta đã phạm phải sai lầm và tội ác. Ta đã căm thù Thầy ta, nhưng Thầy ta chưa bao giờ dấy lên một cọng lông hay sợi tóc than trách ta. Kính lạy Ðức Như Lai từ bi và hỷ xả!
Ðề Bà Ðạt Ða được đồ chúng khiêng trên một cái cáng đến sám hối Ðức Thế Tôn. Tăng chúng hay tin, họ đến báo cho Thế Tôn biết và ngỏ ý không muốn Ngài ngó mặt hạng người phản phúc đó.
- Cứ tự nhiên, Ðức Thế Tôn nói. Khi thành lập cái gọi là giáo hội ly khai, Ðề Bà Ðạt Ða đã tuyên thệ là không bao giờ gặp Như Lai nữa. Chính vì lời thề tuyệt hậu đó mà dù cho Ðề Bà Ðạt Ða có đến tu viện Trúc Lâm cũng không thể gặp được Như Lai.
Ðề Bà Ðạt Ða được môn đệ khiêng đến Trúc Lâm và để nghỉ cạnh một hồ sen. Trong khi họ xuống hồ tắm, Ðề Bà Ðạt Ða ngồi dậy và vừa đặt hai chân xuống đất thì toàn thân cứ lún dần, lún dần và chìm hẳn vào lòng đất.
Sau đó, đại chúng đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn, hỏi:
- Bạch Thế Tôn, cái chết của Ðề Bà Ðạt Ða thật là khủng khiếp, chẳng hay người ấy đầu thai về đâu?
- Ðịa ngục A tỳ, Ðức Thế Tôn đáp.
- Bạch Thế Tôn, đời này người ấy đã khổ như vậy, đầu thai nơi khác người ấy cũng khổ nữa sao?
- Ðúng thế! Này các thầy Tỳ kheo, những ai buông lung phóng dật, ngạo mạn, ác tâm, tu sĩ hay cư sĩ đều bị khốn khổ, cơ hàn ở hai nơi.
Ngài đọc kệ:
Nay than, đời sau than,
Làm ác hai đời than.
Hắn than: “Ta làm ác”.
Ðọa cõi khổ, càng than.
(PC. 17)
CHĂM LO GIÚP ÐỠ CHƯ SƯ
HỘ TRÌ TAM BẢO CHỨNG TƯ ÐÀ HÀM
Thuở nọ, tại Xá Vệ, hằng ngày có 2.000 Sa môn thọ trai tại nhà trưởng giả Cấp Cô Ðộc (Anàthapiịđika), và 2.000 Sa môn thọ trai tại nhà tín nữ Vi-xa-kha (Visàkhà). Ðể tránh lời ra tiếng vào, nhỏ to dị nghị, những ai phát tâm cúng dường chúng tăng đều được yêu cầu tự mình mang lễ vật đến văn phòng hộ trì Tam bảo của hai Phật tử thuần thành đó.
Một hôm, Vi-xa-kha thấy mình mỗi ngày một yếu, cần phải có người trẻ trung tháo vác, thành tâm thiện chí thay bà phục vụ ẩm thực cho đại chúng. Bà chọn cháu gái của bà đảm trách công việc đó. Cấp Cô Ðộc cũng chọn cô gái đầu lòng của mình là Ma-ha Xu-ba-đa (Maha Subhaddà) chăm sóc trai phạn cho chúng tăng. Ái nữ của Cấp Cô Ðộc là người rất mực thuần thành, chăm lo các sư sớm hôm chu đáo, nhất là chí tâm tu hành, lắng lòng nghe Pháp. Nhờ thế mà cô sớm chứng quả Tu đà hoàn. Sau đó cô lập gia đình và về sống bên nhà chồng. Cấp Cô Ðộc lại chỉ định Cu-la Xu-ba-đa (Culla Subhaddà), em gái của Ma-ha Xu-ba-đa, giúp đỡ các sư. Cô này nhẹ nhàng, cẩn trọng, noi gương thành tín của chị mình và cũng chứng quả Tu đà hoàn. Sau đó lấy chồng và cũng về sống bên nhà chồng. Cuối cùng ông chỉ định cô gái út là Xu-ma-na (Sumanà) thay chị phục vụ Tam bảo. Xu-ma-na một lòng kính Phật trọng Tăng, phát tâm cúng dường, vun bồi phước huệ; và chẳng mấy chốc cô ấy chứng quả Tư đà hàm. Một hôm cô cho người mời cha cô đến. Ông hỏi:
- Có chuyện gì mà con cho người mời cha vậy, con gái cưng của cha?
- Em nói sao? Hỡi người em út yêu thương của chị! Xu-ma-na hỏi vặn lại.
- Con ăn nói gì mà điên rồ vậy con! Bộ con ... không nhận ra cha sao? Con bị sốt nặng rồi, tội nghiệp con tôi!
- Không! Chị không bao giờ nói năng điên rồ. Chị luôn luôn thương em. Em là em yêu của chị. Chị có đau yếu cảm sốt gì đâu!
- Con có sợ ... lộng ngôn không con?
- Không! Chị chưa bao giờ lộng ngôn ỷ ngữ. Chị luôn luôn trung thành với lời Phật dạy chân thật bất hư.
Nói xong, cô lên giường, miệng mỉm cười và đôi mắt từ từ khép lại.
Cấp Cô Ðộc tuy đã chứng quả Tu đà hoàn nhưng không chịu nổi cảnh đau buồn mất mát cứ dâng lên trong lòng. Tang lễ xong, ông đến quỳ dưới chân Thế Tôn khóc sướt mướt. Ðức Thế Tôn hỏi:
- Trưởng giả, vì sao ông đau buồn, khóc lóc khổ sở thế?
- Bạch Ðức Thế Tôn, Xu-ma-na, con gái yêu thương của con mất rồi!
- Vậy hả! Thế ông khóc vì lẽ gì? Chết không phải là định luật tất yếu cho mọi người?
- Con vẫn biết thế, bạch Thế Tôn, nhưng con gái của con rất mực thông minh trí tuệ, hiền hòa khiêm tốn, làm việc gì cũng thành tựu viên mãn. Ðiều làm cho con đau khổ nhất là tư tưởng hoảng loạn của nó trước khi qua đời. Nó đã bỏ con ra đi trong cơn mê sảng. Bạch Thế Tôn, tội nghiệp con của con quá!
- Nhưng mà con gái của ông đã nói gì, này trưởng giả?
- Bạch Thế Tôn, con gọi nó là con gái cưng của cha, nó bảo con là em yêu quý của chị! Con bảo nó nói năng điên rồ, nó nói là chân thật bất hư. Sau đó nó nhẹ nhàng ra đi không một lời trăn trối.
- Này trưởng giả, Ðức Thế Tôn nói, con gái ông nói năng nghiêm chỉnh, đâu có điên rồ!
- Vậy tại sao nó nói thế?
- Chỉ vì ông chính là em trai út của cô ấy. Này trưởng giả, con gái của ông đã chứng quả Tư đà hàm trong khi ông mới chứng quả Tu đà hoàn. Và như ông đã biết, tứ thánh quả là Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán. Cô ấy gọi ông em út là vậy đó.
- Mô Phật ... té ra là như thế!
Cấp Cô Ðộc chấp tay xá Ðức Thế Tôn với ánh mắt hiện rõ nét cung kính và hoan hỷ.
- Nhưng ... chẳng hay hiện giờ con gái của con tái sanh nơi đâu, bạch Thế Tôn?
- Nơi cảnh trời Ðâu Suất.
- Bạch Thế Tôn, khi sống với gia đình và bà con quyến thuộc, con của con lúc nào cũng an lành hạnh phúc, nay đầu thai nơi khác, nó cũng được an lạc êm đềm?
- Ðúng vậy! Này trưởng giả, những ai chuyên tâm cần mẫn, nỗ lực tiến tu, tu sĩ hay cư sĩ đều được thong dong an lạc ở hai nơi.
Ngài đọc kệ:
Nay mừng, đời sau mừng,
Làm phúc hai đời mừng,
Hắn mừng: “Ta làm phúc”
Sanh căn lành, mừng hơn.
(PC. 18)
BIỆN TÀI KIÊU MẠN MANG CHƯỚNG NGHIỆP
CHÁNH NIỆM KHIÊM CUNG HƯỞNG VÔ ƯU
Thuở nọ, tại Xá Vệ có hai người bạn tuổi tác chênh lệch nhưng rất thân nhau và coi nhau như anh em ruột. Một hôm, nhân theo Phật tử đến tu viện Trúc Lâm nghe Ðức Thế Tôn thuyết pháp, nhận ra lẽ vô thường biến dịch của vạn vật trên đời, họ đâm ra xem thường công danh, nhàm chán lạc thú, dốc lòng theo Phật, cầu đạo giải thoát. Sau năm năm thọ trì giới luật, học hỏi kinh văn với các vị giáo thọ, họ đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn và thưa rằng:
- Bạch Thế Tôn, lâu nay chúng con được hân hạnh tu học với đại chúng, nhưng chưa biết nhiệm vụ của một Sa môn, xin Thế Tôn từ bi chỉ dạy.
- Vậy sao! Ðức Thế Tôn nói. Nhiệm vụ chính yếu của một Sa môn là phải nghiên cứu kinh văn và tu tập thiền định. Có định thì có tuệ, có tuệ thì mới có từ bi, hỷ xả và giải thoát, phải vậy không?
- Ðúng vậy! Vị Sa môn cao niên nói. Nhưng, bạch Thế Tôn, con nay tuổi già sức yếu, e khó mà thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu kinh văn, xin Thế Tôn cho phép con thực hiện nhiệm vụ tu tập thiền định.
- Ðược rồi! Vậy thầy hãy nỗ lực tinh tấn, y theo giáo pháp mà quán niệm hành thiền cho đến khi thành tựu đạo nghiệp.
- Bạch Thế Tôn, vị Sa môn trẻ nói, con sẽ hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu kinh văn. Con sẽ quyết tâm nghiên cứu toàn bộ tam tạng giáo điển, vì đó là những lời vàng ngọc của Ðức Thế Tôn đã thuyết giảng.
Thế là, từ đó đi đâu thầy cũng trịnh trọng xiển dương giáo pháp. Chẳng mấy chốc thầy trở thành một pháp sư nổi tiếng, làm giáo thọ cho 500 Tỳ kheo và y chỉ cho mười tám cộng đồng Tăng già.
Bấy giờ có một nhóm Sa môn chuyên tu thiền định đến yết kiến Thầy mình, vị Trưởng lão tu thiền đã chứng quả A la hán, và ngỏ ý xin phép về thăm Ðức Thế Tôn. Thiền sư đáp:
- Lành thay! Cho tôi gởi lời về hầu thăm Ðức Thế Tôn, các vị Trưởng lão và pháp sư thân hữu của tôi.
Các Sa môn về Trúc Lâm đảnh lễ Ðức Thế Tôn, viếng thăm các vị Trưởng lão rồi đến vấn an pháp sư, nói:
- Kính bạch Thượng tọa, Thầy chúng con xin gởi lời thăm sức khỏe Thượng tọa.
- Thầy của quý vị là ai? .- Pháp sư hỏi.
- Bạch Thượng tọa, Thầy của chúng con là pháp hữu của Thượng tọa.
- Thế ... quý vị đã học được gì với thầy ấy? Trong các Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tiểu bộ kinh v.v... quý vị đã học được bộ nào? Trong ba tạng kinh điển, quý vị đã học được tạng nào?
Và rồi pháp sư tự nghĩ:
- Một bài kệ bốn câu không biết, chuyên môn lượm giẻ rách làm y, vào rừng ngồi lim dim suốt buổi, vậy mà nay cũng có môn đồ pháp quyến, sư đệ như ai! Có dịp ta sẽ hỏi sư ấy năm ba câu xem sao.
Ít lâu sau, vị Sa môn cao niên về thăm Ðức Thế Tôn, các vị Trưởng lão và đến viếng pháp sư thân hữu. Ðược dịp trổ tài, vị pháp sư thông minh lanh lợi kia định lên mặt chơi khăm pháp hữu của mình thì Ðức Thế Tôn liền nghĩ:
- Nếu khởi tâm khinh miệt, xúc phạm Thánh tăng thì thầy ấy có thể bị đọa địa ngục.
Vì lòng lân mẫn, Ðức Thế Tôn giả vờ dạo quanh sân tu viện rồi ghé vào tịnh xá hỏi vị Sa môn thông thái đôi điều về thế giới hữu hình, vô hình; và, để chứng tỏ tài bát thông kinh luận của mình, pháp sư lên giọng hùng hồn về ý nghĩa của dục giới, sắc giới, vô sắc giới; rồi nào là không vô biên xứ thiên, thức vô biên xứ thiên, vô sở hữu xứ thiên, phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên v.v... Thầy ấy giảng thao thao như gió reo thác đổ, Ðức Phật và vị Sa môn cao niên rất hoan hỷ về tài hùng biện và trí nhớ tuyệt vời của pháp sư. Nhưng đến khi đức Thế Tôn hỏi làm thế nào thấy rõ thực tướng của vạn pháp và đoạn trừ sanh tử luân hồi thì pháp sư biện giải loanh quanh như kiến bò miệng chén, trong khi vị Sa môn chứng quả A la hán giải đáp vấn đề rõ ràng, dứt khoát bằng kinh nghiệm tu chứng của chính mình. Và Ðức Thế Tôn tán thán:
- Hay thay!... Hay thay!... Sa môn!
Nghe Ðức Thế Tôn tán thán vị Sa môn cao niên, môn đồ của pháp sư làu thông kinh điển lấy làm khó chịu, sau đó họ đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn, hỏi:
- Bạch Thế Tôn, Thầy của chúng con biện tài vô ngại, trí nhớ tuyệt vời, và hiện là giáo thọ của 500 Tỳ kheo, vậy mà không được Thế Tôn tán thán; trong khi thiền sư kia chưa từng miệt mài kinh điển, chỉ biết nhập định tham thiền thì lại được ân huệ của Thế Tôn!
- Này các thầy Tỳ kheo, Ðức Thế Tôn nói, các thầy nói sao? Nên biết thầy của các ngươi hành trì giáo pháp cũng như kẻ chăn bò thuê, ngày ngày lùa bò ra đồng, chăm sóc vỗ béo từng con, nhưng không có con nào là của mình cả, và cũng chả bao giờ nếm được hương vị của sữa bò. Còn vị Sa môn cao niên kia thì giống như ông chủ, không chăn bò mà hưởng được những sản phẩm tuyệt diệu từ sữa bò làm ra.
Ngài đọc kệ:
Dầu đọc tụng nhiều kinh,
Tâm buông lung cẩu thả,
Như kẻ chăn bò thuê,
Khó hưởng Sa môn quả!
Dầu đọc tụng ít kinh,
Nhưng hành trì giáo pháp,
Như thật, tâm giải thoát,
Từ bỏ tham sân si,
Hai đời không chấp trì,
Thọ hưởng Sa môn quả.
(PC. 19, 20)
MƯU SÂU CÀNG KẾT NGHIỆP DÀY
TÍN TÂM NIỆM PHẬT SẠCH NGAY OÁN THÙ
Ma-gan-đi-da (Màgandiyà) và Xa-ma-va-ti (Sàmavàti) là hoàng hậu và cung phi của quốc vương U-đe-na (Udena), một vị vua thông minh, anh dũng và rất mực hiền đức. Cung phi Xa-ma-va-ti, vốn thâm tín chư Phật, hướng dẫn 500 thị nữ quy y Tam bảo, cúng dường chúng tăng và tinh tấn nghe Pháp; trong khi hoàng hậu Ma-gan-đi-da thì nghi ngờ chánh pháp, hủy báng Tăng đoàn và thường ganh tị với cung phi Xa-ma-va-ti.
Một hôm, Ma-gan-đi-da đến cung thất của các thị nữ, thấy trong phòng có một lỗ trống, bèn hỏi:
- Cái gì thế này?
Không biết hoàng hậu căm tức Ðức Thế Tôn, các thị nữ thưa:
- Ðức Thế Tôn đã du hóa đến thành này, thị nữ chúng em đang đứng chờ chiêm ngưỡng dung nhan và đảnh lễ Ngài.
- Thế là tên ẩn sĩ Gô-ta-ma đã đến đây rồi!
Ma-gan-đi-da thầm nghĩ: “Ta biết phải làm gì. Bọn thị nữ rất thuần thành với gã. Các ngươi rồi sẽ biết tay ta”.
Nàng đến gặp quốc vương, tâu rằng:
- Tâu hoàng thượng, Xa-ma-va-ti và đám cung nữ hẳn đã không trung thành với hoàng thượng, bọn chúng đang âm mưu tước đoạt mạng sống của hoàng thượng đó.
- Họ không nỡ nào làm như vậy đâu! .- Quốc vương ngỏ lời xác tín.
Nàng lập đi lập lại lời cáo trạng hai ba lần, nhưng quốc vương vẫn không tin. Cuối cùng nàng khẳng định:
- Nếu hoàng thượng không tin thần thiếp thì xin mời hoàng thượng đến cung thất của họ sẽ rõ.
Quốc vương đến đó, thấy trên tường phòng nào cũng có một lỗ trống, bèn hỏi:
- Thế này là thế nào?
Sau khi nghe lời giải thích của họ là để chiêm ngưỡng dung nhan và đảnh lễ Ðức Thế Tôn, quốc vương đã không tỏ vẻ nóng giận, quát mắng, mà còn cho thay các lỗ trống bằng những cửa sổ xinh xắn.
Không trị được các cung nữ, Ma-gan-đi-da lại mưu tính:
- Bất cứ giá nào ta cũng phải triệt hạ cho được lão Gô-ta-ma.
Và thế là nàng mua chuộc dân chúng xúi giục đám nô lệ sỉ vả, lăng nhục và ra sức tẫn xuất Tăng đoàn ra khỏi thành thị. Giới ngoại đạo nhân đó lại càng lên mặt, cuồng ngôn lộng ngữ thóa mạ Ðức Thế Tôn:
- Ngươi mà là Ðạo sư! Ngươi chỉ là một tên trộm cướp đầu đường xó chợ, một gã ngu ngốc vất vưởng lang thang, một âm binh ma quái, một súc sanh trá hình, một loại trâu bò lừa ngựa; ngươi mà cũng mong cầu giải thoát, ngươi sẽ bị vĩnh kiếp đọa đày. Chúng vừa theo sau Ngài vừa vung vít lời lẽ rất hỗn xược trong khi Ðức Thế Tôn vẫn thản nhiên theo từng bước thiền hành.
Thấy thầy trò bị xúc phạm, A Nan đau buồn, thưa:
- Bạch Thế Tôn, dân chúng ở đây hung dữ quá, mình nên đi nơi khác thì hơn.
- Nên đi đâu, A Nan? .- Ðức Thế Tôn hỏi.
- Ðến một thành phố khác, bạch Thế Tôn.
- Nếu ở đó có người hủy báng nữa thì sao?
- Thì đến thành phố khác nữa.
- Nếu bị hủy báng nữa?
- Thì đến nơi khác nữa.
- A Nan, ta như một thớt voi lâm trận, chấp nhận mọi cung tên và kham nhẫn mọi hủy báng. Có ai nghe voi than phiền giữa trận mạc bao giờ! A Nan, đừng phiền muộn nữa. Hãy tu tập hạnh nhẫn nhục. Chỉ trong bảy ngày thì mọi việc sẽ đâu vào đó. Và đúng như vậy, sau bảy ngày, mọi việc trở lại bình thường, tốt đẹp.
Âm mưu bài Phật bị thất bại, Ma-gan-đi-da lại bày ra một quỷ kế khác. Biết cung phi thị nữ là Phật tử trung kiên, nàng bèn quyết tâm triệt tiêu họ trước. Nhân một hôm quốc vương U-đe-na vui vầy trong yến tiệc, nàng mật sai cậu nàng mang đến tám con gà trống sống và tâu với quốc vương ra lệnh cho đám cung nữ làm thịt đãi hoàng thượng. Quốc vương chuẩn y. Các cung nữ được lệnh, liền tâu:
- Tâu hoàng thượng, chúng thần là Phật tử, không bao giờ sát hại sinh mạng, mong hoàng thượng lượng thứ.
Ma-gan-đi-da thừa thế, làm tới:
- Ðấy! Hoàng thượng thấy chưa? Họ đâu có xem hoàng thượng ra gì! Lệnh của quốc vương từ nay không còn hiệu lực nữa rồi! .- Bỗng nàng gằn giọng:
- Hoàng thượng hãy lệnh cho họ làm thịt tám con gà trống đó để đãi Sa môn Gô-ta-ma xem sao.
Rồi nàng mật bảo nô tỳ mang tám con gà trống chết đến cho cung nữ và được họ chấp thuận làm tiệc ngay. Thế là Ma-gan-đi-da được trớn quát lên:
- Bọn nô tỳ đáng chết, dám khi quân phạm thượng. Hoàng thượng đã tin lời thần thiếp chưa? Phải mà! Thần thiếp có ra gì mà hoàng thượng phải tin! Giờ thì cháy nhà mới ra mặt chuột, rõ là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà!
Quốc vương vẫn bình thản, xem như không có chuyện gì xảy ra.
Tức khí, Ma-gan-đi-da ngầm nhờ cậu nàng tìm một con rắn độc, bỏ nó vào lỗ ống tiêu luyện voi mà quốc vương đi đâu cũng mang theo, rồi cắm vào lỗ đó một cành hoa, chờ cơ hội thực hiện yêu kế.
Hôm sau, quốc vương đến lượt viếng khuê phòng của Xa-ma-va-ti, Ma-gan-đi-da liền cản:
- Tâu hoàng thượng, thần thiếp nghĩ hoàng thượng không nên đến đó hôm nay.
- Vì sao? Quốc vương hỏi:
- Ðêm qua thần thiếp nằm mộng chẳng lành, e hoàng thượng ...!
- Ta không tin mộng mị.
- Tâu hoàng thượng, hay là cho thần thiếp theo hầu hoàng thượng để có gì xảy ra thì ...
Thế là sau khi dự tiệc vui thú với Xa-ma-va-ti, quốc vương nằm ngủ và để ống tiêu bên cạnh gối đầu. Ma-gan-đi-da giả vờ đứng hầu, rồi lén rút cành hoa, con rắn độc từ từ bò ra, phùng mang thở phì phì và Ma-gan-đi-da thét lên:
- Hoàng thượng! Hoàng thượng! Rắn độc! Cứu hoàng thượng với!... Người đâu!... Người đâu!...
Quốc vương thất kinh lăn xuống giường, Ma-gan-đi-da trợn mắt đay nghiến:
- Ta biết từ lâu rồi mà! Bọn đốn mạt vô lại kia lúc nào cũng muốn ám sát hoàng thượng. Hoàng thượng thấy chưa? Hoàng thượng có bao giờ nghe lời thần thiếp đâu!
Nhìn thấy con rắn thè thè cái lưỡi đen ngòm với đôi mắt đỏ ngầu, quốc vương vỗ bàn, hạ chỉ:
- Lôi Xa-ma-va-ti và 500 cung nữ ra pháp trường, sắp thành hàng một, Xa-ma-va-ti đứng đầu!
Và đích thân quốc vương trương cung nhắm ngay ngực Xa-ma-va-ti bắn một phát, nhưng lạ thay, mũi tên bay đến ngực Xa-ma-va-ti thì rớt xuống đất. Quốc vương trợn mắt, buông cung, và tay chân run lẩy bẩy, vì mũi tên quốc vương bắn ra có thể xuyên thủng một tảng đá.
Xa-ma-va-ti chấp tay, quỳ xuống, và tâu rằng:
- Muôn tâu hoàng thượng, thần thiếp và cung nữ đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Chúng thần lúc nào cũng trang trải tình thương và tôn trọng sự sống.
Quốc vương cảm kích đến rơi lệ. Ngài dang hai tay, ngửa mặt lên trời, nói lớn:
- Huyền diệu thay! Hỡi Ðức Thế Tôn, đấng cha lành của nhân thế.
Mưu kế bị thất bại liên tục, lần này Ma-gan-đi-da lại nghĩ ra một quái chước oan nghiệt hơn. Nàng lệnh cho cậu nàng nhúng vải vào dầu rồi quấn chúng vào các trụ cột của cung thất Xa-ma-va-ti và thị nữ. Thấy vậy, Xa-ma-va-ti hỏi:
- Ngài đang làm gì thế?
- Xin quý nương nương hãy vào trong an nghỉ. Ðây là lệnh của quốc vương muốn cột trụ được rắn chắc hơn.
Xa-ma-va-ti và đám cung nữ vừa vào trong thì các cửa được khóa chặt, và những ngọn lửa hung tàn chẳng mấy chốc đã xông lên rần rật một góc trời.
Xa-ma-va-ti lên tiếng nhắn nhủ:
- Này các tỷ muội, chắc các tỷ muội còn nhớ đấy! Ðức Thế Tôn dạy: Chúng ta đã trải qua vô lượng vô biên kiếp sanh tử luân hồi trong đau thương khói lửa; nay chúng ta được may mắn làm người, lại được gặp Phật, Pháp và Thánh tăng; chúng ta hãy nhứt tâm chánh niệm, chánh niệm thì an lạc. Họ chí tâm niệm danh hiệu Ðức Thế Tôn ba lần rồi cùng nhau đi vào chánh định trong ngọn lửa hung tàn.
Quốc vương nhìn thấy cảnh tượng ghê hồn mà ngậm ngùi than thở cho lòng dạ ghen ghét, ác độc của con người. Sau đó quốc vương ra lệnh bắt hết gia quyến của Ma-gan-đi-da, chôn họ tới cổ, rồi chất rơm trên đầu mà đốt cho đến tan xương nát thịt. Rõ là một bi kịch khủng khiếp trên cõi trần ai!
Các Sa môn hay tin, đến đảnh lễ Ðức Thế Tôn và thắc mắc không biết vì sao những Phật tử tinh tấn thuần thành, hiền lành, hiếu đạo như Xa-ma-va-ti và các cung nữ lại phải chết thảm như thế! Ðức Thế tôn nói:
- Này các thầy Tỳ kheo, nếu nhìn những hiện tượng xảy ra trên cõi đời này thì lắm khi thấy bất công và phi lý lắm. Nhưng, như các thầy đã biết, trong vòng xích sanh tử luân hồi, mắc xích nào cũng có nguyên nhân và kết quả của nó. Nay thì Xa-ma-va-ti và các cung nữ đã thành tựu đạo nghiệp, thấp nhất là quả vị Tu đà hoàn.
- Nhưng, bạch Thế Tôn, họ đã làm gì mà nay lâm vào cảnh thê thảm như thế?
Vậy thì hãy lắng nghe, này các thầy Tỳ kheo.
*
* *
Trong một tiền kiếp xa xưa, Xa-ma-va-ti và các cung nữ đó là thần phi mỹ nữ của quốc vương Bra-ma-đát-ta (Bramadatta) trị vì tại thành Ba La Nại. Một hôm đi thưởng ngoạn, tắm sông đến chiều tối, các phi tần thấm lạnh, họ bèn rủ nhau kiếm củi đốt lên sưởi ấm. Họ đã đốt nhầm một vị Phật Ðộc giác đang nhập định trên đống cỏ khô, và sau khi phát hiện, sợ vua nghiêm phạt, họ cố tình phi tang bằng cách chất thêm cỏ và đổ dầu lên đốt cho mau xong việc. Hành động trước thì vô tình, hành động sau thì cố ý. Thật là nhân quả trùng trùng, nghiệp cảm điệp điệp.
- Nhưng, bạch Thế Tôn, cái chết của Xa-ma-va-ti và các cung nữ cùng với cái chết của Ma-gan-đi-da có gì khác biệt?
- Này các thầy Tỳ kheo, những ai buông lung phóng dật, lòng dạ hẹp hòi, ghen ghét đố kỵ, thương mình hại người như Ma-gan-đi-da thì sống cũng như đã chết, còn ngược lại như Xa-ma-va-ti và các cung nữ thì chết cũng như đang sống.
Ngài đọc kệ:
Tinh cần là đường sanh,
Buông lung là ngõ tử,
Tinh cần là bất tử,
Buông lung như thây ma!
Hiểu rõ sai biệt ấy,
Người trí luôn tinh cần,
Hoan hỷ không phóng dật,
Vui thánh quả xuất trần.
Ai chuyên tập thiền định,
Quyết tâm tu vững vàng,
Giải thoát mọi trói buộc,
Chứng vô thượng niết bàn.
Lỗi lầm một chút từ bi
Vườn quanh chùa ở Bảo Lộc, trồng đầy dẫy chôm chôm, ôm theo con đường đi Đà Lạt, nằm cách bên sườn rừng một con suối chạy dài theo quốc lộ. Nhờ con suối này làm thành lũy mà bao năm rồi kinh tế nhà chùa được tốt lên, cây trái chín bán đều đặn, khỉ rừng không qua vườn cây của nhà chùa phá được.
Thầy trụ trì chùa tuổi trung niên, giàu năng động, biết lo cho nhà chùa, nên kinh tế chùa tự phát khá lên dần dần, Phật tử gần xa đều kính phục.
Năm nay cũng như mọi năm, chôm chôm được mùa chín rộ, nhà chùa chưa kịp mừng thì lại bị thất thu vì bị phá hoại, không phải ở người mà đàn khỉ bên rừng tràn qua. Theo dõi nhà sư nhìn qua bìa rừng, thấy đàn khỉ con nào cũng đầy bụng chôm chôm, chí cha - chí chóe ở đám tre già bên kia bờ suối.
Tức mình nhà sư thức trắng đêm để tìm dấu vết. Quả thật! Quá nửa đêm trăng hạ tuần vằn vặt. Con khỉ chúa nương theo cây tre già cong qua bờ suối, oằn xuống đọt cây chôm chôm vườn chùa, một con khỉ đầu đàn đi qua trước, nó vịn cứng đọt tre, làm cầu cho đàn khỉ qua vườn chùa, hái quả ăn xong con khỉ chúa bên kia rừng bò ra cho cây tre oằn xuống, con khỉ đầu đàn vịn cứng đọt tre làm cầu cho đàn khỉ trở về. Đàn khỉ khôn đến nỗi về rừng rồi mà trời chưa sáng.
Một ngày tức bực, nhà sư không biết làm cách nào để đuổi cho đàn khỉ đừng qua phá vườn chùa. Cứ nghĩ đến chúng là thầy nóng ran cả người, vì bây giờ bắt buộc thầy phải tìm một cách để đuổi lũ khỉ về rừng mà không gây thương vong cho chúng.
Bất giác nhà sư nghĩ ra một kế đuổi khỉ nhanh gọn, an toàn, chắc ăn nhất mà thầy tự hào đặt cái tên là: Kế hoạch đuổi khỉ của thiền sư.
Bắt đầu nhà sư đan một giỏ tre, ràng thêm dây sắt cho chắc, treo vào giữa một chùm chôm chôm chín đỏ, hai đầu làm hai cái hom như hom lờ bằng sắt nhọn để vừa tầm tay khỉ lọt vào đến chùm chôm chôm. Xong thầy đem ra vườn ngụy trang cho khỉ đừng biết, rồi treo lên cây chôm chôm sai oằn mới vừa chín. Thầy dùng dây cột giỏ tre vào thân cây cho chắc, đây là giai đoạn đầu bẫy khỉ.
Đêm nay đàn khỉ quen thuộc, đi qua vườn leo lên cây hái ăn dễ dàng, một chú khỉ lớn thấy chùm chôm chôm là lạ chín đỏ, chú sờ thử, thò tay vào lấy một quả. Rõ ràng chú bị sập bẫy, tay đưa vào cầm trái chôm chôm mà rút ra không được, bị cái hom lờ đâm ngược vào tay chảy máu, còn tay kia chú đưa vào cái hom bên kia để gỡ, không ngờ dính luôn hai tay, đành ngồi chịu trận mặc cho bạn bè thân nhân nó về rừng khi trời chưa sáng.
Sáng ra một chú khỉ to đùng ngồi dấu mặt bên cái bẫy tre không nhúc nhích, vì lay động thì mấy cây sắt nhọn đâm sâu vào thịt càng đau. Nhà sư gỡ bẫy bắt con khỉ đem về chùa. Thầy nói: Được rồi để thầy làm cho chúng bây hết phá.
Chiều nay, cơm nước xong thầy bắt con khỉ ra, dùng vôi bột pha màu trắng, màu xanh, màu đen, màu đỏ. Phần đầu, phần đuôi thầy sơn màu trắng bạch, cặp mắt thầy sơn màu đen to lên như hai quả măng cụt, phần bụng và lưng thì thầy sơn vằng vện, màu trắng, màu đỏ, màu xanh, xong thầy đem cột nó vào chuồng. Giờ đây nhìn thấy không phải là chú khỉ nữa mà như là một quái vật.
Hôm nay, quá nửa đêm trời trăng mập mờ, đàn khỉ đua nhau ăn chôm chôm kêu chí chóe. Độ gần sáng thầy mở cửa chuồng cho con khỉ quái vật chạy ra rồi nhà chùa đập thùng la ó...
Thật kỳ diệu, đàn khỉ nhìn thấy con gì như nhà khỉ mà mình mẩy vằn vện lạ kỳ, chúng sợ hoảng vía, vừa chạy vừa kêu inh ỏi. Bên rừng con khỉ chúa đưa ngọn tre oằn xuống, đàn khỉ giành nhau chạy về. Nỗi sợ con khỉ ma quái cộng thêm tiếng gõ thùng la ó của nhà chùa, đàn khỉ chạy về dồn dập không giữ được cân bằng, cây tre cong oằn, đàn khỉ tuột nhào xuống suối chết theo dòng nước. Nhìn đàn khỉ đổ nhào chìm lĩm theo dòng suối, nhà sư la lên... chết rồi, chết rồi!! Thầy lặng người uất nghẹn nói trong hơi thở.
- Trời ơi! Lòng ta chỉ quyết đuổi chúng về rừng thôi, mà giờ đây chính ta, một nhà sư ở chùa phải mang tội giết chúng sinh!!
- Dù việc làm vô tình, nhưng hàng đêm mỗi lần công phu khuya, tay gõ mõ, mà tâm trí thầy vẫn thấy rõ hiện trường từng chú khỉ một rơi xuống dòng nước, chới với, lững lờ rồi chìm lỉm!!
- Một chút suy tư của một Phật tử hỏi thầy.
- Sao thầy ở chùa giàu lòng từ bi lại để hậu quả lỗi lầm to lớn như thế?
Giọng buồn buồn thầy đáp với tâm tư còn trói buộc:
- Vì chôm chôm nhà chùa lúc đó nó phủ đầy cả năm ấm của nhà sư!!
Giờ đây mỗi lần nhớ chuyện đuổi khỉ, thầy khuyên Phật tử một bài học ở đời là:
“Đừng CỐ ghét cái xấu của người. Lỗi lầm nào cũng có nguyên nhân từ cái TA đầy tự hào to lớn đó”.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét