THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012

Lá thư lần thứ 72 của mẹ

Lá thư lần thứ 72 của mẹ Cuối cùng thì người đưa thư cũng mang đến bức thư thứ 72 của mẹ, cũng như những lần trước, Tiểu Phương sốt ruột gấp gáp mở bức thư. Ông thì lo lắng đứng sau lưng Phương, dường như đóan biết trước được sự tình sảy ra, với tin tức đáng sợ như thế nào? Bức thư này cũ và vàng hơn những thư trước. Một ngày sinh nhật lần thứ 20 của Tiểu Phương, trong không khí tràn ngập sự yêu thương với những lời chúc mừng của ông bà. Ngược lại trong lòng Tiểu Phương cứ thấp thỏm không yên chờ đợi người đưa thư của bưu điện. Cũng như những ngày sinh nhật trước của mỗi năm, từ Mỹ mẹ Phương đều gửi thư về chúc mừng Phương sinh nhật vui vẻ. Trong ký ức của Phương, lúc Phương còn rất nhỏ, mẹ đã một mình sang Mỹ lập nghiệp, Ông bà nói với Phương như vậy. Trong ấn tượng mơ hồ về mẹ còn sót lại trong là mẹ Phương thường ôm Phương vào lòng với đôi tay dịu dàng và nhìn Phương với ánh mắt từ ái, đó là hình ảnh Phương trân trọng giữ mãi trong lòng. Và hồi ức này cứ thường xuất hiện trong giấc mộng của Phương. Nhưng mà những ký ức này trong Phương cũng dần phai mờ, trong Phương luôn mâu thuẫn một khát vọng lẫn hờn trách. Phương không thể giải thích được vì sao mẹ lại nhẫn tâm bỏ em một mình để đến một nơi rất xa. Trong nhận thức của Phương, mẹ là người thất bại trong hôn nhân bỏ rơi con như thế là người không có trách nhiệm. Lúc nhỏ cứ mỗi lần nhớ mẹ, Phương thường nhờ ông bà dẫn đi Mỹ tìm mẹ. Nhưng ông bà luôn ràng rụa nứoc mắt nói: “mẹ cháu ở Mỹ rất bận công việc làm ăn, mẹ rất nhớ cháu và cũng rất khổ tâm vì không ở cùng cháu, cháu thông cảm cho nỗi khổ của mẹ cháu, nhất định một ngày nào đó cháu sẽ hiểu rõ”. Tiểu Phương vẫn với ánh mắt sốt ruột ngóng trông chờ đợi bức thư chúc mừng sinh nhật lần thứ 20 của mẹ gửi đến. Em mở cái hộp báu đựng những bức thư của mẹ gửi về trước đây. Trong sấp thư dày cợm, lấy ra một bức đã ngã màu vàng, đó là bức thư mẹ gửi khi Phương tròn 6 tuổi đang đi học mẩu giáo: “ vào mẫu giáo, chắc có rất nhiều bạn nhỏ nô đùa cùng con, con cố gắng sống tốt với bạn bè, và chú ý quần áo sạch sẽ, đầu tóc gọn gàng”. Một bức thư khác mẹ gửi khi Phương 16 tuổi thi lúc thi tốt nghiệp phổ thông: “ thi lần này con chỉ cần cố gắng là được, phát triễn sau này còn phải dựa vào thực tài thực học, mới có thể cạnh tranh được với cuộc đời”. Trong bức thư này nét viết rất đẹp, để lộ ra tình thường vô tận của mẹ. Còn hơn cả trăm ngàn ngôn ngữ, viết không tận nói không cùng. Một số thư khác là quá trình trưởng thành Phương lúc muời mấy tuổi, trên tinh thần chuẩn tắc xử sự giữa cuộc đời Phương thấy mình và mẹ như hòa tan vào nhau. Vô số những hồi ức về mẹ thời quá khứ lại hiện về, Phương chỉ biết ôm hộp thư mà khóc. “ mẹ ơi! Mẹ ở đâu? Mẹ có hiểu nỗi những hiêu quạnh của con và những ký ức về mẹ không? thậm chí không để lại số điện thoại và địa chỉ, trời đất bao la con biết tìm đâu ra mẹ.”? Cuối cùng thì người đưa thư cũng mang đến bức thư thứ 72 của mẹ, cũng như những lần trước, Tiểu Phương sốt ruột gấp gáp mở bức thư. Ông thì lo lắng đứng sau lưng Phương, dường như đóan biết trước được sự tình sảy ra, với tin tức đáng sợ như thế nào? Bức thư này cũ và vàng hơn những thư trước. Phương nhìn lướt qua bên ngoài phong bì, rất ngạc nhiên và cảm thấy không vừa ý, nét chữ của mẹ trên phong thư có vẽ như không nắn nót gì cả, mà lại còn nhạt nhòa nữa chứ: “ Tiểu Phương! Thông cảm cho mẹ, mẹ không thể về dự và chúc mừng sinh nhật lần thứ 20 quan trọng nhất của con. Thật sự, mỗi lần sinh nhật của con mẹ đều rất muốn về. Nhưng, nếu để con biết, lúc con lên 3 mẹ bị ung thư đường ruột mà qua đời, thì con sẽ hiểu và thông cảm vì sao mà mẹ không thể về chung sống cùng con và chúc mừng con mỗi khi sinh nhật đến”. “thông cảm cho người mẹ đáng thương của con nhé! Ngay lúc mà mẹ biết mình sắp lìa đời, thì lúc đó mẹ nhìn thấy đôi môi con mấp máy nói không thành lời “ mẹ..., mẹ!!!!!!” sau đó nếp vào lòng mẹ vui đùa thật là dể thương. Mẹ cảm thấy rất hận chính mình vì sao không thể nhìn thấy đứa con duy nhất của mẹ lớn dần thành người theo năm tháng, đó là tiếc nuối lớn nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của mẹ”. “ mẹ không sợ chết, nhưng nghĩ đến thân phận của người mẹ, mẹ có trách nhiệm này, đó cũng là khát vọng của bản năng. Điều đáng buồn nhất là mẹ đã không có cơ hội làm tròn thiên chức của người mẹ. Vì thế, một vài ngày cuối cùng trước khi kết thúc thân mạng, mẹ tưởng tượng ra những sự việc có thể xảy ra trong qua trình trưởng thành của cuộc đời con. Lấy tinh thần và sức lực này, thức suốt ngày đêm, nuớc mắt tuông trào viết liên tục 72 bức thư và nhờ người cậu bên Mỹ, chiếu theo những ngày quan trọng nhất của con mà gửi về để thổ lộ và mong mỏi những nguyện vọng trong tâm tư của mẹ. Tuy mẹ đã hồn về chín suối, nhưng những lá thư này là mối quan hệ tinh thần vĩnh viễn duy nhất trong lúc này của mẹ con chúng ta”. “lúc đó, nhìn con tinh nghịch vui đùa, viết xong bức thư này, thì những cơn đau lại ập đến. Tiểu Phương, con còn chưa biết được thân mạng người mẹ yêu của con chỉ còn khoảng mấy ngày, và cũng không biết được những bức thư này là nét bút cuối cùng của mẹ viết cho 17 năm sắp đến trong cuộc đời của con. Con có biết là mẹ yêu con dường nào không, mẹ không đành để con cô độc lại một mình. Bây giờ mẹ chỉ dùng một tia sức lực cuối cùng này, tưởng tượng hình dáng thướt tha dịu dàng khi con tròn 20 tuổi, mẹ không thể viết được nữa, nhưng mà tình thương mẹ dành cho con là siêu việt sanh tử, mãi mãi và vĩnh viễn”. Xem đến đây, Phương không cầm lòng được, trong lòng dâng trào kinh ngạc và xúc động, ôm chầm ông bà khóc thảm thiết. Lá thư Phương cầm trên tay rơi xuống, tấm hình cũ nhạt kẹp trong lá thư theo chiều gió chao nghiên bay xuống đất. Trong tấm hình, là hình dáng mẹ nở một nụ cười tiều tụy nhưng hiền hòa lặng lẻ nhìn Phương chứa chan tình cảm, một sấp thư như muốn bay lượn trong tay mẹ. Phía sau tấm hình là nét chữ phai mờ của mẹ viết “ năm 1988, Tiểu Phương sinh nhật vui vẻ”. Tác giả:Lâm Lập Danh Như Nguyện dịch
LẠI TƯỞNG Thế giới mà chúng ta đang sống trong đó là một thế giới hiện tượng ... Thế giới mà chúng ta đang sống trong đó là một thế giới hiện tượng (monde manifesté) , tức là sự vật ảnh hiện trước mặt ta và giác quan của ta cảm nhận được. Trời mưa, trời nắng, mắt ta thấy được như vậy. Đây gọi là sự nhận biết của mắt, trong đạo Phật gọi là nhãn tưởng (cakkhu-sanna). Tiếng khen, tiếng chê, tiếng nhạc, v.v... tai ta nghe thấy được. Đây gọi là sự nhận biết của tai, hay nhĩ tưởng (sota-sanna). Trong đạo Phật dạy lục căn (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) tiếp xúc với lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) phát sinh ra lục thức. Đây gọi là bộ ba căn, trần, thức hay 18 giới. Có một điều quan trọng cần được nói đến mà ít ai để ý, đó là tưởng. Một lần trong quyển Vô Ngã tôi đã bàn đến chữ tưởng, ở đây xin nói nữa. Tưởng là một uẩn (khandha) trong năm uẩn. Con người được cấu tạo bởi năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Con người đau khổ vì cái máy năm uẩn làm việc không chính xác. Cái máy năm uẩn được đặt trong thế giới hiện tượng, sự tiếp xúc qua lại đầu tiên giữa hai cái là qua tưởng (uẩn). Tưởng, tiếng Pháp hay tiếng Anh dịch là perception, tức là sự nhận thức, nhận biết (thức là biết) qua giác quan, còn gọi cách khác là tri giác. Tưởng (uẩn) cũng giống như cặp mắt kính ta đeo để nhìn sự vật. Nếu đeo mắt kính đỏ thì thấy cảnh vật toàn là màu đỏ, đeo mắt kính đen thì thấy cảnh vật màu đen, u tối ảm đạm. Chúng ta đau khổ hay hạnh phúc đều do sự nhận thức của mình. Đối với sự vật, nếu ta nhận thức sai lầm thì khổ đau liền đến, nếu nhận thức đúng thì hết khổ. Vậy muốn chấm dứt khổ đau, ta phải biết sửa đổi cách nhận thức của mình, tức là sửa lại cách tưởng của mình, tập bỏ dần những cặp mắt kính màu để nhìn trực tiếp sự vật. Trong ngôn ngữ thông dụng hằng ngày, chữ tưởng thường được hiểu là ’tưởng lầm’. Tôi tưởng hôm nay trời đẹp, hóa ra trời xấu. Tôi tưởng anh đến hôm qua, ai dè hôm nay anh mới tới. Tôi tưởng cô ấy yêu anh, ai ngờ cô ta chỉ đóng kịch mà thôi. Tôi tưởng sự vật như thế này, nhưng thực tế sự vật lại như thế khác. Tôi tưởng người ta như thế này, nhưng thực ra người ta như thế khác. Cứ thế tưởng được dùng theo nghĩa hiểu lầm, tưởng lầm. Như vậy vô tình nó cho thấy là sự nhận thức (tưởng) của ta thường là một sự nhận thức sai lầm. Ta cần ý thức rằng sự nhận thức (hay tưởng) của ta đã bị ảnh hưởng và điều kiện hóa rất nhiều bởi sự giáo dục trong gia đình, bởi văn hóa phong tục tập quán xã hội, bởi tín ngưỡng tôn giáo. Từ sự nhận thức (tưởng) sai lầm, nó dẫn đến suy nghĩ (hành) sai lầm, rồi đánh giá, phán xét, phân biệt (thức) sai lầm. Từ những sự sai lầm như thế đương nhiên sẽ đưa đến khổ đau (khổ thọ). Một người tưởng rằng ai cũng ghét mình, rồi nghĩ rằng ai cũng nói xấu mình, rồi kết luận rằng người đời ác độc. Thử hỏi làm sao người này có thể vui sống hạnh phúc được ? Bình thường chúng ta hay dùng chung hai chữ nghĩ và tưởng, như nghĩ tưởng hoặc tưởng nghĩ, và nhiều lúc ta cho hai chữ giống nhau. Tưởng (perception) thuộc tưởng uẩn, còn nghĩ (penser) thuộc hành uẩn. Theo tiến trình bình thường thì tưởng trước rồi nghĩ sau. Thí dụ : anh A đang làm việc bận rộn, tôi đến hỏi anh ta vài câu làm anh nổi nóng, la mắng tôi. Tôi nghi nhận là anh A mắng tôi (đó là tưởng) và từ đó tôi nghĩ là anh A ghét tôi, giận tôi, v.v... rồi tôi buồn (khổ) giận anh ta. Về nhà ăn uống không vô, cứ ôm ấp nghĩ rằng anh A ghét mình. Thật là khổ ! Nhưng nếu tôi biết cách chuyển cái tưởng và cái nghĩ của tôi thì tôi sẽ hết khổ. Tôi ghi nhận (tưởng) là anh A có mắng tôi, nhưng tôi nghĩ rằng anh không ghét tôi, giận tôi, chỉ vì anh ta đang quá bận rộn mà tôi vô ý đến quấy nhiễu nên anh phát cáu, thế thôi. Qua chuyện, ngày hôm sau thế nào anh ta cũng trở lại bình thường. Nhờ nghĩ như vậy tôi sẽ không buồn giận anh A. Và như thế là không có khổ ! Trên đây mới chỉ là chuyển cái nghĩ thôi. Nếu ta đã học và hiểu được lý vô ngã thì ta chuyển ngay cái tưởng ban đầu. Tức là ghi nhận : anh A có nổi sùng lên, la mắng ỏm tỏi, nhưng anh đâu có mắng tôi. Chỉ có một sự phát cáu mà thôi, không có ai chửi ai hết. Chúng ta có thể nói đến phật tánh, chân tâm, bát nhã, tánh không, v.v... nhưng nếu ta không rõ về tưởng uẩn thì phật tánh, chân tâm kia cũng có thể là một loại vọng tưởng, tức là một sự nhận biết sai lầm. Người tu thiền, học theo kinh băng của thầy Thanh Từ hay dùng đến chữ vọng tưởng, khi ngồi thiền mà ý nghĩ khởi lên lôi kéo ta đi thì gọi đó là vọng tưởng. Vọng tưởng còn được hiểu là sự suy nghĩ lung tung không cho tâm vắng lặng. Nhưng vọng tưởng hay tưởng (đa số những cái tưởng của chúng ta thường mang tính chất sai lầm nên thêm chữ vọng cũng không sai) cần được ý thức để chuyển hóa ngay trong đời sống hằng ngày chứ không phải chỉ khi ngồi thiền yên lặng mới chú ý đến nó. Tưởng đã làm chúng ta đau khổ nhiều rồi. Đừng đổ lỗi mãi cho vô minh, đừng đổ lỗi mãi cho phiền não. Vì ta tưởng lầm nên mới sinh phiền não. Con ếch ngồi đáy giếng nhìn lên trời, thấy bầu trời chỉ bằng cái vung, rồi than sao trời nhỏ quá. Một tuần nay, ở sở nhiều việc anh A phải nán lại làm thêm nên về trễ. Ở nhà vợ anh chờ lâu nóng lòng, tưởng chồng mình đi với tình nhân, rồi buồn tủi ngồi khóc. Nếu bàn rộng ra thì tất cả những tư tưởng, ý nghĩ, quan niệm, khái niệm đều có thể gọi là tưởng. Ta quan niệm rằng Phật là người như thế này, như thế nọ, đó chẳng qua là do ta đã đọc sách, xem kinh (tưởng) nói về Phật rồi ta đúc kết một hình dáng ông Phật trong tâm ta (hành), và đinh ninh yên chí (thức) ông Phật đó là Phật thứ thiệt. Khi bị nạn, ta cầu cứu thì ngài sẽ hiện ra nguyên hình cứu vớt ta. Như bên đạo Chúa, nhiều người vẫn tin tưởng rằng thượng đế là một người hình dáng giống như chúa Giê-Su vẽ hoặc in trong sách vở. Có một anh chàng nọ rất ngoan đạo, hằng đêm thường cầu nguyện thượng đế. Rồi một hôm vỡ đê, nước lụt tràn vào làng, cuốn trôi đi nhà cửa. Bà con hàng xóm mạnh ai nấy lo thoát thân. Anh ta không chạy đi đâu hết, yên chí thượng đế sẽ hiện xuống cứu anh. Một lúc sau nước ngập đầy nhà, anh phải trèo ra cửa sổ ngồi. Có một chiếc xuồng chèo ngang, trên đó người ta gọi hỏi anh có muốn đi với họ không. Anh ta từ chối, nói rằng anh chờ thượng đế xuống cứu anh ta. Vài phút sau nước tiếp tục dâng cao, anh phải leo lên nóc nhà ngồi. Có một chiếc trực thăng bay qua, trên đó người ta hỏi anh có muốn đi với họ không. Anh cũng từ chối, nói rằng anh tin tưởng chờ thượng đế hiện xuống cứu anh. Chiếc trực thăng bỏ đi và chỉ vài giây sau nước tràn tới cuốn anh ta trôi mất. Nếu nói về lòng tin thì anh này quả thật là người có nhiều đức tin, nhưng vì cố chấp muốn thấy thượng đế phải hiện xuống dơ tay cứu vớt mình như anh đã từng tưởng tượng. Anh đâu ngờ là thượng đế đã hiện xuống với chiếc xuồng và chiếc máy bay trực thăng để cứu anh nhưng chính anh đã từ chối, vì anh cho đó không phải là thượng đế. Trong đầu anh, thượng đế phải là người tóc dài có râu, mặc áo thụng theo kiểu 2000 năm trước. Trong đời sống hằng ngày, tiếp xúc, đối đãi với mọi người, không lúc nào mà ta không tưởng. Vì tưởng người khác là thế này, thế nọ nên sinh ra ưa ghét, buồn vui, giận hờn, ganh tỵ, v.v... Phần đông sự tưởng của chúng ta thường mang tính chất sai lầm, Duy Thức Học gọi đó là phi lượng, tức sự nhận thức không đúng sự thật. Đương nhiên cũng có lúc chúng ta tưởng đúng nhưng trường hợp này rất ít, và khi tưởng đúng thì ta không dùng chữ tưởng mà dùng chữ tri là biết hay biết chắc. Nhưng ai dám nói là mình biết chắc điều gì ? Thế giới mình đang sống đây là một thế giới ảo tưởng, tiếng Phạn là Maya. Thế giới tự thân của nó không phải là ảo tưởng (illusion), nhưng chính vì lục căn hay giác quan của ta quá thô kệch và hạn hẹp nên ta nhận thức thế giới một cách méo mó. Từ đó những hiện tượng (chose manifestée) trở nên ảo ảnh không thực. Sự vật vô thường mà ta lại cảm thấy là thường, sự vật vô ngã mà ta cho là có ngã. Mắt thịt (nhục nhãn) của ta đâu thấy được vi trùng, đâu thấy được những màu sắc dưới infra-rouge hoặc trên ultra-violet. Tai ta đâu nghe được siêu âm thanh (ultra-son). Những gì mà lục căn hay giác quan của ta không nhận biết được thì ta cho là không có, không hiện hữu. Nhưng chúng vẫn có, vẫn hiện hữu, tôi gọi đó là thế giới ẩn tượng (monde non-manifesté). Đối với thế giới ẩn tượng thì ta mù tịt, không hay biết chút nào. Còn đối với thế giới hiện tượng thì ta nhận thức méo mó qua ảo tưởng và như thế làm sao ta dám tuyên bố là ta biết chắc điều gì ? Thế giới hiện tượng của một người mù hay một người điếc nó khác hẳn với cái thế giới hiện tượng của những người bình thường như chúng ta. Một ngày nào đó gặp duyên may được chữa hết mù, hết điếc, mắt thấy và tai nghe được, họ sẽ nhận ra rằng cái thế giới trước kia của họ thật là hạn hẹp. Ngày nay trước mặt họ thế giới hiện ra mầu nhiệm hơn với muôn vàn màu sắc âm thanh đủ loại. Ở đây khỏi cần nói, ta cũng biết là đời sống của họ trở thành ý nghĩa hơn. Những màu sắc âm thanh kia đâu phải là không có, nhưng vì giác quan nhận thức (hay cái tưởng) của họ quá hạn hẹp nên chúng biến thành ẩn tượng. Có những điều người giác ngộ thấy được, biết được mà chúng ta không thấy, không biết. Và như vậy cái thế giới hiện tượng của người giác ngộ lại trở thành thế giới ẩn tượng đối với chúng ta. Nếu so sánh với người giác ngộ thì ta đâu có khác gì người mù và điếc. Quý vị có nhớ chuyện người mù sờ voi không ? Tôi nói như thế không phải cố ý làm cho quý vị khủng hoảng tinh thần, mà muốn quý vị khi biết điều gì thì phải cẩn thận đừng quả quyết 100% là mình biết chắc. Cái mà mình cho là biết chắc, chẳng qua vẫn chỉ là một loại tưởng mà thôi. Sợi dây tưởng là con rắn, ngón tay tưởng là mặt trăng, người bạn tưởng là kẻ thù, kinh sách tưởng là chân lý. Giáo lý nào mà ta quả quyết cho đó là chân lý 100% thì giáo lý đó không còn là chân lý nữa. Vì thế Lão tử có nói : ’Đạo khả đạo phi thường đạo’. Mỗi khi ta cho rằng mình biết được chân lý, nắm bắt được chân lý thì chân lý đã tuột khỏi tầm tay của ta rồi. Quý vị hãy biết, nên biết, cần biết nhưng đừng cho là mình biết chắc, thế thôi. Mỗi cái biết, mỗi lần biết là một nấc thang, nhưng không phải là nấc thang cuối cùng. Quý vị biết chuyện người đeo tro đứa con chứ ! Một người đàn ông nọ, vợ chết sớm để lại một đứa con trai, ông ta rất cưng quý. Một hôm ông đi vắng, có bọn cướp đến cướp của đốt làng rối bắt cóc đứa con trai của ông. Khi trở về, thấy nhà cửa cháy tan, trong nhà có một xác chết, vì cháy đen không nhìn rõ mặt nên ông liền cho đó là con trai của mình. Đau đớn gào thét một hồi, buồn khổ ông ta đem cái xác kia thiêu ra tro rồi bỏ vào một cái túi đeo trên người để tưởng nhớ luôn đến đứa con trai yêu quý. Một ngày kia, con trai của ông trốn thoát bọn cướp trở về nhà gõ cửa. Ông hỏi : ai đó ? Nó trả lời : con đây ! Ba hãy mở cửa cho con vào. Ông ta quát lên : đừng có nói bậy, con tao chết rồi. Tao đã thiêu nó và tro của nó tao đang mang trên người đây. Ngươi là đứa nào mà dám xưng là con tao ? Đi chỗ khác chơi, đừng có lải nhải. Tội nghiệp thằng bé đứng ngoài cửa, kêu gọi hết hơi mà người cha nhất quyết không mở. Cuối cùng nó đành lủi thủi bỏ đi. Mình còn sống nhăn răng đây mà cha mình cứ nhất quyết bảo mình đã chết, không chịu mở cửa cho vào, lại còn đuổi đi. Thật là oan ức, tức tưởi làm sao ! Quý vị nghe qua câu chuyện trên có thấy buồn cười không ? Cười người đàn ông kia sao mà ngu quá ! Dù sao đi nữa ông ta cũng nên mở cửa xem mặt mũi thằng bé ra sao chứ ! Và biết đâu nhờ đó ông ta có thể nhận ra con mình. Nhưng đàng này ông cứ khăng khăng nhất định từ chối. Vì sao ? Bởi vì ông ta biết chắc, tin chắc là con mình đã chết nên đâu cần ra mở cửa làm chi cho mệt. Quý vị đừng cười ông ta, vì đa số chúng ta cũng giống như ông ấy. Chúng ta tin chắc là mình biết chắc đạo Phật như thế này. Nếu có người khác đến bảo đạo Phật không phải như thế này mà là như thế kia, thì chúng ta sẽ dẫy nẩy lên nói : xin mời ông đi chỗ khác chơi, vì đạo Phật của ông không đúng, là tà giáo. Đạo Phật của tôi mới đúng, vì tôi đã theo nó, đeo nó từ 10 năm nay rồi. Trong kinh Duy Ma Cật, phẩm thứ nhất ’Phật Quốc’ ngài Xá lợi Phất thắc mắc tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Các cõi Phật khác đều thanh tịnh, sao cõi Ta Bà của Phật Thích Ca không thanh tịnh với hầm hố, chông gai, sỏi sạn, đất đá nhơ nhớp ? Lúc đó đức Phật mới lấy ngón chân nhấn xuống đất, tức thì đại chúng liền thấy cõi Ta Bà này hiện ra trang nghiêm rực rỡ như cõi Vô Lượng Công Đức của Phật Bảo Trang Nghiêm và mọi người đều thấy mình đang ngồi trên toà sen báu. Lấy ngón chân nhấn xuống đất tức là thay đổi cái nhận thức (tưởng) của đại chúng. Trong đời sống hằng ngày, đối với một người hay một sự việc nào đó mà mình có vấn đề bất an, buồn bực đau khổ thì phải biết kiểm lại cái tưởng của mình đối với người đó hoặc sự việc đó. Từ trước đến giờ mình đinh ninh, tin chắc và nghĩ rằng người đó là như vậy, nhưng có thể họ không phải vậy thì sao ? Đinh ninh tin chắc sự việc là như thế nhưng thực tế sự việc có thể và rất có thể không phải là như thế thì sao ? Tôi không muốn quý vị vứt bỏ, từ chối tất cả niềm tin, hiểu biết hay khái niệm sẵn có của mình từ trước tới nay mà hãy hé mở cửa tâm để có thể tiếp nhận những điều hữu ích cho chính mình, để mình bớt khổ. Ngoài chữ tưởng (perception) liên quan đến tưởng uẩn của đạo Phật còn có một chữ nữa khá quan trọng trong việc chuyển hóa khổ đau đó là phóng chiếu (projection). Trong đời sống hằng ngày, có những ý nghĩ tình cảm mà ta không nhận ra chúng là của riêng ta, phát xuất từ ta và ta phóng chiếu chúng vào sự vật và người khác, rồi ta tưởng hay đinh ninh sự vật và người khác là như thế. Danh từ bình dân gọi là ’suy bụng ta ra bụng người’. ’Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ’, cảnh vật tự nó đâu có vui buồn, vì trong tâm ta buồn rồi ta phóng chiếu cái buồn của mình lên cảnh vật và thấy (tưởng) cảnh vật buồn. Nhiều lúc ta còn đổ tại cảnh buồn nên làm ta buồn. Cô tám có một người bạn thân là cô ba. Cô ba sống độc thân còn cô tám có chồng và hai con. Mỗi lần gặp nhau, cô tám than thở giùm cô ba : ’Tội nghiệp chị ! Chị sống một mình như vậy chắc khổ lắm nhỉ. Lâu lâu chị có thấy buồn không ? Nhưng cô ba là người thích sống một mình, thích tự do, cô sống rất thoải mái, không bao giờ ao ước lấy chồng có con cả. Trong trường hợp này ta thấy cô tám đã phóng chiếu những quan niệm, ước muốn và sợ hãi của mình vào cô ba, vì nếu cô phải sống một mình như cô ba, không có chồng con bên cạnh thì cô sẽ cảm thấy buồn khổ bơ vơ khó sống. Nhiều lúc cô tám thấy thương và tội nghiệp cho bạn, cô muốn làm mai mối tìm bạn trai cho cô ba và cô tưởng làm như vậy là tốt, là đúng. Nhưng cô không ngờ càng làm như vậy thì cô ba càng bực mình khó chịu. Cô ba đã hết lời giảng giải cho cô tám biết là cô không thích có chồng, cô rất hạnh phúc sống độc thân. Nhưng cô tám đâu có chịu nghe cô ba, cô chỉ nghe theo sự phóng chiếu của mình. Cuối cùng cô ba đành phải nghỉ chơi, không giao thiệp với cô tám nữa để khỏi bực mình. Oái ăm hơn nữa là cô tám không hiểu tại sao bạn mình lại không chơi với mình nữa, trong khi đó mình hết lòng với bạn, hết lòng muốn giúp bạn, v.v... Vì quá tin tưởng vào sự phóng chiếu của mình nên cô mờ mắt, không nhận thức, không hiểu được sự vật đúng như thật. Cô cứ tưởng là mình đúng, là mình tốt, nhưng cô đã làm bạn mình khó chịu và hậu quả là cô cũng không vui sướng gì vì cô mất đi một người bạn. Có nhiều bậc cha mẹ phóng chiếu tình cảm, ao ước của mình vào con cái. Như muốn con gái mình phải lấy chồng bác sĩ, kỹ sư, v.v... Vì chính họ xưa kia đã từng ao ước như vậy và họ tin rằng có chồng bác sĩ, kỹ sư thì mới có hạnh phúc. Họ làm như chính họ đi lấy chồng chứ đâu phải con gái họ. Trong khi đó cô gái kia đang yêu một anh nghệ sĩ nghèo, và đối với cô nếu lấy được anh ta thì cô sẽ có hạnh phúc nhất đời. Câu chuyện đi tới đâu thì để cho quý vị đoán hoặc tìm cải lương mà xem. Nhưng trên thực tế đã có nhiều gia đìnhtan nát, con cái bỏ nhà ra đi hoặc tự tử,v.v... Chỉ vì sự phóng chiếu của mình mà cha mẹ làm khổ con và làm khổ chính mình. Trên đây chỉ là hai thí dụ nhỏ. Sự phóng chiếu đầy dẫy trong gia đình, xảy ra thường xuyên giữa cha mẹ vợ chồng con cái, và với tất cả mọi người. Ngay cả người tu vẫn còn phóng chiếu. Ta có thể vô tình phóng chiếu nhưng nhớ đừng quá tin vào cái tưởng của mình, nhờ đó có thể giảm bớt thiệt hại cho mình và người. Trong Bát Nhã Tâm Kinh có đoạn nói : ’Bồ Tát nương theo Bát Nhã Ba la Mật nên tâm không quái ngại, không sợ hãi, xa lìa điên đảo mộng tưởng, đạt đến Niết Bàn’. Tôi không biết quý vị tu tập Bát Nhã làm sao, nhưng trước tiên là cần phải kiểm lại cái tưởng của mình xem nó có phải là một loại mộng tưởng không ? Một loại tưởng đảo ngược (thiện mà cho là ác), một loại tưởng của những người điên (không thật mà cho là thật).
Làm cách nào chết được thanh thản (*) Tất cả chúng ta một ngày nào đó sẽ phải chết. Chúng ta phải chết thanh thản và an bình. Cho nên, một người sắp phải chết chúng ta nên cố gắng làm cho cái chết càng thanh thản và đẹp đẽ cho ông ấy hay bà ấy càng tốt. Vâng, bạn ngạc nhiên cái chết có thể lại đẹp đẽ ư? Nếu bạn ngạc nhiên, đó là vì chúng ta thường ác cảm đối với cái chết. Này các tỳ kheo, một tỳ kheo phải đối diện cái chết của mình bằng chánh niệm và thấu triệt rõ ràng. Ðó là huấn thị của ta cho các ngươi. Ðức Phật PHẢI CHẾT THANH THẢN Tất cả chúng ta một ngày nào đó sẽ phải chết. Chúng ta phải chết thanh thản và an bình. Cho nên, một người sắp phải chết chúng ta nên cố gắng làm cho cái chết càng thanh thản và đẹp đẽ cho ông ấy hay bà ấy càng tốt. Vâng, bạn ngạc nhiên cái chết có thể lại đẹp đẽ ư? Nếu bạn ngạc nhiên, đó là vì chúng ta thường ác cảm đối với cái chết. Nỗi sợ về đau đớn và cái bấp bênh thường đến sau cái chết. Rồi có sự gắn bó với người thân của chúng ta phát sinh nhiều đau đớn trong tâm của chúng ta khi phải lìa bỏ họ. Tuy nhiên chúng ta nên nhận thức rằng sự hiểu biết và thái độ sai lầm của chúng ta là nguyên nhân của khổ đau. Chúng ta không hiểu Pháp đủ sâu xa. Chúng ta không hiểu và thâm nhập bản chất của tâm và thân là vô thường, khổ đau và vô ngã. Chúng ta không biết cách buông bỏ một cách uyển chuyển, cách cam chịu với cái không tránh được. Khi bà mẹ kế của Ðức Phật Maha Pajapati Gotami sắp chết vào lúc ở tuổi 120 già lão, A Nan và những nhà sư nữ khóc. Maha Pajapati Gotami nhẹ nhàng quở trách họ: "Tại sao các ngươi khóc, con trai và con gái của ta. Các ngươi không trông thấy thân ta đã trở nên già nua và hom hem sao? Nó giống như nơi rắn thường lui tới của bệnh tật, nơi nghỉ ngơi của tuổi già và cái chết, cái nhà của khổ đau. Ta mệt mỏi đã phải lớn lên trong cái xác thân này. Nó chẳng là gì cả nhưng là một gánh nặng cho ta. Ðã từ lâu ta mong mỏi sự giải thoát Niết Bàn. Và ngày hôm nay điều mong ước của ta sắp thành hiện thực. Thật ra cái chết của ta là hạnh phúc. Ðó là lúc cho ta đánh trống mãn nguyện và sung sướng. Tại sao các ngươi lại khóc?" Ðức Phật, khi Ngài sắp chết giữa môi trường thiên nhiên dưới hai cây sala (tha la) trong rừng, cũng bảo Ðức A Nan đừng khóc vào lúc Ngài chết. Ngài nói người có trí tuệ và trầm tĩnh phải chấp nhận sự thật về cái chết và chia ly cùng tất cả những gì mà chúng ta thương yêu là không thể tránh được. Ðức Phật nhắc chúng ta phải tu tập thiền chánh niệm để đạt được trí tuệ giúp ta đối đầu với cái chết bằng sự thanh thản. Ngài nói với các tỳ kheo: "Bởi vậy các con phải tự rèn luyện. Chúng ta phải chấp nhận cái chết bằng chánh niệm và tự tại." Và lời dặn dò cuối cùng của Ðức Phật là: "Tất cả những gì do duyên hợp đều phải tan rã. Các con phải phấn đấu chuyên cần." Người sống một cuộc đời đẹp đẽ có thể chết một cách đẹp đẽ. Một ngày nọ tôi tình cờ đọc mấy dòng hồi tưởng rất cảm động trong một tờ báo. Khi bà trút hơi thở cuối cùng và đi vào cõi bất diệt, mặt bà sáng ngời và môi bà nở một nụ cười. Chị F, trông thấy vậy, thốt lên: "Hãy nhìn kìa, bà đang nhìn thấy Thượng Ðế". Việc này xẩy ra như vậy, tôi biết bà là một người Cơ Ðốc Giáo, đã chết một cái chết đẹp như vậy. Bà có tính dịu dàng, tử tế và lúc nào cũng quan tâm đến phúc lợi của người khác. Tôi được biết bà là một nhà giáo thường tìm các học trò yếu kém để dạy thêm và khuyến khích chúng. Bà được thương yêu sâu xa và trân quý bởi gia đình và tất cả những người đã tiếp xúc với bà. Tôi được biết bà bao giờ cũng là một người dễ thương và thương yêu tất cả mọi người quả thật đời bà giống như một vị thánh. Vì đã sống một cuộc đời đẹp như vậy, thảo nào bà đã chết một cái chết đẹp. Tôn giáo của chúng ta có thể khác nhau nhưng Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, người được giải Hòa Bình Nobel, nói rằng: "Từ bi là cốt lõi của tất cả tôn giáo." Niềm tin sắt đá của tôi là nếu chúng ta đã sống một cuộc đời tốt đẹp, thì khi chúng ta chết chúng ta sẽ chết một cái chết đẹp dù chúng ta là Phật Tử, Cơ Ðốc Giáo, Ấn Giáo, Hồi Giáo hay của bất cứ quan điểm nào hay niềm tin nào. Như Ðức Phật nói, chính hành vi tạo thành con người. Trong phương diện này, tôi thường nói với người Phật tử: thà là một người Cơ Ðốc Giáo, một người Hồi Giáo tốt còn hơn là một Phật tử xấu. Bởi vậy, người Cơ Ðốc Giáo tốt khi họ chết họ có thể thấy Thượng Ðế của họ hay ánh sáng. Người Phật tử có thể thấy những hình ảnh tinh thần của Ðức Phật, a la hán, thiên nhân, hay cảnh thiên đường và ánh sáng rực rỡ. Jack Kornfield, một vị thầy thiền Minh Sát người Mỹ, có lần kể trong tờ báo Inquiring Mind khi ông viếng thăm Howard Nudleman, một bác sĩ phẫu thuật và là một người tu thiền một ngày trước khi ông chết về ung thư ra sao. Ông nhớ lại rằng khi ông đi vào phòng ông Howard giống như ông đi vào một ngôi chùa như thế nào. Và khi ông nhìn vào ông Howard, ông Howard nhìn ông mỉm cười, một nụ cười ngọt ngào không thể tưởng tượng được, một nụ cười mà ông Kornfield không bao giờ có thể quên được trong quãng đời còn lại của ông. Vâng, tôi tin chắc có rất nhiều chuyện cảm động về những cái chết đẹp của những người con người đẹp. Cho nên, chính cái chết có thể là một sự kinh qua đẹp. Khi chúng ta sống một cuộc đời lương hảo, và thân này trở nên yếu ớt và suy sụp, chúng ta có thể đối mặt với cái chết một cách tao nhã khi biết rằng chúng ta đã sống một cuộc đời thiện và bây giờ đã đến lúc chúng ta tiến tới. Cho nên khi một người thân yêu sắp phải chết, chúng ta nên hiểu biết và để cho người ấy ra đi an bình. Chúng ta cố gắng làm điều đó vì người đó càng thanh thản và đẹp đẽ càng tốtõ. Rõ ràng, chúng ta không nên khóc lóc than van. Than khóc chỉ gây khó khăn thêm cho người sắp chết. Ðương nhiên nếu người ấy là một người Phật tử hiểu biết và còn đủ sức để nói thì người ấy, giống như Ðức Phật, sẽ nhẹ nhàng quở trách: Này các người thân yêu, tại sao các người phải khóc? Ðức Phật chẳng đã dạy ta bằng nhiều cách là chia ly không thể tránh được trong đời sống đó sao? Làm sao có thể là cái mà phải tan rã lại không tan rã? Ðiều đó không thể được. Cho nên chúng ta phải suy ngẫm sâu xa về Pháp. Này người thân yêu của tôi, thân này không phải của chúng ta. Tâm này cũng không phải của chúng ta. Chúng sinh diệt theo duyên hợp. Chúng ta phải tu tập chánh niệm sâu xa để thấy việc này, cho nên, đừng bám víu nữa, chúng ta có thể giải thoát khỏi sinh tử. Người thân yêu của ta, hãy mạnh lên. Dù tôi phải cáo từ bạn, tôi muốn nhắc nhở các bạn về những lời dặn cuối cùng của Ðức Phật: "Tất cả những hiện tượng do duyên hợp đều phải tan rã. Cho nên, ta kêu gọi các con, hãy phấn đấu chuyên cần." Vâng, tất cả Phật tử nên nhớ lời dặn cuối cùng của Ðức Phật cho chúng ta là hãy phấn đấu không mệt mỏi để đạt được trí tuệ hầu giải thoát chúng ta khỏi sinh tử. Một người tu thiền định phải thiền về cái chết. Người ấy có thể quán hơi thở, thở ra hít vào của mình hay bụng phồng lên và xẹp xuống do hít vào thở ra. Nếu gặp phải khó khăn gì, người ấy có thể nhận thức về chúng, ghi nhận chúng là thế không sợ hãi lo lắng mà bình tĩnh và vững tâm. Người ấy có thể quán thấy những cảm giác đau đớn, chịu đựng chúng dù chúng lên cao độ. Người ấy có thể tự nhắc nhở mình, chúng chỉ là những cảm giác, mặc dù là cảm giác khó chịu. Người ấy cũng thấy chúng vô thường, chúng không ngừng sinh rồi diệt. Người ấy sẽ hiểu và không bám víu hay bị ràng buộc vào thân. Người ấy biết cả tâm lẫn thân cũng sinh và diệt theo duyên hợp. Người ấy có thể suy ngẫm: "Thân này và tâm này không phải của tôi. Chúng chẳng bao giờ thuộc về tôi cả. Chúng sinh vì duyên hợp, và theo duyên hợp, chúng sẽ diệt. Cho nên, mắt này không phải của tôi, tai này không phải của tôi, mũi này không phải của tôi... Thân này được tạo thành bởi bốn yếu tố, đất, lửa, nước và gió, chúng tượng trưng cho những đặc tính của vật chất, những đặc tính về tính cứng, tính mềm, sức ép, sức căng, nóng và lạnh vân vân... Chừng nào năng lượng của nghiệp còn kéo dài kiếp sống của tôi trong cỡi đời này, thân này còn sinh tồn. Khi năng lượng của nghiệp cho đời này hết, thì thân này chết và một cái tâm mới được duyên hợp bởi cái tâm cũ vào lúc chết. sinh ra trong thân mới. Nếu tôi đạt được a la hán quả, không cần phải tái sinh nữa. Nếu tôi không có a la hán quả, tuy nhiên, đã sống cuộc đời thiện, tôi không sợ tái sinh. Tôi có thể có một cuộc sống mới làm người được phú cho mọi điều tốt đẹp và thông minh hay một chúng sinh ở cảnh trời và từ đấy tôi tiếp tục con đường phát triển cho đến khi tôi đạt được Niết Bàn tối hậu, sự chấm dứt sinh tử." Suy ngẫm như vậy, người tu thiền sẽ trở nên rất bình tĩnh và vững vàng. Người ấy sẽ trở nên rất an lạc. Người ấy có thể mỉm cười ngay cả trước cái đau đớn và với những người tập hợp chung quanh. Với tâm rất an lạc, cảm giác đau đớn của thân có thể chấm dứt. Người ấy có thể chết thanh thản và an lành, nhẹ nhàng chút hơi thở cuối cùng. NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT SUNG SƯỚNG Khi Cấp Cô Ðộc, người nhân đức và đại ân nhân của Ðoàn Thể Tăng Già sắp chết, Xá Lợi Phất, người Ðệ Tử lớn nhất của Ðức Phật, thuyết giảng về sự không quyến luyến cho ông. Xá Lợi Phất nhắc Cấp Cô Ðộc là đời sống chỉ là một tiến trình tùy thuộc vào duyên hợp, và tâm và thân tạm bợ này không có gì đáng để bám víu vào. Xá Lợi Phất đưa ra một bản danh sách toàn bộ những cái mà đời sống cấu thành, cho thấy tất cả đều là duyên hợp phù du không thể bám víu vào được. Ngài giảng: "Cho nên Cấp Cô Ðộc không nên hiểu theo những dạng thức nhìn thấy và mắt, âm thanh và tai, mùi và mũi, vị và lưỡi, xúc và thân, và ý thức tùy thuộc vào tất cả những thứ này. Cấp Cô Ðộc không nên hiểu theo nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Ông nên hiểu bản chất vô thường của chúng và quan sát sự sinh diệt của chúng, không bám víu vào chúng và hay không thích chúng. "Tương tự như vậy, Cấp Cộ Ðộc không nên hiểu theo sự tiếp xúc tùy thuộc vào mắt và hình dạng, tai và âm thanh và vân vân... Ông không nên hiểu theo cảm nghĩ dù thích thú hay không thích thú, cảm nghĩ nảy sinh tùy thuộc vào sự tiếp xúc. Ông phải xem xét tất cả chúng bằng trầm tĩnh, hiểu biết thực chất của vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Thân được tạo thành bởi bốn yếu tố giãn nở, dao động, cố kết, và nhiệt độ. Tâm được tạo thành bởi cảm nghĩ, nhận thức, hoạt động tinh thần và thức. Tất cả chúng đều vô thường và lúc nào cũng thay đổi. Xá Lợi Phất khuyến khích Cấp Cô Ðộc không nên luyến chấp vào một trong những thứ đó. Không có gì trong thế giới này có thể gọi là cái ngã thường còn. Trong ý nghĩa tối hậu, không có cái ngã trong tâm và thân. Và cho nên không có gì để Cấp Cô Ðộc bám víu vào." Khi nghe được Pháp sâu xa này, một niềm an lạc và sung sướng lớn lao bao trùm Cấp Cô Ðộc. Và ông ta đã khóc. Thị Giả của Ðức Phật, Ngài A Nan có mặt lúc ấy tiến lại gần và hỏi Cấp Cô Ðộc tại sao ông khóc. "Có phải vì ông đã không chịu nổi cơn đau?" "Không phải", Cấp Cô Ðộc trả lời. Không phải là như thế. Mà đúng hơn là vì bài thuyết giảng của Xá Lợi Phất quá đẹp đến nỗi đã làm cho ông xúc động sâu xa. "Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ cảm xúc như thế. Cho nên đó là lý do tại sao tôi khóc," ông nói với A Nan và Xá Lợi Phất. Những giọt nước mắt của ông không phải là nước mắt phiền não mà là những giọt nước mắt vui sướng – vui sướng vì nghe và hiểu được Pháp sâu xa như thế. Cấp Cô Ðộc hỏi tại sao Pháp như thế không được thường thuyết giảng cho các cư sĩ. Xá Lợi Phất trả lời vì người cư sĩ thường thấy khó lĩnh hội Pháp sâu xa như thế, họ đều bị luyến ái vào rất nhiều lạc thú sẵn có trong đời sống. Cấp Cố Ðộc phản đối là có những người có thể hiểu và lĩnh hội Pháp sâu xa này, và những ai không được nghe sẽ bị thiệt thòi. Ông thúc giục Xá Lợi Phất thường xuyên thuyết giảng về không luyến chấp cho những người khác như bài giảng mà ông vừa được thuyết giảng. Ít lâu sau, Cấp Cô Ðộc chết. Vì lúc cuối cùng của ông rất an lạc và đã sống một cuộc đời lương hảo, theo lời Ðức Phật, ông được tái sinh ở cung trời Ðâu-xuất. Khi một người đã đạt được bậc thứ nhất của thánh quả (Tu-đà-hoàn) người ta tin rằng Cấp Cô Ðộc có thể, trong bảy kiếp, sẽ đạt giác ngộ hoàn toàn và do đó sẽ giải thoát khỏi tái sinh. Cũng có những câu chuyện về những thầy tỳ kheo đắc quả A la hán (giác ngộ hoàn toàn) trên giường lúc sắp chết. Cho nên những hành giả du già ngày nay có thể thiền định đến lúc cuối cùng, họ biết họ có thể thực hiện kiến thức tuệ giác, hiểu thấu về vô thường, khổ đau và vô ngã, và thậm chí đạt được thánh quả vào lúc chết. Một hành giả du già có thể trải tâm từ, thương yêu-khả ái. Cả đến lúc sắp chết, người ấy có thể trải những ý nghĩ thương yêu-khả ái đến tất cả chúng sinh. "Nguyện cho tất cả chúng sinh đều hạnh phúc. Nguyện cho chúng sinh thoát khỏi tai họa và nguy hiểm. Nguyện tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau tinh thần .... khổ đau thể chất... Nguyện cho họ quan tâm lẫn nhau trong hạnh phúc". Chết với những tư tưởng thương yêu cho tất cả chúng sinh là một cách chết cao thượng. Trong cuốn Visuddhimaga, một cuốn sách thiền kinh của Phật Giáo, có nói rằng một người có thói quen trải tâm từ, sẽ chết rất an lạc, như thể là ngủ thiếp đi một cách dễ chịu. Và nếu người ấy không đạt được thánh quả A la hán, và phải tái sinh thì cũng tái sinh vào cõi trời. Vâng, một người du già không sợ chết. Người ấy có thể từ bỏ một cách thanh nhã thân và tâm vì biết rằng sống hay chết chỉ là hai mặt của một vấn đề, vì hiểu rằng trong khi chúng ta còn sống chúng ta đang chết từng chập một, chết vào mỗi lúc qua đi, và bị tái sinh vào mỗi lúc mới đến. Các hiện tượng tinh thần và thể chất không ngừng sinh và diệt. Không có gì đứng nguyên dù chỉ một giây. Ðiều này cũng đã chứng minh được trong vật lý lượng tử nơi người ta thấy rằng các hạt hạ nguyên tử triệt tiêu năng lượng với mức 10 tới 22 lần chỉ trong một giây. Ðức Phật cũng nói các hiện tượng tinh thần và thể chất không ngừng sinh ra và tan biến. Chừng nào mà chúng ta chưa loại bỏ được năng lượng nghiệp-tái sinh bằng cách nhổ tận gốc rễ những ô nhiễm của tham sân và si, thì chúng ta vẫn tiếp tục phải tái sinh. Chết trong sự sống này chỉ là sự chấm dứt của tuổi thọ cho thân và tâm trong sự sống này. Nhưng ngay lúc mãn hạn của tâm vào lúc chết, không có khoảng cách nào, một tâm mới nảy sinh nhập vào một thân mới theo nghiệp hay những hành vi của chúng sinh ấy trong đời trước. Cho nên người du già hiểu tâm lúc chết căn bản không khác gì tâm ở mọi lúc nên không sợ hãi. Người ấy chấp nhận cái chết trong chánh niệm và tự tại phù hợp với chỉ dẫn của Ðức Phật. LÀM CHO BẦU KHÔNG KHÍ THANH THẢN Khi tạo bầu không khí thanh thản cho một người sắp chết, chúng ta phải biết sở thích của người đó, những gì thích, những gì không thích của người ấy. Thí dụ, người ấy thích hoa. Chúng ta nên có hoa trong phòng bệnh cạnh giường. Người ấy có thể thích chết trong căn phòng ấm cúng của mình, trong môi trường quen thuộc và thanh bình với mình. Cho nên nếu có thể người ấy thích chết ở nhà hơn là ở bệnh viện. Nhưng nếu không thể được và cần để bệnh viện săn sóc, chúng ta nên cố gắng làm cho cảnh chung quanh trong bệnh viện càng riêng tư, ấm cúng và thanh bình càng tốt. Một phòng riêng thì tốt nhất, nhưng không phải tất cả mọi người có thể có đủ khả năng để trả tiền. Dù bất cứ ở chỗ nào, chúng ta cũng cố gắng làm cho bầu không khí càng thanh bình càng tốt. Có thể có một hình ảnh nhỏ của Ðức Phật mà người ấy thích ngắm. Nếu như vậy, chúng ta có thể để bức hình bên cạnh hoa ở bên cạnh giường. Thái độâ nghiêm trang thanh thản ở hình Ðức Phật có thể làm cho an tâm. Nhìn vào bức hình này, ta nhớ đến trí tuệ và lời dạy của Ðức Phật. Việc đó có thể cho nhiều an ủi và an lạc, nhất là những lúc cần thiết. Căn phòng phải được sạch sẽ và ấm cúng. Người sắp chết có thể thích cái giường của mình hướng về của sổ để có thể nhìn được cây cối có thể làm cho tâm an tịnh. (Thí dụ, Ðức Phật đã chọn cái chết trong thiên nhiên giữa hai cây sala (tha la) đang nở hoa tại rừng Câu Thi Na) Nếu chẳng may người sắp chết mất bình tĩnh và lộ vẻ sợ hãi, lo âu hay đau đớn, thân nhân nên làm cho người ấy an tâm. Thí dụ như người thân có thể cầm tay người sắp chết trong tay hay vuốt nhẹ vào trán, nói năng ngọt ngào để người ấy an tâm. Người vợ có thể nhắc nhở nhẹ nhàng người sắp chết về Pháp, sự cần thiết phải giữ tâm bình tĩnh và hành thiền. Bà ấy cũng có thể an tâm người sắp chết hãy đừng lo lắng gì về bà hay con cái, rằng đã có giáo lý của Ðức Phật và sẽ sống nương nhờ vào giáo lý ấy. Bà ấy biết cách săn sóc cho mình và những đứa con. Bà cũng có thể nhắc người sắp chết là tài sản, người thân yêu và tâm và thân rốt cuộc cũng không phải là của chúng ta. Chỉ có những hành vi của chúng ta mới là tài sản thực sự theo chúng ta. Bà cũng nhắc nhở ông ấy về cuộc đời lương thiện của ông, sự săn sóc của ông cho gia đình, và tất cả những hành động thiện mà ông đã làm. Nhớ như vậy và hiểu rõ Pháp, người ấy có thể trở thành mạnh mẽ. Người ấy có thể mỉm cười và thanh thản. Cái chết không còn làm cho người ấy sợ hãi. Ðương nhiên những gì chúng ta đã nói chỉ là một thí dụ cho một diễn tiến có thể xẩy ra. Ðến lúc đó, không thể có kịch bản nào được sửa soạn cho việc này. Nhưng nếu ta hiểu Pháp ta có thể phản ứng Pháp theo trực giác và theo hoàn cảnh lúc ấy, nói và làm điều phải để giúp đỡ người ra đi một cách an bình. Vào thời Ðức Phật, Nakulamata, vợ của Nakulapita chỉ làm như sau: Bà đã an tâm người chồng khi ông này sắp chết. Bà ta nói với chồng: "Anh thân yêu, đừng chết với bất cứ nuối tiếc nào hay luyến chấp bất cứ thứ gì. Giáo chủ của chúng ta, Ðức Phật đã nói chết theo cách như vậy thật không khôn ngoan chút nào." Hiểu tính chồng, bà tiếp tục: "Anh thân yêu, anh có thể nghĩ rằng khi anh đi rồi, em không thể nuôi nấng con cái và giữ gia đình êm ấm. Nhưng đừng nghĩ như vậy, em rất khéo tay về cuốn bông và chải len. Em có thể nuôi nấng con cái và giữ gia đình êm ấm. Cho nên, hãy thanh thản." Và bà ta đã an tâm người chồng là bà sẽ giữ đức hạnh và tu tập Phật Pháp cho đến khi đạt được giác ngộ. Và nếu ai nghi ngờ việc này, hãy để cho họ đi hỏi Ðức Phật là người mà bà ta chắc chắn là sẽ bầy tỏ lòng tin tưởng ở nơi bà. Nghe thấy những lời bảo đảm như vậy, thay vì chết, Nakalapita cảm thấy khỏe hơn rất nhiều và đã khỏi bệnh! Sau này, khi cặp vợ chồng thắm thiết này đến gặp Ðức Phật, Ðấng Thế Tôn đã nói với Nakulapita rằng Nakulapita đã rất may mắn có một người vợ như Nakulamata: "Ông thật hết sức may mắn có người vợ như Nakulamata đã hết sức thương yêu và từ bi với ông, bà đã mong muốn ông được hạnh phúc và có thể khuyên nhủ ông trong lúc cấp thiết" Thân quyến cũng nên ủng hộ triệt để những gì có thể cho người sắp chết. Như đã nói trước đây họ không nên khóc vì khóc sẽ gây khó khăn cho người chết. Nhưng nếu họ thấy khó kìm hãm nổi mình thì hãy suy ngẫm về Pháp. Họ có thể suy ngẫm rằng cái chết không thể tách rời sự sống. Khi có sự sống ắt phải có cái chết. Ðó là điều chúng ta phải chấp nhận một cách tế nhị. Ngoài ra khi thân đã hư hoại và bệnh nặng, thì thật là mừng để "thoát khỏi" nó. Nhận lấy một cuộc kiếp sống mới, người ấy sẽ khá hơn. Suy nghĩ một cách khôn ngoan, thân quyến có thể giành lại được sự tự tại và giúp đỡ người sắp chết ra đi xứng đáng và thanh thản. CHẬP TƯ TƯỞNG CUỐI CÙNG Chập tư tưởng cuối cùng hay lúc chết được cho là rất quan trọng. Nếu ta chết vì sợ hãi, giận dữ, tham lam hay bất cứ với trạng thái tinh thần bất thiện nào, thì tái sinh xấu sẽ nảy sinh. Nếu ta chết trong thanh thản, hiểu biết, với chánh niệm và trầm tĩnh, tái sinh tốt sẽ xảy ra. Thường thường nếu ta có một cuộc sống thiện thì chập tư tưởng cuối cùng đương nhiên sẽ là chập tư tưởng thiện. Những hành vi thiện ta đã làm có thể xuất hiện trước tuệ nhãn. Hay ta có thể có những ảo giác về định mênh sắp tới, như nhìn thấy quang cảnh ngoạn mục ở cõi trời và những người rất đẹp. Trái lại nếu ta sống một cuộc đời tội lỗi thì những hành vi ác đã làm có thể xuất hiện trước mắt ta hay có những ảo giác về lửa địa ngục hay có thể nhìn thấy những điềm xấu khác. Trong đời sống tuy nhiên chúng ta không hẳn là tốt hay cũng không hẳn là xấu, có một sự pha trộn xấu và tốt trong chúng ta. Nhưng nếu xếp toàn bộ chúng ta là tốt thì chúng ta tin là sẽ có một tái sinh tốt. Nếu chúng ta có một sự hiểu biết rõ ràng về sống và chết, chúng ta có thể chết với sự vững vàng và trầm tĩnh. Chúng ta có thể, như đã nói, hành thiền cho đến lúc cuối cùng, giữ vững chánh niệm và tự tại. Vì đã sống một cuộc đời thường là thiện và hơn nữa có thể giữ chánh niệm trong lúc trực diện với cái chết, chúng ta chắc chắn được bảo đảm một tái sinh tốt – lại là người tốt – hay chư thiên, một chúng sinh ở cõi trời. Cũng có hy vọng là chúng ta có thể nhanh chóng, dù bất cứ tái sinh nào đã xẩy ra, chấm dứt luân hồi, vòng sinh tử, cho nên không còn phải tái sinh, chúng ta sẽ giành được an lạc của Niết Bàn. Ðôi khi có câu hỏi sau đây: Cái gì sẽ xảy ra nếu không giữ được chánh niệm, nhất là khi người ấy không trải qua sự rèn luyện hành thiền nào? Chẳng hạn nếu người ấy chết trong trường hợp hôn mê thì sao? Hoặc người ấy đột nhiên bị chết đột ngột trong một tai nạn xe cộ thì sao? Theo sự hiểu biết của tôi về kinh sách được dạy của Ðức Phật, tôi có thể nói rằng nếu ai đã sống một cuộc đời lương thiện, thì những cơ may là chập tư tưởng tốt sẽ xuất hiện vào lúc chết và một tái sinh tốt sẽ nảy sinh. Nghiệp của chúng ta là nơi nương tựa đích thực của chúng ta (nghiệp quả), cho nên theo tổng số sức nặng về những hành động thiện mà chúng ta đã làm sẽ dẫn chúng ta đến một tái sinh tốt. Ðó là lý do tại sao chúng ta phải sống một cuộc đời thiện trong lúc còn sống, và không chờ đến lúc gần chết thì đã quá muộn. Nhưng vì trong đời sống chúng ta đã làm cả xấu lẫn tốt, có khả năng là chúng ta có thể vụng nhớ đến những hành vi xấu thay vì những hành vi tốt vào lúc chết. Cho nên giữ chánh niệm quan trọng hơn tất cả; chánh niệm giúp ích nhiều. Với chánh niệm, những tư tưởng xấu không thể thâm nhập tâm chúng ta và chúng ta có thể chết bình tĩnh, thanh thản. Chánh niệm là một đức tính tuyệt vời – có thể giúp chúng ta trong cả sống và chết – tại sao chúng ta không trau dồi và phát triển nó trong khi chúng ta còn sống? Một tỳ kheo chuyên tâm chánh niệm về cái chết thì lúc nào cũng siêng năng. Vị tỳ kheo ấy nhận thức được sự tan vỡ ảo tưởng của tất cả các loại đang trở thành (sự sống). Thắng được sự luyến ái vào đời sống, vị tỳ khéo ấy lên án tội lỗi. Vị ấy tránh tích trữ nhiều. Vị ấy không bợn chút tham lam nào về vật dụng cần thiết. Nhận thức về vô thường phát triển trong mình, theo sau là xuất hiện sự nhận thức về khổ đau và vô ngã. Nhưng trong khi chúng sinh không phát triển chánh niệm về cái chết không tránh nổi sợ hãi, khủng khiếp, và bối rối vào lúc chết như thể đột nhiên bị bắt bởi thú rừng, ma quỷ, rắn, trộm cướp, hay kẻ giết người thì vị tỳ kheo ấy không một chút sợ hãi, và không bi rơi vào bất kỳ tình trạng nào như vậy. Và nếu vị ấy không đạt được cái bất tử, thì ít nhất vị ấy cũng đi về một định mệnh hạnh phúc khi thân tan rã. Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhimaga) SUY NGẪM VỀ CÁI CHẾT Khi sống, thỉnh thoảng suy ngẫm về cái chết là tốt. Thực ra suy ngẫm hàng ngày càng tốt. Ðức Phật dặn chúng ta thường xuyên suy ngẫm về cái chết vì có rất nhiều lợi lạc đạt được từ sự suy ngẫm này. Trước nhất chúng ta phải hiểu rõ rằng suy gẫm về cái chết không phải là chúng ta phải trở nên rầu rĩ, sợ hãi, không lành mạnh hay ngã lòng, hay cảm thấy như tự giết mình. Không, chắc chắn là không, chúng tôi muốn nói rằng chúng ta nên suy ngẫm về cái chết một cách khôn ngoan, có thể sống một cách khôn ngoan và từ bi hơn. Thí dụ, bất cứ lúc nào tôi bị khó chịu hay nản lòng, tôi phải (nếu tôi không quá vô tâm) suy ngẫm theo những hàng chữ sau đây: Ðời sống ngắn ngủi, chảng bao lâu chúng ta đều sẽ chết. Cho nên cãi nhau hay tranh giành có ích gì? Giận dữ có ích gì? Không có ý nghĩa chút nào cả. Tốt hơn là tôi giữ sự an lạc của tôi. Tranh cãi hay giận dữ không giải quyết được vấn đề. Nó chỉ gây ra thêm thù oán và bực mình. Nghĩ như vậy tôi có thể bình tĩnh lại, kiềm chế mình để khỏi bị kích động bởi những cảm nghĩ mạnh mẽ, và liên hệ với người khác một cách lịch sự và khéo léo hơn. Ðương nhiên, không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng đôi khi (có lẽ là nhiều lần) tôi đã quên và bị kích thích của tài hùng biện và xúc cảm, nhưng khi tôi tự nhớ lại về sự ngắn ngủi của đời sống và cái vô nghĩa của nóng giận đùng đùng, tôi có thể bình tĩnh lại một chút và nói năng một cách lịch sự và thận trọng hơn. Tương tự như thế, khi tôi bị dao động hay lo lắng về một việc gì đó, tôi sẽ nghĩ rằng tất cả những lo lắng và băn khoăn có ích gì. Cuộc đời cứ tuần tự vi tiến, cái chết chờ đợi mỗi người chúng ta. Không ai trong thế giới này có thể thoát chết. Tử thần là người thực thi bình đẳng vĩ đại, và là người san bằng chênh lệch trong xã hội. Cho nên, trong khi tôi còn sống, tốt hơn là phải sống tốt hết sức mình, và điều đó có nghĩa là sống theo Pháp, sống trong chánh niệm, từ lúc này đến lúc khác, từ ngày này đến ngày khác, chỉ làm những điều tốt nhất mà tôi có thể, cứ thế mỗi ngày. Suy nghĩ khôn ngoan như vậy, tôi có thể kiểm soát những lo lắng, sống nhẹ nhàng và sung sướng hơn. Hơn nữa, chúng ta có thể suy xét rằng có hay không lo lắng tất cả chúng ta đều phải già và chết. Cho nên chúng ta có thể già mà không lo lắng! Làm điều đó sẽ là khôn khéo hơn. Không ai là người không đồng ý là chúng ta chắc chắn sung sướng hơn nếu không lo lắng. Mặt khác, tất cả những lo lắng làm tổn thọ, khiến cho chúng ta phát bệnh sớm và chết. Cũng bằng cách nghĩ này, chúng ta có thể kiểm soát lo lắng và sống một cuộc đời hạnh phúc hơn. Bởi vậy, suy nghĩ về cái chết một cách khéo léo khiến cho chúng ta rộng lượng và nhẫn nại hơn, tử tế và lịch sự hơn, cho cả chính chúng ta và người khác. Rồi chúng ta có thể trở nên ít bị ràng buộc vào của cải vật chất, ít tham lam. Vâng, khi chúng ta nhận thức sâu xa cái ngắn ngủi của cuộc đời, và không thành vấn đề chúng ta có thể có bao nhiêu nhưng chúng ta không thể mang theo chỉ một xu khi chết chúng ta sẽ trở nên ít keo kiệt hơn. Khi chúng ta rộng rãi một chút thì bắt đầu vui trong việc chia sẻ và cho đi, thương yêu và quan tâm. Lúc đó chúng ta sẽ nhận thức ra rằng đời sống không chỉ là chỉ gom góp và tích trữ của cải. Chúng ta sẽ thích rộng lượng hơn, chia sẻ và mang niềm vui và hạnh phúc vào cuộc đời của những người khác. Mang niềm vui và hạnh phúc cho người khác là làm cái cho đời sống có ý nghĩa và đẹp đẽ. Ðiều đó mới đáng kể. Tình thương yêu và từ bi nảy nở và thăng hoa trong chúng ta giống như hoa nở đẹp của cây. Chúng ta trở nên thành những người thực sự đẹp, đắm mình trong từ bi, đáp lại bằng tấm lòng không có bất cứ sự kỳ thị giống nòi, giáo phái, tôn giáo, địa vị xã hội vân vân... Ðời sống của chúng ta sẽ có một luồng sáng mới và chúng ta có thể nói chúng ta thực sự hạnh phúc và đầy tình người. Và khi cái chết đến, chúng ta không có gì nuối tiếc. Chúng ta có thể mỉm cười với cái chết một cách hạnh phúc và an bình. KHI BỐN TRÁI NÚI ÐỔ XUỐNG Ðức Phật có lần nói dùng lối so sánh để gây ấn tượng cho chúng ta sự cần thiết sống một cuộc đời có ý nghĩa. Ngài đặt câu hỏi này với Hoàng Ðế Pasenadi: "Này Hoàng Ðế, Ngài làm gì khi Ngài được biết bốn trái núi lớn, một từ hướng Bắc, một từ hướng Nam, một từ hướng Ðông và một từ hướng Tây, đang tiến về hướng vương quốc của Ngài, nghiền nát mọi vật sống và không có gì thoát khỏi?" Hoàng Ðế Pasenadi trả lời: "Bạch Ðức Thế Tôn, trong một thảm họa lớn lao như vậy, sự hủy diệt đời sống con người quá lớn, và tái sinh làm người rất khó đạt được, tôi có thể làm gì để cứu vãn mà sống một cuộc đời ngay thẳng và làm những hành vi thiện?" Ðức Phật đã làm cho vua hiểu vấn đề: "Thưa Hoàng Ðế, tôi nói để Ngài biết – tuổi già và cái chết đang lăn vào Ngài. Vì tuổi già và cái chết đang lăn vào Ngài, Ngài phải làm gì?" Hoàng Ðế trả lời rằng trong hoàn cảnh như thế tất cả việc cấp thiết là phải sống một cuộc đời lương thiện và thực hiện hành vi tốt. Nhà vua thừa nhận tất cả uy quyền, uy thế, của cải và lạc thú mà nhà vua hưởng như một hoàng đế, có thể khi đứng trước cái chết chỉ là con số không. Ví thế khi chúng ta suy nghĩ một cách khôn ngoan về cái chết, chúng ta sẽ nhận ra rằng của cải, uy quyền, uy tín và những lạc thú nhục dục không phải là mọi thứ. Chúng không thể bảo đảm hạnh phúc cho chúng ta. Nhiều người có chúng nhưng vẫn sống một cuộc đời sóng gió và bất hạnh. Một số người hối tiếc đã hành hạ, áp bức và làm hại người khác trong khi theo đuổi điên cuồng những tham vọng trần tục của họ. Sau khi đã tiến được tới đỉnh, họ thấy là thành quả rốt cuộc không phải là thỏa mãn mà thậm chí trống rỗng và vô nghĩa. Ðôi khi họ ước ao phải chi họ đã có nhiều thì giờ hơn để sống với thân quyến và bạn bè và bộc lộ sự quan tâm và trìu mến hơn. Họ nuối tiếc đã lơ là với người thân yêu. Một số người đã đạt được mức đô khá thành công, đã thay đổi thái độ giữa chừng. Họ đã dành nhiều thì giờ hơn cho người thân, bạn bè và xã hội và sửa soạn vì điều thiện cao cả hơn, bỏ những tham vọng cao nhất để bằng lòng với cái ít hơn. Nếu chúng ta biết được một số người giàu có và thành công đã xáo trộn đời họ ra sao, chúng ta sẽ học được một bài học từ sự lầm lẫn của họ. Một hôm tôi đọc cuốn sách với tựa đề "Những Người Giầu Có Nhất Trên Thế Giới Thua Cuộc" .Tôi thấy đây là một cuốn sách giáo dục. Tựa đềù hoàn toàn thích đáng. Họ là những người thua cuộc trong đời sống bất chấp của cải của họ. Vâng, tôi đã học được khá nhiều Phật Pháp trong cuốn sách đó, làm sao mà tiền bạc và thành công không bảo đảm hạnh phúc riêng cho họ. Thay vì họ đã không hạnh phúc bất chấp của cải và thành công của họ. Ðọc biết về những người giàu có và nổi tiếng như Howard Huges, Mario Lanza, Elvis Presley, Marylyn Monroe và Aristotle Onassis, đã sống và chết ra sao, tôi không thèm muốn như họ. Những nhân vật đầy quyến rũ như Elvis và Monroe chết vì ma túy quá độ, sống qua câu châm ngôn: "Từ nghèo khổ đến giàu có, và từ giàu có đến rỗng không". Tất cả của cải và thành công của họ không mang lại hạnh phúc mà họ tìm kiếm. Hạnh phúc vẫn tránh né họ. Họ có vẻ khá tệ héo hon vì nóng giận cao độ, phiền muộn, sợ hãi và trống rỗng. Lấy trường hợp của một người phụ nữ thừa kế một gia tài vô cùng to lớn, lấy chồng bẩy lần mà không tìm thấy hạnh phúc. Bà nói với người viết tiểu sử của bà: "Tôi thừa hưởng mọi thứ trừ tình yêu. Tôi lúc nào cũng tìm kiếm nó vì không biết nó là cái gì". Sáu cuộc hôn nhân đầu kết thúc bằng ly dị và cuộc hôn nhân cuối kết liễu bằng ly thân. Chung cuộc, mặc dù của cải lớn lao, người ta nói bà chỉ là một người đàn bà đau khổ dễ bị thương tổn bị ảnh hưởng bởi cô đơn. Bà chết vào năm 66 tuổi với một vài người bạn bên giường mà không có người chồng nào đến. Những chuyện bi thảm như vậy, tôi chắc chắn, có thể cũng tìm thấy ở phương Ðông. Ðương nhiên, đề cập đến những người khác, chúng tôi không có ý xem thường một cách tự cho là đúng. Nhưng chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh tầm quan trọng về việc có những giá trị thích đáng trong đời sống, hiểu bản chất của tình thương và từ bi thực sự. Chúng tôi cũng không có ý lên án sự giàu có và thành công hay nói rằng bạn không nên phấn đấu vì chúng. Không, chúng tôi không nói như vậy. Chúng tôi hiểu rõ là chúng ta phải thực tế và hiện thực. Chúng tôi hiểu rằng nếu các bạn đang làm việc trên thế giới này thì lý đương nhiên bạn cố gắng hết mình để kiếm được càng nhiều của cải càng tốt. Sau hết, nếu bạn muốn làm điều thiện và giúp đỡ người khác, như xây dựng cơ sở từ thiện, bệnh viện và trung tâm hành thiền, và cúng dường thực phẩm cho các nhà sư và người nghèo túng, bạn cần phải có tiền. Cho nên chúng tôi không nói là bạn không nên cố gắng làm một cư sĩ để làm giàu cho chính bạn. Nhưng đương nhiên, trong việc kiếm của cải, bạn nên làm bằng phương tiện lương thiện, không làm hại người khác. Nói một cách khác, điều chúng tôi nhấn mạnh là sự đúng mức về luân lý. Chúng ta cần có những giá trị tinh thần, nhận thức sâu sắc là hạnh phúc không phải là sự ham mê lạc thú mà là chia sẻ và quan tâm. Khi chúng ta có những giá trị đúng, chúng ta có thể sống có ý nghĩa và mang niềm vui và hạnh phúc đến tất cả những người ở trong môi trường đời sống của chúng ta. Khi chúng ta hiểu Pháp nhất là chân lý về vô thường, khổ đau và vô ngã, chúng ta không bám víu vào danh vọng hay lợi lạc. Chúng ta có thể sống khiêm nhường và từ bi, chia sẻ của cải và thành công, và tìm thấy niềm vui trong việc làm cho người khác hạnh phúc. Nhưng khi chúng ta không hiểu thấu sâu xa về những gì cấu thành hạnh phúc – mà hạnh phúc thực sự đến từ cái tâm đã thoát khỏi tham, sân và si – rồi thì chúng ta không hiểu chúng ta có thể làm điều sai lầm, chúng ta nhất định bị chìm vào vũng bùn nhục dục đi đến sự kết liễu thống khổ. Cho nên điều quan trọng là chúng ta hãy suy ngẫm cẩn thận về sự sống và cái chết, và lái vào đúng hướng, con đường thích hợp. Ý THỨC CẤP BÁCH Suy ngẫm về cái chết cũng có thể mang lại cái được gọi là Samvega bằng tiếng Pali – một ý thức cấp bách có thể tiếp sức cho chúng ta làm tất cả các điều thiện mà chúng ta có thể làm được trước khi chết và đặc biệt là hành thiền để trải nghiệm được chân lý sâu xa hơn và sự hiểu biết. Ðức Phật nói hầu hết mọi người tất tưởi vội vã ở bờ bên này; họ không tìm cách vượt sang bờ bên kia. Ý Ðức Phật muốn nói chúng ta tất cả đều bị vướng mắc vào những mưu cầu khoái cảm trong những lạc thú trần tục của đời sống. Chúng ta không tìm cách vượt khỏi phàm trần – vượt qua sinh tử, để nếm rượu thần tiên của hạnh phúc bất tử, Niết Bàn bất tử. Niết Bàn là gì? Niết Bàn không thể mô tả được mà mỗi người phải trải nghiệm nó cho chính mình. Nhưng Ðức Phật đã cố gắng đưa ra một số ý niệm về Niết Bàn là thế nào. Thí dụ, Ngài mô tả Niết Bàn là cái bất sinh, không nguồn gốc, không hình dáng, không điều kiện, bất tử, hạnh phúc cao nhất, an lạc to lớn nhất. Niết Bàn tượng trưng một trạng thái bất sinh bất diệt, không sinh hay tử. Nó được mô tả như ngọn gió thổi tắt những ngọn lửa của tham, sân và si, sự chấm dứt của tâm và vật, sự dập tắt khổ đau. (Ðể đọc thêm về Niết Bàn, hãy đọc cuốn "Bản Chất Của Niết Bàn", tác giả Mahasi Sayadaw, phát hành bởi Tổ Chức Buddha Sasana Nuggaha, Rangoon, Miến Ðiện) Một người đạt được trạng thái Niết Bàn, trạng thái này có thể thực hiện được trong quá trình thiền định, được gọi là giác ngộ. Một người giác ngộ có thể là bậc A La Hán hay Ðức Phật. Sự khác biệt giữa A La Hán và Ðức Phật là A La Hán đạt giác ngộ, bằng cách lắng nghe một người giác ngộ khác trong khi Ðức Phật đạt giác ngộ bởi chính mình. Người giác ngộ là người có thể trực diện với những nỗi thăng trầm của cuộc đời bằng cái tâm điềm đạm. Qua những thăng trầm, như thua và được, thành công và thất bại, khen và chê, đau đớn hay thích thú, nổi tiếng hay mang tiếng, người giác ngộ vẫn thanh thản và không lay chuyển. Họ tiếp tục lối sống ấy không phải là bị lừa dối hay không cảm thấy mà vì đã được giác ngộ và khôn ngoan; hiểu rõ bản chất thực sự của cuộc sống, bản chất của hiện tượng vật chất và tinh thần, bản chất vô thường, bất an cửa chúng và không có một hạt nhân hay cốt lõi nào có thể gọi là cái ngã trong ý nghĩa tối hậu. Nếu họ không tham đắm vào lạc thú, và thích đau đớn, không phải là họ không cảm thấy chúng. Họ cảm thấy chúng nhưng hiểu rõ bản chất thực sự của chúng nên họ không bị áp đảo bởi chúng. Họ có thể chấp nhận cả đau đớn lẫn lạc thú khi chúng tới bằng trí tuệ và trầm tĩnh. Cũng vậy đối với những hoàn cảnh trần thế khác như khen chê, thua được. Nếu họ được khen họ không kiêu căng hay tự cao tự đai. Họ không hãnh diện. Nếu họ bị chê, họ không buồn phiền hay ngã lòng. Ðiều ấy không thành vấn đề với họ. Họ vững vàng và không xao xuyến vì biết mình đã hành động đúng – không một vết nhơ của tham sân và si, động cơ thúc đẩy họ là thương yêu-khả ái và từ bi. Họ cũng không có ý thích làm hại đến con kiến hay con muỗi. Lương tâm của họ trong sáng, tâm trí họ nhẹ nhàng và tự do. A La Hán sống kiếp sống cuối cùng trên trái đất và khi chết không bị tái sinh nữa. A La Hán chấm dứt như một ngọn đèn, đạt nirodha – sự chấm dứt. Người ây đạt Parinibbana (vô dư Niết Bàn) – có nghĩa là người ấy đạt Niết Bàn tối hậu, sự chấm dứt tất cả cuộc sống, đạt được yếu tố an lạc tối thượng của Niết Bàn. Bởi vậy, A La Hán trong thời Ðức Phật có câu sau: Tôi thích thú không phải trong sự sống Tôi thích thú không phải trong cái chết Mà tôi chờ lúc ra đi của tôi trong chánh niệm và tự tại. Một bài kệ khác như sau: Vô thường là những thứ duyên hợp Có bản chất sinh ra và mất đi Ðã nẩy sinh rồi phải chết đi Bình lặïng và chấm dứt là hạnh phúc thực sự. Suy ngẫm về cái chết có thể giải thoát chúng ta khỏi sự kìm kẹp của cám dỗ nhục dục. Chúng ta sẽ không bị lừa dối bởi của cải vật chất mà hướng nguồn vui của chúng ta vào một cuộc đời đáng hài lòng và bổ ích vì sự phát triển trí tuệ và từ bi. Chúng ta được khuyến khích hành thiền hoặc, nếu chúng ta đã thực hành rồi, hãy tăng gấp đôi nỗ lực đạt mục tiêu tối hậu giải thoát khỏi tất cả khổ đau. SUY NGẪM DẪN ÐẾN HIỂU BIẾT VÀ CHẤP NHẬN Suy ngẫm thường xuyên về cái chết – về làm sao không thể tránh được và tài sản đích thực của ta là những hành vi – có thể khuyến khích chúng ta sống một cuộc đời lương thiện đến mức khi chết chúng ta sẽ không sợ hãi cái chết. Hơn nữa khi một người thân của chúng ta chết, không thể tránh khỏi là tất cả chúng ta đều phải chết, phiền muộn không làm đau đớn chúng ta khi chúng ta hiểu biết và chấp nhận. Ðó không phải là vì chúng ta không động lòng hay vô tâm. Không, chúng ta có một con tim, một con tim dễ xúc cảm. Chúng ta có thể cảm động sâu xa nhưng chúng ta cũng biết bản chất của sự sống, và có thể chấp nhận cái chết đan dệt thành sự sống. Giải thích người trí chấp nhận cái chết ra sao, Ðức Phật nói: "Thấy bản chất của thế giới, người trí không than van. Khóc lóc, rên rỉ sẽ chỉ dẫn đến khổ đau và đau đớn hơn. Nó không thể làm người chết trở lại. Người than khóc trở nên xanh xao và ốm yếu. Người ấy đã làm ngược với chính mình và sự than khóc của mình không đem lại gì cả." Ðức Phật nói người khôn ngoan đã thực sự nắm vững bản chất của cuộc sống, đã "rút ra mũi lao phiền muộn và thất vọng". "Người ấy không có sự bám víu. Vì đã đạt được an lạc trong tâm, người ấy đã vượt qua tất cả phiền não. Người ấy tự do." Cho nên chúng ta nên suy ngẫm về những khía cạnh sâu xa hơn trong những lời dạy của Ðức Phật để chúng ta có thể trực diện với cái chết không bị phiền não mà hiểu biết. Người ra đi cũng không muốn chúng ta mất tự chủ. Họ cũng không muốn chúng ta bị đau lòng mà hãy chấp nhận sự ra đi của họ một cách thoải mái. Vì đã tái sinh, họ đâu còn hiện diện để nhìn chúng ta khóc than. Khóc than và phiền muộn của chúng ta không giúp gì cho họ cả. Cho nên cái đó thật phù phiếm. Nếu chúng ta suy xét sâu xa hơn, chúng ta có thể thấy phiền não của chúng ta là do luyến chấp. Chúng ta không chịu nổi sự chia ly. Nhưng nếu chúng ta suy ngẫm sâu xa hơn, và trở nên khôn ngoan hơn, chúng ta có thể chấp nhận cái không thể tránh được. Thay vì phiền não, chúng ta can đảm. Chúng ta có thể phản ứng một cách có nghĩa lý, giả thử quyết định sống một cuộc đời cao thượng và gương mẫu để tưởng niệm hay tưởng nhớ người thân. Một người khôn ngoan chắc chắn không muốn chúng ta than khóc cho người ấy. Trái lại người ấy muốn nói: "Nếu bạn thực sự muốn tưởng niệm hay tưởng nhớ đến tôi, xin hãy sống cuộc đời thiên, làm những hành vi thiện, hãy tử tế với đồng loại... Ðó là tất cả những gì tôi đòi hỏi". Khi Ðức Phật sắp nhập diệt, người ta nói hoa trời và phấn hương gỗ đàn hương từ trên trời rải xuống khắp thân Ngài để vinh danh Ngài. Và nhạc trời cũng trỗi dậy. Nhưng Ðức Phật cho thấy tất cả những thứ vinh danh Ngài như vậy không phải là điều Ðức Phật muốn. "Không phải như vậy mà Như Lai được vinh danh đến tột độ," Ngài nói. "Nhưng này A Nan, ai tôn trọng Pháp, sống đúng Pháp, bước đúng con đường của Pháp, đó chính là cách để vinh danh Như Lai đến mức cao nhất. Cho nên này A Nan, các ngươi phải tự rèn luyện: Chúng ta phải tôn trọng Pháp, sống đúng Pháp, bước theo con đường của Pháp." Và tuy chúng tôi đã nói trước đây, chúng tôi muốn nói lại lần nữa: - Lời dặn dò cuối cùng của Ðức Phật là: "Vayadhama sankhara. Appammadena sampadetha.- Tất cả những gì duyên hợp đều phải tan rả. Hãy gắng lên chuyên cần (để giải thoát)." THAN VAN KHÔNG THỂ TÁC ÐỘNG ÐẾN TRO CỐT CỦA NGƯỜI CHẾT Trong những kiếp trước, Ðức Phật là một vị Bồ Tát (một vị Phật sẽ thành), cũng không biểu lộ phiền não trước cái chết của những người thân. Ðức Phật có thể bằng tâm linh nhớ lại những tiền kiếp của Ngài, và được biết rằng có một kiếp Ngài là một nông dân, ngài không phiền não khi mất một đứa con trai duy nhất. Trái lại, Ngài suy ngẫm: "Cái gì phải tan rã sẽ tan rã và cái gì phải chết sẽ chết. Tất cả đời sống chỉ là tạm bợ và phải chết." Khi một người Bà La Môn hỏi tại sao Ngài không khóc – phải chăng Ngài có trái tim sắt đá, Ngài không cảm động vì đứa con của Ngài – vị Bồ Tát trả lời rằng Ngài rất quí đứa con của Ngài, nhưng phiền não không thể mang đứa con trở lại được. "Không có than van nào có thể tác động đến tro cốt của người chết. Làm sao tôi phải phiền não? Nó đi theo con đường mà nó phải đi". Trong một kiếp khác Ngài không khóc trước cái chết của người anh và đã bị buộc tội là vô tâm, Ngài trả lời những nguời đó không hiểu tám hoàn cảnh trần thế mà tất cả chúng sinh phải đối diện, tức là, được và thua, hạnh phúc và bất hạnh, khen và chê, nổi tiếng và bị mang tiếng. "Vì ông không hiểu tám hoàn cảnh trần thế, nên rên rỉ, khóc than. Tất cả mọi thứ hiện hữu chỉ là tạm bợ và cuối cùng phải chấm dứt. Nếu ông không hiểu điều này và vì cái vô minh của ông cho nên ông khóc và than van, tại sao tôi phải theo ông than khóc?" Trong một kiếp khác nữa, Vị Bồ Tát không khóc trước cái chết của người vợ trẻ và đẹp. Trái lại, Ngài suy ngẫm: "Cái gì có bản chất tan rã thì phải tan rã. Tất cả những gì hiện hữu đều vô thường", và ngồi xuống một cái ghế gần đấy, Ngài dùng cơm như thường lệ, cho thấy khả năng tuyệt vời lúc nào cũng sống trong chánh niệm. Những người tụ tập chung quanh Ngài hết sức ngạc nhiên và hỏi làm sao Ngài có thể giữ bình tĩnh vào lúc như thế này. Phải chăng Ngài không yêu vợ Ngài, một người rất đẹp đến nỗi kể cả những người không biết bà cũng không cầm được nước mắt? Vị Bồ Tát trả lời bằng bài kệ: Vì sao tôi phải nhỏ lệ với em Sammilllabhasini xinh đẹp kia ơi? Em đi về cõi chết Từ nay ta mất em . Vì sao chàng trai yếu đuối than van Những gì đối với hắn chỉ là vay mượn? Hắn cũng hít vào hơi thở tử vong Bị tước đi từng giờ bởi cái chết. Lúc hắn đứng, hắn ngồi, đi lại hay nghỉ ngơi Trong cái nháy mắt, Cái chết xẩy tới ngay. Ðời sống tôi cho là thứ không vững chắc Mất bạn bè là chuyện không tránh được Hãy trân quý tất cả những gì còn sống Buồn phiền em cũng chẳng sống lại đâu. (Lược dịch ý) Những chuyện rất ngạc nhiên như vậy về sự tự chủ của Bồ Tát rất đáng kính sợ. Nó cũng dạy chúng ta phải suy ngẫm kỹ và sâu xa về giáo lý để hiểu rõ chân lý của vô thường và chấp nhận sự thật về cái chết. Có lẽ khi chúng ta đau khổ vì mất người thân, chúng ta sẽ suy ngẫm như vị Bồ Tát này và giữ được sự điềm tĩnh. CÁI CHẾT KHÔNG CÓ GÌ XA LẠ VỚI CHÚNG TA Một cách suy ngẫm khác về cái chết để khắc phục được sợ hãi cái chết, là coi cái chết không có gì xa lạ với chúng ta. Nổi trôi đằng đẵng trong luân hồi, vòng sinh tử bất tận, Ðức Phật nói chúng ta đã chết đi và tái sinh nhiều lần không kể xiết – quá nhiều đến nỗi nếu chúng ta gom tất cả xương khô lại cùng nhau, thì mỗi đống xương đó có thể cao hơn quả núi cao nhất! Cũng vậy, Ðức Phật nói nước mắt chảy trong luân hồi vì mất người thân nhiều hơn nước của bốn đại dương. Ðúng, Ðức Phật nói, chúng ta đã đủ đau khổ nhiều, để hoàn toàn mỏi mệt về đời sống, hãy tìm kiếm con đường để ra khỏi cái mê cung khổ đau, con đường để đi đến Niết Bàn bất diệt. Nhưng không may, chúng ta ít trí nhớ nên không nhớ được kiếp nào trong quá khứ. Làm sao mà đôi khi chúng ta không thể nhớ nổi những gì chúng ta đã làm ngày hôm qua! Cho nên chúng ta cứ tiếp tục sống một cách tự mãn, không có ý thức khẩn cấp gì để trau dồi trí tuệ để giải thoát chúng ta khỏi khổ đau. Tuy nhiên trong thời Ðức Phật, có nhiều thầy tỳ kheo, kể cả Ðức Phật dã có thể nhớ lại được tiền kiếp của mình. Ở thời nay cũng có những chuyện của những người có khả năng kỳ lạ nhớ lại tiền kiếp của họ. Francis Story và Bác Sĩ Ian Stevenson đã viết những cuốn sách, đưa ra tài liệu về một số những trường hợp này. Khi chúng ta suy ngẫm về tái sinh chúng ta lợi trên hai phương diện: Tóm lại chúng ta có thể coi cái chết không có gì xa lạ với chúng ta. Chúng ta đã gặp nó nhiều lần trước đây. Cho nên chúng ta không cần đối đầu nó bằng sợ hãi. Chúng ta có thể coi nó chỉ là một chuyển tiếp, sự thay đổi từ cuộc sống này đến một cuộc sống khác. Chúng ta sẽ có động cơ tìm cách ra khỏi luân hồi, vòng sinh tử. Chúng ta có thể nghiên cứu giáo lý của Ðức Phật sâu xa hơn. Chúng ta có thể phấn đấu mạnh hơn nữa và thực hành những lời dạy của Ðức Phật, để phát triển lòng vị tha, đạo đức và thiền định. CÁI CHẾT NHẤT THỜI Trong một đường lối khác nhìn cái chết là cái mà ta trải nghiệm hết lần này đến lần khác. Vì trong ý nghĩa tuyệt đối, sinh và diệt liên tiếp xảy ra. Theo Ðức Phật, thức lúc nào cũng sinh ra và chết đi. Khi thức này tan rã thì lập tức thức khác nảy sinh và cứ thế tiếp diễn, vô tận, cho đến khi và trừ phi chúng ta thực hiện được Niết Bàn tối hậu. Những hiện tượng về thân thể cũng sinh diệt không ngừng. Cho nên cái mà chúng ta có chỉ là sự sinh diệt không ngừng của các hiện tượng thể chất và tinh thần. Ở một mức độ nào đó hồ như sinh và tái sinh luôn luôn xảy ra. Trong tiếng Pali, nó được gọi là khanika-maranam - cái chết nhất thời. Trong cuốn Thanh Tịnh Ðạo, nó được nói đến như sau: "Theo tuyệt đối, chúng sinh chỉ có một thời gian sống rất ngắn ngủi, đời sống chỉ tiếp tục chừng nào mà thức còn. Giống như cái bánh xe, dù chạy hay ngừng luôn luôn dựa vào một điểm trên chu vi của nó, dù vậy đời sống của chúng sinh chỉ kéo dài trong lúc thức còn. Chừng nào mà lúc này chấm dứt, thì chúng sinh cũng chấm dứt. Vì người ta nói rằng: ‘Chúng sinh thuộc về chập quá khứ của thức đã tồn tại, nhưng không tồn tại trong hiện tại, và cũng chẳng tồn tại trong tương lai. Chúng sinh thuộc về chập tương lai không tồn tại, cũng chẳng tồn tại trong hiện tại, nhưng nó sẽ tồn tại trong tương lai. Chúng sinh thuộc về chập hiện tại đã không tồn tại, nó chỉ tồn tại trong hiện tại, nhưng nó sẽ không tồn tại trong tương lai.’" (chuyển ngữ bởi ngài Nyanatikola theo cuốn Tự Ðiển Phật Giáo) Trong phạm vi này, chúng sinh chỉ là thuật ngữ qui ước. Phân tích đến cùng, nó chỉ là một chuỗi thức sinh ra và chết đi. Thức này chết đi thì thức kia nảy sinh - tất cả là như thế. Và chúng ta gọi tiến trìnhï tiếp tục này là một chúng sinh. Nhưng trong ý nghĩa tuyệt đối, không có chúng sinh – không có sự thay đổi của linh hồn hay tâm, mà chỉ có một chuỗi thức sinh ra và chết đi, thức này tạo điều kiện cho sự sinh ra của thức kia. Hơn nữa cái chết thông thường mà chúng ta trải qua vào lúc chấm dứt của tuổi thọ không chỉ là cái chết tối hậu. Một thức khác tức khắc sinh ra nhưng trong một thân mới hay cảnh giới mới theo tái sinh mà ta đi vào. Chỉ khi ta đã loại bỏ được những dấu vết tinh thần của tham, sân và si, thì mới không có tái sinh. Suy ngẫm như vậy, chúng ta cũng có thể đánh giá đúng bản chất của vô thường, khổ đau và vô ngã. Và chúng ta có thể vượt qua cái sống và chết dễ dàng. VẤN ÐỀ ÐÁNG SUY NGHĨ Mỗi lần bạn nhìn vào tờ báo và gặp mục lời cáo phó hay những thông báo về cái chết, bạn có suy nghĩ về cái chết không? Bạn có dừng lại và suy ngẫm sự thật về cái chết của chính bạn không? Bất cứ lúc nào cái chết đến với những người khác, chúng ta không cảm thấy nhiều về việc đó. Người chết có thể là người xa lạ với chúng ta. Khổ đau không phải là của chúng ta, ngoài ra chúng ta đã trở nên hoàn toàn tê liệt trước những chuyện về cái chết – Chúng được đăng trên báo hàng ngày. Ðọc tin người ta bị giết ra sao, nhất là trong chiến tranh,sự sống dường như rẻ mạt. Dường như không có sự tôn trọng gì đối với sự sống. Nhưng khi cái chết đánh vào người thân của chúng ta, chúng ta chịu đựng ra sao? Và khi chúng ta trực diện cái chết của chính chúng ta, chúng ta có sợ chết điếng không? Vâng, mặc dầu chúng ta biết chết và các thảm kịch xẩy ra chung quanh chúng ta, nhưng chúng ta sững sờ kinh ngạc và không thể chấp nhận nó khi nó thực sự xẩy ra cho chúng ta. Khi chúng ta đọc "mục tưởng nhớ" trong báo chí, chúng ta có thể thấy tuy một người đã chết mấy năm qua rồi, nhưng người thân vẫn còn khổ vì đau đớn bởi chia ly như thể nó mới giáng xuống ngày hôm qua. Ðôi khi trong những thông diệp, người hôn phối hay thân nhân công khai bầy tỏ buồn phiền mà họ vẫn còn cảm thấy và nước mắt vẫn nhỏ xuống bởi người thân. Chúng ta hiểu đó là tình người cảm thấy như vậy. Nhưng Ðức Phật dạy chúng ta rằng con người chúng ta có thể tự tiếp thu bằng trí tuệ và sức mạnh để chấp nhận sự mất mát và chịu đựng một cách kiên cường. Không phải là Ðức Phật muốn chúng ta vô tâm mà Ngài muốn chúng ta có trí tuệ để chấp nhận sự mất mát và hiểu biết sự phù phiếm của phiền não. Nhất định Ngài không muốn chúng ta héo hon vì phiền não, trở nên gầy gò và yếu đuối, mất tất cả lợi ích trong đời. Ðặc biệt những người Phật Tử nên hiểu điều này và do đó chấp nhận sự mất mát một cách kiên cường. Nếu người Phật tử cần thiết đưa ra thông điệp với lời cáo phó hay để tưởng nhớ trên báo, tại sao không để những lời Pháp như: Vô thường là tất cả mọi thứ duyên hợp. Hãy phấn đấu không mệt mỏi cho Niết Bàn vôvi; hay suy ngẫm một caùch có ý nghĩa về cái chết: Giống như hạt sương trên ngọn cỏ chẳng mấy chốc vào lúc mặt trời mọc sẽ biến mất và không tiếp tục tồn tại được lâu; giống như vậy đời sống của con người giống như hạt sương rơi rất ngắn ngủi và phù du. Ta nên hiểu điều này một cách khôn ngoan, hãy làm những hành vi thiện và sống một cuộc đời đạo đức, không ai có thể thoát chết. Hay nếu ta muốn có tính cách riêng tư, sao không để một thông điệp như sau: "Anh thân yêu, nếu anh có thể biết được, anh sẽ hài lòng biết rằng con cái lớn lên rất tốt đẹp. Em đã dạy kỹ chúng về Pháp, quý trọng những giá trị quý báu của tình thương yêu và lòng tốt, trí tuệ và hiểu biết. Em cũng dạy kỹ chúng đừng bắt chước bạo lực và tham lam thường thấy qua truyền thông như truyền hình và phim ảnh. Kết quả, chúng rất hòa nhã và thân thương với mọi người. Về phần em, em vẫn giữ giới và hành thiền. Em đang thực hành chánh niệm hàng ngày và ẩn tu một hay hai lần một năm. Em rất an lạc và phát triển trong Pháp. Em cố gắng không phiền não, vì anh và em đã hiểu một chút điều Phật dạy – đó là phiền não thật phù phiếm: Nó không có ích gì. Và em biết anh cũng chẳng muốn em phiền não, mà là sống một cuộc đời thiên và gương mẫu. "Tuy nhiên có những lúc, em phải công nhận, khi em cảm thấy đau đớn, khi em thấy nhớ anh kinh khủng, nhất là khi nghĩ đến những lúc vui cùng nhau, hạnh phúc mà chúng ta cùng chia sẻ, nụ cười ngọt ngào và ánh mắt sáng ngời của anh, cách anh cười và chòng ghẹo. Vâng, khi em lạc vào trong cái nhớ nhung quá khứ ấy, em phải công nhận em cảm thấy nước mắt muốn trào ra. Nhưng anh thân thương, em có thể tự kiềm chế được. Em có thể có chánh niệm. Em có thể quan sát cái đau đớn và chấp nhận nó. Em có thể quan sát tư tưởng và tâm trạng em. Em có thể suy ngẫm giáo lý của Ðức Phật và hiểu sự phù phiếm của phiền não. Em có thể hạnh phúc và trông vào các phước báu – ít nhất chúng ta đã có những giờ phút hạnh phúc bên nhau và bây giờ chúng ta có con cái để sống vì chúng. Em hiểu sự đau đớn đến từ sự luyến chấp và thiếu sự hiểu biết sâu xa về bản chất của tất cả cuộc sống. Cảm ơn Ðức Phật đã dạy chúng ta về chánh niệm, dạy chúng ta sống trong hiện tại, phải luôn luôn hạnh phúc, trông mong vào phước báu, tắm mình trong hạnh phúc của một cuộc đời đã sống lương thiện. "Vậy thì, em biết lời nhắn nhủ này đã dài rồi. Em cũng biết rằng anh không ở đâu đây để nghe. Nhưng nó làm cho em cảm thấy dễ chịu được bầy tỏ theo cách này. Em cảm ơn anh về hạnh phúc mà anh đã cho em, và em dành tất cả những hành vi thiện mà em đã làm, và đời sống thiện mà nay em đã cố gắng sống, tất cả em dành cho kỷ niệm ngọt ngào và thân thương của anh. Em cũng chúc anh, dù tái sinh tốt thế nào, cầu nguyện anh hãy tiếp tục tu tập Pháp cho đến khi anh đạt được Niết Bàn, sự chấm dứt tất cả khổ đau, vân vân... và vân vân..." Thừa nhận đây là một một thông điệp khá dài mà tôi đã hơi say mê một chút. Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh nơi đây là chủ đề của thông điệp, một chủ đề về hiểu biết và chấp nhận. Ðó chỉ là đưa ra ý niệm về lời nhắn nhủ cách diễn đạt Phật Giáo. Nó có thể được rút ngắn lại và viết đơn giản hơn. Hay ngoại trừ mục đích giáo dục của nó (có nghĩa dạy dỗ), lời nhắn nhủ có thể là không cần thiết. Những cảm nghĩ như vậy có tính cách cá nhân và có thể được giữ riêng tư. Khi ta hiểu thấu Pháp, ta có thể tiếp tục sống một cuộc đời thiện và mãn nguyện. MỘT THẾ GIỚI KHÁC THƯỜNG Ðọc báo và tạp chí có thể cho chúng ta nhiều cái đáng suy ngẫm. Bên cạnh những cáo phó, có những chuyện ác liệt nhắc tới khổ đau trên khắp thế giới, dẫu cho chúng ta có thể chết lặng đi vì nó. Có những vụ giết người, trộm cướp, hiếp dâm và chiến tranh, những vụ xung đột tôn giáo, sắc tộc, xã hội và chính trị, ô nhiễm, bệnh tật, chết đói, nghèo túng, tra tấn, áp bức, khủng bố, tai nạn, tự tử và những thiên tai như động đất, hỏa hoạn, lụt lội và bão tố. Quả là một bản liệt kê dài và đáng buồn cứ tiếp tục. Ðồng thời bên cạnh những tin tức có những bức tranh và quảng cáo trình bày những người hạnh phúc đang hưởng thụ cuộc sống như thể không quan tâm gì đến thế giới. Họ cười và chụp hình đằng sau các xe sang trọng, những lâu đài đồ xộ, những căn phòng khách sạn lộng lẫy, những chai rượu, thuốc lá, nước hoa, mỹ phẩm, đồ trang phục trình bày quyến rũ, và đồ trang sức lộng lẫy. Họ đắm mình trong những tiệc tùng, cuộc thi sắc đẹp và biểu diễn thời trang với những người kiểu mẫu đẹp và sành điệu diễu hành trên lối đi của bục trình diễn. Sự tương phản đặc biệt thật mỉa mai, khi bạn nhìn thấy một cuộc biểu diễn thời trang lớn bên cạnh một bức tranh não lòng của những trẻ em Phi Châu đáng thương chỉ còn da bọc xương gần chết đói. Người ta nói chúng ta là người văn minh ghê tởm bạo lực và sự gây đau đớn điên rồ cho người khác. Tuy nhiên chúng ta có những trận đấu tranh tài vô địch quyền Anh của hai võ sĩ khỏe mạnh, vì món tiền lớn, cố hết sức giã vào đầu nhau giữa những tiếng la hét tán thưởng rầm rộ của người xem, không phải là không giống thời dã mãn của người La Mã khi những đấu sĩ đánh nhau với sư tử hay với nhau để giải trí cho những khán giả khát máu. Chúng ta có những người đấu bò, điên lên, hành hạ và giết con bò chỉ để mua vui. Và mọi người, hay ít nhất những khán giả đông nghẹt tại đấu trường, dường như nghĩ rằng đó cũng là trò vui. Hút thuốc và uống rượu đã gây thiệt hại rất lớn cho sức khỏe của con người, tuy nhiên các hãng thuốc lá và làm rượu vẫn cứ cung cấp bằng mọi cách, thậm chí thông qua các võ đài thể thao, những sản phẩm chết người của họ. Hút thuốc được mô tả một cách lố bịch là "gặp gỡ sự dịu hiền" và uống rượu ngang bằng với thành công và uy tín giữa nhiều việc khác! Cái gọi là các nước phát triển bán hạ giá thuốc lá và những sản phẩm có hại khác cho các nước Thế Giới thứ ba, trong khi kiềm chế sự tiêu thụ các sản phẩm ấy trong dân chúng của họ. Trong sự tham lam quá quắt của cải của họ, các hãng xưởng sẵn sàng làm bất cứ cái gì, dường như không có một chút băn khoăn nào về tất cả những gì họ nói hay làm trong việc cung cấp các sản phẩm như vậy. Các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí và tạp chí, chấp nhận và phát hành quảng cáo vì tham lam số tiền lớn mà họ mang đến, không thể tự tha trách nhiệm của mình. Họ có nhân quyền cơ bản để thi hành lương tâm xã hội bằng cách từ chối những quảng cáo có hại nhưng họ chọn cách không làm thế. Nhìn vào một tạp chí hàng không bóng loáng, bức ảnh ông chủ tịch già một hãng bia ở Thái Lan đã khiến tôi lưu ý. Mặc com lê và với mớ tóc hoa râm, ông ta hãnh diện trình bày, trong phòng họp sang trọng của ông, một dẫy chai bia sản xuất bởi hãng của ông. Ngay đàng sau ông là một cái bàn thờ với hình ảnh Ðức Phật chiếu sáng lấp lánh. Ta có thể nhìn thấy bàn thờ đã được bầy ở giữa phòng một cách rất ấn tượng. Vì chúng ta đều biết Ðức Phật dạy về sự cấm rượu, giới thứ năm mà tất cả người Phật tử tán thành nói rằng: "Tôi nguyện giữ giới không uống rượu hay dùng ma túy, vì nó là nguyên nhân làm mất sự lưu tâm". Cho nên người giữ giới khó có thể thỏa hiệp với sự sản xuất và phân phối rượu hàng loạt, được coi như một cách sống sai lầm trong Ðạo Phật, với hình ảnh của Ðức Phật, được trình bày một cách trang trọng trong phòng. Sulak Sivaraksa, một nhà hoạt động và phê bình xã hội Thái, viết trong cuốn sách của ông, "Những hạt giống của Hòa Bình": "Sự thật đáng buồn là Thái Lan có khoảng 250,000 nhà sư nhưng gái mãi dâm nhiều gấp đôi. Ðiều này phát ngôn cho một hệ thống không hữu hiệu và phải thẩm xét lại từ cội nguồn. Nếu chúng ta có thể quay về nguồn gốc tốt đẹp của truyền thống Á Châu, chúng ta có thể tạo ra một kiểu sống lành mạnh và hữu hiệu". Kể ra hai thí dụ sau cùng, chúng tôi không có ý chỉ trích Thái Lan, mà chỉ là nhấn mạnh vào cái dị thường. Thật ra, dị thường hiện hữu ở khắp nơi. Giống như ở Thai Lan, những việc đó cũng thấy ở Phật Giáo Miến Ðiện, Phật Giáo Sri Lankha, xứ sở của chúng tôi và ở bất kỳ một xứ nào khác. Không ai có độc quyền. Vâng, chúng ta có thể tiếp tục dài dài với bản liệt kê những mâu thuẫn trên thế giới mà chúng ta sống, chúng ta tin chỉ điều này cũng đủ để thấy vấn đề. Vâng, phải chăng hồ như chúng ta không phải là một xã hội có một trạng thái tâm lý bị chia rẽ hay loạn tinh thần? giống như một Bác Sĩ Jekyll và ông Hyde. Chúng ta biết cái gì là bất thiện, tuy nhiên chúng ta tha thứ và thậm chí còn khuyến khích sự tăng trưởng của nó. Rõ ràng, dù muốn dù không chúng ta bị vương mắc vào đấy, và chúng ta lao vào theo ngọn thủy triều. Ðược lập trình và bị tác động bởi những người có thế lực trong phương diện truyền thông quảng cáo đại chúng, chúng ta đáp ứng điều khiển và thông điệp của họ. Mua cái này, mua cái kia. Ăn cái này, ăn cái nọ. Mặc cái này, mặc cái kia. Làm cái này, đừng làm cái đó. Cái này thô kệch và cái đó có tính chất đàn bà. Cái này đúng mốt và cái kia không. Ðây là lối sống tuyệt vời; đó là xã hội giàu sang đi đây đi đó bằng máy bay phản lực, một thế giới vui nhộn và tiêu khiển tuyệt vời. Xin thứ lỗi cho tôi nếu tôi có vẻ giống một người chỉ trích, một trò thể thao xấu, một nhà sư giận dữ đứng trên bục diễn giả ngoài trời cao giọng tuyên bố rằng ngày tận thế gần kề và đe dọa một xã hội suy đồi bằng lửa địa ngục. Nhưng bạn có thể đồng ý với tôi rằng có lẽ đó không phải là một ý kiến xấu, nếu thỉnh thoảng, chúng ta lùi lại một phút và nhìn vào tình hình thế giới, trạng thái tâm chúng ta và tình trạng cuộc đời chúng ta. Một số trí tuệ có thể nẩy sinh từ sự suy ngẫm đó. Chúng ta có thể đánh giá lại lập trường của chúng ta và hướng đi mà chúng ta muốn theo. Chúng ta theo đám đông hay chúng ta bỏ hàng ngũ? Và giả dụ tôi xin mượn một vần thơ của Robert Frost: Hai con đường rẽ ra hai ngả trong rừng rậm và tôi – tôi đi con đường ít người qua lại. Và việc đó đã làm cho sự thể thay đổi hoàn toàn. Vâng, khi hai con đường rẽ hai ngả trong đường đời, bạn đi con đường nào? Con đường ít người đi – con đường của chánh niệm và trí tuệ, con đường của tình thương và từ bi? Xin hãy nghĩ về việc này, vì nó có thể làm sự thể hoàn toàn thay đổi. Nơi đất và nước Lửa và gió không tìm được duyên hợp, Dòng thủy triều đang tắt dần Vòng luân hồi không còn xoáy tít nữa Tâm và vật sẽ ngừng không còn gì lại nữa Ðức Phật MỘT NỤ CƯỜI NGỌT NGÀO NHẤT Khi chúng ta đã đi đến phần cuối cùng trong việc bàn luận về Thương Yêu và Cái Chết, tôi phải nói rõ ràng tôi không chút nào tự nhận là chuyên gia về sự sống, tình thương yêu hay cái chết. Nhưng tôi cố gắng chia sẻ một số suy nghĩ về vấn đề này với quý vị, những suy nghĩ về cách sống và chết bằng tình thương yêu và hiểu biết trên đường đời. Chính là đề tài tôi đã đưa ra, và tôi còn tiếp tục đưa ra, nhiều suy nghĩ về nó. Chính đề tài mà tôi tin rằng sẽ đem lợi ích cho tất cả chúng ta – vấn đề sự sống, tình thương yêu và cái chết. Ðương nhiên tôi không tự nhận là khôn ngoan và tôi biết tôi cũng có nhiều nhược điểm. Ðúng là giống như người có ý định tốt đấy nhưng vẫn còn vụng về trên đường đời. Tôi cũng vụng về và vấp ngã trên đường đời. Nhưng mỗi lần tôi tự đứng lên, phủi bụi đi, cố gắng không than van hay khóc lóc, một lần nữa hướng mắt về đỉnh núi cao tít trên bầu trời, và tiếp tục với cuộc hành trình của sự sống. Tôi hy vọng rằng một số suy nghĩ tôi chia sẻ nơi đây có thể giúp ích một phần nào cho quý vị, chúng có thể soi sáng chút ít cho con đường của quý vị. Nếu chúng có thể cho quý vị một chút gợi ý và quyết tâm sống và chết bằng tình thương yêu và hiểu biết nhiều hơn, thì tôi sẽ rất sung sướng. Nếu chẳng may, những phần trong bài có thể làm mếch lòng quý vị trên bất cứ mặt nào, tôi cũng xin quý vị lượng thứ cho. Là con người, chúng ta có thể chỉ cố gắng – để phục vụ và chia sẻ. Chúng ta có ý định tốt, và cái nhỏ nhoi mà chúng ta có thể, bất chấp những hạn chế, tìm cách đóng góp cho một xã hội tốt đẹp hơn, đó là một điều hạnh phúc. Bất cứ lúc nào tôi nhìn lại, nó cũng cho tôi một niềm vui và an ủi khi biết rằng ít nhất tôi đã cố gắng làm nhiều mặc dầu nó chỉ có thể là một chút thôi. Và khi tôi chết, có lẽ tôi có thể nói với Thần Chết: Này Thần Chết, bây giờ ngươi cứ thử làm đi, vì ta đã sống và thương yêu, và ta đã làm được chút gì cho đồng loại của ta". Và trước khi tôi lẳng lặng lẻn vào đêm tối, bạn có thể nhìn thấy vết tích mờ nhạt của một nụ cười trên môi tôi. Tôi sẽ mỉm cười. Một nụ cười ngọt ngào nhất lúc này Bạn sẽ thấy Tôi ra đi rất an bình vào đêm tối. Bạn có thể mỉm cười Với tôi không? Và nói -- Chào Thần Chết Tạm biệt cuộc đời. CHÀO THẦN CHẾT, VĨNH BIỆT CUỘC ÐỜI Khi cái chết đến, vì nó phải đến, bạn làm thế nào để đối đầu với nó? Bạn có thể cười, nụ cười ngọt ngào nhất lúc đó: "Chào mi - Thần Chết, Tạm biệt cuộc đời"? Vâng, bạn có thể gặp thần chết không chút sợ hãi mà còn can đảm và hiểu biết không? Bạn có thể chào nó như bạn gặp lại một người bạn xa nhau từ lâu, như thể một người nào đó gọi bạn đã lâu rồi và bây giờ bạn nhìn thấy, từ nơi xa đến? Rốt cuộc, chết không xa lạ gì với chúng ta; chúng ta đã sống và chết nhiều lần không kể siết, gặp hết tái sinh này đến tái sinh khác, sống đi sống lại trong luân hồi, cái vòng bất tận của tử và sinh. Vâng, cái chết, chúng ta có thể nói, chỉ là sự thay đổi của sự tốn tại, chỉ là tiếp tục chuyển động một lần nữa. Cuốn sách này nhìn vào sống và chết từ khung cảnh Phật giáo - làm sao chúng ta có thể sống đẹp và chết đẹp, làm sao chúng ta có thể làm đẹp đời sống bằng những giá trị đẹp của tình yêu thương, trí tuệ và từ bi, những thứ đó dẫn ta đến một chung cuộc đẹp, một cái chết đẹp. Tác giả, một nhà sư Phật giáo Mã Lai, đưa ra cách giải quyết và thái độ Phật Giáo với giá trị chung và phổ quát trước những câu hỏi muôn thuở về đời sống. Ông hy vọng những lời của ông có thể cho quý vị một số gợi ý về sự sống, tình thương yêu và cái chết. "Nơi nào Phật Pháp đã thăng hoa dù ở thành thị hay thôn quê, người ta sẽ có những lợi ích phi thường, Ðất đai và con người được bao trùm trong hòa bình. Mặt trời và mặt trăng trong sáng và rực rỡ. Gió và mưa sẽ đến thuận hòa, và không có thiên tai Các quốc gia sẽ phồn thịnh và không cần dùng đến binh sĩ và khí giới. Con người sẽ tuân theo đạo đức và hòa hợp với qui luật. Họ sẽ lịch sự và khiêm nhường, Và mọi người đều thỏa mãn vì không có bất công. Không có kẻ trộm cướp hay bạo lực. Người mạnh không bắt nạt người yếu và ai ai cũng có được phần của mình" Ðức Phật nói trong kinh Vô Lượng Thọ về sự trang nghiêm, thanh tịnh, bình đẳng và sự giác ngộ, theo tông phái Ðại Thừa.
Làm Lại Thâm Tình 1. Miệng núi lửa Có một cô thiếu nữ người Pháp, sinh ra ở một tỉnh cách làng Hồng độ chừng hai trăm cây số. Khi lớn lên, tới 19 tuổi, cô bỏ gia đình, bỏ nước Pháp, đi sang nước Anh để sinh sống. Người thiếu nữ Pháp đó giận mẹ, giận gia đình, giận luôn cả tổ quốc. Cô sang bên Anh sống như vậy luôn hai mươi năm. Hồi còn bé cô có bệnh, đã phải đi bệnh viện và giải phẩu nhiều lần. Bà mẹ cũng đã cố gắng làm đúng bổn phận của bà mẹ. Nhưng theo cô, bà mẹ đã không hết lòng lo cho cô. Có lẽ bà mẹ cũng có nhiều đau khổ và nhiều vấn đề. Thành ra hai mẹ con lục đục và không thương nhau. Cô gái nghĩ là bà mẹ không thương cô hết lòng. Còn bà mẹ thì nghĩ rằng mình làm như vậy là đủ quá rồi, tại vì chính bản thân mình cũng còn nhiều khổ đau và nhiều vấn đề quá. Hai mẹ con có nội kết với nhau và đã gây khổ đau cho nhau. Hai mẹ con đã leo thang trong sự làm khổ nhau, đã tưới tẩm nội kết của nhau. Trong những năm gần đây, cô bỗng thấy nhớ mẹ và muốn trở về để hòa giải với mẹ. Dầu sao những hạt giống của tình thương và của bổn phận làm con vẫn còn trong lòng cô gái đó. Và bà mẹ, tuy có giận con, nhưng cũng đã âm thầm mong con trở về. Bà cứ tâm tâm nguyện nguyện là con gái trở về thì mình sẽ cố gắng ăn nói thật nhẹ nhàng và thật dịu dàng để hai mẹ con có thể làm hòa với nhau. Rồi bà nghĩ nếu trong tương lai có con gái sống bên mình thì thế nào hai mẹ con cũng có an lạc, có an ninh và có thoải mái hơn. Cô gái cũng vậy, cô cũng muốn trở về với mẹ, muốn dung ngôn ngữ hòa ái để làm hòa với mẹ, để thỏa mãn cái ước ao sâu kín trong lòng cô. Hai mẹ con đều có ý muốn hòa giải. Không ai bắt buộc họ làm điều này. Không phải do Chúa bảo, không phải do Bụt bảo, cũng không phải do Thầy bảo. Chính do cái lương tâm của mình thúc đẩy. Lương tâm ở đây là hạt giống tình thương mẹ con nằm sâu trong tâm thức của cả hai người. Rồi hai mẹ con gặp lại nhau. Khi mới gặp, họ bắt đầu nói những câu khá dễ thương. Nhưng sau đó hạt giống giận hờn cũ nổi dậy. Hai mẹ con lại bắt đầu cãi nhau. Và hai mẹ con lại giận nhau như cũ. Người con gái lại phải ra đi. Mấy tháng sau, người con gái lại muốn trở về, lần nấy quyết chắc mình sẽ thành công hơn. Cái ý chí muốn trở về với mẹ, muốn hòa giải với mẹ rất mạnh. Nhưng cả hai thất bại. Lần thứ ba rồi lần thứ tư cũng thế. Lần thứ mười cũng thế. Hễ hai người gặp nhau là có sự bùng nổ, dù cả hai mẹ con đều không muốn như vậy. Ý chí muốn hòa giải rất mạnh nơi hai người, nhưng sự hòa giải đã không thực hiện được. Mình thử đặt câu hỏi tại sao? Bụt thường nói tới ba nghiệp. Ba nghiệp tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Thân nghiệp là hành động của thân thể, khẩu nghiệp là hành động của ngôn ngữ, và ý nghiệp là hành động của tư tưởng, của tâm niệm. Mình thử hỏi xem trong ba nghiệp đó, nghiệp nào đã chịu trách nhiệm về sự thất bại của hai mẹ con? Cái ý chí muốn hòa giải, cái thân cũng đã làm được chuyện hòa giải, tức là đã lên xe lửa đi về tới Pháp. Nhưng cái miệng hình như chưa giỏi. Lạ lắm, ban đầu hai mẹ con nói những câu rất cảm động với nhau: "Lâu quá không được gặp mẹ", " Lâu quá con mới trở về. Mẹ mừng lắm." Những câu rất hay, những câu có thể rơi nước mắt người ngoài và chính đương sự. Như vậy tức là thiện nghiệp chứ gì. Nhưng nói chuyện một hồi thì những hạt giống xa xưa của khổ đau, của giận hờn ở trong tâm thức dần dần nổI dậy. Và miệng của cô thiếu nữ cũng như miệng của bà mẹ đã trở thành hai cái miệng của núi lửa. Hỏa Diệm sơn là gì? Hỏa Diệm sơn là một trái núi phun lửa. Mà lửa ở đâu? Lửa nằm trong lòng đất. Những lúc bình thường thì miệng núi lửa rất là mát, có sương và mây bao phủ. Nhưng khi núi sắp phun lửa thì có những chấn động ở bên trong. Khi lửa được phun ra thì tất cả những cây cối trên sườn núi bị đốt cháy. Nham thạch chảy xuống và tiêu diệt tất cả những làng mạc ở dưới chân núi. Như vậy có phải là lỗi của miệng núi hay không? Phải. Miệng núi có trách nhiệm thật, nhưng nếu trong lòng đất không có những khối lửa vĩ đại thì làm sao cái miệng ấy có thể phun ra biết bao nhiêu lửa đốt cháy tất cả cây cối trên sườn núi và nhà cửa dưới chân núi? Cho nên chúng ta không thể nói rằng khẩu nghiệp ở đây là căn bản vì khẩu nghiệp. Ta nói ra những điều làm cho mất tình , mất nghĩa, ta nói ra những điều gây ra những khổ đau và khối nội kết trong lòng người kia và chính trong lòng mình. Nhưng khẩu nghiệp có liên hệ tới ý nghiệp. Mà ý nghiệp đây không phải chỉ là tâm ý phần trên mà là tâm ý phần dưới, tức là tàng thức, hoặc a-lại-gia. Trong thiền viện, người tu học phải rất ý thức về cái tai hại khi nói năng không có chánh niệm. Nếu ta nói năng không có chánh niệm, nếu ta không nắm vững khẩu nghiệp thì ta gây sự đổ vở, không phải ở xung quanh ta mà thôi mà còn chính ở trong lòng ta. Cho nên ta mới có câu chân ngôn để giúp cho thanh tịnh khẩu nghiệp, gọi là tịnh khẩu nghiệp chân ngôn. Tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, tát bà ha. Quý vị nào thực tập câu chân ngôn đó nhiều thì hãy báo cáo coi thử nó có thể làm thanh tịnh khẩu nghiệp mình hay không? Tôi nghĩ khẩu nghiệp của mình không thể nào trở thành thanh tịnh được nếu thân nghiệp và ý nghiệp của mình không thanh tịnh. Vì vậy cho nên lại có một câu chân ngôn, nhắc tới làm thanh tịnh không những chỉ là khẩu nghiệp, mà cả thân nghiệp và ý nghiệp nữa. ٮ ta phạ bà phạ truật đà ta phạ đạt ma ta phạ bà phạ truật độ hám. Riêng tôi, tôi chỉ thực tập làm thanh tịnh tam nghiệp bằng các phương pháp quán niệm hơi thở, thiền hành thiền tọa, những phương pháp mà quý vị đã học được ở Làng Hồng. Tại Việt Nam, chúng ta có một pháp môn rất hay để thực tập thanh tịnh khẩu nghiệp và đồng thời cũng có thể làm thanh tịnh ý nghiệp. Đó là phương pháp Tịnh Khẩu. Tịnh Khẩu tức là không nói nữa. I vow not to speak any more. Không nói thì có an ninh hơn nhiều. Ở trên núi Madona gần tu viện Kim Sơn, có một trung tâm tu học mà ngườI chủ trương là một thầy Ấn Độ. Vị thầy này thực tập tịnh khẩu suốt đời. Hiện bây giờ ông vẫn còn ở đó. Nếu quý vị lên thăm trung tâm thì tuy không nói chuyện với ông nhưng quý vị có thể gặp, có thể thấy mặt, và có thể được ông tiếp trà. Thỉnh thoảng,muốn nói cái gì thì ông viết ra một câu rồi ông đưa cho mình đọc. Ông không bao giờ mở miệng nói. Đó là một người lập nguyện tịnh khẩu suốt đời. Nhưng chúng ta gặp rất nhiều thầy, nhiều sư cô và nhiều người Phật tử phát nguyện tịnh khẩu trong vòng ba tháng, hay sáu tháng, hay mười lăm ngày. Phương pháp đó là một phương pháp rất hay. Nếu muốn thử thì xin quý vị hãy thử. Mình thử thực tập độ chừng một tiếng đồng hồ là đã thấy có kết quả rồi. Nếu quý vị thử được bảy ngày thì kết quả ấy có thể trông thấy rất rõ ràng. Thực tập cho sâu sắc thì quý vị có thể đạt được kết quả rất mau chóng. Pháp môn tịnh khẩu chuyển hóa không những khẩu nghiệp, mà còn chuyển hóa cả thân nghiệp và ý nghiệp nữa. Sống trong một đoàn thể như trong một gia đình hay trong một tăng thân tu học thì trước khi khởi sự thực tập tịnh khẩu, quý vị phải báo cho người ta biết. Nếu không người ta có thể tưởng quý vị đang giận người ta, người ta cho rằng chính mình khinh người ta. Mình báo cho những người ở trong nhà mình biết và yêu cầu những người trong nhà yểm trợ mình trong thời gian mình tịnh khẩu. Những lúc cần thiết, ta có thể dùng ngôn ngữ của hai bàn tay để truyền thông. Nếu cần ta cũng có thể ta dùng chữ viết. Dùng hai bàn tay và chữ viết thì có an ninh nhiều hơn, vì trong khi viết, ta có thì giờ để quán chiếu những cái ta đang viết xuống. Còn trong khi nói ta có thể có nhiều rủi ro hơn. Người tu chánh niệm vững chãi có thể có ý thức và quán chiếu về những điếu mình đang nói. Những người mà chánh niệm chưa vững chãi dễ bị cái nói của mình kéo mình theo. Ta nói những điều mà chính ta không muốn nói. Lúc ban đầu ta quyết tâm không nói những điều đó. Lúc ta bắt đầu nói, ta cũng quyết tâm không nói những điều kia. Nhưng không biết vì ma xui quỷ khiến như thế nào mà càng nói ta càng đánh mất chủ quyền, và chính ta bị những lực lượng rất ma quái kéo đi. Những lực lượng ma quái đó là những lực lượng nào? Đó là những khối đau ở trong tiềm thức của mình. Nó là những nội kết có sẵn. Những cái đó mạnh hơn mình. Cela est plus fort que moi. Nếu muốn thực tập tịnh khẩu ta phải biết rằng thực tập tịnh khẩu có lợi cho mình. Tịnh khẩu là làm thanh tịnh khẩu nghiệp. Nó có ích lợi cho mình và có ích lợi cho những người xung quanh mình. Nó tránh sự gây đỗ vỡ. Trong thời gian tập tịnh khẩu đó, ta nhắm tới sự chuyển hóa. Không phải ta thực tập tịnh khẩu trong ba tháng để chỉ có an ninh trong ba tháng. Không, ta muốn có an ninh nhiều hơn trong ba tháng. Vì vậy cho nên trong ba tháng tịnh khẩu, ta phải thực tập chuyển hóa để sau khi ta chấm dứt tịnh khẩu thì an ninh đó có thể kéo dài. Muốn như vậy, ta phải có phương pháp. Trước hết ta thấy được nhu cầu muốn tịnh khẩu của mình. Ta biết rằng trong một tăng thân tu học, trong một gia đình tin Phật, sự phát nguyện tịnh khẩu ba ngày, năm ngày, mười ngày, mười lăm ngày được coi như là một phương pháp tu học đứng đắn rất đáng được khuyến khích. Cho nên ta không ngần ngại nói với những người trong gia đình của ta hay trong tăng thân của ta là ta muốn xin phép được tịnh khẩu trong vòng bao nhiêu ngày đó. Trong những ngày ấy, nếu có người gọi điện thoại tới cho mình thì một người trong gia đình hoặc trong tăng thân nói: "em nó đang tịnh khẩu, có muốn nhắn gì thì nhắn đi, tôi sẽ viết lại trên một mảnh giấy và sẽ đưa lại cho em." Vì vậy ta cần sự yểm trợ của những người trong gia đình hay trong tăng thân của ta khi thực tập tịnh khẩu. ʮ cơm có canh, tu hành có bạn. Trong những ngày đầu của thời gian tịnh khẩu ta có thể sẽ thấy hơi khó chịu. Hơi khó chịu là vì ta ngứa miệng. Ta nghe và thấy những điều khiến ta muốn nói. Khó chịu vì ta cưỡng lại cái tập khí ưa nói. Nhưng tịnh khẩu càng lâu thì ta càng có hạnh phúc. Miệng mình tuy không nói nhưng có thể cười. Và cuời thì hay hơn nói nhiều lắm. 2. Im lặng để có dịp nhận diện Ta phải biết ngay từ lúc ban đầu rằng tịnh khẩu là một phương pháp thực tập rất sâu sắc chứ không phải là chuyện cấm nói. Tịnh khẩu không có nghĩa là không nói mà thôi. Nó có nghĩa là quán chiếu bằng chánh niệm của mình những điều gì mình định nói, nhưng vì tịnh khẩu mà mình không nói. Mỗi khi ngứa miệng và muốn nói một cái gì đó, ta nên lập tức lấy cuốn sổ tay ra và chép xuống rằng "hồi nãy mình đã tính trả lời như thế này: ... "Rồi mình viết đúng nguyên văn những tiếng những lời mà mình muốn nói xuống giấy. Những lời đó trong đời sống hàng ngày có thể gây đổ vỡ, có thể gây nội kết. Vài giờ hay vài ngày sau ngồi đọc lại những giòng đó, ta quán chiếu và đặt vấn đề, đặt câu hỏi. Nếu là người nghe thì ta sẽ đáp ứng lại với những lời đó bằng thái độ nào, bằng lời nói nào. Người đã có thể nghe câu phát biểu này của mình thuộc về hạng người nào? Người đó thường hay có những mặc cảm và những nội kết nào? Sau khi quán chiếu, ta có thể tự nói: "Hú hồn! May quá! Mình đã không phát ngôn thiếu chánh niệm như vậy, nhờ mình tịnh khẩu." Lần thứ hai, khi nghe người ta nói một câu gì đó hay khi thấy người ta làm một cái gì chướng tai gai mắt, tập khí của mình lại thức mình. Nó nói "phải nói" hoặc "ít nhất phải làm cái gì chứ!" Nhờ đang tịnh khẩu ta mới có dịp dừng lại và nhận diện tập khí. Ta hãy lắng nghe cái tâm của ta, ta hãy lắng nghe nội kết của ta, ta hãy lắng nghe cái tập quán của ta để xem cái tâm đó, cái nội kết đó, cái tập quán đó muốn nói cái gì. Rồi ta mới lấy cuốn sổ tay của mình ra và chép những lời mà mìng đã định nói xuống để quán chiếu. Ta không bỏ qua bất cứ một lời nói nào ta nói trong tâm. Ta phải đọc lại, phải quán chiếu lại, phải thấy được gốc rễ của những lời nói đó của ta và những hậu quả có thể có của những lời nói đó. Đó là sự thực tập quán chiếu. Quán chiếu có nghĩa là nhìn để thấy được gốc rễ và hậu quả. Một cái cây luôn luôn có gốc rễ và hoa trái của nó. Gốc rễ giúp cây thành hình và hoa trái là cái mà cây cống hiến. Một lời nói cũng vậy. Nếu ta nói một lời nào thì lời nói đó có gốc rễ của nó. Ta tìm hiểu tại sao ta lại muốn nói như vậy, tại sao ta đang nói như vậy và tại sao ta đã nói như vậy. Niềm đau đã sẵn có ở trong ta cần được nhận diện. Ta phải gọi tên, phải chỉ ra cho rõ những khối nội kết đó, những gốc rễ, những khối nội kết làm căn bản đưa tới lời nói mà tôi đã suýt nói đó." Và sau khi thấy được gốc rễ rồi, ta phải quán chiếu để thấy được hậu quả của lời nói đó. Nếu lời nói này mà được nói ra thì sẽ đem tới những hậu quả nào? Người nghe sẽ phản ứng như thế nào? Và sau khi họ phản ứng rồi thì cái tình trạng tâm hồn mình sẽ ra sao? Sự đỗ vỡ do một lời nói gây ra không phải chỉ là ở bên ngoài, lời nói kia còn gây đỗ vỡ ngay chính trong lòng mình. Nó tàn phá hết hai bên. Nó làm ung thối môi trường sinh hoạt. Mình tưởng nói ra cho khỏe, ai ngờ nói ra lại càng mệt, càng khổ, càng chuốc lấy khổ đau vào thân, trong tâm của mình. Mình làm khổ mình. Và cứ như vậy mình quán sát trong thời gian bảy ngày hay trong thời gian mười bốn ngày. Ta phải thực tập tịnh khẩu cho thật sâu sắc, tại vì tịnh khẩu ở đây nghĩa là tịnh tâm, tịnh ý và chuyển hóa. Trong khi quán chiếu, ta phải thấy rằng người bên kia, người nghe, có thể cũng không phải là một người bình thường. Người nghe cũng có những nội kết, những thành kiến, những gốc rễ đau khổ của họ. Và họ nghe qua những nội kết đó, họ không nghe với một cái tâm vô tư. Mình nói một câu nói thương yêu, không hờn giận, mà người ta còn có thể hiểu lầm được và người ta còn giận mình được; huống hồ là mình nói một câu phát xuất từ sự buồn bực, tức tối và giận hờn của mình. Nhiều khi ta nói một câu nói có tính cách xây dựng mà người kia lại nhận thức như là một câu nói thách đố hay chê bai. Cái đó do vọng tưởng, do tri giác sai lầm của người ấy. Ta phải cẩn thận. Nếu lời nói của mình có gốc rễ từ sự giận hờn, tức tối, khổ đau và bực bội của mình thì sức tàn phá của nó đối với người kia sẽ lớn lao biết mấy? Nó tàn phá người kia và sẽ trở lại tàn phá chính thân tâm của mình. Và trong cái thời gian bảy ngày hoặc hai tuần ấy, nếu thực tập cho thật vững chãi, ta có thể có chuyển hóa rất lớn. Còn những người thực tập tịnh khẩu mà không làm gì hết ngoài cái chuyện không nói, những người đó không đi xa hơn được. Những người đó chỉ có an ninh trong vòng bảy ngày thôi, rồi sau đó lại mất an ninh. Nếu chúng ta thuộc truyền thống đạo Bụt, nếu chúng ta muốn thực tập chuyển hóa tam nghiệp thì thỉnh thoảng trong gia đình hay trong tăng thân, ta cũng nên xin cho ta một thời gian tịnh khẩu. Trong thời gian thực tập, từng hơi thở, từng bước chân, khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, chúng ta phải ở trong chánh niệm thì mới có cơ hội và năng lượng để có thể thấy được tâm ý của chúng ta. Ý nguyện muốn thương, muốn làm hạnh phúc cho ngườI kia, ý nguyện muốn hòa giải, muốn tạo sự an lạc và hạnh phúc, tuy có mặt trong lòng ta, nhưng điều đó không có nghĩa là ta đang đứng về phe của lẽ phải. Bên kia, người kia có thể cũng đang đứng về phe của lẽ phải. Bên kia, người kia có thể cũng đang có ý nguyện muốn yêu thương mình, muốn làm hạnh phúc và hòa giải với mình, và cũng có thể nghĩ rằng người ấy đứng về phe chính, còn chính mình mới đứng về phe tà, tức là phe không muốn thương yêu, không muốn hòa giải. Do đó chúng ta nên biết rằng ý nguyện muốn thương yêu, muốn hòa giải không đủ. Nó có thể rất yếu khi phải đọ sức với cái lực lượng của những nội kết, những khổ đau trong ta. Những nội kết và những khổ đau đó, chính chúng ta đã làm cho chúng lớn lên và chính trong cái quá trình giao tiếp với nhau, hai bên đã làm cho những nội kết của nhau lớn lên. Đã có sự leo thang trong thời gian. Cô gái kia và bà mẹ đã thực tập như vậy trong khoảng mười năm trước khi cô gái lên mười chín tuổi. Vì vậy tới mười chín tuổi là cô chịu không nổi nữa. Cô đã bỏ nhà, bỏ nước ra đi. Trong cô có chín năm nội kết. Trong bà mẹ cũng có chín năm nội kết. Vì vậy, cả cô cả bà, tuy đều có ý hướng hòa giải, nhưng mỗi khi hai người gặp lại nhau là chiến tranh bùng nổ. Trong thời gian thực tập tịnh khẩu, thỉnh thoảng ta cần phải nhờ cậy những người trong gia đình mình hay trong tăng thân. Thỉnh thoảng những người trong gia đình hay trong tăng thân mình muốn hỏi mình một chuyện và mình phải trả lời. Trong trường hợp đó, ta có thể cầm một cây bút và một mảnh giấy để trả lời người đó. Trong khi viết, chúng ta có thể bình tĩnh hơn và chúng ta hãy tập viết một mình. Chúng ta hãy để cho người khác đang thực tập tịnh khẩu có thì giờ viết câu đó ra một cách bình tĩnh, vì người đó cần có đủ thì giờ quán chiếu những điều mình viết. Viết xong ta đọc lại xem những điều này có đúng là đã được viết ra trong sự bình tĩnh và trong chánh niệm hay không. Nếu không thì ta xé miếng giấy và viết lại trên một miếng giấy khác, cho đến khi nào thấy rằng những điều mình viết đó có thể đem lại an ninh thì mới đưa cho người kia. Vì vậy không những người thực tập tịnh khẩu thực tập mà cả những người trong tăng thân, trong gia đình cũng đều thực tập. Họ phải có thì giờ để giúp cho người kia thực tập một cách sâu sắc. 3. Lấy lại chủ quyền Khi người thiếu phụ tới làng Hồng tu học, cô đã bỏ vào trong chuông một câu hỏi. Cô kể lại cái liên hệ giữa hai mẹ con và cô xin một lời giải đáp. Tôi đã nói rằng ý chí hòa giải rất tốt, nhưng không đủ Condition necessaire nhưng mà chưa suffisante. Tại vì lực lượng của những tập quán, của những nội kết trong hai người đều mạnh quá. Vì vậy có thể tạm thời chưa nên tới với nhau, hẹn nhau trong vòng sáu tháng hay một năm. Và trong thời gian đó hai người phải thực tập chuyển hóa những khối nội kết ở trong mỗi người, cái khối lửa trong lòng đất. Phương pháp mà tôi đề nghị cho cô gái đó như thế này. Mình chưa phải là một con người tự do, mình đừng có ảo tưởng mình là con người tự do. Mình có ý chí muốn hòa giải và nghĩ rằng nếu muốn là mình làm được. Nhưng sự thật mình không đủ tự do để làm chuyện đó. Khi người kia bắt đầu nói và chạm vào mình thì tự nhiên những khối nội kết cũ trong ta bắt đầu nẩy mầm và phát hiện. Rồi khi ta mở miệng ra mà không có khả năng quán chiếu từng lời nói thì lời nói của ta sẽ thu hút tất cả những chất độc của những nội kết cũ đó và phun các chất độc kia ra ngoài như là miệng núi đá phun lửa. Cho nên ta phải biết ta chưa phải là con người tự do. Ta nô lệ cho ai? Không phải nô lệ cho người kia đâu. Chính ta là nô lệ của những khối đau và những thói quen ở trong ta, thói quen đối đáp chua chát, thói quen ăn miếng trả miếng mà ta đã thực tập trong vòng chín năm. Đó là thời gian leo thang làm khổ nhau. Thời gian leo thang làm khổ nhau có thể kéo dài chín năm, có thể tám năm, có thể bảy năm, có thể năm năm, có thể sáu tháng. Đó là thời gian không may mắn của cả hai người. Có thể là có một con người thứ ba, nhưng mà hai người, vì không nhận diện được cái sự rủi ro đó, đã để cho bản thân mình bị kéo vào trong cuộc tranh chấp. Và chín tháng đó hoặc sáu tháng đó đã tàn phá hai người. Hai người mang những khối nội kết và chính bây giờ mỗi người đang làm nô lệ cho khối nội kết của chính mình, nô lệ cho tập quán và thói quen của mình. Người thực tập phải can đảm nói lên sự thật: "tôi chưa phải là một con người tự do, tôi bị cái giận của tôi, những n¶i kết của tôi và thói quen của tôi khống chế". Ban đầu thì tôi có vẻ tự chủ được trong khi nói, tôi có thể nói được vài lời thương yêu, nhưng sau đó thì các nội kết dẫn đường, tôi không còn dẫn đường nữa, tôi chỉ đi theo chúng riu ríu như một tên tù nhân bị hai người lính áp giải. Sự thật là như vậy. Người thực tập chân chính phải chấp nhận là mình đang còn yếu, đang bị nội kết của mình lôi đi như em bé chăn trâu không có đủ sức điều phục con trâu của mình. Trâu ăn lúa mà mình không biết làm gì cả, mình chỉ biết kêu gào. "Để trâu ăn lúa kêu cha bời bời". Nhưng "cha còn cắt cỏ trên trời, mẹ còn cởi ngựa đi chơi non Bồng". Kêu gọi mấy cũng vậy thôi. Mình không biết chăm sóc con trâu của chính mình. Vậy thì người thực tập phải công nhận một điều, tuy hơi xấu hổ nhưng mà thiệt, là mình không làm chủ được tình trạng. Vì vậy mình mới cần thực tập tịnh khẩu. Thực tập tịnh khẩu tức là đặt mình vào trong một khung cảnh an ninh, một loại vòng đại an ninh. Trong thời gian có an ninh đó, ta thực tập để chuyển hóa. Sau khi chuyển hóa rồi ta bắt đầu có an ninh thật . Ta thâu hồi lại chủ quyền của chính ta. Ta trở thành con người tự do. Không ai tước đoạt sự tự do của ta cả. Chỉ có các khối đau, chỉ có nội kết, chỉ có tập quán của mình áp chế mình và làm mất tự do của mình mà thôi. Tôi đã đề nghị hai mẹ con thực tập và nhất là người con, tại vì người con là người đã có duyên tới với Phật Pháp, đã tiếp xúc được với thầy, với bạn, đã bắt đầu hỏi thầy được một câu hỏi thông minh về sự thực tập, đã biết thiền hành, đã tập hơi thở chánh niệm, đã tập thiền tọa. Tôi đã nói với cô rằng hãy thực tập thiền hành, hãy tiếp xúc với những gì tươi mát có tính cách trị liệu, những gì đẹp đẽ ở trong đời sống hàng ngày để làm cho con người mình an lành thêm. Đứng về vấn đề xúc thực và đoàn thực, ta phải tổ chức cuộc sống hàng ngày của ta. Nếu chúng ta có tài tổ chức thì chúng ta lại có thêm một yếu tố để thành công. Có nhiều người tổ chức Phật Đản rất hay nhưng không bao giờ tổ chức được sự tu học cho chính bản thân mình cả. Có những người tổ chức cho người khác tu học khá hay, nhưng không bao giờ chịu tu học cả. Những người đó hãy đem tài tổ chức đó để tổ chức lại đời sống hàng ngày của mình. Làm sao để buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều ta được tiếp xúc với những gì tươi mát, lành mạnh, có tính cách trị liệu để con người ta được nuôi dưỡng. Khi con người ta trở nên tươi mát và dễ chịu hơn thì những nội kết kia sẽ dịu xuống. Đó là chánh niệm về tiếp xúc; chỉ có chánh niệm mới làm được điều đó. Các bạn có tài năng tổ chức hãy sử dụng tài năng tổ chức của mình để tổ chức và sắp xếp lại đời sống hàng ngày của chính mình. Có thể vì đời sống hàng ngày hiện thời của ta vô tổ chức, cho nên ta cứ tiếp xúc mãi với những cái làm ta bực mình suốt ngày. Và nếu cứ bị tiếp xúc với những cái làm ta bực mình suốt ngày thì ta sẽ điên loạn, những khối nội kết càng ngày càng lớn, chúng sẽ đè bẹp ta một cách hoàn toàn. Ta không còn gì nữa, ta "không còn kí lô" nào nữa. Hãy tổ chức lại đời sống hàng ngày để ta đừng bị tiếp xúc quá nhiều với những yếu tố độc hại làm cho ta bực bội, sầu khổ, hận thù, tưới tẩm những hạt giống khổ đau đã quá lớn ở trong ta. Ví dụ như hai cha con nhà đó. Cha có nội kết với con, con có nội kết với cha. Hai cha con gặp nhau mỗi ngày và những câu nói của cha làm nội kết của con lớn thêm, những câu nói của con làm nội kết của cha lớn thêm. Vậy nếu đứa con có tài tổ chức, nó sẽ làm như thế này. Trong những lúc vui vẻ, nó cố gắng viết cho cha một lá thơ. Nó viết "thưa Ba, chủ nhật tuần trước Ba có nghe Thầy nói về chuyện tịnh khẩu. Con cũng muốn tịnh khẩu bảy ngày. Nếu Ba cùng làm với con thì vui quá đi". Nếu hai cha con cùng làm thì rất hay. Anh ta có tài tổ chức và anh ta nghĩ rằng nếu anh ta tịnh khẩu trong khi cha mìng cũng tịnh khẩu thì hai cha con sẽ đạt tới một thành quả nào đó rồi cả hai sẽ được chuyển hóa. Hai cha con có một thời gian an ninh là bảy ngày. Hoặc là hai chị em. Hai chị em mỗi ngày gặp nhau. Mình đề nghị với em gái mình: "Em muốn không? Em muốn tịnh khẩu với chị hai tuần không? " có thể hai người đồng tịnh khẩu một lần. Cả hai đều phải thực tập. Mỗi người có một cuốn sổ để ghi những câu mà thường ngày mình hay nói nhưng nhờ tịnh khẩu nên đã dằn kịp, không nói. Rồi từ những yếu tố tiêu cực, họ sẽ tìm ra những gốc rễ nào đã khiến họ hay nói với nhau những lời nặng nề chua cay và họ quyết định chuyển hóa như thế nào. 4. Thấy được cội nguồn Tôi đề nghị với người thiếu phụ khoan trở về gặp mẹ. Tôi đề nghị với người đó tổ chức một tăng thân tu học, hoặc là gia nhập một tăng thân tươi mát để tu học. Mục đích là để cho người đó được sống trong khung cảnh chánh niệm, đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm để làm cho tinh lực chánh niệm lớn lên trong bản thân. Rồi tôi đề nghị người đó ghi lại những câu mà mình đã nói với mẹ và mẹ đã nói với mình trong buổi gặp mặt vừa rồi để quán chiếu: mẹ đã nói điều gì và mình đã nói những điều gì. Những điều gì mẹ nói đã làm cho mình đau khổ điên cuồng cho đến nỗi mình đã trả lời bằng những câu nói rất phũ phàng. Rồi mình quán chiếu. Phương pháp này gọi là trạch pháp. Ví dụ mình quán chiếu vào một câu nói của mẹ. Câu nói đó có vẻ hết tình hết nghĩa quá đi. Nhưng mà mình phải đặt câu hỏi tại sao mẹ đã nói như vậy, động lực nào đã khiến cho bà nói như vậy? Những nguyên do nào, những gốc rễ nào đã đưa tới một câu nói như thế? Và mình ngồi quán chiếu, đi thiền hành mà quán chiếu. Một vài ngày sau, tự nhiên mình thấy, mình thấy được tại sao mẹ đã nói như vậy. Và mình cũng sẽ nói như vậy và bất cứ ai nếu đã đi qua những khổ đau như khổ đau của mẹ, những kinh nghiệm như kinh nghiệm của mẹ chắc cũng sẽ nói như vậy. Và khi thấy được điều đó tự nhiên ta hiểu được và cái hiểu đó đưa tới sự tha thứ. Cái hiểu đó ở trong đạo Bụt gọi là Prajna hay là Bát Nhã. Có thể người kia đã không muốn nói, nhưng mà người đó đã nói. Một lực lượng ma quái gì ở trong họ bắt họ nói. Và mình phải thấy cho được cái lực lượng ma quái đó. Mà lực lượng ma quái đó là những nội kết, những khổ đau đã được gây ra trong quá khứ và mình đã chịu trách nhiệm một phần nào về cái quá khứ đó. Một khi đã thấy được như vậy rồi thì mình hiểu. Khi hiểu được rồi thì mình có thể tha thứ và cái giận của mình sẽ tan. Sau đó mình quán chiếu câu nói mà mình đã nói với mẹ. Câu nói nào đã làm cho mẹ nổi điên? Mình tự hỏi tại sao mình đã nói như vậy? Lúc ban đầu, mình đã đi tới với một tâm niệm thương yêu, hòa giải, mình đâu có muốn nói những câu nói như thế; nhưng mà tại sao mìng đã nói những câu nói đó? Quán chiếu một ngày hai ngày, ba ngày, đi thiền hành, sống trong tăng thân mình sẽ tìm hiểu, mình sẽ thấy được. Mình thấy tuy mình nói như vậy nhưng không phải chính mình nói mà là khối nội kết kia đã nói. Mà những khối nội kết ấy được gây ra như thế nào, với ai và bởi ai? Mình không lên án nhưng mình thấy rõ ràng, sở dĩ mình đã nói như vậy vì có những khối đau như vậy. Lúc đó, ta thấy những khối đau kia được tượng hình do những nguyên do nào và tự nhiên ta tha thứ cho chính ta, ta không có mặc cảm tội lỗi nữa. Ta nói rằng nếu mẹ ta đã sống qua những khổ đau của ta như vậy thì bà chắc cũng sẽ nói như vậy. Bất cứ ai sống qua những khổ đau và tức bực như mình thì chắc cũng sẽ nói như vậy. Thành ra mình tha thứ cho mình. Hiểu được như vậy ta biết rằng từ nay trở đi ta sẽ không bao giờ để cho cái tâm của ta và để cho cái thân của ta bị trưng bày ra để cho những hạt giống nội kết kia được gieo trồng vào nữa. Trong quá khứ ta đã không giữ thân, giữ tâm của ta. Một miếng đất mà để phô bày ra như thế thì bất cứ hạt giống nào cũng rơi vào được, nhất là những hạt giống độc hại. Ta phải giữ thân ta, ta phải giữ tâm ta. Trong quá khứ ta đã không tu học, ta đã không biết giữ thân, giữ tâm để cho tâm ta xúc chạm vào những độc tố. Và bây giờ đây, ở trong một đại chúng tu học, ta phải biết giữ gìn để cho điều đó đừng tiếp diễn và ta để ta có cơ duyên chuyển hóa. Khi mình bắt đầu hiểu được mình và hiểu được mẹ mình thì cái hiểu đó có thể biểu hiệu bằng ngôn ngữ. Mình ngồi xuống viết thơ. Mẹ ơi, sáng hôm nay sau khi đi thiền hành, con thấy rất nhiều điều ngộ nghĩnh. Con xin trình bày để mẹ thấy... Và người đó viết tất cả những gì mình đã thấy trong tâm của mình. Trong thời gian một giờ đồng hồ hay hai giờ đồng hồ viết lá thơ đó, người thiếu phụ tưới tẩm lại hạt giống hiểu biết và tha thứ của mình. Nghĩa là cô ta tiếp tục thực tập trong vòng một giờ hay hai giờ đồng hồ nữa cho vững chãi cái thấy vừa qua của cô ta. Viết xong lá thơ, người thiếu phụ thấy nhẹ hẳn người. Người thiếu phụ đó biết chắc rằng nếu mẹ đọc lá thơ này thì mẹ cũng sẽ khỏe. Người đó bỏ lá thơ vào trong phong bì và gởi về miền nam nước Pháp cho mẹ. Bà mẹ mở lá thơ ra đọc. Những lời, những ý và cái thấy của con gái mình giống như là một ngọn đuốc soi sáng những ngõ ngách trong tâm hồn mình. Mình thấy rằng tháng trước quả thật mình đã có nói những câu nói đó và những câu nói kia thật ra đã tuột khỏi miệng mình chứ mình không bao giờ muốn nói. Cái gì đã làm cho mình nói câu nói đó để làm cho nó nổi điên? Con gái mình đã quán chiếu, đã thấy và đã nói để nhờ mình xét lại coi thử có đúng hay không. Nó đã nói đúng. Nhưng nó chưa thấy được một vài điều ở trong tâm mình. Tuy nhiên trong mấy mươi phút đọc lá thơ này, bao nhiêu cái nút thắt ở trong lòng bà được mở ra. Những nội kết được tiêu tán là nhờ đọc lá thơ. Lá thơ đó là ánh sáng tuệ giác của đứa con gái chiếu vào trong nội tâm của mình. Lá thơ đó đã giải phóng cho đứa con nhưng cũng bắt đầu làm công việc giải phóng cho bà mẹ. Tháng sau người con gái gởi thêm một lá thơ thứ hai. Cô ấy tiếp tục thực tập như vậy và sáu tháng sau, sau khi viết được sáu lá thơ, cô gái thấy trong người khỏe hẳn. Cô có cảm tưởng là có thể về gặp mẹ mà không còn sợ nguy hiểm. Lúc đó, sự gặp gỡ có thể không tạo ra chiến tranh nữa vì cô gái đã được thực tập trong sáu tháng, đã biết thở, biết đi, biết mĩm cười, đã nhìn, đã hiểu và vì vậy nên cô có nhiều tự do. Cô không còn bị nô lệ cho cái khối đau trong lòng mình nữa và vì vậy công tác hóa giải của cô kỳ này có thể đem tới kết quả. Người thông minh tự vạch cho mình một con đường thực tập. Người thông minh biết rằng trong khi ta đau khổ, người kia cũng đau khổ. Chắc chắn là cả hai người đều phải thực tập. Có thể chúng ta nên thực tập chung và thực tập cùng một pháp môn. Có thể chúng ta nên cùng thực tập tại một nơi hay chúng ta nên xa nhau trong một thời gian để thực tập. Nếu thực tập ở một nơi, có thể là chúng ta cùng thực tập tịnh khẩu đồng thời với nhau, mà trong trường hợp đó thì không cần phải xa nhau. Chúng ta không hối hả, không gấp gáp về chuyện hòa giải, tại vì nếu không có yếu tố và điều kiện của hòa giải thì dầu có ý chí hòa giải, chúng ta cũng không đi đến đâu. Có nhiều cuộc hòa đàm kéo dài từ năm này sang năm khác mà không bao giờ đem tới hòa bình cả. Vừa đánh vừa đàm. Tiếng Hoa gọi là "đả đả đàm đàm". Thương thuyết thì thương thuyết, đánh thì cứ đánh. Vì vậy cho nên có những cuộc thương thuyết hòa bình kéo dài tới ba năm, năm năm, mười năm. Chúng ta nên biết rằng giữa nước Pháp và nước Anh có một trận chiến tranh kéo dài tới một trăm năm, La guerre de cent ans. Và chính tới bây giờ người Pháp cũng còn có nội kết với người Anh và người Anh cũng có nội kết với người Pháp. Nội kết giữa người Pháp với người Đức đã được hòa giải cũng khá nhiều, nhưng nội kết giữa người Pháp và người Anh cũng đang còn. Tu tập, chúng ta phải nhìn vào tâm của chúng ta và tâm của người kia để thấy được những hạt giống của khổ đau, của nội kết trong tâm ta và trong tâm người kia. Đừng bao giờ nói rằng ta là người đau khổ duy nhất và người kia chỉ làm ta đau khổ thôi. Người kia thật ra cũng đau khổ lắm. Và chính ta cũng chịu trách nhiệm một phần trong cái sự đau khổ của người kia. Người kia đau khổ có thể là vì trong quá khứ, hồi còn thơ ấu, người đó đã tiếp nhận những hạt giống nội kết. Nhưng nếu chúng ta tươi mát, khéo léo, có nhiều thương yêu thì chúng ta đã giúp được người đó hóa giải bớt rồi. Đằng này người đó đã không bớt. Và vì vậy cho nên chúng ta biết chúng ta chưa phải là một người anh tốt, chưa phải là một người bạn tốt, chưa phải là một người chị tốt đối với người kia. Và chúng ta đã chịu trách nhiệm một phần nào. Vấn đề không phải là vấn đề trách móc. Trách móc không phải là giải pháp. Trong bài Sám nguyện, chúng ta đọc: Lý luận xong rồi trách móc, Mỗi ngày mỗi chuốc khổ đau Chia cách hố kia càng rộng Có ngày không nói với nhau Cũng không muốn nhìn thấy mặt Gây nên nội kết dài lâu ... Đó là sự thật. 5. Chiếc hộp ân tình Tôi xin kể câu chuyện hộp bánh LU để làm rõ thêm ra sự thực tập này. Bánh bích quy hiệu LU, Lefevre Utile, là một thứ bánh ở Việt Nam ngày xưa coi như là bánh sang, nhập cảng từ nước Pháp. Hộp bánh LU rất đẹp. Có những cô thiếu nữ đem cất những lá thơ tình của người con trai mình yêu viết cho mình trong hộp bánh LU. Cô có nhỏ vào đấy một ít nước hoa và giữ gìn hộp bánh LU rất kín đáo. Có khi cha mẹ cũng không có cơ hội thấy được cái hộp bánh LU kỷ niệm ấy của các cô nữa. Ngày xưa không có điện thoại, vì vậy cho nên phương cách để cho hai người yêu liên lạc với nhau chỉ là viết thơ thôi. Viết thơ mà đôi khi cũng không gởi bằng nhà giây thép, tại vì nếu gởi nhà giây thép (nhà bưu điện) thì ông phát thơ có thể đưa tới cho mẹ mình. Rồi mẹ mình biết, và mẹ người kia biết. Thành ra đôi khi họ giả bộ mượn sách, cho nhau mượn sách và dấu thơ trong cuốn sách của mình. Những lá thơ đó, đọc xong mình không xé, mình muốn giữ kỹ. Có một gia đình nọ, hai người lấy nhay vì tình yêu chớ không phải là vì cha mẹ bắt ép. Lúc mới cưới nhau, họ có hạnh phúc. Nhưng vì không biết tu tập chánh niệm nên sau một thời gian, họ gây nội kết cho nhau và làm khổ nhau. Nguời đàn bà mất hết sự tươi mát, người đàn ông mất hết sự dịu dàng và ngọt ngào. Hai vợ chồng sống không có hạnh phúc nữa. Sở dĩ họ còn sống với nhau là vì danh dự, có thể là tại vì sợ cha mẹ hai bên buồn. Ông ta không còn cảm thấy thoải mái khi sống gần bà vợ. Bà vợ cũng không cảm thấy thoải mái khi sống gần chồng. Hai người đi tìm những niềm vui riêng. Nếu những niềm vui ấy lành mạnh thì đở. Bà bỏ hết thì giờ để lo việc chùa hay lo việc xã hội... làm như là nếu không có bà thì nhà chùa sống không nổi! Ông thì lấy cớ là cần phải học thêm ngành chuyên môn nên cứ ở miết trong sở hay đi ghi tên lớp đêm để học thêm. Có một bác sĩ cảm thấy không thoải mái khi về nhà, cho nên sau giờ làm việc ở phòng mạch xong, ông nấn ná thêm một vài giờ đồng hồ nữa để cứu xét hồ sơ của những bệnh nhân ngày mai. Về nhà không có hạnh phúc gì mấy. Thà rằng ngồi ở phòng mạch của mình làm việc mà khỏe hơn. Đó là một bi kịch. Bà vợ của ông có khi than: "Em cũng là một người bệnh nữa đây. Anh chẳng chăm sóc em gì cả. Anh chỉ chăm sóc hồ sơ của bệnh nhân anh thôi". Người vợ đau khổ và cũng muốn được coi như là một bệnh nhân. Câu nói đó chỉ chứng tỏ rằng anh ta không muốn về nhà mà thôi. Có người đã có bằng tiến sĩ rồi nhưng không muốn về nhà, cho nên đi học thêm một lớp ban đêm để có thêm một bằng tiến sĩ thứ hai. Không biết để làm gì? Có người tìm làm công việc xã hội, dạy văn hóa cho con nít ở khu phố trong khi con mình thì không hề để ý, vợ mình cũng không để ý. Cái đó gọi là trốn tránh. Người kia mất hết sự tươi mát rồi và mình tìm sự trốn chạy. Cả hai bên đều như vậy cả. Một buổi sáng nọ, trong khi ông chồng đang ở trong sở thì bà vợ dọn lại cái tủ áo của mình, tủ áo có nhiều chiếc áo rất đẹp mà lâu nay bà không mặc. Bà còn giữ lại cái áo cưới ngày xưa. Trong khi lục tìm, không biết vì sao mà bà đụng tới cái hộp bánh LU. Rồi không biết buổi sáng đó ông bà dun dủi làm sao mà bà ta lại có ý muốn mở cái hộp bánh đó ra. Khi mở ra và nhìn thấy những lá thư thì bà cảm thấy rung động. Cả mười , mười mấy năm nay bà không nhìn thấy những lá thư đó. Thấy lại cái màu sắc của những lá thư, những nét chữ của anh chàng ngày xưa, tự nhiên có một cái gì như một giọt nước mát thấm vào trái tim của bà. Bao nhiêu quá khứ, bao nhiêu kỷ niệm hạnh phúc ngày xưa sống dậy. Bà đứng đó, rút một lá thư ra, và đọc. Trong khi đọc, bà tiếp xúc được với cái ngôn ngữ của anh chàng ngày xưa. Nguời gì mà nói năng, viết lách ngọt ngào làm sao. Tự nhiên hình ảnh ngày xưa của anh chàng hiện ra, rất tươi mát, đúng là vị hoàng tử của đời mình. Đọc xong lá thư đó tự nhiên bà thấy khỏe. Thấy dễ chịu. Bà bỏ lá thư ấy xuống, đọc thêm một lá nữa. Càng đọc bà càng thấy dễ chịu. Bà dẹp mấy cái áo vào tủ, không muốn sắp lại nữa. Lấy nguyên hộp LU để lên bàn, bà ngồi đọc. Bà ngồi đọc một mạch bốn chục lá thư, cái này sang cái khác. Đọc xong, bà xếp thư trở lại theo thứ tự ngày tháng như một trò chơi trẻ con vậy. Trong khi bà đọc những lá thư đó, những hạt giống của hạnh phúc, của thương yêu, của kỷ niệm được tưới tẩm. Và hình ảnh của chàng trai dễ mến ngày xưa hiện ra, rất kỳ lạ, giống như những hạt giống lâu nay chưa bao giờ được tuới tẩm. Bà đâu có biết rằng bà đang thực tập đúng theo đường hướng Duy thức của Phật học. Thực tập đúng nghĩa là tưới tẩm những hạt giống của thương yêu, của hạnh phúc trong con người của mình. Ở đây một sự may mắn đã xảy ra cho bà thôi, chứ bà đâu có chú ý thực tập. Nếu còn giữ hộp bánh LU của mình, xin quý vị về thử rồi sẽ biết. Trong khi đọc thư, tâm hồn khô khan như sa mạc của bà có một trận mưa rào đi qua. Biết bao nhiêu hạt giống bừng nở lên. Bà thấy khỏe. Bảy tám năm nay, không bao giờ ông nói với bà bằng cái giọng ngọt ngào như vậy. Và bà quên, đã nghĩ không bao giờ người đàn ông lại có thể nói được những câu như vậy. Ông ta bây giờ lạnh lùng, khắt khe, không giống gì người con trai ngày xưa. Đọc lại những lá thư, hình ảnh tưởng đã chết rồi lại xuất hiện trong lòng mình. Thì ra hình ảnh ấy chưa bao giờ chết cả. Những hạt giống còn đó, không bao giờ chết hết. Đọc xong thư bà thấy chuyển hóa. Bà nhìn vào bà và bà tự hỏi: một con trai dịu hiền, biết điều, tươi mát như vậy, mình đã làm ăn như thế nào để bây giờ người đó trở nên một người khắt khe và lạnh lùng thế kia? Tại sao? Ta đã có trách nhiệm nào trong việc làm cho anh chàng trở thành một người đàn ông khó chịu như ngày hôm nay? Bà có ý định sẽ ngồi xuống, lấy một tờ giấy và viết cho ông một lá thư, và nói ra những cảm nghĩ của mình trong khi đọc lại bao nhiêu lá thư đó. Bà tiếc cho cái hạnh phúc ngày xưa của mình. Hạnh phúc ấy ngày xưa đã có chứ không phải không có. Chính mình đã đánh mất nó. Cố nhiên là anh chàng có lỗi, nhưng lỗi phần mình cũng có rất nhiều trong đó. Không thể nói là mình không có lỗi được. Chưa kịp viết thư thì có điện thoại của ông ta gọi về. Ông nói là ông phải đi New York, chiều hôm nay không về nhà ăn cơm được. Bà biết đó là cái thói quen trốn chạy của ông. Về nhà đâu có hạnh phúc gì? "Ông chủ nói anh phải đi New York với ông, có thể là ở cả tuần bên đó." Ông cũng biết rằng bà không cần gì ông mấy. Chắc bà sẽ nói: "O.K, anh đi thì cứ đi". Nhưng lần này giọng bà trả lời hơi ngọt. Bà nói: "Anh cứ đi, cần thì anh đi. Nhưng xong công việc thì anh về với em." Bà đã nói như vậy. Ông cũng không có chánh niệm gì mấy và không để tâm tới giọng nói đã trở nên dịu dàng của bà. Trong bảy tám năm nay, giọng bà có khi rất chua chát. Từ một nàng tiên tươi mát, dịu hiền, bà đã trở thành một thứ bà chằng cho ông. Đặt ống điện thoại xuống, bà nghĩ rằng bây giờ nếu ngồi viết một lá thư cho ông sẽ là một niềm vui. Bà ngồi và viết lá thư đó. Bà viết như đã từng viết cho ông ngày xưa. Bà bắt đầu bằng ba chữ: "Anh yêu quý". 6. Xây lại thâm tình Trong lá thư bà đã nhắc lại những kỷ niệm hạnh phúc lúc hai người mới gặp nhau. Viết một lá thư như thế tốn vào khoảng một giờ mấy mươi phút. Và trong một giờ mấy đó bà lại tưới tẩm một lần nữa những hạt giống của hạnh phúc, của kỷ niệm ngày xưa. Bà thấy khỏe quá đi. Viết xong lá thư, bà nhẹ người, tuy rằng ông chưa đọc. Bà xếp thư lại, bỏ vào phong bì, và viết chữ "Anh" lên rồi đem lên lầu, để nơi bàn viết của ông. Lúc nào ông đọc cũng được. Sự thật là viết xong lá thư, bà đã thấy con người của mình khỏe ra rồi. Đó là phép lạ của sự tưới tẩm những hạt giống tích cực của hiểu biết và thương yêu. Không đợi người kia, không cần người kia. Ở đây người thiếu phụ không có thầy, không có bạn, không có tăng thân, bà chỉ có cái hộp bánh LU thôi. Quý vị đừng khinh thường những gì quanh chúng ta, một con đường thiền hành, một gốc cây, hay một em bé đều có thể là một yếu tố của tăng thân mà chúng ta đã bỏ quên. Đáng lý ông ấy đi bảy ngày mới về. Nhưng đến ngày thứ hai, sau khi sắp đặt công việc xong, ông nhớ lại cú điện thoại. Và ông nhớ lại lời dặn của bà, rõ ràng từng tiếng, chưa bao giờ bà nói bằng cái giọng đó: Xong công việc thì về với em. Và ông không muốn ở thêm nữa. Ông gọi điện thoại cho hãng máy bay. Ông muốn dành một sự ngạc nhiên cho bà. Khi về tới nhà, ông đi thẳng lên studio. Bà ở dưới này. Bà đã sống thanh thản được hai ngày rồi. Bà đã biết thế nào ông cũng đọc lá thư kia. Nhưng bà nghĩ nếu ba, hay năm, hay bảy ngày sau ông mới đọc thì cũng không sao hết. Vấn đề là bà đã viết được lá thư đó và bà đã thấy trong người khỏe ra. Ông về và thấy cái thư trên phong bì đề chữ "Anh" trên bàn. Ông ta ngồi đọc và ông ta ở lại trên đó rất lâu. Rất lâu, trong thời gian đọc, tất cả những hạt giống hạnh phúc của ông đã được lá thư đó tưới tẩm. Và ông khám phá lại được cái hình ảnh của nàng tiên ngày xưa. Tuy bà không có chú ý giúp ông, nhưng lá thư đó đã trở thành một phép mầu nhiệm: nó tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc và kỷ niệm của ông ngày xưa. Và lần đầu tiên sau tám năm, ông khám phá lại được như bà là tại sao bà đã trở thành như vậy. Một người con gái dịu hiền, một người con gái tươi mát như thế, bây giờ tại sao lại trở thành khó khăn và chua chát như vậy. Mình đã làm gì? Mình đã chịu trách nhiệm nào trong việc đó? Nhà văn Pháp Antoine Saint Expery nói rằng: Anh chịu trách nhiệm về bông hồng của anh (Tu es resonsable de ta rose). Ông thấy rất rõ là nếu bà ra nông nỗi như vậy, một phần cũng là tại ông. Tại ông sống không có chánh niệm. Ông ở trên lầu rất lâu để chiêm nghiệm, để đọc lại lần thứ hai lá thư đó. Và khi xuống, ông xuống với ý định là sẽ thay đổi sự sống của mình đi, làm thế nào để phục hồi được người đàn bà tươi mát ngày xưa mà chính mình đã mong đợi sẽ cùng mình sống suốt đời. Tôi thấy hai vợ chồng đó có một cơ hội làm mới lại, một cơ hội Beginning Anew. Và chúng ta ai cũng mong mõi họ thành công. Trường hợp chúng ta cũng vậy. Mỗi người trong chúng ta đều có cơ hội làm lại thâm tình với người thân của chúng ta. Người đó có thể là con trai hay con gái ta. Có thể là mẹ, là cha ta. Có thể là chồng hay vợ ta. Và chúng ta biết phương pháp thực tập rồi. Chúng ta phải tạo ra một khung cảnh để có thể tiếp xúc lại với những hạt giống tươi mát trong sáng cũ, để có thể tưới tẩm được những hạt giống của kỷ niệm thật hạnh phúc, thật hiểu biết và thương yêu trong quá khứ và cũng để chuyển hóa. Ý muốn hòa giải, muốn thương yêu, nhưng chúng ta không đủ tự do để thương yêu. Chúng ta muốn hòa giải, nhưng chúng ta không đủ tự do để hòa giải. Đó là do những khối nội kết trong ta, những khối tập khí ở trong ta quá lớn. Tu tập là chuyển hóa nội kết. Nếu có tài tổ chức, quý vị hãy cùng cái tài đó để sắp đật lại đời sống hàng ngày của mình, sắp đặt lại tăng thân của mình. Vì tổ chức có thể đóng một vai trò rất quan trọng. Nhờ biết tổ chức mà sự tiếp xúc với những bực bội và phiền não hàng ngày sẽ được giảm thiểu tới mức tối đa. Chúng ta phải
Làm thế nào để chọn cho mình một tôn giáo chân chính ? Thời Đức Phật còn tại thế, ở Ấn Độ có một không khí sinh hoạt hào hứng trong lĩnh vực tri thức. Thời ấy, một số những nhà trí thức lỗi lạc bậc nhất mà thế giới đã từng được biết đến, tham gia năng động vào các cuộc tranh luận tôn giáo. Những vấn nạn như: Có tồn tại một Sáng tạo chủ chăng? Có phải không có một Sáng tạo chủ? Có hay không một linh hồn tồn tại? Có phải thế giới không có sự khởi đầu hay có một sự khởi đầu?, là một số chủ đề được tranh luận sôi nổi bởi những bậc tài trí thiện xảo nhất thời bấy giờ. Và dĩ nhiên cũng như ngày nay vậy, mỗi người đều tuyên bố rằng chỉ có họ là có đủ thẩm quyền để trả lời, và bất cứ ai không theo họ thì sẽ bị trừng phạt và có thể bị đọa vào địa ngục! Tất nhiên mọi nỗ lực tìm cầu chân lý như vậy chỉ để tạo thêm sự mê muội mà thôi. (Bấy giờ) có một nhóm những thanh niên trẻ nhiệt tâm kêu gọi người dân làng Ka-la-ma đến tham kiến Đức Phật và trình bày với Ngài về những hoang mang của họ. Họ hỏi Ngài, người ta nên làm gì trước khi chấp nhận hay từ chối một lời dạy. TT. K. Sri Dhammananda PHƯỚC LƯỢNG dịch (Theo giacngo.vn) Lời khuyên của Đức Phật như đã được ghi lại trong bài kinh Ka-la-ma là không nên chấp nhận bất kỳ một điều gì, chỉ vì điều đó được dựa vào truyền thuyết, truyền thống hay được đồn đại. Thường thì người ta phát khởi niềm tin sau khi nghe người khác. Họ chấp nhận một cách thiếu suy nghĩ những gì mà người khác rao giảng về tôn giáo hay những gì được thuật lại trong kinh điển của họ. Hầu hết người ta hiếm khi chịu khó để thẩm xét, tìm hiểu xem liệu những gì được nói đến là chân thật hay hư vọng. Thái độ hời hợt này rất là khó hiểu, đặc biệt trong thời hiện đại này, khi có một nền giáo dục khoa học dạy người ta đừng bao giờ chấp nhận bất kỳ một điều gì mà điều đó không thể được giải thích một cách hợp lý. (Vậy mà) ngày nay vẫn có rất nhiều thanh niên có học thức (cũng) chỉ biết dùng cảm tính hay lòng sùng tín của họ mà không sử dụng ý thức, lý trí. Trong bài kinh Ka-la-ma, Đức Phật đưa ra lời khuyên hết sức phóng khoáng cho những thanh niên biết thế nào để chấp nhận một tôn giáo bằng thái độ lý trí. Khi những người trẻ này không thể quyết định làm sao để chọn một tôn giáo chân chính, họ liền tìm đến Đức Phật để thỉnh cầu lời khuyên nhủ. Họ thưa với Ngài rằng vì có nhiều nhóm tôn giáo giới thiệu tôn giáo của mình theo nhiều cách khác nhau, nên họ bị hoang mang và không thể hiểu được đâu là sự thật. Những thanh niên này có thể được mô tả theo thuật từ hiện đại như là những nhà tư tưởng phóng khoáng hay những người tìm cầu chân lý. Đó là lý do tại sao họ quyết định thảo luận vấn đề này với Đức Phật. Họ thỉnh cầu Ngài chỉ ra cho họ một số hướng dẫn để giúp họ tìm được một "tôn giáo lý trí" mà qua đó họ có thể tìm thấy được chân lý. Để đáp lời thỉnh cầu thành khẩn của họ, Đức Phật không tuyên bố, rằng giáo pháp là lời dạy có giá trị duy nhất và bất cứ ai tin vào một điều gì khác sẽ đọa vào địa ngục. Thay vào đó, Ngài đưa ra một số lời khuyên để họ tự suy ngẫm. Đức Phật chưa bao giờ khuyến tấn người ta chấp nhận một tôn giáo chỉ dựa vào đức tin duy nhất, ngược lại Ngài khuyên họ nên thẩm xét và tìm hiểu sự tình mà không nên có tâm thành kiến. Ngài cũng không khuyến khích người ta chỉ dùng cảm tính và lòng sùng kính mộ đạo dựa trên đức tin mù quáng để chấp nhận một tôn giáo. Đó là lý do tại sao tôn giáo được y cứ trên lời dạy của Ngài thường được mô tả là một "tôn giáo lý trí"(rational religion). Nó cũng được biết đến như là một "tôn giáo khai phóng và khoa học" (freedom and reason). Chúng ta không nên chấp nhận bất kỳ điều gì chỉ bằng đức tin và cảm tính để hành trì theo một tôn giáo. Chúng ta không nên chấp nhận một tôn giáo chỉ vì tôn giáo ấy xoa dịu nỗi lo sợ khờ khạo của chúng ta về những gì sẽ xảy đến với chúng ta khi chúng ta chết hoặc bị đe dọa với hỏa ngục nếu chúng ta không chấp nhận lời dạy này hay lời dạy kia. Tôn giáo phải được chấp nhận bằng sự lựa chọn tự do. Mỗi người nên chấp nhận một tôn giáo bằng sự hiểu biết mà không phải vì luật lệ được áp đặt bởi uy lực cai trị của kẻ cầm quyền hay quyền lực siêu nhiên. Cần phải có một niềm tin có lý trí và mang tính cách cá nhân đối với tôn giáo được chấp nhận. Người ta có thể tạo ra bất kỳ lời tuyên bố huyênh hoang về tôn giáo của họ bằng cách thổi phồng hàng loạt những sự kiện nhằm gây ảnh hưởng đến người khác. Sau đó họ có thể quảng bá chúng như là những bức thông điệp thánh thiện để cổ xúy đức tin và thuyết phục. Nhưng chúng ta cần phải đọc những chủ đề này với đầu óc phân tích bằng cách dùng ý thức khách quan và sức mạnh lý trí. Đó là lý do mà Đức Phật khuyên chúng ta đừng nên vội vàng chấp nhận bất cứ điều gì thuộc về truyền thuyết, truyền thống, hay chỉ là truyền tụng. Con người thực hành một số truyền thống được y cứ vào tín ngưỡng, tập tục hay lối sống cộng đồng nơi họ đang sống. Tuy nhiên, một số truyền thống lại rất quan trọng và có ý nghĩa. Do vậy, Đức Phật không phải hoàn toàn phản đối tất cả mọi truyền thống, mà Ngài khuyên chúng ta nên cẩn thận thẩm xét, liệu một sự thực hành nào đó có ý nghĩa hay không. Chúng ta cần phải thừa nhận rằng có một số truyền thống trở nên cổ hủ, lỗi thời và vô nghĩa sau một giai đoạn tồn tại. Điều này có thể là vì có rất nhiều những truyền thống được giới thiệu và thực hành bởi con người sơ khai, khả năng hiểu biết về cuộc đời và thiên nhiên của họ vào thời kỳ ấy hết sức giới hạn. Tuy nhiên ngày nay, khi chúng ta dùng học vấn và kiến thức khoa học hiện đại về vũ trụ, chúng ta sẽ hiểu rõ được bản chất tín ngưỡng của họ. Tín ngưỡng mà con người sơ khai thực hành liên quan đến mặt trời, mặt trăng và các vì sao, địa cầu, gió mưa, sấm chớp, động đất được dựa vào các nỗ lực của họ để giải thích những hiện tượng kinh hãi bề ngoài này. Họ tuyên truyền những hình ảnh và sự kiện ấy như là những vị thần hay các hành động của một vị thần với quyền năng siêu nhiên. Bằng kiến thức khoa học hiện đại ngày nay, chúng ta có thể lý giải thích đáng những hiện tượng thiên nhiên kinh hãi ấy. Điều này lý giải tại sao Đức Phật dạy, “Đừng vội chấp nhận những gì chỉ được nghe nói. Đừng nỗ lực chứng minh hành vi phi lý của mình bằng cách nói rằng đây là truyền thống của chúng ta và bắt buộc chúng ta phải chấp nhận nó”. Chúng ta không nên tin vào tín lý dị đoan hay giáo điều chỉ vì thế hệ đi trước đã tin. Đây không phải muốn nói rằng chúng ta không biết tôn trọng thế hệ đi trước, nhưng chúng ta cần phải thích ứng với thời đại. Chúng ta nên duy trì những tập tục tín ngưỡng tương hợp với quan điểm và giá trị của thời đại, và nên từ bỏ điều gì thấy không cần thiết hay không còn thích hợp bởi vì thời gian đã thay đổi. Bằng lối tư duy này, chúng ta sẽ có thể sống một cuộc đời tiến bộ và lành mạnh hơn (richer lives). Cách đây một thế hệ, có vị giáo sĩ người Anh (giáo sĩ Tin Lành) đưa ra một thành ngữ lấp lửng/ba phải, rằng"Thiên Chúa của những khoảng cách" (God of the gaps) để biện lý rằng những gì chúng ta không hiểu được thì quy về cho Thiên Chúa. Nhưng khi tầm hiểu biết của chúng ta về thế giới được mở mang, thì quyền năng của Thiên Chúa cũng theo đó mà mất đi. Ai cũng thích thú nghe những câu chuyện kể. Có lẽ đó là lý do vì sao người ta lại tin vào những điều chỉ được nghe nói. Giả sử rằng một trăm người đã chứng kiến một sự kiện nào đó và khi mỗi người thuật lại sự kiện này cho người khác nghe, anh ta sẽ kể theo nhiều cách khác nhau bằng cách thêm vào nhiều điều và thổi phồng những chi tiết. Anh ta sẽ “thêm mắm dặm muối” (“adds more salt and spice”) để tạo cho câu chuyện thêm ly kỳ và hấp dẫn. Nói chung, mỗi người sẽ kể lại câu chuyện như thể anh ta là người duy nhất có thể kể với người khác về những gì thực sự đã xảy ra. Đây là bản chất của những câu chuyện mà người ta sáng tạo ra và tuyên truyền. Khi bạn đọc những câu chuyện từ một tôn giáo nào đó, xin lưu ý rằng hầu hết những lời giải thích trong những câu chuyện ấy chỉ là để tô điểm cho những sự kiện nhỏ nhặt nhằm mê hoặc con người. Nếu không thì sẽ chẳng có gì cho họ rêu rao với người khác và cũng không ai để ý đến họ nữa. Tuy nhiên, cũng có nhiều câu chuyện có thể rất hữu ích. Những câu chuyện như vậy có ý nghĩa trong việc chuyển tải những bài học đạo đức. Kinh văn Phật giáo là kho tàng vĩ đại chứa đựng nhiều câu chuyện như vậy. Nhưng dù sao thì đó vẫn chỉ là những câu chuyện đơn thuần. Chúng ta không nên tin vào những câu chuyện ấy như thể là chân lý cứu cánh. Chúng ta không nên như những đứa trẻ ngây thơ tin rằng loài sói nuốt sống những bà lão và nói được tiếng nói của loài người! Theo đức tin của họ, người ta có thể nói về nhiều loại thần diệu, các nam thần, nữ thần, thiên thần và quyền năng của họ. Hầu hết người ta có chiều hướng chấp nhận những điều ấy ngay mà không cần đến một sự kiểm chứng nào, nhưng theo Đức Phật thì chúng ta không nên vội vàng tin tưởng vào bất cứ điều gì bởi vì những người thuật chuyện cho chúng ta có khi chỉ là những kẻ tự lừa dối mình. Phần nhiều người đời vẫn còn si mê và khả năng hiểu biết về chân lý của họ thì thấp kém. Rất ít người hiểu được vấn đề một cách đúng đắn. Làm sao kẻ mù lòa lại có thể dẫn lối được cho kẻ mù quáng? Do vậy mà có câu nói khác rằng, “Chàng Jack mắt chột có thể là vua trong vương triều của những kẻ mù” (A one-eyed Jack can be a king in a kingdom of the blind). Một số người chỉ có thể hiểu được sự thật một phần. Chúng ta phải ý thức trong việc đặt niềm tin tuyệt đối của mình nơi họ. Kế đến, Đức Phật khuyến cáo chúng ta đừng vội tin vào điều gì, chỉ vì điều đó được ghi lại trong kinh điển hay thánh thư. Người ta luôn nói rằng tất cả những thông điệp ghi lại trong Thánh kinh được truyền đạt trực tiếp bởi Thượng đế của họ. Ngày nay, họ nỗ lực giới thiệu những cuốn sách ấy như những bức thông điệp đến từ thiên đường. Thật khó tin rằng họ đã nhận bức thông điệp này từ thiên đường và sao chép lại trong Thánh kinh của họ chỉ cách nay vài thế kỷ. Tại sao những điều mặc khải này lại không được thực hiện trước đó? (Lưu ý rằng tuổi của hành tinh này là bốn tỷ rưỡi năm). Tại sao những bức thông điệp ấy lại chỉ được mặc khải cho một vài cá nhân được ân huệ nào đó thôi? Chắc chắn việc làm đó sẽ có nhiều hiệu quả hơn nếu tập hợp nhiều người lại tại một địa điểm và mặc khải chân lý cho số đông hơn là cậy vào một người để thực hiện mục vụ. Thậm chí còn hiệu quả hơn nữa là tại sao các thánh thần của họ lại không nên hóa hiện trong thân thể vật lý vào những dịp lễ quan trọng thỉnh thoảng trong năm để chứng minh cho sự tồn tại của mình? Làm theo cách như vậy thì chắc chắn họ sẽ không gặp phải rắc rối gì trong nỗ lực cải đạo thế giới! Người Phật tử không nỗ lực giới thiệu lời dạy của Đức Phật như một bức thông điệp mang tính thần thánh, và họ truyền bá giáo pháp mà chẳng dùng đến bất kỳ hình thức quyền năng huyền bí nào. Theo Đức Phật, chúng ta không nên chấp nhận, ngay đến cả lời dạy của Ngài như đã được ghi lại trong kinh điển, một cách mù quáng và thiếu sự hiểu biết đúng đắn. Đây là phương cách phóng khoáng khác thường mà Đức Phật đã dạy. Mặc dù Ngài chưa bao giờ tuyên bố rằng giới Phật tử là những người được chọn lựa của một vị thần, nhưng Ngài đã mang đến một sự tin cậy lớn lao cho tri thức nhân loại. Phương pháp tối ưu cho một người có lý trí tuân thủ là phải xem xét cẩn thận trước khi anh ta chấp nhận hay từ chối điều gì. Cần nghiên cứu, suy tư, thẩm xét cho đến khi bạn nhận ra thực chất của vấn đề ấy là gì. Nếu bạn chấp nhận bằng cách chỉ lệ thuộc vào uy quyền hoặc vào Thánh kinh, thì bạn sẽ không bao giờ tìm thấy được chân lý cho chính bạn. “Đừng tin vào lý luận suông” (logic and argument alone) là lời khuyên khác của Đức Phật. Chớ nghĩ rằng tài năng lý luận của bạn là tuyệt đối. Nếu không, bạn sẽ trở nên kiêu mạn và không chịu lắng nghe người khác - người biết nhiều hơn bạn. Thông thường, chúng ta khuyên mọi người nên dùng ý thức suy luận của họ. Đúng vậy, nhờ biết sử dụng các giác quan và tâm thức giới hạn của mình, con người khác loài cầm thú ở chỗ biết suy luận sự việc cho chính mình. Ngay cả những đứa trẻ con và người ít học cũng biết dùng sức mạnh lý luận tùy theo độ tuổi, sự chín chắn, học vấn và tầm hiểu biết của chúng. Nhưng năng lực lý luận này biến đổi theo sự trưởng thành, kiến thức và kinh nghiệm từng trải. Lại nữa, hình thức lý luận này chịu sự biến đổi theo thời gian. Sự thừa nhận của con người đối với những ý niệm cũng thay đổi theo thời gian. Theo cách lập luận như thế, thì không có sự phân tích sau cùng hay chân lý tối hậu. Vì chúng ta không có sự lựa chọn nào khác, nên chúng ta đành phải sử dụng ý thức luận lý hết sức giới hạn của mình từ lúc sơ khởi cho đến khi chúng ta đạt đến một mức độ hiểu biết đúng đắn. Mục đích là nhằm phát huy liên tục tâm thức của mình để sẵn sàng học hỏi người khác mà không quy phục trước niềm tin mù quáng. Nhờ sự thể hiện chính mình với nhiều lối tư duy khác nhau, nhờ việc để cho niềm tin của chúng ta được đối diện với thử thách, và bằng cách luôn duy trì một đầu óc cởi mở, chúng ta sẽ mở mang được tầm hiểu biết về bản thân và thế giới xung quanh. Đức Phật đã tham học với nhiều vị thầy trước khi Ngài đạt đến giác ngộ sau cùng. Tuy thế, Ngài không phải chấp nhận tất cả những điều mà những vị thầy ấy đã dạy. Thay vì, Ngài dùng suy luận cá nhân của mình để tìm hiểu chân lý. Và khi Ngài đạt đến giác ngộ, Ngài cũng chưa từng có thái độ cáu gắt hay đe dọa những ai không đồng ý với lời dạy của Ngài. Bây giờ chúng ta hãy xét đến vấn đề luận lý (logic) hay tranh biện (argument). Bất cứ khi nào chúng ta nghĩ rằng có những vấn đề nhất định nào đó là có thể chấp nhận được đối với chúng ta, thì chúng ta nói đó là hợp lý (logical), đúng đắn. Thực sự thì nghệ thuật luận lý là một công cụ quan trọng cho sự tranh biện (argument). Luận lý có thể được sử dụng bởi những nhà hùng biện tài ba - người vận dụng trí thông minh kết hợp với sự lanh lợi, ngụy xảo. Người có tài ăn nói thì có thể thao túng được sự thật và sự công bằng, và có thể đánh bại kẻ khác. Chẳng hạn như những luật sư biện luận trong tòa án. Nhiều nhóm tôn giáo khác nhau biện luận để chứng tỏ rằng tôn giáo của họ cao đẹp hơn tôn giáo người khác. Lập luận của họ được dựa vào năng khiếu và khả năng để diễn đạt quan điểm của họ, nhưng thực chất những lời biện luận ấy không cần thiết là phải quan tâm đến chân lý. Đây là bản chất của sự biện luận. Để đạt đến chân lý, Đức Phật khuyên chúng ta đừng bị dao động bởi những lời lẽ biện luận hay luận lý mà nên sử dụng sự thẩm xét khách quan. Khi người ta bắt đầu việc biện luận, tất nhiên là cảm xúc của họ cũng sinh khởi theo và điều này dẫn đến sự tranh biện sân hận, đầy kích động. Rồi thì, bản ngã đổ thêm dầu vào lửa (egoism adds more fire) cho cuộc đấu khẩu này. Kết cục, cuộc tranh luận tạo ra kẻ thù vì rằng ai cũng muốn bảo vệ lập trường quan điểm của mình là đúng. Vì thế, không ai lại đi cổ xúy chân lý của một tôn giáo thông qua biện luận. Đây là một lời khuyên quan trọng khác của Đức Phật. Tiếp theo, Đức Phật khuyên đừng chấp nhận bất kỳ một điều gì như là chân lý tuyệt đối do vì tầm ảnh hưởng của ai đó (upon one’s own influence). Điều này đề cập đến niềm tin cho rằng đức tin được nhìn nhận như là chân lý bằng sức tưởng tượng hời hợt. Mặc dù chúng ta vẫn còn nhiều nghi ngờ trong tâm mình, nhưng chúng ta lại thừa nhận những điều nào đó như là chân lý sau một sự tìm hiểu giới hạn. Bởi vì tâm trí chúng ta bị đánh lừa bởi dục vọng và xúc cảm (emotional feelings), nên thái độ tâm lý này tạo ra sự si mê. Và vì chúng ta cũng có cái vô minh nội tại nơi mình. Mọi người đều đau khổ do vô minh và ảo tưởng. Những cấu nhiễm tâm lý này che lấp tâm trí rồi trở nên có thành kiến (biased) và không thể phân biệt được giữa sự thật và ảo tưởng. Như một hệ quả, chúng ta tin tưởng bảo thủ, rằng chỉ có niềm tin của chúng ta là đúng. Lời khuyên của Đức Phật là đừng vội đi đến kết luận bằng cách dùng cảm xúc mà nên tham khảo nhiều thông tin và sự kiểm chứng trước khi tiến đến kết luận về sự việc. Điều này có nghĩa là chúng ta phải sẵn sàng lắng nghe những gì người khác đã nói. Có lẽ chúng có thể làm sáng tỏ những nghi ngờ và giúp chúng ta nhận ra được ảo tưởng về những gì chúng ta tin như thể là đúng. Một minh chứng cho việc này là trước đây người ta cho rằng mặt trời quay quanh trái đất, vật thể mà họ đã từng tin là có hình dẹt, trông giống như một đồng tiền. Luận điểm đó được y cứ vào kiến thức nông cạn của họ, nhưng họ sẵn sàng thiêu sống bất cứ ai dám trình bày quan điểm trái nghịch. Nhờ vào Đấng Giác ngộ của chúng ta, Phật giáo không có những trang sử đen tối như thế trong lịch sử của giáo hội, lịch sử mà ở đó không có sự kiện rằng con người không được phép phản đối những điều phi lý. Đây là lý do tại sao nhiều trường phái Phật giáo cùng tồn tại trong hòa ái mà không có hành động lên án, kích bác lẫn nhau. Dựa vào sự hướng dẫn minh bạch của Đức Phật, người Phật tử tôn trọng quyền tin theo những quan điểm dị biệt của người khác. Lời khuyên tiếp theo của Đức Phật là đừng chấp nhận bất kỳ điều gì, chỉ vì điều đó nghe như có vẻ là đúng (appears to be true). Khi bạn quan sát sự việc và nghe lời giải thích của người khác, bạn chỉ nắm giữ tướng trạng biểu hiện bên ngoài (external appearance) của đối tượng mà không vận dụng kiến thức thấu đáo của mình. Đôi khi những ý niệm hay sự đồng điệu mà bạn gán cho đối tượng lại quá xa vời với chân lý nội tại của nó. Nên cố gắng nhìn sự thể theo một viễn cảnh xác thực. Phật giáo được biết như là nền Giáo thuyết Phân tích (Doctrine of Analysis). Chỉ bằng sự phân tích thì chúng ta mới có thể hiểu được những gì thực sự thiết định nên sự vật và bằng cách nào mà các yếu tố và năng lượng hoạt động, và làm thế nào chúng tồn tại, tại sao chúng biến đổi và hoại diệt. Nếu bạn thực sự kiểm chứng được bản chất của những điều này thì bạn sẽ nhận ra, rằng mọi hiện hữu là vô thường, và rằng việc chấp thủ vào những đối tượng như thế có thể tạo thêm nỗi thất vọng. Lại nữa, khi được nhìn theo viễn cảnh chân thực thì bạn sẽ nhận thấy, rằng chẳng có ý nghĩa gì trong việc đấu tranh về quan điểm khi mà với sự phân tích sau cùng, tất cả chỉ là ảo giác. Người Phật tử không bị cuốn hút vào việc tranh luận liên hệ đến vấn đề khi nào thì thế giới sẽ chấm dứt bởi vì họ hiểu, rằng rốt cục thì các pháp hữu vi (compouded things) sẽ biến hoại. Khi đó thế giới sẽ chấm dứt. Không có nghi ngờ gì về sự thật ấy cả. Sự chấm dứt của thế giới (theo Đức Phật) sẽ chỉ là một sự kiện kịch tính về một điều gì đó xảy ra trong sự hiện hữu hàng ngày của chúng ta. Và thiên văn học hiện đại cho chúng ta biết rằng sự phân hủy của các hành tinh vẫn thường xuyên xảy ra trong vũ trụ. “Không truy tìm quá khứ, chẳng nghĩ đến tương lai, an trú trong hiện tại. Vì vậy được an lạc thanh thản (Đức Phật)". Khi chúng ta hiểu được thực tế này, thì sự hoại diệt của thế giới không có gì là quá khủng khiếp, hay đáng lo ngại. Đức Phật vì thế đã khuyên chúng đệ tử của Ngài không nên dựa vào kinh nghiệm tư biện (thiếu thực tế) của một ai đó (để làm thành định kiến của mình) (rely upon one’s speculative experience). Sau khi nghe hay đọc những lý thuyết nào đó, người ta dễ dàng đi đến những kết luận và duy trì những niềm tin này. Họ nhất mực không muốn thay đổi quan điểm bởi vì chính tâm thức họ đã tạo lập nên, hoặc giả là vì trước kia đã “cải đạo” theo một niềm tin nào đó rồi. Họ được cảnh cáo là sẽ bị thiêu đốt trong địa ngục nếu họ thay đổi đức tin của họ. Vì vô minh và sợ hãi, những người đáng thương này sống trong tâm trạng hạnh phúc giả tạo, nghĩ rằng tội lỗi của họ sẽ được tha thứ một cách thần diệu. Lời khuyên của Đức Phật là không nên vội vàng tạo ra lời kết luận để đoán quyết liệu những niềm tin như thế có đúng hay không. Người ta có thể khám phá ra nhiều điều trong thế giới này, nhưng đối với họ, việc nhận ra được chân lý hay thực tại của các pháp hữu vi lại là điều hết sức khó khăn. Chúng ta không nên dựa vào những lời đồn đại mang tính tư biện để nắm bắt chân lý. Chúng ta có thể chấp nhận những điều nào đó như là cơ sở để tiến hành một sự thẩm xét mà sự thẩm xét đó sẽ làm thỏa mãn được tâm thức hiếu kỳ. Những quyết định mà chúng ta đưa ra thông qua suy biện có thể được ví như những quyết định của những người mù sờ voi. Mỗi người có lời phán quyết riêng của mình liên hệ đến những gì mà họ nghĩ về con voi. Đối với mỗi người, những gì anh ta nói đều là đúng. Mặc dù nhiều người có thể nhìn thấy sự việc biết rằng những người mù đều nói sai, nhưng trong thâm tâm, họ vẫn nghĩ mình là đúng. Cũng vậy, đừng giống như tục ngữ “ếch ngồi đáy giếng” (“frog under a conconut shell”) không nghĩ là có một thế giới bao la muôn màu nào khác ngoài những gì nó có thể thấy được. Chúng ta bị mù quáng bởi các lậu hoặc. Đó là nguyên nhân khiến chúng ta không thể nhận diện được chân lý. Điều đó lý giải tại sao người khác có thể dẫn dắt chúng ta vào con đường sai lạc và thuyết phục chúng ta một cách dễ dàng. Chúng ta phải luôn thay đổi niềm tin mà chúng ta nhận lầm là chân lý vì chúng ta không nắm bắt được cái tối hậu từ niềm tin ấy. Người ta luôn thay đổi nhãn hiệu tôn giáo của họ với thời gian bởi vì họ rất dễ bị tác động bởi cảm xúc. Một khi chúng ta đã nhận thức được sự thật rốt ráo rồi, thì chúng ta chẳng bao giờ cần thay đổi, dưới bất kỳ hoàn cảnh nào nữa bởi vì ở trong chân lý tối hậu thì không có gì để thay đổi nữa cả, nó là tuyệt đối rồi. Chúng ta không nên thay đổi quan điểm của mình chỉ vì chúng ta quá khâm phục (impressed) tài năng được thể hiện bề ngoài (seeming ability) của người khác là lời khuyên khác của Đức Phật đối với những thanh niên làng Ka-la-ma. Nhiều người có khả năng gây ấn tượng cho các bạn bằng lối ứng xử và khả năng biểu hiện bề ngoài của họ để thực hiện một ý đồ gì đó. Ví dụ, liệu các bạn có thể tin mù quáng vào cô gái trong chương trình quảng cáo trên truyền hình, người nói với bạn rằng bạn cũng có thể trở nên đẹp như cô ta, có hàm răng trắng đẹp như răng cô ta nếu các bạn sử dụng một loại kem đánh răng nào đó hay không? Dĩ nhiên là không rồi. Các bạn sẽ không chấp nhận những gì cô ta quảng cáo mà không có sự kiểm chứng cẩn thận giá trị hợp lý về những lời quảng cáo của cô gái. Điều đó cũng giống như những người có khiếu ăn nói đến gõ cửa nhà các bạn và kể với các bạn những câu chuyện đầy tính mê hoặc về cái “chân lý” của họ. Họ có thể nói về nhiều vị đạo sư, nhiều bậc thầy tâm linh, và nhiều vị thiền sư. Họ cũng sẽ thích dùng lối cường điệu để chứng tỏ quyền năng của các bậc thầy của họ nhằm thuyết phục các bạn. Nếu các bạn chấp nhận bừa bãi lời rêu rao của họ như là chân lý, thì các bạn vẫn còn tiếp tục duy trì quan điểm đầy dao động và nông cạn vì các bạn chưa xác lập được sự tin tưởng hoàn toàn. Các bạn có thể theo họ vì niềm tin tưởng vào một điều gì đó, nhưng rồi một ngày, các bạn sẽ trở nên thất vọng vì các bạn chưa chấp nhận vấn đề bằng sự hiểu biết và kinh nghiệm của các bạn. Và vì vậy, khi các bạn gặp một bậc thầy nào khác gây nhiều ấn tượng hơn thì các bạn sẽ từ bỏ người thầy lúc đầu. Do vậy, hãy kiểm chứng lời khuyên của Đức Phật. Hãy tư duy phương cách giảng dạy của Ngài sau đây để xem giá trị hợp tình, hợp lý và hợp khoa học như thế nào. “Đừng nghe người khác với đức tin mù quáng. Tất nhiên là cần phải lắng nghe họ, nhưng phải tỉnh giác và lắng nghe với tâm thức cởi mở. Các vị không nên phó thác học vấn và trí thông minh của mình cho những ai khác khi lắng nghe họ. Họ có thể cố tình khơi gợi cảm xúc của các vị và thuyết phục tâm trí các vị tùy theo nhu cầu ham muốn thế tục của các vị để làm thỏa mãn khát khao của các vị. Nhưng mục đích của họ ở đây không nhất thiết là để khai mở chân lý.” Đừng chấp nhận bất cứ điều gì, chỉ vì xét rằng (vì) điều ấy được tuyên thuyết bởi “bậc đạo sư của chúng ta” là lời khuyên sau cùng của Đức Phật trong sự kiện này. Các bạn có bao giờ nghe bất kỳ một bậc thầy tôn giáo nào khác đã từng thổ lộ những lời như thế không? Tất cả những bậc thầy tôn giáo khác đều tuyên bố rằng “Ta là đấng có quyền năng duy nhất. Hãy theo ta, tin thờ ta, cầu nguyện ta, nếu không ngươi không có được ân huệ cứu rỗi.” Họ cũng tuyên bố rằng “Ngươi không được thờ cúng thánh thần hay bậc đạo sư ngoại giáo nào khác”. Nên để tâm suy tư một chút để hiểu rõ thái độ sau đây của Đức Phật. Ngài dạy, “Đừng nương tựa một cách mê muội vào vị đạo sư của mình. Vị ấy có thể là nhà sáng lập một tôn giáo hay bậc thầy hướng dẫn tâm linh nổi tiếng, tuy thế người ta không nên vội vàng phát huy sự gắn bó của mình với vị ấy”. Lời dạy này cho thấy Đức Phật đã tạo ra được sự tín nhiệm chân thật như thế nào cho trí tuệ con người và giúp họ biết vận dụng ý chí tự do mà không phải tùy thuộc vào người khác. Đức Phật dạy, "Bất cứ ai đều có thể trở thành vị đạo sư của chính mình”. Đức Phật có thể truyền dạy cho chúng ta rằng Ngài là Bậc Giác ngộ duy nhất, và rằng chúng đệ tử của Ngài không nên sùng tín mê muội bất kỳ vị thần hay bậc thầy ngoại đạo nào. Tuy nhiên, Ngài không hứa hẹn với tín đồ của Ngài rằng họ có thể dễ dàng đi lên Thiên đường hay đạt đến Niết bàn nếu họ mê mờ thờ cúng Ngài. Nếu chúng ta thực hành theo một tôn giáo đơn giản bằng cách nương dựa vào bậc đạo sư không thôi, thì chúng ta sẽ không bao giờ giác ngộ được chân lý. Không nhận ra được sự thật của tôn giáo mà chúng ta đang thực hành theo thì chúng ta có thể trở thành nạn nhân của một tín lý mù quáng và ràng buộc tự do tư tưởng của chúng ta, và rồi trở thành những kẻ nô lệ cho một bậc thầy cá biệt, đi kỳ thị chống đối những bậc thầy khác. Cần phải ý thức rằng chúng ta không nên nương tựa vào người khác vì sự giải thoát của bản thân. Nhưng chúng ta cần phải tôn trọng bất cứ bậc thầy tôn giáo nào chân chính và đáng kính trọng. Có nhiều bậc thầy tôn giáo có khả năng dạy chúng ta những gì nên làm để đạt được giải thoát của mình, nhưng không phải vị này lại có thể cứu độ được người khác. Nó không giống như việc cứu sống một mạng sống khi gặp cảnh lâm nguy. Đây là sự giải thoát hoàn toàn khỏi những cấu nhiễm tinh thần và khổ đau trần thế. Đó là lý do tại sao chúng ta phải tự lực thực hành để đạt đến giải thoát hay tự do mỹ mãn theo lời khuyên của các bậc thầy tôn giáo. Đức Phật dạy, “Không ai có thể cứu vớt chúng ta bằng chính bản thân mình. Chư Phật chỉ là người dẫn đường”. Bạn có thể nghĩ một nhà lãnh đạo tôn giáo nào đó đã nói lên điều này không? Đó là tư tưởng khai phóng mà chúng ta chỉ có được trong Phật giáo. Đây là toàn bộ mười lời khuyên của Đức Phật cho những thanh niên làng Kalama đến gặp Ngài để tham vấn về việc làm sao để chấp nhận một tôn giáo và làm thế nào để xác định đâu là một tôn giáo chân chính. Lời khuyên của Ngài là: “Chớ ích kỷ và đừng là kẻ nô lệ cho người khác; Chớ làm bất cứ điều gì chỉ vì lợi mình mà nên quan tâm đến mọi người cần được quan tâm”. Ngài nói với họ rằng chư vị có thể lĩnh hội được ý nghĩa này tuỳ theo kinh nghiệm cá nhân của mình. Ngài cũng nói rằng giữa những lối thực hành và niềm tin khác nhau, thì có vài điều nhất định nào đó là tốt cho người này nhưng lại không tốt đối với người khác. Và ngược lại, có những điều nhất định nào đó thì tốt đối với người khác nhưng lại không tốt đối với những người còn lại. Trước khi định làm bất cứ một việc gì, chư vị cần phải lưu tâm đến cả hai khía cạnh; thuận lợi và bất lợi xảy ra với chư vị. Vì vậy, Đức Phật đã đưa ra cho chúng ta một tư tưởng hoàn toàn khai phóng để chọn lựa một tôn giáo chân chíánh theo niềm tin vững chắc của chính mình. Đạo Phật là một tôn giáo dạy cho người ta hiểu được, rằng con người không phải vì tôn giáo mà tôn giáo phải là công cụ để phục vụ lợi ích con người (man is not for religion but that religion is for man) để tạo ra tính hữu dụng của nó. Tôn giáo có thể được ví như chiếc xuồng giúp người qua sông. Một khi qua đến bờ bên kia rồi thì người ta có thể vứt bỏ nó và tiếp tục cuộc hành trình. Người ta nên dùng tôn giáo để cải thiện cuộc đời và để thể nghiệm sự tự do, an lạc và hạnh phúc. Phật giáo là một tôn giáo mà chúng ta có thể nương tựa để sống an lạc và giúp cho người khác cũng được sống an lạc. Trong khi thực hành theo tôn giáo này, chúng ta vẫn có quyền để tôn trọng những người theo tôn giáo khác. Nếu như thực sự khó có thể tôn trọng hành vi và thái độ kỳ thị của họ thì ít nhất chúng ta cũng cần có sự khoan dung, không để mình bị lôi cuốn vào những xung đột sắc tộc, tôn giáo. Có rất ít tôn giáo dạy cho tín đồ của họ tiếp nhận thái độ khoan dung, rộng lượng này. »

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét