THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012
LỢI ÍCH CỦA AN CƯ KIẾT HẠ
LỢI ÍCH CỦA AN CƯ KIẾT HẠ
Sau khi Ðức Phật thành đạo, trên bước đường vân du hóa độ, những người đầu tiên theo Phật có căn lành rất lớn, quyết chí tu hành, nên gặp được Phật, là đắc quả liền. Ðiều này được Phật giáo Ðại thừa gọi là “Nhựt xuất tiên chiếu”, tức mặt trời vừa mọc chiếu sáng trên đỉnh núi.
Ðến khi Ðức Phật vang danh uy đức thì có hàng ngàn đồ chúng theo Ngài, hàng vua chúa cũng như những giáo chủ nổi tiếng của hàng ngoại đạo thời bấy giờ đều phải kính nể Ngài, theo học với Ngài. Và khi có quá nhiều người theo Phật thì thành phần đồ chúng không phải chỉ thuần là các vị Thánh Tãng như thời kỳ đầu nữa, mà có cả những người nghèo đói đi theo Phật để cầu thực, khác với những vị cầu đạo trước kia. Người cầu đạo thì không nghĩ đến ăn, mặc, ở, kể cả mạng sống cũng không màng đến. Còn ngwời cầu lợi dưỡng luôn coi trọng việc ăn, mặc, ở, coi trọng thân ngũ uẩn; cho nên cuộc sống của họ bị vật chất chi phối rất nặng nề.
Và khi hàng vạn người đi theo Phật, thì tất yếu dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc tu hành; vì sự ăn mặc bị thiếu thốn, bởi thí chủ không thể cúng dường cho quá nhiều người, ngoài ra, vì phàm phu nên việc ốm đau, bệnh hoạn dễ xảy ra, lại gặp mưa to gió lớn trong mùa mưa bão ở Ấn Ðộ rất khủng khiếp cũng gây rất nhiều trở ngại, khó khăn cho việc du hành, người bị bệnh nặng phải chết, hay bị nước cuốn trôi chết, bị mất y bát, v.v… Vì vậy, Ðức Phật mới chính thức ban bố luật an cư cho chúng Tãng và Ðức Phật cũng an cư, không du hành. Tuy nhiên, việc an cư cũng phải có nguyên tắc.
Như vậy, qua thời kỳ thứ hai, gọi là “Nhật thăng phổ chiếu”, thì số người thường tùy theo Phật đông, trong đó hầu hết các vị Thánh Hiền, mỗi vị đều tìm hang động ẩn cư; còn số đồ chúng đa nghiệp không du hành khất thực được, mà ở yên một chỗ để tu và có Phật tử cúng dường, gọi là đàn việt tống thực. Vì vậy, Ðức Phật khuyến hóa chư Tãng phải an cư và Phật tử tại gia cúng dường hộ đạo.
Ðiều Phật dạy đàn việt hiến cúng để chư Tãng ở một chỗ tu hành trong ba tháng an cư có trái với luật Phật dạy trước kia là phải đi khất thực hay không ?
Lúc khởi đầu, Phật thuyết pháp ở Lộc Uyển cho năm anh em Kiều Trần Như, Ngài có chỉ đạo rõ rằng các Tỳ kheo không được đi khất thực, duy nhất một mình Phật đi khất thực. Sau đó, Kiều Trần Như đắc quả A la hán, Phật cho phép ông cùng với Phật đi khất thực, 4 Tỳ kheo còn lại phải ở yên tu hành, thấp nhất là phải đắc được quả Tu đà hoàn mới được đi khất thực. Vì Tu đà hoàn là vị đã tự tại đối với hoàn cảnh bên ngoài và nội tâm bên trong, nghĩa là không còn bị thiên nhiên chi phối và không bị phiền não quấy rầy. Người tu còn bị sự tác động của thiên nhiên và phiền não thì đi khất thực sẽ có hại hơn là có lợi. Khất thực đúng pháp không phải vì ăn mà đi xin, nhưng sử dụng duyên khất thực như là một phương tiện để giáo hóa mọi người; còn vì ăn mà đi xin là ăn mày thực sự. Mà muốn giáo hóa người thì phải giáo hóa mình trước. Vì vậy, giáo pháp Phật là tam chuyển Pháp luân, tức thị chuyển, chứng chuyển và khuyến chuyển. Thị chuyển là nói giáo pháp, chứng chuyển là nói việc tu hành của mình, phải đắc đạo mới đem thành quả tốt đẹp này dạy cho ngýời được, là khuyến chuyển. Còn học giáo lý mà không thực hành, rồi dạy người, chỉ là nói suông. Tu hành phải được mức tối thiểu là không bị thiên nhiên chi phối, không sợ đói khát, nóng lạnh, nước cuốn, mưa bão và tâm đứng yên, phiền não không khởi, dù gặp việc gì, lòng cũng không giao động. Chư Thiên đến cúng dường cũng không mừng, Dạ Xoa nuốt cũng không lo. Ðó là trạng thái của người đắc sơ quả, các Thầy đi khất thực phải nhớ điều này, không sợ, không mừng, không lo, không giận, không có gì có thể đe dọa mình. Ráng giữ được tâm đó thì mang thân giải thoát và tâm thanh tịnh đi vào đời khất thực, quần chúng trông thấy sẽ phát tâm. Tổ sư Minh Ðãng Quang xưa kia cũng ở trạng thái này, thiết nghĩ ít nhất Ngài cũng đắc sơ quả, nên Ngài không sợ bệnh hoạn, không sợ đói khát và không sợ chết chóc. Chính sở đắc của Tổ đã tác động đến những vị đệ tử đầu tiên gặp Ngài tự nhiên không thiết gì đến cuộc đời này và nhất định đi tu. Các vị khất sĩ du Tãng ngày nay phải học cốt lõi này để đạt cho được y bát chân truyền theo ý của Tổ đề xướng.
Về sau, khi cả năm anh em Kiều Trần Như đắc quả La hán, Ðức Phật mới phân công cho mỗi ngýời đi một phương. Ðiểm này gợi chúng ta nhớ rằng phải đắc La hán mới đi một mình được; vì tâm các vị La hán đã thanh tịnh, thân đã giải thoát, ví như con tê giác một sừng thẳng đường tiến tới, không sợ và không có gì cản trở được. Chưa đắc quả, các sư không nên một người đi một phương. Trước kia, Phật nói mỗi người một phương; nhưng đến thời kỳ thứ hai, Phật dạy khi đi, các Thầy phải hai người cùng đi. Vì đối với các vị Thánh La hán, tâm vô nhiễm, nên các Ngài đi giáo hóa rất tuyệt vời, không có gì có thể tác hại các Ngài. Còn về sau, những vị theo Phật nhưng không đắc quả mà đi một mình rất nguy hiểm, thậm chí Phật còn khuyên các Thầy không nên đi chung với phụ nữ, vì sẽ khiến cho ngýời khác nghi ngờ.
Hai Tỳ kheo cùng đi sẽ bảo vệ cho nhau, giúp tránh được hành động xấu của người ngoài, hoặc một người bị sa ngã thì cũng có bạn cứu thoát. Không có bạn đồng tu hỗ trợ rất nguy hiểm trên bước đường tu; nhất là ngày nay các Thầy trẻ ở am cốc một mình, hoặc những vị lớn tuổi mà chưa đắc Thánh quả ở một mình nên cẩn thận. Chừng nào đắc La hán mới không sợ. Chưa đắc quả, phải nương chúng Tãng, không sống riêng. Riêng tôi, trải qua hõn 60 nãm tu hành, không bao giờ tôi sống riêng. Sống với đại chúng, chúng ta cảm thấy an toàn.
Mới tu, sống chung với đại chúng, bị phê bình, cảm thấy bực mình, khó chịu; nhưng nhờ như vậy chúng ta mới phát hiện ra nghiệp và phiền não của mình rất nhiều. Phải biết rằng còn bực bội, còn khó chịu là còn ác nghiệp, phải sám hối, không thì uổng cả cuộc đời xuất gia. Ðến bao giờ các anh em đồng tu không phê phán thì biết mình tương đối được; đến bao giờ tâm đứng yên, không bị lợi danh tình ái chi phối là mình được giải thoát. Nhờ người chung quanh phê bình, chúng ta kiểm chứng được chính bản thân mình. Vì vậy, Phật dạy con mắt của Tãng quan trọng, vì đó là con mắt của tập thể; nói cách khác, những ngýời cùng tu thấy chính xác và chỉ ra những lỗi lầm, chúng ta nên lóng nghe để tự sửa mình, vì mình ít thấy được lỗi mình.
Theo luật an cư, Phật dạy các Thầy đều phải đối thú an cư, tức phải nương nhau tu. Nương nhau về thân mạng, nương nhau về tu tập và nương nhau về tình cảm. Theo kinh nghiệm riêng tôi, trải qua nhiều năm hành đạo, tôi thấy việc an cư có nhiều lợi ích vô cùng, chưa nói đến lợi lạc về tu tập. Nhờ an cư, chúng ta mới có cơ hội sống chung với chư Tãng ở khắp nơi tập họp về, nên trước nhất chúng ta học với nhau phong tục tập quán của các nơi, để sau này làm du Tăng khất sĩ, chúng ta không bị trở ngại trong việc hành đạo. Tôi thuyết giảng được nhiều nơi là nhờ có nhiều bạn đã cùng an cư. Thật vậy, khi tập họp lại, có điều kiện gặp gỡ và trao đổi với các vị cao Tăng, chúng ta học được ở các Ngài rất nhiều điều thiết thực. Tôi ra miền Bắc mở đạo tràng thành công, nhờ biết rõ miền Bắc là cái nôi của Phật giáo, nên tôi đến đảnh lễ Hòa thượng Pháp chủ Thích Ðức Nhuận, đắp y thưa thỉnh Ngài chỉ giáo, thì Ngài thương mình có tấm lòng thành thật, Ngài mới kể cho tôi nghe về hành trạng của các vị Tổ miền Bắc, về những điều không có trong sách vở. Chư Tổ đắc đạo mới có khả năng làm cho vua chúa đương thời phải kính nể, nên việc hành đạo của các Ngài thành công rực rỡ, ghi lại dấu ấn vàng son cho lịch sử Phật giáo nước nhà. Ngày nay, nếu chúng ta áp dụng được điều này, chắc chắn hành đạo sẽ không gặp khó khăn. Và Hòa thượng còn dạy tôi rằng ở miền Bắc đang xây dựng Xã hội chủ nghĩa thì Thầy thuyết giảng những gì không chống trái lại mới được và muốn Phật giáo phát triển ở miền Bắc, ta nên khuyến khích Phật tử làm tròn bổn phận công dân là tăng gia sản xuất và chúng ta càng làm được nhiều việc lợi ích cho xã hội càng tốt.
Hoặc muốn lên Tây nguyên giáo hóa, chúng ta hỏi thăm về đời sống đồng bào ở đó như thế nào, đời sống kinh tế ra sao, để chúng ta có thể thích nghi với hoàn cảnh sống nơi đó và biết dạy người dân địa phương những gì họ cần, tức cho những cái họ cần, không phải cứ nhất định cho cái ta có là giáo lý. Giả sử họ cần thức ăn, chúng ta cho họ thức ăn kèm theo giáo lý; nhưng giáo lý đó không phải là ta thuyết pháp như ở thành phố, mà giáo lý này là thân giáo và ý giáo, tức tình thương của chúng ta mới quan trọng. Nghĩa là chúng ta bố thí, giúp đỡ thức ăn, vật dụng với tất cả tấm lòng từ bi. Họ cảm tâm của chúng ta, nên sanh ra tâm kính mến chư Tãng, kính trọng đạo Phật và muốn tìm hiểu giáo lý; bấy giờ, chúng ta mới giảng dạy giáo lý.
Hoặc về miền Tây hành đạo, chúng ta hỏi thăm các sư nào thành đạt nhất, cảm hóa được dân miền Tây, chúng ta học theo. Ở miền Tây có đạo Hòa Hảo phát triển song song với đạo Phật, nhờ họ phổ biến những bài kinh bằng văn vần lục bát dễ học, dễ hiểu, dễ chấp nhận. Các sư về đó nên lưu ý điều này. Ngoài ra, chúng ta phải thực tập cho được pháp đồng sự nhiếp, không sống cách biệt với người dân địa phương để chúng ta có thể chia sẻ được với họ, mới dễ cảm hóa họ.
Trong thời kỳ các vị Hòa thượng miền Trung đi theo người di dân vào miền Nam, các Ngài sống với họ và chỉ dạy họ phương cách sản xuất để tăng năng suất cao và các Ngài cũng biết chữa bệnh bằng cây thuốc. Phải nói lúc bấy giờ, Phật giáo miền Nam phát triển không do giáo lý, nhưng do các Hòa thượng làm Thầy thuốc đông y rất giỏi, chữa khỏi bệnh cho dân chúng. Vì vậy, họ kính phục, thương mến, mới tin theo và phát tâm xây dựng từ chùa nhỏ đến chùa lớn, khi đời sống của họ khá lên.
Trên bước đường tu, tôi sang Nhật tham vấn một số Thiền sư và các vị tu pháp môn khác nhau, tôi được các Ngài chỉ dạy rằng ăn uống ngủ nghỉ như thế nào và tu làm sao để bảo đảm được sức khỏe tốt, để làm việc không mệt mỏi. Người tu mà không học kinh nghiệm của người trước để phạm sai lầm, bệnh liên miên, thì đạo quả không thành được. Tôi xin chia sẻ một kinh nghiệm nhỏ, khi còn là Sa di, tôi đọc giới không ăn chiều, và nghĩ rằng mình thọ giới rồi, mà ăn chiều, nên trong lòng cảm thấy bất an, tôi quyết định không ăn chiều. Một thời gian sau, tôi bị đau bao tử mãn tính, cảm thấy khó chịu và cũng khó tu. Bác sĩ mới nói rằng muốn tu cũng cần có kiến thức khoa học để bổ sung cho việc giữ gìn sức khỏe. Ông nói tôi còn quá trẻ, cõ thể đang phát triển nên cần chất dinh dưỡng rất nhiều, mà lại tự hạn chế việc ăn uống, không ăn chiều, sẽ thiếu chất dinh dưỡng trầm trọng, coi chừng bệnh rồi chết. Không ăn chiều, cảm thấy đói, vì dịch vị tiết ra để tiêu hóa chất béo, nhưng không có chất béo thì dịch vị sẽ gậm nhấm bao tử và phá hư bao tử, làm cho bị đau lâm râm là vậy. Và khi đói, nhìn thấy thức ăn, hay nghe mùi thức ăn, nước miếng chảy ra, mà nước miếng có tác dụng tiêu hóa tinh bột hay thức ăn nói chung. Nước miếng tiết ra thì mình nuốt vô, nó cũng sẽ bào mòn bao tử thêm nữa, làm cho đau hơn nữa. Vì vậy, bác sĩ khuyên tôi phải ăn chiều, không ăn, nhất định phải chết. Tôi mới hỏi Hòa thượng Thiện Hòa việc này. Ngài dạy tôi rằng cơm chiều là thuốc để chữa bệnh đói cho mình và chữa bệnh bao tử. Còn đói là còn bệnh, thì phải chữa và tự thấy mình có bệnh nghiệp này, không bằng các Thầy tu khác, nên khi chúng ta ăn chiều, phải sanh tâm hổ thẹn vì ăn để không bệnh, được mạnh khỏe để tiến tu đạo hạnh, không phải tham ăn.
Tóm lại, điều cơ bản nhất đối với tất cả chúng ta, những người xuất gia tu hành chưa đắc quả Tu đà hoàn, phải tập họp an cư; nhờ đó, chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm mà các vị tu hành ở khắp mọi nơi đã trải qua, nay họ về cùng tu với chúng ta. Thậm chí chúng ta cũng có thể học được với những vị tu sĩ ở nước ngoài về thãm quê hương trong ba tháng hạ, học hỏi cách sống, cách hành đạo như thế nào và họ đã làm được gì, để khi có duyên hành đạo ở những nơi đó, chúng ta cũng đã có được phần nào những kiến thức cần thiết giúp mình được lợi lạc.
Chưa đắc Thánh quả, chúng ta học hỏi những kinh nghiệm sống bình thường với các pháp lữ đồng tu, hoặc chia sẻ kinh nghiệm của mình cho họ. Ngoài ra, điều thứ hai cao hơn là tập chúng an cư, chúng ta được sống với những vị Tỳ kheo có 5,10, 20, hoặc 30 tuổi hạ. Họ đã trải qua quá trình tu hành dài lâu, nên có được những sở đắc và cũng có cả những việc thất bại. Chúng ta đảnh lễ để các Ngài thương mà chỉ dạy cho chúng ta kinh nghiệm tu hành rất quý báu mà các Ngài thiết thân thể nghiệm, thậm chí có nhiều điều các Ngài phải trả giá rất đắt trong cuộc đời tu mới biết được. Chúng ta học kinh nghiệm tu hành vô giá đó, chứ không phải học kinh nghiệm sống bình thường, mới có thể khắc phục được nội chướng lẫn chướng duyên bên ngoài, để bảo vệ được giới thân huệ mạng của chính mình.
Cầu mong tất cả hành giả an cư học hỏi và thực tập được nhiều điều lợi lạc cho việc thăng hoa trí tuệ và đạo hạnh của mình, để sau ba tháng, mang hành trang là Thánh tài vô tận, trở về bổn xứ, cảm hóa được nhiều người cùng làm việc tốt đẹp cho xã hội, lợi lạc cho đạo pháp, xây dựng được Tịnh độ trên nhân gian này./.
LỢI ÍCH CỦA SỰ NIỆM PHẬT
Pháp Sư Tịnh Không khai thị Pháp Môn Tịnh Độ
Phần 1 : Rộng mở tâm lượng
Trong việc tu học Phật pháp, muốn tự nâng cao cảnh giới của chính mình, có rất nhiều phương pháp. « Mở rộng tâm lượng » là một trong các phương pháp đó.
Trong đại thừa kinh điển, chúng ta thấy các vị pháp thân đại sĩ, tức là những người đã minh tâm kiến tánh, tâm lượng của các ngài rộng lớn như hư không, bao trùm cả pháp giới, vì thế, cái nhìn của các ngài đối với tất cả chúng sanh trong hư không và khắp pháp đều bình đẳng. Thế nào là bình đẳng ? Vô niệm là bình đẳng, còn có niệm là không bình đẳng. Phật trụ vô niệm.
Trong Kinh Kim Cang có câu : « Ưng vô sở trụ, sở trụ vô trụ » . « Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm », vô trụ tất cả là Phật trụ, mà vô trụ là vô niệm.
Chúng sanh trong chín pháp giới còn có chỗ để trụ. Ví như :
• Chư Bồ Tát trụ ở cảnh giới Lục Độ.
• Duyên Giác trụ ở Nhân Duyên.
• Thanh Văn trụ ở Tứ Đế.
• Ngạ quỷ ở cảnh giới Tham.
• Địa ngục trụ nơi Sân.
• Súc sinh trụ ở cảnh Si Mê.
Tâm của tất cả chúng sanh nầy đều còn chỗ để trụ, để dính mắc. Nói cách khác là tâm của chúng ta như thế nào, thì cảnh giới của chúng ta như thế đó.
Phàm phu chúng ta muốn trụ nơi cảnh giới vô trụ của Phật, là điều không thể đạt được. Tuy nhiên, Phật thường dạy cho chúng ta một phương pháp vô cùng thù thắng và tiện lợi, để có thể dự vào cảnh giới vô trụ của các ngài. Đó là pháp môn niệm Phật.
Bồ Tát trụ ở nơi lục độ ; chúng ta trụ nơi Phật trụ. Như vậy chúng ta được nâng cao hơn đẳng cấp của Bồ Tát, thế nhưng, tiếng niệm Phật của chúng ta phải tương ưng. Thế nào gọi là tương ưng ? Mỗi một tiếng niệm Phật, chúng ta phải trải lòng từ bi của mình đến với tất cả chúng sanh trong hư không và lan rộng đến khắp pháp giới. Mỗi tiếng niệm Phật đều vì lợi ích chúng sanh, đều mang lòng ban vui cứu khổ đến cho mọi loài.
Có người hỏi : « Tiếng niệm Phật của chúng ta thực tế có lan rộng đến hư không khắp pháp giới hay không ? » Khẳng định là được !
Trong kinh Phật nói : « Tướng không rời tâm, tâm không rời tướng ». Cái chân tâm của chúng ta, nguyên gốc của nó rộng khắp hư không, trùm khắp pháp giới. Sở dĩ tiếng niệm Phật của chúng ta không hoà nhập vào với hư không, là vì chúng ta còn nhiều vọng tưởng, phân biệt và chấp trước làm chướng ngại bản năng tự nhiên của mình. Nếu âm ba của tiếng niệm hoà nhập với âm ba của tâm, tức chân tâm lan rộng vào hư không, tiến sâu vào khắp các pháp giới, cho dù chư Phật thuyết pháp ở xa xôi, bất luận nơi nào, một khi tâm đã lắng động, không còn chướng ngại chúng ta vẫn có thể nghe được âm thanh lời pháp của các ngài rõ ràng, vì tâm từ bi của các ngài luôn trải rộng đến cõi Ta Bà này của chúng ta, cũng như chúng sanh ở các pháp giới khác. Đây là sự thật, không hề hư dối.
Vậy thì âm ba của Phật có thể rộng khắp, âm ba phàm phu của chúng ta cũng có thể rộng khắp, cho nên mở rộng tâm lượng trong pháp môn niệm Phật là một phương pháp rất vi diệu, rất đặc biệt thù thắng, có thể khiến phàm phu trong một kiếp được bình đẳng, được thành Phật.
Người thật sự biết niệm Phật, sự lợi ích, niềm an lạc mà họ đạt được, phàm phu chúng ta không thể nào hiểu thấu, mà họ cũng không thể giải thích rõ cho chúng ta, vì có giải thích, chúng ta cũng không hiểu. Giống như ai uống nước, tự người đó biết nóng hay lạnh, mùi vị ngọt đắng ra sao vậy. Nguyên tắc thuyết pháp của chư Phật cũng thế ! Những điều chúng sanh có thể hiểu được, các ngài mới nói ; nếu không hiểu được, tuyệt đối đều không nói.
Tóm lại, công phu niệm Phật có đắc lực hay không, chúng ta có thể thấy biết qua cảnh giới tâm lượng và sắc tướng của người đó.
Một khi công phu niệm Phật đắc lực rồi, chắc chắn trên gương mặt của chúng ta sẽ luôn tỏ ra niềm vui an lạc tự tại, trong đạo Phật gọi là pháp hỷ sung mãn.
Chúng ta đọc kinh sách thường nghe những người tu hành chứng quả A La Hán, là hàng thánh đạt tới mức chánh định, thân tâm an ổn, không còn thối chuyển. Tất cả những người do công phu thiền định mà tâm không ô nhiễm chuyện buồn lo, thân xa lià cảnh vui khổ của thế gian, đều được chứng nhập vào cảnh giới tam ma địa, tức là cảnh giới không còn sanh diệt. Phàm phu chúng ta nếu còn một phẩm vô minh chưa dứt đoạn muốn chứng vào cảnh giới cao cấp này, chỉ còn cách nương theo pháp môn tiện lợi nhất, đó là niệm Phật cầu sanh Tịnh độ.
Phần 2 : Pháp Môn Tha Lực
Chỉ cần sanh về thế giới Tây phương Cực Lạc, chúng ta sẽ chứng cảnh giới tam ma địa. Tất cả cảnh bất sinh diệt này, sự chứng đắc này thật ra hoàn toàn không phải do công phu ở chính mình, mà do một phần tha lực của đức Phật A Di Đà hỗ trợ, cho nên pháp môn Tịnh độ còn gọi là pháp môn tha lực. Nói một cách rõ hơn, tự lực là năng lực của chính mình, y theo lời dạy của chư Phật mà niệm Phật để có thể hàng phục được những tập khí.
Một khi công phu niệm Phật thành khối, nhờ sức gia trì của Phật A Di Đà, sanh về thế giới Cực Lạc, vào được cảnh giới Tây phương gọi là tha lực.
Pháp môn nhị lực này là pháp môn duy nhất được chư Phật đề cập trong Tịnh độ tông. Ngoài sự chứng nhập cảnh giới tam ma địa, còn đạt nhất thiết Đà La Ni. Đà La Ni là tiếng Phạn, người Trung Hoa dịch là tổng trì. Tổng là hợp tất cả các pháp. Trì là giữ, làm theo tất cả giáo lý của Phật. Nói theo danh từ hiện nay tổng trì Đà La Ni là toàn toàn bộ nguyên tắc dạy chúng ta làm tất cả điều thiện, xa lìa các điều ác.
Hôm nay chúng ta cùng nhau tụ về nơi này để niệm Phật, cũng có thể gọi là ỡ tổng trì Đà La Ni ữ, bởi vì suốt một ngày một đêm, chỉ duy nhất giữ câu A Di Đà Phật. Tất cả những vọng niệm, suy nghĩ khác không còn nữa. Vọng niệm không còn, những việc ác không thể xảy ra, như vậy là xa lìa tất cả ác. Một câu vạn đức hồng danh thiện pháp cao tột của thế gian và xuất thế gian, chúng ta chấp trì từng câu liên tiếp không ngừng, để tăng trưởng thiện căn, đó là tất cả điều thiện. Ý nghĩa câu ỡ đắc nhứt thiết Đà La Ni ữ là như vậy. Khi bước chân vào niệm Phật đường, chúng ta đã đạt được ỡ nhất thiết Đà La Ni ữ, nhưng khi vừa ra khỏi, liền quên mất công phu niệm Phật. Tuy nhiên, một tuần 7 ngày, chúng ta có được một ngày chuyên nhất niệm Phật, đạt tâm không sanh không diệt nhất thiết đà là ni. Như vậy, chúng ta cũng đã giỏi lắm rồi !
Mỗi tuần 1 ngày đến niệm Phật, niệm liên tiếp ba năm, công phu của chúng ta đáng nể phục lắm. Khi có thì giờ rổi rảnh, mỗi ngày đều niệm Phật trong vòng ba năm thôi, chúng ta sẽ thành Phật ngay. Bao nhiêu nghiệp tội trong bao nhiêu lượng kiếp đều dứt sạch. Trong quyển Vãng Sanh Truyện, những người niệm Phật được vãng sanh ngay trong kiếp hiện tại này của chúng ta thật nhiều vô số kể. Người niệm Phật vãng sanh có nhiều hình thức : Có người đứng, có người ngồi tự biết trước giờ ra đi, không một chút bịnh hoạn, ra đi một cách vui vẻ tự tại, đẹp đẽ trang nghiêm. Kết quả vãng sanh này đều do công phu niệm Phật chuyên cần.
Phần 3 : Giải trừ nghiệp chướng
Pháp môn Tịnh độ, một pháp môn hiển bày bốn chữ tiện lợi dễ dàng một cách rõ rệt. Nếu quý vị không hiểu những lý luận trong kinh, cũng không thành vấn đề, vẫn có thể thành tựu. Nếu bảo không cần hiểu nghĩa lý trong kinh, chỉ một lòng thành tâm niệm Phật, mà có thể thành tựu, vậy tôi vẫn phải giảng kinh thuyết pháp nữa để làm chi ? Sở dĩ tôi vẫn phải mỗi ngày thuyết giảng không ngừng, đem những lời hay ý đẹp của đức Thế Tôn ra nói là vì mong quý vị hiểu, mong quý vị giác ngộ, bởi vì quý vị đây không đủ phước báo, suốt ngày vọng tưởng, suy nghĩ lung tung. Vậy ai là người có đủ phước báo ? Là những người thật thà chất phác, suốt ngày chỉ ôm giữ một câu A Di Đà Phật, việc gì cũng không nghĩ tưởng. Do đó công phu niệm Phật của quý vị có thể đến lúc không còn vọng niệm, chỉ còn một câu A Di Đà Phật, thì lúc đó tam tạng, mười hai bộ kinh điển mà Thế Tôn suốt 49 năm thuyết pháp đều là dư thừa, quý vị không cần đến đây nghe tôi giảng giải nữa.
Cho nên Phật độ chúng sanh có hai hạng người dễ độ : Một là những người thượng căn lợi trí. Vừa nghe qua liền thông đạt, liễu ngộ dứt sạch vọng niệm.
Hai là những người thật thà ngu dốt, họ không cần tìm hiểu nhiều. Bảo họ niệm Phật là họ cứ ngoan ngoản, thật tình chấp trì, không nghĩ tưởng điều gì ngoài niệm Phật. Còn loại Thứ ba là những người lưng chừng thích khiêng vác ôm đồm, tìm hiểu suy nghĩ lung tung. Quý vị biết không ? Chúng ta thuộc loại người thứ ba này đó, loại người nhiều rắc rối.
Cho nên đức Thế Tôn suốt trong 49 năm khổ nhọc mỗi ngày không ngừng nói pháp cũng vì những người nhiều rắc rối như chúng ta. Ngài phải đem pháp ly ác giảng nói tỉ mỉ ra cho chúng ta, mong rằng sau khi quý vị đã hiểu rõ rồi thì phải biết buông xả. Trên thế gian này, người biết buông xả, không có vọng niệm là người có đại phước báo ; tuyệt đối không phải có nhiều tiền tài, địa vị cao. người có địa vị tiền tài chỉ được hưởng thụ đời sống vật chất độ vài ba năm, sau khi chết rồi sẽ ra sao ? Tam đồ lục đạo phải chịu luân hồi, như thế có phải là phước đâu ? Nếu tâm không chút vọng tưởng, suốt ngày chỉ câu A Di Đà Phật, người này chỉ vài năm sau là đã thành Phật được rồi. Hiểu được như vậy thì quý vị mới biết công đức niệm Phật thật vô cùng thù thắng, không gì sánh bằng.
Đức Thế Tôn sở dĩ phải bày ra phương tiện nói ra ba thừa, chỉ vì muốn dẫn độ chúng sanh mà thôi. Mục đích duy nhất của Ngài là mong cho chúng ta một đời có thể thành Phật. Có người hoài nghi rằng : ỡ Tôi rất ngu si, chậm hiểu, nghiệp chướng lại sâu dày, có thể thành Phật được không ? ữ Trong kinh điển, Phật thường nói : ỡ Chỉ cần một câu danh hiệu Phật có thể tiêu trừ 80 ức kiếp sanh tử tội nặng ữ. Chúng ta thử nghĩ xem : Suốt một ngày một đêm ở niệm Phật đường, chúng ta đã niệm được rất nhiều tiếng, vậy thử tính xem tội chướng của chúng ta đã tiêu trừ được biết bao nhiêu rồi. Điều này chắc thật không sai ! Vì lời Phật nói không hề hư dối, chắc chắn có hiệu quả tốt, không thể nghĩ bàn. Thế nhưng, vì sao nhiều người niệm Phật suốt một ngày đêm mà nghiệp chướng vẫn còn đầy ? Bởi vì nghiệp chướng của người này quá nhiều. Do đó, công đức niệm Phật một ngày đêm dù giúp họ tiêu trừ đi rất nhiều, mà chưa dứt hẳn. Cho nên cần phải mỗi ngày đều niệm Phật, mỗi ngày giảm bớt đi nghiệp chướng. Phật dạy chúng ta rằng : ỡ Năng lực quan trọng nhất để giải trừ nghiệp chướng trong lúc niệm Phật là không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn ữ. Với ba yếu tố này, năng lực của không xen tạp mạnh nhứt. Nếu chúng ta giữ được liên tục, không gián đoạn trong 3 năm, cho dù nghiệp chướng sâu dày bao nhiêu của vô lượng kiếp đều có thể giải trừ hết. Làm sao biết được không còn nghiệp chướng ? Hãy nhìn lúc quý vị vãng sanh, có thể ra đi bằng cách ngồi hoặc đứng rất là tự tại. Sau khi về cõi Tây phương Cực Lạc, không phải trụ ở cảnh giới phàm thánh đồng cư, cũng không phải trụ ở tứ độ vãng sanh mà dự vào hạng thượng phẩm vãng sanh.
Câu danh hiệu Phật giải trừ nghiệp chướng thật là bất khả tư nghì. Cho nên ngài Từ Vân Quán Đảnh Pháp Sư, trong lời chú giải của bộ kinh Vô Lượng Thọ nói : ỡ Chúng sanh nào từ vô lượng kiếp tạo tội tạo nghiệp cực ác, cực sâu dày, bao nhiêu kinh luận, tất cả các sám pháp đều không thể sám trừ được, cuối cùng vẫn còn một phương pháp để có thể cứu vãn, đó là phương pháp niệm Phật ữ. Cho thấy công đức niệm Phật thật là to lớn, thù thắng vô cùng.
Phần 4 : Pháp Môn Tịnh độ
Trong kinh điển chỉ dạy rất nhiều phương pháp để chúng ta đi vào, nhưng không phải phương pháp nào cũng thích hợp với chúng ta cả. Muốn tu học phải biết tự nhận rõ căn tánh của mình, trình độ lý giải của mình. Nói theo danh từ hiện nay là trình độ hiểu biết, kèm theo khả năng trí nhớ, vì hai yếu tố này có quan hệ mật thiết với hoàn cảnh sống và việc làm của chúng ta. Cho nên từ trong rất nhiều phương pháp khác nhau, chúng ta phải chọn lấy một phương pháp phù hợp nhất với điều kiện của mình. Có như vậy việc tu học mới mong đạt kết quả dễ dàng.
Tuy nhiên chúng ta tự mình rất khó biết phải hạ thủ công phu từ đâu. Làm cách nào để lựa chọn phương pháp ? Phật nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp môn (84 000), làm sao biết được pháp môn nào là thích hợp ? Một khi lựa chọn không đúng pháp môn, thì chẳng những dụng công nhiều mà kết quả lại ít, sự tu học khó nhọc ở thế gian này cũng chẳng được một phần công đức nào, điều này là thật.
Chính bởi tình trạng như vậy, cho nên đức Thế Tôn mới vì chúng sanh thời mạt pháp này chỉ bày ra một con đường. Đó là pháp môn Tịnh độ. Pháp môn Tịnh độ cũng là pháp môn của chư Phật giúp chúng ta lựa chọn, thế nhưng pháp môn này cũng có rất nhiều phương pháp tu học. Tất cả chư Phật đều nhất khẩu đồng thanh chỉ dạy và giúp chúng ta lựa chọn phương pháp trì danh niệm Phật.
Trong kinh A Di Đà dạy chúng ta trì danh niệm Phật. Kinh Vô Lượng Thọ cũng dạy chúng ta trì danh niệm Phật. Trong Quán Kinh nói nhiều hơn. Ngoài trì danh niệm Phật ra, còn quán tưởng niệm Phật, quán tượng niệm Phật. Như vậy chúng ta thấy rõ ràng trong ba bộ kinh A Di Đà, Vô Lượng Thọ và Quán Kinh, Phật đều khuyên chúng ta giữ phương pháp chấp trì danh hiệu Phật. Chính vì thế chúng tôi lựa chọn và đề xướng phương pháp này.
Qua phương pháp trì danh niệm Phật, những người được lợi ích rất nhiều, kết quả vãng sanh vô số kể. Nếu theo phương pháp này mà chân chính tu hành sẽ rất cận kề với Hoa Nghiêm Tam Muội, lại hội đủ nguyên tắc hiện thực Bách Thiên Tam Muội. Thật là một pháp môn không thể nghĩ bàn, một pháp môn đơn giản, dễ dàng, chắc chắn, mau chóng. Chỉ cần buông xả vạn duyên, giữ chặt câu hiệu Phật niệm tới.
Một số người niệm Phật, công phu không được đắc lực, vì không buông xả được vạn duyên, tự tạo cho mình một chướng ngại trầm trọng. Chướng ngại này, người khác không thể nào giúp. Chư Phật Bồ Tát cũng không thể giúp. Nhất quyết phải do chính bản thân mình chịu buông xả. Bất luận điều gì không nên chấp giữ trong lòng..., chỉ giữ một câu A Di Đà Phật. Trong tâm nương theo Phật mà niệm Phật, hiện tiền, tương lai nhất định thành Phật.
Phần 5 : Tự hành hoá tha
Chư cổ đức thường nói : « Phát bồ đề tâm nhất hướng chuyên niệm câu A Di Đà Phật là một pháp môn vô cùng thù thắng, mau chóng và chắc chắn ». Mau chóng ở chỗ nào ? Trong Quán kinh nói thị tâm thị Phật, có nghĩa tâm này tức là Phật. Thị tâm thị Phật, có nghĩa tâm này làm Phật.
Hai câu này vô cùng quan trọng, và gồm thu vô lượng vô biên các pháp môn mà chư Phật đã nói. Thị tâm thị Phật, nói về Lý, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có tâm, tâm của chúng sanh hữu tình là Phật tâm. Còn tâm của chúng sanh vô tình thì gọi là pháp tâm. Phật tâm và pháp tâm là một, chẳng phải hai. Thế nhưng một tâm sao lại biến thành hai hình tướng khác nhau ? Bởi vì một bên có tư có tưởng nên trở thành hữu hình. Ngược lại, thì biến thành vô tình chúng sanh.
Trong Pháp Tướng Tông nói rất rõ : « Tất cả chúng sanh bản lai là Phật ». Vậy nguồn gốc đã là Phật, hiện giờ lại phát tâm niệm Phật, làm Phật, có lý nào lại không thành Phật ! Do đó vấn đề then chốt để làm Phật là phải niệm Phật, vì niệm Phật là phương pháp chính yếu, phương pháp trực tiếp. Câu hỏi đặt ra là vì sao bảo chúng ta niệm Phật A Di Đà, mà không niệm danh hiệu các vị Phật khác ? Chúng ta đọc kinh Vô Lượng Thọ sẽ thấy rõ ràng là A Di Đà Phật là Quang Trung Chí Tôn, Phật Trung Chi Vương. Một vị Phật vĩ đại với quả đức vô cùng mỹ mãn cứu cánh và thiết thực, mà tất cả mười phương chư Phật đều đồng thanh tán thán.
Thưa quý vị, tất cả pháp đều do tâm nghĩ tưởng đến Phật A Di Đà, niệm Phật A Di Đà, chúng ta sẽ là Phật A Di Đà. Lý do khuyên bảo quý vị không nghĩ tưởng điều gì ngoài sự nhất tâm chuyên niệm A Di Đà Phật là như vậy.
Hơn nữa trong kinh Đại Tạng đã nói rất rõ ràng đầy đủ là « nhất giải nhất thiết giải » . Nghĩa là khi ta niệm một danh hiệu Phật A Di Đà, là niệm đủ mười phương ba đời tất cả chư Phật, do đó đừng lo ngại hay phân biệt, chấp trước rằng, niệm Phật này là bỏ Phật kia. Không phải thế !
Sau khi chúng ta đã nhận định rõ ràng sự thật được rồi, kế tiếp là phải vững tâm bền chí dũng mãnh dựa vào Phật thất trong niệm Phật đường. Phương pháp thường được nhắc đến trong niệm Phật đường là tự hành hoá tha, nghĩa là tự mình tu hành và lợi lạc độ cho người khác, do đó phải vào niệm Phật đường, cần phải cùng nhau tu tập.
Phần 6 : Niệm Phật đối trị vọng tưởng
Niệm Phật phải lấy kinh hành làm chính. Khi nào chúng ta mỏi thì ngồi xuống nghỉ ngơi. Giờ giấc ngủ nghỉ cố giảm thiểu tới mức tối đa, bởi vì ngủ là hôn trầm. Người nào ngủ nhiều, chứng tỏ người đó còn nhiều hôn trầm. Hôn trầm là lạc vào vô minh, nhiều vọng tưởng, lạc vào trạo cử. Không riêng gì trong lúc niệm Phật, khi làm việc mà hôn trầm, hoặc trạo cử đều bị chướng ngại. Trong nhà Phật gọi hai thứ chướng ngại này là : Hôn trầm và trạo cử.
Trạo cử là tâm xao xuyến, không định, bị nhiều vọng tưởng chi phối. Hôn trầm là u mê, không sáng suốt, ngủ gục.
Bình thường, ta không thấy có vọng niệm, nhưng khi ngồi yên xuống, vọng niệm mới nổi lên rất nhiều. Có người cho là do niệm Phật mà có. Thưa quý vị, không phải như thế ! Không phải do niệm Phật mà sanh nhiều vọng niệm đâu ! Thực tế trong lúc bình thường, chúng ta đã có rất nhiều vọng niệm rồi, nhưng chúng ta không để ý đó thôi. Khi ngồi yên lặng xuống niệm Phật, muốn thu nhiếp tâm lại, mới phát giác rõ ràng như thế. Với loại chướng ngại này, Phật đã chỉ cho chúng ta hai phương pháp đối trị :
Thứ nhất là dùng phương pháp chỉ tịnh để đối trị vọng tưởng, nghĩa là trụ ở một chỗ, hoặc trụ nơi danh hiệu Phật, hay niệm ở trong tâm cũng được, nếu không niệm thành tiếng. Cũng có thể nghe người khác niệm, chỉ cần dụng tâm chuyên nhất, vọng niệm tự nhiên tan biến. Tuyệt đối không nên tạo tác thêm vọng niệm, nghĩa là đừng nên có ý nghĩ miễn cưởng dập tắt vọng tưởng, nếu không sẽ có vọng tưởng tan theo vọng tưởng. Do đó dù có tưởng nhiều bao nhiêu cũng mặc kệ, đừng để ý đến làm gì. Hãy dồn hết tinh thần ý chí, tập trung vào câu danh hiệu Phật, hoặc tập trung vào quán tưởng, quán tượng. Quán tưởng điều gì đây ? Tưởng hình Phật. Hai mắt nhắm lại nghĩ đến hình ảnh của Phật, đến tướng hảo của Phật. Tóm lại cần phải tập trung tinh thần, ý chí mới có thể điều phục được vọng tưởng. Hầu hết tất cả các nguyên tắc dụng công vào nhằm một đích tiêu trừ vọng tưởng, hôn trầm, tạp niệm. để hồi phục lại bản tánh giác ngộ của mình. Nói chung, trong nhà Phật bất luận sự dụng công nào đều hy vọng đạt được 3 mục đích này.
Phương pháp thứ hai là đối trị hôn trầm. Nếu trong lúc ngồi niệm Phật bị hôn trầm, tốt hơn hết hãy đứng lên lạy Phật. Lạy Phật và kinh hành niệm Phật là phương pháp đối trị hôn trầm rất có hiệu quả. Lạy Phật làm cho tinh thần tỉnh thức. Trong lúc lạy Phật, điểm đặc biệt cần lưu ý là lạy Phật để sám hối, bởi vì nghiệp chướng, tập khí của chúng ta rất là nặng nề. Cho nên trong niệm Phật đường, nhất là người sơ học nên mỗi ngày đạt tiêu chuẩn trên 300 lạy là rất tốt, rất có lợi.
Chúng ta thường nghe trong đại thừa kinh điển nói rằng : « Tu hành trong thời mạt pháp, niệm Phật là pháp môn thù thắng nhứt » . Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bày nói 8 vạn 4 ngàn pháp môn, nói vô lượng pháp môn, đó không phải là bổn ý của ngài, chỉ vì ứng cơ thuyết pháp để dẫn độ chúng sanh mà thôi !
Phần 7 : Vãng Sanh Tây Phương Cực Lạc
Trong Vãng Sanh Truyện chúng ta thấy có rất nhiều người công phu niệm Phật được vãng sanh tự tại, biết trước giờ giấc ra đi, không một chút bịnh hoạn, gương mặt lại tươi đẹp hơn bình thường. Nhiều người không hiểu lại cho rằng niệm Phật mới ba năm là vãng sanh, là phải chết. Ai da ! Tôi sợ lắm ! Thôi ! thôi đừng bảo tôi niệm Phật nữa ! Những người có ý nghĩ như vậy, vì họ không hiểu được ý nghĩa giá trị cao đẹp của sự vãng sanh, nên mới bị những suy nghĩ tham sống sợ chết, luyến tiếc trần cảnh, phải chịu trôi lăn mải trong lục đạo luân hồi.
Pháp môn niệm Phật không có sanh tử. vãng sanh không phải là chết. Vãng sanh là sống mà ra đi, còn chết là không thể vãng sanh, cho nên pháp môn này còn được gọi là pháp môn không sanh không diệt. Bởi vì trong lúc vãng sanh, quý vị sẽ tỉnh táo và thấy Phật tới rước, rồi theo Phật ra đi, lúc đó cái xác tạm bợ của thế gian này không còn dùng nữa. Sau khi lên đến cõi Tây phương Cực Lạc, quý vị sẽ được thân tướng trang nghiêm đẹp đẽ y như đức Phật A Di Đà. Như vậy là tuyệt đối không phải là chết, cho nên tôi thường nói với quý vị rằng pháp môn này là pháp môn không già, không bịnh, không chết. Quý vị hãy yên tâm dừng bước, lắng lòng, nhất hướng mà chuyên niệm. Tôi nói đây là sự thật, chẳng phải dối gạt quý vị để làm gì. Chỉ cần quý vị chuyên tâm niệm Phật, tới lúc tâm được thanh tịnh, thì tất cả chuyện khổ đều không còn nữa. Gương mặt lúc nào cũng tự tại vui tươi. Vì vui tươi nên không già.
Người xưa có câu : « Ưu tư khiến cho người mau già » . Lo buồn khiến quý vị rất dễ lão hoá. Hiện giờ chúng ta còn đang mang cái nghiệp báo thân này, sống chết không một chút tự do. Những lúc khổ quá mà thọ mạng chưa hết, muốn chết mà vẫn phải sống ; đến khi có phước báo nhiều rồi muốn sống thêm vài năm hưởng thụ, nhưng thọ mạng đã dứt, chừng đó muốn sống thêm vẫn phải chết. Do đó khi quý vị phát tâm niệm Phật, hoặc vào niệm Phật đường niệm Phật, thân tâm thế giới vạn duyên bên ngoài, tất cả đều buông xả hết, chỉ cần câu hồng danh A Di Đà Phật, với niềm vui đạo hạnh tràn ngập trong lòng, đó gọi là pháp hỷ sung mãn.
Sự chuyên cần tu tập đến lúc công phu thành khối, quý vị sẽ không bị ràng buộc bởi cái khổ, cái bệnh, già và chết, chừng đó sanh tử tự tại, muốn ra đi lúc nào tuỳ ý, muốn ở lại thế gian sống thêm vài ba năm nữa cũng được, lúc này cái sống của quý vị hoàn toàn mang ý nghĩa cao đẹp, và tự biết mình sẽ phải làm những điều gì.
Người đạt tới mức sanh tử tự tại là người hội đủ phước báo lên thế giới Tây phương để hưởng thụ, nhưng họ không ra đi mà tình nguyện ở lại vì xét thấy còn rất nhiều người có duyên với mình, mình phải giúp đỡ họ, phải độ cho họ, hy vọng có thể dẫn dắt thêm nhiều người cùng nhau về Tây phương.
Lý do sống chính đúng là như thế. Tuyệt đối không phải vì tham sống sợ chết, hay sống để hưởng thụ ở thế gian này. Thật ra sự hưởng thụ trên thế gian này làm sao sánh bằng thế giới Cực Lạc ở Tây phương. Cái mà chúng ta cho là đẹp và sang trọng nhất, đối với ngươi ở Tây phương Cực Lạc, họ thật không màng đến, bởi vì nhà cửa của họ là thất bảo, cung điện. Sàn nhà toàn bằng lưu ly, cẩm thạch, đường đi trải bằng vàng, thức ăn chỉ cần nghĩ đến liền hiện ra, đồ đạc mọi thứ đều do tâm nghĩ tưởng mà mà hiện hình, do tập khí ở thế gian nên có lúc khởi niệm ăn uống, đến khi giác ngộ lại, thức ăn liền biến mất. Cho nên nhà cửa ở cõi Tây phương Cực Lạc trống không, sạch sẽ vô cùng, và không cần có nhà bếp. Quý vị thấy cuộc sống như vậy có sung sướng tự tại hay không ?
Còn chúng ta đây, đồ đạc chất chứa đầy nhà, muốn dọn dẹp cho gọn gàng sạch sẽ cũng phải mất nhiều thì giờ và phiền phức vô cùng. Cho nên người niệm Phật đến khi công phu thành tựu rồi, nếu xét mình không đủ duyên hoá độ chúng sanh ở thế gian nầy, họ đều mong sớm lên Tây phương Cực Lạc để hưởng phước. Sau khi lên đến thế giới Cực Lạc rồi, mỗi ngày được thấy Phật, được cúng dường mười vạn ức chư Phật. Trong kinh A Di Đà Phật nói mười vạn ức Phật, thực tế quý vị có thể cúng dường vô lượng hằng hà sa số Phật. Sở dĩ Ngài nói như vậy vì Phật rất từ bi, Ngài biết sự tỉnh thức của chúng sanh còn rất hạn chế, lên đó rồi mà đôi lúc còn khởi tâm nghĩ nhớ về ngôi nhà cũ và những người thân ở thế gian, do đó Ngài mới phương tiện nói cúng dường con số ít hơn thật tế như vậy, và bảo chúng ta có thể trở lại thăm thế gian bất cứ lúc nào đều có thể được.
Thế giới Tây phương Cực Lạc trang nghiêm đẹp đẽ, đi đến đâu cũng có những thành tựu tốt đẹp như thế, vì sao chúng ta không tranh thủ đi sớm ? Một pháp môn có thể thành tựu dễ dàng như vậy, đối với các Bồ Tát thành tựu ở những pháp môn khác không nhập vào cảnh giới này đều cho là một pháp môn khó tin, khó hiểu. Cũng như chúng ta nói với mọi người rằng : ỡ Niệm Phật đường là nơi rất tốt, rất thù thắng để tu tập ữ. Họ nghe qua dễ gì tin ngay, nhưng sau vài ngày đến đây niệm Phật rồi họ mới chịu tin. Một việc nhỏ như vậy ở thế gian này, mà người đời còn không hiểu, không tin được, còn nói làm chi đến cảnh giới thù thắng viên mãn ở Tây phương Cực Lạc xa xôi.
Từ chuyện nhỏ suy rộng đến chuyện lớn, chúng ta có thể nhận thức được phần nào để tăng trưởng thêm niềm tin và thiện căn của mình, hầu đem hết tâm nguyện của mình ra niệm Phật, cầu sanh Tịnh độ, chắc chắn sẽ được thành tựu.
Phần 8 : Tri Ân Báo Ân
Hôm nay có vị đồng tu đưa ra câu hỏi : « Làm cách nào để siêu độ thân bằng quyến thuộc của mình ? » Cho thấy đây là một vấn đề quan trọng, được nhiều người quan tâm đến. Những người đã chết, niềm mong mỏi tha thiết duy nhất của họ là trông nhờ vào sự giúp đỡ của con cháu. Do đó con cháu cần phải tu học Phật Pháp, theo đúng phương pháp của Phật đã dạy để tu hành, đây là cách thức giúp đỡ có hiệu quả nhất.
Nhưng trong Phật Pháp có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, mà pháp môn trì danh niệm Phật là phương pháp dễ tu và mau chóng đạt được kết quả nhất. Nếu chúng ta thật sự phát tâm muốn cứu thân bằng quyến thuộc vĩnh viễn xa lìa ác đạo, thì chúng ta phải mạnh dạn bước vào niệm Phật đường, chân thật niệm Phật, đồng thời phải có tâm kiên cố.
Trong cuộc sống dầu có nhiều bận rộn, một tuần chúng ta phải đến niệm Phật đường một ngày. Niệm Phật vì ai ? Vì giúp đỡ thân bằng quyến thuộc hiện kiếp, cũng như thân nhân nhiều đời kiếp đã qua. Công đức này thật to lớn vô cùng. Hiện nay trong niệm Phật đường của chúng ta, mỗi tuần niệm Phật một lần 24 giờ. Một ngày như vậy, chúng ta hãy buông xả thân tâm vạn duyên thế giới bên ngoài, dùng tấm lòng chân thành thanh tịnh từ bi, đồng thời với tâm niệm báo ân để đến niệm Phật. Được như thế, việc niệm Phật của chúng ta mới mong kết quả tốt, và nhất là đối với ông bà, tổ tiên, cha mẹ đã quá cố của chúng ta sẽ được vô cùng lợi lạc, và công đức của chúng ta cũng thật là to lớn. Trong đây có người thắc mắc : « Làm sao biết được thân bằng quyến thuộc lúc nào thoát khỏi ác đạo ? » . - Xin thưa rằng : Ngay lúc quý vị phát tâm chân thành niệm Phật, họ lập tức thoát khỏi ác đạo. Bởi vì việc làm của quý vị chân thật không giả dối, thì liền được cảm ứng, chứ không phải chờ đến khi quý vị niệm Phật đến lúc công phu của quý vị thành khối họ mới được siêu thoát. Tuy nhiên nếu công phu của quý vị thành khối, nghĩa là tâm không xen tạp, không gián đoạn, có thể gọi là chứng tiểu quả, thì phước báo của họ sẽ được sanh lên thượng thiên đạo, tức là trời, người, a tu la.
Trường hợp công phu niệm Phật của quý vị không ngừng nâng cao, thì thân bằng quyến thuộc của quý vị sẽ không bao giờ trở lại ác đạo. Đến đây quý vị đủ hiểu rõ hai mặt lý và sự của công đức niệm Phật, rồi từ đây quý vị sẽ tự biết mình nên làm thế nào.
Khi phát tâm đền công ơn sâu dày đối với cửu huyền thất tổ, thân bằng quyến thuộc, thì pháp môn niệm Phật là điều rất tốt, tuy nhiên nếu không có ngoại duyên hỗ trợ, và vì nghiệp chướng tập khí của mình, thì công phu không được đắc lực. Một niệm Phật đường chân chính là một tăng thượng duyên giúp chúng ta tu hành. Duyên này rất thù thắng. Hôm qua có một vị đồng tu người Mỹ đến nói với tôi rằng : « Tôi vào niệm Phật đường thấy chung quanh đều có hình Phật, tôi có cảm giác như chính mình cũng là Phật » . Cảm giác này thật không sai. Điểm thù thắng khác nữa là ở niệm Phật đường là được mỗi ngày nghe giảng kinh thuyết pháp. Sau khi nghe và hiểu được nghĩa lý trong kinh, rồi siêng năng tu hành, đây gọi là giải hành tương ưng. Nếu một niệm Phật đường hằng ngày không được giảng kinh thuyết pháp, người niệm Phật không thể nào giải hành tương ưng được thì đa số dễ lạc vào hình thức niệm Phật. Như vậy hiệu quả sẽ khác nhau lắm.
Hiện nay có một số đạo tràng ở những nơi khác đến tham dự ỡ Phật Thất ữ và áp dụng phương thức niệm Phật ở đây vào đạo tràng của họ, thật là quý hoá vô cùng. Tôi hy vọng mỗi đạo tràng ở những nơi khác đều có thể xây niệm Phật đường, hầu giúp mọi người cùng nhau niệm Phật. Tuy nhiên một nhân tố cần thiết không thể thiếu, đó là phải hiểu rõ lý lẽ. Muốn hiểu rõ lý phải có người giảng kinh thuyết pháp không gián đoạn. Nếu quý vị không tìm được người giảng pháp, có thể đến đạo tràng của chúng tôi lấy băng về nghe. Mỗi ngày nên mở băng nghe hai giờ đồng hồ, như vậy niệm Phật đường của quý vị đối với chúng tôi không có sai khác. Công phu niệm Phật của chúng ta một khi đã thành khối, không những thân bằng quyến thuộc của kiếp này, thậm chí đến nhiều đời nhiều kiếp trước của chúng ta mà chúng ta không biết hoặc không thể nhớ, họ vẫn được siêu độ.
Nghĩ đến việc này, nếu chúng ta không siêng năng nỗ lực tu hành, chúng ta thật có lỗi với ông bà tổ tiên, thân bằng quyến thuộc vậy.
Do đó khi vào niệm Phật đường, chúng ta phải mang tâm tri ân báo ân để niệm Phật. Chính cái tâm này là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy chúng ta tinh tấn không ngừng. Hôm nay những chúng sanh này vẫn còn kẹt trong ác đạo, không có khả năng giải thoát, nên họ hoàn toàn trông cậy ở chúng ta. Những người hiểu Phật Pháp, hiểu giáo lý chân thật nên giáo phụng hành. Không những giúp họ ra khỏi cảnh khổ, mà mọi tai kiếp hiện nay trên thế giới đều có thể hoá giải, có thể đạt đến chỗ quốc thới dân an như lời Phật nói. Cho nên, niệm Phật không phải chỉ vì mình mà thôi, mà còn vì thân bằng quyến thuộc, và vì tất cả chúng sanh.
Phần 9 : Giữ chánh niệm phục ma vương
Đa số chúng ta đều biết Phật có tướng hảo quang minh ; ma cũng có tướng hảo quang minh. Phước báo của Phật vô cùng to lớn ; phước báo của ma cũng không kém. Phật có hào quang kim sắc ; ma cũng có hào quang kim sắc. Tuy nhiên hào quang của Phật nhu hoà, khiến cho chúng ta mỗi khi tiếp xúc đến có cảm giác nhẹ nhàng tươi mát, an ổn, vui vẻ, tự tại. Ma cũng có hào quang kim sắc, nhưng với ánh sáng chói lọi của ma, con người sẽ thấy sợ hãi không yên.
Tóm lại hào quang của ma so sánh với hào quang của Phật không có khác về hình tướng, chỉ có khác ở chỗ, sau khi con người tiếp xúc rồi, có những cảm giác hoàn toàn trái ngược nhau. Làm thế nào để tránh khỏi ánh sáng của ma, không bị ma làm tổn hại ?
Điều này hết sức quan trọng, chúng ta không thể không hiểu rõ. Phương pháp hữu hiệu nhất để đối phó là : Chúng ta phải luôn luôn giữ chánh niệm. Khi giữ được chánh niệm, chẳng những Ma không làm tổn hại được ; ngược lại sanh lòng tôn kính và hộ pháp.
Khi xưa đức Phật Mâu Ni khéo thị hiện tám tướng thành đạo, ma Ba Tuần đến và dùng mọi thủ đoạn uy hiếp cản trở, Đức Thế Tôn chánh niệm phân minh, như như bất động, sau cùng ma không còn cách nào để phá hại nữa, nên sanh lòng tôn kính bái phục, nguyện làm hộ pháp cho Ngài. Do đó tâm niệm của chúng ta cần phải tương ứng với Giới, Định, Huệ, ba môn học. Đây là phương thức quan trọng nhất để đối trị với sức cản trở lay động của Ma. Những người nào dễ bị ma làm tổn thương nhất ?
Xã hội ngày nay, những người tu học Phật Pháp, đặc biệt là giới thanh niên bị ma nhập rất nhiều. Những ai thích có thần thông cảm ứng đều dễ bị kết duyên với ma. Ma sẽ lợi dụng nhược điểm đó của quý vị, mà đến lay động quấy phá. Cho nên người tu học Phật Pháp trong thời đại này, cần phải có cảnh giác cao độ : Khi niệm Phật phải giữ tâm cho chân thật. Không nên mong cầu cảm ứng.
Trong kinh điển Phật dạy chúng ta như thế nào, chúng ta ngoan ngoản làm theo. Điều gì Phật dạy chúng ta không nên làm, chúng ta quyết định không làm. Phật dạy chúng ta vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, thì chúng ta cầu sanh Tịnh độ. Phật dạy chúng ta liễu sanh thoát tử, thoát khỏi luân hồi, chúng ta tuyệt đối không luyến tiếcvớilụcđạo.Thuậntheo lời chỉ dạy của Phật, ma sẽ không làm gì được chúng ta. Giới trẻ ngày nay đa số muốn có thần thông, muốn có cảm ứng, nhưng đâu ngờ đã tự mình làm hư hoại đến tương lai tốt đẹp của chính mình. Thật là điều đáng tiếc vô cùng !
Quý vị nên hết sức thận trọng, nhất là phải có sự cảnh tỉnh đối với con cháu, bà con quyến thuộc, bởi vì trong lúc quý vị khởi tâm mong cầu thần thông cảm ứng, Ma liền có dịp giả hình dáng Bồ Tát, giả Phật A Di Đà để mê hoặc và lừa gạt dắt quý vị đi theo. Nhiều vị đồng tu lo rằng : Lỡ khi lâm chung Ma giả Phật A Di Đà đến rước thì sao ? Nếu chúng ta không phân biệt được giữa Ma với Phật, thì công phu niệm Phật nỗ lực tu hành bấy lâu sẽ chẳng còn gì !
Đối với điều này, xin quý vị hãy yên tâm. Ma tuy lường gạt người, nhưng nhất quyết chúng không thể giả dạng Bổn Tôn, tức Phật A Di Đà. Bởi vì Phật có thần hộ pháp. Khi chúng ta phát tâm chân thật niệm Phật đều được các vị thần hộ pháp bảo hộ cho chúng ta. Thần hộ pháp nhất quyết không dung thứ cho các loài yêu, ma quái giả dạng Bổn Tôn. Nếu chúng dám giả mạo sẽ bị tội nặng. Ngược lại, nếu chúng giả dạng các vị Phật khác đến gạt quý vị, chúng không phạm tội. Cho nên quý vị niệm Phật A Di Đà, đến lúc lâm chung nhất định phải chờ Phật A Di Đà đến tiếp dẫn. Nếu thấy Phật Thích Ca, Phật Dược Sư đến rước, đó đều là ma giả dạng lường gạt. Trong tình trạng như vậy, quý vị phải tập trung tinh thần hướng niệm hồng danh A Di Đà Phật, và mặc nhiên không thèm để ý đến, tức thời những hình ảnh đó sẽ tự biến mất.
Những kiến thức này hết sức quan trọng, quý vị nên lưy ý. Người niệm Phật thỉnh thoảng mơ thấy Phật A Di Đà, như vậy là công phu niệm Phật được cảm ứng. Nếu thường xuyên thấy Phật thì không đúng, đó là công phu có vấn đề. Nhiều người hỏi : « Trong lúc niệm Phật tôi thường nghe, thấy Phật A Di Đà, nay niệm Phật đã nhiều năm rồi lại không hề thấy, như vậy có phải tôi bị thối chuyển so với lúc ban đầu hay không ? » Trả lời : Cũng có thể thối chuyển nếu không bị thối chuyển cũng không nên thường xuyên mơ thấy. Thường xuyên mơ thấy là ma cảnh. Cho dù quả thật mơ thấy Phật cảnh hiện ra, cũng không nên sanh tâm chấp trước, sanh tâm tham và vui mừng. Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật Thích Ca Mâu Ni có chỗ chỉ dạy cho chúng ta một phương pháp đối phó với ma cảnh như sau : Khi gặp cảnh giới hiện ra phải giữ tâm không để ý đến, không tìm hiểu sâu vào. Vì sao ? Bởi vì khi ma hiện ra, có nghĩa là công phu của quý vị đã đạt tới mức khả quan. Nếu không, ma chẳng thèm tới để làm gì ! Mục đích của chúng đến là để chướng ngại phá, cho chúng ta tan mất công phu tu tập và đạo tâm của quý vị. Cho nên ý nghĩa hồng danh A Di Đà Phật giúp chúng ta giữ tâm như như bất động trước ma cảnh. Ma cảnh là rất quan trọng mật thiết với công phu tu tập của chúng ta.
Phần 10 : Phát tâm bồ đề
Nếu chúng ta muốn ngay trong một kiếp này thật sự thành tự được công phu niệm Phật, thì lúc sử thế tiếp xúc với người và vật, cái tâm duy nhứt mà chúng ta cần phải có đó là chân tâm.
Khi bị người khác lừa dối hiếp đáp, chúng ta phải nghĩ như vầy : Đó là chuyện của họ, không dính dáng gì tới tôi cả. Việc của tôi là phải dùng tâm chân thật để đối xử lại. Vì sao ? Bởi vì tôi quyết định trong một kiếp này cầu vãng sanh Tịnh độ. Làm thế nào để cầu sanh Tịnh độ ? Trong Kinh Vô Lượng Thọ nói rất rõ : « Phát bồ đề tâm nhất hướng niệm Phật ». Nếu chúng ta không phát bồ đề tâm, chỉ nương vào nhất hướng chuyên niệm, kết quả không vãng sanh. Điều này chúng ta nên thận trọng.
Ngài Lý Bỉnh Nam nói : « Một vạn người niệm Phật, thật sự vãng sanh chỉ có vài, ba người ». Vì sao số người vãng sanh quá ít như vậy ? Vì không phát tâm bồ đề, nên tâm không thanh tịnh. Bởi tâm không thanh tịnh nên còn thị phi, nhân ngã, tham, sân, si, mạn, nghi. Những thứ này không tương ứng với thế giới Cực Lạc một chút nào. Tây phương Cực Lạc là nơi tụ hội của chư thượng thiện nhân, tức là chỗ của những người thiện lành bậc nhất. Cho dù chúng ta niệm Phật rất siêng năng đến đâu, hoặc một ngày có thể niệm đến trăm ngàn lần, nhưng tâm của chúng ta không thiện, làm sao có thể lên Tây phương ở cùng chỗ của các bậc thượng thiện nhân ?
Do đó phát bồ đề tâm quan trọng hơn cả việc nhất tâm chuyên niệm là như vậy. Người thật sự phát bồ đề tâm, khi lâm chung một niệm hoặc mười (10) niệm, quyết định sẽ được vãng sanh. Vì sao ? Vì họ đã là thượng thiện nhân rồi, đầy đủ phước đức rồi, chỉ cần chợt khởi tâm muốn vãng sanh là được ngay.
Cho nên những lời nói trong kinh điển chúng ta phải hiểu lý, suy nghĩ kỹ lưỡng, tuyệt đối không nên tụng niệm một cách hàm hồ.
Đoạn văn trên, chúng ta nói đến chân tâm. Chân tâm là thể của bồ đề tâm. Kế tiếp nói đến thâm tín là dụng của bồ đề tâm. Tự dụng đối với chính mình là luôn giữ tâm hiền thiện hiếu đức, tức là thích làm điều thiện. Đối với chúng sanh thì đại từ đại bi, nhân từ hiền thiện. Hiếu đức là việc làm không thể miễn cưỡng, hoặc làm cho có hình thức bên ngoài, mà nó phải lưu xuất một cách tự nhiên từ bên trong. Cho nên người phát tâm bồ đề, mỗi khi khởi tâm động niệm đều nghĩ đến việc làm lợi ích cho chúng sanh. Nghĩ đến việc giúp đỡ phá mê khai ngộ, thoát khỏi cảnh khổ, được an vui, không hề có một niệm nghĩ đến lợi ích cho cá nhân mình, Nếu còn một niệm ích kỷ tự lợi là còn ngã chấp nặng nề. Ngã chấp là gốc rễ của lục đạo luân hồi. Không bứng sạch gốc rễ này thì không cách nào ra khỏi lục đạo. Cho nên ngay từ bây giờ, chúng ta cần phải buông xả. Phải nghĩ tới người khác, nghĩ tới chúng sanh, đến những người đang đau khổ, đang gặp nạn trên thế giới. Tuyệt đối không nên nghĩ đến chuyện lợi ích cho riêng cá nhân mình nữa.
Trong suốt thời gian thuyết pháp đã qua, tôi nhiều lần nhắc quý vị phải phát bồ đề tâm. Trong kinh điển, đức Thế Tôn cũng từng lập đi lập lại không biết bao nhiều ngàn lần, vì sao Thế Tôn không ngừng lập lại như vậy ? Bởi vì chúng sanh vẫn còn chưa thức tỉnh, vẫn còn u mê, cho nên Thế Tôn vẫn phải lập đi lập lại một cách không mệt mỏi để kêu gọi, thức tỉnh chúng ta. Một khi chúng ta phát khởi bồ đề tâm liền được chư Phật hộ trì, vì tâm của chư Phật là tâm bồ đề. Tóm lại, như vậy tâm của chúng ta, cùng tâm chư Phật, không hề khác nhau, và mục đích duy nhất của Ngài là mong chúng ta một đời có thể thành Phật.
Hôm nay thì giờ đã hết, tôi xin giảng đến đây.
Lợi ích của Thiền đối với quản trị kinh doanh
Tôi đã từng có những buổi nói chuyện sâu sắc với hơn mười hai nhân viên thương mại, là những người thầu khoán có qui mô nhỏ sau các khoá thiền. Các buổi nói chuyện này đã khẳng định rằng sau mọi khóa thiền họ đều có thể làm việc nhanh hơn 20% trước đây và chất lượng của công việc đã chứng minh giá trị của người làm việc trong một trạng thái tâm nhẹ nhàng.
Quản Trị Thương Mại
Với sự phức tạp của thương mại ngày càng gia tăng, đặc biệt là thương mại công nghệ – việc vận dụng phương pháp thiền định đã trở nên rất phổ biến trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, các phương pháp thiền định này được áp dụng chủ yếu như là cách xoa dịu bớt những căng thẳng cho các uỷ viên của ban quản trị đang bị sức ép của mục tiêu hoạch định này.
Việc quản trị ở một mức độ trung bình phụ thuộc vào cách: tổ chức, nghiệm thu, sản phẩm, thu mua, quảng cáo, nguồn ngân quỹ, điều hành, v.v… . Mỗi một vận hành này đòi hỏi tư duy, kế hoạch, sự phối hợp, thực hiện, công tác kế toán, và đề án lợi nhuận đều phải rõ ràng. Hiện nay, có nhiều trường đại học dạy về khoa quản trị này. Có một vài phương pháp quản trị đặc biệt áp dụng cho những tổ chức lớn với doanh thu khoảng một trăm triệu đô la Mỹ hoặc trên nữa. Các công trình nghiên cứu và các phương pháp khuếch trương hiện nay là để nâng cao kỹ thuật của các nghiệp vụ thương mại này.
Nhu Cầu Thiền Định
Thiền định được vận dụng vào công tác quản trị thương mại như thế nào? Để tìm câu trả lời này chúng ta phải nhìn kỹ các nước công nghiệp như Mỹ và Đức. Bản chất của các xã hội này được hình thành từ một nền công nghiệp hoá tiến bộ đã được định hình do mức tiêu thụ rượu mạnh, ma tuý và thuốc lá; các cơn dịch ly dị và nhiều gia đình đổ vỡ; kinh tế suy thoái và nghề nghiệp không ổn định; cảm giác cạnh tranh và suy thoái dữ dội, dẫn đến các triệu chứng bệnh tim, tự tử, v.v,… .
Xã Hội Đổ Vỡ
Nhiều giám đốc thương mại đã đến từ xã hội đổ vỡ này. Các trường thương mại dạy cho họ làm việc để kiếm nhiều lợi nhuận và lương cao hơn; và những căng thẳng phát sinh buộc họ sử dụng nhiều rượu và ma tuý và do đó các vấn đề sức khoẻ khác như chứng tăng huyết áp lại xuất hiện. Mức độ bình đẳng trong các xã hội này bị suy sụp. Các người chủ thương mại, trợ lý, các giám đốc gia tăng tánh kiêu hãnh, định kiến, ganh tỵ, ngạo mạn, và đồng thời họ cũng kinh qua các trạng thái: chán nản, lo lắng, căng thẳng và những ảnh hưởng tai hại khác.
Chuyển Hoá Tích Cực
Phương pháp thiền minh sát (Vipassana) cải thiện đời sống của nhân viên và ban quản trị thương mại bằng cách chuyển hóa thái độ của họ. Định kiến được thay thế bằng lòng từ, sự ganh tỵ được đổi thành lòng hoan hỷ khi thấy thành công của người khác, tánh tham lam và mê muội được thay thế bằng sự rộng rãi và khiêm tốn, v, v,… .
Sự chuyển đổi thái độ này làm cho các căng thẳng được giảm thiểu, và tâm được thanh thản, thăng bằng. Chính động lực sáng tạo có thể làm cho công việc có năng suất, ảnh hưởng đến đội ngũ cấp dưới. Việc thay đổi tích cực này đưa đến thái độ và hành động của ban quản trị chuyển biến, đó là cách cư xử lễ độ và hài hoà, ngôn ngữ nhẹ nhàng, và tâm hồn đầy thương yêu, hữu nghị. Sự thay đổi tích cực trong tâm thức này cũng chính là mục tiêu của thực tập thiền định thật sự, và nó tạo nên một nền tảng mới và tiên tiến cho công việc thương mại và quản trị công nghiệp.
Tình Hình Hiện Nay
Quản lý thương mại hiện nay được điều chỉnh bằng lợi nhuận hay là khả năng "hái tiền". Các giám đốc được đánh giá bằng khả năng tạo ra tiền với phương thức gia tăng doanh thu sản phẩm, phát triển các kỹ thuật mới với mức lương cao hơn, hoặc giảm giá nhờ vào những phát minh mới. Để đền bù lại, các giám đốc này muốn lương cao và nhiều đòi hỏi hơn. Mặc dù không có gì sai khi tạo nên lợi nhuận và gia tăng lợi tức, nhưng mục đích thật sự của công việc kinh doanh là để tạo nên sự giàu có được kết hợp bởi tiền bạc, sức khoẻ, và hạnh phúc. Thiền minh sát đóng góp rất lớn trong việc cải thiện sức khoẻ nội tâm và hạnh phúc của cá nhân – đó là những yếu tố thật sự cần thiết của giàu có.
Phát Triển Tiềm Năng Con Người
Nhiều công ty hiện nay có những văn phòng phát triển tiềm năng con người, phổ biến như – phát triển tiềm năng con người (Human Resource Development). Bộ phận phát triển tiềm năng con người là một khái niệm mới được đón nhận, bởi vì con người làm việc trong nghành thương mại hoặc công nghiệp không nên có "tinh thần vô trách nhiệm". Họ cần được mở rộng tầm nhìn. Một trong những thông số trong tiến trình này là phát triển các mối quan hệ hỗ tương. Chính sự phát triển này đã cải thiện các mối quan hệ giữa con người với con người một cách tự nhiên. Thiền định sẽ giúp chúng ta đạt được mục tiêu này, và vượt qua mối thù hiềm đối với các bạn đồng nghiệp, thuộc cấp, cấp trên, nhân viên chánh phủ và những người khác. Sự thù hiềm này biểu hiện như sân giận, kiêu ngạo, ganh tỵ, trả thù, ích kỷ, tham lam, định kiến và ác ý. Các buổi thuyết trình, hội thảo, sách vở, thảo luận, v.v… cũng giúp cho chúng ta hiểu tầm quan trọng về những chủ đề này. Tuy nhiên, hơn 95% các điểm tiêu cực trong tâm con người vẫn không thay đổi mặc dù chúng ta hiểu biết về giá trị của vượt qua thù hằn, tiêu cực và ích kỷ. Lời phát biểu này xuất phát từ kinh nghiệm riêng của tôi cũng như qua hơn trăm (100) cuộc phỏng vấn với các trợ lý thương mại suốt mười năm qua.
Mạng Sống Chân Chánh (Chánh Mạng)
Thực hành chánh mạng là một khía cạnh quan trọng của thiền minh sát. Nó có thể là nền tảng cho công việc quản lý thương mại. Dựa vào nền tảng này các kỹ thuật sử dụng tài liệu thống kê theo kiểu quản lý truyền thống như là các dự án theo chu kỳ tiền mặt, trả lại tiền vốn, tổng sản lượng quốc gia, doanh thu lợi nhuận, v, v, … . được xác lập. Các tham số này trở nên hữu ích nếu chúng dựa trên khái niệm mạng sống chân chánh.
Tóm lại, việc ứng dụng khái niệm này nên có tinh thần tích cực, nghĩa là lợi tức có được xuất phát từ các hợp đồng thương mại hoặc cá nhân không những có đạo đức mà ý thức của những người tạo nên lợi tức này cũng được trong sạch. Điều này có nghĩa là vượt ra các mặt tiêu cực vừa nêu ra ở trên. Một trạng thái tâm thoát khỏi các tiêu cực, tự nhiên trở nên trong sạch, và biểu hiện các đặc tính thương yêu, kính trọng, hợp tác, hoà nhã và bình đẳng thật sự. Chúùng ta nên có ý thức trong việc tạo nên tài sản này. Tạo ra tài sản không chỉ là tạo ra tiền mà còn tạo cho tinh thần thư thái và hạnh phúc xuất phát từ trạng thái tâm thanh thản.
Tiềm thức
Không cần đi sâu vào thiền minh sát, ta sẽ chạm phải một phương diện quan trọng của sự chuyển hóa tâm thức: đó là sự chuyển hóa tiềm thức. Chúng ta biết rất ít về trạng thái tâm thức bị tràn đầy những tâm niệm tiêu cực này, các tâm niệm tiêu cực này hoàn toàn đi ngược với một tâm thức lành mạnh. Trong khi chúng ta có thể nhận ra và kinh nghiệm những điểm tiêu cực này, chúng ta vẫn không thể tẩy sạch các tâm niệm đầy ô trược nếu không có một phương pháp thích đáng.
Phần lớn các phương pháp thiền định [thông thường] không thể tiến sâu vào tiềm thức, chúng làm cho tâm nhiễu loạn và do đó tâm thức dễ bị nhiễm ô. Hơn thế nữa, tâm thức nhiễm ô này, là làm đời sống của chúng ta phức tạp hơn. Thiền minh sát dựa trên mỗi bước "thực tại như nó đang là". Thiền minh sát cho phép thiền giả kinh nghiệm những giây phút "tâm trống không". Điều này khởi động cho tiến trình "giải độc" tâm khỏi các nhiễm ô.
Căn bệnh công nghiệp
Một tâm thức không định tĩnh và đầy nhiễm ô sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Khi tâm thức của những người lãnh đạo công nghiệp không trong sạch, các chi nhánh công ty sẽ lạm phát và thật là đáng sợ. Hiện tượng này được minh hoạ bằng một ví dụ trước đây của việc quản lý thất bại tại Bombay Textile Mills. Cách đây hai mươi năm, Bombay Textile Mills là một đơn vị đứng vững và phát đạt, tuy nhiên, chỉ vì lòng ham muốn kiếm tiền nhanh đã gây ra một thảm kịch kinh tế. Tiền mặt lợi nhuận để sử dụng trong việc hiện đại hoá máy móc và thiết bị, hoặc vốn luân chuyển bị chuyển ra vì lợi nhuận cá nhân của các giám đốc. Cách sinh kế của họ không phải là "chánh mạng". Sự ô nhiễm của lòng tham đã giết đi lợi tức tốt nhất của các giám đốc và làm đau khổ tràn lan khắp các hệ thống kinh tế và lực lượng lao động ở Bombay.
Thiền minh sát là cuộc giải phẫu tâm thức. Khi thực hành đúng đắn, tốc độ của tâm thanh tịnh có thể tiến triển hết sức bất ngờ. Phương pháp này giải thoát tâm khỏi tham lam. Một tâm thức khoẻ mạnh luôn tỉnh táo và có khả năng đáp ứng mọi yêu cầu trong việc làm, nó tự nhiên thoát khỏi nghiện ngập và đam mê dục lạc. Thực hành thiền minh sát làm giảm bớt lòng khát ái. Một công việc thương mại dưới sự điều khiển của một tâm trí như vậy sẽ tạo nên sự phát triển của nghành công nghiệp dệt hơn là tạo nên các đơn vị sản xuất bệnh hoạn.
Phân tích về tình trạng bệnh hoạn của nền công nghiệp đang gia tăng và sự thất bại của công việc quản lý thương mại là một tấm gương điển hình. Trong nhiều trường hợp, người ta quá lo âu về việc xuất khẩu và mở rộng thị trường đưa đến vốn luân chuyển bị sử dụng trệch hướng vào việc đầu tư bất động sản. Kết quả là số lượng thiếu hụt vốn luân chuyển trầm trọng và sự vay mượn quá mức, rõ ràng là một đại lộ nguy hiểm cho công việc thương mại. Với một tâm thức trưởng thành nhờ thiền định, các loại hành động hướng đến ái dục này được kiểm duyệt bằng đức tính trầm tĩnh và điềm đạm mà nó có thể làm giảm thiểu khả năng tạo các sai lầm như vậy.
Tâm Thanh Tịnh: Nền Tảng của Quản Trị
Tự thân phương pháp thiền minh sát không tạo ra một kỹ thuật quản trị mới. Nó chỉ đóng góp vào việc cải thiện quản trị bằng cách điểu chỉnh tận gốc vấn đề, đó là tâm thức không trong sạch. Do đó, một công việc thương mại nên được thức ăn tinh khiết của tư tưởng và hành động đúng đắn nuôi dưỡng liên tục. Chính khát ái và tham lam tột độ đã đầu độc tâm trí của các giám đốc. Nhiễm ô này được điều chỉnh bằng thiền định.
Thái Độ đối với Cạnh Tranh
Thiền minh sát cũng giúp chúng ta thay đổi thái độ đối với đối phương. Khi công việc thương mại áp đảo đối phương chắc chắn sẽ có một chuỗi phản ứng, một vòng luẩn quẩn lại bắt đầu. Nhiều cuộc làm ăn đã bị sụp đổ bởi thái độ này. Thiền minh sát thanh lọc tâm thức và làm cho trí tuệ sung mãn, điều đó có thể giúp hành giả nhận thức rằng có một khoảng không gian để mọi người chung sống với nhau. Sự thanh tịnh xuất phát từ kết quả thực hành thiền minh sát như "chính nó là"ø trong mảnh đất phì nhiêu, nơi đó hạt giống quản trị thương mại đầy sức sống nầy trưởng thành. Mảnh đất tâm đầy nhựa sống nầy đã hướng dẫn công việc quản trị, mà mục đích căn bản của quản trị là tạo nền hoà bình và hạnh phúc cho xã hội. Mục đích thứ hai của nó là tạo ra đồng tiền như là một phương tiện để mua hàng hoá và những việc cần dùng và đạt đến sự giải phóng kinh tế và mức sống cao hơn.
Nghiên Cứu Trường Hợp Cụ Thể của Công Ty Ananda Engineers
Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Ananda Engineers (tại Bombay) của tôi có nguồn doanh thu trên một triệu đô la Mỹ. Tất cả các giám đốc, các thành viên thâm niên cũng như đại đa số nhân viên và công nhân đều đã trải qua tu tập thiền minh sát. Con đường thiền minh sát đã đến với chúng tôi như vầy, trước hết giám đốc điều hành đã đến tham dự khoá thiền, sau đó đội ngũ thâm niên cũng theo gương ông. Các nhân viên cũng nhận ra nhiều thay đổi của cấp trên và rồi họ muốn thử nghiệm. Chúng tôi thấy rằng hiệu suất công việc của tập thể được gia tăng, cũng như lợi ích đi kèm với sự cải thiện tinh thần lành mạnh và các mối quan hệ hỗ tương. Có lẽ có những công ty lớn với khoảng lợi nhuận kếch sù nhưng tôi lại thấy rằng hạnh phúc của ban điều hành và công nhân không chỉ do tiền bạc đem đến mà còn xuất phát từ việc đối xử và thương yêu, hoà ái của ban quản đốc. Bất cứ phương pháp nào cũng không thể mang lại cách đối xử thân ái này, ngoại trừ thiền minh sát. (Lời phát biểu trên xuất phát từ kinh nghiệm riêng của tôi. Bài báo cáo chương trình chi tiết này trình bày khi được yêu cầu.)
Một vài điểm nổi bật của việc nghiên cứu như sau:
60% công nhân đã tham dự các khoá thiền. Khoảng nửa số này đã dự tu hơn một khoá. Kết quả là nhiều thay đổi trong cơ quan, cuộc thay đổi này đã làm chuyển biến từ luật lệ của cấp lãnh đạo cho đến những quy ước của cấp dưới, từ cá nhân đến tinh thần đồng đội, và từ sự không quyết tâm, không tự giác đến tự giác trong công việc. Sản lượng đã tăng lên 20%.
Kết Luận
Tôi đã từng có những buổi nói chuyện sâu sắc với hơn mười hai nhân viên thương mại, là những người thầu khoán có qui mô nhỏ sau các khoá thiền. Các buổi nói chuyện này đã khẳng định rằng sau mọi khóa thiền họ đều có thể làm việc nhanh hơn 20% trước đây và chất lượng của công việc đã chứng minh giá trị của người làm việc trong một trạng thái tâm nhẹ nhàng. Họ trình bày rằng những tâm tham, sân, kiêu ngạo, và định kiến đã giảm xuống và rất ít khi xích mích khi làm việc với đồng nghiệp. Thiền Minh Sát đã làm cho các mối quan hệ giữa người với người trở nên thân ái và lành mạnh, sự phồn thịnh trong công việc kinh doanh của họ tiến triển vững vàng như là kết quả của các biến chuyển tích cực này.
Lợi ích của Thiền
Tâm thức của hành giả tập trung vào những niệm cao cả, mọi tư tưởng vị kỷ, ham muốn, quay cuồng theo dục vọng đều lìa xa
Hành thiền đúng phép có thể đem lại cho người hành thiền những lợi ích như sau:
Các căn được an tịnh, và một cách tự nhiên, hành giả cảm thấy thích thú với thói quen hành thiền hàng ngày.
Lòng từ xâm chiếm tâm của hành giả. Với lòng từ hành giả xa lìa mọi tội lỗi và xem tất cả chúng sanh như là anh chị em.
Những dục vọng làm mệt mỏi và đầu độc thâm tâm như là giận dữ, keo kiệt, kiêu ngạo... dần dần xa lìa tâm của hành giả.
Nhờ hộ trì chặt chẽ các căn, cho nên những niệm ác, xấu không len vào tâm hành giả được.
Với tâm trong sáng và tư thái bình thản, hành giả không còn thèm muốn gì đối với những dục vọng thấp hèn.
Tâm thức của hành giả tập trung vào những niệm cao cả, mọi tư tưởng vị kỷ, ham muốn, quay cuồng theo dục vọng đều lìa xa.
Hành giả không lạc vào chủ nghĩa hư vô, mặc dù thấy rõ mọi sự vật đều không rỗng bèo bọt.
Tuy vẫn còn trong vòng sinh tử luân hồi, nhưng hành giả đã nhận thức rõ con đường giải thoát.
Nhờ đi sâu vào giáo pháp mầu nhiệm, hành giả nương tựa vào trí tuệ của đức Phật.
Vì không còn gì hấp dẫn và làm cho hành giả ham muốn, nên hành giả cảm thấy như con phượng hoàng đã thoát khỏi lưới và đang bay lượn tự do trên bầu trời.
Trong kinh "Thân Hành Niệm" dạy phép tu thiền niệm thân, Phật nói tới 10 công của phép tu thiền niệm thân như sau:
Đối trị tham và sân.
Loại bỏ sợ hãi.
Có thể chịu đựng nóng, lạnh, đói khát, côn trùng quấy nhiễu.
Dễ dàng chứng bốn cấp thiền.
Có thể biến hoá thần thông, theo ý muốn.
Có thiên nhĩ thông, tức là có khả năng nghe những âm thanh mà tai người bình thường không nghe được.
Biết được ý nghĩ của người khác.
Biết được các kiếp sống quá khứ của người khác.
Có thiên nhãn thông, tức là con mắt có thể nhìn thấy các chúng sanh trôi nối theo nghiệp từ đời này qua đời khác.
Ngay trong đời hiện tại, đạt được tâm giải thoát và tuệ giải thoát.
Lợi ích mới của Thiền định
Cái lợi lâu dài của thiền là có được cái tâm thanh thản. Nhưng hơn thế, các nhà khoa học Anh đã phát hiện ra rằng thiền giúp tăng cường thể chất não bộ.
Thậm chí, một khóa học thiền ngắn cũng giúp tăng cường sự kết nối giữa các vùng vốn điều tiết các phản ứng cảm xúc của não bộ. Điều này sẽ khiến chúng ta dễ dàng giữ được bình tĩnh hơn.
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Mỹ ở ĐH Orengon (Mỹ) đã tập trung vào những ảnh hưởng của kỹ thuật thiền định được gọi là tích hợp thể trí (IBMT). Dựa trên y học cổ truyền Trung Hoa, IBMT kết hợp tư thế, sự tưởng tượng và thư giãn cơ thể cùng các kỹ thuật thở.
Trong nghiên cứu, những người tập thiền sẽ tham gia tập IBMT 1,5 tiếng mỗi tuần trong vòng 1 tháng. Một nhóm khác cũng được học 11 tiếng nhưng là kỹ thuật thư giãn cơ bản. Ảnh chụp não bộ cho thấy sự kết nối của não bộ ở nhóm IBMT bắt đầu mạnh lên sau 6 tiếng luyện tập. Sự khác biệt này rất rõ ràng sau 11 giờ tập luyện.
“Sự thay đổi cấu trúc” này rõ nhất ở các sợi kết nối với cingulate ở phía trước, phần não bộ giúp điều chỉnh cảm xúc và hành vi. Điều này cho thấy ý nghĩa của nghiên cứu không chỉ còn là giúp người dân giảm căn thẳng. Sự kém hoạt động của cingulate phía trước có liên quan đến mất trí nhớ, rối loạn tăng động, sự mất tập trung chú ý, trầm cảm và tâm thần phân liệt.
Một nghiên cứu trước đó cho thấy chỉ cần 20 phút tập IBMT là đủ để giảm căng thẳng.
Báo cáo được đăng tải trên tạp chí Proceedings của Viện Khoa học Mỹ.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét