THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2012

Con đường tu tập của người Phật tử tại gia qua những bài học thực tiển rút ra từ Kinh Trung Bộ.

Con đường tu tập của người Phật tử tại gia qua những bài học thực tiển rút ra từ Kinh Trung Bộ. Trước những sự kiện diễn ra trong cuộc sống hằng ngày, tôi đã từng ngày đêm ray rứt với biết bao câu hỏi ‘tại sao ? ‘Tại sao cuộc sống đầy rẫy những khổ đau, bất hạnh, bất như ý?’, ‘ Tại sao cùng sinh ra làm kiếp người, mà lại có muôn vàn sai khác, cách biệt nhau ?’, ‘ Tại sao niềm vui thường chóng tàn và khổ đau, phiền não cứ triền miên như bất tận?’, và ‘ Làm thế nào để hết khổ được vui ?’ Tất cả những câu hỏi đó, triết học thế gian cũng như nhiều tôn giáo đã từng đưa ra những lời giải đáp khác nhau, nhưng tôi vẫn chưa cảm thấy hài lòng. Với lòng khao khát chân lý và mong muốn tìm ra lời giải đáp cho những vấn đề của chính bản thân và cuộc sống, tôi đã tìm đến đạo Phật và xin theo học khóa giảng Kinh Trung Bộ tại Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam. Trước đây, khi chưa biết gì về đạo Phật, tôi vẫn thường nghe nhiều người phê bình rằng đạo Phật là đạo bi quan, yếm thế, tiêu cực, là đạo của những kẻ chán đời, thất bại trong cuộc sống và muốn trốn chạy cuộc đời...v v . Thế nhưng, sau hơn hai năm theo học lớp Kinh Trung Bộ, tôi thấy rằng những lời giảng dạy của Ðức Phật rất thiết thực, đã giải tỏa cho tôi biết bao ưu tư phiền não, đã đem lại cho tôi một nguồn an lạc thanh cao, một sức mạnh tinh thần vững chắc để làm hành trang cho tôi trên vạn nẻo đường đời, và đã thay đổi cách nhìn của tôi về con ngườI và cuộc sống. Từ mỗi bài pháp của Kinh Trung Bộ, tôi đều có thể rút ra một bài học thực tiển để suy nghĩ và áp dụng trong cuộc sống hằng ngày, dù đó là bài pháp Ðức Phật thuyết giảng cho các tỷ kheo, cư sĩ hay ngoại đạo. Những bài học thực tiển rút ra từ Kinh Trung Bộ rất nhiều và phong phú, nhưng trong phạm vi giới hạn của bài viết này, tôi chỉ xin đề cập sơ lược đến một vấn đề thiết thân, cốt lõi nhất của chúng ta, đó là vấn đề ‘ Tại sao con người đau khổ ?’, và ‘ Làm thế nào để hết khổ ? Giáo pháp của Ðức Phật thật vô vùng thâm sâu, vi diệu, dù ta bỏ cả cuộc đờI để học hỏi nghiên cứu chắc cũng chưa đủ ! Thế nhưng, nhìn xuyên suốt quá trình 45 năm hoằng pháp độ sinh, Ðức Phật đã khẳng định : ‘ Này, các tỷ kheo, xưa cũng như nay, ta chỉ nói một điều, đó là sự khổ và diệt khổ ‘ Vậy, thế nào là khổ ? Theo cách hiểu thông thường của chúng ta thì Khổ có hai loại: vật chất và tinh thần. Về vật chất thì bệnh tật, già yếu, đói rách, thiếu thốn mọi nhu cầu của cuộc sống hằng ngày là khổ. Về tinh thần thì tất cả những điều trái ý nghịch lòng đều làm ta khổ : phải xa cách người mình yêu thương là khổ, phải gần gũi người mình oán ghét là khổ, cầu mong mơ ước không thành là khổ...vv Nhưng Ðức Phật với trí tuệ của một Bậc Toàn Giác, đã có một cái nhìn thật rốt ráo về khổ, Ðức Phật đã khẳng định : ‘ Tất cả những gì vô thường đều là khổ ‘. Quả thật, từ khi sinh ra cho đến khi lớn lên, học hành, rồi đi làm việc, ta thấy cuộc sống như một giòng sông phẳng lặng, êm đềm trôi chảy mãi không thôi. Ta không hề chú ý đến những biến hoại đang âm thầm diễn ra từng giây phút trong vạn vật cũng như trong chính bản thân mình. Ngay trong thân thể của chúng ta, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý... mỗi ngày qua là mỗi hao mòn suy yếu, thế mà ta cứ tưởng rằng mình vẫn giữ được mãi nét thanh xuân, nên ta không ngừng mọi nỗ lực để tô bồi cho thân ta ngày càng trẻ trung tươi tốt ! Ta bị cuốn hút vào việc mưu cầu lợi ích cho bản thân, nào là tiền tài, danh vọng, địa vị, sắc đẹp, tình yêu..., và cho rằng đó là mục đích của cuộc sống, là lý tưởng, là hạnh phúc duy nhất của đời người. Ta say sưa trong men dục của thế gian và tưởng rằng chúng sẽ mãi mãi là của ta. Cho đến một ngày kia, ta gặp một sự thất bại, một biến cố bất thường, một sự mất mát lớn lao đập mạnh vào tim khiến ta đớn đau, bàng hoàng, rời rã, như : mất tài sản, mất địa vị, danh vọng mà ta đã dày công xây đắp, mất tình yêu, mất sắc đẹp, mất người thân yêu nhất của ta....Ta giật mình nhìn lại chuổi ngày qua, nhìn lại mình và tự hỏi ‘ Ðây có phải là hạnh phúc đích thực chăng?’. Nếu là hạnh phúc đích thực, nó phải trường tồn, vĩnh viễn, không bao giờ mất. Tại sao ta bây giờ không còn là ta của những ngày đã qua ?Tại sao niềm vui giờ đã tan biến và chỉ còn lại nỗi chán chường, mệt mỏi, thất vọng, muộn phiền ? Ta giật mình hoảng hốt, muốn níu kéo lại những gì đã qua, nhưng nào có được! Ta cảm thấy bất lực và đau khổ muôn vàn ... Ở đây, lời dạy của Ðức Phật đã soi sáng cho ta chân lý muôn đời:’ Tất cả các pháp đều vô thường, và tất cả những gì vô thường đều là khổ ‘ Nhưng nguồn gốc của khổ đau do đâu mà có ? Ta biết rằng khổ đau có mặt cùng lúc với sự hiện hữu của con người. Khổ đau do con người phát hiện và cảm nhận. Nếu không có con người thì vấn đề đau khổ không được đặt ra. Triết học thế gian đã từng đặt vấn đề: ‘ Tôi là ai ? Tôi từ đâu đến và sẽ đi về đâu ?’. Nhưng những lời giải đáp mang tính chất siêu hình của triết học thế gian không làm thoả mãn những người đang khao khát đi tìm chân lý. Ðôi lúc con ngườI lại nguỵ biện về sự hiện hữu của mình : ‘ Tôi đâu có muốn sinh ra đời, chính vì do ý muốn và dục vọng của cha mẹ tôi mà tôi phải có mặt trong cõi đời này, vậy cha mẹ tôi phải chịu trách nhiệm về mọi đau khổ của tôi !’. Ðức Phật đã đưa ra một lời giải đáp rốt ráo về nguyên nhân sự hiện hữu của con người trong cuộc đời qua Lý Duyên Khởi. Ta sinh ra và có mặt trong đời không phải là một sự tình cờ hay ngẫu nhiên. Trong Ðại Kinh Ðoạn Tận Ái, Ðức Phật đã dạy rằng, chính do ái dục, do lòng khao khát được tiếp tục thọ hưởng các dục ở thế gian mà thức của ta đã gá vaò bào thai của người mẹ vào đúng thời điểm hội đủ các điều kiện thuận lợi của bốn món ăn: đoạn thực, xúc thực, tư niệm thực, và thức thực, để từ đó một con người được sinh ra trong cõi đời. Chính bốn món ăn này do ái dục làm nhân duyên, và ái dục lại kết hợp với vô minh để cho ra đời toàn bộ khổ uẩn của con người. Tại sao Ðức Phật dạy rằng vô minh kết hợp với ái dục để phát sinh toàn bộ nỗi thống khổ của con người ? Ta đã hiểu rằng do ái dục, con người đã đựơc sinh ra. Lúc còn nhỏ, tình cảm của ta chưa định hướng rõ ràng, nhưng lúc lớn lên, khi sáu căn bắt đầu tiếp xúc với sáu trần, tham ái bắt đầu khởi. Ta bắt đầu phát sinh tình cảm yêu thích, giận hờn, ghét bỏ, ham muốn..., và từ từ ta bị lôi cuốn vào các dục trưởng dưỡng: sắc, thanh, hương, vị, xúc... Sự cám dỗ của các dục ngày càng gia tăng theo tốc độ phát triển của nền văn minh vật chất. Ðược cái này, ta lại muốn cái kia; được cái kia ta lại muốn cái nọ, cứ muốn sao cho bằng hoặc hơn bà con, bạn bè, thiên hạ. Ta không những muốn ăn ngon mặc đẹp, muốn có người yêu lý tưởng, mà lại còn muốn giàu sang, danh vọng, điạ vị ... để cho mọi người nể nang, thán phục. Ta thấy tự ngã của mình càng ngày càng lớn, ta chẳng muốn thua kém ai, càng ngày ta càng chìm đắm trong biển dục mênh mông không biết đâu là bờ bến... Chính vì vô minh nên ta không hiểu được sự nguy hiểm của các dục, như Ðức Phật đã dạy:’ Này các tỷ kheo, các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, ở đây sự nguy hiểm lại càng nhiều hơn ’. Chính vì vô minh, ta chấp thân làm ngã. Ta chấp sắc, thọ, tưởng, hành, thức này là ta, là của ta, là tự ngã của ta. Do đó, ta tìm mọi cách, mọi phương tiện để làm thỏa mãn tấm thân ngũ uẩn này. Ðức Phật đã dạy rằng, Ác Ma vốn không phải ai xa lạ, nó chính là năm dục trưởng dưỡng. Khi ta tham đắm dục lạc, chính là lúc ta đã rơi vào bàn tay của Ác Ma, bị Ác Ma điều khiển, ta mù quáng làm theo mệnh lệnh của Ác Ma, để rồi dấn thân tạo nghiệp, thọ khổ..., và kết quả là tiếp tục quanh quẩn trong sáu nẻo luân hồi. Như vậy, vô minh kết hợp với ái dục : vô minh sinh ái dục, và ái dục nuôi dưỡng vô minh. Cứ như thế, toàn bộ khổ uẩn của con ngườI bắt đầ từ đó, như Lý MườI Hai Nhân duyên đã nêu rõ. Sau khi dạy cho chúng ta hiểu được khổ là gì và nguồn gốc của khổ, Ðức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta con đường diệt khổ. Ðây quả thực không phải là một vấn đề đơn giản cho những người phàm phu như chúng ta. Ta có thể hiểu được khổ và nguồn gốc của khổ, nhưng ta không thể nào diệt được khổ nếu ta không có trí tuệ. Vai trò của trí tuệ thật hết sức quan trọng đối với người muốn đoạn tận khổ đau và giác ngộ giải thoát. Vậy thế nào là người có trí tuệ ? Trong Kinh Trung Bộ, Ðức Phật đã nhiều lần đề cập đến người có trí. Người có trí là người có nghe lời dạy của Ðức Phật, có tu tập hành trì đúng như lời dạy của Ðức Phật, biết rõ sự sanh diệt của các pháp. Người ấy biết rõ: đây là lậu hoặc, đây là lậu hoặc tập khởi, đây là lậu hoặc đoạn diệt, đây là con đường đi đến lậu hoặc đoạn diệt. Từ đó, người ấy tinh tấn tu tập hành trì để dần dần đoạn trừ các lậu hoặc, đưa đến đoạn diệt các mầm mống của sanh y, tiến tới an lạc, giải thoát, Niết Bàn. Ðức Phật đã dạy: ‘ Này, các tỷ kheo, phàm như có sự sợ hãi, nguy hiểm, tai họa nào khởi lên, chúng chỉ khởi từ người ngu, không khởi từ người trí ’. Vì sao ? Vì người trí đã có tri kiến như thật về sự sanh diệt của các pháp, người ấy đã biết rõ thế nào là khổ, đâu là nguyên nhân, và con đường diệt khổ. Từ đó, ngườI ấy biết rõ việc gì nên làm và việc gì không nên làm. Người ấy biết rõ các pháp bất thiện sẽ đem lại sự sợ hãi, nguy hiểm, tai họa...nên người ấy cương quyết không làm. Người ấy biết rõ các thiện pháp sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc nên người ấy cố gắng tinh tấn thực hiện. Do đó, sự sợ hãi, nguy hiểm, tai họa, khổ đau sẽ không đến gần người có trí. Ðối với chúng ta đang còn là những phàm phu, bản chất chúng ta vốn yếu đuối cả về trí tuệ lẫn thể xác, vì vậy, khi một việc bất hạnh, phiền não xảy ra, chúng ta như người bị trúng hai mũi tên độc: thân ta đau đớn và tâm ta cũng đau đớn. Muốn nhổ mũi tên độc trong thân, chỉ cần có thầy hay thuốc tốt là ta có thể lành bệnh, nhưng muốn nhổ mũi tên độc trong tâm thật vô cùng khó khăn, đòi hỏi chúng ta phải có một sức mạnh tinh thần phi thường, sức mạnh ấy phát xuất từ trí tuệ. Do đó, muốn có trí tuệ, ta phải biết thân cận với người có trí để nghe pháp, tuỳ pháp và hành pháp. Nhờ nghe pháp nhiều, tâm trí ta ngày càng được soi sáng, ta hiểu được Lý Duyên Khởi, sinh lòng tin vào Phật, Pháp, Tăng. Ta cố gắng giữ gìn giới luật, hộ trì các căn, sống thiểu dục tri túc, chế ngự không cho tham ái khởi lên, giữ vững chánh niệm tỉnh giác trong mọi sinh hoạt hằng ngày. Ta hiểu được nguyên nhân vì sao ta có mặt trong đời, vì sao ta gặp bất hạnh hay được sung sướng, vì sao cùng là con người mà lại có muôn vàn sai khác cách biệt nhau. Tất cả đều do hành động của ta, do nghiệp của ta đã tạo trong quá khứ và hiện tại. Cảnh giới ta thọ hưởng trong hiện tại hay tương lai đều tùy thuộc vào hành động của ta trong quá khứ hay hiện tại. Hành động thiện tạo nghiệp lành sẽ đưa đến an lạc, hành động ác tạo nghiệp dữ sẽ đem lại khổ đau. Ta đau khổ hay hạnh phúc đều do chính hành dộng của ta quyết định. Ta là chủ nhân của nghiệp và cũng là kẻ thừa tự nghiệp. Bởi thế ta phải cố gắng tạo nghiệp lành và từ bỏ những hành động bất thiện. Sự đau khổ trong hiện tại là do nghiệp của ta đã tạo trong quá khứ. Vậy, muốn chấm dứt đau khổ, ta phải tích cực làm những hành động thiện để chuyển nghiệp. Nhưng thế nào là hành động thiện ? Ðức Phật đã định nghĩa rất rõ :’ Hành động nào đem đến lợi mình, lợi người, lợi cả hai là hành động thiện. Hành động nào đem đến hại mình, hại người, hại cả hai là hành động bất thiện’. Bởi thế, trước khi làm một việc gì, ta phải suy nghĩ, cân nhắc, đắn đo, xem hành động sắp làm là thiện hay bất thiện; kể cả hành động nào chỉ có lợi cho mình mà không lợi cho người, ta cũng nên tránh. Ngay cả trong tâm ta, ta phải luôn luôn giữ vững chánh niệm, tỉnh giác để kiểm soát giòng tư duy của mình. Khi một ý niệm bất thiện chưa khởi, ta cố gắng chế ngự đừng cho nó khởi; và khi nó đã khởi, ta cố gắng tìm cách đoạn trừ. Khi một ý niệm thiện chưa khởi, ta hãy tìm cách tạo điều kiện cho nó sinh khởi, và khi một ý niệm thiện đã khởi, ta cố gắng nuôi duỡng cho nó tăng trưởng ngày càng tốt đẹp hơn. Ta cố gắng tu tập trong từng lời nói, từng cử chỉ, từng hành động nhỏ hằng ngày. Cố gắng giữ gìn thế nào để tâm chỉ nghĩ đến điều thiện, miệng chỉ nói những lời thiện, thân chỉ làm những việc thiện. Ðó chính là quá trình rèn luyện để có chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Ðây quả thực là một con đuờng tu tập rất khó khăn đối với chúng ta. Bởi vì, ý nghiệp đã ăn sâu vào tiềm thức, đã chi phối, hình thành nếp suy nghĩ, thói quen và hành động thường ngày của ta. Bây giờ, ta phải thanh lọc ngay từ ý nghĩ của mình để ngăn cản không cho phát sinh lời nói hay hành động bất thiện. Bản chất của chúng ta vốn do ái dục sinh, và ta đang trầm mình trong dục giới với đầy đủ tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến..., do đó, ta rất dễ bị dục vọng lôi cuốn và trở nên yếu đuối, dễ quên mất lời Phật dạy, và chìu theo dục vọng, buông thả với chính mình. Chỉ cần thiếu tỉnh giác, buông lơi phóng dật, dễ dãi với chính mình là ta đã rơi ngay vào vòng tay của Ác Ma dục vọng ! Vì thế, ta phải luôn luôn phản tỉnh để thanh lọc tâm. Chính quá trình phản tỉnh để thanh lọc tâm là một quá trình tu tập để tịnh hóa tam nghiệp. Tu tập chính là một quá trình thanh lọc tâm để chuyển nghiệp và tiến tới chấm dứt nghiệp. Muốn tu tập có kết quả, ta phải nghiêm khắc với chính mình. Giữ giới là một hình thức kỷ luật tự giác của bản thân, giúp ta chế ngự bản năng, dục vọng để hướng tâm về các điều thiện. Tiếp đến, hành thiền là con đường giúp ta thanh lọc tâm và tịnh hóa tam nghiệp một cách hữu hiệu nhất. Vì như Ðức Phật đã dạy: ’Thiền là thay thế năm triền cái bằng năm thiền chi ‘. Trong quá trình thanh lọc tâm, ban đầu ta từ bỏ các pháp bất thiện về thân, lời, ý; cố gắng thành tựu các thiện pháp về thân, lời, ý. Rồi tiếp đến, từng bước, từng bước một..., ta cột tâm vào một đối tượng, dần dần thay thế Tham, Sân, Hôn Trầm Thụy Miên, Trạo Hối, Nghi, bằng Tầm, Tứ, Hỷ Lạc và Nhất Tâm. Ðây là một quá trình tu tập lâu dài và khó khăn đối với ta. Vì ta biết rằng năm triền cái là kẻ thù bên trong ta. Tiêu diệt kẻ thù bên trong bản thân mình quả thật vô cùng khó khăn gian khổ, đòi hỏi ta phải có nghị lưc lớn, quyết tâm cao để có thể tinh tấn hành trì mà không nản lòng. Chỉ có hành thiền mới giúp ta có một nội lực, một định lực, một sức mạnh tinh thần để đối trị với các dục, giúp ta vượt qua được những cơn khủng hoảng, yếu đuối trước sức cám dỗ của Ác Ma. Khi tâm ta đã được định tĩnh, ta đã tìm được nguồn vui do thiền đem lại, lòng ta trở nên nhẹ nhàng thư thái, xả bỏ dần những trói buộc của dục vọng đã làm ta đau khổ bấy lâu nay. Khi ta đã hiểu được vô thường là qui luật của vạn pháp, không có gì là thường hằng, vĩnh cữu; và các pháp đều vô ngã, không có gì là ta, là của ta. Ta chỉ là một tập hợp của năm uẩn, của tứ đại, và rồi sẽ có ngày tan rã thành cát bụi. Như vậy, tiền tài, sắc đẹp, địa vị, danh vọng, tình yêu..., nói chung là tất cả các dục của thế gian và ngay cả tấm thân này, tất cả đều như bọt bước, như mây trôi, như giấc mộng..., tất cả rồi sẽ trở về với cái thực tướng của nó là KHôNG. Vậy có gì đáng cho ta tham đắm ? Còn gì đáng cho ta chấp thủ, phiền não, khổ đau ? Chúng đến hay đi, còn hay mất, ta hãy bình thản nhận biết và cố giữ cho tâm không giao động, không hoảng hốt, không sợ hãi, không khổ đau. Ta hãy chuẩn bị tinh thần để đón nhận vô thường như một người khách có hẹn trước. Nhờ vậy, khi vị khách Vô Thường đến, ta không ngạc nhiên, không hoảng hốt, không sợ hãi, chỉ bình thản nhận biết;’ A, vị khách Vô Thường đã đến !’. Khi ta đã giữ được tâm thanh tịnh, bình thản trước mọi biến cố của vô thường, ấy là lúc ta đã thấy được đạo, ấy là lúc ta hưởng được cảnh Niết Bàn nơi trần thế, ngay trong hiện tại này. Hạnh phúc chính là đây! Và đây mới là hạnh phúc đích thực. Khi ta đã thấy được chân lý, đã tìm được an lạc cho chính mình, lòng ta bỗng trở nên bao dung, rộng lượng. Ta cảm thấy thương yêu mọi người, nhìn mọi người bằng cặp mắt từ bi, nhìn cuộc đời với cõi lòng rộng mở. Ta bỗng cảm thấy xót xa khi nhìn chung quanh ta có biết bao người đang đau khổ. Vì thế, ta quyết tâm dấn thân vào đời với tinh thần vô tham, vô sân, vô si, vô chấp thủ. Với lòng thương yêu tất cả chúng sanh, ta nguyện đem hết khả năng mình để phục vụ chúng sanh, giúp cho mọi người bớt khổ dược vui. Ðó là lý tưởng mà bất cứ người Phật tử chân chính nào cũng ước mơ thực hiện. Như vậy, người Phật tử chân chính là người hạnh phúc nhất, vì người ấy biết sống thiểu dục tri túc, không tham ái, không chấp thủ. Nhờ nội tâm nhẹ nhàng, thanh thản, người ấy luôn luôn vui vẻ, yêu đời, an nhiên tự tại, biết thương yêu, giúp đỡ mọi người, biết sống thích nghi với mọi hoàn cảnh, và tìm được an lạc ngay giữa lòng cuộc sống xô bồ, đầy biến động của thế gian. Tóm lại, những bài học thực tiển rút ra từ Kinh Trung Bộ đã giúp cho người Phật tử tại gia tìm thấy con đường tu tập ngay trong lòng cuộc đời, để vừa có thể đạt đến một cuộc sống hạnh phúc đích thực cho bản thân, vưà góp phần xây dựng một xã hội thanh bình, an lạc. Ðiều này đã chứng minh rằng Ðạo Phật không phải là một tôn giáo tiêu cực, bi quan. Ðức Phật nêu lên vấn đề đau khổvì đó là một sự thật không thể phủ nhận, ta cần phải mạnh dạn nhìn thẳng vào nó để tìm cách diệt trừ. Biết khổ và hiểu được nguyên nhân gây ra đau khổ để tìm phương pháp diệt khổ hầu đem lại an vui hạnh phúc cho mình và cho xã hội, đó chính là một trong những điểm tích cực nhất của giáo lý đạo Phật.
Con không phải là một "thiên tài" Cấp II, tôi học ở một trường chuyên của huyện. Trong làng chỉ có mỗi tôi theo học trường đó vì thế tôi nhận được rất nhiều lời tán dương, khen ngợi. Bố mẹ rất tự hào về tôi. Nhưng khi chuyển cấp, kết quả kỳ thi của tôi không mấy khả quan, có vài đứa ở làng còn cao điểm hơn tôi. Khi xếp lớp, điểm của tôi không đủ để vào lớp chọn chính. Hôm nào về nhà, tôi cũng bị bố mẹ la mắng. Bố đem tôi ra so sánh: "Con nhà T, học ở trường làng còn đỗ vào lớp chọn, mang tiếng là học sinh trường chuyên mà kém hơn cả chúng nó, thế mà còn đòi thi ra Nguyễn Huệ...". Hai chữ cuối cùng bố cố tình ngân dài ra, tôi thấy lòng đau như xé, cảm thấy ức chế, thấy cay cay nơi khóe mắt mà chẳng dám nói gì vì sợ bố tưởng tôi cãi lại. Biết bao nhiêu lần bố nếu tôi học ở cái lớp bình thường ấy, tôi làm sao mà được học sinh giỏi. Tôi cảm thấy chán nản vô cùng. Tôi chỉ cần bố đừng coi tôi là một "thiên tài", phải hơn hẳn những đứa học trường làng, vì tôi đã từng học trường chuyên... Bây giờ tôi đang phải chịu một áp lực quá lớn trong học tập. Có một bức tường vô hình đang ngăn cách tôi và bố. Làm thế nào để tôi có thể học tốt hơn, thoải mái hơn, khi phía trước tôi còn cả một chặng đường dài?... Dâng Mẹ TUYẾT LINH Mẹ ơi! Nắng đã tàn trên lá Chiều xuống nghiêng nghiêng khóm trúc gầy Lạc lõng chim về dăm cánh nhỏ Mẹ còn tựa cửa ngắm mây bay Con biết mẹ từng thương nhớ lắm Từng tha thiết đợi dặm đường xa Phương nào biền biệt cha con đó Để tháng năm về bạc tóc mây Nhưng người đi mãi, đi đi mãi Con, vợ nào cha có đoái hoài Mẹ dù gắng gượng nuôi con nhỏ Mẹ dấu con sao được ngậm ngùi Lòng con yêu mẹ đau từng bữa Mẹ đứng lặng nhìn mây trắng bay Đời như tắt nắng trong hồn mẹ Môi nở đâu còn sắc thắm tươi Đàn con chiu chít chưa khôn lớn Một bữa đầu xuân ủ rủ ngồi Cạnh chiếc quan tài hăng gỗ mới Gục dầu cha khóc chuyện chung đôi Đến nay cha hiểu thì mẹ đã Mẹ đã nghìn thu cách biệt rồi! Tuổi còn xanh con mẹ nào đâu tội Sao bỗng muôn đời chịu cút côi? Em khát sữa từng đêm đêm gọi Cha ủ tình thương hát "ạ ơi" Nhưng giọng u buồn hơi tắt nghẹn Cha thường lẩm bẩm "Ới mình ơi" Chuyện cũ ngày xưa sầu những thế Bây giờ... mẹ hỡi! Khổ mười mươi! Sau một trăm ngày khi mẹ chết Tục huyền: cha cưới vợ mẹ ơi! Cha bảo "Con cha còn dại lắm Để dì về dạy dỗ, cơm nuôi ... Con biết đời con rồi sẽ khổ (Lạ gì "con cậu với con tôi") Năm tháng qua dần năm tháng cũ Lòng sầu thương nhớ mẹ không nguôi Chiều chiều, cha đứng trông về núi Tìm bóng mẹ sau ánh mặt trời Cửa nhà chăm sóc đàn em đó Còn biết ai người gánh một vai? Dì con mỗi lúc tình hờ hững Mà phận con thời dám trách ai Mẹ ơi đau sót dâng từng bữa Trên đám đầu xanh trẻ lạc loài! Thương cha nhớ mẹ lòng con chết Trong tuổi hoa niên buổi thiếu thời Hôm nay nhớ mẹ con ngồi viết Chuyện cũ ngày xưa để ngậm ngùi Gió lạnh thẩm buồn lời mẹ trối "Mẹ đi... con ở... gắng con ơi!"
CON LÀ BỒ-TÁT TIẾNG GỌI CỦA LÒNG TỪ Cơn trốt tàn nhẫn quét ngang cánh đồng trống, ngang qua những căn nhà gỗ mong manh, xoáy mạnh và bốc lên cao những người, thú, đất đá và cây cối…, rồi vô tình thả xuống lại trên những đồng cỏ và mặt đất xác xơ. Trốt qua rồi, không gì còn nguyên vẹn. Trên những dặm vuông dài là hoang tàn, đổ nát. Con người ở đời này vẫn thường phá hoại như thế. Chỉ vì những cái tên, người ta vô tâm, lạnh lùng hãm hại và làm tổn thương kẻ khác. Cái tên đối với một số những người lớn, không đơn thuần là cái tên để gọi và để phân biệt giữa người này với người nọ; mà trở thành mục tiêu để theo đuổi những thành quả ở đời đến nỗi có thể dẫm đạp lên sự thật, đánh mất niềm tin về nhân-quả, vô ân bạc nghĩa, và không còn lòng trắc ẩn đối với nỗi khổ của con người. Con của ba mẹ không như thế. Con không có khái niệm gì về một cái tên và giá trị phân biệt nào của nó. Khi gọi “ba ơi, mẹ ơi!”, con gọi với lòng thương yêu và nhu cầu thương yêu của con. Tiếng “ba,” tiếng “mẹ,” không phải là những cái tên mà là những ký hiệu của thương yêu. Mỗi lần nghe con gọi “ba, ba ơi!”, hay “mẹ, mẹ ơi!”, ba mẹ rung động cả tâm can. Dường như trọn vẹn cả hồn và xác ba mẹ đều được đánh thức dậy bởi tiếng gọi đó của con. Tiếng gọi đầu đời của con là tiếng gọi của lòng thương yêu, của niềm trắc ẩn. Dù tâm hồn của ba mẹ có băng giá đến đâu, dù ba mẹ có là những người vị kỷ sống trên đời không làm lợi ích cho ai, nhưng nghe tiếng con gọi là tất cả lòng thương yêu được trỗi dậy, và tính vị kỷ liền tan biến ngay. Tiếng gọi của con chẳng khác gì ban cho ba mẹ niềm vui và lòng thương tưởng đến kẻ khác. Con đã nhắc nhở ba mẹ thế nào là lòng từ bi, con có biết không? KHOAN DUNG, THA THỨ Người ta thường có khuynh hướng tự tha thứ: dễ dàng xí xóa cho bản thân nếu làm phải điều lỗi lầm gì; nhưng lại quá khe khắt, quá cố chấp đối với những lỗi lầm của kẻ khác. Có khi chỉ vì một vài lỗi nhỏ mà những người thương nhau đã không nhìn mặt nhau trong một thời gian dài, hoặc vĩnh viễn xa nhau. Có khi vì những sai lầm của ai đó, người ta giận ghét lây đến nhiều người khác. Có khi lỗi lầm của thế hệ trước lại trút những hậu quả hận thù và khổ đau đến nhiều thế hệ sau. Có khi đã tỏ ý ăn năn và xin lỗi về những sai lầm đã phạm, không tái phạm về sau, vẫn bị người đời đay nghiến, nguyền rủa và nhắc tới nhắc lui suốt đời. Có khi miệng nói xin lỗi mà lòng chẳng ăn năn, việc sai lầm cứ lặp lại, từ sai lầm nhỏ tiến đến những sai lầm trầm trọng hơn, thương tổn đến nhiều người, nhiều thế hệ khác. Người ta dễ dàng kết án, luận tội, phán xét về lỗi lầm của kẻ khác, không khoan dung tha thứ cho ai, ngoại trừ cho chính bản thân. Con của ba mẹ không như thế. Trong khi ba mẹ luôn la trách, điều chỉnh những điều con làm không đúng thì con luôn luôn là người lắng nghe, sửa đổi. Những điều gọi là lỗi lầm mà ba mẹ dạy con, yêu cầu con đừng tái phạm, chẳng qua là vì không đúng với ý của ba mẹ và xã hội. Ba mẹ đã lấy đi sự hồn nhiên trong trắng của con bằng những hình phạt, không cho ăn, không cho chơi, giới hạn những điều con thích, có khi là phạt đòn (dù chỉ là những đòn khẽ nhẹ nhàng), để cho con phải khóc, phải giận… Nhưng liền sau đó, con đã vui đùa trong thế giới hình tượng và đồ chơi của con. Dường như sống ở đời này, ba mẹ nào cũng cho rằng mình không có lỗi, và chưa hề biết xin lỗi ai, huống gì xin lỗi con. Ba mẹ chỉ biết dạy con phải chịu lỗi và vòng tay xin lỗi. Ba mẹ chưa kịp tha thứ cho con thì con đã biết tha thứ cho ba mẹ. Con không bao giờ giữ lâu trong lòng những điều bất mãn, không như ý. Con không bao giờ để tâm về những sai lầm và các hành vi quá đáng của ba mẹ hay của người khác. Chung quanh con, trước mắt con là thế giới thơ mộng, đẹp đẽ, đầy những điều kỳ diệu và khám phá mới. Con khóc đó, nhưng rồi con cũng cười đó. Nụ cười ngây thơ rạng rỡ của con, ánh mắt trong veo của con, bàn tay thiên thần nhỏ nhắn của con, tất cả những thứ ấy đã xoa dịu và đánh tan đi những ưu tư phiền muộn của ba mẹ. Con đã nhắc nhở ba mẹ về lòng khoan dung, tha thứ, con có biết không? BUÔNG XẢ Thế giới người lớn thường bày vẽ những trò chơi huyễn mỵ. Từ ngàn xưa đến ngàn sau, người ta hăm hở mong được trưởng thành sớm để thực hiện những hoài vọng, cao vọng; tùy theo sở thích và khả năng, khuynh hướng và địa vị, chọn lựa những lý tưởng và mục tiêu riêng hay chung, cho cá nhân hoặc cho những tập thể cùng quan điểm hay lối sống, cùng tôn giáo hay đảng phái, cùng quốc gia hay sắc tộc; để rồi, ức hiếp, chèn lấn, cạnh tranh, đày đọa, giết hại lẫn nhau… Nhân danh những đấng thiêng liêng, những nhà lãnh đạo tối cao, những chính nghĩa cao tột, con người tự cho mình quyền hạn cướp đoạt sở hữu và mạng sống của kẻ khác. Tất cả những tham vọng thâm căn cố đế của lịch sử loài người, từ nhiều thế hệ di truyền và tiếp nối nhau, kết tập thành một cọng nghiệp bao trùm thế giới, tác động lên toàn bộ cuộc sống của người xưa, người nay. Trong cái khung kiên cố trói chặt cuộc đời với hỗn loạn, đấu tranh, bất an và thống khổ, con người tuần tự sinh ra và lớn lên, không thắc mắc hoài nghi về ý nghĩa đích thực của cuộc tồn sinh này. Bên dưới những bàn thờ, bàn họp, bàn tiệc, bàn làm việc, bàn cân, bàn toán, bàn cờ… là những bàn đạp để con người ngoi mình lên, dìm kẻ khác xuống. Lềnh bềnh trong vũng lầy trần gian là những âu lo, hãi sợ, trăn trở, thao thức, bất đắc chí, hy vọng, thất vọng… và phiền não triền miên… Con của ba mẹ không như thế. Con có mặt không phải để tom góp, chiếm hữu. Những gì ba mẹ sắm sửa và ban tặng con, muốn con hiểu rằng đó là những sở hữu của con, con không bao giờ nắm giữ, bám chặt. Đối với áo quần, giày giép, đồ chơi, ba mẹ cố gắng dạy con sự phân biệt để cân nhắc lợi-hại, hơn-thua, đắt-rẻ, nặng-nhẹ… nhưng trong mắt con, tất cả cũng chỉ là những món vật bình đẳng, không hơn không kém. Con có thể cầm nắm, hân thưởng và giữ làm của riêng trong một thời gian ngắn, nhưng rồi con cũng buông bỏ tất cả. Điều quan trọng nhất trong đời con, chỉ là nụ cười của ba mẹ và những người chung quanh. Con chỉ cần được thương và trao gởi tình thương của con. Thế giới của con không có sự cạnh tranh, không có những nỗ lực để chiếm hữu, cho nên cũng không có những phiền muộn, tân toan. Một ngày vui chơi, đêm về nằm nghe kể chuyện, và đánh một giấc ngủ vô tư vô lự. Con đã nhắc nhở ba mẹ về sự buông xả, con có biết không? BAN TẶNG Khi không thể hoàn thiện phẩm cách của chính mình, người ta thích soi mói lỗi lầm, khuyết điểm của người khác. Dường như nói lên điều dở của ai đó sẽ khiến người ta thấy mình tốt đẹp hơn. Thói quen này không sửa đổi được gì cho người khác, nếu thực sự là họ có những khiếm khuyết, mà cũng khó để cải thiện nhân cách của mình. Nó khiến người ta thù ghét, ganh tỵ thay vì thương yêu; đố kỵ, ghim gút thay vì vui vẻ tha thứ; cố chấp, khư khư thành kiến thay vì bao dung, buông xả. Những suy nghĩ, lời nói và hành động của thế giới người lớn thường đi theo vết mòn hướng ngoại: thấy cái sai khuyết của người, chê bai châm biếm điều lỗi của người, cạnh tranh với người khác để mình được trội hơn. Tưởng như vậy là đóng góp xây dựng cuộc đời, mà kỳ thực chỉ là những vọng động của bản ngã, chỉ mang lại xung đột và phá hoại. Kinh nghiệm của các bậc hiền trí cho thấy sự cải thiện nào cũng phải bắt đầu từ nội tâm, từ chính mình. Sửa đổi mình trước khi góp ý cải cách xã hội, sửa đổi con người. Chúng ta không thể sửa đổi kẻ khác điều mà chúng ta không thể sửa đổi. Có lần con đang ngồi xếp các ô hình bỗng ngừng lại, ngước nhìn ba. Con nhìn ba thật lâu, ba biết, nhưng ba vẫn phải cắm cúi làm việc. Con đã đến bên ba, níu lấy tay ba, “ba ơi, chơi với con.” Ba nhăn mặt nhíu mày, “ba đang làm việc, con không thấy sao?” Lúc đó ba nghĩ con ích kỷ, chỉ biết vòi vĩnh, bắt ba phải ngưng việc để chơi với con. Ba có ý thầm trách con. Nhưng con vẫn nài nỉ, “ba, đừng có làm việc nữa, ba chơi với con.” Ba bắt đầu bực bội, nói giọng không được nhẹ nhàng với con, “ba cần làm xong việc này trong ngày hôm nay. Con chơi đi.” Con không chịu thua, dạt hai tay ba sang hai bên, lèn vào ở giữa, chắn ngang ba và bàn phím, “ba chơi với con, đừng có làm việc nữa.” Ba gần phát cáu, “con, đừng có như vậy, để ba làm việc; khi nào xong ba sẽ chơi với con.” Nhưng ngay sau câu nói đó, nhìn đôi mắt khẩn khoản và đầy tình thương của con, lòng ba lắng xuống, lời ba dịu lại, “con… con muốn chơi gì?” Hai bàn tay nhỏ nắm lấy hai cổ tay ba, con cố sức kéo ba ra khỏi bàn làm việc. Ba miễn cưỡng theo con, rời thế giới của người lớn. Ba hỏi lại, “con muốn chơi gì đây? Trốn-tìm, vật lộn, hay cưỡi ngựa?” Con tròn mắt nói “ba mở nhạc lên, nhảy.” Ba hơi khựng, lại hỏi “nhạc nào, con thích bài nào?” Con chỉ vào cái máy hát, “ba bấm lên đi, nhạc đó.” Ba uể oải bước đến máy, bấm. Nhạc lên, con níu lấy tay ba, hét lớn “nhảy, nhảy, ba nhảy đi!” Rồi không chờ ba nhảy, con nhảy trước làm gương. Bước nhảy, điệu bộ đôi tay và đôi vai của con không theo bất kỳ thể điệu nào của các điệu nhảy thông thường. Chẳng phải cha-cha, bebop, slow, soul, tango, disco, hip hop… Chẳng phải điệu nào của thế giới người lớn. Nhịp nhàng theo nhạc, con bước những bước nhẹ như mây, đôi tay như đôi cánh múa lượn uyển chuyển. Ba sững sờ nhìn con trong giây phút. Chưa bao giờ ba cảm nhận nhạc điệu và bước nhảy hòa quyện với nhau kỳ diệu, bất phân như con đang trình diễn. Con học từ đâu, ba tự hỏi. Không từ đâu cả. Không phải cái gì hay thì đều học từ người lớn. Con chỉ biểu hiện thể cách của một thiên thần, không có định kiến, không có những nề nếp và thói quen, không có những công thức và khuôn khổ của thế giới người lớn mà ba kinh qua. Ba cố gắng bước theo con, nhưng chỉ là những bước vụng về, nặng nhọc. Ba nghĩ ba có thể như nhà văn nọ, nơi bãi biển lộng gió, ở tận cùng của tuyệt vọng mất mát, học nhảy từ Zorba, con người ngang tàng lịch lãm—nhân vật chính trong tác phẩm của Nikos Kazantzakis, nhưng ở đây, ba không thể học bước nhảy của thiên thần. Điệu nhảy của con không thông qua trường lớp nào, con người nào. Con vừa nhảy vừa cười rạng rỡ, đôi khi có vẻ chìm đắm lặng lờ trong tiết điệu. Từ bản nhạc này, lại tiếp qua bản khác, con nhảy liên tục. Nhạc điệu nào con cũng có cách biểu đạt riêng của con. Hết đĩa nhạc, ba ngồi bệt xuống sàn, im lặng ngắm nhìn con. Nài nỉ ba mở đĩa nhạc khác không được, con nhào tới vật ba xuống, đùa giỡn, cù lét. Chúng ta chơi với nhau như con nít đồng trang lứa. Mệt mỏi, đổ mồ hôi, con nằm lăn trên sàn nhà, mỉm cười nhìn ba một lúc, rồi nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ. Ba hiểu rằng con rủ ba chơi đùa không phải vì con, mà vì ba. Con thương ba sao cứ ngồi cặm cụi làm việc với vầng trán nhăn, nhíu. Con thương ba không biết thư giãn, vui đùa. Con thương ba không biết thỉnh thoảng dừng lại, hát lên những bản nhạc mình thích hoặc chỉ nghe nhạc và nhảy… Con đã ban tặng ba những gì ba không có hoặc đã quên lãng. Gần một giờ đồng hồ buông hết công việc, múa nhảy và chơi đùa theo con, ba nghiệm ra rằng, nhiều khi người lớn tưởng là không có gì để ban tặng cuộc đời thì thực ra ai cũng đều có một điều gì đó tốt đẹp để ban tặng; những việc nghĩ là không thể buông xả, đều có thể buông xả; những gì tưởng là không thể tha thứ, đều có thể tha thứ; những ai mình tưởng là không thể thương yêu, đều có thể thương yêu. Một thiên thần ba tuổi như con, rồi đây sẽ được ba mẹ, học đường và xã hội dạy cho chữ nghĩa, con số, màu sắc, âm thanh, hình tượng, mùi vị, cách đo lường, tính toán, phân biệt, suy tưởng, phân tích, kết luận… để rồi con sẽ trưởng thành như một người lớn trong số hàng tỉ người lớn đã sinh ra và mất đi trên cõi đời này. Người lớn thường tự hào hãnh diện về những thành tựu của họ để dựng nên nền văn minh kỹ thuật hiện đại. Nhưng họ không bao giờ thực sự hạnh phúc, bởi vì họ không bao giờ biết thương yêu, tha thứ và buông xả. Cho nên, nếu một ngày nào con học được từ đâu đó, sự vinh danh cha mẹ là những vị Phật, thì con nên hiểu rằng đó chỉ là ẩn dụ đầy ấn tượng để nhắc nhở những người con kính yêu và tri ân bậc sinh thành của mình; đồng thời, cũng nhắc nhở những người lớn phải biết học từ thế giới hồn nhiên của trẻ con lòng thương yêu, tha thứ và buông xả. Nhìn lại chặng đường đã kinh qua, với tâm tư, ý chí và những hành xử rập khuôn theo ước lệ của gia đình và xã hội, chỉ khiến gây thêm tranh cãi, hỗn loạn và khổ đau cho cuộc đời, ba mẹ tự thấy không xứng đáng là những vị Phật. Danh hiệu Phật phong tặng những người không toàn đức toàn trí chỉ khiến ba mẹ thêm xấu hổ. Nhưng con, thiên thần tuyệt vời của ba mẹ, con đã vô tư trao đến ba mẹ những bài học về các phẩm tính cao đẹp mà ba mẹ bỏ quên từ khi bắt đầu làm người lớn. Chỉ ngần ấy không thôi, nếu cần nói một lời nào để cảm ơn con, ba mẹ muốn nói rằng: con xứng đáng được gọi là bồ-tát của ba mẹ.
Con lừa già Giác Ngộ - Một ngày kia, có con lừa già của người nông dân sẩy chân xuống cái giếng bỏ hoang. Giếng rất sâu, người ta không sử dụng, chỉ đổ rác thải xuống đó. Con lừa kêu lên thảm thiết nhiều giờ liền, chủ của nó cũng tìm mọi cách nhưng không thể cứu con lừa già lên được. Cuối cùng, ông quyết định rằng, con lừa đã già rồi, rất lười và chậm chạp; còn cái giếng, đằng nào cũng phải lấp, nên khỏi phải bận tâm về con lừa nữa, cứ để mặc cho nó sống chết ở dưới đó. Ông còn kêu hàng xóm đổ rác thải xuống giếng mỗi ngày. Nhận ra sự thật phũ phàng, con lừa già càng rên rỉ thảm thiết hơn. Sau khi hứng bao rác thải đầu tiên, nó hoàn toàn tuyệt vọng, nhìn lên miệng giếng với đôi mắt ai oán. Lúc đầu, nó cũng chẳng thiết tha hy vọng được cứu sống. Hàng ngày, người ta vẫn trút rác thải xuống đầu nó. Con lừa già rất tức giận trách móc: mình đã xui xẻo rơi xuống hố, người chủ lại bỏ mặc không tiếc thương, nếu có chết thì cũng thoải mái chứ đằng này chủ lại đổ rác lên người v.v… Chỉ đến khi rác thải ngập lên đến nửa chân nó mới bừng tỉnh. Nó không than thở nữa mà cố gắng xoay xở trồi lên và tìm kiếm thức ăn trong rác để sống qua ngày. Rồi không những không bị rác che lấp mà mỗi ngày nó càng được trồi lên cao… Và chẳng bao lâu, chú lừa đã có thể bước lên khỏi miệng giếng, bắt đầu một cuộc sống mới. (Theo truyện ngắn Thái độ của Trình Dũng Hoa, Nam Du dịch) BÀI HỌC ĐẠO LÝ: Sống trên đời ai cũng có lần vấp ngã. Mỗi lần vấp ngã, một lần khôn ra. Như chuyện con lừa sẩy chân xuống giếng sâu, với bản năng sinh tồn mạnh mẽ và ý chí kiên cường, nó có thể vươn lên để có cuộc sống mới tươi đẹp hơn. Cuộc sống của bạn cũng vậy, có thể tốt đẹp nhưng cũng có không ít những điều khó chịu do chính những sai lầm của bạn hoặc những người khác gây nên. Tất cả đều là những thử thách bản lĩnh vươn lên của bạn. Bí quyết nằm ở chỗ, bạn không nên để mình bị chôn vùi bởi những điều khó chịu ấy, mà phải biết rũ nó xuống và bước lên trên. Mỗi khó khăn thất bại mà bạn gặp trên đường đời là một bước đệm để ta bước cao hơn. Chúng ta có thể thoát khỏi cái giếng sâu nhất bằng cách không bao giờ bỏ cuộc. Đừng tuyệt vọng cam chịu ngã gục, đầu hàng. Chúng ta vốn dĩ hơn con lừa già kia gấp vạn lần, hãy bước lên! Thực tế có quá nhiều thứ không vừa ý như: Trường mình học dột nát, ký túc xá mình ở quá tồi tàn, bạn trai của mình nghèo, bạn gái mình không đẹp, công việc của mình vất vả nhưng thu nhập lại thấp… Tất cả những trở ngại ấy, bạn cứ coi như là rác, có thể đạp dưới chân mình để bước lên, vươn tới đỉnh cao hơn. Thế gian này chỉ quan tâm đến bạn có đạt đến đỉnh cao hay không và nếu như bạn giẫm lên những rác rưởi trở ngại, không như ý mà tiến thân thì càng quý hóa biết chừng nào. Câu chuyện Con lừa già giúp chúng ta thêm tin tưởng vào khả năng kỳ diệu của chính mình. Dù gặp bất cứ điều gì, dù khó khăn đến mấy cũng đừng tuyệt vọng. Hãy bước lên, tin tưởng sâu sắc vào những nỗ lực của bản thân mình, bạn sẽ có cuộc sống tươi đẹp hơn nhiều.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét