THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

CÁC HỆ THỐNG TRIẾT HỌC – TÔN GIÁO

CÁC HỆ THỐNG TRIẾT HỌC – TÔN GIÁO Ở NHẬT BẢN VÀ PHẬT GIÁO Trong Phật giáo Ấn độ đã sớm hình thành một quan niệm cho rằng học thuyết cứu khổ của Đức Phật đòi hỏi phải được phổ biến giữa các dân tộc khác. Khi biểu lộ khuynh hướng trở thành tôn giáo thế giới. Phật giáo đã bắt đầu được phổ biến ra ngoài Ấn độ. Tuy nhiên, hoạt động truyền bá của các nhà sư đã không đạt ngay được những kết quả lớn. Chỉ một nghìn năm sau khi Đức Phật nhập diệt, một phong trào mạnh mẽ của Phật giáo mới bắt đầu và sau đó tỏa khắp toàn bộ Trung và Đông Á. Một làn sóng của phong trào này đã đi đến phương Đông, qua Trung quốc và Triều Tiên vào Nhật bản, một làn sóng khác đi lên phía Bắc, qua Tây Tạng vào Mông Cổ. Việc truyền bá Phật giáo phát triển mạnh vào các thế kỷ V, VI, VII. Giai đoạn này cũng là thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo ở Ấn độ. Sau đấy Phật giáo ở ngay chính Ấn độ bắt đầu đi đến suy sụp. Trong khi đó trong những nước phương Đông khác, Phật giáo lại được củng cố vững chắc hơn, và bắt đầu một quá trình thích nghi, tu chỉnh. Bắt đầu một giai đoạn của những tông phái Phật giáo mới. Những tông phái này thực chất, là dựa trên những tư tưởng Ấn độ, nhưng đã được pha trộn nhiều yếu tố phi Ấn. Sự giao tiếp với Ấn độ dần dần bị ngưng lại, Trung quốc và Tây Tạng trở thành những trung tâm của Phật giáo phương Đông. Phật giáo Trung quốc do sớm hơn nên đã ảnh hưởng đáng kể đến Phật giáo Tây Tạng. Nhưng, nhìn chung, cả hai trung tâm này đều là những trung tâm đóng kín độc lập với nhau. Xét trên quan điểm lịch sử văn bản học Phật giáo, tài liệu Trung quốc và Tây Tạng bổ xung lẫn nhau: Trong những bản dịch Trung quốc đã giữ lại một số văn bản rất quan trọng cổ hơn mà không có Tây Tạng, còn kinh điển Tây Tạng lại chứa đựng một loạt những luận văn nổI tiếng của Phật giáo sau này, mà không thấy ở Trung quốc. Đa số các văn bản đó là các văn bản chung, vừa có trong bản dịch Trung quốc vừa có trong bản dịch Tây Tạng. Những nước là các điểm chót của lưu trào Phật giáo, tức ở Mông cổ và Nhật bản, mối liên hệ với Ấn độ và những nước trung gian luôn biểu hiện rõ từ xưa tới nay. Ấn độ, Tây Tạng và Mông Cổ - là một khối liên kết chặt chẽ, theo cách nhìn của Phật tử Mông Cổ. Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản - lại là “bộ ba nước”, “ba quốc gia”, theo ghi chép trong các văn bản lịch sử của những nhà Phật tử Nhật bản. Nếu nói về văn học Phật giáo ở Nhật bản, thì phải hiểu theo nghĩa rộng của từ: Không chỉ là văn học do người Nhật bản sáng tác, mà là cả các tác phẩm văn học Trung quốc (dịch cũng như nguyên bản) đã gần như trở thành tài sản riêng của nhiều người Nhật trong suốt nhiều thế kỷ. Văn học Phật giáo ở Nhật bản bao gồm: 1) Các tác phẩm Ấn độ được dịch sang tiếng Trung quốc, tức kinh điển Phật giáo theo nghĩa riêng vốn có của từ này, bao gồm ba phần: Kinh, Luật, và Luận. 2) Những bản chú giải các tác phẩm Ấn độ của người Trung quốc và văn học nguyên gốc của Trung quốc. 3) Những lý giải các tuyển tập Ấn độ và Trung quốc của người Nhật và các tác phẩm nguyên gốc Nhật bản. Toàn bộ các tài liệu đã được in ấn tốt ở Nhật bản, đăc biệt, đã được khai thác một cách tuyệt vời trong các tác phẩm hiện đại bằng ngôn ngữ Nhật bản. Ở Nhật bản, trong mối liên hệ với nhập môn nghiên cứu tiếng Sanskrit, lần đầu tiên các phương pháp ngữ văn học Âu châu được đem áp dụng để nghiên cứu văn học Phật giáo ngày càng phổ biến trong các nhà bác học Nhật bản. Văn học kinh điển Phật giáo được nghiên cứu ở Nhật bản theo các bản dịch Trung quốc. Đối với người Nhật được giáo dục Hán học công việc này không khó khăn gì. Hơn nữa, toàn bộ thuật ngữ triết học – tôn giáo trừu tượng đều trực tiếp lấy từ thuật ngữ Trung quốc chứ không có những từ Nhật tương đương. Mối liên hệ chặt chẽ dẫn đến sự trùng hợp hoàn toàn của hệ thống văn tự Nhật bản với hệ thống văn tự Trung quốc, đã lý giải việc không có những bản dịch sang tiếng Nhật các tác phẩm triết học kinh điển Trung quốc: Những người Nhật không cần đến chúng, bởi lẽ họ được học trực tiếp bằng các văn bản Trung quốc, và viết các bản luận văn trừu tượng bằng tiếng Trung quốc. Chỉ trong thời gian gần đây, mới xuất hiện những biên soạn các bản kinh phổ biến bằng tiếng Nhật nhưng không hẳn là dịch mà đúng hơn là hiện đại hóa các văn bản cổ. Sự đầy đủ về văn bản Phật giáo, việc các tư liệu đó được biên soạn trong các chú giải, các từ điển và trong những công cụ bổ trợ - tất cả những điều đó khiến ta phải thừa nhận rằng, cần bắt đầu tiến hành nghiên cứu Phật giáo phương Đông trước hết theo các nguồn tài liệu Nhật bản; chúng sẽ làm ta bớt khó khăn khi đi vào các nguồn tài liệu gốc Trung quốc cổ hơn. Lịch sử Phật giáo ở Trung quốc, theo truyền thống, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, nhưng chỉ bắt đầu từ thế kỷ IV mới có thể nói về sự hưng thịnh thực sự của Phật giáo, về ảnh hưởng mạnh mẽ của Phật giáo. Đến thế kỷ thứ V, ở Trung quốc, hầu như tất cả các khuynh hướng của tôn giáo Ấn độ đã kịp xuất hiện, phần cơ bản của các kinh đã được dịch, và một tông phái Phật giáo Trung quốc với cái tên “Thiên Thai” đã kịp ra đời. Ở Nhật bản, vào thời gian này vẫn còn chưa có văn tự, chưa có lịch sử thực sự. Khởi nguyên của những thứ đó chỉ đến thế kỷ VI – VII mới có. Theo niên biểu chính thức, một nghìn năm trước đó là thời kỳ bán huyền thoại, bán truyền thuyết, bán lịch sử. Lịch sử thực sự của Nhật bản chỉ bắt đầu vào thế kỷ thứ VI gắn liền với hiện tượng có đặc trưng tôn giáo, - sự du nhập của Phật giáo từ Triều Tiên tới. Cùng với sự xuất hiện của Phật giáo là sự gia tăng đột ngột ảnh hưởng của văn minh Trung quốc. Như vậy, toàn bộ những yếu tố cấu thành nền văn hóa độc đáo của Nhật bản trung cổ đã được hình thành ngay từ buổi đầu của lịch sử Nhật bản. Trung quốc thời kỳ này bước vào giai đoạn hưng thịnh dưới triều Đường, thời đại của những mối quan hệ với Ấn độ và những nước khác, thời đại hưng thịnh của văn hóa vật chất và tinh thần. Ảnh hưởng của những yếu tố Trung quốc và Ấn độ ở Nhật bản mạnh đến mức một số yếu tố dân tộc tiền sử ngừng phát triển và dường như biến mất. Người ta phải phục hồi lại chúng bằng con đường tách một cách trừu tượng toàn bộ cái ngoại lai khỏi tập hợp những hiện tượng văn hóa Nhật bản thời kỳ đó. Nhưng, nếu yếu tố thuần Nhật bản yếu và chưa được xác định thì sao lại có ảnh hưởng lớn đến chính phương thức tiếp nhận các yếu tố ngoạI lai tới. Trong yếu tố dân tộc, có ẩn dấu một cá tính nào đó, một thế giới quan đặc trưng nhất, dù chúng không được đưa vào khuôn khổ của hệ thống. Học thuyết Ấn độ khi qua Trung quốc và Triều tiên, trên đường, đã thâu tóm không ít những cái ngoại lai; bởi vậy, văn hóa Nhật bản, ngay từ buổi đầu lịch sử đã là một hiện tượng cực kỳ phức tạp. Nhật bản, trong thời gian này, bắt buộc phải giải quyết một nhiệm vụ khó khăn là phải tiếp thu hai yếu tố ngoại lai rất khác biệt nhau: Yếu tố Ấn độ và yếu tố Trung quốc. Nhiệm vụ này đặc biệt khó khăn, vì Nhật bản khi đó chỉ vừa mới bắt đầu lịch sử, không có văn tự, không có văn học, không có những hệ thống tôn giáo phong phú; trong khi đó, đối với Ấn độ và Trung quốc, sự hưng thịnh ở giai đoạn từ thế kỷ III đến thế kỷ VIII, là kết quả của công việc chuẩn bị lâu dài, là cao trào cuối cùng của nền văn hóa cổ. Sức mạnh và sự phong phú của những mối liên hệ lịch sử văn hóa với bên ngoài ở Nhật bản đã ngăn việc trỗi dậy của những yếu tố thuần tuý Nhật bản. Cần chú ý tới mối quan hệ lẫn nhau của tất cả những yếu tố cấu thành trong mọi lĩnh vực của văn hóa Nhật bản, chủ yếu là trong các lĩnh vực tôn giáo, triết học, ngôn ngữ, cơ cấu nhà nước và nghệ thuật - tất cả đều là những hiện tượng phức tạp, những yếu tố cấu thành chúng ít nhiều được thấy rõ. Triều tiên đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử Nhật bản, nhưng từ thế kỷ thứ VII ảnh hưởng trực tiếp của Phật giáo Trung quốc mạnh đến nỗi dưới ảnh hưởng của trường phái Huyền Trang, tất cả các trào lưu trước kia đều lùi lại phía sau. Bởi vậy, trong những hiện tượng triết học tôn giáo Nhật bản trong chừng mực chúng tạo nên cấu trúc tư duy một cách hệ thống, nên phải phân biệt ba yếu tố: Nhật bản, Trung quốc và Ấn độ. Xét dưới góc độ lịch sử văn hóa Ấn độ và Đông Á, Phật giáo Nhật bản là một hiện tượng bộ phận, là nấc phát triển cuối cùng của Phật giáo và của những yếu tố Ấn trên con đường từ Ấn độ sang phương Đông. Những biến dạng điển hình của tư tưởng Ấn độ ở các dân tộc Đông Á đã tỏa ánh sáng chói ngời lên tâm lý và nếp nghĩ của những dân tộc rất khác các bộ tộc Ấn độ cả về chủng tộc lẫn ngôn ngữ.Trên quan điểm này, việc nghiên cứu cần phải tiến hành theo trật tự có tính chất niên đại của những nấc thang phát triển lịch sử - tức là từ Ấn độ qua Trung quốc đến Nhật bản. Mặt khác, trong truyền thống văn học tôn giáo Nhật bản còn giữ lại được nhiều cái của Ấn độ và Trung quốc mà ở hai nước này đều không còn. Quả là đối với người Nhật, nhiều cái là thiêng chính vì nó là cái ngoại lai, xa lạ và không hiểu – nó được giữ một cách thiêng liêng trong truyền thống. Còn người Ấn độ và người Trung quốc, khi tạo ra cái mới, khi chuyển sang giai đoạn phát triển tiếp sau, đã cho mình có quyền quên đi cái cũ. Những tàn dư này làm cho văn học và truyền thống triết học tôn giáo Nhật bản trở nên rất quan trọng và có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Á châu và phục hồi lại những cái đã mất ở Ấn độ và Trung quốc. Với quan điểm này, cách nghiên cứu sẽ khác: Sự dịch chuyển mang tính lịch sử từ Ấn độ sang Trung quốc vào Nhật bản biến thành ngược lại - từ Nhật bản qua Trung quốc đến Ấn độ, mà có thể đi xa hơn nữa, bởi lẽ một bài học thuyết của Phật giáo Trung-Nhật chỉ ra những mối quan hệ xa xôi với những khuynh hướng tôn giáo vùng Tiền Á. Theo nghĩa này, văn hóa Nhật bản có ý nghĩa rất rộng chứ không chỉ là một hiện tượng Viễn Đông cá biệt, một hiện tượng Nhật bản thuần túy, một hiện tượng chỉ của Nhật-Trung, ý nghĩa của văn hóa Nhật tăng lên còn nhờ sự nghiên cứu khoa học theo những phương pháp Âu châu ngày càng tiêm nhiễm thành thói quen ở Nhật bản. Người Nhật đã làm được khá nhiều trong việc thu nhập, xuất bản và nghiên cứu tài liệu. Việc còn lại là kết hợp cái đã làm, gắn những kết luận với những kết quả của Ấn độ học châu Âu, và khi đó đời sống tôn giáo ở Đông và Nam Á mới hợp lại thành một chỉnh thể, một hiện tượng chung mà những bộ phận của nó gắn kết lại với nhau một cách chặt chẽ nhất. Nhật bản, trong vòng nhiều thế kỷ, là một nước tách biệt cô lập, không có mối quan hệ với các dân tộc khác, tự cho mình là trung tâm của vũ trụ và quên cả những mối quan hệ trước kia với những trung tâm văn hóa khác của Á châu. Giờ đây, người Nhật bắt đầu hiểu và nhận thấy một cách có ý thức rằng, chính trong mối quan hệ chứ không phải trong tách biệt mà sự phong phú của văn hóa Nhật được nảy sinh. Mối liên hệ với Trung quốc là rõ hơn cả. Nhật bản tiếp nhận không chỉ hệ thống văn tự, mà cùng với văn tự là cả văn học nữa, cả hai cái đó trong vòng nhiều thế kỷ dường như đã trở thành của dân tộc Nhật bản. Mối liên hệ với văn hóa Ấn độ cũng thấy rõ trong những lĩnh vực Phật giáo. Điều này được nhấn mạnh bằng công thức coi Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản là “Bộ ba nước” không tách rời nhau. Năm 1905 giáo sư Samberlen trong tác phẩm “Tư tưởng Nhật bản” của mình đã viết về ảnh hưởng của Ấn độ ở Nhật bản với ý Nhật bản hoàn toàn phải chịu ơn Ấn độ. Giáo sư đã chỉ ra một cách đúng đắn rằng người Nhật thường quên vai trò của Ấn độ và ý nghĩa của Phật giáo. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tình hình đã thay đổi đáng kể: Người Nhật đã bắt đầu đẩy mạnh nghiên cứu cả Phật giáo, cả Ấn độ lẫn tiếng Sanskrit; ý nghĩa của Ấn độ và Phật giáo được nhiều nhà bác học Nhật bản thừa nhận. Việc người Nhật, một vài năm trước, tương đối ít quan tâm đến nghiên cứu những vấn đề tôn giáo là hoàn toàn không có gì đáng ngạc nhiên. Họ đã trải qua giai đoạn xây dựng lại quốc gia theo hình mẫu Âu châu, toàn bộ sự chú ý của họ là tập trung vào việc tạo nên và củng cố nền văn hóa vật chất mới. Cho nên không chỉ có tôn giáo và triết học, mà cả những vấn đề trừu tượng đã phải để lại ở hàng thứ yếu. Khi chế độ mới được củng cố, bắt đầu xuất hiện những quan tâm sống động hơn đối với khoa học trừu tượng, đến tư duy trừu tượng, trước hết là tư duy Âu châu. Cùng với việc ảnh hưởng của Âu châu ngày càng tăng, một vấn đề đã xuất hiện: Liệu hiện giờ Nhật bản có tìm thấy trong quá khứ của mình cái giá trị để tạo nên thế giới quan khoa học và tôn giáo không? Những nhà văn có tiếng nhất không bao giờ say sưa với triết học Âu châu, dần dần đã bắt đầu quay trở lại cái vốn có của mình. Họ không phủ nhận tư duy Âu châu, nhưng đã chỉ ra một cách chính xác rằng, những vấn đề nóng bỏng thuộc thế giới quan nên giải quyết bằng cách thích nghi với cái quá khứ vốn có của dân tộc, chứ không phải bằng con đường dịch chuyển những vấn đề Âu châu sang nền tảng Nhật bản. Khuynh hướng này đã hình thành trong một vài năm trước,và bắt đầu đi vào nghiên cứu Thần đạo, Phật giáo và triết học Trung quốc. Từ đây trong lĩnh vực lịch sử tư tưởng Nhật bản đã bắt đầu một thời kỳ mới phát triển và đi lên. Như vậy, tại sao các trào lưu tôn giáo và triết học của Nhật bản hiện đại lại nằm trong tình trạng khá hỗn loạn, và rất khó phân tích. Trong lĩnh vực tôn giáo, có sự tự do hoàn toàn của lương tâm, không có việc đăng ký theo tín ngưỡng. Những tư tưởng tôn giáo không được đưa vào trong chương trình học của trường học Nhật bản. Trong trường, người ta giảng những nguyên lý của đạo đức học, khêu gợi tình cảm yêu nước, thái độ trung thành kính trọng với quyền lực Hoàng đế, cũng như kính trọng các anh hùng dân tộc và ông bà tổ tiên. Tục thờ cúng tổ tiên vẫn sống động trong nhân dân Nhật đến mức nó không cần phải có sự cổ vũ khích lệ. Thần thoại của Thần đạo, thực sự được giảng dạy, nhưng như một phần của giáo trình lịch sử, bởi vậy cái được giảng ở trường học không hoàn toàn là tôn giáo. Vì, đã cái gì liên quan đến những vấn đề tôn giáo theo nghĩa đen của từ, tức là liên quan đến siêu hình học, tới Chúa trời, và ý nghĩa của cuộc sống, v.v…Sở dĩ có sự phê phán nghiêm khắc đối với Thần đạo chính thống hiện nay trong cuốn sách mỏng của giáo sư Samberlen, “Sự phản ánh của một tôn giáo mới” vì tác giả cho Thần đạo chính thống này một ý nghĩa quá lớn. Cái gọi là “bảo trợ” cho Thần đạo từ phía nhà nước được phản ánh trong việc duy trì nó như là tục thờ cúng tổ tiên của triều đại hoàng đế. Tục thờ cúng có tính chất cung đình này và có ý nghĩa mà nó có chỉ bắt đầu thực sự từ những năm 70 của thế kỷ trước, khi chính quyền hoàng đế thắng chính quyền Xơgun (các tướng quân). Đối với nhân dân, hệ thống chính thống này phù hợp với sự trung thành mà lại không buộc bất cứ ai vào niềm tin tôn giáo ấy. Họ có thể là nhà Thần đạo, Phật tử, là tín đồ Thiên chúa giáo hay người hoàn toàn dửng dưng đối với tôn giáo. Như vậy không nên nói về tục thờ cúng chính thống như về một tôn giáo dân tộc Nhật bản. Tôn giáo dân tộc theo cách hiểu ở châu Âu là không có ở Nhật bản. Phật giáo dù phổ biến rộng rãi đến như vậy, cũng hoàn toàn không có thể coi được là tôn giáo dân tộc của Nhật bản. Trong lĩnh vực tôn giáo và triết học, có thể nhận thấy tất cả bốn yếu tố vừa bện kết vào nhau vừa có những sắc thái khác nhau tùy thuộc vào đẳng cấp và trình độ học thức của những tín đồ. Sự phân loại này rất quan trọng vì liên quan đến việc đánh giá các tác phẩm triết học tôn giáo hiện đại, cả loại phổ cập cũng như loại khoa học. Những yếu tố đó là: 1) Thần đạo; 2) Triết học Trung quốc chủ yếu là Khổng giáo; 3) Phật giáo; 4) Thiên chúa giáo và tư duy Âu châu. Yếu tố Âu châu có ít ý nghĩa nhất và được biết tới khá ít. Những bản dịch vừu ít vừa kém, ngôn ngữ triết học còn chưa được chuyển dịch hoàn hảo. Bởi vậy, trong các giờ triết học Âu châu, người ta thường giảng dạy ngoại ngữ. Từ các tài liệu khoa học phổ biến, nhiều những tư tưởng Âu châu xâm nhập vào các tầng lớp xã hội Nhật bản, nhưng không gây nên ảnh hưởng sâu sắc. Cũng hoàn toàn như vậy, sự truyền bá Thiên chúa giáo, dĩ nhiên là đáp ứng nhu cầu của người Nhật, nhưng vẫn không trở thành hiện tượng Nhật bản theo nghĩa đầy đủ. Việc truyền bá đó, hiện nay, hoàn toàn phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ phía Âu châu và Mỹ châu. Ba yếu tố còn lại, Thần đạo, Phật giáo và Khổng giáo gắn chặt với tất cả các lãnh vực quan trọng trong đời sống của nhân dân Nhật bản. Yếu tố Trung quốc xâm nhập khắp nơi đến mức người ta thậm chí không có cảm giác đấy là một cái gì đó xa lạ, đặc biệt đối với những yếu tốTrung quốc thuộc lĩnh vực các tín ngưỡng dân gian. Trong các hệ thống Trung quốc, chỉ có Khổng giáo, chủ yếu là phần đạo đức, đã đóng vai trò quyết định trong lịch sử tư duy Nhật bản. Đạo đức trong cơ cấu gia đình, mối liên hệ lẫn nhau của những con người và những vấn đề khác mà những người Trung quốc quan tâm, hầu như đã trở thành tài sản của người Nhật. Khổng giáo còn xâm nhập vào cả cái gọi là “võ sĩ đạo” - “Buxiđo” - nổi tiếng trong cuốn sách nhỏ của Nitobe đã được dịch ra tất cả các ngôn ngữ Âu châu. Hiện tượng này được coi như một cái gì đó rất Nhật bản. Quả vậy, “Võ sĩ đạo”, theo nghĩa của bộ luật đạo đức (dù không ghi) của giai cấp võ sĩ từ lâu đã rất đặc trưng trung cổ. Giai cấp võ sĩ không còn, cái mà bây giờ được gọi bằng từ “Võ sĩ đạo”, thực chất chỉ còn là một tổng hợp những nguyên lý đạo đức đối với người công dân lương thiện. Đạo đức Khổng giáo vẫn tồn tại trong giai cấp trung gian, dù cho sự hiểu biết và việc đọc những sách kinh điển Khổng giáo không còn nhiệt tâm như trước vì chúng khó dung hợp được với chương trình giáo dục nhà trường hiện đại. Hiện nay, triết học tân Khổng giáo trừu tượng Trung quốc là tài sản giá trị cho các thày dạy văn học Trung quốc và những ai yêu thích các học thuyết của các nhà thông thái Trung quốc, mà ảnh hưởng của họ có thể ví như ảnh hưởng của các nhà triết học Hy Lạp và La mã đối với châu Âu. Ảnh hưởng mang tính văn học này của triết học Trung quốc vị tất có thể chấm dứt ở Nhật bản vì mối liên hệ chặt chẽ ngôn ngữ Nhật bản với ngôn ngữ và văn tự của Trung quốc. Nhưng với tư cách là một hệ thống thế giới quan hoàn chỉnh độc lập, Khổng giáo ở Nhật bản hiện nay không còn có khả năng giữ vai trò gì cả. Khổng giáo như tục thờ cúng hay như một hội có tổ chức đã không hề tồn tại ở Nhật bản thời xưa. Những trào lưu chống Khổng giáo khác của tư duy Trung quốc, cũng như đạo giáo, với tư cách là những hệ thống đã không có ý nghĩa lớn ở Nhật bản. Đạo giáo phổ cập những dị đoan của mình biểu hiện trong những tín ngưỡng dân gian của những người Nhật bản đến mức nào thì cho đến nay vẫn chưa được giải đáp. Ở Nhật bản, chỉ có Thần đạo và Phật giáo là những tổ chức tương tự nhà thờ ở Âu châu, với truyền thống nhất định, với cơ quan quản lý trung ương, với những ngẫu tượng và cúng lễ có tổ chức, tức là những tôn giáo theo nghĩa tổ chức nhà thờ. Lịch sử của hai tôn giáo này bắt đầu từ thế kỷ VI – VII, khi đó các tín ngưỡng nguyên thủy đã tồn tạI từ lâu, tức tục thờ cúng các thần tự nhiên và tục thờ cúng tổ tiên được tập hợp lại với các tên gọi là “Sinto”, “Thần đạo” trở thành đối lập với tôn giáo hải ngoại mới hay “Phật đạo”. Cuộc đấu tranh bắt đầu, nhưng kéo dài không lâu và học thuyết Ấn độ đã thắng. Trong Phật giáo thời này có hai khuynh hướng: Một khuynh hướng chống lại các học thuyết xa lạ khác bằng phủ nhận, khuynh hướng kia chống lại bằng cách giải thích các học thuyết xa lạ kia theo kiểu Phật giáo. Khuynh hướng thứ hai hưng thịnh đặc biệt vào thế kỷ VIII và đã thành công trong việc biến Thần điện của Thần đạo thành một phần của Thần điện Phật giáo Ấn độ và đã tìm được ra trong học thuyết Thần đạo một biểu hiệu cuả Phật trí. Phật giáo thời đó ở vào giai đoạn phát triển cao: Có hệ thống phổ quát, có nền giáo lý và văn học rộng lớn, bao gồm tất cả các nguyên lý triết học - lôgíc học và tâm lý học, đạo đức học, siêu hình học. Vì thế mà Phật giáo dễ dàng thắng các tôn giáo nguyên thủy, như Thần đạo không có hệ thống, không có văn học, nhưng lại không động tới Chúa trời thần thánh mà nhân dân tin vào và cầu nguyện. Bằng cách đó Phật giáo đã chiếm lĩnh thâu tóm vào mình đại đa số các thần tượng củaThần đạo. Ảnh hưởng của Phật giáo là rất lớn. Phật tử là các vị hoàng đế, rồi các tướng quân (Xơgun). Ảnh hưởng của Phật giáo được phản ánh trong tất cả những lĩnh vực văn hoá Nhật bản. Dưới tác động của Phật giáo, không chỉ tư duy trừu tượng và nghệ thuật, mà cả văn học và lối sống tinh tế còn lại cho đến ngày hôm nay của Nhật bản đã được phát triển. Lịch sử mang tính chất giáo điều nội bộ của Phật giáo diễn ra trong các chùa biệt lập tách khỏi lịch sử chính trị của Phật giáo. Cái đã được các nhà sư – nhà tư tưởng Nhật bản tạo nên hay giữ cho khỏi lãng quên, một phần nằm trong các phẩm kinh viện, và vẫn là di sản của giới tu hành uyên bác, một phần được các nhà truyền giáo đưa vào trong dân chúng để rồi, trên nền tảng Nhật bản nhiều tông phái mới, nhiều khuynh hướng mới được hình thành. Việc phân rã của Phật giáo Trung quốc và Nhật bản thành những tông phái có ý nghĩa khá quan trọng. Nhìn bề ngoài sẽ tưởng các tông phái giống nhau quá ít đến nỗi khiến nhiều tác phẩm Âu châu viết về Nhật bản đã thắc mắc: Sao tất cả các học thuyết khác nhau đến như vậy mà vẫn gọi mình là Phật giáo. Sở dĩ có điều thắc mắc đó là vì những vấn đề cơ bản bị quên để cho những điều thứ yếu trổi lên. Tư tưởng cứu khổ và quan niệm đặc biệt về cuộc sống và tự nhiên là cái kết hợp tất cả những người Phật tử. Nhưng Phật giáo đã nhìn thấy trước rằng là bẩm tính của con người là khác nhau và vì nên có thể có một số con đường để đạt đến mục đích tôn giáo tối thượng. Có tất cả là bốn con đường: 1) Nhận thức; 2) Hành vi thực tiễn, chủ nghĩa khổ hạnh, v.v…; 3) Trực quan thần bí; 4) Lòng tin vào sức mạnh cứu khổ của Phật Adiđà. Có thể xuất hiện sự không nhất trí do việc lựa chọn con đường nào có ý nghĩa chủ yếu hay đặc biệt để đạt tới mục đích. Còn kết quả của sự bất đồng đó là sự ra đời của những tông phái. Trên thực tế, hầu như tất cả những khác nhau cơ bản của các nhánh Phật giáo sau này có thể quy về sự không thống nhất trong việc đánh giá con đường dẫn đến giải thoát. Dưới những hình thức phổ biến hơn, các học thuyết dựa trên cơ sở của những khác biệt này có thể xuất hiện và thực sự đã xuất hiện. Đôi khi giữa họ nổ ra những cuộc tranh luận khốc liệt, thậm chí dẫn tới việc dò xét nhau. Những cuộc vận động như vậy ở Nhật bản đôi khi nổ ra với quy mô lớn dẫn đến các cuộc hành quân thực sự của những nhà sư ở chùa khác. Những cuộc hành quân này thường kết thúc bằng thất bại, hoặc bằng việc tiêu hủy ngôi chùa của đối thủ. Dĩ nhiên, những xung đột kiểu này đã diễn ra không hoàn toàn trên cơ sở tôn giáo và thường là gắn với cả những bất hòa chính trị. Theo quan điểm giáo lý uyên thâm, sự khác nhau giữa những tông phái không thực là ghê gớm, vì rằng những nguyên lý cơ bản sẽ được thừa nhận một khi tất cả các khuynh hướng đều thống nhất trong việc thừa nhận vấn đề giải thoát cuốI cùng. Thế giới kinh nghiệm mà chúng ta gặp là cuộc diễu hành của khởi nguyên (bản thể) tuyệt đối không thể nhận thức được. Cuộc diễu hành của bản thể này là kết quả của dòng ba động vô thủy. Trong dòng ba động đó, là cả đau khổ vô thủy, là vô minh u tối. Đồng thời, cái bản thể tuyệt đối phân ra thành vô hạn những đơn tử có ý thức, chứa trong mình khuynh hướng vô thủy hướng đến chấm dứt thế tục: Xua tan vô minh, làm ngừng ba động, tức đi đến trạng thái yên tĩnh tuyệt đối, ngừng mọi biểu hiện. Siêu hình học của giải thoát vừa dựa trên sự phân tích nghiên cứu tỉ mỉ kinh nghiệm, vừa dựa trên tâm lý học và lý luận nhận thức. Tuy nhiên, trong Phật giáo đại chúng, tương đối ít nhắc đến những học thuyết siêu hình học như vậy. Ví dụ, trong tông phái “Tịnh thổ”, tư tưởng giải thoát cuối cùng (Niết bàn) bị lùi lại phía sau và được thay bằng tư tưởng đạt tới sự tái sinh ở mảnh đất cực lạc, “Tịnh thổ”. Nhưng dù sao mục đích đó chỉ là giai đoạn chuyển tiếp trên con đường tới Niết Bàn, tức lý tưởng tối thượng. Tư tưởng giải thoát hợp nhất những Phật tử lại với nhau, đồng thời cũng chính là cái mà Phật giáo khác căn bản so với Thần đạo. Thần đạo biết đến tư tưởng giải thoát, nhưng không biết đến cái cuối cùng - tuyệt đối. Tư tưởng của nó là sự tiếp diễn vô tận của cuộc đời trần tục: Những người chết chỉ thay đổi dạng tồn tại, và vẫn ở lại trên mặt đất gần những người thân của mình, vẫn tham gia vào đời sống của họ. Thờ cúng thần linh, thờ cúng sức mạnh và các hiện tượng tự nhiên, thờ cúng thần ác, thần thiện, thờ cúng các anh hùng dân tộc và hoàng đế,… đều gắn liền với những tư tưởng thần đạo. Vấn đề ý nghĩa cuối cùng của tồn tại hoàn toàn không được đặt ra trong Thần đạo. Nhưng chính trong tư tưởng Thần đạo, toát lên sức mạnh yêu đời tự phát, ngây thơ của người nguyên thủy. Tính phi hệ thống dẫn đến việc Thần đạo, như một hệ thống tôn giáo, không thể đứng vững trước Phật giáo; nhưng như tục thờ cúng dân gian, nó vẫn sống và có sức mạnh cho đến ngày nay. Cái gọi là Thần đạo có tính hệ thống hình thành từ thế kỷ XVII-XVIII và bây giờ, trở thành tục thờ cúng chính thống hiện nay – là sự đối lập của tục thờ cúng dân gian vì nó tiếp nhận nhiều yếu tố Trung quốc và Phật giáo. Bởi vì Thần đạo thuần túy theo bản chất của mình là xa lạ với mọi tính hệ thống, nên những ý đồ tạo nên một hệ thống từ đó đã không mang lại kết quả; hơn thế nữa vì những ý đồ đó mang tính khuynh hướng muốn chứng minh rằng dân tộc Nhật bản và chính quyền tối cao ở Nhật bản có bản chất thần thánh đặc biệt. Thần đạo đã tiếp nhận khuynh hướng chính trị vào các thế kỷ XVII – XVIII, khi diễn ra cuộc đấu tranh nhằm giải phóng chính quyền hoàng đế khỏi ảnh hưởng của Xơgun. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, phái hoàng đế đã thắng và Thần đạo đã sử dụng những điều kiện thuận lợi tấn công Phật giáo. Những tượng thần của Thần đạo, trong vòng nhiều thế kỷ, nằm trong tay những người Phật tử, đã được hoàn lại, được “tẩy rửa sạch”. Những đồ dùng và hội họa Phật giáo bị tiêu hủy, các cao tăng bị xua đuổi, nhiều nhà hoạt động Phật giáo buộc phải hoàn tục. Đạo Phật bắt đầu có chiều hướng sụp đổ và trở nên nguy kịch nhất vào thế kỷ trước. Tuy nhiên khúc khải hoàn toàn thắng của Thần đạo đã không được lâu. Tự do của lương tâm đã đặt tôn giáo trong những điều kiện như nhau, và từ thế kỷ XX. Phật giáo dần dần được phục hồi trở lại. Khuynh hướng chính trị dân tộc kết hợp với tất cả các khuynh hướng Thần đạo. Nhưng, vì do không có tư tưởng tôn giáo chân thực nên Thần đạo vẫn là một hiện tượng dân tộc hẹp hòi, không đủ sức chống lại các tôn giáo thế giới như Phật giáo và Thiên chúa giáo. Như vậy khi nghiên cứu các hiện tượng của Phật giáo của Nhật bản, ở đây, cần nói lên sự đan bện của ba yếu tố dân tộc, Trung quốc và Ấn độ, trước hết là Thần giáo, Khổng giáo và Phật giáo trong mối liên hệ với yếu tố khác nhau của những hệ thống khác, với những tín ngưỡng và mê tín dân gian. Lĩnh vực triết học và tôn giáo Nhật bản hầu như hoàn toàn chưa được nghiên cứu. Cần bắt đầu phân chia những yếu tố trong những hệ thống lớn nhất, tức những yếu tố Phật giáo và Trung hoa. Cần lý giải vai trò của những yếu tố ngoại lai. Tuy nhiên không bao giờ chấp nhận khuynh hướng quy tất cả những cái Nhật bản thành không Nhật bản. Ngược lại, công việc chính là lý giải yếu tố Nhật bản thuần túy. Thậm chí nếu như phát hiện thấy cái gọi là “Nhật bản thuần túy” nhưng thực chất chỉ là sản phẩm của những yếu tố ngoại lai, thì trong mọi trường hợp, cái đó vẫn là sản phẩm độc đáo. Để thâm nhập vào bề sâu của tinh thần Nhật bản, đồng thời cần phải trải sự nghiên cứu ra ngoài giới hạn Nhật bản đến Trung quốc và Ấn độ, cần phải lập mối quan hệ chung trên nền tảng tôn giáo giữa các dân tộc ở Nam và Đông Á. II VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO Ở NHẬT BẢN VÀ TRUNG QUỐC Mối quan hệ lẫn nhau vừa được trình bày của những yếu tố trong văn hóa tôn giáo ở Nhật bản là cực kỳ quan trọng để hiểu đúng mảng tài liệu Phật giáo Nhật bản hiện đại, xuất hiện trong mười năm gần đây rất đa dạng về thể loại và khuynh hướng. Toàn bộ tài liệu Phật giáo hiện đại có thể phân thành hai loại: Phần thứ nhất gồm những tài liệu về học thuyết và lịch sử các tông phái vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay. Phần thứ hai là các nghiên cứu về Phật giáo cổ đại Ấn độ với tư cách là cơ sở của Phật giáo hiện đại. Trừ những kinh quan trọng nhất, đại đa số các tác phẩm Ấn độ chỉ có ý nghĩa lịch sử. Cái thực tế đang tồn tại ở Nhật bản đã xuất hiện vào giai đoạn tương đối muộn ở Trung quốc và Nhật bản. Bởi vậy, không nên quá tin vào các công trình Nhật bản nghiên cứu về Phật giáo Ấn độ. Trong các tài liệu hiện đại về Phật giáo của Nhật bản xuất hiện hai trường phái - trường phái cũ và trường phái mới. Các tác giả và những người ủng hộ trường phái mới luôn phê phán những người thuộc trường phái cũ ở chỗ họ không chú ý tới những nhu cầu của đời sống ở nước Nhật mới, mà chỉ say sưa với tính kinh viện và chủ nghĩa duy lý của Phật giáo. Những người ủng hộ truyền thống chỉ ra rằng muốn đổi mới và dùng cái cũ thì cần phải nghiên cứu và biết về nó, và đừng quên rằng trong truyền thống ẩn dấu cái sức mạnh không thể coi thường được. Có hai khuynh hướng như vậy, cho đến nay, đã không nhất trí đối với Phật giáo Ấn độ cổ đại và việc nghiên cứu nó. Trường phái mới của triết học Phật giáo chịu ảnh hưởng của ngành Ấn độ học Âu châu do giáo sư Nandzio đưa vào Nhật bản 25 năm trước. Việc nghiên cứu ngôn ngữ Sanskrit tiến triển rất chậm. Các Phật tử Nhật bản học tiếng Sanskrit ở Âu châu, còn những học trò của họ vừa không được nhiều vừa thờ ơ với những từ ngữ mà họ cho là không cần thiết đối với Nhật bản. Các Phật tử của trường phái cũ chê họ là đã bị cuốn hút bởi văn học Âu châu, và như vậy là đã bị cắt đứt với những truyền thống sống động. Các nhà đại diện của triết học Ấn độ chỉ với nỗ lực to lớn mới giành được sự thừa nhận. Bây giờ ngôn ngữ Sanskrit được nói tới trong tất cả semina Phật giáo lớn. Tuy nhiên, cho đến nay, khối lượng giáo trình và những kết quả đạt được ở Nhật không thể so với tình hình nghiên cứu Ấn độ ở Âu châu, nhưng đã tạo ra cơ sở cho việc xích gần Ấn độ với Nhật bản. Do tình hình như vậy nên, các đại diện của trường phái mới đành phải đi tới một sự thỏa hiệp. Thoạt đầu, để đáp lại những gì mà trường phái cũ nói về mình, họ không thừa nhận những giá trị của truyền thống, coi lời lẽ của nhà phê phán không biết tiếng Sanskrit là không đáng chú ý và cho rằng chỉ có trường phái mới mới thực sự biết Phật giáo vì trường phái đó có hiểu biết triết học Ấn độ và nghiên cứu văn bản nguyên gốc. Dần dà thời gian đã chứng tỏ các nhà đại diện truyền thống đã đúng vì tri thức ngữ văn không bao giờ có thể thay thế truyền thống triết học được. Trong lĩnh vực này, trường phái cũ, dĩ nhiên, có một nguồn tài liệu phong phú hơn là các văn bản tiếng Trung quốc được hệ thống hoá, còn trường phái mới chỉ nghiên cứu các mẫu văn bản vụn Sanskrit đã mất mát, mà lại qua tài liệu Âu châu. Để dựng nên các hệ thống Phật giáo Ấn độ ở thời kỳ phát triển rực rỡ nhất, truyền thống Nhật bản – Trung quốc cổ có giá trị hơn là tài liệu của trường phái mới nghiêng về chủ nghĩa triết chung, san bằng những khác biệt của các tông phái và tóm lược luận chứng kinh viện. Những người cách tân không phản đối cái đó. Mặt khác trường phái cũ bắt đầu ý thức được rằng để hiểu về triết học Ấn độ, không thể thiếu tri thức Sanskrit và triết học Ấn độ được. Vì vậy đã tạo ra khả năng hợp tác. Kết quả của việc hợp tác đó trong việc nghiên cứu triết học Ấn độ đã đạt được cái điều mà ngành Ấn độ học ở Âu châu hy vọng là muốn có sự tham gia của các nhà Phật tử bác học Nhật bản. Tuy nhiên, chưa có thể chờ đợi những người Nhật bản, khi nào đó, sẽ thiên về hay có khả năng trình bày những kết quả trong các công trình bằng các ngôn ngữ Âu châu. Bởi lẽ, để truyền đạt các thuật ngữ Phật giáo cho đến nay không có thuật ngữ chung được thừa nhận không chỉ bằng các ngôn ngữ Âu châu mà cả bằng ngôn ngữ Nhật bản. Những người Nhật bản dùng những câu Trung quốc cũng giống như chúng ta dùng những câu Hy lạp, và không thể đòi hỏi người Nhật chuyển các câu này sang các thuật ngữ tiếng Anh hoặc thứ tiếng Âu châu khác. Công việc như vậy là quá khó, vì tính phức tạp của hệ thống thuật ngữ Phật giáo. Vẫn là một lối thoát có hiệu quả nhưng giản đơn hơn: Để nghiên cứu Phật học theo nguồn tài liệu trung quốc cần phải học tiếng Nhật. Việc nắm được tiếng Nhật đối với các nhà ngữ văn Âu châu còn dễ hơn nhiều là việc học viết bằng một trong những ngôn ngữ Âu châu đối với các bác học Nhật bản. Ngoài ra, cả một nguồn phong phú về tài liệu sẽ được mở ra khi có hiểu biết tiếng Nhật, chỉ vì một phần không đáng kể các tài liệu đó có thể chuyển sang các ngôn ngữ Âu châu. Dĩ nhiên, đối với nhà Ấn độ học đã có hiểu biết về triết học và khoa học Âu châu sẽ cực kỳ dễ dàng làm một tuyển tập những tài liệu nào cần thiết, mà người Nhật còn chưa làm. Cần phải nhìn thấy một loạt những đặc điểm trong phương pháp của những nhà bác học Nhật bản thuộc cả hai trường phái cũ và mới, khi nghiên cứu tài liệu hiện có để làm cơ sở cho việc nghiên cứu Phật giáo Ấn độ theo những nguồn tài liệu Nhật bản. Các tác giả Âu châu khi sử dụng tài liệu Nhật bản, dù cả hai có sự giúp đỡ của những dịch giả, đã không chú ý đến điều đó một cách đầy đủ. Bởi vậy cần dừng lại kỹ hơn ở vấn đề đặc trưng của truyền thống và các tác phẩm mới về Phật giáo. Thật là sai lầm lớn nếu nghĩ rằng mọi sáng tác hiện đại của Nhật bản có nội dung tôn giáo như là nguồn tài liệu gốc, hay cho một quan niệm của một học thuyết nào đó đều có uy tín, vì người Nhật hay người Trung quốc đã nói đến. Nhiều tác giả đã rơi vào sai lầm này, và điều đó đã được phản ảnh qua những tác phẩm của họ. Trong hàng chục nghìn những tông phái tăng lữ khác nhau có tương đối ít những người hiểu biết thực sự về các giáo lý và kinh viện. Vẫn còn một số người hiến dâng cả đời mình cho việc nghiên cứu lịch sử giáo lý của Phật giáo và triết học Ấn độ. Sự thận trọng đặc biệt là cần thiết khi nói về các học thuyết không phải Nhật bản mà là Trung quốc hay Ấn độ cổ đại. Thứ nữa không nên quên rằng, truyền thống trực tiếp của các trường phái Ấn độ cổ xưa nhất đã chấm dứt trong một vài thế kỷ trước. Cái mà bây giờ gọi là truyền thống chỉ là phần nào truyền thống của sự phục hưng thời trung đại. Như ta đã thấy, đời sống tôn giáo và tư duy triết học vẫn còn nằm trong giai đoạn chuyển tiếp với một vài sự hỗn độn đã được nói tới trong các tài liệu phổ biến cũng như trong tài liệu khoa học phổ biến của một số nhà sư truyền đạo. Nhưng, trong các tài liệu nghiên cứu có thể tìm thấy không ít những sự bất đồng. Điều đó không có gì là lạ vì: Trong Phật giáo có nhiều vấn đề khó đã được tranh luận trong suốt nhiều thế kỷ, và ngày càng trở nên phức tạp hơn. Đây là hiện tượng chung. Ví như ở châu Âu chưa cần nói đến vấn đề của triết học Hy lạp, chỉ quanh học thuyết của Kant đã có những giải thích thật khác nhau. Không nên quên về khả năng của hiện tượng như vậy khi nghiên cứu văn bản phương Đông. Nhiều khẳng định sai lầm về Phật giáo Nhật bản cũng như Trung quốc là những kết quả được rút ra từ những tài liệu không đầy đủ và không được đánh giá đúng. Vẻ ngoài của các tài liệu Nhật bản hiện nay đã đưa đến lầm lẫn như vậy. Các tác phẩm được xuất bản tốt và có bìa ngoài như các sách vở của phương Tây. Nhưng những người am hiểu Phật giáo lại không phê phán một tác phẩm nào trên các tạp chí cả. Tuy nhiên, không nên quên rằng nền khoa học Nhật bản, đặc biệt là ngữ văn học cho đến nay vẫn còn khác xa so với Âu châu về mặt phương pháp và cách làm. Những người có hiểu biết về tài liệu gốc cổ đại thì ít hoặc hoàn toàn không quan tâm theo dõi những nghiên cứu mới. Họ càng ít quan tâm hơn đến các tác phẩm do người Nhật viết bằng tiếng châu Âu, dùng cho người châu Âu. Bởi vì trong đại đa số trường hợp những đại diện của trường phái cũ hoàn toàn không biết ngoại ngữ. Thậm chí dù có đọc một tác phẩm tồi, nhà bác học của trường phái cũ cũng không lên tiếng phê phán vì chê một tác phẩm không nổi tiếng sẽ làm cho phẩm chất của mình bị hạ thấp, còn công kích bạn bè vì tác phẩm không thành công là bất nhã. Những người Nhật bản khó quen được với tư tưởng phê bình khách quan. Mọi sự phê phán, theo ý kiến họ, đều là sự xúc phạm. Tất nhiên quan điểm như vậy ngăn cản mạnh mẽ sự trao đổi các ý kiến. Ngoài ra các nhà học giả của trường phái cũ lập luận như sau: Muốn hiểu đúng đắn Phật giáo cần phải nghiên cứu trên cơ sở những tài liệu gốc, tức các văn bản Trung quốc. Những công trình của người Nhật được nhắc tới nhiều nhất ở Âu châu là: “Danh mục” của giáo sư Nandzio, các bản dịch “Lược khảo 12 tông phái” bằng tiếng Anh của giáo sư Nandzio, bằng tiếng Pháp của Phudzisima và những công trình của Suzuki chủ yếu là lược giải về Đại thừa. “Danh mục” của giáo sư Nandzio dù có những công hiến lớn, nhưng vẫn có một thiếu sót lớn: Không nhắc gì đến các tác phẩm chú giải của Trung quốc cũng như Nhật bản, vì thế mà “Danh mục” đã gây ra một ấn tượng cho rằng để nghiên cứu tài liệu dịch Phật giáo chỉ cần sử dụng các phẩm kinh điển Trung quốc là đủ. Các bản dịch “Lược thảo 12 tông phái” bằng tiếng Anh và tiếng Pháp cũng không biểu hiện sự hiểu biết của những dịch giả với tri thức sách vở truyền thống. Các thuật ngữ được chuyển nguyên từ đối từ chứ không có những giải thích, không có những trích dẫn tài liệu gốc. Các bản dịch “Lược thảo 12 tông phái” không thể được xem là tài liệu gốc để nghiên cứu Phật giáo Nhật bản. Suzuki trong “Lược thảo về đại thừa” hướng trực tiếp đến công chúng Âu châu với khuynh hướng biện hộ khó rõ. Tác giả là giáo viên tiếng Anh và có quan hệ với một thiền phái trực giác thần bí của Nhật bản. Mặc dù có những thiếu sót và không chính xác, cuốn sách của Suzuki là cực kỳ hay, và như tác phẩm phản ánh quan điểm của nhiều người Nhật bản có giáo dục quan tâm đến Phật giáo. Về hiện trạng của Phật giáo và truyền thống Phật giáo ở Trung quốc chỉ được xem xét trên cơ sở những tài liệu quá ít ỏi. Hiển nhiên là Phật giáo ở Trung quốc đang trong tình trạng suy sụp, và hoạt động của nó không thể so với tính tích cực của Phật giáo ở Nhật bản. Thực tế, có nhiều chùa lớn đã thu hút hàng nghìn nhà hành hương. Điều đó chỉ ra rằng, trong quần chúng nhân dân đông đảo, những hình thức giản đơn bình thường của Phật giáo đang sống cho đến ngày nay. Tuy vậy, Phật giáo ở Trung quốc đã không bao giờ và không có thể có ảnh hưởng như ở Nhật bản. Nền giáo dục Trung quốc không có quan hệ với Phật giáo, trong khi đó ở Nhật bản, trong vòng nhiều thế kỷ, các chùa Phật giáo chính là các lò giáo dục. Trong lịch sử giáo dục Nhật bản, các Phật tử chiếm một vị trí tôn kính, và ngày nay, vị trí đó không mất đi. Không ít những giáo sư và những nhà hoạt động giáo dục hiện nay ở các trường cao đẳng xuất thân từ giới tu hành, hay có quan hệ nào đó với Phật giáo. Ở Trung quốc lịch sử giáo dục không liên quan với lịch sử Phật giáo. Về các tông phái Phật giáo ở Trung quốc hiện đại có thể xét đoán theo lược khảo ngắn gọn giống như “Lược khảo 12 tông phái” của Nhật bản đã nhắc đến ở trên, được Garmann dẫn ra trong văn bản dịch. Trong lược khảo này cũng như trong công trình mới nhất về Phật giáo Trung quốc “Buddhist China” của Jonston, đã chỉ ra các tông phái hiện có ở Trung quốc:Tông phái thờ Phật Adiđà và tông phái trực giác thần bí-thiền. Điều này chứng tỏ ở Trung quốc các tư trào tôn giáo và siêu hình thuần túy đóng vai trò chủ đạo. Như vậy, một cách nghiên cứu Phật giáo đã được hình thành với sự hỗ trợ của những tài liệu Nhật bản cần tìm ra truyền thống thực của Phật giáo Trung-Nhật. Trên cơ sở đó, kết hợp với những tài liệu bằng tiếng Sanskrit và củaTây tạng, chúng ta có thể tìm ra nội dung của văn bản Phật giáo Ấn độ. Đến lượt mình, tài liệu Phật giáo Ấn độ lại cho ta khả năng tiến hành xem xét một cách phê phán đối với văn bản Trung quốc và Nhật bản. Cuối cùng chúng ta sẽ làm sáng tỏ một hiện tượng văn hoá – Tôn giáo đã liên kết Ấn độ với Đông Á và đã đóng một vai trò to lớn đối với sự phát triển của Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Không thể nghiên cứu văn hoá các nước này mà thiếu hiểu biết về Phật giáo, cũng như không thể không biết về triết học về Hy lạp và Thiên chúa giáo khi nghiên cứu văn hoá châu Âu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét