THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
văn bia thời LÝ
Văn bia thời Lý - Trần: Một số nét cơ bản về thể thức - nội dung - nghệ thuật
Khái niệm văn bia như đã xét, chỉ bài văn được khắc trên bia đá. Tuy nhiên, cũng là bài kí cùng loại, ở những dạng thức tồn bản khác nhau có thể mang những tên gọi không hoàn toàn tương đồng. Chẳng hạn khi được khắc vào vách đá nó được gọi là ma nhai hoặc khắc thạch, khi được khắc vào chuông được gọi là chung minh... Bia dựng ở tháp gọi là tháp bi, bia mộ gọi là mộ bi, mộ chí, mộ biểu, thần đạo bi...
Tại Việt Nam, khi nghiên cứu về văn bia, các nhà nghiên cứu thường nhóm vào một khái niệm rộng hơn, đó là văn khắc. Văn khắc là khái niệm dùng chỉ các tác phẩm được khắc trên các chất liệu cứng như đồng, đá, gốm, gỗ... bao gồm nhiều thể loại khác nhau, có thể là một bài thơ, một câu đối, hoặc giả có thể là một bài kí dài. Khái niệm văn khắc gợi mở về trạng huống tồn tại, phương thức tạo tác văn bản hơn là định danh thể loại văn học.
Văn bia (bi văn) là thuật ngữ dùng chỉ văn từ được trình bày trên bia đá. Xét về nguồn gốc, bia vốn là phiến đá, trụ đá, hoặc tấm gỗ dựng trước cung thất, hay tông miếu để đo bóng mặt trời, từ đó xác định thời gian, có khi được dùng để buộc các con vật tế. Thoạt tiên bia không có chữ. Loại bia có chữ được các nhà kim thạch học gọi là khắc từ bi (bia khắc văn từ), chỉ xuất hiện vào thời Đông Hán(1). Ta quen gọi loại này là văn bia. Văn bia có thể được định danh bằng nhiều cách khác nhau như bi kí, bi chí, bi minh tính tự... Muốn hiểu thể thức của văn bia cần truy về ngọn nguồn của nó. Dạng thức của văn bia có nguồn gốc từ các bài minh thời Ân - Chu. Vào thời Ân - Chu, người ta khắc chữ trên các vật dụng bằng đồng để ghi chiến công hay sự việc, phần văn từ đó được gọi là minh. Muộn hơn, người ta chuyển sang khắc chữ trên chất liệu đá, đó là kiểu thức mà Lưu Hiệp gọi là “Dùng đá thay đồng, lưu truyền bất hủ” (Dĩ thạch đại kim, đồng hồ bất hủ. Văn tâm điêu long - Muội bi). Tuy có sự thay đổi về chất liệu tạo tác văn bản, song theo thói quen, người ta vẫn gọi đó là minh. Văn từ khắc trên đồ đồng thời Ân - Chu là các bài văn vần, khá ngắn gọn; cho đến dạng thức khắc thạch của thời Tần vẫn bảo lưu được thể thức này (thường dùng thể thơ 4 chữ, 3 câu gieo vần một lần). Từ thời Hán trở đi (Đông Hán), văn từ khắc trên đá có sự thay đổi lớn về thể thức. Tuy phần nhiều các bài vẫn bảo lưu được phần minh có gốc gác cổ xưa, song trước bài minh thường có thêm một bài văn, thuộc thể kí; có thể được viết bằng biền văn hoặc tản văn, dùng để trình bày lại sự việc. Bài minh phía sau về cơ bản dùng để tổng kết sự việc đã trình bày ở trước đó, thêm lời ca tụng, được viết bằng văn vần. Bài kí phía trước thường được định danh là kí, tự hoặc chí. Kí (tự, chí) và bài minh, tuy là hai phần, song vẫn thuộc vào một bài văn bia thống nhất, trở thành định cách phổ biến của dạng thức văn bia. Như vậy, về kết cấu tổng thể của một bài văn bia, thông thường gồm hai phần: kí (chí, tự) và minh. Các văn bia thời Lí hiện còn cũng không nằm ngoài thông lệ đó(2).
Khái niệm văn bia như đã xét, chỉ bài văn được khắc trên bia đá. Tuy nhiên, cũng là bài kí cùng loại, ở những dạng thức tồn bản khác nhau có thể mang những tên gọi không hoàn toàn tương đồng. Chẳng hạn khi được khắc vào vách đá nó được gọi là ma nhai hoặc khắc thạch, khi được khắc vào chuông được gọi là chung minh... Bia dựng ở tháp gọi là tháp bi, bia mộ gọi là mộ bi, mộ chí, mộ biểu, thần đạo bi... Dù vậy, hình thức thể loại về căn bản không có sai khác lớn. Như vậy, thuật ngữ văn bia, hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm các bài kí được dùng để khắc trên bia đá, ma nhai, chuông, khánh... Thuật ngữ văn bia trong bài viết này cũng được sử dụng theo nghĩa rộng đó.
1. VĂN BIA THỜI LÍ
Sơ bộ thống kê qua Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, phần ghi về thời nhà Lí, có đến khoảng 40 lần nhắc đến việc xây chùa dụng bia, xây tháp, đúc chuông... Đáng tiếc qua thời gian lâu dài cùng nhiều biến động lịch sử khác nhau, văn bia thời Lí bị mai một khá nhiều, số lượng tác phẩm hiện còn rất ít. Thống kê trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập I: Từ Bắc thuộc đến thời Lí (Sách do Viện Viễn đông bác cổ Pháp và Viện Nghiên cứu Hán Nôm đồng phối hợp thực hiện, Paris-Hà Nội, 1998), tổng số các tác phẩm văn khắc (chủ yếu là văn bia) gồm 17 tác phẩm. Trừ Trăn Tân từ tích đã được chứng minh là bia của giai đoạn khác(3), số còn lại là 16. Gần đây, tuy có phát hiện thêm một số văn bia thời Lí, chẳng hạn Minh Tịnh tự bi văn (Văn bia chùa Minh Tịnh), nhưng số lượng nhìn chung chỉ dao động ở con số trên dưới 20 tác phẩm.
Văn bia thời Lí có thể chia làm 2 loại chính: bia công trình (hoặc giả cũng có thể gọi là bia hưng công, bia tín thí) và bia mộ. Các bia công trình về cơ bản đều gắn với Phật giáo, đặc biệt là việc xây dựng các ngôi chùa. Vào giai đoạn này, Phật giáo phát triển mạnh, chùa Phật được dựng lên khắp nơi, được triều đình phân làm các hạng khác nhau(4). Các văn bia thời Lí hiện còn phần nhiều gắn với những ngôi chùa quan trọng, liên quan tới giới quý tộc, quan chức hoặc các thiền sư có uy tín. Bia mộ thời Lí hiện còn 3 tác phẩm, đều thuộc loại mộ chí(5).
Trong số 16 tác phẩm kể trên, ngoài 5 tác phẩm khuyết danh (~ 31%), tác giả các văn bia còn lại có thể phân làm 2 nhóm chính: nhóm 1, gồm các tác giả thuộc giới tăng lữ (4 tác giả, 25%); nhóm 2, gồm các tác giả thuộc giới quan chức đương thời (7 tác giả, ~ 44%). Như vậy (không tính các tác giả khuyết danh), tác giả văn bia thời Lí gồm 2 nhóm: tăng lữ và quan chức. Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối, vì có tác giả thuộc giới tăng lữ như Giác Tính Hải Chiếu đại sư (tác giả của Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh, và Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh), song đồng thời làm việc dưới quyền điều khiển trực tiếp của Lí Thường Kiệt, phụ trách việc giáo môn ở trọng trấn Cửu Chân. Xem thế đủ biết ông cũng là một người thuộc giới tăng quan đương thời, không chỉ thuần túy là một nhà tu hành bình thường. Các tác giả thuộc giới quan chức phần nhiều đều có địa vị khả quan, đôi khi địa vị rất cao. Chẳng hạn Nguyễn Công Bật (tác giả của Đại Việt quốc Lí gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi) làm quan đến Thượng thư bộ Hình dưới thời Lí Nhân Tông (1072-1128). Tác giả văn bia thời Lí (và cả thời Trần) sống trong thời đại hỗn dung Tam giáo, dù là tăng hay tục đều tỏ ra có kiến thức sâu sắc và quảng bác. Trong văn bia chùa Báo Ân núi An Hoạch, Chu Văn Thường không những chỉ chứng tỏ là người am hiểu về kiến thức Phật môn, mà còn thông tường Nho học. Nhân nói về Lí Thường Kiệt, tác giả viết: “... Tiết tháo được thể nghiệm nên dân quy phụ, vậy mà vẫn luôn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn” (An Hoạch sơn Báo Ân tự bi kí). Đoạn văn rõ ràng đã dẫn dụng câu chữ trong các kinh điển Nho gia (thơ Tiểu mân, thuộc phần Tiểu nhã, Kinh Thi có câu: “Chiến chiến căng căng/ Như lâm thâm uyên/ Như lí bạc băng”, nghĩa là: Run rẩy dè dặt, như xuống vực sâu, như dẫm trên băng mỏng. Thiên Ngũ tử chi ca trong Kinh Thư viết: “Dư lâm triệu dân, lẫm hồ nhược hủ sách chi ngự lục mã”, nghĩa là: Ta cai trị muôn dân, sợ hãi như cầm dây cương mục mà điều khiển cỗ xe lục mã). Nhà sư Giác Tính Hải Chiếu trong văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn cũng viết: “Cái mà kẻ trí và người nhân yên thích là núi và sông”, dẫn ý câu “Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn” trong sách Luận ngữ. Kiến thức sâu sắc, quảng bác và sự năng văn là đặc điểm quan trọng của các tác giả văn bia thời Lí - Trần, đặc điểm đó đem đến cho văn bia giai đoạn này không chỉ là cái ý vị riêng mà còn là thành tựu nghệ thuật rất cao khiến các giai đoạn sau không dễ theo kịp.
Văn bia thời Lí là nguồn tư liệu quý, có giá trị về nhiều phương diện. Một văn bia hoàn bị là sự thống nhất của nhiều loại hình nghệ thuật trong một chỉnh thể, chí ít là sự kết hợp của 3 trong một, bao gồm: văn chương, hội họa và điêu khắc. Do vậy, cái mà ta gọi là tìm hiểu nội dung và thủ pháp nghệ thuật của văn bia thời Lí đang đề cập ở đây chỉ là tiếp sự cận dưới góc độ văn học, cụ thể là tìm hiểu nội dung và thủ pháp nghệ thuật của bài văn bia mà thôi.
Tìm hiểu nội dung, nghệ thuật văn bia thời Lí không thể tách khỏi bối cảnh xã hội đương thời và quan niệm của triều đình trung ương về vai trò của Phật giáo trong công cuộc cai trị đất nước. Trước thời Lí, Phật giáo đã xác lập được vị trí khả quan trong xã hội. Lí Thái Tổ, vị vua sáng nghiệp triều Lí, vốn xuất thân từ cửa Thiền, rất mực tôn sùng đạo Phật; điều này được các vị vua sau đó kế thừa và phát huy, khiến thời Lí trở thành giai đoạn phát triển huy hoàng của Phật giáo. Truyền thống đó kéo dài chí ít đến giữa thời Trần.
Nhà Lí coi Phật giáo là quốc giáo, trên nền tảng tư tưởng Phật giáo để dung hòa các học thuyết khác, trong đó có tư tưởng Nho gia. Nếu nhà nho cho cái tính trong tâm người là thiện, là trong trẻo và thuần thành vì nó có nguồn gốc tiên thiên, là thiên lí ở trong tâm, do khí bẩm vật dục che lấp mà trở nên mờ tối, khiến cho nhân nghĩa bị sung tắc, hành vi của con người cũng vì thế mà trở nên lầm lạc… thì nhà Phật cho rằng người người đều có Phật tính, là tính hướng thiện, tính giác ngộ. Quan niệm về bản tính con người của hai học thuyết này rõ ràng có điểm tương đồng. Văn bia chùa Báo Ân núi An Hoạch viết: “Phật có sắc vàng, cũng như người ta có Phật tính, nhưng không mấy ai tự giác, tự ngộ được. Người muốn chứng ngộ thì phải dựa vào thiện duyên”. Phần Tỉ dụ phẩm trong kinh Pháp hoa nhắc đến đứa “Cùng Tử”, trong mình có viên ngọc châu quý giá mà không hay biết, đến nỗi phải trải qua vô vàn khổ nhục. Trần Nhân Tông từng khuyên người ta rằng: “Trong nhà có của báu, chẳng cần phải tìm kiếm ở đâu xa xôi” (Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch - Cư trần lạc đạo phú)… thảy đều để nói Phật tính là cái vốn có trong con người, nhưng người ta vì vô minh mà không thấy được nó, nên nỗi ngày một xa rời chân tính, đắm chìm trong bể ái nguồn mê. Chính vì lí do ấy, Phật Thích Ca ở nơi vô tịch của không tướng, xót nỗi luôn hồi của chúng sinh, nên đã giáng thế, dùng sự giáo hóa của mình như một thứ thiện duyên để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi bể khổ mà trở về miền lạc quốc. Cái gọi là lạc quốc chính là chỉ đất nước của sự an lạc, đất nước của những con người giác ngộ. Sau khi Phật đã nhập diệt, sự cai trị của triều đại với ông vua tôn sùng Phật giáo (như thời Lí) có gì khác hơn là phải đảm nhận vai trò của cái thiện duyên, phải “đặt chúng dân vào nơi lạc quốc” như Nguyễn Công Bật đã chỉ ra trong Đại Việt quốc Lí gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, phải khiến cho người người hướng hóa, tức là biến quốc gia của mình thành một lạc quốc giữa miền nhân gian. Như vậy, ông vua của triều đại tôn sùng đạo Phật thì đồng thời kiêm chức năng như một vị Phật. Chính vì lí do trên, trong văn bia thời Lí, có một sự nhập thân cục bộ giữa ông vua và đức Phật.
Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh mô tả Lí Nhân Tông như một vị vua, lại giống một vị Phật, một ông vua Phật. Khi mà mẹ thụ thai nhà vua, phụ hoàng ông nằm mộng thấy “nước ngoài dâng voi trắng sáu ngà”, hệt điềm lành ứng mộng khi đức Phật được thụ thai. Rồi khi nhà vua được sinh ra, “khí mừng vút thẳng trời xanh, hương lạ ngạt ngào cung cấm”. Ông vua ấy không chỉ có tướng mạo đường đường xuất chúng của đấng thánh vương: “Ngươi rồng mắt phượng, trong ngọc trắng băng. Mắt trong mà xanh trắng rõ ràng, khác con mắt hai ngươi đế Thuấn; tai đẹp mà vành tai rộng, chê cái tai ba lỗ Hạ vương”, mà còn có những tướng tốt của đức Phật: “dáng người vạm vỡ, bàn chân đầy đặn”. Cho nên dưới thời Lí, việc dựng chùa dường như được xem là biểu hiện của sự tôn sùng Phật giáo, báo đáp ơn vua, đồng thời cũng là nhắm vào ý đồ cố kết nhân tâm, vun bồi phong hóa… cầu chúc cho đức vua trường thọ, mệnh mạch quốc gia được lâu dài.
Việc dựng chùa dưới thời này, nhất là các chùa lớn đều do chủ trương của nhà nước, có khi do nhà vua, triều đình tiến hành, có khi do các quan chức cấp cao thực hiện. Chẳng hạn như việc dựng chùa tháp ở núi Long Đội là do triều đình nhà Lí, mà đứng đầu là Lí Nhân Tông chủ trương. Việc dựng chùa Ngưỡng Sơn ở núi Linh Xứng do Lí Thường Kiệt khởi xướng. Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh do Thông phán Chu Công, đương thời là quan trấn thủ tại quận Cửu Chân, Thanh Hóa trùng dựng. Do mục đích của việc dựng chùa gắn với ông vua, với thể chế cai trị đương thời nên tên gọi của chúng đôi khi đã ngụ ý tung hô triều đại, báo ơn nhà vua (chẳng hạn tên các chùa: Báo Ân (báo ơn [nhà vua]), Sùng Nghiêm Diên Thánh (tôn sùng sự uy nghiêm, [cầu cho] bậc thánh quân kéo dài tuổi thọ…). Nó cũng đồng thời giải thích tại sao trong các văn bia thời Lí - Trần, cuối phần tự sự thường xuất hiện các câu như: “Nguyện chúc hoàng thượng ngự ngôi báu đời đời; giữ gương huyền mãi mãi. Phận dẫu chỉ là bề tôi giữ đất; vẫn mang chí mong được gần trời. Thứ chúc quận quân, nương đạo cùng con gái, con trai: gái thì trọn đạo vu quy, đá vàng chung thủy; trai thì hết lòng phụng dưỡng, tùng bách xanh tươi...” (Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi). Thông phán Chu công dựng chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh nhằm mục đích “chúc tụng quốc vận dài mãi”. Không chỉ dừng ở việc cầu phúc cho nhà vua và triều đại mà còn cho khắp lượt chúng dân: “Xin chúc thánh vận phồn thịnh, ứng đất trời mà phụ hóa; hoàng đồ dài mãi, hưởng phúc lớn muôn đời. Năm hành thuận tự, bảy chính tề cơ, đầy kho ứ đụn, biên cảnh yên vui. Thứ đến chúc cho bọn người có duyên cùng Phật pháp: thân sinh năm phúc, sông cạn nào sai; muôn kiếp hai nhân, trâm rơi chẳng mất. Cho tới khắp trong cả nước, cả những bọn xuẩn động, tắm nhân duyên này, chứng vô sinh nhẫn” (Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh).
Văn bia thời Lí, xét về hình thức kết cấu, trừ một vài trường hợp cá biệt, ngoài ra đều gồm 2 phần kí (chí, hoặc tự) và minh theo đúng dạng thức của thể loại. Riêng các bia chùa, trên đại thể, phần kí (chí, tự) có thể chia làm 3 phần nhỏ hơn: mở đầu phần kí, đồng thời cũng là mở đầu của văn bia, tạm gọi là phần “thuyết lí - duyên khởi”, tiếp đến là phần miêu tả nhân vật, sau rốt là miêu tả quá trình xây dựng công trình và hình tượng công trình sau khi đã hoàn tất.
Phần thuyết lí - duyên khởi thường ca tụng sự nhiệm màu của đạo, thuyết giảng giáo nghĩa Phật môn như các phạm trù “không” và “hữu”; khi nói quan hệ giữa “nhất” và “chân”, lúc bàn quan hệ giữa “muôn” và “một”; khi thì giảng cứu về “núi Pháp”, “bể Thiền”; lúc lại đề cập đến “thường”, “lạc”, “ngã”, “tịnh”. Trong phần thuyết lí - duyên khởi này, các tác giả cũng không quên nói đến sự giáng thế, cái quyền năng vô lượng và công lao phổ độ chúng sinh của đức Phật, đấng giác ngộ toàn năng, bởi cảm thương chúng sinh ngu tối, niềm dục tuôn trào như bể, sân si chứa chất nên non. Cho nên ngài đã xuất hiện để mở rộng cửa giác ngộ, nêu tỏ nghĩa diệu huyền; dập tắt ngọn lửa núi ngờ rừng rực, lắng ngọn triều bể ái mênh mông, mở cửa phương tiện, thức ngộ chúng sinh, khiến cho họ không xa rời bản tính tốt đẹp của mình, biết hướng về điều chân điều thiện. Cũng trong phần này, các văn bia đặc biệt nhấn mạnh đến giai đoạn tượng pháp – sau giai đoạn chính pháp, đức Phật đã nhập diệt - cho rằng lúc này, “điều đáng tham cứu không có gì lớn hơn tượng pháp, mà sùng thượng tượng pháp không gì bằng chùa chiền” (An Hoạch Báo Ân tự bi kí). Từ làm rõ đặc trưng của giai đoạn tượng pháp, các tác giả văn bia thời Lí đã xác lập cơ sở lí luận, biện minh cho tính hợp lí của việc dựng chùa; lại từ chỗ khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của chùa chiền trong thời kì tượng pháp, đi đến đề cao công lao của các thí chủ đã phát tâm cúng dàng cửa Phật. Điều này cũng giúp lí giải nguyên nhân tại sao ở phần tự sự tiếp sau, hình tượng các vị thí chủ và phong cảnh ngôi chùa sau khi hoàn thành lại được các tác giả dụng công miêu tả đến mức kì khu như vậy.
Tiêu biểu cho phần thuyết lí - duyên khởi, trong bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh, sư Giác Tính Hải Chiếu viết: “Phật tổ soi tỏ cái thực mà chỉ thẳng chữ tâm; Thánh nhân thích ứng theo thời mà thông suốt muôn biến. “Muôn” là sự phân tán của “một”; “một” là cội gốc của “muôn”. Đến như các bậc hiển thánh thỉnh thoảng ra đời, khuôn phép thay nhau dấy lên. Nhóm cái đã phân tán để đưa nó về cội gốc; ôm cái “một” để thâu tóm cái “muôn”. Tạc nên hình tượng là biểu thị “sự thâu tóm”; dựng nên đền tháp là để biểu hiện “sự hướng về”. Hết tâm sức để kinh doanh; bỏ châu ngọc mà không tiếc. Cho nên đường thì đặt ranh giới bằng giây vàng; hiên thì phô sự quý giá của rèm châu. Tuy rằng hết đỗi trang nghiêm, mà vẫn không hề xa xỉ. Bởi mục đích là để tìm cái “nhất” và cái “chân”, chứ đâu phải chỉ cốt làm cho tấm lòng và con mắt chói lòa mà khoe khoang sự tráng lệ vậy”. Đoạn văn thuyết lí tinh vi, không những chỉ rõ mục đích xây dựng chùa, chức năng to lớn của nó mà còn phác họa sự phân công giữa Phật và Thánh, ít nhiều đã mang tư tưởng dung hòa Nho - Phật trên nền tảng Phật giáo.
Cảm hứng chủ đạo của phần thuyết lí - duyên khởi là thuyết giảng và ca tụng, dựng nên những quan niệm như là những nguyên lí hiển nhiên cho sự hồi hướng Phật môn của các thí chủ cũng như sự tôn sùng tượng pháp, từ đó dẫn nhập vào phần tự sự tiếp sau. Trong văn bia thời Lí, đây là phần được viết một cách uẩn súc, uyên bác, giàu chất lí luận nhất; sử dụng nhiều điển tích Phật giáo cũng như những kiến thức về Phật học nói chung.
Các bia mộ chí không có phần thuyết lí - duyên khởi này, hoặc giả nếu có thì chỉ dùng một vài sự so sánh ngắn gọn rồi đi thẳng vào nội dung chính - phần chí.
Phần tự sự là phần chính yếu của một bài văn bia. Trong văn bia thời Lí, phần này nối tiếp ý tứ của phần thuyết lí – duyên khởi, trình bày lại một cách tỉ mỉ nguyên ủy và diễn tiến của sự việc. Chẳng hạn nói việc dựng chùa thì trình bày từ việc chọn đất, phương vị tọa lạc đến việc huy động nhân công, các khâu chế tác, lễ khánh thành, quang cảnh ngôi chùa khi đã dựng xong. Cùng với việc tường thuật lại quá trình xây dựng chùa, các tác giả văn bia cũng không quên nhắc đến vị thí chủ đã phát tâm cúng dàng cho cửa Phật, khiến cho lương nhân được đầy đủ, công đức được vẹn tròn; coi việc làm đó là “bắt chước dấu vết thơm tho của Ưu Điền, A Dục; phỏng theo tung tích sót lại của Ma Đằng, Pháp Lan”, là những người có công đức đặc biệt quan trọng, lớn lao trong việc hoằng dương, nâng đỡ đạo pháp, tạo phúc cho bá tính và góp công cho sự nghiệp giáo hóa của triều đình.
Nội dung chính yếu ở phần tự sự có thể phân chia là hai bộ phận: 1. viết về gia thế, công lao, hành trạng của vị thí chủ phát tâm công đức, 2. viết về quá trình xây dựng công trình.
Bia ghi việc xây dựng, công đức cho nhà chùa giai đoạn Lê - Nguyễn thường liệt kê tên tuổi của rất nhiều người, nhưng bia xây dựng công trình Phật giáo thời Lí thường chỉ gắn với một vài nhân vật nhất định, hơn nữa đều là các nhân vật quan trọng, có vị trí cao, thậm chí cao nhất trong hệ thống trính trị đương thời. Chẳng hạn chùa tháp Sùng Thiện Diên Linh gắn với vua Lí Nhân Tông (và chỉ riêng việc dựng bia này, nhà vua đã hạ sắc chỉ cho 2 bề tôi là người có vị trí cao trong giới quan chức, một người soạn bia, một viết chữ); chùa Báo Ân núi An Hoạch gắn với quan Thái úy Lí Thường Kiệt; chùa Bảo Ninh Sùng Phúc gắn với quan tri Vị Long châu, Phò kí lang, Đô tri tả vũ vệ đại tướng quân, Kim tử quang lộc đại phu, Kiểm hiệu thái phó, Đồng Trung thư môn hạ bình chương sự Hà Tông Hưng. Cũng vì thế, trong phần tự sự, tác giả các văn bia đều dành độ dài văn bản khá lớn để viết về các nhân vật này. Sự ghi chép này có thể là phác họa một cách đại quan về hành trạng nhân vật, nhưng đôi khi cũng đi rất sâu vào cuộc đời và gia thế của họ; đặc biệt trong các bia mộ chí, sự ghi chép về nhân vật hết sức tỉ mỉ. Dưới ngòi bút các tác giả văn bia thời Lí, các vị đàn việt, những con người hảo tâm, những vị “Mạnh Thường Quân” của nhà chùa cũng như các nhân vật đang yên nghỉ dưới mộ địa dần dần hiện ra, từng đường nét một, nào là gốc gác, gia thế, nào là dáng vẻ, tính tình, nào là hình tích, công lao… cho đến một lúc, sự phác họa đã đầy đủ, các nhân vật hiện ra một cách sống động, họ cơ hồ bước ra khỏi các văn bia vốn tưởng chỉ thuần túy chức năng, hiển hiện trước mắt người đọc như những nhân vật của đời thực, hiển hách giữa đời thực, thậm chí có thể siêu thực… và vì thế, các văn bia ghi chép lại họ cũng có sự thay đổi quan trọng về tính chất, không chỉ là bi kí, mà còn là tiểu truyện; nhân vật không chỉ dừng ở phạm vi của những vị thí chủ, mà là những nhân vật văn học thực sự, có đường nét, dáng vẻ, tính cách. Chính nhờ sự thành công trong nghệ thuật miêu tả và xây dựng nhân vật nên văn bia thời Lí (và cả thời Trần) giàu giá trị văn học, mang vóc dáng của các truyện kí… có thể coi là các tác phẩm truyện kí đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc (Chẳng hạn có thể coi văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh là tiểu truyện của vua Lí Nhân Tông, văn bia chùa Báo Ân núi Anh Hoạch và văn bia chùa Linh Xứng ở núi Ngưỡng Sơn là tiểu truyện về Lí Thường Kiệt, văn bia chùa bảo Ninh Sùng Phúc là tiểu truyện về Hà Tông Hưng, văn bia về Thái úy Lí công nước Cự Việt là tiểu truyện của Đỗ Anh Vũ, v.v…).
Sự miêu tả nhân vật trong các văn bia thời Lí có sự đan cài giữa bút pháp tả thực với so sánh, ước lệ và khoa trương. Văn bia chùa Thiên Phúc ở thôn Cổ Việt viết về gia thế Thái úy Đỗ Anh Vũ, dựng nên hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp và đức hạnh - mẹ của Đỗ Anh Vũ: “Bà là cháu ngoại của Pháp Thi, con gái út của vị quan trong phủ. Lúc nhỏ giữ nết chính chuyên, không ham đùa nghịch. Đã đủ bề xinh đẹp, lại lộ nét đoan trang, lời nói nhẹ nhàng, tính tình kín đáo. Đến tuổi cập kê, nên nghĩa lứa đôi với tướng công họ Đỗ. Bà thường: giữ niềm cẩn trọng, miệng không thốt lời thị phi; đem dạ bao dung, mặt ít lộ vẻ mừng giận”. Miêu tả về Đỗ Anh Vũ, khi mới lên tám tuổi thì “da dẻ mịn màng, hình dung tuấn tú”, khi mười sáu tuổi thì “cốt cách đường hoàng, phong thái ung dung”; nói tài nghệ thì “giỏi kĩ năng của Phi Yến, thông âm luật của Tần Thanh”; nói về năng lực làm việc thì “sớm khuya chẳng chút lơ là, nói làm không hề sai sót”; đến khi hai mươi bốn tuổi: “khí phách khảng khái, tài giỏi khác thường. Hiến lời phải thì hết lòng, bàn mưu hay thì tuyệt duyệt”; lại thêm tài thao lược, khéo quy công về cho nhà vua, giỏi xét đoán văn chương, tinh tường cả y thuật… Nói về con gái Đỗ Anh Vũ thì “Phong tư diễm lệ, thần thái đoan trang”. Người con nuôi thì “lục nghệ dùi mài, thi thư luyện tập. Tài thao lược của Khương Nha gồm đủ, ngón thư pháp của Trương Chi rất sành”. Văn chuông chùa Thiên Phúc núi Sài Sơn miêu tả nhân vật Từ Đạo Hạnh như một bậc chân tu đắc pháp, đức lớn của ông lan khắp chốn, khắp loài, có thể hàng long phục hổ. Bia chùa An Hoạch và Linh Xứng lại phác họa nhân vật Lí Thường Kiệt như là một trụ cột lớn của triều đình, giàu đức độ, khí lực nhổ núi, thao lược trùm đời, v.v… Khi trình bày gốc gác, gia thế, địa vị xã hội của nhân vật, các tác giả văn bia thời Lí thường dùng bút pháp tả thực; khi nói về dáng vẻ bề ngoài, tài năng, tính cách, công lao… các tác giả lại thiên về ước lệ và khoa trương. Chính vì vậy, nhân vật trong văn bia thời Lí có sự đan cài giữa yếu tố tả thực và ước lệ, vừa hiện thực vừa siêu thực, vừa gần gũi vừa cao vời, có xu hướng thần thánh hóa nhân vật của hiện thực thành những nhân vật tôn giáo, muốn dựng những con người thật có công lao trong việc cúng dàng cửa Phật thành những nhân vật gắn với chức năng nâng đỡ và hộ trì đạo pháp.
Trong tác phẩm, các tác giả văn bia thời Lí thường đứng ở vị trí của người dẫn chuyện để trình bày lại sự việc. Song đôi khi đan cài với ngôn ngữ trần thuật gián tiếp, có tác giả lại dẫn dụng nguyên văn các câu nói của nhân vật, khiến cho lời văn vừa giàu hơi thở cuộc sống, vừa ít nhiều phảng phất ý vị của dạng thức ngữ lục. Thảng hoặc có văn bia, tác giả như nhập thân vào tác phẩm, khiến lời văn có sức rung cảm mạnh mẽ. Chẳng hạn đoạn viết trong bia mộ chí Thái phó Lưu Khánh Đàm: “Ôi! Đạo thủy chung là gốc của trời đất; cơ sinh tử là máy của nhân gian. Tóc da xuống đất chừ lạnh lẽo; tinh thần về trời chừ anh linh. Đốt lò hương vàng chừ hương ngào ngạt; dâng chén ngọc châu chừ lệ máu tuôn. Trời xế bóng tà, lòng người bi thiết; đã vào mộ lăng, ngàn thu vĩnh biệt”. Lời văn khiến người đọc ngậm ngùi, cảm giác như mình đang được nghe bài văn tế đọc tại tang lễ của một vị Thái phó khả kính, suốt đời vì dân vì nước.
Bên cạnh việc xây dựng hình tượng nhân vật, các tác giả văn bia thời Lí cũng dành nhiều tâm lực vào việc miêu tả cảnh chùa. Việc xây dựng chùa tháp được ghi lại trong các văn bia khá tỉ mỉ và sống động, đặc biệt là hình ảnh ngôi chùa sau khi đã hoàn thành thường được miêu tả như một miền đất Phật, như một “điểm đến”, đáng làm hình tượng mẫu mực trong thời kì tượng pháp, là nơi để bách tính hướng về: “Cùng đem rìu búa, phát xén rừng mây. Lại chọn thợ hay, xây dựng đền tía. Đẽo gỗ rừng chan chát, chuyển quang sọt rộn ràng. Xà uốn cong cong ngỡ cầu vồng bắc nhịp, mái hiên xèo cánh như chim chóc tung bay… Trầm hương nghi ngút, bốc tới trời mây; chuông khánh nhịp nhàng, vang lừng hang động. Hoa thông xanh tốt, chiếm mãi gió từ; cờ phướn quy y, bỏ xa nhà lửa” (Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi). Lời văn biền ngẫu trong đoạn trên, đọc lên có cảm giác như phong cảnh được dàn trải một cách tuần tự. “Mái hiên xòe cánh như chim chóc tung bay”, câu văn tả cái tĩnh mà lại rất động, ngôn từ thật đã đạt đến chỗ tinh vi! Tương tự như vậy, đoạn tả cảnh chùa trong văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh cũng không kém phần ảo diệu: “Ngắm xem: rường nhà cong cong như cầu vồng sau cơn mưa quạnh quẽ nhô ra; ngói uyên ương phơi phới dưới gió như sập sè múa lượn. Nóc nhà uốn như trĩ bay xòe cánh, đấu chạm trổ như phượng múa lại chầu. Mái cong lấp lánh dưới mặt trời, hiên lượn quanh co trước gió…”. Trong đoạn văn, thủ pháp so sánh được ứng dụng khá triệt để, lời văn đẹp, giàu hình ảnh và không kém phần khoa trương. Ở đoạn trình bày công việc xây dựng công trình, các khâu trong quá trình xây dựng được tường thuật lại một cách thứ tự, chân xác, song tương tự như trong đoạn miêu tả nhân vật, đan cài trong ngôn ngữ tả thực đôi khi có cả ngôn ngữ ước lệ và khoa trương, tiêu biểu cho xu hướng đó chính là đoạn miêu tả về công trình sau khi đã hoàn thành.
Một trong những đặc điểm khá quan trọng của thể kí là ghi chép sự thực, văn bia thời Lí cũng không nằm khỏi ngoại lệ đó. Tuy nhiên, cái sự thực trong các văn bia thời Lí, nhất là phần viết về nhân vật, cần được xem xét một cách cẩn trọng vì nó có thể bị “xuyên tạc” dưới sự chi phối của lối viết khoa trương và ca tụng, lấy ca tụng làm cảm hứng và giọng điệu căn yếu. Sở dĩ có hiện tượng đó ngoài lí do các tác giả văn bia muốn xây các nhân vật chính thành nhân vật mang chức năng hộ trì và nâng đỡ Phập pháp, còn vì văn bia thời Lí đều viết về các nhân vật “tai to mặt lớn”, có uy vọng, người soạn bia thường là hạ cấp của họ. Tiêu biểu như trường hợp Đỗ Anh Vũ, theo ghi chép của sử sách, ông ta là một người cơ hội, tham dâm, có nhiều hành vi bất chính… Tuy nhiên, trong các văn bia thời Lí, Đỗ Anh Vũ lại được xây dựng thành một nhân vật cơ hồ tận thiện tận mĩ; hình tượng nhân vật đó rất giàu giá trị văn học, nhưng rất có thể không xác tín như sự ghi chép của chính sử. Điều này cũng giải thích tại sao cuối phần tự sự, các tác giả văn bia thường tỏ ra rất mực khiêm cung, kết lại phần này bằng những lời lẽ nhún nhường, kiểu: “Dĩnh Đạt tôi: học hành lẩn thẩn, bản tính ngu hèn. Thẹn nỗi không tài truyền đạt, nhưng riêng có ý họa theo. Thẹn thùng cầm bút, miễn cưỡng viết minh” (Viên Quang tự bi minh tính tự). Chu Văn Thường viết: “Tôi học tài thiển lậu, thắng sự nào hay, lạm viết lời quê, để lưu hậu thế” (An Hoạch sơn Báo Ân tự bi kí). Thiền sư Thích Pháp Bảo trong đoạn kết văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh cũng viết: “Thần thường theo phép báu, nhiều lần được mệnh, từ chối không đành, chứ đâu dám khoe khoang rằng đã truy cứu đến cùng cái nguyên do không ai lường được của công quả và thiện quả; nắm chắc được cái bến bờ ít biết tới của từ nguyên và giáo nguyên. Vậy kính cẩn trình bày lời quê, ghi chép ngày tháng” (Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh). Giọng điệu khiêm cung này thành thông lệ để kết lại phần tự sự, dẫn vào phần minh - phần cuối của một bài văn bia.
Phần minh trong các văn bia thời Lí cũng giống như các bài văn bia ở các giai đoạn khác, thường được mở đầu bằng hai chữ “minh viết” (lời minh rằng). Phần minh thông thường là tóm lược lại toàn bộ bài kí trước đó, bao gồm cả phần thuyết lí, tự sự, xây dựng, công đức của các nhân vật, thêm lời chúc tụng… được trình bày lại dưới dạng văn vần, cho dễ ghi nhớ. Phần minh trong văn bia thời Lí thường dùng thể văn vần 4 chữ, độ dài ngắn không đồng đều; cũng có bài dùng xen lẫn vừa loại 4 chữ vừa loại 7 chữ (như Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh). Tuy gốc gác của nó là sự bảo lưu từ dạng minh khắc trên đồ đồng thời cổ xưa, nhưng sự “trình bày lại” phần bài kí một cách lớp lang, nhuần nhị và có vần điệu khiến người đọc dễ liên hệ đến các bài kệ làm phần kết của các bài thuyết giảng giáo nghĩa trong sách vở nhà Phật. Tất nhiên đó chỉ là sự liên hệ tạt ngang mà thôi! Chức năng chính yếu của các bài minh trong văn bia thời Lí mang tính tụng ca. Do vậy, thông thường các văn bia gọi phần này là minh, nhưng cũng có văn bia gọi nó là “tán” (ca tụng) như đúng chức năng của nó (Xem văn bia: Cự Việt quốc Thái úy Lí công thạch bi minh tự). Tuy nhiên, do “trình bày lại” những gì đã nói ở phần trước nên xen trong tụng ca vẫn có tính chất của tự sự, chỉ có điều sự trần thuật ở đây gọn gàng và cô đúc hơn.
Trong các văn bia mộ chí phần thuyết lí được giảm thiểu. Lại nhân bia mộ chí chỉ viết riêng về người chết nên nội dung tập trung hơn. Kết cấu căn bản của chúng vẫn gồm 2 phần: chí (tự, kí) và minh. Phần chí ghi chép tên tuổi hành trạng, huân nghiệp, đức hạnh của người chết. Phần minh tụng ca công lao của họ.
Văn bia thời Lí có khi được viết bằng biền văn (như Đại Việt quốc Lí gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi), song chủ yếu đan xen giữa biền văn và tản văn; có khi được dựng ở chùa, tháp, mộ địa..., có khi được khắc trên bia đá, vách đá, hoặc chuông đồng; tác giả có thể là quan chức, nhà nho, hay nhà sư... nhưng về cơ bản đều là các tác phẩm được dụng công sâu sắc, thuyết lí tinh vi, tự sự tường tế, ngôn ngữ điển nhã, lúc tả thực, khi khoa trương, hình tượng nhân vật được mô tả sinh động… xác lập đỉnh cao trong sự phát triển của thể loại văn bia thời Trung đại, đưa thể loại văn bia vốn là thể loại văn học chức năng thành một thể loại giàu giá trị văn học nghệ thuật
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét