THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
bài văn bia lý trần
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Môn học
LỊCH SỬ BÁO CHÍ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Đề tài tiểu luận
KHẢO SÁT BÀI VĂN BIA AN HOẠCH SƠN BÁO ÂN TỰ BI KÝ
Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện
TT. THÍCH PHƯỚC ĐẠT THÍCH LỆ DANH
Điển : thế danh : NGUYỄN THANH SANG
MSSV : 8153
TP. HỒ CHÍ MINH
2012
I). LỜI NÓI ĐẦU :……………………………………..………………………..3
II. DẪN NHẬP :………………………………………………………………….4
1). Về công tác sưu tầm :…………………………………………………………..5
2). Về công tác nghiên cứu văn khắc :……………………………………………6
3). Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam :………………………………………6
III). NỘI DUNG :………………………………………………………………..8
1). CHÁNH VĂN :……………………………………………………………….8
2). PHIÊN ÂM :…………………………………………………………………13
3). DỊCH NGHĨA :………………………….…………………………………..17
4) VĂN BIA TRIỀU ĐẠI NHÀ LÝ :…………………………………………...23
5). CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA THÁI ÚY LÝ THƯỜNG KIỆT :…..24
6). PHÁT TRIỂN VÀ HƯNG THỊNH PHẬT GIÁO :……………………….25
7). TÍNH DIỆU DỤNG GIÁO LÝ NHÀ PHẬT TRONG VĂN BIA :………26
8). DẤU ẤN NGHÌN NĂM :…………………………………………………..27
IV). KẾT LUẬN :………………………………………………………………29
MỤC LỤC THAM KHẢO : …………………………………………………...31
KHẢO SÁT BÀI VĂN BIA AN HOẠCH SƠN BÁO ÂN TỰ BI KÝ
I). LỜI NÓI ĐẦU :
Văn bia du nhập vào nước ta cùng với quá trình trị nhậm của các quan lại Trung Quốc dưới thời Bắc thuộc, khi đã có hình thức ổn định kiểu trên tự dưới minh. Bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn ở Đông Sơn Thanh Hóa có niên đại Đại Nghiệp nhà Tùy (năm 618), văn bia do viên Kiểm hiệu quận Giao Chỉ là Nguyễn Nhân Khí người ở Lạc Dương, đạo Hà Nam, Trung Quốc viết, hay bia Thiên uy kính tân tạc hải phái bi dựng ở bờ kênh Thiên Uy - một địa điểm thuộc hải phận Việt Nam - có niên hiệu Hàm Thông nhà Đường (năm 870), văn bia do Bùi Hình, Chưởng Thư ký của Tiết độ sứ Giao Châu Cao Biền soạn, là những minh chứng cho nhận định này.
Có lẽ do được thừa hưởng phong khí Tùy - Đường nên đến thời Lý, văn bia đã có kết cấu rất hoàn chỉnh, không bài nào không đầy đủ cả hai thành phần tự và minh, đồng thời văn viết rất điêu luyện với bài tự và bài minh đều khá dài. Tên bia thời kỳ này thường được đề là “… bi minh” hoặc “… bi minh tính tự”, chẳng hạn Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh, hoặc Viên Quang tự bi minh tính tự v.v… Điều đó cho thấy phần minh lúc này được coi là chủ thể của văn bia, còn phần văn xuôi đóng vai trò là phần tự của bài minh. Tuy nhiên khi đọc kỹ cả hai phần minh và tự trong văn bia thời kỳ này, có thể thấy bài tự chính là bài diễn giải bài minh ra văn xuôi, hoặc nếu hiểu ngược lại thì bài minh chỉ là bài tóm tắt của bài tự.
Nhìn chung về hình thức, văn bia thường có hai dạng, một dạng mang cấu trúc gồm hai phần là trên tự (hoặc ký) dưới minh như đã nói ở trên, còn dạng kia chỉ gồm một bài ký (hoặc chí). Bài ký lại thường có cấu trúc gồm hai phần chính, là phần dẫn và phần ký sự, phần dẫn thường là một đoạn văn hay một câu văn ngắn mang tính nghị luận để dẫn dắt vào vấn đề được nêu ra ở phần ký. Phần ký là phần chính của văn bia, nêu nội dung văn bia. Tuy cũng có những văn bia không tuân thủ nguyên tắc này, nhất là những văn bia có niên đại muộn về sau, nhưng về cơ bản đều có hai phần như vậy.
Văn bia có số lượng tương đối nhiều và nội dung khá phong phú. Chính vì vậy, để dễ nắm bắt, cần phải phân biệt văn bia thành các tiểu loại khác nhau. Ở đây chúng tôi tạm phân loại văn bia theo ba nội dung chính. Một là thuật đức, ca ngợi hiền tài, nội dung này nằm trong các văn bia lăng mộ, từ đường, văn bia đề danh. Hai là ghi công, nội dung này thuộc về các văn bia công đức. Ba là ghi việc, là các văn bia nhằm ghi lại các sự việc cần ghi nhớ, hoặc như các loại giao kèo, khế ước v.v… Dưới đây xin được nói riêng về từng loại:
II. DẪN NHẬP :
Trải hàng ngàn năm lịch sử, người Việt Nam đã sử dụng chữ Hán và chữ Nôm để sáng tác trước thuật, để ghi chép các công văn, tài liệu và khắc trên bia đá, chuông đồng, biển gỗ, v.v.. và cùng nhiều loại tư liệu thành văn khác, ngày nay chúng ta gọi chung là di sản Hán Nôm.
Văn khắc là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa thành văn nói chung và di sản Hán Nôm nói riêng, là hiện tượng văn hoá được nảy sinh từ đời sống xã hội, là nét đặc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ. Văn khắc xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn khắc ở các nước sử dụng chữ tượng hình (chữ khối vuông) bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam.
Chúng ta thấy một khối lượng văn khắc Hán Nôm mà người xưa để lại là khá lớn. Về số lượng phát triển của văn khắc qua các thời kỳ lịch sử rất đáng được quan tâm, nhưng điều quan trọng hơn mà giới khoa học giành nhiều công sức nghiên cứu là giá trị tiềm ẩn của loại văn bản này đối với việc nghiên cứu văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Văn khắc Hán Nôm được dựng ở hầu hết các thôn, xóm, xã, phường và gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa lâu đời của người Việt Nam. Văn khắc Hán Nôm thường được những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng một thời sáng tác với những nội dung phản ánh về con người, thiên nhiên, cuộc sống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Hơn nữa, trên mỗi văn khắc đều có những hình thức trang trí nghệ thuật, đây có thể coi là những tư liệu quí khi tìm hiều về lịch sử điêu khắc và thư pháp qua các thời kỳ. Chính vì thế, việc nghiên cứu tư liệu văn khắc Hán Nôm Việt Nam đã được nhiều thế hệ nghiên cứu, các tổ chức khoa học trong và ngoài nước quan tâm.
Tiếp nối truyền thống nghiên cứu của các bậc tiền bối, đến thế kỷ XX, văn khắc Hán Nôm được giới nghiên cứu khoa học quan tâm toàn diện hơn ở hai lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu khai thác.
1). Về công tác sưu tầm :
Văn khắc luôn gắn liền với một vật thể nhất định như bia đá, chuông đồng, biển gỗ v.v... nên việc sưu tầm đối với loại hình văn bản này được tiến hành thông qua biện pháp in rập thành thác bản để sử dụng cho công tác lưu trữ và nghiên cứu.
- Những năm đầu của thế kỷ XX, Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội đã tổ chức một đợt sưu tập thác bản văn khác Hán Nôm ở hơn 40 tỉnh trong phạm vi cả nước đương thời. Sau nhiều năm triển khai, kết quả đã thu thập được 11.651 đơn vị văn khắc với 20.980 mặt thác bản.
- Từ những năm cuối của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI), Viện Nghiên cứu Hán Nôm đã và đang tổ chức tiến hành điều tra cơ bản và thu thập các văn khắc Hán Nôm hiện có ở các địa phương trong cả nước. Đến năm 2005, Viện đã hoàn thành cơ bản việc sưu tầm văn khắc Hán Nôm ở các địa phương: Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Tây, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình; đang tiếp tục thực hiện ở một số địa phương như: Thanh Hoá, Nghệ An. Kết quả khối lượng tư liệu văn khắc Hán Nôm đã được thu thập khoảng hơn 30.000 mặt thác bản. Trong đó, bổ sung mới vào kho sách Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm được nhiều đơn vị văn khắc Hán Nôm có giá trị mà lần sưu tầm trước đây chưa kịp thu thập, như hơn 30 văn khắc thời Lý - Trần, hơn 80 văn khắc khu vực phố Hiến (Hưng Yên), nhiều văn khắc Hán Nôm vùng núi phía Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng, v.v...
2). Về công tác nghiên cứu văn khắc :
Việc sử dụng các tài liệu văn khắc Hán Nôm để tìm hiểu lịch sử quá khứ đã được giới nghiên cứu ngày càng chú ý, triển khai bao gồm cả 3 lĩnh vực: biên mục, công bố giới thiệu và nghiên cứu khai thác .
- Các công trình giới thiệu văn khắc ngày càng nhiều và thu hút đông đảo giới nghiên cứu quan tâm, như: Thơ văn Lý Trần (tập 1, tập 2 quyển thượng và tập 3), tác giả phần Khảo luận văn bản đã nhắc tới 41 bài văn khắc trên bia đá chuông đồng và tuyển chọn công bố 18 bài văn bia. Tuyển tập văn bia Hà Nội (3 phiên dịch 63 bài văn bia thời Lê, Nguyễn. Văn bia Xứ Lạng đã dịch gần 40 bài văn bia. Văn bia thời Mạc đã phiên dịch 147 bài văn bia của thời kỳ này. Văn bia Hà Tây đã dịch hơn 40 bài văn bia. Văn khắc thời Lý đã giới thiệu 27 văn bản từ thời Bắc thuộc đến hết thời Lý. Văn khắc thời Trần đã giới thiệu 44 văn bản của thời kỳ này. Văn bia Quốc tử giám Hà Nội dịch 82 văn bia Tiến sĩ Hà Nội. Văn miếu Quốc tử giám và 82 bia Tiến sĩ khảo về Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội và dịch 82 bia Tiến sĩ. Văn bia đề danh Tiến sĩ Việt Nam dịch 137 văn bia đề danh Tiến sĩ của 4 văn miếu lớn ở Việt Nam là: Văn miếu Quốc tử giám - Hà Nội, Văn miếu Huế (tỉnh Thừa Thiên - Huế), Văn miếu Bắc Ninh và Văn miếu Hưng Yên. Đặc biệt công trình Tổng tập thác bản văn khác Hán Nôm (dự kiến gần 40 tập) sẽ công bố ảnh toàn bộ các thác bản văn khắc hiện lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (đến năm 2007 đã công bố được 10 tập ứng với 10.000 đơn vị kí hiệu thác bản văn khắc).
Chúng tôi nêu những thành quả về sưu tầm và nghiên cứu văn khắc Hán Nôm ở trên, là để thấy được những giá trị phong phú của loại hình tư liệu này. Ở nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau về khoa học xã hội và nhân văn, văn khắc Hán Nôm là nguồn tư liệu rất có giá trị để tìm hiểu quá khứ dân tộc thuộc ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: tư tưởng chính trị xã hội, lịch sử, văn hóa, kinh tế, dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ văn tự, v.v.. Chúng tôi tin chắc rằng sẽ còn rất nhiều các công trình khoa học giới thiệu và nghiên cứu khai thác tư liệu văn khắc Hán Nôm Việt Nam trong tương lai.
3).Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam :
Văn bia là hiện tượng văn hóa được nảy sinh từ đời sống xã hội như là nét đăc thù và là một trong những hình thức thông tin thời kỳ cổ đại và trung cổ. Văn bia xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn bia bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản (những nước sử dụng chữ khối vuông).
Như vậy văn bia từ Hậu Hán mới xuất hiện. Còn Sự tổ quảng ký dẫn trong Quản Tử: “Vô Hoài thị phong cho thần núi Thái Sơn, khắc vào đá để ghi công, là nguồn gốc của khắc thạch, đó là điều chưa đáng tin hẳn”.
Văn bia, xét về mặt thể loại, đã được nền văn học truyền thống phương Đông xác định như là thể vănthời cổ đại. Nhiều nhà nghiên cứu văn học trên thế giới cũng có những nhận xét về thể văn này: “những bài văn bia đã đánh dấu bước đi ban đầu của văn học thành văn”, hay: “những trang sách đá là lĩnh vực đặc thù của nền văn học, trước hết là ngôn ngữ văn học.
Văn bia Việt Nam ra đời trong mối quan hệ văn hóa vùng, đó là sự tiếp nhận ảnh hưởng của truyền thống sáng tạo văn bia ở Trung Quốc, tất nhiên văn bia Việt Nam có những nét đặc trưng mang bản sắc của truyền thống văn hóa dân tộc. Đó là truyền thống của một dân tộc có lịch sử dựng nước lâu đời, có truyền thống anh hùng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, và những phong tục tập quán nhân hậu vị tha của nhân dân Đại Việt.
Từ những đặc điểm nêu trên, có thể đưa ra nhận xét rằng: Văn bia được xác định như là thể văn trong hệ thống thể loại văn học cổ chỉ có ý nghĩa giá trị ở thời kỳ khai sáng của thể văn này. Trong tiến trình phát triển, thể văn bia được sử dụng hoàn toàn theo ý đồ sáng tác của các tác giả, có nghĩa là tác giả không bị ràng buộc bởi nội dung và hình thức thể loại cũng như chất liệu thể hiện mà đã được xác định của thể văn này. Như vậy rõ ràng là bia đá đã được coi như là một trong những loại hình văn bản trong sáng tác văn học nghệ thuật.
III). NỘI DUNG :
1). CHÁNH VĂN :
安 荻 山 报 恩 寺 碑 记
朱 文 常
昭 昭 乎 妙 理 湛 寂 。照 物 物 而 物 不 相 侵 。荡 荡 乎 迥 彼 真 空 。纳 尘 尘 而 尘 莫 混 迹 。是 亦 不 谓 幽 深 宏 远 哉 。
佛 之 有 金 色 。人 之 有 佛 性 。而 不 能 自 觉 自 悟 也 。人 之 欲 征 者 。必 资 善 以 证 焉 。 所 可 参 者 。莫 大 于 像 法 。像 法 之 所 崇 莫 崇 于 净 剎 。 故 仿 优 阗 阿 欲 之 芳 踪 。挈 摩 腾 法 兰 之 遗 迹 。
今 有 太 尉 李 公 佐 皇 越 第 四 帝 。授 推 诚 。叶 谋 。保 节 。宁 正 。佐 理 ,翊 戴 功 臣 。 守 尚 书 令 。 开 府 。 钦 同 三 司 。 入 内 内 侍 省 。都 都 知。捡 校 太 慰 。兼 御 史 大 夫 遙 授 诸 镇 节 度 使 。同 中 书 门 下 平 章 事 。上 柱 国 。天 子 义 弟 。 开 国 上 将 军 越 国 公 。
食 邑 一 万 户 .食 实 封 四 千 户 。图 监 大 节 。言 受 缀 旒 。信 乎 六 尺 之 孤 可 托 。百 里 之 命 可 寄。
厥 后 乃 XX 于 师 。 北 征 邻 国 。西 讨 不 庭 。善 七 纵 七 擒 之 朕 敌 。非 汉有 韩 彭 之 功 。岂 齐 有 管 晏 之 烈
唯 公 辅 君 。国 家 殷 富 多 历 年 。所 可 垂 臣 道 千 古 之 熙 绩 也 。
至 壬 戌 之 岁 。皇 帝 特 加 清 化 一 军 。赐 公 封 邑 。群 牧 响 风 。万 民 慕 德 。正 县 西 南 有 山 ,高 而 且 大。名 安 获 。所 产 美 石 。其 石 公 家 之 贵 物 。莹 莹 色 如 蓝 玉 。青 青 质 拟 生 烟 然 后 凿 而 为 器 。其 器 也 。凿 为 响 磬 。扣 处 而 万 里 流 音 。月 作 铭 碑 。遗 文 而 千 龄 盖 固 。是 则 太 尉 李 公 祇 差 侍 者 甲 首 武 承 叨 一 名 。领 九 真 乡 人 也 。搜 其 山 。采 其 石 。十 有 九 年 。实 践 节 操 民 就 焉 。 战 战 而 若 履 轻 冰 恪 勤 特 。盈 ; 己 清 焉 。 兢 兢 而 类 乘 朽 索 。 自 省 曰 。 量 器 微 而 裁 重 本 智 小 而 煤 大 。积 尖 纤 而 岂 拂 。五 岳 渐 成 。注 滴 水 而 无 休 。四 溟 转 溢 。况 蒙 究 锡 之 踰 涯 以 何 能 之 报 效 。贤 愚 列 次 。贫 富 有 宜 。所 见 于 斯 处 者 。芟 夷 翠 野。草 建 仁 祠。号 为 报 恩 之 寺 也。端 伟 能 仁 之 相。次 列 菩 萨 之 容 。颜 丽 双 南。体 完 绘 事 。经 菅 于 己 卯 炎 天 。庆 成 於 庚 辰 噢 景 。其 屋 乃 臺 旦 借 丹 青 点 缀 。百 年 延 气 象 芬 芳 。前 依 赤 帝 之 方 。境 列 古 战 之 县 。省 分 攸 耿 。缘 茂 如 云 。后 联 翔 凤 之 嵎 。旁 耸 白 龙 之 岫 。橫 注 清 流 。势 成 一 带 。左 达 隅 XX 之 表 。之 鬲 分 为 之 间 .遙 拂 扶 桑 敬 宾 出 日 。 右 通 昧 谷 之 都 。逼 镇 尧 岳 之 巍 。夤 饯 斜 晖 隙 临 疏 牖 。双 影 特 涌 尖 丘 。桥 外 花 香。十 里 若 飘 浓 麝 。
但 愚 乃 学 文 眛 浅。胜 事 何 穷 。滥 矢 芜 词 。以 贻 铭 曰 。
空 门 虚 寂 。
俗 累 罕 缨 。
至 小 何 轻 。
吉 凶 由 己 。
祸 福 易 迎 。
尖 途 则 背 。
善 里 归 情 。
纤 尖 岂 让 。
山 岳 渐 成 。
滴 水 不 弃 。
河 海 相 盈 。
若 能 机 要 。
名 器 何 亏 。
贤 愚 列 次 。
贫 富 所 宜 。
明 恩 罔 极 。
何 以 报 之 。
强 芟 翠 野 。
草 建 仁 祠 。
前 分 井 亩 。
后 白 龙 嵋 。
右 通 尧 岫 。
左 达 嵎 夷 。
双 丘 甃 石 。
四 照 芳 花 。
次 列 菩 夹 。
中 坐 释 迦 。
体 完 禅 绘 。
凛 烈 不 磨 。
四 回 胜 事 。
一 境 繁 华 。
募 修 像 法 。
永 保 邦 家 。
名 畱 今 古 。
功 著 迩 遐 。
。。。。。。。。。。。。。。
节 彼 山 兮 碧 龙 巅 。
被 美 石 兮 尤 至 坚 。
莹 莹 滑 兮 禀 自 然 。
青 青 质 兮 拟 生 烟 。
。。。。。。。。。。。。。。
蒙 皇 锡 兮 十 九 年 。
讲 法 场 兮 仿 优 阗 。
所 庶 几 兮 生 日 迁 。
山 比 寿 兮 永 何 骞 。
沐 慈 恩 兮 福 果 圆 。
。。。。。。。。。。。。。。
至 仁 道 兮 比 尧 天 。
纪 于 铭 兮 百 代 传 。
从 矬 言 兮 愧 后 贤 。
署 敏 书 郎 管 俱 御 府 :同 中书 健 编 修 :兼 守 清 化 寨 九 真 县 公 事 。
朱 文 常 述 。
2). PHIÊN ÂM :
An Hoặch sơn Báo Ân tự bi ký
Chiêu chiêu hồ diệu lý trạm tịch, chiếu vật vật nhi vật bất tương xâm; đãng đãng hồ quýnh bỉ chân không, nạp trần trần hỗn tích. Thị diệc bất vị u thâm hoằng viễn tai!
Phật chi hữu kim sắc, nhân chi hữu Phật tính nhi bất năng tự giác tự ngộ dã. Nhân chi dục chứng giả, tất tự thiện dĩ chứng yên. Sở khả tham giả mạc đại ư tượng pháp. Tượng pháp chi sở sùng, mạc sùng ư tịnh sát. Cố phỏng Ưu điền, A dục chi phương tung, kiết Ma đằng, Pháp lan chi di tích.
Kim hữu Thái úy Lý công, tá Hoàng Việt đệ tứ đế, thụ suy thành, hiệp mưu, bảo tiết, thủ chính, tá lý, dực đời công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ, khâm đồng tam ty, nhập nội nội thị sảnh, đô đô tri, kiểm hiệu thái úy kiêm ngự sử đại phu, giao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp nhất vạn hộ, thực thực phong tứ thiên hộ. Đồ lâm đại tiết, ngôn thụ xuyết lưu. Tín hồ lục xích chi cô khả thác; bách lý chi mệnh khả ký. Quyết hậu nãi thệ vu sư, Bắc chinh lân quốc; Tây thảo bất đình. Thiện thất túng thất cầm chi thắng địch. Phi Hán hữu Hàn, Bình chi công; khởi Tề hữu Quản, Yến chi liệt. Duy công phụ quân, quốc gia ân phú đa lịch niên, sở khả thùy thần thiên cổ chi hi tích dã.
Chí Nhâm tuất chi tuế, hoàng đế đặc gia Thanh hóa nhất quân, tứ công phong ấp. Quân mục hướng phong; vạn dân mộ đức. Chính huyện Tây nam hữu sơn, cao nhi thả đại, danh An hoạch. Sở sản mỹ thạch. Kỳ thạch công gia chi quý vật. Oánh oánh sắc như lam ngọc; thanh thanh chất nghĩ sinh yên. Nhiên hậu lạc nhi vi khí. Ký khí tạc vi hưởng khánh, khấu xứ nhi vạn lý lưu âm; dụng tác minh bi, di văn nhi thiên linh cái cố. Thị tắc Thái úy Lý chỉ sai thị giả Giáp thủ Vũ Thừa Thao nhất danh, lĩnh Cửu chân hương nhân sưu kỳ sơn, thái kỳ thạch, thập hữu cửu niên. Thực tiễn tiết tháo, dân tựu chiến chiến nhi nhược ly khinh băng; khác cần đặc doanh, kỷ thanh căng căng nhi loại thừa hủ sách. Tự tỉnh viết: lượng khí vi nhi tài trọng, bản tiểu nhi mưu đại. Tích trần tiêm nhi khởi phất, ngũ nhạc tiệm thành; trú thuỷ nhi vô hưu, tứ minh chuyển dật. Huống mông cứu tích chi du nhan hà năng chi báo hiệu. Hiền ngu liệt thứ; bần phú hữu nghi. Sở kiến xứ giả, sam nhi thúy dã. Thảo kiến nhân từ, hiệu vi Báo ân chi tự dã. Đoan năng nhân chi tướng; thứ liệt Bồ tát chi dung. Nhan lệ song nam, thể hoàn hội sự. Kinh doanh ư kỷ mão viêm thiên: khánh thành ư Canh thìn áo cảnh ốc nãi nhất đán tá đan thanh điểm xuyết. Bách niên diên khí tượng phân phương. Tiền y xích đế chi phương, cảnh liệt cổ chiến chi huyện, tỉnh phân du cánh duyên mậu như vân; hậu liên. Tường phượng chi ngung, bàng tủng Bạch Long chi tụ, hoành trú thanh lưu, thế thành nhất đời. Tả đạt Ngung chi biểu, chi cách phân vi chi gian dao phất Phù tang, kính tân xuất nhật hữu thông muội cốc chi đô, bức trấn Nghiêu nhạc chi nguy, di tiễn tà huy khích lâm sơ dũ. Môn gian thạch thứu, song ảnh đặc dũng tiêm khâu; kiến ngoại hoa hương, thập lý nhược phiêu nùng xạ.
Đãn ngu nãi học văn muội thiển, thắng sự hà cùng, lạm thỉ vu từ, dĩ di minh viết:
Không môn hư tịch,
Tuy lụy hãn anh,
Cực vi nhi hiển,
Chí tiểu hà khinh.
Cát hung do kỳ,
Họa phúc dị nghinh,
Trần đồ tắc bội,
Thiện lý quy tình,
Tiệm trần khởi nhượng
Sơn nhạc tiệm thanh
Chích thủy bất khí
Hà hải tương doanh
Nhược năng cơ yếu,
Danh khí hà khuy
Hiền ngu liệt thứ
Bần phú sở nghi
Minh ân võng cực,
Hà dĩ báo chi.
Cưỡng sam thúy dã,
Thảo kiến nhân từ
Tiền phân tỉnh mẫu,
Hậu bạch long mi.
Hữu thông Nghiêu thụ,
Tả đạt Ngung di.
Song khâu thứu thạch,
Tứ chiêu phương hoa.
Thứ liệt Bồ tát
Trung tọa Thích Ca
Thể hoàn thần hội,
Lẫm liệt bất ma.
Tứ hồi thắng sự,
Nhất cảnh phồn hoa,
Mộ tu tượng pháp
Vĩnh bảo bang gia.
Danh lưu kim cổ,
Công trứ nhĩ hà.
Tiệt bỉ sơn hề bích long điên,
Bỉ mĩ thạch hề vưu chí kiên
Oánh oánh hoạt hề bẩm tự nhiên,
Thanh thanh chất hề nghĩ sinh yên.
. . . . . . .
Mộng hoàng tích hề thập cửu niên
Giảng pháp trường hề phỏng Ưu điền,
Sở thứ cơ hề thánh nhật thiên,
Mộc tứ ân hề phúc qảu viên.
. . . . . . .
Chi nhân đạo hề tỉ Nghiêu thiên,
Kỷ vu minh hề bách đại truyền,
Tùng tỏa ngôn hề quy hậu hiền.
Thư mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm thủ Thanh Hóa trại, Cửu Châu
3). DỊCH NGHĨA :
Bài ký bia chùa Báo Ân núi An Hoạch
Chói ngời thay diệu lý, lặng lẽ soi mọi vật mà mọi vật chẳng lấn át nhau. Lồng lộng thay cái chân không vẳng lặng kia, thu nạp mọi cảnh mà chẳng cảnh nào lẫn với cảnh nào. Đó chẳng phải là sâu xa lớn rộng hay sao!
Phật có sắc vàng như ngườ ta có Phật tính, nhưng không mấy ai tự giác ngộ được. Vì vậy, người muốn chứng quả phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp mà sùng thượng tượng pháp không gì bằng chùa chiền. Cho nên, bắt chước dấu vết thơm tho của Ưu điền, A Dục phỏng theo tung tích sót lại của Ma Đằng. Pháp Lan. Nay có Thái úy Lý công giúp vua thứ tư triều Lý được trao chức: Suy thành, hiệp mưu, bảo tiết thủ chính, tà lý, dực đời công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ khâm đồng tam ly, nhập nội nội thị sảnh đô đô tri, kiểm hiệu thái úy, kiêm ngự sử đại phu, dao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, thực thực phong bốn nghìn hộ. Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm. Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả. Đâu phải riêng nhà hán có công quân Hàn, Bành, nước Tề có sự nghiệp Quản, Ân. Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh vượng nhiều năm. Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy.
Đến năm Nhâm tuất (1082), nhà vua đặc biệt ban thêm quân Thanh Hóa cho ông làm phong ấp, chân mục đều ngưỡng mộ phong thanh, muôn dân đều mến đức chính. Ở phía Tây nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An hoạch sản xuất nhiều đá đẹp, đó là sản vật quí giá của mọi người. Sắc ông ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì mãi nghìn đời. Thế là Thái úy công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm. Tiết tháo được thể nghiêm nên dân qui phụ, vậy mà vẫn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Tự xét mình rằng lượng khí nhỏ mà quyết đoán việc quan trọng; tài trí hèn mà gánh vác việc lớn lao. Chứa hạt bụi nhỏ mà không chì, sẽ thành năm núi lớn; rót từng giọt nước mà không nghỉ, sẽ tràn bốn biển khơi. Phương chi lại đội ơn vua ban cho vượt bậc, biết lấy gì báo đền. Cho nên, tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân. Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ tát, sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành. Mái tường rực rỡ là nhờ một sớm nét đan thâm điểm xuyết, trăm năm khí tượng, mãi mãi thơm tho. Phía trước hướng về phương Nam, giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường phượng, bên cạnh vút đồi Bạch long, giòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi cõi ngung di, trong khoảnh giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội cốc, trấn át ngọn núi cao, tiễn ánh tà dương thoáng lướt qua cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi; hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng. Tôi học tài thiển lậu, thắng sự nào hay, lạm viết lời quê, để lưu hậu thế.
Minh rằng:
Cửa không vắng lặng,
Tục lụy ít gần gũi.
Cái tâm thể cực mờ mà cực rỡ,
Rất nhỏ nhưng nào có nhẹ.
Lành dữ đều bởi mình,
Họa phúc đều dễ đón.
Phải nên xa lánh con đường bụi bặm,
Hướng về làng xóm thiện duyên.
Há dám khước từ từng hạt bụi nhỏ,
Tích mãi sẽ trở thành non cao.
Đâu nỡ bỏ rơi từng giọt nước
Chứa dần sẽ tràn đầy song bể.
Nếu như hiểu rõ điều cơ yếu,
Thì danh và khí có sút kém đâu.
Hiền và ngu đều lần lượt góp phần,
Giàu hay nghèo đều thích nghi cả.
Ơn sáng không cùng,
Biết lấy gì báo đáp
Dẫy cỏ san đất,
Bắt đầu dựng một ngôi chùa.
Phía trước hướng về đồng ruộng dọc ngang,
Phía sau quay về đồi Bạch long
Bên hữu thông với non Nghiêu,
Bên tả suốt tới cõi ngung di.
Núi đá hai gò,
Hoa thơm bốn phía rực rỡ.
Phía dưới đặt tượng Bồ tát,
Chính giữa đặt tượng Phật Thích Ca.
Tượng Phật đã hàon thành, tranh Phật đã vẽ xong,
Tinh thần lẫm liệt không bao giờ phai mờ.
Xung quanh toàn cảnh đẹp,
Khắp một cõi phồn hoa,
Tu sửa tượng pháp,
Mãi mãi gìn giữ nước nhà.
Tiếng tăm để mãi xưa nay,
Công tích rạng rỡ xa gần.
. . . . ………………………………
Ngọn núi chót vót kia là ngọn núi Bích long,
Có nhiều đá quý đã dẹp lại bền
Sắc đá lóng lánh, đó là đặc tính tự nhiên,
Chất đá xanh xanh như khói mới bốc lên.
……………………………………..
Đội ơn vua đã mười chín năm.
Cầu đảo ở pháp đường, bắt chước Ưu điền,
Ngày tháng của thánh nhân ngõ hầu đổi dời,
Mong cho tuổi như núi non, không bao giờ sút kém,
Tắm gội từ ơn, phúc quả vẹn tròn.
………………………………………..
Đạo chí nhân sánh với trời Nghiêu.
Ghi ở bài minh này trăm đời lưu truyền,
Lời tủn mủn, sợ thẹn với các bậc hiền đời sau.
Dịch thơ:
Cửa không vắng lặng,
Tục tụy vào vương.
Nhỏ, nhưng rất nặng,
Kín, vẫn rõ ràng.
Mình gây lành dữ,
Họa phúc dễ mang.
Đường trần quay gót,
Xóm thiện bước sang.
Bụi nhỏ tích lại,
Thành ngọn núi vàng.
Giọt nước chứa lại,
Sông bể mênh mang.
Nếu hay cơ yếu,
Danh, khí trọn đường.
Hiền, ngu lần lượt,
Không kể giàu sang.
Lấy gì báo đáp,
Từ ơn khôn lường.
Dẫy cỏ san đất,
Dựng ngôi Phật đường.
Trước, ruộng ngang dọc,
Sau, Bạch long cương.
Hữu thông núi thẳm
Tả tới Phù tang.
Hai gò núi đá,
Hoa thắm ngát hương.
Dưới tượng Bồ tát,
Giữa tượng Phật vàng.
Tượng sơn tranh vẽ,
Lẫm liệt khác thường.
Bốn phen việc tốt,
Một cõi huy hoàng.
Tu sửa tượng pháp,
Nhà nước vững vàng.
Tiếng thơm muôn thưở
Công chói muôn phương.
Ngọn núi chót vót chừ là ngọn Bích long,
Đá kia đá đẹp chừ lại thêm bền.
Sắc long lanh chừ tinh bẩm tự nhiên,
Chất xanh xanh chừ chừ khói mới lên.
…………………………………………
Đội ơn vua chừ đã mười chín niên,
Cầu pháp đường chừ bắt chước Ưu điền,
Ngày thánh ngõ hầu chừ đương độ biến thiên.
Mong thọ như non chừ mãi mãi bình yên,
Tắm từ ân chừ phúc quả vẹn tuyền.
…………………………………………….
Đạo chí nhân chừ sánh với Nghêu thiên.
Ghi bài minh chừ muôn thưở lưu truyền,
Lời quê vụng về chừ thẹn với hậu hiền.
Chu Văn Thường giữ chức Thư mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm coi việc quan huyện Cữu chân, trại Thanh Hóa, soạn thuật.
4) VĂN BIA TRIỀU ĐẠI NHÀ LÝ :
Sơ bộ thống kê qua Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, phần ghi về thời nhà Lý, có đến khoảng 40 lần nhắc đến việc xây chùa dụng bia, xây tháp, đúc chuông... Đáng tiếc qua thời gian lâu dài cùng nhiều biến động lịch sử khác nhau, văn bia thời Lý bị mai một khá nhiều, số lượng tác phẩm hiện còn rất ít. Thống kê trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập I: Từ Bắc thuộc đến thời Lý (Sách do Viện Viễn đông bác cổ Pháp và Viện Nghiên cứu Hán Nôm đồng phối hợp thực hiện, Paris-Hà Nội, 1998), tổng số các tác phẩm văn khắc (chủ yếu là văn bia) gồm 17 tác phẩm. Trừ Trăn Tân từ tích đã được chứng minh là bia của giai đoạn khác, số còn lại là 16. Gần đây, tuy có phát hiện thêm một số văn bia thời Lý, chẳng hạn Báo Ân tự Bi Ký (Văn bia chùa Báo Ân), nhưng số lượng nhìn chung chỉ dao động ở con số trên dưới 20 tác phẩm.
Thời Lý, Phật giáo phát triển rất mạnh mẽ và đạt tới đỉnh cao. Vua Lý Thái Tổ đã có nhiều lệnh chỉ có lợi cho sự phát triển của Phật giáo, như làm chùa trong cả nước, độ dân làm sư, sai sứ sang Trung Quốc xin kinh Phật, v.v... Sau này các vua Lý đều tôn sùng đạo Phật và tất nhiên cả các tầng lớp quí tộc quan lại cũng mộ Phật. Tinh thần sùng Phật được thể hiện trong các lĩnh vực của hoạt động xã hội. Trên lĩnh vực văn học, bên cạnh những áng văn chính luận nổi tiếng phản ánh công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc còn có những bài thơ và văn bia xoay quanh các chủ đề về đạo Phật.
Văn bia thời Lý có thể chia làm 2 loại chính: bia công trình (hoặc giả cũng có thể gọi là bia hưng công, bia tín thí) và bia mộ. Các bia công trình về cơ bản đều gắn với Phật giáo, đặc biệt là việc xây dựng các ngôi chùa. Vào giai đoạn này, Phật giáo phát triển mạnh, chùa Phật được dựng lên khắp nơi, được triều đình phân làm các hạng khác nhau. Các văn bia thời Lý hiện còn phần nhiều gắn với những ngôi chùa quan trọng, liên quan tới giới quý tộc, quan chức hoặc các thiền sư có uy tín. Bia mộ thời Lý hiện còn 3 tác phẩm, đều thuộc loại mộ chí.
Văn bia thời Lý (1010-1225) hiện mới tìm thấy được là 18 văn bản. Số lượng này tuy còn ít ỏi, nhưng đã là những tài liệu có giá trị khoa học thực sự. Xét về giá trị nội dung văn bản thì các văn bia thời kì này chủ yếu gắn với mục đích tôn giáo, tín ngưỡng. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã nhận xét: "Tác giả văn bia có thể là nhà nho, nhưng bản thân văn bia thì hầu như chỉ xuất hiện với mục đích tôn giáo, lưu hành trong phạm vi thờ cúng và nhất là nhà chùa". Có thể nói các bài văn bia thời Lý là những tài liệu có giá trị khi nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam và đặc biệt lịch sử Phật giáo Việt Nam. Xin nêu lên một số bài văn bia tiêu biểu như: An Hoạch sơn Báo Ân tự bi kí (安 獲 山 報 恩 寺 碑 記).
Qua khảo cứu xem xét, chúng ta thấy nhiều bài văn bia thời Lý được viết theo một khuôn mẫu nhất định. Có thể hình dung bài văn bia được chia thành ba phần: phần mở đầu bài văn là nói về triết Lý nhà Phật; phần tiếp đến là nói về gia phả, tiểu sử, cuộc đời, công lao vĩ đại của các bậc trượng phu, tướng lĩnh, thiền tăng có công xây dựng chùa tháp; phần cuối bài văn là nói về công việc xây dựng chùa tháp.
5). CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA THÁI ÚY LÝ THƯỜNG KIỆT :
Qua sự ghi chép của bia chùa Báo Ân núi An Hoạch (nay thuộc làng Nhồi, xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa) dựng năm 1100, chúng ta được biết Lý Thường Kiệt có thể là người đầu tiên mang lại nghề đục đá cho dân làng Nhồi.
Tấm bia đó nói rất rõ ràng rằng: “Ở phía tây nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An Hoạch, sản xuất nhiều đá đẹp, đó là sản vật quý giá của mọi người. Sắc óng ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì tiếng ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì còn mãi nghìn đời. Thế là Thái úy Lý Công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao xuất lĩnh người hương Cửu Chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm”.
Theo chúng tôi thì việc Thái úy Lý Thường Kiệt sai Giáp thủ Vũ Thừa Thao xuất lĩnh người hương Cửu Chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm (tức mười chín năm Lý Thường Kiệt làm tổng trấn Thanh Hóa, từ 1082-1101) chính là việc cho đi tìm những thợ đục đá lành nghề, mà rất có thể đó là những người Việt gốc Chăm (gồm những tù binh mà thời bình Chiêm của Lê Hoàn ở thế kỷ X và của Lý Thái Tông cùng Lý Thường Kiệt mang về (năm 1065) để khai khẩn đất hoang, lập ra các trang ấp ở Thanh Hóa và nhiều nơi trong nước). Sở dĩ có nhận định như vậy vì ở làng Nhồi hiện nay vẫn có một nhóm cư dân khá đông mang tên họ Lôi, tức họ Lồi gốc Chăm Pa.
Cũng theo sự ghi chép của bia chùa Báo Ân núi An Hoạch, chúng ta biết tất cả những nghĩa cử cho dân của Lý Thường Kiệt trong suốt 19 năm làm tổng trấn Thanh Hóa đã làm cho các “châu mục đều ngưỡng mộ” và “muôn dân đều mến đức chính” (lời văn bia).
Để tỏ lòng biết ơn trời, phật, vua và công đức của Lý Thường Kiệt mà nhân dân xứ Thanh đã tự chọn đất và góp công, góp của để xây dựng ở khu vực núi An Hoạch (tức núi Nhồi) một ngôi chùa với một cái tên đầy ý nghĩa - đó là chùa Báo Ân.
Rất tiếc là sử sách cổ của nước ta (như Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư…) đều không chép một cách cụ thể, rõ ràng về hành trạng của Lý Thường Kiệt trong 19 năm cai quản trấn Thanh Hóa, nhưng rất may là nhờ các tấm bia thời Lý còn lại (như bia chùa Báo Ân dựng năm 1100, bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni dựng năm 1124, bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn dựng năm 1126) và tấm bia đền Ngọ Xá (tức đền Lý Thường Kiệt) dựng vào năm Tự Đức thứ 29 (1876) do Nhữ Bá Sĩ soạn dựa trên cơ sở tham khảo, sưu tầm các tài liệu sử Việt, sử Tống và truyền thuyết dân gian, chúng ta không những biết được khá đầy đủ về thân thế sự nghiệp của Lý Thường Kiệt nói chung, mà còn biết được khá kỹ về công lao to lớn của ông đối với xứ Thanh.
6). PHÁT TRIỂN VÀ HƯNG THỊNH PHẬT GIÁO :
Cũng từ những bia ký đã nêu và đối chiếu với các tài liệu sử sách có liên quan, chúng ta thấy Lý Thường Kiệt trong thời gian trấn trị ở Thanh Hóa (1082-1101), ngoài việc làm cho vùng đất phên dậu của đất nước được yên ổn, vững mạnh, ông còn có công rất lớn trong việc phát triển chùa chiền và làm cho đạo Phật ở đây hưng thịnh hơn bao giờ hết.
Như lời Hải Chiếu đại sư nói trong bia Linh Xứng thì ông “Tuy thân vướng việc đời, mà lòng vẫn hướng về đạo Phật”. Và chính vì có tấm lòng và tư tưởng hướng Phật ấy mà đã thôi thúc ông chuyên làm những điều thiện đối với dân, với nước.
Về việc phát triển Phật giáo, trong thời gian chưa làm tổng trấn Thanh Hóa, Lý Thường Kiệt đã giúp sư Đạo Dung sửa chữa lại chùa Hương Nghiêm ở giáp Bối Lý (nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa) theo lời thỉnh cầu của Thái Phó Lưu Công (tức Lưu Khánh Đàm - vị quan đồng triều với Lý Thường Kiệt, người Ngũ huyện giang - Cửu Chân) vào năm 1077 (tức là năm Lý Thường Kiệt vẫn còn ở Thăng Long).
Còn trong thời gian làm tổng trấn ở Thanh Hóa (1082-1101), Lý Thường Kiệt chính là người trực tiếp xây dựng chùa Linh Xứng ở núi Ngưỡng Sơn. Vì vậy dân địa phương còn gọi tên là chùa Lý Thái Úy (tức chùa Lý Thường Kiệt).
Bia chùa Linh Xứng soạn lúc Lý Thường Kiệt đang còn ở Thanh Hóa, nhưng mãi 21 năm sau khi ông mất mới dựng. Đó là năm 1126 (tức là năm Thiên phù duệ vũ thứ bảy Bính Ngọ).
7). TÍNH DIỆU DỤNG GIÁO LÝ NHÀ PHẬT TRONG VĂN BIA :
Phần mở đầu của một số bài văn bia thời kì này thường là cung cấp cho chúng những tư liệu khi nghiên cứu về triết Lý Phật giáo nói chung và triết Lý Phật giáoViệt Nam nói riêng. Bài văn bia An Hoạch sơn Báo Ânn tự bi kí mở đầu như sau: "Chói ngời thay diệu Lý, lặng lẽ soi mọi vật mà mọi vật chẳng lấn át nhau. Lồng lộng thay cái chân không vẳng lặng kia, thu nạp mọi cảnh mà chẳng cảnh nào lẫn với cảnh nào. Đó chẳng phải là sâu xa lớn rộng sao! Phật có sắc vàng (như) người ta có Phật tính, nhưng không (mấy ai) tự giác tự ngộ được. Vì vậy người muốn chứng quả phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều đáng tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp, mà sùng tượng pháp không gì bằng chùa chiền".
Bài văn bia An Hoạch Sơn Tự Bi Ký cũng mở đầu bằng những triết Lý đạo Phật sâu xa: "Ôi ! cái chân không trong lặng, giấu hình khi trời đất chưa chia; cái diệu hữu nảy sinh, bao trùm trước hữu hình vận động. Sáng thì gạt bỏ cái không, vì cơ vi chẳng phải là không; mê thì bám lấy cái có, coi mầu nhiệm cũng là không có. Xa nghĩ đức Phật tổ xưa, trí tuệ của ngưỡi xem xét tất cả không sót một ai. Cho nên người giấu kín cái thực mà làm rõ cái quyền, để gọi bảo cái đạo thường vui mãi mãi; từ cái không đi vào cái có, để giúp cho sự hồi hướng giải thoát đời đời. Khéo mở ra muôn vạn pháp môn, để dạy bảo muôn nghìn thế giới".
Và phần mở đầu của bài văn bia An Hoạch Sơn Tự Bi Kýđã Lý giải vạn vật theo triết Lý Phật giáo như sau: "Muôn là sự phân tán của một, một là cội gốc của muôn... Nhóm cái đã phân tán để đưa nó về cội gốc, ôm cái một để thâu tóm cái muôn. Tạo nên hình tượng để biểu thị sự thâu tóm, dựng nên đền tháp để có sự hướng về" v.v... Có thể nêu lên khá nhiều ví dụ tương tự như trên và rõ ràng là tư tưởng của Phật giáo đã phát biểu quan điểm có tính chất triết học của mình. Một điều cần được khẳng định là Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt tư tưởng và nhân sinh quan của người Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này. Ngưỡng Sơn Limh Xứng tự bi đã làm rõ điều này: "Thái úy (Lý Thường Kiệt) tuy thân vướng việc đời mà lòng vẫn hướng về đạo Phật. Có lẽ vì nhà vua và mẫu hậu tôn sùng giáo Lý nhà Phật đó chăng? Cho nên Thái uý vâng theo ý chỉ của đức vua và mẫu hậu mà nâng đỡ Phật pháp vậy". Ngoài ra các văn bia thời Lý còn là những tư liệu có giá trị góp phần nghiên cứu văn hóa Phật giáo và văn hóa dân gian của người Việt trong đời sống xã hội thời kì này.
8). DẤU ẤN NGHÌN NĂM :
Có thể nói, dấu ấn của Lý Thường Kiệt - nhân vật lịch sử kiệt suất, vĩ đại của dân tộc trong 19 năm ở trấn Thanh Hóa quả là rất đậm nét. Trong 19 năm ấy (1082-1101), với sự có mặt của Lý Thường Kiệt, sự giao thoa văn hóa giữa Thăng Long kinh kỳ với xứ Thanh phên giậu càng có điều kiện để phát triển một cách thuận lợi.
Với những tài liệu sử sách và bia ký còn lại, chúng ta cũng được biết nhiều nhân vật tên tuổi như thái phó Lưu Khánh Đàm và các vị đại sư như Sùng Tín, Đạo Dung và nhiều người khác đã mang sắc thái văn hóa Thăng Long vào xứ Thanh và giúp Lý Thường Kiệt mở mang khai trí những vùng đất còn “mộc mạc”, “thuần phác” thành những nơi rực rỡ đền đài, chùa phật, v.v…
Và ngược lại khi Lý Thường Kiệt trở về triều (1102), ông lại tuyển chọn nhiều nhân tài xứ Thanh ra Thăng Long để phục vụ triều đình.
Sau khi rời xứ Thanh chỉ vài năm, đến năm 1105, vị anh hùng kiệt xuất Lý Thường Kiệt qua đời, thọ 86 tuổi.
Ngay sau khi ông qua đời, miếng đất mà lúc sinh thời ông tự chọn để làm Thọ thân đường ở ngay núi Ngưỡng Sơn (nơi kề giáp với chỗ ngôi chùa Báo Ân mà ông xây dựng) đã trở thành một ngôi đền quốc tế để thờ ông mãi mãi.
Và cho đến hôm nay, nơi đền thiêng vẫn khói hương nghi ngút. Đã qua rồi gần mười thế kỷ, nhưng hình ảnh và công lao của Lý Thường Kiệt vẫn còn sống mãi trong tâm thức, tình cảm của người dân xứ Thanh.
Và núi Ngưỡng Sơn với chùa Báo Ân và đền Lý Thường Kiệt - nơi đã từng có sự giao thoa điển hình giữa văn hóa Thăng Long với văn hóa xứ Thanh hồi thế kỷ XI chính là một quần thể di tích lịch sử văn hóa và kiến trúc nghệ thuật rất có giá trị mà Nhà nước xếp hạng.
IV). KẾT LUẬN :
Nhà Lý coi Phật giáo là quốc giáo, trên nền tảng tư tưởng Phật giáo để dung hòa các học thuyết khác, trong đó có tư tưởng Nho gia. Nếu nhà nho cho cái tính trong tâm người là thiện, là trong trẻo và thuần thành vì nó có nguồn gốc tiên thiên, là thiên lí ở trong tâm, do khí bẩm vật dục che lấp mà trở nên mờ tối, khiến cho nhân nghĩa bị sung tắc, hành vi của con người cũng vì thế mà trở nên lầm lạc… thì nhà Phật cho rằng người người đều có Phật tính, là tính hướng thiện, tính giác ngộ. Quan niệm về bản tính con người của hai học thuyết này rõ ràng có điểm tương đồng. Văn bia chùa Báo Ân núi An Hoạch viết: “Phật có sắc vàng, cũng như người ta có Phật tính, nhưng không mấy ai tự giác, tự ngộ được. Người muốn chứng ngộ thì phải dựa vào thiện duyên”. Phần Tỉ dụ phẩm trong kinh Pháp hoa nhắc đến đứa “Cùng Tử”, trong mình có viên ngọc châu quý giá mà không hay biết, đến nỗi phải trải qua vô vàn khổ nhục. Trần Nhân Tông từng khuyên người ta rằng: “Trong nhà có của báu, chẳng cần phải tìm kiếm ở đâu xa xôi” (Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch - Cư trần lạc đạo phú)… thảy đều để nói Phật tính là cái vốn có trong con người, nhưng người ta vì vô minh mà không thấy được nó, nên nỗi ngày một xa rời chân tính, đắm chìm trong bể ái nguồn mê. Chính vì lí do ấy, Phật Thích Ca ở nơi vô tịch của không tướng, xót nỗi luôn hồi của chúng sinh, nên đã giáng thế, dùng sự giáo hóa của mình như một thứ thiện duyên để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi bể khổ mà trở về miền lạc quốc. Cái gọi là lạc quốc chính là chỉ đất nước của sự an lạc, đất nước của những con người giác ngộ. Sau khi Phật đã nhập diệt, sự cai trị của triều đại với ông vua tôn sùng Phật giáo (như thời Lý) có gì khác hơn là phải đảm nhận vai trò của cái thiện duyên, phải “đặt chúng dân vào nơi lạc quốc” như Nguyễn Công Bật đã chỉ ra trong Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, phải khiến cho người người hướng hóa, tức là biến quốc gia của mình thành một lạc quốc giữa miền nhân gian. Như vậy, ông vua của triều đại tôn sùng đạo Phật thì đồng thời kiêm chức năng như một vị Phật. Chính vì lí do trên, trong văn bia thời Lý, có một sự nhập thân cục bộ giữa ông vua và đức Phật.
Nếu xét về kháin niệm chuẩn về tính đa dạng văn hóa và văn hóa truyền thống theo UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa vào năm 2002, như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”; thì khi đó, điều này đặc điểm giá trị văn hóa Văn Bia Lý – Trần đã thể hiện tính giáo dục truyền thông và hoạch định chiến lược phát triển văn hóa dân tộc hết sức ổn định. Bởi vì, khi những phản ứng tiêu cực của xã hội trước những vi phạm tiêu chuẩn văn hóa chính là cơ sở của hệ thống kiểm soát văn hóa hay kiểm soát xã hội mà qua đó bằng những biện pháp khác nhau, các thành viên của xã hội tán đồng sự tuân thủ những tiêu chuẩn văn hóa.
Đặc tính nổi bật khi giá trị Văn hóa đạo đức của văn bia thời Lý – Trần thể hiện thì ngoài phản ứng của xã hội, phản ứng của chính bản thân cũng góp phần làm cho những tiêu chuẩn văn hóa được tuân thủ, bởi vì nó chứa đựng giá trị soi rọi lại chính bản thân của con người. Quan trọng này chính là tiếp thu các tiêu chuẩn văn hóa, hay nói một cách khác, hòa nhập tiêu chuẩn văn hóa vào nhân cách của bản thân.
MỤC LỤC THAM KHẢO :
1. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB.Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1988.
2. Đại Việt Sử Ký toàn thư, Bản Kỷ, Bản in Nội Các Quan Bản Mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697).
3. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam 1985 – 1992, nhà xuất bản: Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, 1993.
4. Theo số liệu điều tra công trình Tổng tập văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
5. Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1977.
6. Thơ Văn Lý – Trần (tập 3), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1978.
7. Thơ Văn Lý – Trần (tập 2 – quyển thượng), NXB. Khoa Học Xã Hội, 1989.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét