THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

VÂN BIA PG VIỆT NAM

Tổng quan Văn bia Phật giáo Việt Nam I. Nguồn gốc Văn bia: Trong tiến trình hình thành và phát triển nền văn học lịch sử nước nhà, văn bia là một hiện tượng văn hóa được nảy sinh từ một đời sống xã hội như là một trong những hình thức thông tin thời cổ và trung đại. Văn bia xuất hiện từ khá sớm, truyền thống sáng tạo văn bia ở các nước sử dụng chữ tượng hình (chữ khối vuông) bắt đầu từ Trung Quốc, sau đó được lan truyền sang các nước như Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Theo Chu Kiếm Tâm (朱 劍 心) trong cuốn Kim Thạch học (金 石 學) thì nguyên tắc lập bia được ghi chép trong Ngữ thạch (语 石) phần Lập bi tổng lệ (立 悲 總 例) có 4 nguyên tắc chính: - Một là thuật đức, tôn sùng bậc Thánh nhân, ca ngợi kẻ hiền tài, biểu dương người trung thuận, nêu gương người hiếu nghĩa. - Hai là ghi công khắc vào đá ghi việc Thánh thượng khi tuần du cho đến việc ghi công trạng của các tướng lĩnh. - Ba là kỷ sự, ghi việc xây dựng đền đài lăng tẩm. - Bốn là Toản ngôn, từ văn thư tín đến các sáng tác của văn nhân. Về nội dung bài văn bia khắc vào đá, theo Cung Tự Trân (龔 自 珍) trong Thuyết khắc thạch (說 刻 石) có những chủ đề sau: - Bậc đế vương đi tuần thú thì ghi lại để ca tụng công đức. - Bậc đế vương đi săn bắn thì ghi lại nhân đó để ca tụng công đức. - Có việc chinh phạt lớn thì ghi lại chủ yếu để ca ngợi công tích. - Có hiến lịnh lớn thì ghi lại để nói về pháp lệnh. - Có việc cầu khấn lớn thì ghi lại để tỏ lòng tin. - Các việc đánh nhau giữ đất, vận chuyển lương đều ghi lại để nói về những sự kiện quan trọng. - Vỡ ngập nước, hoặc xây dựng các công trình đê điều, đều ghi lại để nắm tình hình. - Xây dựng thành quách, lâu đài thì ghi lại để khảo xét. - Thư tịch mất mát , học thuật nảy nở thì ghi lại để tìm hiểu. Những nguyên tắc lập bia và quy trình về nội dung khi soạn bài văn, để khắc vào đá như nêu ở trên được Chu Kiếm Tâm, theo chúng tôi có thể đúng với kỳ khai sáng ra thể văn bia mà thôi. Còn trên thực tế, trong quá trình phát triển, việc lập văn bia và soạn văn bia để khắc vào đá đã diễn ra hết sức phong phú và đa dạng, không chỉ ở chính nơi có truyền thống sáng tạo ra văn bia mà ở các nước chịu ảnh hưởng của truyền thống này. Nếu chúng ta đem đối chiếu giữa thực tế sáng tạo ra văn bia ở Việt Nam với những nguyên tắc lập bia và quy định chủ đề nội dung khi soạn văn bia mà Chu Kiếm Tâm nhắc lại ý của người đi trước ở Trung Quốc thì thấy có sự không đồng nhất. Phải nói rằng những nguyên tắc lập bia và nội dung khi soạn văn bia ở nước ta được mở rộng, có những bia được lập không theo 4 nguyên tắc đã ghi chép trong Ngữ thạch phần Lập bi tổng lệ mà Chu Kiếm Tâm đã dẫn và có những bài văn bia được sáng tác để khắc vào đá cũng không theo những chủ đề nội dung mà Cung Tự Trân đã ghi chép trong Thuyết khắc Thạch. II. Nguồn gốc văn bia Hán Nôm Việt Nam Văn bia Hán Nôm Việt Nam ra đời trong mối quan hệ văn hóa vùng và tiếp nhận ảnh hưởng truyền thống sáng tạo văn bia ở Trung Quốc, tuy nhiên văn bia Việt Nam có những nét đặc trưng mang bản sắc truyền thống dân tộc. Ở nhiều góc độ nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn, văn bia Hán Nôm là nguồn tư liệu rất có giá trị để tìm hiểu quá khứ dân tộc. Những văn bia Hán Nôm có giá trị thường được các nhà thơ, nhà văn sáng tác với nội dung phong phú đa dạng phản ánh về tình hình chính trị xã hội, đời sống con người, văn hóa giáo dục, tất cả đều mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Trên mỗi bề mặt của bia khắc các họa tiết trang trí nghệ thuật. Đó là những tư liệu quý về lịch sử điêu khắc và thư pháp Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Mặt khác trong quá trình hình thành văn bia Việt Nam, một bộ phận văn bia đã xuất hiện trong nhà chùa như là một sản phẩm văn học xuất hiện được xuất phát từ nhu cầu tín ngưỡng tâm linh. Tác giả có thể là nhà sư, cũng có thể là nhà Nho, lưu hành trong phạm vi nhà chùa khá sớm, vì cho đến nay chưa thấy tâm văn bia nào xuất hiện trước thời Lý - Trần nào nằm ngoài phạm vi có nội dung tín ngưỡng. Về hình thức, bài bi ký được viết theo lối văn xuôi cổ (tản văn), cuối bài có xen vận văn (bài minh). Về nội dung bài văn xuôi ấy thường ghi lại quá trình xây dựng, tôn tạo trùng tu các danh lam thắng cảnh; tán dương công đức của những người đã đứng ra xây dựng, trùng tu hoặc ghi công đức đóng góp của thiện nam tín nữ; hay ghi tiểu sử những nhân vật có công đối với tôn giáo, cũng có thể là các bài ký sự ca ngợi cảnh quan Già lam và tất cả được khắc trên bia (bi ký). Cuối bài văn xuôi là bài văn vần (minh) thường nhiều câu, mỗi câu có 4 hay 5 tiếng, với nhiệm vụ thâu tóm nội dung phần văn xuôi đã trình bày trước đó. Do bi ký mang tính ghi chép, kể việc đã nêu, phần nào khắc họa được những con người tạo ra những tarng sử hào hùng cho dân tộc, hoặc cho đạo pháp cần phải nghiên cứu, tìm hiểu. Ở Việt Nam, do quá trình dựng nước và giữ nước mang một đặc thù, đặc trưng riêng biệt qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau của cả dân tộc, nên hình thức văn bia mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, mỗi vùng, mỗi địa phương có khác nhau, ta có thể chia văn bia làm thành 7 giai đoạn: Thời Phật giáo du nhập, Thời Đinh, Thời Lý, thời Trần, thời Lê Sơn, thời Mạc – Lê Trung hưng – Tây Sơn và thời Nguyễn. Việc phân chia này, căn cứ vào những điểm chung và nét riêng về hình thức bia, cũng như yếu tố mang tính lịch sử trong quá trình phát triển bi ký Việt Nam mà tạm thời phân loại: 1. Văn bia thời Bắc thuộc: Thời kỳ Bắc thuộc do chiến tranh tàn phá, hiện nay ta chỉ còn 1 bia có niên đại 618, bài văn bia chữ khắc nông đã mờ gần hết, không đọc được, họa tiết trang trí ở bề mặt hết sức đơn giản, xung quanh bia không trang trí, trán bia hình hài đầu ly ôm lấy nhan đề văn bia viết bằng chữ triện theo cột dọc. Phong cách trang trí trán bia như vậy, sau này chúng ta cũng thấy xuất hiện cùng phong cách ở trán bia các kỳ tiếp theo. Nói chung thời kỳ này các bia có hình thức đơn giản từ nội dung cho đến hình thức. 2. Thời Đinh: Thời Đinh là thời kỳ nước nhà độc lập, Phật giáo được triều đình chú trọng. Các nhà sư không chỉ chuyên tâm tu hành đắc đạo, mà còn tham gia cố vấn triều đình. Có mối quan hệ tốt đẹp giữa Phật giáo và dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và phát triển đạo pháp. Ta chẳng ngạc nhiên gì, các văn bia xuất hiện trong các chùa. Nhưng hiện nay, theo các nhà nghiên cứu văn bia, thì thời kỳ này chỉ còn những cột khắc kinh Phật ở Hoa Lư tỉnh Ninh Bình, cho đến nay chưa phát hiện thêm những cột khắc kinh kiểu này ở nước ta. Các cột đá được khắc nông, tạo tác giản lược, không có hoa văn trang trí. Do đó ta cũng không đủ tư liệu để nêu những đặc điểm điển hình của thời kỳ này. 3. Thời Lý: Khảo sát các văn bia thời kỳ này, ta thấy văn bia thời kỳ này có nội dung phong phú hơn, hình thức trang trí khá ấn tượng so với thời Đinh. Thời kỳ này Phật giáo trở thành quốc giáo. Các vị vua triều đại nhà Lý, mở đầu là ông vua Lý Thái Tổ được xuất thân từ trong nhà chùa, cho nên việc xây dựng chùa chiền, dựng tượng, đúc chuông, tạo lập bia ghi nhận công đức các cao tăng, tiểu sử thánh cảnh già lam trong bối cảnh lịch sử cả đất nước Đại Việt độc lập, tự chủ, hùng cường là một việc làm đáng trân trọng. Nhiều văn bia đã được vua chúa, quan đại thần đích thân ngự viết, cúng dường với một tâm thành. Theo sự thống kê của các nhà nghiên cứu bi ký thì thời Lý, các thác bản văn khắc Hán Nôm hiện còn là 23 đơn vị, trong đó thác bản bia 20 đơn vị. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục đã cho rằng đời Lý còn 7 bia khắc trên chuông đồng bia đá với nội dung tán dương đạo Thiền mà ông đã hạ bút khen “Văn thời nhà Lý, lối biền ngẫu bóng bẩy, đẹp đẽ giống thể văn nhà đường (Kiến văn tiểu lục). Về kích thước của các văn bia rất phong phú. Bia to có chiều cao 240 cm và chiều cao rộng 220 cm, như Bia Đại Việt quốc Lý đương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (大 越 國 李 當 家 第 四 帝 崇 善 延 龄 塔 碑) dựng năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) tại chùa Long Đọi núi Long Đọi xã Đọi Sơn huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam. Bia nhỏ nhất có chiều cao 65 cm và chiều rộng 30 cm, như bia Bảo Chưởng Thái Bà mộ chí (寳 掌 太 婆 墓 誌) dựng vào năm 1207 tại xã Hòa Chúng huyện Quảng Xương, phủ Tỉnh Gia (nay thuộc huyện Tỉnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Nhìn chung, các bia thời Lý đều cao và rộng, trung bình cao 150 – 200 cm và rộng khoảng từ 100 – 150 cm, như bia Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi (寳 寜 崇 福 寺 碑), bia Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh (崇 嚴 延 呧 聖 寺 碑 銘) và bia Cổ Việt thôn Diên Phúc tự bi minh (古 越 村 延 福 寺 碑 銘) v.v… Có thể nói họa tiết trang các bia thời Lý trang trí trên bề mặt bia khá phong phú. Trán bia thường được được trang trí bằng hai hình rồng chầu vào tiêu đề văn bia, như bia An Hoặch sơn Báo Ân tự bi ký (安 穫 山 報 恩 寺 碑 記), Bảo Ninh Sùng Phúc tự bi (寳 寜 崇 福 寺 碑), Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh (崇 嚴 延 呧 聖 寺 碑 銘). Cũng có bia, trán bia không khắc hình tượng rồng mà chỉ khắc tiêu đề văn bia, như các bia Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh (乾 尼 山 香 嚴 寺 碑 銘), hay bia Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (仰 山 靈 稱 寺 碑 銘). Hình rồng thời kỳ này được khắc dài, nhỏ dần về phía đuôi và có dáng hình con rắn . Đầu rồng nhỏ cân đối được mô tả “cái râu thoát ở hàm trên ra, có hai đường sống cuộn vào nhau và toàn thể phập phồng như một chiếc lá bị gió thổi hay một ngọn lửa kỳ dị. Cái bờm sau gáy thoát ra nhiều đợt, từ dưới cổ họng cuồn cuộn bốc lên, lượn nhịp nhàng về đằng trước hoặc lướt về đằng sau như một lá cờ đuôi nheo đang reo với gió” . Thân rồng mình tròn uốn lượn nhiều vòng thanh thoát mềm mại. Chân nhỏ thanh mảnh thường có 3 ngón. Nhìn nhân chạm khắc tinh tế và linh hoạt, toàn bộ hình rồng như đang bay lượn nhẹ nhàng trên không trung . Chữ khắc ở đầu văn bia là chữ triện hoặc chữ lệ, có khi khắc theo chiều dọc và có khi khắc theo chiều ngang. Hai bên lề bia thường có trang trí đa dạng, có thể họa tiết hình hoa dây lá, cũng có thể là hình rồng cách điệu uốn lượn. Phía mép dưới bia thường trang trí những dây hoa lá, sóng nước nhấp nhô, hoặc hình thú với phong cách vừa thực và vừa dễ nhận, dễ hiểu; cũng có thể những bia mép dưới không có họa tiết trang trí. Nhìn chung, chữ khắc trên bia vào thời kỳ này là rất đẹp và sắc nét, nhưng rất tiếc theo thời gian và do sự khắc nghiệt của thời tiết đã làm nhiều bia bị mờ chữ, sau này phải khắc lại. Hẳn nhiên, việc khắc lại không những làm ảnh hưởng đến định dạng chữ viết mà còn làm sai lệch nội dung văn bản và các họa tiết trang trí trên bia. 4. Thời Trần: Thời kỳ này là thời kỳ với những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, từ kinh tế cho đến chính trị, văn hóa, giáo dục, mỹ thuật, học thuật… Phật giáo với sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm, trên cơ sở hợp nhất ba thiền phái hiện có: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thiền phái Vô Ngôn Thông, Thiền phái Thảo Đường đã tạo thành một Phật giáo Nhất Tông duy nhất đời Trần. Phật giáo cũng đã tác động mạnh mẽ vào đời sống văn hóa dân tộc. Các vua triều Trần cũng là các thiền gia, thiền sư chứng đạo nên việc tạo dựng chùa chiền, bia minh càng được chú trọng để ghi lại dấu ấn thành quả của đất nước và đạo pháp Đại Việt. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi, thì văn bia Phật giáo thời Lý - Trần đã đóng vai trò rất quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc và đạo pháp nước nhà: “Vì đạo Phật thời Lý – Trần còn giữ được vai trò tích cực nên văn bia Lý – Trần nói chung đã thoát khỏi những công thức tín ngưỡng gò bó, khô khan và vượt thành một thể văn đầy sức sống cuả văn học Lý – Trần. Đặc biệt, văn bia Lý – Trần đã xây dựng được những bức chân dung sinh động rất hiếm thấy ở các thời kỳ sau, mà những “con người mẫu”để tạo nên các bức chân dung ấy lại không phải là những nhà tôn giáo, những vị sư mà trước hết là những con người trần tục, những phụ nữ tích cực tham gia việc nước như công chúa Phụng Dương, những anh hùng nhân cách sáng rực như Lý Thường Kiệt. Nội một điều đó thôi cũng đủ thấy cái khả năng cải tạo và thanh lọc của thời đại Lý - Trần đối với các thứ giáo lý già cỗi” . Các thác bản văn khắc Hán Nôm hiện còn 44 đơn vị, trong đó thác bản bia là 37 đơn vị, nhìn trên bản bia chúng ta có thể thấy về kích thước của các bia cũng rất đa dạng. Bia to có chiều cao 215 cm và chiều rộng 145 cm, như bia Ma nhai kỷ công văn (摩 崖 紀 功 文) khắc năm Khai Hựu thứ 7 (1335) trên sườn núi Thành Nam thôn Trầm Hương huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An. Bia nhỏ nhất có chiều cao 60 cm và chiều rộng 40 cm, như bia Đăng Dục Thúy sơn lưu đề (豋 浴 臎 山 留 题) khắc vào thế kỷ thứ XV (khoảng năm 1358-1377) trên vách núi Dục thúy thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình. Nhìn chung, các bia thời Trần đều cao và rộng, trung bình từ 70-100cm, như bia Thiệu Long tự bi (紹 龍 寺 碑), bia Từ am bi ký (慈 庵 碑 記) và bia Sùng Nghiêm tự bi (崇嚴寺 碑),v.v. Họa tiết trang trí trên bề mặt bia phong phú và đa dạng. Các bia ma nhai không có hoa văn trang trí, còn lại nhìn chung đều có hạo tiết hoa văn trang trí trên bề mặt bia. Trán bia thường được trang trí bằng hai hình rồng chầu mặt trang, (mặt trời) “lưỡng long triều nguyệt”, hay “lưỡng phượng triều dương” (ở đây chúng tôi dùng từ mặt trăng) như bia Sùng Hưng tự điền bi (崇 興 寺 田 碑), Từ Ân tự bi (慈 恩 寺 碑). Cũng có bia trán bia được trang trí bằng hai hình rồng chầu vào tiêu đề văn bia như Đại bi Diên minh tự bi (大 悲 延 明 寺 碑). Và những có bia trán bia được trang trí bằng hoa văn chầu vào tiêu đề văn bia, như bia Phúc Minh tự bi (福 明 寺 碑), hay Sùng Thiên tự bi (崇 天 寺 碑), hay bia Thanh Hư động bi (清 虚 動 碑), hoặc trang trí họa tiết hình hoa chầu mặt trời, như bia Phụng Dương công chúa thần đạo bi (奉 揚 公 主 神 道 碑). Hình rồng thời kỳ này về cơ bản, nhìn chung có những nét kế thừa hình rồng thời Lý, nhưng cũng có bia có hình rồng mập hơn , thân to, uốn lượn khỏe, mình có vây, đuôi dài nhiều khúc, như bia Sùng Hưng tự điền bi (崇 興 寺 田 碑). Có ý kiến nhận xét về thời rồng như sau: “Rồng thời Trần thể hiện một sự kết hợp nhuần nhị rõ ràng giữa cái khỏe mạnh vững chắc của rồng thời Trần và cái mềm tinh tế của rồng thời Lý . Chữ khắc ở đầu văn bia là chữ triện hoặc chữ lệ, có khi khắc theo hàng dọc, có khi khắc theo hàng ngang. Hai lề bia thường có trang trí đa dạng, có khi họa tiết là hình hoa, có khi là hình rồng, cách điệu đang cuộn mình, cũng có khi là hình dây hoa lá, cánh sóng nhấp nhô hoặc hình động vật; nhưng cũng có bia mép dưới không có hoa văn tarng trí. Về chữ viết được khắc trên văn bia ở thời kỳ rất đẹp, chữ rất sắc nét, nhưng cũng có bia khắc nông, chữ không rõ ràng, nhất là văn bia ma nhai và rất tiếc do thời gian khắc nghiệt của thời tiết đã làm nhiều bia bị mờ chữ. 5. Thời Lê: Sau nhà Trần đến thời kỳ nhà Lê, việc khắc bia được nhà nước chú trọng. Thời kỳ này văn bia được phát hiện đến nay là 70 bia, hiện đã có thác bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Nhìn trên các thác bản bia, thấy bia thời kỳ này phát triển đa dạng, phong phú về hình thức. Bia cỡ lớn có, cỡ trung bình có và cỡ nhỏ cũng có. Những bia to, thì cỡ chữ khắc sâu và rõ nét, có hoa văn trang trí thường là những bia do Nhà nước và chính quyền địa phương (gọi chung là Nhà nước) tạo dựng, như bia ở Lam Kinh Thanh Hóa và ở các đền. Còn những bia cỡ nhỏ, chữ khắc thiếu tính cẩn thận, họa tiết trang trí đơn giản thì thường do nhân dân lao động tạo dựng tại các chùa và các danh tích thắng cảnh. Về kích thước, những bia có kích cỡ to phải kể đến những bia dựng tại Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội và ở Lam Sơn Thanh Hóa, có thể kể ra Đại Bảo tam niên Nhâm tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký (大 寳 三 年 壬 戌 稞 進 士 題 名 記), niên đại Hồng Đức thứ 15 (1484), khổ 147x185cm; hay Đại Việt Lam Sơn Chiêu lăng bi (大 越 藍 山 昭 陵 碑), dựng vào năm Lê Cảnh Thống thứ 1 (1498), khổ 270x185; hay Đại Việt Lam Sơn Dụ lăng bi (大 越 藍 裕 陵 碑), dựng vào năm Lê Cảnh Thống thứ 7 (1504), khổ 250x180cm; cùng nhiều văn bia dựng ở xã Lam Sơn phủ Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa và một số địa phương khác. Bia c1o kích thước nhỏ thời kỳ này, có kể như Hồng Đức nhi thập lục niên (洪 德 而 十 六 年),tạo dựng năm Hồng đức thứ 26 (1495) ở đình xã Hà Nam huyện Yên Hưng tỉnh Quảng Ninh, bia ba mặt, hai mặt cùng khổ 42x31cm và 1 mặt khổ 42x12cm; bia Yên Mô xã đình bi ký (安 模 社 亭 碑 記), tạo dựng năm Hồng Đức thứ 3 (1427), đặt ở đình xã thứ 3 (1427), đặt ở đình xã Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, bia 2 mặt khổ 60x34cm và 81x40cm; hay bia Quận thượng chúa Lê thị mộ chí (郡 上 主 藜 氏 墓 志), tạo năm Hồng Đức thứ 2 (1471), văn bia do Nguyễn Trực soạn, đặt ở mộ Quận chúa họ Lê xã Trung Giám huyện Duy Tiên tỉnh Hà Nam, bia 2 mặt, khổ 27x44cm và 73x44cm. Họa tiết trang trí trên bề mặt bia của thời kỳ này rất phong phú và đa dạng, nhìn chung các bia đều có họa tiết hoa văn trang trí trên bề mặt bia (ngoại trừ các bia ma nhai). Trán bia thường được trang trí bằng hình hoa mây cách điệu xung quanh mặt nguyệt, ở nhiều bia khác thì trán bia trang trí lưỡng long chầu nguyệt. Tiêu đề bia thường theo hàng ngang và nằm ở bờ mi của trán bia, đặc điểm này thường thấy rõ nét trên các bia Văn Miếu ở Hà Nội và văn bia Vĩnh Lăng. Hình rồng thời kỳ này có hình rồng theo phong cách thời Lý, có hình rồng theo phong cách thời Trần và có hình rồng mang phong cách mới. theo sách Mỹ thuật thời Lê sơ thì có nhận xét về rồng thời kỳ này như sau: “Trải qua nhiều thời kỳ của Mỹ thuật Việt Nam, hình rồng bao giờ cũng là cái dấu nối giữa thời kỳ trước với thời kỳ sau, giữa đương thời và truyền thống. Hình rồng thời Lê sơ cũng vậy, nó hình thành từ hình rồng của nghệ thuật thời Lý, Trần, trải qua những chuyển biến liên tục mà tiến tới định hình. Con rồng trong điêu khắc thời Lê Sơn, mọi thành tố cơ bản khác vẫn giữ nguyên so với hình rồng điêu khắc của các thời trước, chỉ có cái mào dài và khối xoắn ốc đôi trên trán của nó đã biến mất, nhường chỗ cho hai cái mũi căng phồng, nổi cao trên bồ mặt dài thượt” . Những hình rồng mang phong cách mới của thời Lê Sơ là những hình rồng thường được khắc có đầu dài, có hàm răng, thân to và có vây, chân có móng. Nhìn chung, ta thấy hình rồng tarng trí trên các bia bắt đầu thể hiện sự quyền uy mang hệ tư tưởng Nho giáo đã được khẳng định vai trò chính thống trong đời sống văn hóa Đại Việt. Xung quanh bia thường có trang trí đa dạng, có khi là hình rồng cách điệu đang cuộn mình như hình mây xoắn, cũng có khi là hình dây mây lá. Phía mép dưới bia thường có hoa văn trang trí, cũng có bia phía mép dưới không ó hoa văn trang trí. 6. Thời Mạc – Lê Trung hưng – Tây Sơn: Thời kỳ kéo dài mấy trăm năm, hình thức sáng tạo bia tiếp thu kế thừa từ các thế kỷ trước và phát triển khá mạnh, chiếm một số lượng có thể nói là nhiều nhất trong sự phát triển của hệ thống bi ký Việt Nam. Mặc dù thời gian có kéo dài qua 3 tirều đại liên tiếp nhau trong lich sử Việt Nam, nhưng đặc điểm hình thức của bia, nhìn chung có thể coi cùng một phong cách, nếu có khác biệt thì cũng chỉ là một vài trường hợp cá biệt, nên chúng tôi cùng phân chia vào một giai đoạn. Giai đoạn này bia được tạo dựng theo hai hệ thống: một là do Nhà nước, hai là do nhân dân tạo dựng. Bia do Nhà nước tạo dựng thường có kích thước to, chữ khắc đẹp, họa tiết trang trí đẹp và cầu ky. Bia do nhân dân tạo dựng thường có kích cỡ vừa và nhỏ, chữ khắc nông và xấu, họa tiết trang trí đơn giản, thậm chí không có hoa văn trang trí. Từ giai đoạn này trở đi, theo ý kiến của chúng tôi, bia do nhân dân dựng tạo nhiều hơn văn bia Nhà nước tạo dựng. Theo thực tế, các văn bia có kích thước to, thường được trang trí và dựng ở ở Văn miếu trung ương và địa phương, hay những khu di tích mang tầm cỡ quốc gia. Ví dụ như bia Trấn Quốc tự bi ký (鎭 國 寺 碑 記), tại phường Yên Hoa, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên, nay là đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội, tạo dựng năm Dương Hòa thứ năm (1639), khổ 150x90cm; bia Vĩnh Hựu nhị niên Bính Thìn khoa Tiến sĩ đề danh ký (永 祐 二 年 丙 辰 科 進 士 題 名 記)tại Văn Miếu Quốc Tử giám Hà Nội, tạo dựng năm thứ 2 (1738), khổ 189x114cm; và bia Cảnh Hưng tam thập cửu niên Mậu tuất khoa Tiến sĩ đề danh ký (景 興 兴 三 十 九 年 戊 戌 科 進 士 題 名 記),tại Văn miếu Quốc tử giám, Hà Nội, tạo dựng năm Cảnh Hưng thứ 39 (1780), khổ 180x112cm. Những bia có kích thước vừa, nhỏ, chữ khắc bình thường, họa tiết tương đối đẹp; thường dựng ở các chùa, đền, đó là những bia khắc bài văn để kể việc trùng tu di tích. Những bia có kích thước nhỏ, ví dụ như Trường sinh Phúc Khánh tự (長 生 福 慶 寺) tại Giáp Đông phường Nhật Chiêu huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên (nay thuộc thành Hà Nội), tạo năm Chính Hòa thứ 22 (1701), khổ 25x16cm, bia Hậu thần bi kí (后 神 碑 記), tại thôn Phúc Tinh xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn (nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), tạo năm Bảo Thái thứ 4 (1723), khổ 75x34cm; hay bia Hậu thần bi kí (后 神 碑 記), tại phường Yên Hoa huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên (nay thuộc thành phố Hà Nội), tạo năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763), khổ 56x44cm. Trang trí trên bia thời kỳ này cũng rất đa dạng. Trán bia trang trí hình rồng mây, chim phượng chầu nguyệt, nhưng mặt nguyệt thường to tròn và có tua mây xung quanh. Tiêu đề văn bia theo hàng ngang và ở mi trán bia. Hình rồng thời kỳ này, có hình vẫn theo phong cách của thời Lý, Trần và Lê sơ, nhưng phần lớn nhiều hình mang phong cách mới. Những hình rồng mang phong cách mới là những bắt đầu theo xu hướng dân gian hóa, hình rồng được thể hiện rất đa dạng. Những hình rồng thường thấy là rồng có đầu hình thú, có hàm răng, thân to, ngắn, có vây, chân có móng vuốt. Hai lề bia được trang trí đa dạng, có thể là họa tiết hình hoa, có thể là hình rồng mây cách điệu, cũng có thể là hình dây hoa lá. Từ thời kỳ này trở đi xuất hiện khá nhiều bia không hoa văn trang trí. 7. Thời Nguyễn: Số lượng bai được tạo dựng phát triển nhiều nhiều, tuy thời gian không trải dài nhiều năm như thời Mạc – Lê Trung hưng – Tây Sơn, nhưng khối lượng bia được dựng tại địa phương cũng rất đáng kể, đặc biệt là việc xuất hiện các bia tại nhiều tỉnh Nam bộ. Thời kỳ này, bia được tạo dựng vẫn theo hai hệ thống: do Nhà nước tạo dựng và do nhân dân tạo dựng. Đặc điểm, hình thức và phong cách thể hiện trên bia vẫn theo phong cách thời kỳ Mạc – Lê – Trung hưng – Tây Sơn. Bia do Nhà nước tạo dựng thường có kích thước to, chữ khắc tốt, họa tiết trang trí đẹp. Còn bia do nhân dân tạo dựng thường có kích thước nhỏ và vừa, chữ khắc nông và xấu, họa tiết trang trí đơn giản, thậm chí nhiều bia không có hoa văn trang trí. Những bia này tìm thấy ở chùa, đình, đền, hay nhà thờ, v.v… Những bia to như Trần gia hưởng tự chi bi (陳 家 饗 祀 之 碑), tại thôn Thượng Thọ, xã Trì Trọng, huyện Hoằng Hóa phủ Hà Trung (nay thuộc Huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa), tạo năm Minh Mạng thứ 11 (1830), khổ 125x75cm, bia Ngự chế Thánh đức thần công bi ký (御 製 聖 德 神 功 碑 記), tại chùa Thiên Mụ, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế, tạo dựng năm Thiệu Trị thứ 1 (1841) khổ 240x120cm; hay bia Chân Vũ quán thạch bi (眞 武 觀 石 碑) tại phường Thụy Chương tổng Trung huyện Vĩnh Thuận (nay tại đường Thanh Niên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội), tạo dựng năm Thành Thái thứ năm (1893), khổ 182x141cm. Những bia có kích thước nhỏ, ví dụ bia Đình môn các lệ bi ký (亭 門 各 例 碑 記),ở xã Thu Vi huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai (nay thuộc Hà Tây), tạo năm Minh Mạng Giáp Thân (1824), khổ 73x48, Bia Dương tiên sinh bi ký (楊 先 生 碑 記),ở từ đường họ Dương xã Đức Thịnh tổng An Dương, phủ Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, tạo năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), khổ 83x40cm; hay bia Nguyễn tộc bi ký (阮 族 碑 記),ở từ đường họ Nguyễn thôn Chu Xá xã Đạo Khê tổng Sài Trang huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên, tạo năm Thành Thái thứ nhất (1889), khổ 64x42cm. Họa tiết trang trí trên bề mặt bia của thời kỳ này cũng rất phong phú và đa dạng, các bia đều có họa tiết hao văn trang trí trên bề mặt bia có khi đơn giản, và có khi phức tạp (ngoại trừ các bia ma nhai và một số bia Hậu). Trán bia thường được tarng trí bằng hình hoa mây cách điệu xung quanh mặt nguyệt, ở nhiều bia khác thì trán bia tarng trí “lưỡng long chầu nguyệt. Bia dựng ở các cung điện đền đài vương triều nhà Nguyễn phần nhiều đều có tai. Tiêu đề bia chữ theo hàng ngang và nằm ở bờ mi của trán bia hoặc nằm trong lòng bia. Các hình mây hoa uốn lượn cách điệu khá cầu kỳ. Hình rồng thời kỳ này, có hình theo phong cách mới. Cuốn Mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế nhận xét về rồng thời kỳ này như sau: “Trong hệ thống cung điện triều Nguyễn, con rồng đã có những nét chung nhất qua sự bộc lộ quyền uy của vương triều phong kiến chính thống, việc kế thừa trong nét tạo rồng ở những triều đại trước, nhất là rồng thời Lê đã được thể hiện tương đối trung thành” . Trên các bia đá, rồng thời Nguyễn được khắc rất công phu, hình rồng thường khắc có đầu to, hàm rộng, thân lớn uốn lượn và có vây, được trang trí đa dạng, có khi là họa tiết hình hoa, có thể là hình rồng cách điệu đang cuộn mình như mây xoắn, cũng có thể là hình dây hoa lá. III. Kết luận: Tóm lại tùy theo từng thời kỳ lịch sử của thời đại của nước ta, mà văn bia ở nước ta có những thể thức khác nhau, hẳn nhiên sự biến đổi thể thức, đặc điểm, hình thức trên bia ký của Việt Nam nó cũng phải phù hợp sự thích ứng văn hóa của xã hội, thể chế chính trị, truyền thống, tính tự chủ độc lập của mỗi vương triều. Các hình thức bia Việt nam, trong đó bia ở các chùa chiền, tự viện, đại danh lam thắng cảnh, tùy theo truyền thống gắn kết giữa Nhà nước phong kiến của mỗi thời kỳ mà nó mang tầm ý nghĩa biểu trưng, biểu tượng của Quốc gia và Đạo pháp dân tộc. Nhưng cũng có bia chỉ là do nhân dân lao động tạo nhưng nó cũng mang cái hồn của dân tộc. Ở đây dù hệ thống bia ký do Nhà nước tạo dựng hay hệ thống bia do nhân dân lao động tạo, tất cả là đều là di sản văn hóa dân tộc, trong đó có cả di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam, cần bảo tồn và phát huy một cách nghiêm túc. Thông qua bi ký, chúng ta có thể tìm hiểu và nhận diện đôi nét về quốc hồn, quốc túy của dân tộc Việt Nam và Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay. Văn bia đời Lý Như đã nói văn bia đời Lý, theo thơ văn Lý – Trần thống kê, hiện còn 9 bài (7 bài có tên tác giả và 2 bài khuyết danh). Đó là An Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký (Chu Văn Thường); Bảo Minh Sùng Phúc tự bi minh (Lý Thừa Ân); Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh, Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh (hai bài này của Pháp Bảo); Viên Quang tự bi minh tĩnh tự (Dĩnh Đạt); Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi (Nguyễn Công Bật); Báo Ân Thiền tự bi ký (Ngụy Tư Hiền); và hai bài khuyết danh Càn Ni sơn Hương Nghiêm tự bi minh và Cự Việt quốc Thái úy Lý Công Thạch bi minh tự. Nhữnng văn bia này thuộc loại hình văn học mang tính chức năng và nội dung những bài trên là những tác phẩm mang tính sử học nhưng lại có giá trị văn học. Chúng ta hãy tìm hiểu một bài văn bia nói trên để thấy giá trị thực của chúng. I. Chánh văn: 安 荻 山 报 恩 寺 碑 记 朱 文 常 昭 昭 乎 妙 理 湛 寂 。照 物 物 而 物 不 相 侵 。荡 荡 乎 迥 彼 真 空 。纳 尘 尘 而 尘 莫 混 迹 。是 亦 不 谓 幽 深 宏 远 哉 。 佛 之 有 金 色 。人 之 有 佛 性 。而 不 能 自 觉 自 悟 也 。人 之 欲 征 者 。必 资 善 以 证 焉 。 所 可 参 者 。莫 大 于 像 法 。像 法 之 所 崇 莫 崇 于 净 剎 。 故 仿 优 阗 阿 欲 之 芳 踪 。挈 摩 腾 法 兰 之 遗 迹 。 今 有 太 尉 李 公 佐 皇 越 第 四 帝 。授 推 诚 。叶 谋 。保 节 。宁 正 。佐 理 ,翊 戴 功 臣 。 守 尚 书 令 。 开 府 。 钦 同 三 司 。 入 内 内 侍 省 。都 都 知。捡 校 太 慰 。兼 御 史 大 夫 遙 授 诸 镇 节 度 使 。同 中 书 门 下 平 章 事 。上 柱 国 。天 子 义 弟 。 开 国 上 将 军 越 国 公 。 食 邑 一 万 户 .食 实 封 四 千 户 。图 监 大 节 。言 受 缀 旒 。信 乎 六 尺 之 孤 可 托 。百 里 之 命 可 寄。 厥 后 乃 XX 于 师 。 北 征 邻 国 。西 讨 不 庭 。善 七 纵 七 擒 之 朕 敌 。非 汉有 韩 彭 之 功 。岂 齐 有 管 晏 之 烈 唯 公 辅 君 。国 家 殷 富 多 历 年 。所 可 垂 臣 道 千 古 之 熙 绩 也 。 至 壬 戌 之 岁 。皇 帝 特 加 清 化 一 军 。赐 公 封 邑 。群 牧 响 风 。万 民 慕 德 。正 县 西 南 有 山 ,高 而 且 大。名 安 获 。所 产 美 石 。其 石 公 家 之 贵 物 。莹 莹 色 如 蓝 玉 。青 青 质 拟 生 烟 然 后 凿 而 为 器 。其 器 也 。凿 为 响 磬 。扣 处 而 万 里 流 音 。月 作 铭 碑 。遗 文 而 千 龄 盖 固 。是 则 太 尉 李 公 祇 差 侍 者 甲 首 武 承 叨 一 名 。领 九 真 乡 人 也 。搜 其 山 。采 其 石 。十 有 九 年 。实 践 节 操 民 就 焉 。 战 战 而 若 履 轻 冰 恪 勤 特 。盈 ; 己 清 焉 。 兢 兢 而 类 乘 朽 索 。 自 省 曰 。 量 器 微 而 裁 重 本 智 小 而 煤 大 。积 尖 纤 而 岂 拂 。五 岳 渐 成 。注 滴 水 而 无 休 。四 溟 转 溢 。况 蒙 究 锡 之 踰 涯 以 何 能 之 报 效 。贤 愚 列 次 。贫 富 有 宜 。所 见 于 斯 处 者 。芟 夷 翠 野。草 建 仁 祠。号 为 报 恩 之 寺 也。端 伟 能 仁 之 相。次 列 菩 萨 之 容 。颜 丽 双 南。体 完 绘 事 。经 菅 于 己 卯 炎 天 。庆 成 於 庚 辰 噢 景 。其 屋 乃 臺 旦 借 丹 青 点 缀 。百 年 延 气 象 芬 芳 。前 依 赤 帝 之 方 。境 列 古 战 之 县 。省 分 攸 耿 。缘 茂 如 云 。后 联 翔 凤 之 嵎 。旁 耸 白 龙 之 岫 。橫 注 清 流 。势 成 一 带 。左 达 隅 XX 之 表 。之 鬲 分 为 之 间 .遙 拂 扶 桑 敬 宾 出 日 。 右 通 昧 谷 之 都 。逼 镇 尧 岳 之 巍 。夤 饯 斜 晖 隙 临 疏 牖 。双 影 特 涌 尖 丘 。桥 外 花 香。十 里 若 飘 浓 麝 。 但 愚 乃 学 文 眛 浅。胜 事 何 穷 。滥 矢 芜 词 。以 贻 铭 曰 。 空 门 虚 寂 。 俗 累 罕 缨 。 至 小 何 轻 。 吉 凶 由 己 。 祸 福 易 迎 。 尖 途 则 背 。 善 里 归 情 。 纤 尖 岂 让 。 山 岳 渐 成 。 滴 水 不 弃 。 河 海 相 盈 。 若 能 机 要 。 名 器 何 亏 。 贤 愚 列 次 。 贫 富 所 宜 。 明 恩 罔 极 。 何 以 报 之 。 强 芟 翠 野 。 草 建 仁 祠 。 前 分 井 亩 。 后 白 龙 嵋 。 右 通 尧 岫 。 左 达 嵎 夷 。 双 丘 甃 石 。 四 照 芳 花 。 次 列 菩 夹 。 中 坐 释 迦 。 体 完 禅 绘 。 凛 烈 不 磨 。 四 回 胜 事 。 一 境 繁 华 。 募 修 像 法 。 永 保 邦 家 。 名 畱 今 古 。 功 著 迩 遐 。 。。。。。。。。。。。。。。 节 彼 山 兮 碧 龙 巅 。 被 美 石 兮 尤 至 坚 。 莹 莹 滑 兮 禀 自 然 。 青 青 质 兮 拟 生 烟 。 。。。。。。。。。。。。。。 蒙 皇 锡 兮 十 九 年 。 讲 法 场 兮 仿 优 阗 。 所 庶 几 兮 生 日 迁 。 山 比 寿 兮 永 何 骞 。 沐 慈 恩 兮 福 果 圆 。 。。。。。。。。。。。。。。 至 仁 道 兮 比 尧 天 。 纪 于 铭 兮 百 代 传 。 从 XX 言 兮 愧 后 贤 。 署 敏 书 郎 管 俱 御 府 :同 中书 健 编 修 :兼 守 清 化 寨 九 真 县 公 事 。 朱 文 常 述 。 II. Phiên âm: An Hoặch sơn Báo Ân tự bi ký Chiêu chiêu hồ diệu lý trạm tịch, chiếu vật vật nhi vật bất tương xâm; đãng đãng hồ quýnh bỉ chân không, nạp trần trần hỗn tích. Thị diệc bất vị u thâm hoằng viễn tai! Phật chi hữu kim sắc, nhân chi hữu Phật tính nhi bất năng tự giác tự ngộ dã. Nhân chi dục chứng giả, tất tự thiện dĩ chứng yên. Sở khả tham giả mạc đại ư tượng pháp. Tượng pháp chi sở sùng, mạc sùng ư tịnh sát. Cố phỏng Ưu điền, A dục chi phương tung, kiết Ma đằng, Pháp lan chi di tích. Kim hữu Thái úy Lý công, tá Hoàng Việt đệ tứ đế, thụ suy thành, hiệp mưu, bảo tiết, thủ chính, tá lý, dực đời công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ, khâm đồng tam ty, nhập nội nội thị sảnh, đô đô tri, kiểm hiệu thái úy kiêm ngự sử đại phu, giao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp nhất vạn hộ, thực thực phong tứ thiên hộ. Đồ lâm đại tiết, ngôn thụ xuyết lưu. Tín hồ lục xích chi cô khả thác; bách lý chi mệnh khả ký. Quyết hậu nãi thệ vu sư, Bắc chinh lân quốc; Tây thảo bất đình. Thiện thất túng thất cầm chi thắng địch. Phi Hán hữu Hàn, Bình chi công; khởi Tề hữu Quản, Yến chi liệt. Duy công phụ quân, quốc gia ân phú đa lịch niên, sở khả thùy thần thiên cổ chi hi tích dã. Chí Nhâm tuất chi tuế, hoàng đế đặc gia Thanh hóa nhất quân, tứ công phong ấp. Quân mục hướng phong; vạn dân mộ đức. Chính huyện Tây nam hữu sơn, cao nhi thả đại, danh An hoạch. Sở sản mỹ thạch. Kỳ thạch công gia chi quý vật. Oánh oánh sắc như lam ngọc; thanh thanh chất nghĩ sinh yên. Nhiên hậu lạc nhi vi khí. Ký khí tạc vi hưởng khánh, khấu xứ nhi vạn lý lưu âm; dụng tác minh bi, di văn nhi thiên linh cái cố. Thị tắc Thái úy Lý chỉ sai thị giả Giáp thủ Vũ Thừa Thao nhất danh, lĩnh Cửu chân hương nhân sưu kỳ sơn, thái kỳ thạch, thập hữu cửu niên. Thực tiễn tiết tháo, dân tựu chiến chiến nhi nhược ly khinh băng; khác cần đặc doanh, kỷ thanh căng căng nhi loại thừa hủ sách. Tự tỉnh viết: lượng khí vi nhi tài trọng, bản tiểu nhi mưu đại. Tích trần tiêm nhi khởi phất, ngũ nhạc tiệm thành; trú thuỷ nhi vô hưu, tứ minh chuyển dật. Huống mông cứu tích chi du nhan hà năng chi báo hiệu. Hiền ngu liệt thứ; bần phú hữu nghi. Sở kiến xứ giả, sam nhi thúy dã. Thảo kiến nhân từ, hiệu vi Báo ân chi tự dã. Đoan năng nhân chi tướng; thứ liệt Bồ tát chi dung. Nhan lệ song nam, thể hoàn hội sự. Kinh doanh ư kỷ mão viêm thiên: khánh thành ư Canh thìn áo cảnh ốc nãi nhất đán tá đan thanh điểm xuyết. Bách niên diên khí tượng phân phương. Tiền y xích đế chi phương, cảnh liệt cổ chiến chi huyện, tỉnh phân du cánh duyên mậu như vân; hậu liên. Tường phượng chi ngung, bàng tủng Bạch Long chi tụ, hoành trú thanh lưu, thế thành nhất đời. Tả đạt Ngung chi biểu, chi cách phân vi chi gian dao phất Phù tang, kính tân xuất nhật hữu thông muội cốc chi đô, bức trấn Nghiêu nhạc chi nguy, di tiễn tà huy khích lâm sơ dũ. Môn gian thạch thứu, song ảnh đặc dũng tiêm khâu; kiến ngoại hoa hương, thập lý nhược phiêu nùng xạ. Đãn ngu nãi học văn muội thiển, thắng sự hà cùng, lạm thỉ vu từ, dĩ di minh viết: Không môn hư tịch, Tuy lụy hãn anh, Cực vi nhi hiển, Chí tiểu hà khinh. Cát hung do kỳ, Họa phúc dị nghinh, Trần đồ tắc bội, Thiện lý quy tình, Tiệm trần khởi nhượng Sơn nhạc tiệm thanh Chích thủy bất khí Hà hải tương doanh Nhược năng cơ yếu, Danh khí hà khuy Hiền ngu liệt thứ Bần phú sở nghi Minh ân võng cực, Hà dĩ báo chi. Cưỡng sam thúy dã, Thảo kiến nhân từ Tiền phân tỉnh mẫu, Hậu bạch long mi. Hữu thông Nghiêu thụ, Tả đạt Ngung di. Song khâu thứu thạch, Tứ chiêu phương hoa. Thứ liệt Bồ tát Trung tọa Thích Ca Thể hoàn thần hội, Lẫm liệt bất ma. Tứ hồi thắng sự, Nhất cảnh phồn hoa, Mộ tu tượng pháp Vĩnh bảo bang gia. Danh lưu kim cổ, Công trứ nhĩ hà. Tiệt bỉ sơn hề bích long điên, Bỉ mĩ thạch hề vưu chí kiên Oánh oánh hoạt hề bẩm tự nhiên, Thanh thanh chất hề nghĩ sinh yên. . . . . . . . Mộng hoàng tích hề thập cửu niên Giảng pháp trường hề phỏng Ưu điền, Sở thứ cơ hề thánh nhật thiên, Mộc tứ ân hề phúc qảu viên. . . . . . . . Chi nhân đạo hề tỉ Nghiêu thiên, Kỷ vu minh hề bách đại truyền, Tùng tỏa ngôn hề quy hậu hiền. Thư mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm thủ Thanh Hóa trại, Cửu Châu III. Dịch nghĩa: Bài ký bia chùa Báo Ân núi An Hoạch Chói ngời thay diệu lý, lặng lẽ soi mọi vật mà mọi vật chẳng lấn át nhau. Lồng lộng thay cái chân không vẳng lặng kia, thu nạp mọi cảnh mà chẳng cảnh nào lẫn với cảnh nào. Đó chẳng phải là sâu xa lớn rộng hay sao! Phật có sắc vàng như ngườ ta có Phật tính, nhưng không mấy ai tự giác ngộ được. Vì vậy, người muốn chứng quả phải nhờ điều thiện để đến nơi chứng quả. Điều tham cứu không gì lớn hơn tượng pháp mà sùng thượng tượng pháp không gì bằng chùa chiền. Cho nên, bắt chước dấu vết thơm tho của Ưu điền, A Dục phỏng theo tung tích sót lại của Ma Đằng. Pháp Lan. Nay có Thái úy Lý công giúp vua thứ tư triều Lý được trao chức: Suy thành, hiệp mưu, bảo tiết thủ chính, tà lý, dực đời công thần, thủ thượng thư lệnh, khai phủ khâm đồng tam ly, nhập nội nội thị sảnh đô đô tri, kiểm hiệu thái úy, kiêm ngự sử đại phu, dao thụ chư trấn tiết độ sứ, đồng trung thư môn hạ bình chương sự, thượng trụ quốc, thiên tử nghĩa đệ, khai quốc thượng tướng quân, Việt quốc công, thực ấp một vạn hộ, thực thực phong bốn nghìn hộ. Ông đứng trước tiết lớn, vâng mệnh phù nguy, là người có thể gửi gắm đứa con côi, ủy thác mệnh lệnh ngoài trăm dặm. Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả. Đâu phải riêng nhà hán có công quân Hàn, Bành, nước Tề có sự nghiệp Quản, Ân. Riêng ông giúp vua thì nước nhà giàu thịnh vượng nhiều năm. Đó chính là công tích rực rỡ của đạo làm tôi có thể để lại nghìn đời sau vậy. Đến năm Nhâm tuất (1082), nhà vua đặc biệt ban thêm quân Thanh Hóa cho ông làm phong ấp, chân mục đều ngưỡng mộ phong thanh, muôn dân đều mến đức chính. Ở phía Tây nam huyện, có một quả núi lớn và cao gọi là núi An hoạch sản xuất nhiều đá đẹp, đó là sản vật quí giá của mọi người. Sắc ông ánh như ngọc lam, chất biếc xanh như khói nhạt. Sau này đục đá làm khí cụ, ví như đẽo thành khánh, đánh lên thì ngân muôn dặm; dùng làm bia, văn chương để lại thì mãi nghìn đời. Thế là Thái úy công sai một thị giả là Giáp thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm. Tiết tháo được thể nghiêm nên dân qui phụ, vậy mà vẫn luôn dè dặt như đi trên băng mỏng; chăm lo đầy đủ khiến mình trong sạch, thế nhưng vẫn băn khoăn như cưỡi ngựa nắm dây cương sờn. Tự xét mình rằng lượng khí nhỏ mà quyết đoán việc quan trọng; tài trí hèn mà gánh vác việc lớn lao. Chứa hạt bụi nhỏ mà không chì, sẽ thành năm núi lớn; rót từng giọt nước mà không nghỉ, sẽ tràn bốn biển khơi. Phương chi lại đội ơn vua ban cho vượt bậc, biết lấy gì báo đền. Cho nên, tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cỏ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân. Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ tát, sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ. Chùa này khởi công từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099), đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành. Mái tường rực rỡ là nhờ một sớm nét đan thâm điểm xuyết, trăm năm khí tượng, mãi mãi thơm tho. Phía trước hướng về phương Nam, giáp huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây. Phía sau liền gò Tường phượng, bên cạnh vút đồi Bạch long, giòng sông trong chảy ngang, hình thành một giải. Bên tả thông tới cõi cõi ngung di, trong khoảnh giới hạn cách ngăn, xa vén cõi Phù tang, tiếp đón ánh mặt trời mới mọc. Bên hữu suốt tới đô Muội cốc, trấn át ngọn núi cao, tiễn ánh tà dương thoáng lướt qua cửa. Gò đá cửa ngoài, hai bóng vút cao chóp núi; hoa thơm bên suối, xa xa phảng phất hương nồng. Tôi học tài thiển lậu, thắng sự nào hay, lạm viết lời quê, để lưu hậu thế. Minh rằng: Cửa không vắng lặng, Tục lụy ít gần gũi. Cái tâm thể cực mờ mà cực rỡ, Rất nhỏ nhưng nào có nhẹ. Lành dữ đều bởi mình, Họa phúc đều dễ đón. Phải nên xa lánh con đường bụi bặm, Hướng về làng xóm thiện duyên. Há dám khước từ từng hạt bụi nhỏ, Tích mãi sẽ trở thành non cao. Đâu nỡ bỏ rơi từng giọt nước Chứa dần sẽ tràn đầy song bể. Nếu như hiểu rõ điều cơ yếu, Thì danh và khí có sút kém đâu. Hiền và ngu đều lần lượt góp phần, Giàu hay nghèo đều thích nghi cả. Ơn sáng không cùng, Biết lấy gì báo đáp Dẫy cỏ san đất, Bắt đầu dựng một ngôi chùa. Phía trước hướng về đồng ruộng dọc ngang, Phía sau quay về đồi Bạch long Bên hữu thông với non Nghiêu, Bên tả suốt tới cõi ngung di. Núi đá hai gò, Hoa thơm bốn phía rực rỡ. Phía dưới đặt tượng Bồ tát, Chính giữa đặt tượng Phật Thích Ca. Tượng Phật đã hàon thành, tranh Phật đã vẽ xong, Tinh thần lẫm liệt không bao giờ phai mờ. Xung quanh toàn cảnh đẹp, Khắp một cõi phồn hoa, Tu sửa tượng pháp, Mãi mãi gìn giữ nước nhà. Tiếng tăm để mãi xưa nay, Công tích rạng rỡ xa gần. . . . . ……………………………… Ngọn núi chót vót kia là ngọn núi Bích long, Có nhiều đá quý đã dẹp lại bền Sắc đá lóng lánh, đó là đặc tính tự nhiên, Chất đá xanh xanh như khói mới bốc lên. …………………………………….. Đội ơn vua đã mười chín năm. Cầu đảo ở pháp đường, bắt chước Ưu điền, Ngày tháng của thánh nhân ngõ hầu đổi dời, Mong cho tuổi như núi non, không bao giờ sút kém, Tắm gội từ ơn, phúc quả vẹn tròn. ……………………………………….. Đạo chí nhân sánh với trời Nghiêu. Ghi ở bài minh này trăm đời lưu truyền, Lời tủn mủn, sợ thẹn với các bậc hiền đời sau. Dịch thơ: Cửa không vắng lặng, Tục tụy vào vương. Nhỏ, nhưng rất nặng, Kín, vẫn rõ ràng. Mình gây lành dữ, Họa phúc dễ mang. Đường trần quay gót, Xóm thiện bước sang. Bụi nhỏ tích lại, Thành ngọn núi vàng. Giọt nước chứa lại, Sông bể mênh mang. Nếu hay cơ yếu, Danh, khí trọn đường. Hiền, ngu lần lượt, Không kể giàu sang. Lấy gì báo đáp, Từ ơn khôn lường. Dẫy cỏ san đất, Dựng ngôi Phật đường. Trước, ruộng ngang dọc, Sau, Bạch long cương. Hữu thông núi thẳm Tả tới Phù tang. Hai gò núi đá, Hoa thắm ngát hương. Dưới tượng Bồ tát, Giữa tượng Phật vàng. Tượng sơn tranh vẽ, Lẫm liệt khác thường. Bốn phen việc tốt, Một cõi huy hoàng. Tu sửa tượng pháp, Nhà nước vững vàng. Tiếng thơm muôn thưở Công chói muôn phương. Ngọn núi chót vót chừ là ngọn Bích long, Đá kia đá đẹp chừ lại thêm bền. Sắc long lanh chừ tinh bẩm tự nhiên, Chất xanh xanh chừ chừ khói mới lên. ………………………………………… Đội ơn vua chừ đã mười chín niên, Cầu pháp đường chừ bắt chước Ưu điền, Ngày thánh ngõ hầu chừ đương độ biến thiên. Mong thọ như non chừ mãi mãi bình yên, Tắm từ ân chừ phúc quả vẹn tuyền. ……………………………………………. Đạo chí nhân chừ sánh với Nghêu thiên. Ghi bài minh chừ muôn thưở lưu truyền, Lời quê vụng về chừ thẹn với hậu hiền. Chu Văn Thường giữ chức Thư mẫn thư lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiện biên tu, kiêm coi việc quan huyện Cữu chân, trại Thanh Hóa, soạn thuật. Bài 2: Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diện Linh tháp bi I. Chánh văn: 大 越 國 當 家 第 四 帝 崇 善 延 齡 塔 碑 龍 隊 山 寺 崇 善 齡 寳 塔 碑 御 書 飛 白 碑 額 夫妙體玄寂,靈光兮非中非外,卓爾于 五太之初;大用繁滋,浩博兮唯形唯顯。森 然于一虛之裏。勿兆朕可測。靡影跡可求。 包天壤廣大之容。詎能參覲;混日月光華 之彩,寧假尋觀。雖于運造化樞机,彼端然 在,縱推蕩陰陽舒豫,秘要偏幽。豈非玄寂 歟(?)上下之紀綱既立;埏埴之規模聿興。 四序行而王燭調;七政齊而璇璣運。雜沓 萬類叢挫眾緣。生生由是著名;蚩蚩以之 遂性.不曰繁滋乎;如此迅機宏辨。原始要 終,不 亦 難 哉 。 唯我大雄氏。中古應運,而乾顯靈。完三 千之威儀;興四入之妙相。十號備具,百福 壯嚴。究彼精微,明茲統粹。悼群生之醉 識;惡四類之迷真。衣中忘寶而不自知;篋 裏藏蛇亦非警悟。由是設醍醐之妙教;飫 積歲之饑虛。燃燦爛之明燈,燭彌年之昏 暗.俾浪心之天真得定;遣妄性之蓬行立 安。故三界皈依,十方回向。住塵世七十九 歲;權設法入萬千門。跡謂既合塵;身寧避 幻。遂乃金容掩色于雙樹;白虹騰耀于重 天。兜羅綿裸其神姿,紫蘭膏潤其香體。信 心戀慕奉柟檀而作薪;覺性靈通,應闍維 而火化。荼毗煙了;舍利凝成。類明月之產 畔胎;肖露珠之瑩金掌。或五彩而照耀;或 九色而澄徹。盈盤斛,異俗超凡;人主龍 王,陰間天上。時悉造集,覺相分俵。珍惜 以 寶 函 重 貯;慎 守 則 提 刃 經 巡 。各 擇 其,摩常厥所。或香山頂上,人世塵中;或朝野 空間滄溟宮裏。堵波竸梵,神物高藏沿古 處今,歷傳罔替。興功繼績,亦不盛歟? 恭惟李朝,聖憲體道,聖文神武,英格民 物,萬靈照應,永隆元化,聰明廣運,仁智 懿義,純誠明孝皇帝陛下,堪輿鍾粹,日月 儲精。慶兆先符,休徵預啟。父皇入夢,殊 邦獻雪象六牙;母后有娠,飛閣蔭黃龍五 彩。斯 則 陛 下 入 胎 之 兆 也。 景星瑩現,銀河應眉月之光;慶雲曉飛, 丹陛舒霜綃綃之彩。喜氣俄騰於霄漢;異香 散靄於宮圍。十月處胎而周期,三陽建寅 而 誕 聖。期 則 陛 下 降 誕 之 徵 也。 悼歲而甫登大寶,天地相扶。勝衣而統 御寰區,人神咸贊。龍睛鳳目,玉潔冰姿, 眸澄而青白分明,異重瞳於舜帝;耳壽而 輪廓修廣,嗤三漏於夏王。形順而長,足方 而厚。玉理含其潤,珠庭耀其花。誠千載之 英明,冠百王之奇秀。斯則陛下天表之端 嚴 也。 惠周動植,智敏風雲。內典經書,精窮玄 要;外權法術,總悉指歸。陶金石之英辭, 光吞斗極;著殿塔之嘉號懸照古今。精飛 白以通神;運御毫之絕妙。龍躍鳳翔之勢 法從玉手;鸞回鵲返之形,體出宸心。雕金 牌以置梵宮;鐫翠珠以遺道觀。詩思撮陶 均萬化;樂譜和唐梵同音。書窮究於玄機; 射至精於妙術。斯則陛下博通於才藝也。 中秋清景,万務休時。孝誠展而潔珍饈 盛禮陳而祠聖考。復於三但,大啟駕儀。乘 玉輦而出九重,陟金輅而馳黃道。雉扇擁 於兩際;銀輞護於四圍。黃蓋浮空;彩旗慧 日。星馳柳陌,斗轉花衢。向長瀘之碧川; 御靈光之寶殿。千艘而中流電速;萬鼓而 溢水雷嗚。玉廊宴方伯之會同;丹陛奏仙 吏之章表。波心蕩漾浮金鼇以負三峰,水 面夷猶,露甲文而,敷四足。轉眸眸岸;呀口 噴津。向冕旒而仰觀;對當空而俯察。望嵯 峨之峭壁;奏洋溢之雲韶。洞戶爭開,神仙 競出。蓋天上之霓態;豈塵世之嬌姿。翹纖 手以獻回風;顰翠眉而歌休運。珍禽作隊, 盡率舞以趨蹌;瑞鹿成群,自著行而踴躍。 及金烏西照。寶輅將還。到如砥之途中;留 廣天之境外。向崇臺而回陸地;背贔負以 載山。對朱盤而招頭;將安身而曳尾。鳩 過雲而嘹嘀;虎下磴而生;獰。奮迅雄威;噬 嚙小獸,會上林弟子,持翟羽朱竿。厲聲驅 以進帝前,築場圃而守獵界。鸞弧趨射,拔 劍馳循。人奮勇於片時;士爭趍於當日.懷 鄰國而攜耆提幼;來列土而登拽緣牆.屬 目觀光;翹心愿見.處處之盡妝羅綺;年年 之三日觀娛.躋人世於壺天;置兆民於樂 國.斯則陛下拔覽而新制金鼇也. 顯聖謀之神妙;制御舶之精奇.著狀設 連艦壯雄立格造千艘秀麗.架重霄之樓 閣;崇危峭之檐楹.中嚴黼塵彌高,豁聰睿 明之遐鑒,旁展繡例光燦.廣列嬪彩之親 倍,傾萬寶以嚴妝,備三宮之房屋中流曉 漾,疑蜃吐以橫波.喂岸晚停,擬鼇擎之聳 澲.斯 則 陛 下 新 制 度 之 巧 也. 廣運神功,弘推聖斷.精修勝事,勤至良 緣.建廣昭之登台;向端門之廷上.中標一 幹,外設三.虬弓出而捧金蓮;縫紗籠而 獲蘭焰.蘊機微於地下,圓轉如輪;爍光體 於天中,瑩煌似日.复有嚴彰寶聖,金殿寶 叢.就睿意妝成,坐金色相斗.狀寫靈文, 形鋪奇麗.又有花樓兩座,綰以金鍾.刻釋 子而體掛田衣;運幽機而播捶如擊.聞嗚 鞘而肅儀轉面;覩英聖而稽首回躬.出自 睿謀,宛如動靜.復有耀七寶之崒堵;作一 行而互排.端中則黃金一峰,坐多寶如來 之瑞相.列幾層法駕之真形.檐光爍晨旭 之輝;瓦色開碧雲之彩.其次則白銀二座, 左置阿彌陀之真容,右貯妙色身之粹質. 峭舒雄勢,喬奮飛甍.玲瓏欺瑞雪之融;燦 爛奪秋蟾之潔.更次則鳥文二座:左安廣 博身之慈顏,右備離怖畏之妙相.既已圓 高閣;又更起危層.蓋迭素瓊,壁鐫龍狀 又次則象齒二座:左錦甘露王之形儀;右 儼寶勝佛”之眸睦.切磋素質,崇架霜楹.排 棱雕緣玉之英;間隙剪群犀之角.兼精制 記詞之美,各鐫于蓮座之旁.披雪精誠永 昭厥後,而又寫九天以五色;刻四柱以雙 懸.沿邊而瑩點千燈,兩面而煉妝金彩.可 謂絕古今之制度;超造化之生成.傾天下 之雍和,夜為晝賞;暢世間之心目,老換童 顏.斯則陛下巧勝緣之功也. 積崇皇覺,篤慕勝因.向西禁之名園;廠 延佑之光寺.跡從前之舊制;出聖意之新 謀.鑿靈沼之芳池,而池中湧一石干,于上 圻千葉蓮花.花上而橋安紺殿,殿中坐金 相之能仁.池之外周繞晝廊.環廊之外又 疏碧池.每架飛橋以通之.前橋之廷,左右 梵琉璃寶塔.以月之朔旦,以年之游春,親 乘玉輦,來啟清筵.花香設祈祚之儀;盆盥 陳浴佛之式.粧精禁之相于五眾,或袒露 進退以為容;作天王之隊于四方,齊聲器 徘徊而獻舞.精勤靡迨,敬奉移辰.而玄造 靈通,咸皆扶佑.斯則陛下制梵剎以祈福 壽 也. 上方垂拱,下正弼鄰.偶邊吏之更常;成 乖違之有釁.星馳御敵;雷奮挫威.邕州軍 之眾億千,潰矣猶風卷翳;如月江之師百 萬,渙然若日消冰.在閱外之將自施;豈宸 中之謀所決.暨后至皇極於穆清;躋生民 於富壽.扇仁風以化率;施惠澤以旁宣.乍 制環主辭宮室而趍庭為庶;羅于國主棄山 河而詣闕稱臣.篤意慕羶,傾懷就日.頃者 磨沙蠻獠,恃險江山,狼獷生心,不循皇 化.聖則一怒,大駕啟行.猛將雲隨,謀雨 會.布師旅於野;襲梟獍之頑民.盡酋長成 擒;大魁渠仔虜.其餘則血膏草莽;肉委林 泉.縱雄虎而扼鼠奚難;翻巨石而碎卵何 易.斯 則 陛 下 耀 武 通 規 也. 黔黎熙洽,兆庶清夷.春覲奉琛;秋朝述 職.會方國諸而宴賞;构眾仙三級之寶台. 銀瓦送而光照穹旻;金蓮累而鋪陳寶相. 上頂則靈禽聳立;四棱則鱗長競驤.蓋飭 七珍,帶粧百寶.上陛至位而聖明端拱;中 級一等而仙妓回環.廷列樂官,并皆蹈躍. 奮天才而成妙曲;慰群辟而遠還酆.凌空 而聲遏行雲;和管而響滋睿渥.斯則陛下 修文至德也. 為天地之真主,究造化之幽機.運智變 通;顯謀充塞.精外方之音響;譯請技之要 端.作妙舞之絕倫;示昌期之同樂.復制降 雲仙子而歌聲嘹喨,贊硩后之元功;出蓮 婺寶而弱質編躚,慶深仁之美化.斯則陛 下 之 妙 算 也. 德同高厚,則五緯炤符;惠及飛潜,則萬 靈薦祉.神龍二九,光復於寶殿瓊丹;雪象 一千獲呈於瑤池禁御.彰大寶之可久;符 純嘏之優隆.故林顯奇姿,天昭靈狀.復現 神象一頭,形質而魁梧異等,鼻額而妙顯 神光.驗文彩而清淨有除;稟聰明而昭彰 無外.御號曰超群神象.優曇駢芳;舍利玉 現,草木效祉;神物舒光.揭四美無窮;示 垂鴻有慶.靈草兩現;皓鹿六臻.素麞獨 來;玄聲雙至.昭長承上帝之命;契永保昱 天之休.紛紏呈姘駢鑣顯麗.龜黽揚五色而 千點; 蓮兩鏡而一莖.澤及淵泉,物方獻 瑞.感黎氓之宁謐.昭社稷之益隆.月重輪 於層霄(金彩發於幽澗.明照臨於有截;彰 宰斷於無垠.故天象效祥幽源進祉.紫檳 孤幹,繁長靈苗.侔眾國以衛中邦;類普天 而扶元首.辰光九十;節屈五陽.鼠變霜 毛;松生偃蓋,擬鶴巢而薦異;期玉免以昭 符.協寰海之宴清;契兆民之輯睦.瓊鳩白 雀而屢集;素鷸而始呈.舒潔淨之容儀,顯 唯精唯一;革真常之舊質;效克寬克仁.招 搖淪精白驥生;距柔毛晶榮牛現.群雁集 而觀光率賀;猛虎猾而顯世畏威.鳳子成 雙,瑞雪深積飄素寞之盈尺;徵一世之。三 登。綽異狀之九色;著成行之群鷺.白慈鳥 之競至;皓鵠競以爭翔.彰反哺之精勤;感 至孝之純厚.念經終軸而非匹;祝聖萬歲 而定常.檳榔啣珠;楊枝酒玉.遼九龍之 寶,禎奪好珠;長繁岐之資,祥超異畝. 懿失承天地鴻麻;紹祖宗景命.五十餘 年而統化;百千諸夏以欽威.雨陽合時;星 辰順度.常念農為始本,政必尚茲.雖歲歲 躬行,意孜孜不怠.時會祥大慶九年夏五 月日,駕飛仙之鳳輦;漾耀寶之龍舟.日麗 波平;潮回煙歛.歷河瀘之長派;見龍嶺之 臨涯.雖聳勢嶙峋。到頂端平坦,使艤艘岸 以維纜,詔護駕之群僚.而謂之曰:朕以斯 山而經營梵福,可得之乎?左右相率而奏 之曰:聞鄉老所傳,斯山常以春品旦覃,恒 雨以潤黔黎.宜可施功.崇成善果.兼請署 其山回龍隊.聖情允可.乃命日者,以辦方 向.面對涇江,風靜而長舒碧練;背分迭 岫,雨消而濃緞益光.右控平原.望乾興之; 古塹;左延流澮。寰漢水以朝宗.載詔父: 輸,中分繩墨.施財以明功德,顧民資竭力 林衝.運村以盡神奇,鳩工巧成城群匠.鏤 貞氓而作斗;琢翠碔以為楹.湧矗漢之十 三層;啟承風之四十戶.壁鐫龍窟;摘掛。金 鈴.上層緘舍利琅函,佇放祥光於盛世;絕 崗置捧盤仙客,長承王露於晴天.下層分 八將魁梧,擁立則神人仗劍.其中座多寶 如來之瑞相也.弘深願力,寧泯全身.聽蓮 偈而必簉靈威;與迦文而半分瑤座.掛珠 幡之晃耀;懸蓋之玲瓏.陛庭昇降而有差; 廊處左右而雙翼.次彼左建四角宮,含雙 盤而鎮地;負八將以朝天.揚氣概於名山; 播聖功於後裔.右梵方嬌龕室,貯以寶頭 和尚,放於麻黎山,受囑累於如來,為眾生 而證福.下級前構陵漢閣,懸首山之鼎器; 縻碧海之鯨槌.撾時韻溢於天程;聞處劍 停於苦趣.環垣墉以嚴護;貯軒廡以鋪粧. 造橋光啟其通衢;藝松成行於兩界.竭精 誠以崇妙果,希延历數以長新;窮詭制以 疊危層,冀益睿齡之彌遠.故御題回:崇善 延齡塔.其塔經始於會祥慶九年之夏;畢 功於天符睿武二年之秋.因時隙而興營, 建豐登而設立.歷於三耕四稔而後完焉. 及慶成也;敕奉常以整駕,感風霸以清塵. 沉檀霧織於溪山;幢幡霞爛於街道.鼓鍾 喧沸;鐃磬匉訇.前道三寶雲車;後展一人 金輅.傾六宮朱翠;來萬國耆童.花宇前 橫;鷺台中廠.會方袍之潔行;演覺帝之真 詮.英聖凝旒佇偈終而翹誠稽顙;仙姬劍 袂.聽軸盡而獻舞供酥.頌雪粒之香齋,飫 充饑旅;散泉流之圓寶,賙賑窮氓.幽顯咸 臻;天龍悉造.以最上功力.無邊福田.益 贊皇綱,等方圓而共永;將祈寶運;與日月 而長清.早誕元娠,永膺暦數.期本支百 世;冀社稷億齡.草偃多方,葵傾萬國.臣 民愛戴;祖考匡昆.神道冥扶,天人成贊. 太祖太宗聖宗皇帝.既定寰瀛,沓升霄 漢.憑茲勝利;永攝金蓮.皇妣扶聖靈仁皇 后.厭人世,高馭煙霞.沐此良姻,超生淨 土.大凡諸侯王宮妃等,精勵幽貞,燮和內 治.彌展柔嘉之操,益彰淑慎之誠.佇降前 星,協吹銅律.末愿黎民富庶,寰宇肅清. 文軌同儀,華夷共貫.五行順序,百穀豐 登.塞絕煙塵;國無災癘.而臣忝列雁序, 濫廁儒林.紀事之成,寶聖之巧.傾天亙地 之功.雖有淵雲之才,班馬之學,亦難敘萬 之一焉既又念,葵雚之纖卉,日月之照臨, 千載時,罄愚何謬.強秉鈞毫.敢伸敘述. 銘 曰: 至 妙 至 寂 無 象 無 形 強 自 立 名 希 夷 自 在 澹 泊 摩 待 先 天 地 生 涅 而 不 緇 磨 而 不 磷 純 粹 唯 精 粵 有 金 仙 降 迹 竺 乾 十 號 俱 備 四 宏 廣 敷 六 度 齊 修 究 斯 元 味 覺 逐 浮 偽 設 清 淨 教 道 歸 直 性 俾 靜 如 山 三 界 贍 仰 十 方 回 向 師 奉 慈 顏 極 濟 既 行 浮 漚 冰 模 厭 處 人 寰 白 虹 騰 耀 雙 樹 拂 衣 金 容 晦 影 蘭 膏 潤 身 柚 檀 作 薪 化 火 煙 通 荼 毗 換 互 舍 利 凝 成 盈 盤 溢 皿。 或 炫 五 色 或 顯 九 彩 燁 燁 熒 煌 陰 界 冥 中 寰 宇 天 宮 四 种 王 國 時 皆 簉 集 競 奮 雄 強 各 自 各 將 金 函 五 重 龍 輪 平 秘 崇 塔 嚴 置 自 茲 以 降 歲 月 延 長 無 不 崇 奉 逮 我 哲 后 傳 護 尤 貴 仿 斯 前 志 向 龍 隊 山 疊 甃 雄 奇 高 出 重 雲 上 層 韜 藏 佇 湧 神 光 作 瑞 明 君 山 水 清 秀 煙 霞 氤 氳 迥 隔 塵 氛 御 題 嘉 號 崇 善 延 齡 壽 祈 彌 夐 穀 旦 佳 辰 福 場 圓 滿 甫 成 相 慶 輻 輳 朝 樓 雲 臻 山 頂 澄 心 瑩 淨 猊 台 高 涉 潮 音 贊 申 集 會 天 人 鍾 鼓 喧 闐 沉 檀 紛 紜 錦 繡 爭 春 承 茲 福 慧 囹 圄 拘 系 威 脫 幽 屯 臣 忝 紀 事 學 無 三 冬 才 非 五 車 帝 功 昭 著 總 開 戶 牖 四 海 會 同 共 贊 五 皇 天 長 地 久 朝 列 刑 部 尚 書,兵 部 員 外 郎 、同 知 藩 工 院 諸 事 。 臣 阮 公 弼 奉 敕 撰 , 右 侍 郎 尚 書 工 部 員 外 郎,同 知 審 刑 院 事,上 輕 車 都 尉 .紫金 魚 李 寶 弓 奉 敕 書. II. Phiên âm: “Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” Phù diệu thể huyền tịch, linh quang hề, phi trung phi ngoại, trác nhĩ ư ngũ thái chi sơ; đại dụng phồn tư, hạo bác hề, duy hình duy hiển, sám nhiên ư nhất hư chi lý. Vật triệu trẫm khả trắc; mị ảnh tịch khả cầu. Bao thiên nhưỡng quảng đại chi dung, cự năng tham cận; hỗn nhật nguyệt quang hoa chi thái, ninh giả tầm quan. Tuy cán vận tạo hóa khu cơ, bỉ đoan nhiên tại; túng thôi đãng âm dương thư dự, bi yếu thiên u. Khởi phi huyền tịch dư?. Thượng hạ chi kỷ cương ký lập; diên thực chi quy mô duật hưng. Tứ tự hành nhi ngọc chúc điều; thất chính tề nhi toàn cơ vận. Tạp đạp vạn loại; tùng tỏa chúng duyên. Sinh sinh do thị trứ danh; xuy xuy dĩ chi toại tính. Bất viết phồn tư hồ? Như thử tấn cơ hoằng biện; nguyên thủy yếu chung. Bất diệc nan tai! Duy ngã Đại hùng thị, trung cổ ứng vận; nhi kiền hiển linh. Hoàn tam thiên chi uy nghi; hưng tứ bát chi diệu tướng. Thập hiệu bị cụ; bách phúc trang nghiêm. Cứu bỉ tinh vi; minh tư thuần túy. Điệu quần sinh chi túy thức; ố tứ loại chi mê chân. Y trung vong bảo nhi bất tự tri; kiệp lý tàng xà diệc phi cảnh ngộ. Do thị thiết Đề hồ diệu giáo; ốc tinh tuế chi cơ hư. Nhiên xán lạn chi minh đăng; chúc di niên chi hôn ám. Tì lãng tâm chi thiên chân đắc định; khiển vọng tinh chi bồng hạnh lập an. Cố tam giới quy y; thập phương hồi hướng. Trụ trần thế thất thập cửu tuế: quyền thiết pháp bát vạn thiên môn. Tích vị kỳ hợp trần; thân ninh tùy tịch huyễn. Toại nãi kim dung yểm sắc ư song thụ; bạch hồng đằng diệu ư trùng thiên. Đâu la miên khỏa kỳ thần tư; tử lan cao nhuận kỳ hương thể. Tin tâm luyến mộ phụng chiên đàn nhi tác tân; giác tính linh thông, ứng đồ duy nhi hỏa hóa. Đồ ti yên liêu; xá lị ngưng thành. Loại minh nguyệt chi sản bạng thai; tiếu lộ châu chi oánh kim chưởng. Hoặc ngũ thái nhi chiếu diệu; hoặc cửu sắc nhi trừng triệt. Doanh bàn mãn hộc; dị tục siêu phàm. Nhân chủ Long vương; ám gian thiên thượng. Thần tất tháo tập; giác tường phân biểu. Trân tích dĩ bảo hàm trọng trữ; thận thủ tắc đề nhận kinh tuần. Các trạch kỳ an; mị thường quyết sở. Hoặc Hương sơn đinh thượng, nhân thế trần trung; hoặc triều dã không gian, thương minh cung lý. Đổ ba cạnh Phạn, thần vật cao tăng; duyên cổ xử kim, lịch truyền võng thế. Hưng công kế tích, bất diệc thịnh dư? Cung duy Lý triều thành hiến thể đạo, thánh văn thần vũ, anh cách dân vật, vạn linh chiếu ứng; vĩnh long nguyên hóa, thông minh quảng vận, nhân trí ý nghĩa, thuần thành minh hiếu hoàng đế bệ hạ, kham dư chung túy; nhật nguyệt trừ tinh. Khánh triệu tiên phù; hưu trưng dự khải. Phụ hoàng nhập mộng, thù bang hiến tuyết tượng lục nha; mẫu hậu hữu thần, phi các ấm hoàng long ngũ thái. Tư tắc bệ hạ nhập thai chi triệu dã. Cảnh tinh oanh hiện, ngân hà ứng mi nguyệt chi quang; khánh vân hiểu phi, đan bệ thư sương tiêu chi thái. Hỉ khí nga đằng ư tiêu hán; dị hương tán ái ư cung vi. Thập nguyệt xử thai nhi chu kỳ; tam dương kiến dần nhi đản thánh . Tư tắc bệ hạ giáng đản chi trưng dã. Điệu tuế nhi phủ đăng đại bảo, thiên địa tương phù; thắng y nhi thống ngự hoàn khu, nhân thần hàm tân. Long tình phượng mục; ngọc khiết băng tư. Mậu trừng nhi thanh bạch phân minh; dị trùng đồng ư Thuấn đế; nhĩ thọ nhi luân quách tu quảng, xuy tam lậu ư Hạ vương. Hình kỳ nhi trường; túc phương nhi hậu. Ngọc lý hàm kỳ nhuận; chân tính diệu kỳ hoa. Thành thiên tải chi anh minh; quản bách vương chi kỳ tú. Tư tắc bệ hạ thiên biểu chi đoan nghiêm dã. Huệ chu động thực; tri mẫu phong vân. Nội điển kinh thư, tinh cùng huyền yếu; ngoại quyền pháp thuật, tổng tất chỉ quy. Đào kim thạch chi anh từ, quang thôn đẩu cực, trừ điện tháp chi gia hiệu, huyền chiếu cổ kim. Tinh phi bạch dĩ thông thần; vận ngự hào chi tuyệt diệu. Long dược phượng tường chi thế, pháp tòng ngọc thủ; loan hồi thước phản chi hình, thể xuất thần tâm. Điêu kim bài dĩ tri Phạn cung, thuyên thúy châu dĩ di đạo quân. Thi tứ toát đào quân vạn hóa; nhạc phổ hòa Đường Phạn đồng âm. Thư cùng cứu ư huyền cơ; xạ chi tinh ư diệu thuật. Tư tắc bệ hạ bác thông ư tài nghệ dã. Trung thu thanh cảnh; vạn vụ hưu thời. Hiếu thành triển nhi khiết trân tu; thịnh lễ trần nhi từ thành khảo. Phục ư tam đán; đại khải giá nghi. Thừa ngọc liễn nhi xuất cửu trùng; trắc kim lộ nhi trì hoàng đạo. Trĩ phiến ủng ư lưỡng tế; ngân võng hộ ư tử vi. Hoàng cái phù không; thái kỳ tuệ nhật. Tinh trì liễu mạch; đẩu chuyển hoa cù. Hưởng Trường lô chi bích xuyên; ngự Linh quang chi bảo điện. Thiên sưu nhi trung lưu điện tốc; vạn cổ nhi dật thủy lôi minh. Ngọc lang yến phương bá chi hội đồng; đan bệ tấu tiên lại chi chương biểu. Ba tâm dãng dạng, phù kim ngao dĩ phụ tam phong; thủy diện di do, lộ giáp văn nhi phu tứ túc. Chuyển mâu miết ngạn; nhạ khẩu phún tân. Hướng miện lưu nhi ngưỡng quan; đối đương nhi không nhi phủ sát. Vọng ta nga chi tiếu bích; tấu dương vật chi vân thiều. Động hộ tarnh khai; thần tiên cạnh xuất. Cái thiên thượng chi nghệ thái; khởi trần thế chi kiều tư. Kiều tiêm thủ dĩ hiến Hồi phong; tần thúy mi nhi ca hưu vận. Trân cầm tác đội, tận xuất vũ dĩ xu thương; thụy lộc thành quần; tự trước hàng nhi dũng dược. Cập kim ô Tây chiếu; bảo lộ tương hoàn. Đáo như để chi đồ trung; lưu quảng thiên cảnh ngoại. Hướng sùng đài nhi hồi lục địa; bội bị phụ dĩ tải tam sơn. Đối chu bàn nhi chiêu đầu; tương an thân nhi duệ vĩ. Cưu quá vân nhi liêu lượng; hổ hạ đẳng nhi sinh ninh. Phấn tấn hùng uy; phệ khiết tiểu thú. Hội thượng lâm đệ tử; trì địch vũ chu can. Lệ thanh khu dĩ tấn đế tiền; trúc trường phố nhi thủ lạp giới. Loan hồ xu xạ; bạt kiếm tri tuần. Nhân phấn dũng ư phiến thần; sĩ tranh nghênh ư đương nhật. Hoài lân quốc nhi huề kỳ đề ấu; lai liệt thổ nhi đăng duệ duyên tường. Chúc mục quan quang; kiều tâm nguyệt kiến. Xứ xứ chi tận trang la ỷ; niên niên chi tam nhật hoan ngu. Tê nhân thế ư Hồ thiên; trí triệu dân ư lạc quốc. Tư tắc bệ hạ bát lãm nhi tân chế kim ngao dã. Hiển thánh mưu chi thần diệu; chế ngự bách chi tinh kỳ. Trước trạng thiết liên hạm tráng hùng; lập cách tạo thiên sưu tú lệ. Giá trùng tiêu chi lâu các; sùng nguy nguy tiếu chi thiềm doanh. Trung nghiêm phủ tọa nhi cao, khoát thông duệ minh chi hà giám; bàng triển tú lệ quang xán, quảng liệt tần thể chi thân bồi. Khuynh vạn bảo dĩ nghiêm trang; bị tam cung chi phòng ốc. Trung lưu hiểu dạng, nghi thần thổ dĩ hoành ba; ổi ngạn vãn đình, nghĩ ngao kinh chi tủng bán. Tư tắc bệ hạ tân chế độ chi xảo dã. Quảng vận thần thông; hoằng suy thánh đoán. Tinh tu thắng sự; cần chi lương duyên. Kiến quảng chiêu chi đăng đài; hướng đoan môn chi đình thượng. Trung tiêu nhất cán; ngoại thiết thất tằng. Cù cung xuất nhi bổng kim liên; phùng sa lung nhi hộ lan diệm. Uẩn cơ vi ư địa hạ viên chuyển như luân; thước quang thể ư thiên trung, oánh hoàng tự nhật. Phục hữu nghiêm chương bảo thánh; kim điện bảo tùng. Tựu duệ ý trang thành; tọa kim sắc tương đấu. Trạng tả linh văn; hình phô kỳ lệ. Hựu hữu hoa lâu lưỡng tọa; quản dĩ kim chung. Khắc Thích tử nhi thể quải điền y; vận u cơ nhi bá chùy như kích. Văn minh sao nhi túc nghi chuyển diện; đổ anh thánh nhi khể thủ hồi cung. Xuất tự duệ mưu; uyển như động tĩnh. Phục hữu diệu thất bảo chi tụy đổ; tác nhất hàng nhi hỗ bài. Đoan trung tắc hoàng kinh nhất phong, tọa Đa Bảo Như Lai chi thụy tướng; liệt kỷ tằng pháp giá chi chân hình. Thiềm quang thước thần húc chi huy; ngõa sắc khai bích vân chi thái. Kỳ thứ tắc bạch ngân nhị tòa, tả trí A Di Đà chi chân dung; hữu trữ diệu sắc thân chi túy nhất. Tiếu thư hùng thế; kiều phấn phi manh. Linh lung khi thụy tuyết chi dung; xán lạn đoạt thu thiềm chi khiết. Cánh thứ, tắc điểu văn nhị tòa. Tả an Quảng bác thân chi từ nhan; hữu bị Ly bố úy chi diệu tướng. Ký dĩ viên cao các; hựu cánh khởi nguy tằng. Cái điệt tố quỳnh; bích thuên long trạng. Hựu thứ, tắc tượng xỉ nhị tòa. Tả hy Cam lộ vương chi hình nghi; hữu nghiễm Bảo thắng phật chi tuy mục. Thiết tha tố chất; sùng giả sương doanh. Phỉ lăng điêu duyên ngọc chi anh; gián khích tiễn quần tê chi giác. Kiêm tinh chế ký từ chi mỹ; các thuyên vu liên tọa chi bàng; Phi tuyết tinh thành; vĩnh chiêu quyết hậu. Nhi hựu tả cửu thiên dĩ ngũ sắc; khắc tứ trụ dĩ song huyền. Duyên biên nhi oánh điểm thiên đăng; lưỡng diện nhi luyện trang kim thái. Khả vị tuyệt cổ kim chi chế độ; siêu tạo hóa chi sinh thành. Khuynh thiên hạ chi ung hòa, dạ vi trú thưởng; sướng thế gian chi tâm mục, lão hoán đồng nhan. Tứ tắc bệ hạ xảo chế thắng duyên chi công dã. Tích sùng Hoàng giác; đốc mộ thắng nhân. Hướng Tây cấm chi danh viên; xưởng Diên Hựu chi quang tự. Tích tòng tiền chi cựu chế; xuất thánh ý chi tân mưu. Tạc linh chiểu chi phương trì; nhi trì trung dũng nhất thạch cán. Cán thượng phách thiên diệp liên hoa; hoa thượng nhi kiều an cam điện. Điện trung tọa kim tướng chi năng nhân. Trì chi ngoại chu nhiễu họa lang, hoàn lang chi ngoại hựu sơ Bích trì, mỗi giá phi kiều dĩ thông chi. Tiền kiều chi đình, tả hữu Phạn lưu li bảo tháp. Dĩ nguyệt chi sóc đán; dĩ niên chi du xuân. Thân thừa ngọc liễn; lai khải thanh diên. Hoa hương thiết kỳ tộ chi nghi, bồn quán trần dục Phật chi thức. Trang tinh cấm chi tướng ư ngũ chúng, hoặc thát lộ tiến thoái dĩ vi dung; tác thiên vương chi đội ư tứ phương, tề kinh khí bồi hồi nhi hiến vũ. Tinh cần mị đãi; kính phụng di thần. Nhi huyền tạo linh thông, hàm giai phù hựu. Tư tắc bệ hạ diệu vũ thông quy dã. Thượng phương thùy củng; hạ chính bật lân. Ngẫu biên lại chi canh thường; thành quai vi chi hữu hấn. Tinh trì ngự địch; lôi phấn tỏa uy. Ung châu quân chi chúng ức thiên, hội hỹ do phong quyển ế; Như Nguyệt giang chi sư bách vạn, hoán nhiên nhược nhật tiêu băng. Tại khốn ngoại chi tướng tự thi; khởi thần trung chi mưu sở quyết. Kỵ hậu chí hoàng cực ư mục thanh; tê sinh dân ư phú thọ. Phiến nhân phong dĩ hóa suất; thi huệ trạch dĩ bàng tuyên. Xá chế Hoàn vương, từ cung thất nhi xu đình vi thứ; La vu quốc chủ, khí sơn hà nhi nghệ khuyết xưng thần. Đốc ý mộ chiên; khuynh hoài tựu nhật. Khoảnh giả Ma sa man liệu, thị hiểm giang sơn. Lang khoáng sinh tâm; bât tuần hoàng hóa. Thánh tắc nhât nộ; đại giá khải hành. Mãnh tướng vân tùy; mưu thần vũ hội. Bố sư lữ ư hoang dã; tập hiêu cánh chi ngoan dân. Tận tù trưởng thành cầm; đại khôi cừ phu lỗ. Kỳ dư tắc huyết cao thảo mãng; nhục ủy lâm tuyền. Túng hùng hổ nhi ách thử hề nan ; phiên cự thạch nhi toái noãn hà dị? Tư tắc bệ hạ hiệu vũ thông quy dã. Kiềm lê ly hợp; triệu thứ thanh di. Xuân cận phụng tham; thu triều thuật chức. Hội phương quốc chư hầu nhi yến thưởng; cấu chúng tiên tam cấp chi bảo đài. Ngân ngõa điệt nhi quang chiếu khung mân; kim tiên lũy nhi phô trần bảo tướng. Thượng đỉnh tắc linh cầm tủng lập; tứ lăng lắc lân trưởng cạnh nhương. Cái sức thất trương; đời trang bách bảo. Thượng giai chi vị nhi thánh minh đoan cùng; trung cấp hạ đẳng nhi tiên kỹ hồi hoàn. Đình liệt nhạc quan, tịnh giai đạo dược. Phấn thiên tài nhi thành diệu khúc; ủy quần tích nhi viễn hoàn phỏng. Lăng không nhi thanh át hành vân; hòa quản nhi hưởng tư duệ ốc. Tư tắc bệ hạ tu văn chí đức dã. Vi thiên địa chi chân chủ; cứu tạo hóa chi u cơ. Vận trí biến thông; hiển mưu sung tắc. Tinh ngoại phương chi âm hưởng; dịch chư kỹ chi yếu đoan. Tác diệu vũ chi tuyệt luân; thị xương kỳ chi đồng lạc. Phục chế giáng vân tiên tử, nhi ca thanh liêu lượng, tán triết hậu chi nguyên công; xuất liên bảo vụ nhi nhược chất biên thiên, khánh thâm nhân chi mỹ hóa. Tư tắc bệ hạ chỉ diệu toán dã. Đức đồng cao hậu tắc ngũ vĩ chiếu phù; huệ cập phi tiềm, tắc vạn linh tiến nhất thiên, hộ trình ư dao trì cấm ngự. Chương đại bảo chi khả cửu; phù thuần hỗ chi ưu long. Cố lâm hiển kỳ tư; thiên chiêu linh trạng. Phục hiện thần tượng nhất đầu. Hình chất nhi khôi ngô dị đẳng; tị ngạch nhi diệu hiển thần quang. Nghiệm văn thái nhi thanh tịnh hữu trừ; bẩm thông minh nhi chiếu chương vô ngại. Ngự hiệu viết: “Siêu quần thần tượng” Ưu đàm biền phương; xá lị ngọc hiện. Thảo mộc hiệu chỉ; thần vật tư quang. Yết tư mỹ vô cùng; thị thùy vùng hữu khánh. Linh thảo lưỡng hiện; hạo lộc hữu trăn. Tố chương độc lai; huyền thư song chi. Chiêu trường thừa thượng đế chi mệnh; khế vĩnh bảo mấn thiên chi hưu. Phân củ trình nghiên; biều biều hiển lệ. Quy ngũ sắc nhi thiên điểm; liên lưỡng kinh nhi nhất hình. Trạch cập uyên tuyền; vật phương tiến thụy. Cảm lê manh chi ninh bật; chiêu xã tắc chi ích long. Nguyệt trùng luân ư tằng tiêu; kim thái phát ư giản: Minh chiếu lâm ư hữu tiệt; chương tể đoản ư vô ngân. Cố thiên tượng hiệu tường; u nguyên tiến chỉ. Tử tân vô cán; phồn trưởng linh miêu. Mâu chúng quốc dĩ vệ trung bang; loại phổ thiên nhi phù nguyên thủ. Thần quang cửa thập; tiết giới ngũ dương. Thử biến sương mao; tùng sinh yển cái. Nghĩ hạc sào nhi tiến dị; kỳ ngọc thô dĩ chiêu phù. Hiệp hoàn hải chi yến thanh; khế triệu dân chi tập mục. Quỳnh cưu bạch tước nhi lũ tập; tố duật ngọc long nhi thủy trình. Thư khiết tịnh chi dung nghi, hiển duy tinh duy nhất; cách chân thường chi cựu chất, hiện khắc khoan khắc nhân. Chiêu dao luân tinh bạch ký sinh; cự nhu mao tinh vinh ngưu hiện. Quần nhạn tập nhi quan quang suất hạ; mãnh hỗ hoạt nhi hiển thế úy uy. Phượng tử thành song; thụy tuyết thâm tích. Phiêu tố anh chi doanh xích, trưng nhất thế chi tam đăng. Xước dị trạng chi cửu bao; trước thành hành chi quần lộ. Bạch từ ô chi cạnh chi; hạo hộc dự dĩ tranh tường. Chương phản bồ chi tinh cần; cảm chí hiếu chi thuần hậu. Niệm kinh chung trục nhi phi sất; chúc thánh vạn tuế nhi định thường. Tân lang hàm châu; dương chi sái ngọc. Nhiễu cửu long chi bảo, trinh đoạt hảo châu; trường phồn kỳ tư, tường siêu dị mẫu. Ý phù thừa thiên địa hồng hưu; thiệu tổ tông cảnh mệnh. Ngũ thập dư niên nhi thống hóa; bách thiên chư hạ dĩ khâm uy. Vũ dương hợp thời; tinh thần thuận độ. Thường niệm, nông vi thỉ bản; chính tất thượng tư. Tuy tuế tuế cung hành; ý tư tư bất đãi. Thời Hội tường Đại Khánh cửu niên hạ ngũ nguyệt nhật. Giá phi tiên chi phượng liễn, dạng diệu bảo chi long chu. Nhật lệ ba binh; triều hồi yên liễm. Lịch Hà Lô chi trường phái; kiến Long Lĩnh chi hàm nhai. Tùy tủng thế lân tuân; đáo đỉnh đoan bình thản. Sử nghĩ sưu ngạn dĩ duy lãm; chiếu hộ giá chi quần liêu. Nhi vị chi viết: “Trẫm dĩ tư sơn nhi kinh doanh Phạn phúc khả đắc chi hồ?”. Tả hữu tương suất nhi tấu viết: “Văn hương lão sở truyền; tư sơn thường dĩ xuân phẩm đán đàm, hằng vũ dĩ nhuận kiềm lê. Nghi khả thi công, sùng thành thiện quả”. Kiêm thỉnh thự kỳ sơn viết Long đội. Thánh tin doãn khả, nãi mệnh nhật giả, dĩ biện phương hướng. Diện đối Kinh giang, phong tĩnh nhi trường thư bích luyện; bối phân điệp tụ, vũ tiên nhi nùng đoạn ích quang. Hữu khống bình nguyên, vọng kiền hưng chi cổ tiệm; tả diên lưu khoái, hoàn Hán thủy dĩ triều tông. Tái chiếu công thâu, trung phân thằng mặc. Thị tài dĩ minh công đức, cố dân tư kiệt lực lâm hành; vận tải dĩ vận thần kỳ, cưu công xảo thành thành quần tượng. Lũ trinh mân nhi tác đẩu; trác thúy vũ dĩ vi doanh. Dũng sốc Hán chi thập tam thằng, khải thừa phong chi tứ thập hộ. Bích thuyên long quật; giác quải kim luân. Thượng tầng giam xá lị lang hàm, trữ phóng tường quang ư thịnh thế; tuyệt đỉnh trí bổng bàn tiên khách, trường thừa ngọc lộ ư tinh thiên. Hạ tầng phân bát tướng khôi ngô; ủng lập tắc thần nhân trượng kiếm. Kỳ trung tọa Đa Bảo Như Lai chi thụy tướng dã. Hoằng thâm nguyện lực; ninh dẫn toàn thân. Thính liên kệ nhi tất sâu linh uy; dữ già văn nhi bán phân dao tọa. Quải chân phan chi hoảng diệu; huyền bảo cái chi linh lung. Giai đinh thăng giáng nhi hữu sai; lang vũ tả hữu nhi song dực. Thứ bỉ tả kiến tứ giác cung, hàm song bàn nhi trấn địa; phụ bát tướng dĩ triều thiên. Dương khí khái ư danh sơn; bá thánh công ư hậu duệ. Hữu Phạn phương kiều khâm thất, trữ dĩ Tân đầu hòa thượng, phóng vu Ma lê sơn thụ chúc lũy ư Như Lai, vị chúng sinh nhi chứng phúc. Hạ cấp tiền cấu Lăng hán các; huyền Thú sơn chi đính khí, mi bích hải chi kinh chùy. Quá thời văn dật ư thiên trình; văn xứ kiếm định ư khổ thú. Hoàn viên dung dĩ nghiêm hộ; trữ biên hữu dĩ phô trang. Tạo kiều quang khải kỳ thông cù; nghệ tùng thành hàng ư lưỡng giới. Kiệt tinh thành dĩ sùng diệu quả, hy diên lịch số dĩ trường tân; cùng quỷ chế dĩ điệp nguy tằng, kỳ ích duệ linh chi di viễn. Cố ngự đề viết: Sùng Thiện Diên Linh tháp. Kỳ tháp kinh thủy ư Hội Tường Đại Khánh cửu niên chi hạ; tất công ư Thiên Phù Duệ Vũ nhị niên chi thu. Nhân thời khích nhi hưng doanh; đãi phong đăng nhi thiết lập. Lịch ư tam canh tứ nẫm nhi hậu hoàn yên. Cập khánh thành dã, sắc phụng thường dĩ chỉnh giá; cảm phong bá dĩ thanh trần. Trẫm đàn vụ chức ư khê sơn; chàng phan hà lạn ư nhại đạo. Cổ chung huyên phí; nạo khánh banh oanh. Tiền đạo Tam bảo vân xa; hậu triển nhất nhân kim lộ. khuynh lục cung chu thúy; lai vạn quốc kỳ đồng. Hoa vũ tiền hoành; Thứu đài trung xưởng. Hội phương bào chi khiết hạnh; diễn giác đế chi chân thuyên. Anh thánh ngưng lưu, trữ kệ chung nhi kiều thành khể tảng; tiên cơ liễm duệ, thinh trục tận nhi hiến vũ cung tô. Tung tuyết lạp chi hương trai, ốc sung cơ lữ, tán tuyền lưu chi viên bảo, chu chẩn cùng manh. U hiển hàm trăn, thiên long tất tháo. Dĩ tối thượng công lực; vô biên phúc điền.Ích tán hoàng cương, đẳng viên phương nhi cộng vĩnh; tương kỳ bảo vận, dữ nhật nguyệt nhi trường thanh. Tảo đản nguyên thần, vĩnh ưng lịch số. Kỳ bản chi bách thế; ký xã tắc ức linh. Thảo yển đa phương; quỳ khuynh vạn quốc. Thần dân ái đới, tổ khảo khuông ti. Thần đạo minh phù, thiên nhân hàm tán. Thái tổ, Thái tông, Thánh tông hoàng đế, ký định hoàn doanh, đạp thăng tiêu hán, bằng tư thắng lợi vĩnh nhiếp kim liên; Hoàng tỷ Phù thánh Linh Nhiên hoàng hậu, yếm cư nhân thế, cao ngự yên hà, mộc thử lương nhân, siêu sinh tịnh độ. Đại phàm chư hầu vương cung phi đẳng, tinh lệ u trinh nhiếp hòa nội trị. Di triển nhu gia chi tháo; ích chương thục thận chi thành. Trữ giáng tiền tinh hiệp suy đồng luật. Mạt nguyệt lê dân phú thứ; hoàn vũ túc thanh. Văn quỹ đồng nghi; Hoa Di cộng quán. Ngũ hành thuận tự; bách cốc phong đăng. Tái tuyệt yên trần; quốc vô tai lệ. Nhi thầu thiểm liệt nhạn sự, nhạn xí nho lâm. Kỷ sự chi thành; thực thánh chi xảo. Khuynh thiên cắng địa chi công. Tuy hữu Uyên Vân chi tài, Ban Mã chi học, diệc nan tự vạn chi nhất yên. Ký hựu niệm, quỳ hoắc chi tiêm hủy; nhật nguyệt chi chiếu lâm.Thiên tải nhất thi; khánh ngu hà mậu. Cưỡng bỉnh quân hào, cảm thân tự thuật. Minh rằng: Chi diệu chi tịch Vô tượng vô hình. Cưỡng tự lập danh Hi di tất tại. Đạm bạc mị đãi, Tiên thiên địa sinh. Niết nhi bất tri, Ma nhi bất lận. Thuần túy duy tinh. Việt hữu Kim tiên, Giáng tích Trúc càn. Thập hiệu câu bị, Tứ hoằng quảng phu. Lục độ tề tu, Cứu tư nguyên vị Giác trục phù ngụy, Thiết thanh tịnh giáo. Đạo quy chân tính Tỉ tĩnh như sơn. Tam giới chiêm ngưỡng, Thập phương hồi hướng. Sư phụng từ nhan, Chủng tế kỳ hành. Phù âu băng thán, Yếm xử nhân hoàn. Bạch hồng đằng diệu, Song thụ phất y. Kim dung hối ảnh, Lan cao nhuận thân. Chiên đàn tác tân, Hóa hỏa yên thông. Đồ tì hoán hỗ, Xá lị ngưng thành. Doanh bàn dật mãnh, Hoặc huyễn ngũ sắc Hoặc hiện cửu thái, Hoa hoa huỳnh hoàng Âm giới minh trung, Hoàn vũ thiên cung. Từ chủng quốc vương, Thời giai sáu tập. Cạnh phấn hùng cường, Các tự danh tướng, Kim hàm ngũ trùng, Long huân binh bi. Sùng tháp nghiêm trí, Tự tư dĩ giàng. Tuế nguyệt diên trường, Vô bất sùng phụng Đãi ngã triết hậu, Truyền hộ vưu quý. Phỏng tư tiền chí, Hướng Long đội sơn. Điệp thứu hùng kỳ, Cao suất trùng vân. Thượng tằng thao tàng, Tác thụy minh quân, Sơn thủy thanh tú. Yên hà nhân uân, Quýnh cách trần phân Ngự đề gia hiệu: “Sùng Thiện Diên Linh”. Thọ kỳ di quýnh, Cốc đán giai thần. Phúc trường viên mãn, Phủ thành tương khánh. Bức tấu triều lâu, Vân trăn sơn đính. Trừng tâm oánh tịnh, Nghê đài cao trắc. Triều âm tán thân, Tập hội thiên nhân. Chung cổ huyên điền, Trầm đàn phân vân. Cẩm tú tranh xuân, Thừa tu phúc tuệ. Linh ngự câu hệ, Hàm thoát u truân Thẩm thiểm kỷ sự, Học vô tam đông Tài phi ngũ xa, Đế công chiêu trứ Tổng khai hộ dũ, Tứ hải hội đồng, Cộng tán ngũ hoàng Thiên trường địa cửu. Thiên phù Duệ Vũ nhị niên Tân sửu thất nguyệt sơ lục nhật lập bi. Triều liệt hình bộ thượng thư, binh bộ viên ngoại lang đồng tri phiên công viện chư sự, thần Nguyễn Công Bật, phụng sắc soạn. Hữu thị lang, thượng thư công bộ viên ngoại lang đồng tri thẩm hình viện sự, thượng kinh xa đô úy, tử kim ngư, Lý Bảo Cung phụng sắc thư. III. Dịch Nghĩa: Bia tháp Sùng Thiện Diên Linh của vua thứ tư (Nhà Lý) đương làm chủ nước Đại Việt. Bia tháp báu Sùng Thiện Diên Linh ở chùa núi Long Đội, nhãn bia, nhà vua viết bằng lối chữ phi bạch. Cái diệu thể thì huyền tịch, là một ánh linh quang không ở trong, không ở ngoài, nhưng lại là khởi nguyên của năm nguyên tố, còn cái đại dụng thì tràn đầy, là cõi bao la, có hình thù, có thể chất, nhưng lại nằm trong khí thái hư. Nó không có dấu hiệu để suy lường; không có bóng hình để tìm kiếm. Nó bao trùm cả đất trời rộng lớn, đâu khá dò xem; nó hòa đồng cả tinh tú huy hoàng, dễ nào tìm xét. Dù cho them máy của tạo hóa chuyển vần, nó vẫn nghiễm nhiên tồn tại; dù có xô đẩy cho sự mau chậm của âm dương vận động, thì cái bí yếu vẫn riêng sâu kín. Đó chẳng phải là huyền tịch hay sao? Giềng mối dưới trên đã dựng; quy mô nhào nặn dấy nến. Bốn mùa vần chuyển mà khí hậu điều hòa; bảy chính chỉnh tề mà tuyền cơ vận động. Muôn loại rối bời: các duyên phiền toái. Chúng sinh từ đó mà có tên: vạn vật nhờ đấy mà thỏa tính. Đó chẳng phải là “tràn đầy” hay sao? Như vậy, mà muốn phân tích một cách sâu rộng về cái cơ vi mầu nhiệm, muốn truy nguyên đến cái đầu tiên, thâu tóm đến cái cuối cùng, há chẳng phải khó lắm thay! Ngẫm như họ Đại Hùng của ta, ứng vận thời trung cổ; hiển linh ở trời Tây . Người có trọn ba ngàn uy nghi; ba mươi hai tướng tốt. Mười hiệu đầy đủ; trăm phúc trang nghiêm. Người cứu xét đến tột cùng cái tinh vi kia; làm sáng tỏ cái thuần túy nọ. Người thương cho chúng sinh vì say mê cái ‘thức’, người xót thương bốn loại vì lầm lẫn nhiều ‘chân’. Trong áo quên vàng mà chẳng biết; đáy hòm chứa rắn không hay. Do đó người lập nên diệu giáo của Bồ đề, để nuôi dưỡng kẻ đói lòng bao thưở; thắp ngọn đèn rực rỡ, soi đêm tối bao năm. Khiến cho cái hồn nhiên của tấm lòng phóng đãng được yên; thói tà vậy của tính mê lầm được định. Cho nên, ba giới quy y; mười phương hồi hướng. Phật ở trần bảy mươi năm, thiết lập tám vạn bốn ngàn giáo pháp. Có thể gọi là: hình tích đã hợp với trần hoàn; tấm thân đâu theo nơi huyền ảo. Bởi vậy, thân thể vàng giấu sắc rừng Song Thọ; cầu vồng trắng rực ảo. Bông đâu la, bọc lấy thần tư; dầu tử lan tẩm trên hương thể. Lòng tin luyến mộ, dùng gỗ thơm làm củi; Phật tính linh thông, ứng giàn lửa tự thiêu. Khối hỏa đàn vừa tắt; hạt xá lỵ ngưng thành. Giống hạt châu sinh tự hạt trai; như giọt móc ánh trên tay ngọc. Hạt rực rỡ màu sắc; hạt óng ánh chín màu. Tràn mâm đầy hộc; khác tục siêu phàm. Cho nên các bậc vua chúa, long vương, dưới âm trên trời hết thảy kéo về, chia nhau giác tướng (xá lỵ). thận trọng lấy hòm vàng chứa đựng; giữ gìn dùng gươm báu canh phòng. Họ đều tìm nơi để đặt yên xá lỵ; nhưng các nơi không nhất định chỗ nào. Hoặc trên đỉnh núi Hương Sơn; hoặc giữa cõi trần nhân thế. Hoặc ngoài khoảng không triều dã; hoặc trong cung cấm long vương. Thi nhau xây chùa, cất cao vật báu. Từ xưa đến nay; lưu truyền không mất. Như vậy có thể nói: dấy công nối đức, há chẳng thịnh vượng lắm sao? Kính nghĩ đức Hoàng đế bệ hạ, bậc thánh hiền thể đạo, thánh văn thần võ, anh cách dân vật, vạn linh chiếu ứng, vĩnh long nguyên hóa, thông minh quảng vận, nhân trí ý nghĩa, thần thánh minh hiếu của triều Lý, đó là do đất trời chung đúc, nhật nguyệt kết tinh. Cho nên, điềm lành báo trước, triệu tốt mở ra. Phụ hoàng nằm mộng, nước ngoài dâng voi trắng sáu ngà, mẫu hậu có thai, gác tía phủ rồng vàng năm sắc. Đó là các điểm lúc bệ hạ đầu thai vậy. Sao sáng đêm hiện, sông Ngân ứng vẻ trăng non; mây lành sớm bay, bệ đỏ giải màu lụa trắng. Khi mừng vút thẳng trời xanh; hương lạ ngạt ngào cung cấm. Mười tháng hoài thai trọn cữ, tháng Giêng xuân tiết sinh người. Đó là cái điềm lúc bệ hạ ra đời vậy. Tuổi thơ lên ngôi đại bảo, trời đất khuông phù; trẻ nhỏ thống ngự hoàn khu, thân người giúp đỡ. Người rồng mắt phượng; trong ngọc trắng băng. Mắt trong mà xanh trắng rõ ràng, khác mắt hai ngươi đế Thuấn; tai đẹp mà vành dài rộng, chê tai ba lỗ Hạ Vương. Vóc dáng khôi ngô; bàn chân đầy đặn. Mặt ngọc ôn hòa; trán cao sáng sủa. Thực sự là anh minh của nghìn đời; vượt trên vẻ kỳ tú của trăm chúa. Đây là vẻ trang nghiêm bề ngoài của bệ hạ vậy. Ơn khắp cỏ cây muông thú, trí nhanh gió táp mưa sa. Sách kinh nội điển, tinh thông tới chỗ yếu huyền; pháp thuật ngoại quyền, thâu tóm được toàn ý chỉ. Đức lời đẹp như đá vàng, sáng lòa tinh đẩu; đặt tên hay cho điện tháp; chiếu rọi xưa nay. Sành phép viết để thông thần; vận bút vua tuyệt diệu. Rồng bay phượng múa, tay ngọc thảo ra; loan liệng thước bay, lòng vua thể nghiệm. Khắc biển vàng để chốn Phạn cung; chạm ngọc tốt để nơi Đạo quán. Tứ thơ tóm muôn hoa của thợ trời; nhạc phổ hòa thanh âm của đạo Phật. Phép viết chữ thì cùng cứu đến huyền cơ, tài bắn cung thì tinh thông đến diệu thuật. Đó là bệ hạ tinh thông sâu rộng ở tài nghệ vậy. Gặp lúc trung thu cảnh đẹp; muôn việc nghỉ ngơi. Mở lòng thành sửa soạn cỗ bàn; bày lễ trọng cúng dâng hoàng khảo. Lại tới sáng mồng ba, mới sửa sang xa giá. Cưỡi xe ngọc ra ngoài chín bệ; lên loan xa rong ruỗi đường vàng. Quạt lông trĩ che ở hai bên; kiệu nạm bạc vây quanh bốn phía. Lọng báu rợp trời ; cờ màu lóe nắng. Sao băng dặm liễu; mây chuyển đường hoa. Hướng Trường Lô (sông Nhị Hà) sông biếc; ngụ điện báu Linh Quang. Nghìn thuyền như chớp giất giữa dòng; muôn trống tựa sấm vang mặt nước. Dưới hiên ngọc, thiết hội đồng Phương Bá ; nơi thềm son, tấu chương biểu sứ tiên; Thả rùa vàng đội ba ngọn núi , trên mặt sóng dập dờn; phơi mai văn để lộ bốn chân, dưới dòng sông lờ lững. Liếc mắt nhìn bờ; mím môi phun bến. Ngửa trông dãi mũ nhà vua; cúi xét bầu trời lồng lộng. Trông vách dựng cheo leo, tấu nhạc Thiều réo rắt. Cửa động mở ra; thần tiên xuất hiện. Đều là thư thái thiên cung; há phải phong tư trần thế. Vương tay ngọc dâng khúc Hồi Phong ; nhăn mày thúy ngợi ca vận tốt. Chim quý từng đàn nhảy múa; hươu lành thành đội xênh xang. Tới lúc ác vàng xế bóng; xe báu sắp về. Đi trên con đường vàng bằng phẳng; để lại ngoài cõi bao la. Hướng thẳng đài cao lên đất cạn; quay lưng rùa lớn đội ba non. Đối bàn son mà cúi đầu; lê đuôi dài mà an phận. Chim cắt kêu réo trong mây; hổ dữ gầm gào xuống núi. Trổ hết oai hùng; cắn vồ thú nhỏ. Gặp lúc Thượng lâm đệ tử, cầm gậy son cắm lông trĩ trên đầu. Thét vang ầm xô đến trước vua; đắp bãi rộng làm nơi săn thú. Kéo cung ruổi bắn, rút kiếm dạo quanh. Kẻ trổ oai trong chốc lát; người đón rước lúc bấy giờ. Lân quốc mến nên dắt già bế trẻ; chư hầu về mà vượt lũy băng tường. Chăm chú đón xem; chờ mong được thấy. Khắp chốn trang hoàng gấm vóc; hằng năm vui vẻ ba ngày. Đưa mọi người lên cõi hồ thiên ; đặt quần chúng vào nơi Lạc quốc. Đó là sự xem xét của nhà vua mới chế tạo rùa vàng vậy . Làm sáng tỏ sự kỳ diệu của mưu thần, nên chế tạo cách tinh vi của thuyền ngự. Theo hình đặt liên hạm tráng hùng, lập cách dựng nghìn thuyền tú lệ. Đặt lầu gác ngất trời, dựng thềm hiên cao vút. Trong đặt toa thêu cao vọi, để nhà vua rộng tầm mắt nhìn xa; cạnh xen hàng gấm rõ ràng, cho thể nữ được sẵn sàng hầu cận. Dốc châu báu trang hoàng, đủ ba cung nhà cửa. Giữa dòng buổi sáng lênh đênh, ngỡ hải thân hà hơi chăn sóng, góc bến ban chiều dừng lại, tưởng rùa vàng đội núi chọc trời. Đó là tài chế tạo khéo léo và tân kỳ của bệ hạ vậy. Rộng vận thần công, cả suy thánh đoán. Sửa sang thắng sự; chăm tới lương duyên. Dựng đài cao quảng chiếu; hướng sân trước đoan môn. Trong nêu một cột; ngoài đặt bảy tầng. Uốn hình cung nâng đỡ sen vàng, máy lòng nhiễu che cho ngọn nến. Dấu cơ vi ở dưới đất, như bánh xe xoay chuyển; rực ánh sáng ở giữa trời, tựa bóng nắng chói chang. Lại có bảo thánh trang nghiêm; điện vàng viện báo. Do thánh ý dựng nên; đặt tượng vàng hai dãy. Dáng viết linh văn, hình phô kỳ lệ. Lại có hai dãy lầu hoa, trong treo chuông vàng, khắc chú tiểu ăn mặc nâu sồng, vặn máy ngầm giơ vồ lên đánh. Nghe vỗ bao gươm mà đứng nghiêm quay mặt; nhìn thánh chúa mà khom cật cúi đầu. Này tự ý vua; hệt như động tĩnh. Lại có đài cao thất bảo; xếp thành một dãy, chính giữa một ngọn núi vàng. Đặt tượng đẹp Như Lai Đa Bảo; bày chân hình xe pháp mấy tầng. Mái hiên lấp lánh ánh mặt trời buổi sáng; màu ngói huy hoàng vẻ mây biếc ban chiều. Thứ đến hai tòa bạch ngân; bên tả đặt chân dung Phật A Di Đà; phía hữu để xá lỵ của sắc thân màu nhiệm. Chiều cao mở ra thế khỏe; vẻ đẹp phô rõ mái cong. Long lanh ngỡ tuyết trắng đang tan; rực rỡ ánh trăng thu vằng vặc. Thứ nữa lại có hai tòa Điểu văn; bên tả đặt thân mẫu Quảng Bác, phía hữu đặt diệu tướng Bồ đề. Đã hoàn hành gác lớn; lại xây dựng lầu cao. Nóc che ngói quí, vách chạm hình rồng. Lại thứ nữa có hai tòa ngà voi, bên tả chạm hình tướng cam lồ; phía hữu đặt uy nghi Bảo Thắng. Gọt mài chất quý; cao dựng cột hiên. Góc cạnh nạm ngọc quý; khe kẽ khảm sừng tê. Lại soạn kỹ những lời ghi đẹp đẽ, đều khắc vào bên cạnh tòa sen. Mở tấm lòng trong trắng; soi sáng mãi về sau. Lại tả chín phương bằng năm sắc; khắc bốn cột bằng song huyền. Hai bên nghìn đèn nhấp nháy; bốn mặt rực rỡ vàng son. Có thể gọi là: hơn xa chế độ xưa nay; vượt hẳn sinh thành tạo hóa. Dóc hòa vui của thiên hạ, đêm trở thành ngày; thỏa tâm mục của thế gian, già hay trẻ lại. Đó là công lao khéo xây dựng thắng duyên của bệ hạ vậy. Tôn sùng đạo Phật; hâm mộ thắng nhân. Mở chùa diên hựu ở tại vườn Tây. Dấu vết theo quy mô thuở trước, lo toan do thánh ý ngày nay. Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao trồi lên một cột đá, trên cột có một đóa sen nghìn cánh xòe ra. Trên hoa dựng một ngôi đền đỏ sẫm; trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang bao bọc. Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. Ở sân trước cầu, hai bên tả hữu xây tháp lưu ly. Để mồng một hằng tháng, để mùa xuân hằng năm, nhà vua thân ngồi xe ngọc, đến mỡ tiệc chay. Hương hoa bày hình thức kỳ an; bồn chậu đặt lễ nghi tắm Phật. Trang sức vẻ tinh thành cho năm chúng, hoặc hở vai tiến thoái nhịp nhàng, tạo đội ngũ thiên vương ở bốn phương, nâng khí cụ bồi hồi nhãy múa. Tinh cần chẳng trễ; kính phụng nào ngơi. Vì vậy mà huyền tạo linh thông, đều cùng phù hộ. Đó là bệ hạ dựng chùa thờ Phật để cầu phúc thọ vậy. Trên vừa trị yên lòng nước, dưới đương giúp đỡ lân bang. Bỗng linh thú nơi biên khu trở mặt; gây nên hiềm kích dỡ dang. Sao băng chống địch, sấm vang diệt thù. Quân châu Ung muôn ức tan tành như mây mù gió cuốn, lính Như Nguyệt trăm vàn đỗ vỡ như gặp nắng băng tan. Tự thi hành do viên tướng ngoài biên, đâu có phải lòng vua quyết đinh. Đưa hoàng cực lên cõi thanh bình; dẫn sinh dân dấn nơi giàu thịnh. Quạt gió nhân, giáo hoá nước nhà, ra ơn huệ, ban cho khắp chốn. Do đó Hoàn Vương Xa Chế rời cung thất đến cửa khuyết xưng thần; quốc chủ La Vu bỏ đất nước tới đan đình quy phụ. Dốc ý kính yêu bệ hạ; nghiêng lòng hướng tới mặt trời. Gần đây bọn rợ Ma Sa, cậy có non sông hiểm trở; sinh lòng lang sói, không theo giáo hóa triều đình. Vua ta nổi giận; xe giá lên đường. Mãnh tướng như mây theo; mưu thần như mưa trút. Dàn quân sĩ ở đồng hoang; đánh úp lũ quân hung hãn. Bọn tù trưởng bị bắt; tụi đầu sỏ cầm tù. Ngoài ra máu nhuộm cỏ hoang; thây phơi rừng suối. Thả hùm vồ chuột nhắt, nào có gì khó; lăn đá ép trứng gà, sao mà dễ thế. Đó là lệ thường mỗi khi bệ hạ dùng võ vậy. Nhân dân hòa hợp; trăm họ yên vui. Mùa xuân vào lệ, dâng kính ngọc ngà; mùa thu vào chầu, noi theo chức tước. Họp các nước chư hầu mà yến thưởng; xây bảo đài ba cấp cho quần tiên. Lợp ngói bạc sáng chói trời xanh; đặt tòa sen phô bày tướng báu. Trên nóc phượng hoàng đứng thẳng, xung quanh rồng lớn đua vờn. Lọng trang sức thất trân, đại trang hoàng bách bảo. Thềm trên cao nhất, thánh thượng ngự chơi; bậc giữa tầm thường, cung thần chầu chực. Nhạc quan đứng sắp dưới sân, điều cùng nhảy múa. Ráng sức thiên tài làm nên diệu khúc, vỗ về phiên thuộc, xa tới Ấp Phong . Lưng trời tiếng ất mây bay; hòa sáng vang thêm ân sáng. Đó là đức cao nhất về sửa sang văn giáo của bệ hạ vậy. Làm chân chủ của đất trời; xét huyền cơ của tạo hóa. Vận trí biến thông, hiển mưu bày khắp. Tinh tường âm luật nước ngoài; phiên dịch yếu đoan mọi nghệ. Chế ra khúc múa tuyệt vời; tỏ rõ niềm vui đời thịnh. Lại chế khúc Tiên sử xuống máy, véo von tiếng hát, ngợi ca công lớn tiền vương; và khúc Sao băng dời chỗ, uyển chuyển dáng hình, chúc tụng ơn sâu giáo hóa. đà sự lo toan nhiệm mầu của bệ hạ vậy. Đức cùng trời đất, nên năm sao chói sáng, ơn tới cá chim; thì muôn vật dâng điềm. Mười tám rồng thần quang phục thềm huyền điện báu; một nghìn voi trắng hộ trì vườn cấm ao tiên. Tỏ rõ sự dài lâu của ngôi báu; hợp phù sự ưu thịnh của phúc lành. Cho nên, trời hiện điềm thiêng; rừng phô vật lạ. Lại xuất hiện voi thần hình thù to đẹp; trán hiện thần quang. Nghiệm văn thái sạch trong có bậc; bẩm thông minh rọi chiếu không cùng. Vua đặt tên cho thần tượng siêu quân. Ưu đàm đưa thơm, xá lỵ hiện ngọc; cỏ cây dâng phúc, thần vật báo điềm. Nên lên mọi cảnh đẹp không cùng; chỉ có sự truyền ngôi vô hạn. Cỏ thơm mọc hai lượt, hươu tuyết đến sáu lần. Nai trắng lại một con; hoẵng đen về một cặp. Thừa mệnh thượng đế, giữ lâu phúc trời. Dồn dập tỏ diều hay; song song phô vẻ lạ. Rùa nghìn chấm năm màu; sen hai gương một nhánh. Ơn thấm suối nguồn; vật dâng điềm lạ. Cảm ứng sự yên tĩnh của muôn dân; gợi bảo sự hưng vong của xã tắc. Nên vành trăng tán ở tầng trời; ánh vàng rọi từ khe tối. Tỏ rõ sự sáng soi nơi hữu hạn; nói lên sự tể đoán là vô cùng. Điềm trời báo phúc; khe tối dâng điềm. Một cây cau tía; nảy lắm mầm thiêng. Giống như các nước bảo vệ triều đình; cũng như khắp trời phù trì nguyên thủ. Thời qua chín chục, tiết đến tháng ba. Chuột sinh long trắng; thông biến lặng nghiêng. Giống tổ hạt dâng điềm lạ, hẹn hằng nga tỏ phúc lành. Hợp với sự thanh bình của bốn biển; hòa với sự êm ấm của muôn dân. Sẻ trắng, cưu vàng tụ tập; rồng xanh, cò trắng dâng trình. Giải tỏ dung nghi trong sạch, nổi lên duy nhất duy tinh; đổi thay chất cũ chân thường, theo được “hay nhân hay thứ”. Chiêu dao chìm, ngựa ký sinh ra, móng mềm nhẹ, trâu đen xuất hiện. Đàn nhạn họp mà phương xa thành phục; mãnh hổ vờn mà khắp chốn sợ oai. Bướm bướm thành đôi; tuyết lành đầy động. Mưa tuyết dạt bay đầy thước; tượng trưng thời đại thái bình. Mượt mà như bông phượng khác thường, rực rỡ như đàn cò thành dãy. Đàn quạ trắng đua bay, đám ngỗng trời tranh liệng. Tỏ rỏ sự tình cần báo đáp; cảm thông lòng thuần hậu thảo hiền. Đọc Phật kinh trọn cuốn mà không ai sánh kịp; chúc thánh thượng muôn năm quy định lệ thường. Cau quả ngậm châu; cành dương rưới ngọc. Điềm lành quanh quất chốn Cửu long, át xa châu báu; triệu tốt sinh sôi đầy các ngã, vượt tới phương xa. Ôi! Vâng nhận phúc dày trời đất; kế thừa mệnh lớn tông. Hơn năm mươi năm trị nước; hàng trăm nghìn nước sợ oai. Mưa nắng hợp thời; trăng sao đúng độ. Người thường nghĩ: việc làm ruộng là căn bản đầu tiên, nền chính sự ắt nhờ vào đó. Tuy hàng năm vẫn phải thân hành; nhưng ý chí chưa hề trễ nãi. Mùa hạ tháng năm niên hiệu Hội Tường Đại khánh thứ chín (1118), nhà vua cỡi xe phượng phi tiên; đáp thuyền rồng diệu bảo. Nắng đẹp sóng im, triều lui mây tạnh. Qua dòng Hà Lô, thấy bên Long Lĩnh. Tuy thế núi chênh vênh; nhưng đỉnh non bằng phẳng. Vua bèn truyền lệnh; buộc dây dừng thuyền. Xuống chiếu cho các quan hộ giá mà bảo rằng: - Trẫm muốn dựng một ngôi chùa ở núi này có được chăng? Tả hữu bước ra tâu rằng: - Chúng tôi nghe các cụ già trong làng kể lại rằng ở núi này cứ đến đầu xuân thì trời thường mưa để nhuần thấm cho muôn dân. Vậy bệ hạ nên dựng chùa, để chóng thành thiện quả. Xin bệ hạ đặt tên núi này là Long Đội. Nhà vua chuẩn y, bèn hạ lệnh cho viên quan coi việc bói toán, xác định phương hướng: mặt chùa trông ra sông Kinh, gió lặng dòng sông như lụa biếc trải ra; lưng chùa quay về núi Điệp, mưa tan dáng núi như gấm xanh thêm sáng. Bên hữu khống chế bình nguyên, trông vời lũy cũ Càn Hưng, bên tả men theo sông nhỏ, quanh Hán Thủy để ra khơi. Xuống chiếu cho thơ giỏi căng dây nảy mực. Thí của cải làm sáng thêm công đức, khiến quan coi rừng gắng sức đẻ giảm bớt dân tư; chuyển gỗ rừng hết sức thần kỳ, sai thợ mộc giỏi trổ tài để việc làm khéo léo. Lấy đá mân làm dấu, dùng đá vũ dựng hiên. Xây ba mươi tầng chọc trời; mỡ bốn mươi cửa hóng gió. Vách chạm rồng ổ, xà treo chuông đồng. Tầng trên đặt hộp vàng xá lỵ, tỏa tường quang cho đời thịnh sau này; đỉnh nóc xây tiên khách bưng mâm, hứng móc ngọc dưới bầu trời tạnh ráo. Tầng dưới chia tám tướng khôi ngô; đứng hộ vệ có thần nhân cầm kiếm. Chính giữa đặt tượng Đa Bảo Như Lai. Sức thề nguyền sâu rộng; dù dâng cả thân mình. Nghe kệ sen giúp đỡ oai thiêng; lắng kinh Phật nửa chia tòa báu. Treo phướn vàng rực rỡ; cắm lọng tia long lanh. Sân thềm có bậc; lang vũ hai bên. Rồi bên tả chùa dựng cung tứ giác: ngậm hai mâm trấn đất; đội tám tướng chầu trời. Nêu cao khí tượng cho danh sơn; truyền rộng thánh công cho hậu thế. Bên hữu chùa dựng nhà khám nhọn vuông, trong đặt Tân Đầu Hòa thượng là người bị Phật đày ra Ma Lê Sơn. Nhận lời dặn của Như Lai; vì chúng sinh mà chứng phúc. Tầng dưới xây đài Lăng Hán, treo đỉnh khí Thú Sơn, buộc chày kình Bích Hải. Khi đánh thì âm vang tràn ngập ở tầng trời; khi nghe thì lưỡi kiếm thôi vung nơi bể khổ. Xây tường cao để ngăn giữ; dựng giải vũ để phô trương. Bắc cầu mở rộng đường thông; trồng bách thành hàng hai dãy. Hết tinh thành sùng tôn diệu quả, mong cho lịch số lâu dài; hết kiểu lạ xây dựng lầu cao, kỳ vọng tuổi vua thọ mãi. Cho nên nhà vua đặt tháp ấy là Sùng Thiện Diên Linh. Tháp này bắt đầu xây dựng từ niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ chín (1118), đến mùa thu niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ hai (1121) thì hoàn thành. Nhân lúc rảnh mà dựng xây; gặp được mùa mà thiết lập. Trải qua ba vụ cày, bốn mùa lúa chín, sau mới hoàn thành. Đến khi làm lễ khánh thành, sai phụng thường chín đến kiệu xe; khiến phong bá quét trơn bụi bặm. Khói trần đàn mây toả khê; bóng cờ phướn ráng bừng đường sá. Chuông trống vang ầm; khánh tiu inh ỏi. Phía trước xe mây Tam bảo; đằng sau kiệu báu Thành hoàng. Dốc nghiêng xanh tía sáu cung; về hết trẻ già muôn nước. Điện hoa vắt ngang phía trước; chùa Phật mở rộng bên trong. Hội Tăng Ni trai khiết; diễn Giác đế chân kinh. Hoàng đế nghiêm trang, đọc kệ đoạn cúi đầu tạ lễ; cung nga khép nép, nghe kinh xong dâng sữa múa ca. Thổi cơm chay trắng muốt, thết kẻ đói qua đường; phát tiền quý ùn ùn cấp dân nghèo khắp chốn. U hiển đều về; trời thần cũng đến. Đem sức công tối thượng; phúc đức vô lường. Ca ngợi hoàng cương vững bền trời đất; cầu mong bảo vận vằng vặc trăng sao. Sớm sinh thái tử; nối mãi mệnh trời. Mong gốc ngành ngàn thuở, cầu xã tắc muôn năm. Khắp nơi như cỏ non lướt rạp; như hoa quỳ hướng về. Thần dân yêu mến; tổ khảo khuông phù. Thần đạo giúp ngầm; trời người nâng đỡ. Thái tổ Thái Tông và Thánh Tông hoàng đế định xong bốn bể, nhẹ gót lên tiên, nhờ quả phúc này mà ngự mãi tòa sen. Hoàng tỷ Phù Thánh Linh Nhân hoàng hậu, chán cõi trần hoàn, ngự chơi mây khói, gội lương nhân này mà siêu sinh tịnh độ. Nói chung các vương phi của các vua chư hầu, là những người hiền thục u trinh, điều hòa nộ trị. Nâng thêm tiết tháo hiền hòa; tỏ rõ tấm lòng thục thuận. Đợi sao trời xuống, cùng thổi luật đồng. Sau cùng xin nguyện dân chúng giàu có, hoàn vũ thanh bình; văn hóa thống nhất trong ngoài cùng gồm; ngũ hoành thuận thứ tự, năm giống thóc dồi dào, ngoài cửa ải không khói bụi, trong đất nước hết tai ương. Tôi thẹn xen hàng nhạn , lạm dự rừng Nho. Ghi chép sự việc hoàn thành; nhờ bởi thánh minh khéo léo. Còn cái công huân nghiêng trời lệch đất của bệ hạ, thì dẫu có tài như Uyên, Vân , có học như Ban, Mã cũng khó lòng ghi lại được muôn một vậy. Lại nghĩ phận rau quỳ rau hoắc nhỏ nhoi, nhờ được ánh mặt trời mặt trăng soi tới.nghìn năm một thuở, dóc hết lòng ngu. Gượng cầm ngòi bút, đánh bạo trình bày. Minh rằng: Rất diệu mà rất tĩnh, Không dáng cũng không hình. Gượng đặt tên cho nó, “Cực nhỏ” và “cực tinh” Đạm bạc riêng tồn tại Trước thuở trời đất sinh. Muốn nhuộm đen chẳng được, đem mài vaanx nguyên lành. Diệu thay cái tâm ấy, Thuần túy và tinh anh Xưa bên trời Tây Trúc, Giáng sinh ở Kim Tiên Mười danh hiệu đầy đủ, Rộng mở lời thề nguyện. Tu hành đủ lục độ, Tham cứu sâu đạo thiền. Trí tuệ đuổi hư ngụy, Dựng giáo lý diệu huyền. Đưa đạo về chân tính Như núi lặng non yên Khắp ba cõi chiêm ngưỡng, Mười phương về hợp duyên. Người vâng mệnh đức Phật mẹ, Chán cõi tục hư ảo, Như bọt nổi băng tan Ánh cầu vòng rực sáng, Nét mặt vàng mờ bóng, Tấm thân tẩm dầu lan. Gỗ chiên đàn làm củi Khói bay lên hỏa đàn Lữ thêu vừa lụy tắt Kết xá lỵ muôn vàn. Đầy mâm và đầy chậu, Hoặc năm sắc rõ ràng. Hoặc hiện thành chín vẻ, Lung linh và chói chang. Khắp thiên cung rộng lớn Khắp âm giới, dương gian. Quốc vương cả bốn loại Cùng kéo về rộn ràng. Tranh hùng, xưng danh tướng Mang năm lớp hòm vàng. Xe rồng êm chuyển bánh, Tháp báu đặt ngiêm trang. Từ đó và mãi mãi, Năm tháng tỏ đàn nhang. Nơi nơi đều thờ phụng, Người tu hành siêng năng. Đến nay vua nước Việt, Truyền giữ càng ân cần Hướng về núi Long Đội Nguyện theo chí hiền nhân, Xây điện tháp hùng vĩ Vượt mây, cao mấy tầng. Đỉnh tháp đặt xá lỵ Mong điềm xin thánh quân Hào quang tỏa phép lạ Song núi vẽ thanh tân Mây ráng cùng hòa hợp Cách biệt cõi hồng trần Đức vua ban tiên hiệu Tháp Sùng Thiện Diên Linh Cầu mong dài tuổi thọ Được tháng tốt ngày lành Cùng nhau hợp khánh chúc Quả phúc đã viên thành. Viếng chùa xe tấp nập Như mây tụ non xanh Quyết giữ lòng trong sạch Lên đài cao chanh vanh Rì rầm kinh tụng niệm Người, trời hòa vẻ thanh Trống chuông khua gióng giả Hương trầm khói tỏa quanh Gấm vóc khoe xuân sắc Phúc lành khắp chúng sinh Gông cùm và tù ngục, Phá bỏ, đời thanh bình Tôi được giao chép việc, Tài mọn, thêm thẹn thùng Ba đông học chưa trọn, Mà ơn vua vô cùng. Xin mở tung cữa ngỏ, Cho bốn biển hòa chung Ngợi ca đức năm tháng Dài lâu cùng núi sông. Dựng bia ngày 6 tháng 7 năm Tân Sửu, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ hai (20-8-1121) Nguyễn Công Bật, giữ chức Triều liệt, Hình Bộ Thượng thư, Binh Bộ Viên ngoại lang Đồng tri phiên công viện chính sự, vâng sắc chỉ soạn văn bia. Lý Bảo Cung giữ chức Hữu thị lang, Thượng thư, Công Bộ Viên ngoại lang đồng tri tham hình viện sự, thượng kinh xa đô úy, tử kim ngư, vâng sắc chỉ viết chữ bài văn bia. IV. Tư tưởng Phật giáo Việt Nam qua cái nhìn từ “Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” của Nguyễn Công Bật, đời Lý: Phật giáo sau một thời gian dài du nhập, đến thời Lý thì đã có đủ thời gian và điều kiện để vươn tới sự hưng thịnh phát triển, đi sâu hoà nhập vào tư tưởng nếp sống và suy nghĩ, lời nói người dân Đại Việt bấy giờ. Phật giáo song hành với dân tộc trong bối cảnh lịch sử Đất nước Đại Việt không chỉ độc lập tự chủ trên cương giới lãnh thổ mà còn phát triển, thành tựu trên các lĩnh vực văn hoá, chính trị, kinh tế nữa. Việc nghiên cứu, tìm hiểu bài “Đại Việt đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” (Bia Sùng Thiện Diên Linh của vua thứ tư nhà Lý đương làm chủ nước Đại Việt) của Thượng thư Nguyễn Công Bật được xem như một bản tổng kết những thành tựu của đất nước trên các lĩnh vực tư tưởng, chính trị, kinh tế, văn hoá nước nhà dưới triều đại vua Lý Nhân Tông. Bài viết này thực hiện nhằm đóng góp, bổ sung sự hiểu biết về một tác phẩm của tác giả bài văn bia có dấu ấn trong lịch sử - văn học nước nhà ở thời kỳ đầu xây dựng và phát triển nước Đại Việt bấy giờ, hai là có thêm cơ sở tìm hiểu Văn học thời Lý Trần trước một di sản văn hoá cha ông để lại. 1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm: Không phải ngẫu nhiên mà sử thần Lê Văn Hưu khi nhận định đạo Phật đời Lý, ông đã phát biểu: “Lý Thái Tổ lên ngôi hoàng đế mới hai năm, nhà tông chưa xây đàn, xã tắc chưa dựng, đã tạo tác 8 ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, lại sửa sang các tự quán quốc lộ, độ hơn ngàn người làm tăng…” Còn sử gia Ngô Thời Sĩ thì nhận định:“Vua Lý Thái Tổ thì sinh trưởng nhờ cửa Phật, Khánh Vân nuôi lớn, muốn kiến quốc đã sáng tạo nhiều chùa, cấp điệp độ chúng tăng, muốn đưa cả thế giới vào nước Phật” . Xem ra, đạo Phật đã đóng vai trò vô cùng quan trọng như là một sinh mệnh, dùng chánh pháp để đem đạo vào đời, thực thi khát vọng xây dựng cuộc sống thanh bình thịnh vượng cho quê hương xứ sở qua các triều đại Đại Việt bấy giờ. Việc Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Công Bật (? _ ?) triều đại Lý Nhân Tông (1072-1128 ) làm bài văn bia “Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” bằng chữ Hán (bản dịch của Đỗ Văn Hỷ, Thơ văn Lý Trần, tập I, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội,1977) là chuyện tất nhiên chẳng có gì phải nói. Điều đáng lưu tâm ở đây là bài văn bia này thật sự trở thành một tác phẩm không chỉ có giá trị văn học lớn mà còn thể hiện đường lối dựng nước giữ nước của Lý Nhân Tông cùng đại thần, nó hợp với lòng dân và cũng là hợp với đạo lý nhà Phật. Với giọng văn đầy khí hào hùng, âm vang kiêu hãnh lòng tự hào độc lập dân tộc, từ nội dung cho đến hình thức là sự kết hợp hài hoà, bài văn bia nghiễm nhiên đi vào lòng người như hơi thở trong lành đem lại sự khoẻ khoắn tươi mát ngọt ngào khiến cho con người thích thú vững tiến đi lên. 2. Nội dung tư tưởng bài văn bia: 2.1. Nguồn gốc vạn pháp – Cơ sở lý luận xây dựng phát triển tâm thức con người và vạn vật: Dưới triều đại vua Lý Nhân Tông trị vì, đất nước đang ở thời kỳ xây dựng phát triển đất nước. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, dân chúng cả nước đa phần là Phật tử, năm này tiếp nối năm kia hàng loạt ngôi chùa, tháp được xây dựng như biểu thị thành quả của đất nước trên các lãnh vực chính trị, văn hoá kinh tế… Phật giáo như trở thành hệ tư tưởng được thể chế triều đình tôn kính và áp dụng trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước và bảo vệ thành quả đạt được với ý thức tự chủ, độc lập sau một ngàn năm bị phong kiến phương Bắc xâm lược. Tư tưởng “vạn pháp duyên sinh vô ngã” của Phật giáo đã đi vào đời sống hiện thực, nó đã góp phần hoá giải các mâu thuẫn giữa vua chúa với các tầng lớp quý tộc, giữa quý tộc và nhân dân lao động. Tất cả chỉ vì mục đích xây dựng một đời sống hạnh phúc an lạc trong một bối cảnh đất nước Đại Việt trở nên hùng cường, thịnh vượng. Chính vì thế mối quan hệ Đất vua- chùa làng – phong cảnh Bụt càng trở nên khắng khít hơn bao giờ hết. Cơ sở lý luận để xây dựng con người và vạn pháp đều dựa vào tư tưởng Phật giáo, hoà nhập tư tưởng dân tộc. Chính Lý Nhân Tông vị vua triều Lý đã đệ trình tâm nguyện của mình với thiền sư Mãn Giác: “Bậc chí nhân thị hiện, tất lo cứu người, không hạnh nào chẳng đủ, không việc gì chẳng làm, không chỉ có sức định tuệ, mà cũng có công phò tá” . Khi vua Lý Nhân Tông phát biểu như vậy, điều đó có nghĩa mọi thành viên của Phật giáo không chỉ đem tài đức ra để phụng đạo mà còn phải nỗ lực đóng góp cho dân tộc trong sự nghiệp phát triển đất nước. Do đó, tất cả các thành tựu của nước Đại Việt bấy giờ đều bắt nguồn từ sự thành tựu của tấm lòng vì dân vì nước. Đất nước mà hưng thịnh phú cường thì đạo pháp trường tồn vững tiến. Hay nói cách khác tất cả thành tựu trên cuộc đời này đều bắt nguồn từ tâm. Một cái tâm trong sáng, nhu nhuyến, không chấp trước làm hoá hiện tất cả những gì con người và đất nước đang trông đợi trong thời đại của mình. Vì thế, mở đầu bài văn bia, Thượng thư Nguyễn Công Bật đã giới thiệu nguồn gốc vạn pháp chính là: “Cái diệu thể thì huyền tịch, là ánh linh quang không ở trong, không ở ngoài, nhưng là khởi nguyên của năm nguyên tố, còn cái đại dụng thì tràn đầy, là cõi bao la, có hình thù, có thể chất, nhưng lại nằm trong khí thái hư. Nó không có dấu hiệu để suy lường; không có bóng hình tìm kiếm. Nó bao trùm cả trời đất rộng lớn, đâu khá dò xem; nó hoà đồng cả tinh tú huy hoàng, dễ nào tìm xét. Dù cho then máy của tạo hoá chuyển vần, nó nghiễm nhiên tồn tại; dù có xô đẩy cho sự mau chậm của âm dương vận động, thì cái bí yếu vẫn riêng sâu kín. Đó chẳng phải là huyền tịch hay sao?” Như vậy, nguồn gốc vạn pháp chính là “Huyền tịch” hay nói khác đi là Tâm. Tâm chính là cơ sở ngọn nguồn của vạn pháp theo đó mà duyên khởi. Trong vạn hữu thực tại đời thường này có cái gì vận hành mà tâm không rọi chiếu. Chân lý cuộc đời không thể nằm ngoài tâm. Lý duyên khởi từng minh chứng: “Cái này có mặt thì cái kia có mặt, cái này sinh thì cái kia sinh; cái này không thì cái kia không, cái này diệt thì cái kia diệt”, cho nên chúng sinh hay Phật Thánh từ nơi tâm duyên khởi mà có mặt giữa cuộc đời, vạn pháp dẫu to lớn như vũ trụ, hay nhỏ như vi trần cát bụi cũng thế thôi! Thật là: “Rất diệu mà rất tĩnh, Không dáng cũng không hình Gượng đặt tên cho nó Cực nhỏ và cực tinh Đạm bạc riêng tồn tại Thuở trước trời đất sinh Muốn nhuộm đen chẳng được, Đem mài vẫn nguyên lành. Diệu thay cái tâm ấy Thuần tuý và tinh anh” 2.2. Tán dương công đức Phật pháp trong việc xây dựng đời sống hạnh phúc của một nước thanh bình: Kinh Phật dạy rằng: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” nghĩa là Phật có mặt giữa cuộc đời này, ngoài thế gian này thì không có Phật pháp. Thế nên, Phật Tổ Như Lai đã hiện thân giữa cuộc đời này. Ngài là một con người, nhưng một con người nhờ công phu tự thân tu tập, tự thân hành trì, tự thân chứng ngộ. Hay nói khác đi, ngài đã chuyển hoá tâm thức để hiện thân một con người đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, đem giáo pháp mà ngài đã chứng ngộ vào đời để chúng sinh nương đó mà tu tập: “…Do đó người lập nên diệu giáo Bồ đề, để nuôi dưỡng kẻ đói lòng bao thưở ; thắp ngọn đèn rực rỡ, soi đêm tối bao năm. Khiến cho cái hồn nhiên của tấm lòng phóng đãng được yên; thói tà vạy của tính mê lầm được định. Cho nên quy y ba giới quy y, muời phương hồi hướng…” là nguyện sống theo tinh thần: “Rộng mở lời thề nguyện Tu hành đủ lục độ Tham cứu sâu đạo Thiền Trí tuệ đuổi hư ngụy Dựng giáo lý diệu huyền” Đây chính là nếp sống hướng thượng mà Phật giáo hướng đến, nhà Lý muốn vận dụng Chánh pháp để tự thân mỗi người phải tỉnh thức sống đúng đạo lý. Tại đây, từ dân chúng bình thường cho đến vua quan thần dân, nhà nhà đều an trú trong hạnh phúc, phải chăng đây là mô hình lý tưởng mà nhà Lý vươn tới: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Rõ ràng, công đức này thật tối thượng, thi nhau xây chùa chính là thi nhau sống tốt, sống hạnh phúc an lành: “… Thi nhau xây chùa, cất cao vật báu. Từ xưa đến nay, lưu truyền không mất …” như bài văn bia đã viết. Rõ ràng, Phật giáo giai đoạn này đã chuyển sang thời kỳ Phật giáo thế sự. Giai cấp phong kiến đề nghị nhà sư muốn cứu độ chúng sinh thì phải đầy đủ trí tuệ, đức hạnh và tham gia các công việc cần thiết của quốc gia đại sự. Phật giáo muốn phát triển hưng thịnh trong lòng dân thì nhà nước thật hết sức ủng hộ. Các vua chúa quan lại thời ấy đều đem hết tâm lực, tài lực ủng hộ Phật giáo. Cho nên, các nhà sư cũng hết sức tuỳ hỷ tham gia làm Phật sự và ủng hộ vương triều trong việc dùng chánh pháp để trị dân. Công đức ấy, các nhà sư cũng không hết lời ca ngợi trong các dịp khánh thành chùa hay bảo tháp như là thể hiện tấm lòng đền đáp Tứ ân. Trong bài Ngưỡng sơn Linh Xứng bi minh, sư Hải Chiếu viết: “Ôi! Sinh thành và nuôi nấng ta, có bằng vua và cha, cho nên phải kính trọng; dắt dẫn và che chở ta còn gì hơn là phúc huệ, cho nên phải tin theo. Đem phúc to này, chúc vận lớn ấy. Nghiệp trời dằng dặc dài lâu; vận nước đời đời thịnh vượng.” Đạo Phật trở thành nền tảng xây dựng vấn đề đạo đức xã hội, duy trì trật tự đời sống nhân dân. Người ta sống đúng chánh pháp, thực hành Lục độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ tức là sống hoà nhập theo quy tắc hiến pháp triều đại. Giáo lý nhân quả nghiệp báo cũng đóng góp thiết thực trong việc chỉnh đốn các ham muốn cá nhân trong vấn đề tư lợi, hưởng thụ trước dòng sống vô thường hay biến đổi. Vì vậy, bất cứ thành phần nào cũng phải lo làm việc công đức ích nước lợi dân. Nhà chùa trở thành nhà trường, nhà sư trở thành nhà giáo dạy kiến thức và lẽ sống cho mọi người. Chính giáo lý Lục độ đã khiến cho Lý Thường Kiệt trong 19 năm trấn trị Thanh Hoá đã áp dụng vào việc hành xử chấp pháp một cách thành công, dân chúng nương đó mà an bình, xã hội nhờ thế mà ổn định kỷ cương, đúng như bài “Ngưỡng sơn Linh Xứng tự bi minh” ghi lại: “Thái úy trong thì sáng suốt khoan hòa, ngoài thì nhân từ giản dị. Những việc đổi dời phong tục, nào có quản công. Làm việc thì siêng năng, sai bảo dân thì ôn hậu, cho nên dân được nhờ vậy. Khoan hòa giúp đỡ quần chúng, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên được nhân dân kính trọng. Dùng oai vũ để trừ bọn gian ác, đem minh chính để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm. Thái úy biết dân lấy no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang, nuôi dưỡng cả đến người già ở nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó mà được an thân. Phép tắc như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự đẹp tốt đều ở đây cả”. Nhờ vậy, lòng dân tin vào chính quyền, có nghĩa là tin vào giáo lý đức Phật. Tại đây con người mới hết lòng phục vụ đất nước, hết lòng phụng đạo. Sự xây chùa dựng tượng tháp thờ Phật nhằm thể hiện tấm lòng vì dân vì nước mà thôi. Trong lúc đó, Nho giáo không phải không muốn gây ảnh hưởng của mình vào lòng dân chúng. Tuy nhiên lý thuyết Nho giáo hầu như chỉ bảo vệ quyền lợi giai cấp quý tộc vua quan trong xã hội phong kiến, nó không đủ cơ sở để lý giải các mâu thuẫn nội tại giữa tầng lớp quý tộc với nhau, trên hết là mâu thuẫn đối kháng mạnh mẽ giữa quần chúng nhân dân và chính quyền phong kiến. Lực lượng làm cho trên dưới đồng lòng, tương thân tương ái đúng với truyền thống và đạo lý tư tưởng người Việt Nam bấy giờ chỉ có là Phật giáo. Lý Nhân Tông cũng đã thừa nhận vai trò Phật giáo không chỉ sáng lập ra triều đại nhà Lý mà muôn đời là lực lượng nòng cốt, tạo ra sức mạnh đoàn kết toàn dân trong việc giữ nước và dựng nước: “Vạn Hạnh dung tam tế Chân phù cổ sấm thi Hương quan danh Cổ Pháp Trụ tích chấn vương kỳ” (Vạn Hạnh thông ba cõi Lời ông nghiệm sấm thi Quê hương làng Cổ Pháp Chống gậy trấn kinh kỳ) Và như thế Phật giáo đã cùng dân tộc sát cánh bên nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ thành quả đất nước đạt được. Cả hai cùng mục đích thiết thực xây dựng đời sống người dân Đại Việt trở nên an lạc hạnh phúc trong bối cảnh đất nước thanh bình, đúng như tinh thần bài thơ sư Không Lộ cảm hứng dưới triều Lý: “Vạn lý thanh giang vạn lý thiên Nhất thôn tang gia, nhất thôn yên Ngư ông thuỵ trước vô nhân hoán Quá ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền” (Trời xanh nước biếc muôn trùng Một thôn sương khói, một vùng dâu đay Ông chài ngủ tít ai lay Quá trưa tỉnh dậy tuyết bay đầy thuyền) 2.3. Vai trò và công hạnh của Lý Nhân Tông đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Đại Việt: Tiếp nối truyền thống buổi đầu khai mở triều đại nhà Lý, lấy quần chúng Phật giáo là gốc xây dựng đất nước thịnh vượng của cha ông đứng đầu là Lý Thái Tổ, sự có mặt Lý Nhân Tông để đứng ngôi vị của cả thần dân hẳn là sự kiện lịch sử tất yếu. Đó là con người - một nhân vật lịch sử biểu tượng sự kết tinh mọi sự thành tựu của cả dân tộc. Ở đó, nói theo ngôn ngữ nhà Phật là sự hiện thân của một con người đầy tính giác ngộ, cho nên trong bài văn bia Nguyễn Công Bật, đại diện Thần dân đã hết lòng ca ngợi: “Kính nghĩ đức Hoàng đế bệ hạ, bậc Thánh hiền thể đạo, Thánh văn thần võ, anh cách dân vật, vạn linh chiếu ứng, vĩnh long nguyên hoá, thông minh quảng vận, nhân trí ý nghĩa, thần thánh minh hiếu của triều Lý, là do đất trời chung đúc, nhật nguyệt kết tinh.” Ngài lên ngôi trị vì đó là ý nguyện của toàn dân, sự đẹp đẽ toàn bích của ngài chính là sự uy nghi của cả dân tộc, không phải tự nhiên mà đạt được mà chính là “sự anh minh của nghìn đời; vuợt lên vẻ kỳ thú của trăm chúa”. Hẳn nhiên, Thượng thư Công Bật thật tự hào về vị vua anh minh của mình như thế nào mới viết được như thế. Điều đáng nói ở đây là vua Lý Nhân Tông là một ông vua anh quân, đã có công lãnh đạo và xây dựng một quốc gia Đại Việt trở nên hưng thịnh, phú cường dưới thời ông trị vì. Đọc lại Đại Việt sử ký toàn thư chúng ta sẽ rõ về con người ông: “Huý Càn Đức, con trưởng của Thánh Tông, mẹ đẻ là thái hậu Linh Nhân, sinh vua ngày 25 tháng giêng năm Bính Ngọ, Long Chương Thiên Tự thứ 1 (1066), ngày hôm sau lập hoàng thái tử. Thánh Tông băng, vua lên ngôi hoàng đế, ở ngôi 56 năm (1072 – 1127), thọ 63 tuổi (1066 – 1127), băng ở điện Vĩnh Quang. Vua trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu dân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, mình được thái bình, là vua giỏi triều Lý. Tiếc rằng mộ đạo Phật, thích điềm lành, đó là điều luỵ cho đức tốt.” Thư tịch ghi lại như thế cũng đủ minh chứng ông là vị vua lãnh đạo cả dân tộc Đại Việt không chỉ phú cường và thịnh vượng ở trong nước mà còn có chính sách đối ngoại với các nước lân bang trong tinh thần tự chủ độc lập, không khuất phục bất cứ thế lực nào. Ông chủ trương duy trì chính trị hoà hợp, hoà bình trên tinh thần hai bên đồng có lợi khiến nước lớn cả nể, nước nhỏ tâm phục. Thế nên, Thơ văn Lý Trần, tập I, đã tổng kết công hạnh của ông trong việc xây dựng phát triển nước Đại Việt như sau: “Được các bề tôi giỏi hết lòng giúp đỡ, và nhân dân ủng hộ, triều đại của ông đã có những chiến công lừng lẫy, mấy lần đánh Nam dẹp Bắc thắng lợi, đập tan âm mưu xâm lược nhà Tống. Về nội trị, vua rất quan tâm đến công việc nhà nông, thường đi xem dân gặt hái, xuống chiếu cấm trâu… Đặc biệt mở khoa thi tam trường, lập Quốc Tử Giám, tổ chức thi để chọn văn thần… có thể nói ông đã đặt nền móng cho sự phát triển chính quy của Nho giáo Việt Nam, đồng thời cũng đóng góp vào việc xây dựng văn hoá nước nhà” Cho nên, sự nghiệp xây dựng và giữ nước của dân tộc Đại Việt trong triều đại nhà Lý bao giờ cũng gắn với sự nghiệp cả cuộc đời ông. Việc xây chùa dựng tháp là dịp tổng kết kết các thành tựu đất nước đạt được để hậu thế noi theo, hẳn nhiên công đức của ông phải được thần dân ngưỡng vọng kính đề vào văn bia tán thán: “Trên vừa yên trị trong nước; dưới giúp đỡ lân bang…, nhân dân hoà hợp; trăm họ yên vui. Mùa xuân vào lệ, dâng kính ngọc ngà ; mùa thu vào chầu, noi theo chức tước. Họp các nước chư hầu mà yến thưởng...Làm chân chủ của trời đất; xét huyền cơ của tạo hoá. Vận trí biến thông; hiển mưu đầy khắp…Hợp với sự thanh bình của bốn biển; hoà cùng sự êm ấm muôn dân”. Tại đây, không một người dân Việt Nam mà không tự hào về một minh quân lãnh đạo đất nước tài đức như thế. Nhờ vậy, cuộc sống người dân được sống trong bầu không khí an vui hạnh phúc, ở một thời đại “rộng mở và dân chủ”, “hào mại mà dũng liệt” Lại nữa, tài trí đức hạnh của vua Lý Nhân Tông: “Tinh thông tới chỗ yếu huyền; pháp thuật ngoại quyền, thâu tóm toàn ý chỉ. Đúc lời đẹp như đá vàng, sáng loà tinh đẩu…” cũng đủ minh chứng ông đủ tài năng lãnh đạo dân chúng vững bước tiến lên sánh vai với các đế vương lân bang. Bằng các lễ hội văn hoá nhân các đại lễ, hay dịp trung thu trăng tròn vua dân mở cõi lòng, đồng tâm hát khúc nhạc lòng khải hoàn ca Phật, Thánh, Tiên, Người là một, có gì hạnh phúc hơn bằng, cõi Phật tại quê nhà đâu cần phải tìm đâu xa. Trong niềm an lạc thịnh vượng vô biên, Đại Việt trở nên oai hùng, đón chào tất cả bè bạn lân bang trong không khí lễ hội: “…Kẻ trổ oai trong chốc lác, người đón rước lúc bấy giờ. Lân quốc mến nên dắt già bế trẻ; chư hầu về mà vượt luỹ băng tường. Chăm chú đón xem; chờ mong được thấy. Khắp chốn trang hoàng gấm vóc; hằng năm vui vẻ ba ngày. Đưa mọi người lên cõi hồ thiên; đặt quần chúng vào nơi lạc quốc…” Quả thật, Phật giáo đã đồng hành với dân tộc, lúc thịnh vượng cũng như suy vong. Lúc nào triều đại hợp lòng dân, hợp Phật tâm mỗi người là lúc đó đất nước thinh trị. Sự xây dựng chùa chiền, tháp bảo thực chất là xây dựng môi trường nếp sống đạo đức dân tộc, nếp sống hướng thượng nhà Phật. Về sau Nho sĩ đời Trần là Lê Quát cũng đành lòng thừa nhận: “Thuyết hoạ phúc của nhà Phật tác động tới con người, sao mà được người ta tin theo sâu sắc và bền vững như thế?. Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật, thì dầu đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc. Nếu ngày nay giử gắm vào tháp chùa thì mừng rỡ như nắm được khoản ước để lấy quả báo ngày sau. Cho nên, trong từ kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho tới thôn cùng ngõ hẽm, không mệnh lệnh mà người ta vẫn theo, không thề thốt mà người ta vẫn tin, chỗ nào có người ở tắt có chùa Phật, bỏ rồi lại xây, hỏng rồi lại sửa, chuông trống lâu đài chiếm đến nửa phần so với dân cư, đạo Phật hưng thịnh rất dễ mà rất được tôn sùng.” 2.4. Đời sống văn hoá nước Đại Việt: Trong xu hướng thịnh vượng như thế, đời sống văn hoá nước Đại Việt phát triển rực rỡ từ văn hoá vật chất cho đến phi vật chất. Những lễ hội văn hoá dân tộc mang âm hưởng màu sắc Phật giáo thường xuyên được tổ chức dưới sự bảo trợ của chính quyền nhà Lý. Lễ hội là một dịp để dân chúng nước Đại Việt tiếp xúc và thông cảm hoà hợp các thành phần trong xã hội, trên hết là biểu đạt tinh thần đoàn kết toàn dân, biểu trưng sức mạnh cả dân tộc đối với các nước lân bang nữa. Điều đó cũng chứng tỏ Phật giáo không chỉ tham gia vai trò cố vấn chính trị mà còn tham gia phò tá đóng góp công sức trên các lĩnh vực khác của đời sống dân chúng Đại Việt. Đại Việt sử ký toàn thư, cũng ghi nhận có 4 lần vua Lý Nhân Tông tổ chức lễ hội, trong đó có lần xuống chiếu cho cho sứ thần của Chiêm Thành xem. Văn bia Sùng Thiện Diên Linh diễn tả lễ hội này thật hoành tráng, cực kỳ công phu để lại dấu ấn lớn trong lòng dân Đại Việt. Đó là lễ hội đèn Quảng Chiếu, nó còn biểu dương sức mạnh cả dân tộc đang vươn mình lớn dậy, bước sang thời kỳ hoàng kim, thắp sáng hàng nghìn ngọn đèn như tỏ ý kinh thành Thăng Long từ đây chấm dứt đêm dài tăm tối thời trung cổ. Nó cũng minh chứng tinh thần và sức sống Đại Việt: “Khuynh thiên hạ chi ung hoà, dạ vi trú thưởng”, nghĩa là “dốc lòng hoà vui thiên hạ thì đêm mới trở thành ngày” như tinh thần văn bia đề cập. Đặc biệt, kiến trúc Phật giáo nhà Lý nghiễm nhiên trở thành biểu tượng quốc gia. Nó là sự tôn vinh của cả một nền văn hoá cả dân tộc bấy giờ. Đằng sau các biểu tượng nó cũng minh chứng cả chủ trương thái độ sống của người dân Đại Việt bấy giờ là đoàn kết, hoà hợp, độc lập, tự chủ, thanh bình, nói như nhà Phật thường biểu đạt: “Tâm bình là thế giới bình”. Ngôi chùa mái cong hiền hoà toạ lạc trong làng xã, bảo tháp uy nghi cho con người nghiêng mình đảnh lễ, một hoa sen thanh thoát để cõi lòng hướng thiện … Tất cả chỉ nói lên là một điều, chừng nào con người còn khát vọng dập tắt khổ đau thì chừng đó con người cần vươn tới chân hạnh phúc. Việc vua Lý Nhân Tông xây chùa dựng tượng đúc chuông, thiết lập bảo tháp Sùng Thiên Diên Linh chỉ là thực thi công cuộc mở mang phát triển đất nước mà thôi: “Rộng vận thần công; cả suy thánh đoán. Sửa sang thắng sự; chăm tới lương duyên. Dựng đài cao quảng chiếu; hướng sân trước đoan môn. Trong nêu một cột; ngoài đặt bảy tầng. Uốn hình cung nâng đỡ sen vàng ; máy lồng nhiễu che cho ngọn nến. Dấu cơ vi ở dưới đất như bánh xe xoay chuyển; rực sáng giữa bầu trời….” “Lại có đài cao thất bảo, xếp thành một dãy, chính giữa có ngọn núi vàng. Đặt tượng đẹp Đa Bảo Như lai, bày chân hình xe pháp mấy tầng. . . Thứ đến hai toà bạch ngân; bên tả đặt chân dung tượng A DI ĐÀ; phía hữu để xá lợi của sắc thân màu nhiệm. Chiều cao mở ra thế khoẻ ; vẻ đẹp phô rõ mái cong. Long lanh ngỡ tuyết trắng đang tan ; rực rỡ ắt trăng thu vằng vặc. Thứ nữa có hai toà điểu văn; bên tả đặt thân mẫu Quảng Bác, phía hữu đặt diệu tướng Bồ đề…” “Tôn sùng đạo Phật; hâm mộ thắng nhân, mở chùa Diên Hựu ở tại vườn tây. Dấu vết theo quy mô thuở trước; lo toan Thánh ý ngày nay. Đào ao thơm Linh Chủ, giữa ao trồi lên một cột đá, trên cột có một đoá sen nghìn cánh sen xòe ra. Trên hoa dựng một ngôi đền đỏ sẫm ; trong đền đặt pho tượng sắc vàng. . .” Những công trình kiến trúc đời Lý kiến thiết được đã chứng minh sự thành tựu đỉnh cao kiến trúc Phật giáo nhà Lý. Thông qua việc kiến trúc chùa tháp, sự thiết kế chương trình lễ hội, nhà Lý còn muốn chứng minh thành tựu về ngành khoa học kỹ thuật của chúng ta vẫn theo kịp các nước lân bang. Bằng chứng, trong lễ hội, người dân Đại Việt có thể chế tạo các máy móc điều khiển phục vụ lễ hội như máy ngầm, sư bằng gỗ có thể đánh chuông vào những lúc mình muốn. Các thành tựu này cũng có thể ứng dụng vào quốc phòng để sẵn sàng đối phó với tất cả kẻ thù nào dòm ngó Đại Việt. Đây là một dịp, chúng ta ngầm biểu dương sức mạnh tiềm ẩn quốc phòng mà các nhà quân sự ngày này thường làm. Trước sự thăng hoa trù phú trong hào khí vươn lên, vua Lý Nhân Tông hạ chỉ xây chùa ở núi Long Đội, mà văn bia đề cập: “Xây ba mươi tầng chọc trời, mở bốn mươi hóng gió. Vách chạm rồng ổ; xa treo chuông đồng. Tầng trên đặt hộp vàng xá lợi, toả tường quang cho đời thịnh sau nay; đỉnh nóc xây tiên khách bưng mâm, hứng móc ngọc dưới bầu trời tạnh ráo. Tầng dưới chia tám tướng khôi ngô; đứng hộ vệ thần dân cầm kiếm…, cho nên nhà vua đặt tháp ấy là Sùng Thiện Diên Linh.” Sự đồ sộ uy dũng, cũng như các chi tiết mềm mại nhu nhuyến đều được thể hiện trong kiến trúc Chùa tháp như là tính cách con người Việt Nam. Suy cho cùng, mục đích tối thượng mà triều đại nhà Lý khát vọng thiết lập trong tâm thức mỗi người Việt Nam là luôn giữ vững ý thức tự chủ độc lập đất nước trong mọi hoàn cảnh lịch sử. Tại đây, chúng ta một lần nữa thấy rõ quan điểm của vua Lý Nhân Tông khá rõ là vấn đề xây chùa dựng tháp là việc làm vô cùng quan trọng, nó biểu thị sức mạnh đoàn kết toàn dân, khai phóng trí tuệ đời sống văn hoá Đại Việt. Trong 50 năm cầm quyền, theo các tài liệu sử ghi lại, ông đã hơn 18 lần làm chùa và tổ chức lễ hội. Cứ mỗi lần xây xong, toàn dân tự nguyện cùng nhà nước tổ chức lễ lạc khánh thành, dân chúng an vui vì có thêm một trung tâm văn hoá giáo dục đào tạo ra mẫu người yêu nước thương dân, giàu lòng phụng đạo hơn bao giờ hết. Trên hết, chùa là cơ sở để toàn dân trấn giữ Đế đô vương triều, là bảo vệ chủ quyền dân tộc như các nhà lãnh đạo phong kiến nước ta từng làm mà Phạm Sư Mạnh đã từng ca ngợi trong văn bia tháp Báo Thiên ở kinh đô Thăng Long: “Trấn áp đông tây củng đế đô Khuy nhiên nhất tháp độc nguy nguy Sơn hà bất động kình thiên trụ Kim cổ nam ma lập địa chuỳ” (Trấn áp đông tây giữ đế đô Ngang nhiên ngọn tháp vút lên nhô Non sông giữ vững chãi tay trời chống Nạp xửa khôn tiêu đất cắm vồ) Vì thế, mỗi người dân ai ai cũng hưởng trọn phúc lành nhiệm mầu từ chất liệu từ bi hỷ xả nhờ người dân thấm nhuần giáo lý nhà Phật từ các ngôi chùa họ đã sống, đã gần gũi. Chùa là nơi mà ai cũng có thể đến đó học tập, sinh hoạt, cầu nguyện, cùng nhau chia sẻ, cùng nhau tham gia đóng góp các việc công ích, dù người đó là vương quyền quốc thích, quan lại hay nhân dân lao động nghèo khổ: “Hương trầm khói toả quanh Gấm vóc khoe xuân sắc Phúc lành khắp chúng sinh Gông cùm và tù ngục Phá bỏ, đời thanh bình” Đúng như lời nhận định của nhà nghiên cứu Chu Quang Trứ: “Chùa tháp thời Lý là kiến trúc Phật giáo sớm nhất hiện còn dấu tích trên mặt đất và thư tịch. Nó khẳng định một giá trị nghệ thuật dân tộc đặc sắc Phật giáo Việt Nam và của thời đại, xứng đáng mở đầu văn minh Đại Việt và bằng sức lao động sáng tạo của cả dân tộc có trình độ thẩm mỹ cao” . Đây cũng chính là biểu tượng thể hiện sinh động nhất của đời sống văn hoá nước Đại Việt bấy giờ. Cuối cùng, chúng tôi muốn nói dưới triều Lý Nhân Tông, Phật giáo và dân tộc là một thể thống nhất bất khả phân ly. Nó đáp ứng nhu cầu sách lược mà vua Lý Nhân Tông vạch ra đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước trong thời đại, đó là xây dựng và phát triển nước Đại Việt hùng cường tự chủ độc lập trên mọi lãnh vực. Ở đó mọi người dân nước Việt được trang bị vừa có tấm lòng đầy đủ giới đức, tâm đức, huệ đức của nhà Phật đồng thời họ chính là những người có công phò tá cho dân tộc, cho quốc gia, xã hội. Kết luận: Tiếp nhận một tác phẩm văn học có giá trị là tiếp nhận một thông điệp mang lại sự chuyển hoá tâm thức con người trong sự vận hành với xu hướng đi lên tất yếu của lịch sử. Tính thẩm mỹ của tư tưởng thường góp phần cho con người nhận ra chân lý cuộc đời. Nó sẽ hoá hiện ra giữa cuộc đời cho những ai biết thực thi bằng cả tấm lòng hướng thượng. Bài văn bia “Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi” mà Thượng thư Nguyễn Công Bật trước tác bằng chữ Hán cho đến tận bây giờ nó không chỉ là bài ca hào khí dân tộc một thời an thịnh mà còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển đất nước thời đại ngày nay. Mọi giá trị trong cuộc đời này có mặt khi giá trị tâm thức con người hiện hữu. Phật giáo xây dựng con người bắt nguồn từ việc xây dựng tâm thức con người. Một tâm thức trong sáng, một trí tuệ cao cả, một tấm lòng biết yêu thương thì lo gì con người đó không an bình thăng tiến, nhà nhà thịnh vượng, xã hội hạnh phúc bền vững. Nhà Lý ngự trị hơn 200 (1010 – 1225) năm trong lịch sử nước nhà, thiết nghĩ là nhờ vậy. Văn bia thời Lê Trung Hưng Văn bia chùa Cảm ứng Thích Phước Đạt Chùa Cảm Ứng là một ngôi chùa cổ ở xã Hà Châu, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Tên ngày nay được gọi là chùa Hà Châu, còn tên chùa do nhân dân gọi là chùa Cả. Chùa có vị trí nằm bên cạnh dòng sông Cầu lịch sử, là vùng đất có rất nhiều di tích lịch sử văn hóa. Sách Tiêu chí Thái Nguyên của Ê si na (viết trước 1945) có chép xã Hà Châu có đền Hạ (nay là đình Đoài) thờ Dương Tự Minh. Điều đặc biệt trong các di tích này còn nhiều hiện vật, di vật quý giá như bia đá, sắc phong…Chùa Cảm Ứng là một trong những danh lam, thắng cảnh đẹp trong vùng. Theo các di vật còn lại như bia đá, cột đá thì chùa xây dựng vào năm 1672 thời Lê Trung hưng, với quy mô tráng lệ, nghệ thuật kiến trúc đẹp vào thời đó. Theo Cảm Ứng tự bi (văn bia chùa Cảm Ứng) đang thờ tại chùa Cảm Ứng ngày xưa, chùa được xây dựng theo quy mô khá lớn gồm nhà Tiền đường, nhà Thượng điện, 2 hành lang và Gác chuông. Công trình này do thí chủ vợ chồng Cai tổng Nguyễn Văn Trị và Nguyễn Thị Vọng, người địa phương hưng công. Trải qua thời gian năm tháng thăng trầm cảu lịch sử, chùa đã được nhiều lần trùng tu, đặc biệt là sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất độc lập, chùa đã được nhân dân trùng tu lại khá khang trang, uy nghi, tuy có gọn hơn, nhưng vẫn giữ đúng lối kiến trúc truyền thống. Chùa Cảm Ứng hiện nay còn bảo lưu được 3 tấm bia, 40 cột đá, 48 tượng Phật, đồ thờ, chân kê. I. Chánh văn: 正 文: 感 應 寺 碑 大 越 國,經 北 道,北 河 府,合 和 縣,河 軟 社, 總 該 阮 文 治,胡 廣 德,妻 阮 氏 望,號 慈 明 興 工 後 堂、閣 鐘、行 廊 乃 立 石 碑 明 文 事。 記 曰: 記 者 所 以,記 夫 事 蹟 者,自 知 有 佛 仙,先 知 至 靈,靈 者 自 之 為 神。 以 其 便,百 為 而 通 萬 遍 也,求 必 應,感 必 通,必 有 待 興 工 之 人。胡 眷 乃: 河 軟 聖 地,自 有 名 藍,上 殿,燒 香,前 堂。以 舊 積 资 有 興 工 一 員 並 各 上 士,勅 與 官 員,上 下 及,善 男,信 女,協 同 心 力 興 造 後 堂,閣 鐘,行 廊,兩 邊 完 成 圓 滿。 乃 記 全 文 于 一 以 沼 後 之 丈 夫 作 善 而 降 之 百 祥 為 善 而 享 之 百 福 物 以 小 善 而 不 為 若 積 善,於 家 而 一 而 之 內,有 餘 客 有 善 於 以 然 後 可 以 及 人,為 善 在 我 ,然 後 信 從 者 眾 樂 善 不 可 勝 記 造 然 記,以 永 技 傳。 記 曰: 黃 途 萬 在 聖 壽 千 年,四 彌 服 百 姓 歌 宣 名 藍 天 下 第 一,乘 宣 壯 哉,合 和 縣 美 矣! 河 軟 自 名 感 應 古 跡 流 傳,右 山 屈 曲,左 水 流 之 玄 玉 山,托 後 月 江 前 寶 為 中 地 多 出 人 賢 欲 其 百 福,資 有 一 員 發 佈 才 物 興 作 後 堂 並 各 行 廊 兩 邊 中(同)弊 愚 石 室 周 宜...。功 德 圓 滿 啟 味 只 會 亦 有 舍 還 開 光 慶, 夫 來 應 福 祿 自 然 萬 家 興 百 福 臻 ( ) 四 海 名 宣 黎 元 永 泉 萬 代 光 旦 古 天。 陽 德 元 年 十 二 月 二 十 三 日 本 社 盛 生 阮 非 顯。 II. Phiên âm: Bài bia Cảm Ứng tự bi (mặt trước) “Đại Việt quốc, Kinh Bắc đạo, Bắc Hà phủ, Hiệp Hòa huyện, Hà Nhuyễn xã, Tổng cai Nguyễn Văn Trị, Hồ Quảng Đức, thê Nguyễn Thị Vọng hiệu Từ Minh hưng công hậu đường, các chung, hành lang nãi lập thạch bi minh văn sự. Ký viết: Ký giả sở dĩ, ký phu sự tích giả, tự tri hữu Phật, tiên, tiên tri chí linh, linh giả tự chi vi thần. Dĩ kỳ tiện, bách vi nhi thông vạn biến dã, cầu tất ứng, cảm tất thông, tất hữu đãi hưng công chi nhân. Hồ quyến nãi: Hà Nhuyễn thắng địa, tự hữu danh lam, thượng điện, thiêu hương, tiền đường. Dĩ cựu tích tư hữu hưng công nhất viên tính các Thượng sĩ, sắc dữ quan viên, thượng hạ cập, thiện nam, tín nữ, hiệp đồng tâm lực hưng tạo hậu đường, các chung, hành lang, lưỡng biên hoàn thành viên mãn. Nãi ký toàn văn vu nhất dĩ chiểu hậu chi trượng phu tác thiện nhi giáng chi bách tường vi thiện nhi hưởng chi bách phúc vật dĩ tiểu thiện nhi bất vi nhược tích thiện, ư gia nhi nhất nhi chi nội, hữu dư khách hữu thiện ư dĩ nhiên hậu khả dĩ cập nhân, vi thiện tại ngã, nhiên hậu tín tòng giả chúng lạc thiện bất khả thắng ký tạo nhiên ký, dĩ vĩnh kỹ truyền. Ký viết: Hoàng đồ vạn tại thánh thọ thiên niên, tứ di mi phục bách tính ca tuyên danh lam thiên hạ đệ nhất, thừa tuyên tráng tai, Hiệp (Hợp) Hòa huyện mỹ hỹ! Hà Nhuyễn tự danh Cảm Ứng cổ tích lưu truyền, hữu sơn khuất khúc, tả thủy lưu chi huyền Ngọc Sơn, thác hậu Nguyệt Giang (bão) tiền bảo vi chung địa đa xuất nhân hiền dục kỳ bách phúc, tư hữu nhất viên phát bố tài vật hưng tác (giá) hậu đường tính các hành lang lưỡng biên trung (đồng) tệ ngu thạch thất chu nghi (?)…công đức viên mãn khởi duy chỉ hội diệc hữu xã hoàn khai quang khánh, phu lai ứng phúc lộc tự nhiên vạn gia hưng thịnh bách phúc trăn miền…tứ hải danh tuyên Lê nguyên vĩnh tuyền vạn đại quang đán cổ thiên. Dương Đức nguyên niên, thập nhị nguyệt nhị thập tam nhật bản xã thịnh sinh Nguyễn Phi Hiển”. III. Dịch nghĩa: Nước Đại Việt, đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện Hiệp Hòa, xã Hà Nhuyễn. Cai tổng Nguyễn văn Trị, tức Hồ Quảng Đức, vợ là Nguyễn Thị Vọng hiệu Từ Minh, hưng công làm nhà hậu đường, gác chuông, hành lang, bèn lập bia đá để ghi sự việc này. Ghi rằng: Sỡ dĩ ghi sự việc này là do ông Trị kể lại sự tích, ông thấy có Phật Tiên hiện lên vùng đất này và ông cho đó là Thần. Lấy sự việc đó làm “thông biến vạn hóa”, ông cầu tất ứng, cảm tất thông, thúc giục ông hưng công xây dựng chùa làm nhà Thượng điện, nhà Thiêu hương, nhà Tiền đường, với số vốn ông đã tích cóp được, ông lại hô hào các Thượng sĩ, Quan viên trên dưới, cùng các thiện nam tín nữ hiệp đồng tâm lực, hưng tạo làm nhà hậu đường, gác chuông, hành lang 2 bên, hòan thành viên mãn. Lại ghi rằng: Đất nước biến đổi, thánh thọ ngàn năm, bốn đời trăm họ còn ca ngợi ngôi chùa Cảm Ứng đẹp nhất trong thiên hạ, sung sướng thay cho huyện Hiệp Hòa! Đất Hà Nhuyễn có chùa Cảm Ứng, cổ tích lưu truyền, bên phải có núi khuất khúc, bên trái có dòng nước chảy, có núi Huyền Ngọc, đằng trước vồng lên có sông Nguyệt Giang (tức sông Cầu), là nơi đất lành đã sinh ra nhiều người hiền tài. Làm việc thiện do chính mình, phát bố, hưng công tài vật, làm nhà hậu đường, hai bên hành lang (đúc chuông đồng), cột đá uy nghi đều tốt đẹp, hoàn thành viên mãn làm lễ khai quang khánh thành và mở hội vui mừng. Con đường lớn, người khai sáng có phúc lộc dồi dào, nhà nhà hưng thịnh, bốn biển còn ca ngợi ngợi mãi, triều Lê nguyên khai sáng ngàn năm thiên cổ. Niên hiệu Dương Đức thứ nhất (1672), ngày 23 tháng 12 năm Nhâm tý, người soạn văn bia là Giám sinh Quốc tử giám Nguyễn Phi Hiển, người làng. Mặt sau của tấm bia ghi Các Thượng sĩ hội tùy công đức (Các bậc thượng sĩ tùy tâm công đức). Nội dung của mặt này ghi họ tên nhiều hàng quan ở nhiều đại phương ngưỡng mộ công đức xây dựng tôn tạo nên ngôi chùa Cảm Ứng. IV. Nội dung tư tưởng văn bia: Khảo sát Cảm Ứng tự bi, chúng ta có thể thấy đây là thể loại văn bia Phật giáo được tạo dựng vào thời Lê Trung hưng, khoảng thế kỷ VVII. Mở đầu văn bia, tác giả đã giới thiệu ngôi chùa Cảm Ứng thuộc vùng đất nước Đại Việt, xã Hà Nhuyễn, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc và người hỷ cúng xây chùa đầu tiên: “Đại Việt quốc, Kinh Bắc đạo, Bắc Hà phủ, Hiệp Hòa huyện, Hà Nhuyễn xã, Tổng cai Nguyễn Văn Trị, Hồ Quảng Đức, thê Thị Vọng hiệu hưng công hậu đường, các chung, hành lang nãi lập thạch bi minh văn sự”. Theo sử sách của nhà Lê, vào năm 1469, về đơn vị hành chính, vua Lê Thánh Tông chia nước ta có 12 đạo. Năm 1490, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 21 trong bản đồ gọi xứ Kinh Bắc, sau lại gọi là trấn Kinh Bắc. Do đó, cuối thế kỷ XVII, không thể còn tồn tại gọi là đạo Kinh Bắc nữa. Thay vào đó, ta gọi là xứ Kinh Bắc . Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng người soạn văn bia đã dùng cách viết theo lối dân gian. Đây là cách viết mà một số văn bia ở các chùa, đền thời đó đều ghi là đạo Kinh Bắc, chẳng hạn như bia chùa Đôi Cao (Đôi Cao tự ký), niên đại Long Đức thứ 2 (1733), xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Cột đá chùa Tây Phúc (Tây Phúc thiền tự kinh phụng trụ ký) niên đại Vĩnh Khánh thứ 2 (1732), làng vân Trai, xã Tân Phú, huyện Phổ Yên… Và như thế, vị trí chùa đã được xác định. Từ đây tác giả cũng ưu ái giới thiệu đại thí chủ phát tâm xây dựng ngôi Tam bảo chùa Cảm Ứng đầu tiên là hai vợ chồng Cai tổng, một quan chức thời này giữ chức cai quản tổng Hà Nhuyễn, huyện Hiệp Hòa, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc. Đó chính là ông Nguyễn Văn Trị và vợ Nguyễn Thị Vọng (đã quy y thọ giới tại chùa), có pháp hiệu là Từ Minh, hưng công tiền của đứng ra tạo dựng ngôi chùa đầu tiên. Việc xây chùa là một việc làm công đức lớn có ý nghĩa văn hóa giáo dục trong đời sống cộng đồng. Vì thế, hai vợ chồng ông Trị chính là tấm gương sáng cho mọi người trong vùng này noi theo, nên được nhân dân tôn vinh bằng cách lập bia dá để thờ ở chùa. Đây là việc làm mang tính nhân văn, nó có tác dụng giáo dục không chỉ nhân dân trong vùng đất xây chùa vào thời đó mà còn tác động ảnh hưởng vào các vùng lân cận và các thế hệ con cháu đời sau. Do đó, việc đề cao công đức của thí chủ hưng công di tích mà chúng ta thường gặp trong các văn bia thời này là điều tất nhiên. Cũng qua văn bia, mà người đọc có thể hình dung ra ngôi chùa thân yêu Cảm Ứng được xây dựng theo kiến trúc khởi thỉ như thế nào. Đó là một công trình xây dựng của ngôi chùa tiêu biểu cho cả một vùng đất do vợ chồng Cai tổng đứng ra chủ trì không phải là việc làm đơn giản. Ngôi chùa có kiến trúc nội công ngoại quốc. Công trình có các hạng mục sau: Nhà Tiền đường, thiêu hương, thượng điện, hậu đường và hai bên hành lang. Đặc biệt chùa được kiến tạo bằng 40 cột đá – một loại kiến trúc tôn giáo lớn, có ý nghĩa tiêu biểu cho vùng có văn hóa cao, thẩm mỹ rất đặc trưng của giá trị nhân văn của tư tưởng Phật giáo. Chính vì nó có diện mạo kiến trúc mang đặc trưng tiêu biểu của Phật giáo và cả một vùng địa lý nên đó được nhân dân gọi là chùa Cả. Trên hết, văn bia đã đề cập đến triết lý và nếp sống hướng thượng của Phật giáo. Cụ thể giáo lý nhà Phật dạy con người biết sống thiện, sống hữu ích với đất nước và quê hương xứ sở. Do đó, ta chẳng ngạc nhiên gì văn bia chùa Cảm Ứng đã không ngần ngại ca ngợi vương triều nhà Lê, đã góp phần tạo dựng nên một nước Đại Việt vững mạnh. Ở đó có quê hương với sông nước hữu tình, có núi non gọi là Huyền Ngọc sơn và con sông Cầu hữu tình (Nguyệt Giang) thơ mộng, một cảnh đẹp nên thơ của quê hương đất nước. Rõ ràng, tác giả là người rất yêu quê hương đất nước, có một cái nhìn sâu lắng mới đưa hình ảnh quê hương mình qua những câu văn hay, từ ngữ đẹp để làm hiển lộ những ý tứ thật sâu lắng từ bên trong nội tâm cảu người viết văn bia. Tất cả đã làm nên một áng văn hay với một kết cấu chặt chẽ, logic, thể hiện tính thẩm mỹ cao, làm hấp dẫn người đọc. Cũng qua các dòng lạc khoản trong văn bia, chúng ta cũng biết người soạn văn bia là ông Nguyễn Phi Hiển là giám sinh trường Quốc tử giám là người đại phương. Cũng trong tấm bia này, ở mặt sau trong đó có ghi: “Nhất công đức Quốc tử giám, Giám sinh Nguyễn Phi Hiển, vợ Trần Thị Ngọc, thiếp Hà Thị Trường, con trai Nguyễn Phương…”. Từ đây, người đọc nhận biết dòng họ Nguyễn ở địa phương là một dòng họ có uy tín và có nhiều thành đạt. Do đó, qua tấm bia này cũng cho chúng ta nghiên cứu những dòng họ và những nhân vật quan chức ở địa phương. Đây chính là toàn bộ ý nghĩa của văn bia. V. Kết luận: Ngày nay, việc tiếp cận văn bia không còn là một việc gì xa lạ nữa. Những năm gần đây, việc nghiên cứu và tìm hiểu văn bia đã trở thành phổ biến đối với những ai thích thú, đam mê việc nghiên cứu di sản văn hóa, văn học qua các bản văn khắc Hán Nôm. Cũng từ việc tiếp nhận các bản văn bia ký, chúng ta sẽ hiểu sâu cội rễ văn hóa dân tộc nước nhà. Cụ thể, việc tìm hiểu văn bia chùa Cảm Ứng, cũng đủ minh chứng giá trị nhân văn từ việc người soạn văn bia; thông qua văn bia ta thấy tinh thần và thái độ sống của nhân dân ta trong việc xây dựng nếp sống đạo đức, tu thân, tạo môi trường tu tập cho mọi người. Cũng từ giá trị mà ngôi chùa tạo ra, như việc kết nối yêu thương tình người qua các mối quan hệ, mà từ đó mọi người biết yêu thương nhau nhiều hơn, nhất là chung tay, chung lòng xây dựng quê hương mỗi ngày thêm đẹp đẽ. 御建天姥寺 國主阮福週嗣洞上正宗三十世法名興龍號天縱道人鼎建順化天姥寺碑記銘。 蓋聞:廓然無象至道奚言,佛體性空本源清淨,諸相具足而覺照圓融,法不二門理歸一義,天亦旋環地無中外,地水火風四輪相因,佛性虛明其體湛徹,變佛體而為金色界,金色界中有香水海,香水海中有光明藏。 複有寶林花香彌漫周遍佛土等恒沙界示一光明藏,居此光明藏而依報正報之因歟。知此因者三身無有差別,天地等四維無有遠近,佛性眾生皆流入毘盧遮那智藏之海。人有血脈,地有癸闢。滄海之南吾越之區焉群山迢遰於西南,洪波浩瀚於東北,金沙萬步繯澤國以長寧,玉樹婆沙蔭海天而永茂,五材蕃庶三錯膏滋虎似騶虞鳥如祥鳳古來俗美喜得人和咸性善以為宗,更心良如應事。 居儒慕釋,以政治無不行仁,信道崇僧就因果而思種福承平國界安樂身心。因知處豊屋何如方丈馳良馬何如振錫錦衣耀世不似袈裟金玉盈堂本還虛白久食珍者豈觀飯來香積聽樂者豈聞梵音響際。此昌期之世還尋歡喜之園,有為無為並行不悖。敬於昔歲曾延得法堂頭師諱大汕字石濂願固弘深慈心憫世依報無量道啓三乘修行之有宗旨。 如水木之有本源發跡浙西傳心天界余親承棒唱一一水乳相資如嫡密付心印更欲踵跡靈山但素慚不敏兢兢業業以維持仰鑽瞻忽欲竭吾才而未已荷擔有日得法多年願建瓊樓金莖擇地就順化之上游鸞山鳳嶺分枝龍之西落穿田過峽結褥鋪裀雄起伏而左結臨江一突地勝清涼依舊貫之天姥禪關欲鼎新南天之佛國宜捐白璧不惜黃金但國例傳來土木工軍兼之而恐勞不比岐周。 民助之而不日憚延歲月浩大功程嘉有勤正之臣掌奇大掌奇永掌監綿等職副監修就軍選擇多中取少少中取精用其力而賞其功信以誠孚恩威並濟鳩工督匠計一年。由山門而天王殿玉皇殿大雄寶殿說法堂藏經樓兩傍則鍾鼓樓十王殿雲水堂知味堂禪堂大悲殿藥師殿僧寮禪舍不下數十所,而後昆耶園內方丈等處又不下數十所皆金碧輝煌,觀之者令人怡神驚目宛若金色世界一光明藏也。 余喜之無以廣作佛事,居於毘耶園一月日常觀瞻登斯經樓豁然開泰縱目憑欄,東則麗日懸空照群生而毓毓南則峻嶺千重晴巒特拔帶白雲而不盡,峙秀色以無窮卓立文峰國啓文明之治。西則蒼松翠柏疊障如屏若護禪關。北則迴望正府猗猗綠竹隱萬戶之名園習習黨風拂千門之聚落。目前妙景繪士難圖刹內莊嚴人多瞻仰,以六種之成就冀億萬之流傳。 偶記法數之起也從一刹那至一洛刹,從一洛刹至一俱祇,從一俱祇至一僧祇,從一僧祇至一高出,從一高出至不可轉,無邊無礙無鞅無極,成住壞空,空不相淩,妙其不息,豈不遠乎。總之還歸聖諦,證大光明,裨國家建金甌之固,君臣茂松柏之年四境清平萬民樂業路聽含哺鼓腹堂聞撫瑟彈琴有為而入無為之法化也。自茲而後繼往開來以法法之相承,燦燈燈之朗燄。 吾師已逝後望高僧。飛杖錫而過隘山駕慈航而泛越海,同宣妙偈助贊宗風。念此時人夢深未覺舉盤今斧而開大好山挽奔流而洞水,拂寶鏡之埃塵互相利益參究天人。願阮門遠近宗親咸登法會,永為福主掄作伽藍,內外戚屬共證菩提,余受無彊之頌,長逢大有之年土宇闢開,農商盛集,兵強國富,守業安時以茲勝概,臣請立言庶至道之有徵示願心之無倦,走筆記前銘之於後其銘曰。 越國之南兮,佳水佳山, 寶刹之壯兮,日照禪關, 性之清淨兮,溪響潺潺, 國之奠安兮,四境幽閒, 無為之化兮,儒釋迴班, 記茲勝概兮,因果迴還, 建標立的兮,誠存邪閑。 時永盛十一年,歲次乙未初冬之吉旦立。 衘製 天姥寺福緣寶塔碑。 朕聞儒有聞善以相告也,見善以相示也,能用善人民之主也。昔兜率天降神西域值於周昭,涅槃成道於周穆。凡說教言生生之類皆因行業有三世識神不滅,凡為善惡必有報應,漸積勝業陶治麤鄙經無數形,澡煉神明乃得成道也,蓋窮理盡性大覺之稱也。 其道虛玄固以妙絕,常境心不可以智知,形不可以象測,同萬物之為而居不為之域,處言數之內而止無言之鄉,非有而不可為無,非無而不可為有,寂寞虛曠物莫能測’,起無緣之慈,應有機之名。迄于漢明。而道濟百靈法傳千古,語其跡也,則行滿三祗相圓百劫。降神而乘玉象,掩耀而誕金姿,三十二祥庥徵開於地府,一十八梵禎瑞駭於天官,靈相周於千方,神光顯乎八極。述其本也。 久證圓明塵沙莫能算其壽,早證寂照虛空無以量其體惟開發菩提心,勸人為善弘施方便力,濟眾歸良,此是生善之妙緣,進行之深福也。故出言善則千里之外應之,德無常師,主善為師,去煩宥善,莫不競勸民之秉彝,好是懿德章善癉惡以示民厚民日遷善,而不知為之者。是以天下皆知美之為美,斯不惡已,皆知善之為善,斯不善已。大學八條亦在止於至善。雖法不二門而道涵一理者也。 粵我大南天生聖人締造山河肇開邦國,閱山川之形勝,有河溪之平原突起高崗,蟠龍回顧,前臨香水道味之源淵,涵後鎮平湖清淨之境自在、詢知天姥時降曰:應天順人真主興建梵宮聚靈氣以固龍脈,信如其言也。時辛丑四十四年乃建天姥寺于是山,以表發祥定鼎之福地者也。聖明世出廣被善緣。庚寅十九年鑄大洪鐘。甲午廾三年重修梵宇,閱一年而落成。乙未樹碑,垂示來許。 從此寶殿經樓禪堂慧室交相參錯絡繹嶒儼然鷲嶺風光也。嘉隆乙亥再重恢金壁增輝。明命年來復整理丹邱愈壯。總皆俯徇輿情,為民祈福也。寺之建閱歷于茲二百四十五年,勝跡名藍其來尚矣。朕祗承先澤,用廣前因,古希增祐倦齡,大衍追究香願慈仁長在,世德作求。今國家閒暇之時,正中外敉寧之際,聊文國帑築七級之浮圖,闡發善緣,布萬方之仁澤。 迺親定體制,命羽林營右翊,統制黃文厚董修造建,於紹治甲辰迨于乙巳閱兩載而告成。起自山巔矗空而上高,以古尺度得八十七尺有零,以今尺度成五丈三尺二寸,皆不費民財,不動民力,以天府之帑,宿衛之兵,鳩工鼎建,從容全成,附構高亭,顏之為香願,淩霄寶塔名之為福緣,廣推覺悟群生,福緣萬善昭著化通四大功德,十方永衍慈恩,咸孚眾願。 敬於塔中七層各奉全身世尊常圓月相,照依釋典奉古佛以來,其第一過去毘婆尸佛,第二尸棄佛,第三毘舍孚佛,第四拘留孫佛,第五拘那含牟尼佛,第六迦葉佛,第七中天調衘本師釋迦牟尼文佛,西方極樂法王,陪之有阿難迦葉尊者,莊嚴色相寶珞焜煌。如是紺園古刹之前,建窣堵波又七寶金支提依稀金色世界之中有香水海,香水海最上乘光明藏自性不歸無所歸處。 大福從心生,不在思,一念中能行六波羅密多,心不生滅即是常道,故塔高其道彌高,福廣其緣益廣。 巍峨峙立對兩間而布濩曇雲, 則力直衝摽萬宇而煇煌慧日, 七層璀璨登臨而八表普光, 百仞岑嶔照徹而三途了悟, 淨水澄澄有會法海遙涵, 群峰歷歷低看靈山仰止, 鐘聲穿樹蔭玄入圓通, 塔影聳天垠妙含證覺際。 此盂蘭之會開三七水陸道場,燎他簷蔔之香普大千幽明說法, 七寶之塔長留于自在天, 一誠之心大願于真如佛, 瑤台晉祉康彊無量壽之增隆, 瓊派流輝引翼美同休之貞吉, 家齊國治丕丕基億載龐洪, 時若年豐生生眾群方富庶。 內安外靜謳歌含哺于康衢, 君明臣良喜起賡颺于堂陛, 方不負培福祉於淨土, 諒可為闡善緣於寶洲, 佛日增輝, 國恩常在, 莫謂虛無, 寂滅自有證明, 默扶感應府徵, 追思完願也。 夫慈悲之立教以善為本,善念在心,心即佛也。 論語曰:擇其善而從之。易言:君子以遏惡揚善,順天休命。書云:作善降之百祥諒無傷於國,經庶少補於王化者也。閣臣叩請敷言用顯崇徽而彰勝概爰不吝萬幾清暇了翰墨之娛擒毫以紀之繫銘而識也。其銘曰皇天眷命兮篤生聖神,辟我炎彊兮惠我烝民,建篤基勤兮定鼎富春,教人為善兮若聖與仁,禪關僧賁兮勝蹟絕輪,世彰國慶兮時轉法輪,瑤圖永奠兮寶塔煥新,咸躋仁壽兮福祿駢臻。 時紹治六年四月吉日建。 御製詩 題妙諦寺。有序文,京城東有名園,樹木蒼翠,規模弘敞。昔者戚里攸寧其地焉。時鑾輅光臨,仁澤長在,秀鍾毓慶,電繞虹流,發祥于斯之福地者也。有請應當志慶崇徽永留勝蹟,因念大學之道誠正格致修齊治平,在止於至善。雖象教虛無,亦勸人為善,則何妨于王道者哉。 爰久從所請,建立梵宮,開發菩提心而化通萬類弘施方便力以覺悟群生,當中之柑園名為大覺殿也。立三世之緣,觀感流俗,設百法之要,誘掖浮生,當前之浮圖名為道源閣也。五衍之車,不敞大願十方良善哉,八功之水,常清一切眾生吉祥也,居左之禪堂名為吉祥慈室也。 始證辟支之果,智慧弘深,終參最上之乘,慈悲普濟,居右之靜齋名為智慧精舍也。玉簡金書,引嘉元之要述,龍章鳳篆,顯至理之良詮,總妙化於搖源,闡真如其密諦,故總名為妙諦寺也。或問闢禪關於都會之處,鬧熱繁豐,何以為清淨之法宇乎。 曰且熟思之則明辨之。天空故納萬境,靜故了群動,動中能靜,定慧止觀,以清淨法眼,涅槃妙心,開闡無遮,度諸迷惑。豈不能善知識能迴三毒為三昧,靜戒能迴六賊為六神,迴煩惱作菩提,迴無明為大智。法輪常轉,妙智何窮,明而已矣。今寺臨河岸,朝拱帝城,冠蓋相望,舟車輻輳,靜鎮其利惑紛拏導之,以性善為寶誠有如是夫。 端嚴爽塏帝城東 俯徇輿情建梵宮 降吉慈曇常絢彩 明徵慧日正初紅 檀香沾霑染千方外 樾蔭娑婆萬宇中 於我本非崇闡教 為人但願福龐洪。 右妙諦寺,中元節泛月作三首。 月明如晝正今宵 何處盂籣設席邀 雲裏樓臺浮玉鏡 波中星宿護金橈 人煙物態生瑤景 樹色花陰繞晝綃 款乃聲傳猶未歇 名藍早泊路非遙 高閣鐘聲入道源 菩提樹影蔭祗園 弘開集福玄都會 敷演覃仁古佛言 紀勝重興安國寺 誌祥借訪梵王門 慈寧永祐無彊壽 澤被群生庶類蕃。 鬧市禪關妙處多 動中能靜竟如何 正逢佳節群車馬 賞勝良宵聚綺羅 步月歌聲相間雜 聞經塵慮盡消麽 與民同樂昇平會 不屑唐宮刺繡耶。 孤鴈出群格,唐王建宮詞云看取中元齋日到自盤金綠繡真容。 因暇幸妙諦寺,命皇子等拈香偶落筆題壁。 良言為寶善堪傳 善念何妨王道焉 璀璨心燈懸性地 光輝智月照仁天 鐘聲貫耳圓通覺 香篆薰人妙入玄 福被群生徵福址 無邊色相闡真詮。 解纜歸橈別寺前 莆牢餘韻晝舲穿 道心可見光天鏡 法語猶聞選佛筵 十二因緣通妙覺 三千世界普昭宣 御河收泊滄浪歇 博得圓明載月船 避穀僧 苾蒭許氏,法名了性,五齡入禪,長曆山岩,依持古刹,閱已有年,深得禪味,乃近八九載來方丈冷絕煙火,殊異於眾,今振錫南來,安住于妙諦寺也。 勝果有因向梵林 赤松聊借滌塵襟 自如自在雲霞思 無念無營水月心 振錫傳燈通法行 寒灰死火曆光陰 黃花翠竹渾空色 衣缽真詮入妙深。 紹治六年七月吉日恭鐫。 御製詩 天姥鍾聲神京第十四景。 天姥寺亭毒儲精山川,靈爽龍蟠回首遙拱京城,虎嘯高蹲俯臨香派,闡發蓮花之法界,妙含貝葉之真詮。天眷聖而肇基此也,降祥神女,聖承天而錫福斯山,營建梵宮,故有是名永留勝蹟,重明聖念圓滿善緣,睹碑文而金碧增輝,聽鐘響而寶州覺悟。 高岡古刹鎮前川 月相常圓自在天 百入洪聲消百結 三千世界醒三綠 噌宏午日幽明感 嘹喨寅宵道味玄 佛蹟聖功垂海宇 善因福果普垓埏。 幸天姥寺,命皇子皇弟拈香頂禮,偶作得一律。 惟善應為寶 非無好善焉 義仁深有契 智慧可兼全 吾道兩間在 禪關萬化玄 危微精一妙 空色悟三緣 般若波羅密 菩提福果圓 慈曇垂海岳 法雨利人天。 是日朝分時旭入寺已,現慈雲遍覆,回宮休暇,法兩敷施,故詠及耳。幸天姥寺偶題。 古刹徵祥勝蹟傳 于茲二百四十年 菩提樹蔭圓明地 簷蔔香薰自在天 朝擁帝城龍脈旺 增輝梵宇鷲峰鮮 承府先澤施仁政 錫福寰瀛闡善緣。 天姥中元 此夕名藍勝事哉 苾芻水陸道場開 波涵月伴雲間塔 風度鍾傳嶺上臺 冠蓋相望歸善覺 舟車絡繹訪禪來 願弘普濟群生福 如是無邊眾妙該。 節交末伏夏季秋初,乃近來夾旬嗇雨,余之憂民憫農,無時或暇經,命承天府之府承阮忠義,禱雨於會同廟,兩次未獲輒應誠,恐連日恒暘,必致傷禾,余心務本重念民天,更加焦急。適天姥寺築福緣寶塔落成,皇子等蠲以本月初六日奉金身世尊高登寶塔,諷經祝嘏。侍衛大臣林維義起草梵章,皇幼子持將以聞,余正方望雨偶搦管,加題其上云: 現今正值秋暘,遍處情殷望澤,願布慈曇早應庶,以昭靈祈施法雨普霑,足為證驗等句。本日果見濃雲密布,甘雨普霑,灑落繽紛,淋冷霂霢,既無飄颻颯地之虞,且得涼爽宜人之喜。尋據領承天府之掌提督阮文德等奏敘此雨滂霑,禾黍菜蔬,田園舉皆茂遂。又據工部臣奏稱漕運上京七八十艘,是日一皆直進海口,均無患風濤收泊穩妥。 且余原意憫秋田而祈霖惠生民之本,又恐正在漕運之期。若陣雨雷嗚風號浪起,必致多生不便,自笑杞人之憂,彷徨遣綣。然愛民一念寂惕朝乾,輒題於梵章抒誠默禱,詎蒙照鑒,不遠隨應於影響之間霈澍淋漓而無雄風猛烈,寔法雨惠人故雨得其美,誠為寅感激切之至也。爰製詩章用伸賽謝云耳。 七級浮圖闡道源 落成初禱輒隨言 慈雲布濩高低狀 化雨敷霑遠近村 濟旱感懷憑佛力 惠農寅謝荷天恩 萬祈萬應祈如願 一念南無我世尊。 登福緣寶塔得句 弘推仁澤覲光前 七級浮圖造福緣 縱覽山河心廣覺 長留亭毒道彌堅 杖頭指住猶能濟 海上昭靈更入玄 八萬四千空色語 貞玫此塔諒堪傳。 香願亭同進退格 築塔落成又諷經 前因圓滿福群生 堂開普濟澄雲水 碑誌長存耀日星 色相端嚴三寶在 法輪常轉六塵清 大千遍處咸歸善 性地情天集萬靈。 又中元夕默坐彈指微哂自訓作 道含一理執中焉 法不二門萬化全 韓愈可憐孤直節 元和堪嘆檀修玄 浪談集福清都會 空憶尋章赤壁船 世故人情千古事 如來說法教無偏。 紹治六年四月吉日。 大越國王 敕賜河中寺煥碧禪師塔說銘 余恭應天命,臨於兆姓,雞嗚而起,孜孜不忘為善之道也。越觀自開國以來,立寺建庵,延僧供佛,廣行方便,圖史畿內,天下盛起,全自頓拋憑念。 庶幾生順死安,漸近化成境界。比有煥碧禪師于丁巳年,從中華來,初錫歸寧府,創建十塔彌陀寺,廣開像教,再回順化富春山,崇造國恩寺,並普同塔。至聖考前朝又命禪師回廣東,延請長壽石老和尚,并請佛像及法器,回來往完,成頗多功績。 自此奉旨住持河中寺,回光自照,分條折理,談及玄微,載備前閔,截偽績真,開茲後學受具戒,度四眾人等。禪師原籍廣東潮州府程鄉縣謝氏子,生于戊子年五月十八日戌時。十九辭親出家,投入於報資寺曠圓和尚,法名元韶,字煥碧。曆自航來余境,計五十一年矣。至戊申年得病,于十月十九日召集四眾人等,談及玄幾,囑留秘語,臨期授筆說偈,偈曰: 寂寂境無影 明明珠不容 堂堂物非物 寥寥空勿空。 書罷端然正寂,法腊八十一歲,受牢官門徒眾等造塔於舉化處。其門徒眾等跪請記銘,余謚曰:行端禪師。余亦欲萬世人人仰慕善道,證如來無上之果,共享太平之福無窮,因為之記而銘焉。銘曰: 優優般若 堂堂梵室 水月優遊 戒持禪栗 湛寂孤堅 卓立可必 視身本空 弘教利物 遍處慈雲 普照慧日 瞻之嚴之 泰山屹屹。 保泰拾年四月初八日頒奉立。國恩寺 Văn bia triều Nguyễn I NGỰ KIẾN THIÊN MỤ TỰ Thiên Túng Đạo Nhân – Nguyễn Phúc Chu Ngự kiến Thiên Mụ tự Quốc chủ Nguyễn Phúc Chu, tự Động Thượng chính tông tam thập thế, pháp danh Hưng Long, hiệu Thiên Túng Đạo Nhơn, đỉnh kiến Thuận Hóa Thiên Mụ tự bi kí minh. Cái văn: Khuếch nhiên vô tượng chí đạo hề ngôn, Phật thể tánh không bổn nguyên thanh tịnh, chư tướng cụ túc nhi giác chiếu viên dung, pháp bất nhị môn lý quy nhất nghĩa, thiên diệc thi hoàn địa vô trung ngoại, địa thủy hỏa phong tứ luân tương nhân, Phật tánh hư minh kỳ thể trạm triệt, biến Phật thể nhi vi Kim Sắc giới, tung hữu Hương Thủy hải, Hương Thủy hải trung hữu Quang Minh Tạng. Phục hữu bảo lâm hoa hương di mạn chu biến, Phật độ đẳng hằng sa giới thị thất Quang Minh Tạng, cư thử Quang Minh Tạng nhi y báo chánh báo chi nhân dư? Tri thử nhân giả, tam thân vô hữu sai biệt, thiên địa đẳng tứ duy vô hữu viễn cận, Phật tánh chúng sanh tánh giai lưu nhập Tỳ-lô-giá-na trí tạng chi hải. Nhơn hữu huyết mạch, địa hữu quý tịch. Thương hải chi Nam ngô Việt chi khu yên quần sơn điều đệ ư Tây Nam, hồng ba hạo hãn ư Đông Bắc, kim sa vạn bộ, hoản trạch quốc dĩ trường ninh, ngọc thọ bà sa, ấm hải thiên nhi vĩnh hậu, ngũ tài phiên thứ, tam thố cao tư, hổ tợ sô ngu, điểu như tường phụng, cổ lai tục mỹ hỉ đắc nhơn hòa, hàm tánh thiện dĩ vô tông, cánh tâm lương nhi ứng sự. Cư Nho mộ Thích, dĩ chính trị vô bất hành nhân, tín đạo sùng Tăng tựu nhân quả nhi tư chủng phước thừa bình quốc giới an lạc thân tâm. Nhân tri xử phong ốc hà như phương trượng, trì lương mã hà như chấn tích, cẩm y diệu thế bất tợ Ca-sa, kim ngọc doanh đường bổn hoàn hư bạch, cửu thực trân giả khởi quán phạn lai Hương Tích, thích nhạc giả khởi văn Phạm âm hưởng tế, thử xướng kì chi thế hoàn tầm hoan hỷ chi viên, hữu vi vô vi tịnh hành bất bột. Kính ư tích tuế tằng diên đắc pháp đường đầu sư húy Đại Sán tự Thạch Liêm, nguyện cố hoằng thâm, từ tâm mẫn thế, y báo vô lượng, đạo khải tam thừa, tu hành chi hữu tông chỉ. Như thủy mộc chi hữu bổn nguyên, phát tích triết Tây, truyền tâm thiên giới, dư thân thừa bổng hát, nhất nhất thủy nhũ, tương tư như đích mật phú tâm ấn, cánh dục chủng tích Linh Sơn, đãn tố tàm bất mẫn, cạnh cạnh nghiệp nghiệp dĩ duy trì. Ngưỡng toàn chiêm hốt dục kiệt ngô tài nhi vị dĩ, hà đảm hữu nhật, đắc pháp đa niên nguyện kiến quỳnh lâu kim kính. Trạch địa tựu Thuận Hóa chi thượng du, loan sơn phụng lãnh phân chi, long chi tây lạc xuyên điền há hiệp, kiết nhục phô nhân hùng khởi phục nhi tả kết lâm giang nhất đột địa thắng thanh lương. Y cựu quán chi Thiên Mụ thiền quan, dục đĩnh tân Nam thiên chi Phật quốc, nghi quyên bạch bích bất tích hoàng kim, đãn quốc truyền lai, thổ mộc công quân kiêm chi, nhi khủng lao bất tỷ Kì Châu. Dân trợ chi nhi bất nhật đạn diên tuế nguyệt, hạo đại công trình, gia hữu cần chánh chi thần, chưởng cơ đại chưởng cơ vĩnh chưởng giám miên đẳng chức, phó giám tu tựu quân tuyển trạch gia trung thủ thiểu, thiểu trung thủ tinh, dụng kì lực nhi thưởng kì công, tín dĩ thành phu ân, uy tịnh tuế, cưu công đốc tượng kế nhất niên. Do sơn môn nhi Thiên Vương điện, Ngọc Hoàng điện, Đại Hùng bảo điện, Thuyết Pháp đường, Tàng Kinh lâu, lưỡng bàng tắc Chung Cổ lâu, Thập Vương điện, Vân Thủy đường, Tri vị đường, Thiền đường, Đại Bi điện, Dược Sư điện, Tăng Liêu thiền xá bất hạ sổ thập sở, nhi hậu Tỳ-da viên nội Phương trượng đẳng xứ hựu bất hạ sổ thập sở giai kim bích huy hoàng, quán chi giả linh nhơn di thần kinh mục uyên nhược kim sắc thế giới nhất quan Minh Tạng dã. Dư hữu chi vô dĩ quảng tác Phật sự, cư ư Tỳ-na viên nhất nguyệt, nhật thường quan chiêm đăng tư Kinh lâu hoát nhiên khai thái, túng mục bằng lan, Đông tắc lệ nhật huyền không, chiếu quần sanh nhi dục dục, Nam tắc tuấn lãnh thiên trùng, tinh loan đặc bạt đới bạch vân nhi bất tận, trĩ tú sắc dĩ vô cùng, trác lập văn phong quốc khải văn minh chi trị, Tây tắc thương tùng thúy bách, điệp chướng như bình nhược bộ thiền quan, Bắc tắc hồi vọng chính phủ, y y lục trúc ẩn vạn hộ chi danh viên, tập tập huân phong phất thiên môn chi tụ lạc, mục tiền diệu cảnh, hội sĩ nan đồ, sát nội trang nghiêm, nhơn đa chiêm ngưỡng, dĩ lục chủng chi thành tựu kí ức vạn chi lưu truyền. Ngẫu ký pháp số chi khởi dã, tùng nhất Sát-na chí nhất Lạc-sát, tùng nhất Lạc-sát chí nhất Câu-kì, tùng nhất Câu-kì chí nhất Tăng-kì, tùng nhất Tăng-kì chí nhất Cao-xuất, tùng nhất Cao-xuất chí bất khả chuyển, vô biên vô ngại, vô ưởng vô cực, thành trụ hoại không, không bất tương lăng, diệu kì bất tức, khởi bất viễn hồ. Tổng chi hoàn quy Thánh đế, chứng đại quang minh, tì quốc gia kiến kim âu chi cố, quân thần mậu tùng bất chi niên, tứ cảnh thanh bình, vạn dân lạc nghiệp, lộ thính hàm bổ, cổ phúc đường văn, phủ sắc đàn cầm, hữu vi nhi nhập vô vi chi pháp hóa dã. Tự tư nhi hậu kế vãng khai lai dĩ pháp pháp chi tương thừa, xán đăng đăng chi lãng diệm. Ngô sư dĩ thệ, phục vọng cao Tăng, phi trượng tích nhi quá ải sơn, giá từ hàng nhi phiếm việt hãi, đồng tuyên diệu kệ, trợ tán tông phong. Niệm thử thời nhơn mộng thâm vị giác, cử bàn kim phủ nhi khai đại hảo sơn, vãn bôn lưu nhi đổng thủy, phất bảo cảnh chi ai trần, hỗ tương lợi ích, tham cứu thiên nhân. Nguyện Nguyễn môn viễn cận tôn thân hàm đăng pháp hội, vĩnh vi phước chủ, luân tác Già-lam. Nội ngoại thích thuộc cộng chứng Bồ-đề. Dư thọ vô cương chi tụng, trường phùng đại hữu chi niên, thổ vũ tịch khai, nông thương thạnh tập, binh cường quốc phú, thủ nghiệp an thời, dĩ tư thắng khái. Thần thỉnh lập ngôn, giá chí đạo chi hữu trưng, thị nguyện tâm chi vô nguyện. Tẩu bút kí tiền minh chi vu hậu, kì minh viết: Việt quốc chi Nam hề, giai thủy giai sơn, Bảo sát chi trang hề, nhật chiếu thiền quan, Tánh chi thanh tịnh hề, khê hưởng sàn sàn, Quốc chi điện an hề, tứ cảnh an u nhàn, Vô vi chi hóa hề, Nho Thích đồng ban, Kí tư thắng khái hề, nhân quả hoài hoàn, Kiến tiêu lập đích hề, thành tồn tà nhàn. Thời Vĩnh Thịnh thập nhất niên, tuế thứ Ất Mùi sơ Đông chi cát đán lập. II NGỰ CHẾ THIÊN MỤ TỰ PHƯỚC DUYÊN BẢO PHÁP BI (Bảo tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ) Thiệu Trị Ngự chế Thiên Mụ tự Phước Duyên bảo tháp bi. Trẫm văn Nho hữu văn thiện dĩ tương cáo dã, kiến thiện dĩ tương thị dã, năng dụng thiện nhân dân chi chủ dã. Tích Đâu-suất thiên giáng thần Tây Vực trị ư Châu Chiêu, Niết-bàn thành đạo ư Châu Mục. Phàm thuyết giáo ngôn, sanh sanh chi loại giai nhân hành nghiệp, hữu tam thế thức thần bất diệt, phàm vi thiện ác tất hữu báo ứng, tiệm tích thắng nghiệp, đào trị thô bỉ kinh vô số hình, táo luyện thần minh nãi đắc thành đạo dã, cái cùng lý tận tánh Đại giác chi xưng dã. Kì đạo hư huyền cố dĩ diệu tuyệt, thường cảnh tâm bất khả dĩ trí tri, hình bất khả dĩ tượng trắc, đồng vạn vật chi vi nhi cư bất vi chi vức, xử ngôn sổ chi nội nhi chỉ vô ngôn chi hương, phi hữu nhi bất khả vi vô, phi vô nhi bất khả vi hữ, tịch mịch hư khoáng vật mặc năng trắc, khởi vô duyên chi từ, ứng hữu cơ chi danh. Ngật vu Hán Minh nhi đạo tế, bách linh pháp truyền thiên cổ, ngữ kì tích dã, tắc hành mãn tam kỳ tương viên bách kiếp. Giáng thần nhi thừa ngọc tượng, yểm diệu nhi đản kim tư, tam thập nhị tường hưu trưng khai ư địa phủ, nhất thập bát Phạm trinh thụy hãi ư thiên quan, linh tướng chu ư thiên phương, thần quang hiển hồ bát cực, thuật kì bổn dã. Cửu chứng viên minh trần sa mạc năng kỳ thọ, tảo chứng tịch chiếu hư không, vô dĩ lượng kì thể, duy khai phát Bồ-đề tâm, khuyến nhơn vi thiện, hoằng thí phương tiện lực, tế chúng quy lương, thử thị sanh thiện chi diệu duyên, tấn hành chi thâm phước dã. Cố xuất ngôn thiện tắc thiên lý chi ngoại, đức vô thường sư, chủ thiện vi sư, khứ phiền hựu thiện, mạc bất cạnh khuyến dân chi bỉnh di, hảo thị ý đức chương thiện đàn ác dĩ thị dân hậu dân nhật thiên thiện, nhi bất tri vi chi giả. Thị dĩ thiên hạ giai tri mĩ chi vi mĩ, tư bất ố dĩ, thị dĩ thiên hạ giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ. Đại học bát điều diệc tại chỉ ư chí thiện. Tuy pháp bất nhị môn, nhi đạo hàm bất lý giả dã. Việt ngã Đại Nam thiên sanh thánh nhơn đề tạo sơn hà triệu khai bang quốc, duyệt sơn xuyên chi hình thắng, hữu Hà Khê chi bình nguyên đột khởi cao cương, bàng lòng hồi cố, tiền lâm Hương thủy đạo vị chi nguyên uyên, hàm hậu trấn bình hồ thanh tịnh chi cảnh tự tại, tuân tri Thiên Mụ thời giáng viết: ứng thiên thuận nhân chân chúa hưng kiến Phạm Cung tụ linh khí dĩ cố long mạch, tín như ky ngôn dã. Thời Tân Sửu tứ thập tứ niên nãi kiến Thiên Mụ tự vu thị sơn, dĩ biểu phát tường định đỉnh chi phước địa giả dã. Thánh minh thế xuất quảng bị thiện duyên. Canh Dần thập cửu niên chú đại hồng chung. Giáp Ngọ trấp tam niên trùng tu Phạm Vũ, duyệt nhất niên nhi lạc thành, duyệt nhất niên nhi lạc thành. Ất Mùi thọ bi, thùy thị lai hử. Tùng thử bảo điện kinh lâu thiền đường tuệ thất giao tương tham thố lạc dịch tằng nghiễm nhiên Thứu Lĩnh phong quang dã. Gia long Ất Hợi tái trùng khôi kim bích tăng huy. Minh Mạng niên lai phục chỉnh lý đơn khâu dũ tráng. Tổng giai phủ tuân dư tình, vị dân kỳ phước dã. Tự chi kiến duyệt lịch vu tư nhị bách tứ thập ngũ niên, thắng tích danh lam kỳ lai thượng hỹ. Trẫm kỳ thừa tiên trạch, dụng quảng tiền nhân, cổ hi tăng hựu tiên linh, đại diễn truy hoàn hương nguyện từ nhân trường tại, thế đức tác cầu. Kim quốc gia nhàn hạ chi thời, chính trung ngoại mê ninh chi tuế, liệu văn quốc nô trúc thấp cấp chi Phù Đồ, xiển phát thiện duyên, bố vạn phương chi nhân trạch. Nãi nhân định thể chế, mạng Vũ Lâm dinh Hữu Dực, Thống chế Hoàng Văn Hậu đổng tu tạo kiến, ư Thiệu Trị Giáp Thìn đãi vu Kỷ Tỵ duyệt lưỡng tải nhi cáo thành. Khởi tự sơn điên súc không nhi thượng cao, dĩ cổ xích đạc đắc bát thập thất xích hữu linh, dĩ kim xích đạt thành ngũ trượng tam xích nhị thốn, giai bất phí dân tài, bất động dân lực, dĩ Thiên phủ chi nô, Túc vệ chi binh, cưu công đỉnh kiến, tùng dung toàn thành, phụ cấu cao đình, nhan chi vi Hương Nguyện, lăng tiêu bảo tháp danh chi vi Phước Duyên, quảng thôi giác ngộ quần sanh, Phước duyên vạn thiện chiêu trứ hóa thông tứ đại công đức, thập phương vĩnh diễn từ ân, hàm phu chúng nguyện. Kỉnh ư tháp trung thất tằng các phụng kim thân Thế Tôn thường viên nguyệt tướng, chiếu y Thích điển phụng cổ Phật dĩ lai, kỳ đệ nhất Quá khứ Tỳ-bà-thi Phật, đệ nhị Thi-khí Phật, đệ tam Tỳ-xá-phù Phật, đệ tứ Câu-lưu-tôn Phật, đệ ngũ Câu-na-hàm-mâu-ni Phật, đệ lục Ca-diếp Phật, đệ nhất Trung thiên Điều Ngự Bổn sư Thích-ca-mâu-ni-văn Phật, Tây phương Cực Lạc pháp vương, bồi chi hữu A nan Ca diếp tôn giả, trang nghiêm sắc tướng, bảo lạc côn hoàng. Như thị cam viên cổ sát chi tiền, kiến Tố-đổ-ba hựu thất bảo kim chi đề y hy kim sắc thế giới chi trung hữu Hương Thủy hải, Hương Thủy hải tối thượng thừa Quang Minh Tạng tự tánh bất quy vô sở quy xứ. Đại phươc tùng tâm sanh, bất tại tư, nhất niệm trung năng hành lục Ba-la-mật-đa, tâm bất sanh diệt tức thị thường đạo, cố tháp cao kỳ đạo di cao, phước quảng kỳ duyên ích quảng. Nguy nga trĩ lập đối lưỡng gian, nhi bố hộ hàm vân, Trắc lực trực xung tiêu vạn vũ, nhi huy hoành tuệ nhật, Thất tằng thôi xán đăng lâm nhi bát biểu phổ quang, Bách nhận sầm khâm chiếu triệt nhi tam đồ liễu ngộ. Tịnh thủy trưng trừng hữu hội pháp hải diêu hàm, Quần phong lịch lịch đê kháng Linh Sơn ngưỡng chỉ, Chung thanh xuyên thọ ấm huyền thập viên thông, Tháp cảnh tùng thiên ngân diệu hàm chức giác tế. Thử Vu Lan chi hội khai tam thất thủy lục đạo tràng, Liệu tha Chiêm-bặc chi hương phổ đại thiên u minh thuyết pháp Thất bảo chi pháp trường lưu vu Tự Tại thiên Nhất thành chi tâm, đại nguyên vu chơn như Phật. Dao đài tấn chỉ khang cương vô lượng tho chi tăng long, Quỳnh phái lưu huy dẫn dực mỹ đồng thể chi trinh cát, Gia tề quốc trị phi phi cơ ức tải lung hồng, Thời nhược niên phong sanh sanh chúng quần phương phú thứ. Nội an ngoại tĩnh âu ca hàm bộ vu khang cù, Quân minh thần lương hỷ khởi canh dương vu đường bệ, Phương bất phụ bồi phước chỉ ư Tịnh Độ, Lượng khả vi xiển thiện duyên ư bảo châu. Phật nhật tăng huy, Quốc ân thường tại, Mạc vị hư vô, Tịch diệt tự hữu chứng minh, Mặc phù cảm ứng phủ trưng, Truy tư hoàn nguyện dã. Phù từ bi chi lập giáo, dĩ thiện vi bổn, thiện niệm tại tâm, tâm tức Phật dã. Luận ngữ viết: Trạch kỳ thiện giả nhi tùng chi. Dịch ngôn: Quân tử dĩ át ác dương thiện, thuận thiên hưu mang. Thư vân: Tác thiện giáng chi bách tường lượng vô thương ư quốc, kinh thứ thiếu bổ ư Vương hóa giả dã. Các thần khấu thỉnh phu ngôn dụng hiển sùng huy nhi chương thắng khái viên bất tận vạn cơ thanh hạ hàn mặc chi ngô cầm hào dĩ kỷ chi hệ minh nhi thức dã. Kỳ minh viết: Hoàng thiên quyết mạng hề đốc sanh thánh thần, tịch ngã viên cương hề huệ ngã chưng dân, kiến đốc cơ cần hề định đỉnh Phú Xuân, giáo nhơn vi thiện hề nhược thánh dữ thân, thiền quan tăng bí hề thắng tích tuyệt luân, thế chương quốc khánh hề thời chuyển pháp luân, dao đồ vĩnh điện hề bửu pháp hoán tân, hàm tễ nhân thọ hề phước lộc biền trăn. Thời Triệu Trị lục niên tứ nguyệt cát nhật kiến. III NGỰ CHẾ THI ĐỀ DIỆU ĐẾ TỰ Thiệu Trị Ngự chế thi Đề Diệu Đế tự. Hữu tự văn: Kinh thành Đông hữu danh viên, thọ mộc thương túy, quy mô hoằng xưởng. Tích giả thích ký du minh kì địa yên. Thời loan lộ quang lâm, nhân trạch trường tại, tú chung dục khánh, điện nhiễu hồng lưu, phát tường vu tư chi phước địa giả dã. Hữu thỉnh ưng đương chí khánh sùng huy vĩnh lưu thắng tích, nhân niệm Đại học chi đạo, “thành chính cách trí tu tề trị bình” tại chỉ ư chí thiện, tuy tượng giáo hư vô, diệc khiến nhơn vi thiện, tắc hà phương vu Vương đạo dã tai? Viên cửu tùng sở thỉnh, kiến lập Phạm Cung, khai phát Bồ-đề tâm nhi hóa thông vạn loại, hoằng thí phương tiện lực dĩ giác ngộ quần sanh, đương trung chi cam viên danh vi Đại Giác điện dã. Lập tam thế chi duyên, quán cảm lưu tục, thiết bách pháp chi yếu, dụ dịch phù sinh, đương tiền chi Phù Đồ danh vi Đạo Nguyên các dã. Ngũ diễn chi xa, bất xưởng đại nguyện thập phương lương thiện tai, bát công chi thủy, thường thanh nhất thiết chúng sanh cát tường dã, cư tả chi thiền đường danh vi Cát Tường từ thất dã. Thỉ chứng Bích Chi chi quả, trí tuệ hoằng thâm, chung tham tối thượng chi thừa, từ bi phổ tế, cư hữu chi Tĩnh Trai danh vi Trí Tuệ tinh xá dã. Ngọc giản kim thơ, dẫn gia nguyên chi yếu thuật, long chương phụng triện, hiển chí lý chi lương thuyên, tổng diệu hóa ư diêu nguyên, xiển chơn như kì mật đế, cố tổng danh vi Diệu Đế tự dã. Hoặc vấn tịch thiền quan ư đô hội chi xứ, náo nhiệt phồn phong, hà dĩ vi thanh tịnh chi Pháp vũ hồ? Viết thả thục tư chi tắc minh biện chi. Phù không cố nạp vạn cảnh, tĩnh cố liễu quần động, động trung năng tĩnh, định tuệ chỉ quán, dĩ thanh tịnh pháp nhãn, Niết bàn diệu tâm, khai xiển vô giá, độ chư mê hoặc. Khởi bất năng thiện tri thức năng hồi tam độc vi tam muội, tĩnh giới năng hồi lục tặc vi lục thần, hồi phiền não tác Bồ đề, hồi vô minh vi đại trí. Pháp luân thường chuyển, diệu trí hà cùng, minh nhi dĩ hĩ?! Kim tự lâm hà ngạn triều cũng đế thành, quan cái tương vọng, chu xa bức tấu, tĩnh trấn kỳ lợi hoặc phân noa đạo chi, dĩ tánh thiện vi bảo thành hữu nhi thị phù. Đoan nghiêm sảng khải đế thành Đông Phủ tuấn dư tình kiến Phạm Cung Giáng cát từ đàm thường huyến thái Minh trưng tuệ nhật chứng sơ hồng Đàn hương triêm nhiếm thiên phương ngoại Việt ấm Ta-bà vạn vũ trung Ư ngã bổn phi sùng xiển giáo Vị dân đãn nguyện phươc lung hồng. Hữu Diệu Đế tự, trung nguyên tiết phiếm nguyệt tác tam phủ. Nguyệt minh như trú chính kim tiêu Hà xứ Vu Lan thiết tịch yêu Vân lý lâu đài phù ngọc kính Ba trung tinh tu bộ kim thiêu Nhơn yên vật thái sanh giao cảnh Thọ sắc hoa âm nhiễu họa tiêu Khoảng nãi thanh truyền do vị hết Danh lam tảo bạc lộ phi diêu. Cao các chung thanh nhập đạo nguyên Bồ-đề thọ ảnh ấm kì viên Hoằng khai tập phước huyền đô hội Phu diến đàm nhân cổ Phật ngôn Kỷ thắng trùng hưng an quốc tự Chí tường tá phỏng Phạm vương môn Từ ninh vĩnh hựu vô cương thọ Trạch bị quần sanh thứ loại phiên. Náo thị thiền quan diệu xứ đa Động trung năng tĩnh cánh như hà Chính phùng giai tiết quần xa mã Thưởng thắng lương tiêu tụ ỷ la Bộ nguuyệt ca thanh tương gián tạp Văn kinh trần tự tận tiêu ma Dữ dân đồng lạc thăng bình hội Bất tiết Đường cung thích tú da. Cô nhạn xuất phần cánh, Đường vương kiến cung từ vân khán thủ trung nguyên trai nhật đáo tự bàn kim lục tú chân dung. Nhân hà hạnh Diêu Đế tự, mệnh hoàng tử đẳng niêm hương, ngẫu lạc bút đề bích. Lương ngôn vi bửu thiện kham truyền Thiện niệm hà phương vương đạo yên Thôi xán tâm đăng huyền tánh địa Quang huy trí nguyệt chiếu nhân thiên Chung thanh quán nhĩ viên thông giác Hương triện huân nhơn diệu nhập huyền. Phước bị quần sanh trưng phước chỉ Vô biên sắc tướng xiển nhơn thuyên. Giải lãm quy nhiêu biệt tự tiền Bồ lao dư vận họa linh xuyên Đạo tâm khả kiến quang thiên kính Pháp ngữ do vân tuyển Phật diên Thập nhị nhân duyên thông Diệu giác Tam thiên tam thế giới phổ chiêu tuyên Ngự Hà thâu lạc thương lãng hiết Bác đắc viên minh tái nguyệt thuyền. Tị cốc tăng Bí-sô Hứa thị, pháp danh Liễu Tánh, ngũ linh nhập thiền, trưởng lịch sơn nham, y trì cổ sát, duyệt dĩ hữu niên, thâm đắc thiền vị, nãi cận bát cửu tái lai phương trượng lãnh tuyệt yên hỏa, thù dị ư chúng, kim chấn tích nam lai, an trú vu Diệu Đế tự dã. Thắng quả hưu nhân hướng Phạm lâm Xích tùng liêu tá địch trần khâm Tự như tự tại vân hạ tứ Vô niệm vô danh thủy nguyệt tâm Chấn tích truyền đăng thông pháp hạnh Hàn khôi tử hỏa lịch quang âm Hoàng hoa thúy trúc hồn không sắc Y bát chơn thuyên nhập diệu thâm. Thiêụ Trị lục niên thất nguyệt cát nhật cung tuyên. IV NGỰ CHẾ THI THIÊN MỤ CHUNG THANH THẦN KINH ĐỆ THẬP TỨ CẢNH Thiệu Trị Ngự chế thi Thiên Mụ chung thanh, Thần kinh đệ thập tứ cảnh. Thiên Mụ tự đình độc trữ tinh sơn xuyên, linh sảng long bàn hồi thủ diêu củng kinh thành, hổ khiến cao tôn phủ lâm Hương phái, xiển phát liên hoa chi pháp giới, diệu hàm bối diệp chi chơn thuyên. Thiên quyến thánh nhi triệu cơ thử dã, giáng tường thần nữ, thánh thừa thiên nhi tích phước tư sơn, doanh kiến Phạm Cung, cố hữu thị danh vị lưu thắng tích, trùng minh thánh niệm viên mãn thiện duyên, đổ bi văn nhi kim bích tăng huy, thính chung hưởng nhi bảo châu giác ngộ. Cao hương Cổ sát trấn tiền xuyên Nguyệt tướng thường viên tự tại thiên Bách bát hồng thanh tiêu bách kiết Tam thiên thế giới tĩnh tam duyên Tăng hoằng Thọ nhật u minh cảm Liêu lượng Dần tiêu đạo vị huyền Phật tích thánh công thùy hải vũ Thiện nhân phước quả phổ cai duyên. Hạnh Thiên Mụ tự, mệnh hoàng tử hoàng đệ niêm hương đảnh lễ, ngẫu tác đắc nhất luật… Duy thiện ưng vi bảo Phi vô hảo thiện yên Nghĩa nhân thâm hữu thế Trí tuệ khả kim toàn Ngô đạo lưỡng gian tại Thiền quan vạn hóa huyền Nguy vi tinh thất diệu Không sắc ngộ tam duyên Bát-nhã Ba-la-mật Bồ-đề phước quả viên Từ đàm thùy hải nhạc Pháp vũ lợi nhơn thiên. Thị nhật triêu phân thời húc nhập tự dĩ, hiện từ vân biến phú, hồi cung hưu hạ, pháp vũ phu thí, cố vịnh cập nhĩ! Hạnh Thiên Mụ tự ngẫu đề. Cổ sát trưng tường thắng tích truyền Vũ tư nhị bách tứ thập niên Bồ-đề thọ ấm viên minh địa Chiêm-bặc hương Tự Tại thiên Triều ủng đế thành long mạch vượng Tăng huy Phạm Vũ Thứu phong tiên Thừa phủ phong trạch thi nhân chính Tích phước hoàn danh xiển thiện duyên Thiên Mụ trung nguyên Thử tịch danh lam thắng sự tai Bí-sô thủy lục đạo tràng khai Ba hàm nguyệt bạn vân gian tháp Phong độ chung truyền lãnh thượng đài Quan cái tương vọng quy thiện giác Chu xa lạc dịch phỏng thiền lai Nguyện hoằng phổ tế quần sanh phúc Như thị vô biên chúng diệu cai. Tiết giao mạt phục hạ quý thu sơ, nãi cận lai hiệp tuần sắc vũ, dư chi ưu dân mẫn nông vô thời hoặc hạ kinh, mệnh Thừa Thiên phủ chi Phủ thừa Nguyễn Trung Nghĩa, đảo vũ ư Hội đồng miếu, lưỡng thứ vịn hoạch triếp ứng thành, khủng liên nhật hằng dương, tất trí tương hòa, dư tâm vọng bổn trọng niệm dân thiên, cánh gia tiêu cấp. Thích Thiên Mụ tự trúc Phước Duyên bảo tháp lạc thành, hoàng tử đẳng nguyên dĩ bổn nguyệt sơ lục nhật phụng kim thân Thế Tôn cao đăng bảo tháp, phúng kinh chúc hỗ. Thị vệ đại thần Lâm Duy Nghĩa, khởi thảo Phạm chương, hoàng ấu tử trì tương dĩ văn, dư chính phương vọng vũ, ngẫu nặc quản, gia đề kì thượng vân: Hiện kim chính trị thu dương, biến xứ tình ân vọng trạch, nguyện bố từ đàm tảo ứng thứ, dĩ chiêu linh kì thí pháp vũ phổ triêm, túc vi chứng nghiệm đẳng cú. Bổn nhật quả kiến nùng vân mật bố, cam vũ phổ triêm, lệ lạc tân phân, lâm lãnh mộc mạch, ký vô phiêu diêu táp địa chi ngu, thả đắc lương sảng nghi nhân chi hỷ. Tầm cứ Lãnh Thừa Thiên phủ chi Chưởng đề đốc Nguyễn Văn Đức đẳng tấu tự thử vũ bàng triêm, hòa thử thái sơ, điền viên cử giai mậu toại. Hựu cứ Công bộ thần tấu xưng tào vận thương kinh, thất bát thập sưu, thị nhật nhất giai trực tấn hải khẩu, quân vô hoạn phong đào thâu bạc ổn thỏa. Thả dư nguyên ý mẫn thu điền nhi kỳ lâm huệ sanh dân chi bổn, hựu khủng chính tại tào vận chi kỳ. Nhược trận vũ lôi minh phong hiệu lãng khởi, tất trí đa sanh bất tiện, tự tiếu Kỉ nhơn chi ưu, bàng hoàng khiển quyển. Nhiên ái dân nhật niệm tịch dịch triêu càn, triếp đề ư Phạm chương trử thành mặc đảo, cự mông chiếu giám, bất viễn tùy ưng ư cảnh hưởng chi gian, bái thụ lâm ly nhi vô hùngphong mãng liệt, thật pháp vũ huệ nhơn, vũ cố đắc kỳ mỹ, thành vi Dần cảm kích thiết chi chí dã. Viên chế thi chương dụng thân trại tạ vân nhĩ. Thất cấp Phù Đồ xiển đạo nguyên Lạc thành sơ đảo triếp tùy ngôn Từ vân cố hộ cao đê trạng Hòa vũ phu triêm hoàn cận thôn Tế hãn cảm hoài bằng Phật lực Huệ nông dần tạ hạ thiên ân Vạn kỳ vạn ứng kỳ như nguyện Nhất niệm nam mô ngã Thế Tôn. Đăng Phước Duyên bửu pháp đắc cú Hoằng thôi nhân trạch cận quang tiền Thất cấp Phù Đồ tạo Phước Duyên Túng lãm sơn hà tâm quảng giác Trường lưu đình độc đạo di kiên Trượng đầu chỉ tú do năng tế Hải thượng chiêu linh cánh nhập huyền Bát vạn tư thiên không sắc ngữ Trinh mân thử tháp lương kham truyền. Hương Nguyên đình dụng tấn thoái cách Trúc tháp lạc thành hựu phúng kinh Tiền nhân viên mãn phúc quần sinh Đường khai phổ tế trừng vân thủy Bi chí trường tồn diệu thật tinh Sắc tướng trang nghiêm Tam bảo tại Pháp luân thường chuyển lục trần thanh Đại thiên biến xứ hàm quy thiện Tánh địa tình thiên tập vạn linh. Hựu Trung nguyên tịch mặc tọa đàn chỉ vi sẩn tự huấn tác Đạo hàm nhất lý chấp trung yên Pháp bất nhị môn hóa vạn tuyền Hàn Dũ khả lân cô trực tiết Nguyên hòa kham khán đàn tu huyền Lãng đàm tập phước thanh đô hội Không ức tầm chương Xích Bích thuyền Thế cô nhơn tình thiên cổ sự Như lai thuyết pháp giáo vô thiên. Thiệu Trị lục niên tứ nguyệt cát nhật. V ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG SẮC TU HÀ TRUNGTỰ HOÁN BÍCH THIỀN SƯ THÁP KÍ MINH (Văn bia ngài Nguyên Thiều) Ninh Vương-Nguyễn Phúc Chú Đại Việt Quốc Vương Sắc tứ Hà Trung tự Hoán Bích thiền sư tháp ký minh. Dư cung ứng thiên mệnh, lâm vu triệu tính, kê minh nhi khởi, tư tư bất vong vi thiện chi đạo dã. Việt quán tự khai quốc dĩ lai, lập tự kiến am, diên Tăng cúng Phật, quảng hành phương tiện, đồ sử kì nội, thiên hạ thạnh khởi, toàn tự đốn phao bằng niệm. Thứ cơ, sanh thuận tử an, tiệm cận hóa thành cảnh giới. Tỷ hữu Hoán Bích thiền sư vu Đinh Tỵ niên, tùng Trung Hoa lai, sơ tích quy Ninh phủ, sáng kiến Thập Tháp Di-đà tự, quảng khai tượng giáo, tái hồi Thuận Hóa Phú Xuân sơn, sùng tạo Quốc Ân tự tịnh Phổ Đồng tháp, chí thánh khảo tiền triều hựu mệnh thiền sư hôi Quảng Đông, diên thỉnh Trường Thọ Thạch Hòa Thượng, tịnh thỉnh Phật tượng cập pháp khí, hồi lai vãng hoàn, thành phả đa công tích. Tự thử phụng chỉ trú trì Hà Trung tự, hồi quang tự chiếu, phân điều chiết lý, đàm cập huyền Vi, tải bị tiền mân, tiệt ngụy tích chơn, khai tư hậu học thọ cụ túc giới, độ tứ chúng nhơn đẳng. Thiền sư nguyên tịch Quảng Đông, Triều Châu phủ, Trình Hương huyện, Tạ thị tử, sanh vu Mậu Tý niên ngũ nguyệt thập bát nhật Tuất thời. Thời cửu từ thân xuất gia, đầu nhập ư Báo Tư tự Khoáng Viên Hòa Thượng, pháp danh Nguyên Thiều, tự Hoáng Bích. Lịch tự hàng lai dư cảnh, kế ngũ thập nhất niên hĩ. Chí Mậu Thân niên đắc bệnh, vu thập nguyệt thập cửu nhật triệu tập tứ chúng nhơn đẳng, đàm cập huyền cơ, chúc lưu bí ngữ, lâm kỳ thị bút thuyết kệ, kệ viết: Tịch tịch cảnh vô ảnh Minh minh châu bất dung Đường đường vật phi vật Liêu liêu không vật không Thư bãi đoan nhiên chính tịch, pháp lạc bát thập nhât tuế, thọ tể quan môn đồng chúng đẳng quỵ thỉnh ký minh, dư thụy viết: “Hạnh Đoan thiền sư”. Dư diệc dục vạn thế nhơn nhơn ngưỡng mộ thiện đạo, chứng Như Lai vô thượng chi quả, cọng hưởng thái bình chi phước vô cùng, nhân vị chi ký nhi minh yên. Minh viết: Ưu ưu Bát-nhã Đường đường Phạm thất Thủy nguyệt ưu du Giới trì thiền lật Trạm tịch cô kiên Trác lập khả tất Thị thân bổn không Hoằng giáo lợi vật Biến xứ từ vân Phổ chiếu tuệ nhật Chiêm chi nghiêm chi Thái sơn ngật ngật. Bảo thái thập niên tứ nguyệt sơ bát nhật ban phụng lân Quốc Ân tự. III. Dịch nghĩa: I NGỰ KIẾN THIÊN MỤ TỰ Thiên Túng Đạo Nhân – Nguyễn Phúc Chu Ngự kiến Thiên Mụ tự Bài ký khắc vào bia đá nói về việc trùng kiến chùa Thiên Mụ tại Thuận Hóa của quốc chủ Nguyễn Phúc Chu, Phật tử dòng Tào Động đời thứ 30, pháp danh Hưng Long, tự Thiên Túng Đạo Nhơn. Bia dựng trước chùa Thiên Mụ, Huế. Từng nghe: Vẳng lặng vô hình chí đạo nan ngôn, Phật tính vốn không cội nguồn thanh tịnh, thiệt tính hiển bày giác chiếu viên dung, pháp chẳng phải hai quy về một nghĩa, trời đất xoay vần không chia nội ngoại, đất nước gió lửa tứ phương chuyển hoài, Phật tính hư linh thể thường trong lặng. Từ Phật tính hư linh, biến nên cõi Kim Sắc, trong cõi Kim Sắc lại ẩn hiện Hương Thủy hải, trong Hương Thủy hải có thể giới Quang Minh Tạng. Thế giới Quang Minh Tạng phước báo gồm đủ, cả thiên hình vạn trạng, như cây rừng núi báu, hoa hương chói rạng bao hàm cõi Phật số như hoằng sa. Tất cả mọi thứ chói rạng ấy điều bắt nguồn từ một Quang Minh Tạng. Được an trú vào Quang Minh Tạng là nhân lành dệt nên, “y báo”, “chánh báo” điều trang nghiêm hội đủ. Nguyên nhân đưa đến như vậy, thì trời đất ngang nhau, cả bốn phương cùng chung một tự thể, chẳng có xa gần. Phật tính, chúng sanh tính đều trôi vào biển trí Tỳ-lô-giá-na. Nội tạng con người có huyết mạch, hình dáng núi đồi hiện thấp cao. Phía nam đại hải là khu vực nước Nam ta. Nơi đây núi rừng trùng điệp, phía Tây Nam, biển cảnh mênh mông; phía Đông Bắc, đầm vây cát trắng, chung tạo nên hình thể đất nước an khang, núi biển nối liền, xanh tươi tú mậu dưới bầu trời màu ngọc. Ngũ cốc dồi dào nhờ có ruộng vườn màu mỡ tốt tươi, chốn này cọp beo vãng lai lẫn lộn Tây Ngu, chim chốc bay lượng như là phụng múa, phong tục dân quê xưa nay hiền dịu, dân chúng hiền lành, mọi người đều lấy tánh thiện làm tôn chỉ, trong cuộc sống lại đem lòng thành thật lương thiện xử sự với nhau. Tôn sùng đạo Nho, mà lại kính trọng đạo Phật. Lẽ đương nhiên con đường chính trị, ắt phải lấy nhân nghĩa mà cưu mang sự nghiệp. Tín mộ đạo pháp, thờ trọng chơn sư nên phải gieo trồng phước đức “và dạy cho dân gieo trồng phước đức” bằng đạo lí nhân quả. Nhờ vậy đất nước thái bình thân tâm an lạc. Thế mới biết: Ở nhà cao sang, há hằng phương trượng! Cỡi ngựa hay chắc gì bằng gậy tầm xích. Gấm the lượt là chắc gì sánh “ Ca-sa”. Vàng bạc đầy nhà, lìa trần cũng tay trắng. Ăn ngon, đâu sánh bằng cơm Hương Tích. Nghe nhạc hay, đâu bằng Kinh giải thoát. Trên đây là những điều ta mươn mà suy tư việc đời, rồi ta hãy trở về vườn xưa nhiều hoan hỉ. Thế là hữu vi, vô vi cùng đi chung một nẻo mà không hề trái chống! Nhớ lại năm xưa mới được đường đầu đại sư, tên chữ Đại Xán, hiệu Thạch Liêm. Ngài là bậc thầy tinh thần giáo lý, nguyện lực hoằng thâm, lòng thương rộng mở, y báo, chánh báo rực rỡ vô biên, đạo thấu tam thừa, tu có tôn chỉ. Như cây có gốc, như nước ấy có nguồn. Ngài truyền tâm ấn gộc tại “Tây bang”. Ta nhờ ơn đánh hét mà tâm ấn hòa nhu, tịnh như rót mật, chẳng khác gì sữa hòa trong nước. Những toan nối gót Linh Sơn, nhưng nghĩ mình không đủ sáng. Canh cánh bên lòng chỉ mong duy trì “sự nghiệp đạo tâm”. Những muốn dốc hết tài lực mà ứng dụng nhưng chưa dám, (còn ngại quốc sự sao lãng), cứ hẹn ngày nào mới đảm đang! Đắc pháp đã lâu, lòng những muốn xây lầu vàng điện ngọc, bèn chọn đất thượng du vùng Thuận Hóa, nơi núi loan đỉnh phụng, ranh giới phía tây xứ Kim Long. Nơi đây xuyên qua đám ruộng dâu, nối liền những ngọn đồi trùng điệp, kết lại với nhau xem như một bức họa. Bên tả của dòng sông là một đỉnh núi nhô ra và vươn mình lên cao, trong dáng điệu rất hùng vĩ. Y theo trên nền cũ của ngôi chùa Thiên Mụ ngày xưa, nay cho xây lại một cảnh quang Phật quốc đồ sộ ở trời Nam. Quyên góp ngọc ngà, tiếc chi vàng bạc, chỉ y theo truyền thống của người xưa. Đất gỗ nhân công chẳng hề quan ngại, chỉ ngại công trình không sánh được với việc lập quốc ở Kì Châu . Tận nguồn gốc thì có dân giúp, mà không hề ngại ngày tháng. Công trình lớn lao vậy nhờ các quan cần chánh, chưởng cơ, đại chưởng cơ, vĩnh chưởng cơ, giám niên, phó giám niên cùng nhau tuyển chọn số ít trong số đông, rồi chon thợ giỏi trong sô ít ấy, tùy lực thưởng công, chỉ tin cậy nhau ở tấm lòng thành. Ân uy hợp tình, đốc thúc nhân công thợ thuyền, làm tron một năm thì hoàn mãn. Từ cửa chùa nhìn vào quang cảnh gồm: Điện Thiên Vương, Điện Ngọc Hoàng, Đại Hùng bảo điện, Thuyết Pháp đường, Tàng Kinh lâu, Chung Cổ đường, Thập Vương điện, Vân Thủy đường, Tri Vị đường, Thiền Đường, Đại Bi điện, Dược Sư điện, Tăng xá, Thiền xá. Tất cả không dưới vài mươi sở. Phía sau còn có vườn Tỳ-da, bên trong còn có Phương trượng và các nhà khác không dưới mười sở. Tất cả đều được trang hoàng lộng lẫy, ai thấy cũng phải khen ngợi. Nơi đây, chẳng phải một thế giới vàng son! Đúng hơn, đây là một “ Việt Nam Quang Minh Tạng”. Thấy vậy, ta vui mừng khôn xiết kể! Ta gắn bó với Phật sự tại vườn Tỳ-da suốt một tháng, ngày ngày vui với cảnh chùa. Mỗi lần lên Tàng Kinh lâu, xem qua vài đoạn Kinh Luận, tự thấy lòng mình tuồng như có phần khai thái, khoan khái lạ thường. Tựa lang can phóng tầm mắt nhìn xa xa ta thấy ở phương Đông mặt trời treo lững lờ nhả ánh sáng hiền diệu muôn loại đang cậy nhờ. Phương Nam núi rừng trùng điệp hiển lộ độ dày, mây trắng vờn bất tận thấu trời mây, màu sắc thắm tươi hiện nhiều văn vẻ, núi rừng sáng lên thời văn minh thịnh trị. Phương Tây tùng bách lớp lớp xanh tươi, như bình phong trấn đở chốn chùa xưa. Phương Bắc người vật vọng về triều phủ. Dưới lớp tre xanh nhà dân khoáng đạt, ngọn gió Nam Lào thổi vào cửa ngõ. Cảnh đẹp tuyệt vời, họa sĩ cũng phải chịu thua. Chùa viện trang nghiêm, người người chiêm lễ, dụng sáu pháp mầu thành tựu mong được lưu truyền. Bỗng ký ức nảy lên pháp số: Từ một Sát-na dẫn đến một Sát-na, Từ một Lạc-sát dẫn đến một Câu-kỳ. Từ một Câu-kì dẫn đến một Tăng-kì, Từ một Tằn-kì dẫn đến một Cao-xuất. Từ một Cao-xuất dẫn đến bất khả chuyển, vô biên vô ngại, không hề bị ràng buộc, chẳng bao giờ đưa tới đính cuối cùng, thành trụ hoại không chẳng hề ngăn ngại, tuyệt diệu vô cùng. Điều ấy chẳng vi diệu lắm đó sao? Tóm lại cái vi diệu thậm thâm đó là thánh đế. “Vi diệu thậm thâm ấy có nghĩa là thế giới Quang Minh Tạng”, đủ sức giúp quốc gia dựng cảnh thái bình, hướng dẫn lương dân vào đường lạc nghiệp. Ngoài đường nghe thấy trẻ con nô đùa trên bầu sữa trước bụng mẹ. Trong nhà nghe tiếng đàn sắt, đàn cầm chan hòa vang vọng. Thiệt là cảnh thiên hữu vi hòa nhập vào vô vi tạo nên pháp hóa. Từ nay về sau, cứ nối tiếp, vẫn khơi bày, lấy pháp truyền thừa, khơi đèn sáng mãi. Thầy ta đã ra đi mà chưa hề trở lại. Ta cứ hoài hoài trông ngóng vị cao tăng, đã từng chống tích trượng vượt qua núi, qua ải, dùng thiền từ vượt biển, băng suối đi đến trời Nam để tuyên dương diệu kệ, ca tụng tôn phong. Ta nghĩ lúc bấy giờ, đa số mộng sâu chưa tỉnh. Dâng chiếc búa mở mang núi báu, ngăn dòng nước vẫn đục bao la, lau bụi trần gương sáng cả, cùng ích lợi nhân thiên đạo lí. Nguyện cầu họ Nguyễn nội ngoại xa gần đều đăng pháp hội, luôn luôn làm chúa phước ủng hộ Già Lam. Nội ngoại đều chứng Bồ-đề, để ta xứng được lãnh tiếng khen muôn thủa. Cầu nguyện hằng năm được mùa, đất trời thêm sáng, nông thương thịnh đạt, quân mạnh nước giàu, an cư lạc nghiệp. Được thế thì toại nguyện lắm lắm. Quần thần muốn ta phải lập ngôn tỏ lộ đôi lời, nói lên nỗi lòng ước nguyện van mong mỏi hoài hoài. Phóng bút không tiếc lời, viết bài minh: Phương Nam nước Việt chừ vững núi đẹp non, Chùa viện hùng tráng chừ tuệ nhật soi cửa, Nội tâm thanh tịnh chừ nước từ bi thấm, Đất nước yên ổn chừ bốn phương yên ấm, Pháp hoa vu vi chừ Phật Nho thuận đạo, Viết lời cảm khái chừ nhân quả tròn vuông, Dựng bia lưu niệm chừ chánh còn tà tiêu. Bia dựng vào niện hiệu Vĩnh Thịnh thứ 11, ngày tốt tháng 10 năm Ất Mùi(1715). II NGỰ CHẾ THIÊN MỤ TỰ PHƯỚC DUYÊN BẢO THÁP BI (Bảo tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ) Ngự chế Bài văn khắc vào bia đá dựng trước chùa Thiên Mụ của vua Thiệu Trị, nói về việc xây dựng tháp Phước Duyên tại chùa Thiên Mụ, Huế. Trẫm nghe đạo Nho dạy: Nghe điều thiện liền bảo nhau biết, Thấy việc thiện khuyến nhau phải làm, Dùng người thiện là chủ của dân. Ngày xưa đức Thế Tôn từ cõi trời Đâu-suất giáng thần tại Tây Vực, nhằm thời Châu Chiêu Vương, Ngài thành đạo, Ngài nhập Niết-bàn nhằm thời Châu Mục Vương. Phán giáo ngài dạy: Mọi loài chúng sanh điều do nghiệp lực, phương tiện thần thông không hề tiêu hoại, thay hình đổi dạng suốt cả ba kỳ, việc làm thiện, việc làm ác điều có báo ứng theo luật nhân quả. Vì vậy, hãy un đúc nuôi dưỡng các mầm thiện và thanh lọc dần dần những mầm bất thiện. Cứ như vậy mà tô bồi, un đúc tu luyện, trải qua vô lương A-tăng-kỳ kiếp, khiến cho nội tâm ngày càng sáng lên, mới có thể tựu thành đạo quả. Tu luyện hướng dẫn tinh thần sáng lên đến mức độ “cùng lý tận tánh” mới lọt vào dòng Đại giác. Đạo của bậc đại giác là một năng lực hư linh huyền diệu, rất mầu nhiệm, không thể dùng trí óc bình thường mà biết, không thể dùng bất cứ hình thái đo đạc cân lường nào trong đời này mà trắc lượng. Đạo vẫn hữu vi như muôn loại, song thực tính của nó vẫn ở vào lĩnh vực vô vi. Đạo vẫn diễn đạt bằng ngôn ngữ, nhưng tự tánh của đạo vẫn là vô ngôn. Không thiệt có, chẳng phải không, chẳng phải không, mà không hẳn là có. Tự thể của đạo vẳng lặng rỗng rang, không thể dùng sự vật mà trắc lượng. Trên tự thể vẳng lặng rỗng rang ấy, mà hưng khởi lòng từ bi một cách “vô duyên cớ” tự như có cảm thì có ứng. Đến đời Hán Minh đế thì đạo sáng trăm pháp, mầu nhiệm thiên cổ. Nói về dấu tích thì sự nghiệp tu hành trải qua ba A-tăng-kỳ, để rồi tướng hảo trọn đầy trăm kiếp. Nương voi ngọc, Ngài giáng trần, che khuất mặt trời để thân vàng xuất hiện, rạng ra ba mươi hai tướng tốt, ngời chói địa phủ, tám mươi vẻ đẹp chấn động cả thiên cung, linh tướng thấu ngàn phương, thần quang soi tám nẻo. Soi xét cội nguồn thì lâu lắm rồi, đã thiệt chứng viên minh, dù cho cát bụi cả tam thiên cũng không sánh được số kiếp. Đã sớm trở về nơi tánh tịch lặng chiếu soi; tịch lặng chiếu soi ấy, tự thể của hư không, cũng không sánh bằng. Bằng vào chức năng tịch lặng ấy mà hưng phát Bồ-đề tâm, khuyến người hành thiện, rộng bày phương tiện nhằm hướng lộ cho mọi người đến bến hiền lương. Đó là duyên lành kỳ bí, khiến cho lương tâm phước đức nảy sinh một cách sâu dày. Sách Nho dạy: “Nói lên điều thiện, dù muôn dặm xa cách, người ta vẫn ứng theo”. Thực chất của đức vốn không do thần dạy mà do nội tâm thể hiện điều thiện âm thầm vun bồi nên. Bỏ những phiền phức, để tăng thêm cho điều thiện, thì không có gì bằng khuyến dạy cho dân chăm chăm gìn giữ giềng mối của “luân thường đạo lý”, đồng thời phải dạy cho dân biết mà yêu quý đạo đức, bằng cách nêu cao điều thiện và phê phán tính ác. Phải thực sự có lòng nhân hậu đối với dân. Được như vậy thì dân mỗi ngày mỗi tiến gần với điều thiện mà không hề hay biết. Điều này sách Đạo đức kinh nói: “Thiên hạ biết đẹp và ưa cái đẹp, vì ghét cái xấu. Thiên hạ đều biết là thiện và quý mến cái thiện, và chán ghét điều bất thiện”. Tám điều cốt lõi của sách đại học cũng dừng lại nơi “chí thiện”. Sở dĩ phương pháp không hề sai nẻo vì đạo gồm một lý. Nước Đại Nam ta trời cho sanh thánh nhơn để tạo dựng sơn hà, mở mang bờ cõi. Ngài xem kỹ mọi cảnh giới thắng tích của núi sông đất nước, thấy bình nguyên ở chốn Hà Khuê đột khởi gò cao, hình dạng như một con rồng, cuộn khúc, quay đầu nhìn lại. Phía trước là một dòng sông sâu thẳm, nươc chảy trong veo van mùi hương thơn đậm. Phía sau có dãy bình hồ, cảnh trí thâm u. Hỏi ra mới biết, xưa kia đã có “Bà Trời” giáng xuống nơi đây van bảo: “ sẽ có bậc chân chúa, thuận tính trời, hợp lòng dân, dựng chùa ở đây, để tụ linh khí, rạng khai long mạch”. Tin như lời nói. Bấy giờ vào năm Tân Sửu thứ 44 đại trùng kiến chùa Thiên Mụ tại núi này. Đó là điềm lành, biểu trưng cho định cuộc lâu dài, của dòng họ đại phước trên linh địa này. Thánh nhân ra đời hội ngộ với duyên may khắp mọi nẻo. Năm Canh Dần thứ 19 đúc đại hồng chung. Năm giáp Ngọ thứ 23 trùng tu toàn bộ chùa Thiên Mụ, công trình làm suốt một năm. Năm Ất Mùi dựng bia lưu dấu. Từ đây Điện Phật, Lầu Kinh, Thiền Đường, nhà giảng…mỗi sở giao tiếp nhau, tự biến nơi này trở thành một nơi phong quang Thứu lĩnh. Gia Long năm Ất Hợi, đại trùng tu, quang cảnh ngày càng sáng tỏa. Minh Mạng về sau, tiếp tục chỉnh lí, cứ thế mỗi ngày mỗi quang rạng thêm lên. Tất cả những việc làm ấy, đều nhắm mục đích “ hướng dẫn con dân tạo nhiều phước thiện”. Từ ngày dựng chùa cho đến nay, đã trải qua 245 năm, danh lam thắng tích “hướng thiện” ấy, chắc chắn sẽ còn mãi với đời sau. Trẫm nay thừa hưởng ân trên sâu dày và rộng lớn của các bậc tiên vương đã dày công tạo dựng, dựa trên ân sủng ấy, nguyện cầu đức “Từ” sống lâu trong an lạc, và từ đó cầu nguyện đức nhân từ thấm đầy trong dân chúng. Ngày nay quốc sự ở triều đình có phần nhàn hạ, đối nội, đối ngoại tất cả đều bình yên, ổn định, cho nên trẫm xuất tiền kho cho xây tháp bảy tầng, mục đích: Phát triển thiện duyên, khuyến cho muôn phương đều thấm nhuần đức trạch. Trẫm tự thân hành định chế cách thức kiến trúc. Bèn hạ lệnh cho Thống chế Hoàng Văn Hậu, thuộc đội Hữu Dực, dinh “Vũ Lâm”, đứng ra lo việc quản đốc việc xây dựng. Công trình xây dựng suốt hai năm, từ Giáp Thìn đến Ất Tỵ dưới triều Thiệu Trị mới hoàn tất. Trên đỉnh núi ngọn tháp đứng sừng sững cao vút lên không trung. Thước xưa đo được 87 thước, dùng thước hiện nay, thì ngọn tháp cao 5 trượng 3 thước 2 tấc. Công trình xây dựng ngọn tháp này không hao tổn tiền bạc trong dân, cũng không huy động sức lực của dân, mà chỉ lấy tiền trong kho Thừa Thiên Phủ van công lực của đội binh túc vệ mà làm, và hoàn thành một cách thong thả. Xong rồi, lại còn xây thêm một đình trước tháp, gọi là Hương Nguyện Đình. Ngọn tháp cao vút kia gọi là Phước Duyên bửu tháp. Mục đích của công trình lớn lao ấy là: “ Mong tạo phương tiện rộng rãi, khiến cho nhiều người giác ngộ, duyên của phước thêm sáng, để rồi cảm hóa cả vạn loại bằng công đức của Tứ Đại Trong Ân . Nguyện cầu khắp cả mười phương đều được thấm nhuần bơi đức Từ, để rồi đáp ước nguyện của mọi người”. Trong bảy tầng, mỗi tầng đều tôn thờ tượng Phật bằng đồng, màu vàng sáng chói, hiển lộ tướng hảo viên dung. Chiếu theo kinh điển, thờ bảy vị Phật cổ lai. Từ trên kể xuống, tầng trên cùng là tầng cao nhất, thì thờ như sau: Tầng thứ nhất thờ: Quá-khứ-tỳ-bà-thi Phật. Tầng thứ hai thờ: Thi-khí Phật. Tầng thứ ba thờ: Tỳ-xá-phù Phật. Tầng thứ tư thờ: Câu-lưu-tôn Phật. Tầng thứ năm thờ: Câu-na-hàm-mâu-ni Phật. Tầng thứ sáu thờ: Ca-diếp Phật. Tầng thứ bảy thờ: Trung thiên Điều Ngự Bổn sư Thích-ca-mâu-ni văn Phật, Tây phương Cực Lạc pháp vương. Tả hữu cong thờ hai pho A-nan và Ca-diếp tôn giả. Tất cả đều hiển lộ hảo tướng trang nghiêm. Như vậy, trước chùa lại xây thêm một ngọn tháp. Trong tháp báu đựng thờ 7 pho tượng Phật với màu sắc hoàng kim chói rạng. Quang cảnh phưởng phất trong thế giới Kim Quang có Hương Thủy hải. Trong Hương Thủy hải lại có Quang Minh Tạng tối thượng thừa. Quang Minh Tạng tối thượng thừa là một thế giới tự tại. Tự tánh vốn là: “bất quy, vô quy sở xứ”. (Không quy hướng về đâu, chẳng từ đâu quy hướng về.). Phước đức sâu dày được phát xuất từ toàn bộ nôi tâm, chứ không phải do một phương diện của tác dụng suy lượng. Trong nhất niệm, nội tâm có thể đủ năng lực để hiện trọn vẹn tự tính lục độ Ba-la-mật-đa. Tánh bất sanh diệt của nội tâm là đạo lý chân thường, vì thế, ở đây biểu trưng: “Tháp cao thì đạo càng cao, tháp rộng thì phước thiện càng sâu dày”. Nguy nga thẳng đứng, mây lành phủ mát cả hai bên, Vun vút vươn cao, vạn vật soi sáng qua nhật nguyệt, Tháp đứng bảy tầng hào quang chiếu tỏa khắp tám hướng, Chiều cao trăm trượng hướng dẫn sáng soi thấu Tam đồ. Sừng sững nguy nga với đất trời Mây lành che sáng rạng muôn nơi Huy quang chiếu tỏa qua muôn vật Khác thể mây bay theo mặt trời Tháp báu bảy tầng phơi ánh ngọc Nhìn xa tám cõi thấu mù khơi Tháp cao trăm trượng cheo leo núi Chiếu soi Tam đồ ngộ thấu nơi. Nước trong đứng lặng, bao hàm pháp giới tận biển khơi, Lớp lớp núi đồi trải lòng ngưỡng mộ xuyên nguồn cội Chuông ngân huyền diệu thấu kẻ lá đến viên thông Bóng tháp soi dòng dẫn dắt nhân gian vào chánh giác Nước nguồn hải hội đổ về đây Biển pháp mênh mông diệu ý đầy Trùng điệp Linh Sơn thức vọng về Trải lòng ngưỡng khấu thấu trời Tây Hồi chuông vang vọng xuyên rừng lá Đại trí viên thông rộng chí thầy Tháp ngọc linh thiêng mấy trời thấu Diệu hàm giác ngộ lộ chân mây. Thắng hội Vu Lan thủy lục tam thất nhập đạo tràng, Nén hương Chiêm Bặc thấu tận U Minh nghe thuyết pháp. Tháp báu bảy tầng lưu dấu nơi đây trời Tự Tại, Lòng thành nhất niệm nguyện cầu thấu cõi Phật chân như. Vu Lan thắng hội xứ thần kinh Thủy lục đạo tràng hộ chúng sinh Thuyết pháp độ mê U Minh tỏ Nén hương Chiêm Bặc rạng tâm linh Bảy tầng tháp ngọc ngày thêm vững Lưu dấu chốn này rạng chơn Kinh Đại nguyện tâm thành thấu cõi Phật Chơn như sáng rạng tại tâm mình. Vua tôi tích phước công đức khang kiện thọ vô cùng, Dòng dõi trâm anh cháu con tuệ dân cảm mến, Nước yên dân trị, nghiệp cả kéo dài đến ngàn năm, Năm tròn tháng đủ hoa cỏ sum tươi nuôi vạn vật. Vua tôi tích thiện phước thêm nhiều Khang kiện sống lâu sáng đại triều Dòng dõi trâm anh thêm trí tuệ Hướng tâm chánh đạo thật cao siêu Nước yên dân trí đời an lạc Nghiệp cả mai sau mãi mĩ miều Thời tiết thuận hòa hoa quả tốt Lòng dân hướng thiện đẹp bao nhiêu. Ngoài yên trong tịnh dân chúng vui ca mộ đức lành Vua sáng tôi hiền giỏi dang kế tục trong đường bệ, Thế mới khỏi phụ công đức bồi phước đức nơi Tịnh Độ. Họa may ra có khai mở thiện duyên khắp bảo phường. Ngoài yên trong tịnh thảy hoan ca Mến mộ đạo tâm sống một nhà Vua sáng tôi hiền văn hóa đẹp Giỏi dang đường bệ tuyệt bao la Thế là khỏi phụ bạc mình đấy Tịnh Độ xây nên tâm thiệt thà Khai mở thiện duyên khắp cả nước Đường về tịnh lạc thiệt không xa. Phật trí tuệ ngày càng sáng ra, quốc gia còn thấm mãi, Chớ hiểu lầm hư vô tịch diệt, nhân quả chẳng hề sai, Thầm lặng cảm ứng, đắp xây trọn đầy những ước nguyện, Nhờ đạo từ bi lấy thiện làm gốc tâm cội nguồn, “Thiện niệm tại tâm, tâm ấy là Phật”. Phật tuệ sáng ngời tháp Phước Duyên Quốc gia Tịnh Độ đóa hồng liên Hư vô tịch diệt lý thâm này Nhân quả trọn đầy chẳng đảo điên Thầm lặng hanh thông không trái lẽ Âm thầm mang lại cái trung kiên Từ bi làm gốc Phật tâm ấy Chánh giáo tâm hiền kết thiện duyên. Luận Ngữ dạy rằng: Chọn thiện mà chơi. Kinh Dịch lại dạy: Quân tử ngăn ác, tuyên dương lẽ thiện theo mệnh trời. Kinh Thư dạy: Hành thiện tốt trăm điều xét soi, tánh thiện chẳng hại quốc gia. Biết dụng, giúp Vương đạo dựng nước nhà. Nay các quan trong triều điều tỏ ý muốn ta viết bài để tỏ lòng sùng kính với cảnh sắc, ta liền phóng bút không tiếc lời viết bài minh: Dòng dõi Hoàng Thiên chừ sanh sản thánh nhân, Mở rộng biên cương chừ giáo dục nhân dân, Dựng nghiệp Phú Xuân chừ giúp người tu thiện, Bậc thánh dạy dân chừ chú trọng đức nhân, Chùa viện mở mang chừ thắng tích tuyệt hảo, Quốc gia thịnh vượng chừ pháp luân thường chuyển, Cơ đồ bền vững chừ bửu pháp thêm tươi, Tăng ích nhân thọ chừ phước lộc song toàn. Bia dựng vào niên hiệu Thiệu Trị năm thứ sáu, tháng tư, ngày tốt. III NGỰ CHẾ THI ĐỀ DIỆU ĐẾ TỰ Thiệu Trị Ngự chế Chùa Diệu Đế, thơ vua sáng tác Phía đông kinh thành Phú Xuân, có một khu vườn địa thế vươn mình lên cao. Nơi đây, vườn cảnh quy mô, cây cao bóng mát tươi thắm suốt mùa. Nơi đây, vườn cảnh quy mô, cây cao bóng mát tươi thắm suốt mùa. Ngày xưa, đây là tiềm tiềm để(nơi ra đời) của vua Thiệu Trị. Ngày ấy, phụ hoàng là vua Minh Mạng thường hay xa giá vãng lai, tạo thêm cho khu vườn càng thêm ân huệ và từ đó khiến nơi này không những trang nghiêm phú quý trong nét vàng son chói rạng, mà còn ẩn hiện cái nét phước địa đãi trí nhơn. Bấy giờ, các quan đại thần dâng sớ xin sửa sang nơi linh địa này trở nên di tích thắng cảnh lưu lại đời sau. Nhân nghĩ đến đạo học đại: thành ý, chánh tâm, cách vật, trí tri, tu thân, tề gia, trị, bình…đều dừng lại nơi chí thiện. Tuy Phật đạo chủ trương “chơn không diệu hữu” (hư vô), song nhất mực khuyên người làm thiện. Nhìn kỹ thì điều thiện có bao giờ gây trở ngại cho Vương đạo đâu? Liền y theo lời tấu, theo chỗ cũ tôn tạo một ngôi chùa thờ Phật, làm nơi khai mở tâm Bồ-đề ma hóa thông muôn loại, là phương tiện bố thí chánh pháp, ngõ hầu giác ngộ quần sanh. Cho nên, giữa khu vườn trang nghiêm, dựng xây một điện Đại Giác. Tôn thờ Phật tam thế, tức tượng Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Đó là tôn trí thờ tự một cách thiết yếu, khiến nhìn thấy tượng Phật lòng người cảm mến mà trở nên hiền dịu, để rồi buông bỏ dần dần những gì không đẹp cho kiếp phù sinh. Do đó, trước chùa cho xây một “Đạo Nguyên các.” Giảng bày giáo pháp hướng dẫn mười phương trở nên chí thiện nhờ ngôn ngữ “ngũ xa” của hội Pháp Hoa; và lòng người trở nên trong sáng bằng phương pháp “bát công đức thủy” của Tây Phương Tịnh Độ; với mục đích đưa mọi người đến cát tường như ý. Do vậy, bên trái Thiền đường, dựng một Phạm Cung tên gọi là “ Cát Tường từ thất”. Sau khi đức Thích-ca Thế Tôn mới thành đạo, bấy giờ là Bích-chi Phật, dù trí tuệ đã đạt đến thậm thâm, nhưng Ngài vẫn không chịu bằng lòng ở lại nơi quả vị ban đầu, mà Ngài tự vươn lên đến địa vị tối thượng thừa, để rồi đem lòng từ bi cứu độ muôn loài. Với hoài vọng tiến bộ như vậy, cho nên, phía bên phải của trai đường, một ngôi nhà đồ sộ được dựng lên, với tên gọi là “Trí Tuệ tịnh xá”. Tam tạng giáo điển được trưng bày, văn chương chữ nghĩa như rồng bay phượng múa, ý nghĩa đạo mầu như ngọc quý toàn chương, tóm lại, đó là nơi un đúc và thể hiện nét văn hóa vô cùng tuyệt diệu, tận nguồn cội thâm uyên đều được hiển bày qua chơn như mật đế. Cũng vì vậy nên gọi là chùa Diệu Đế! Có người hỏi: chốn phồn hoa đô hội là nơi náo nhiệt, làm sao có sự yên tịnh mà lại xây dựng chùa giữa phố thị? Xin trả lời: điều ấy nếu suy tư chính chắn ắt sẽ thấy. Thấy rằng: Phải có cái “không” mới bao hàm vạn loại (dĩ hữu không nghĩa cố nhất thiết pháp đắc sanh) van phải ở trong tư thế tịnh, mới biết thế nào là động, vì trong cái động luôn luôn cái tịnh. Phương pháp chỉ quán để nảy sanh trí tuệ trong thiền định, người ta dùng “pháp nhãn thanh tịnh” để am hiểu tường tận về Niết-bàn về Diệu Tâm, để rồi mở lối độ thoát chúng sanh khiến hết mê hoặc. Há không nghe Kinh dạy: “Thiện tri thức! Hãy khéo léo chuyển tam độc thành tam muội”. Ở Luật tạng, luật cũng dạy: “Hãy chuyển lục tặc trở thành lục thần thông”, “chuyển phiền não thành Bồ-đề”, “chuyển vô minh thành đại giác trí”. Đó là biểu trưng cho pháp luân thường chuyển trong sáng một cách liên tục không cùng tận! Chùa nay dựng trên bờ sông, xoay hướng nhìn về phía thành đô đế chúa. Vua quan ngày ngày chiêm ngưỡng, càng tăng thêm màu sắc tươi thắm của chốn phồn hoa; xa qua thuyền nghé tấp nập, chen nhau như gấm dệt; mục đích vẫn thức tỉnh những tâm hồn hiếu lợi mê hoặc, vẫn lấy điều thiện làm căn bản. Đó là điều có thật. Thơ rằng: Phía Đông để thành gò cao lại khoáng rạng, Thể theo lòng dân mà dựng một ngôi chùa, Mây lành ẩn hiện với vẻ màu tươi thắm, Mặt trời rạng rỡ vào những buổi bình minh, Trầm hương thắm quyện lan thấu vạn dặm ngoài, Lòng từ bi phủ kín khắp Ta bà này Với ta vốn chẳng theo Phật thuần tín ngưỡng, Vì dân ta phải nguyện cầu điều phước đức lớn. Phía Đông thành đế địa linh này Thể hiện lòng dân Phạm Vũ xây Rạng chói mây lành thường ấn hiện Bình minh sáng cả trời giăng mây Trầm hương thắm đượm ngoài ba cõi Đức tánh từ bi mãi phú dày Ta kính Phật không thuần tín ngưỡng Vì dân tạo phước sánh trời mây. Đêm nay trăng sáng trông tợ ban ngày Dư vang lễ Vu Lan đang mời gọi Trong thấy bóng mây thấy lâu đài như ngọc Dưới bóng nước ngàn sao chầu theo thuyền chúa Trong làn khói bóng người trông rất xinh đẹp Màu sắc hoa lá hiện lên như tranh lụa Tiếng hát trên sông còn mãi tiếp tục ngân Nghé bến viếng cảnh Già Lam thấy đường gần. Trăng rạng đêm rằm một bức tranh Vu Lan gói trọn tấm lòng thành Dưới nước ngàn sao chầu đế chúa Trong mây gác tía tuyệt tinh anh Bên làn khói bạc bóng người tỏ Hoa lá sắc màu bức lụa xanh Tiếng hát trên sông còn nối mãi Viếng chùa nghé bến Già Lam thanh. Tiếng chuông trên cao quyện vào gác Đạo Nhuyên Bóng Bồ đề che mát khắp cả khu vườn Mở rộng hội tu phước ở chốn thị phường Hiển bày đức nhân như lời xưa Phật dạy Sửa sang những thắng tích trở nên Quốc tự Phỏng theo lời xưa chép điển tích vào cửa Cầu mong đức Từ Ninh sống như muôn thủơ Khiến cho “đức” và “nhân” thấm khắp cả nước. Từ các chuông ngân thấu Đạo Nguyên Bồ đề rợp bóng khắp muôn miền Thị thành mở hội bồi thêm phước Phật pháp còn đây ứng cổ truyền Tu sửa cảnh xưa thành quốc tự Lời kinh chép lại đọng thâm uyên Cầu mong từ mẫu thêm muôn tuổi Cả nước dân lành trọn đạo nguyên. Dựng chùa tại chốn phồn hoa nom cũng phải Nhờ vậy mới biết trong động vẫn có tịnh Lúc đẹp trời xe ngựa dập dùi qua lại Đêm mát trăng soi đủ màu sắc hiện rõ Dưới trăng tiếng hát lồng xen tính tao nhã Lời kinh từ chùa vọng đưa tâm tiêu tôi Cùng với người dân vui hưởng cảnh thái bình Cần chi thêu dệt theo cung cách người Tàu. Hay thay chùa dựng chốn phồn hoa Trong động tịnh thanh ấy tuyệt mà Gặp buổi thuận trời xe ngựa viếng Trăng thu xen gấm lụa xen hoa Âm vang tiếng hát lồng tao nhã Nghe trọn lời kinh tội diệt mà Vui hưởng cùng dân cảnh thái bình Cần chi thêu dệt mệt thêm ra. Thiện là điều quý chúng ta phải lưu truyền Điều thiện xưa nay có đâu hại Vương quyền Tâm địa sáng ra khác nào một ngọn đuốc Trí tuệ thấu triệt như trăng soi khắp trời Tiếng chuông lọt tai, liền nhĩ căn viên thông Hương vị kinh văn hướng lòng người nhập diệu Tạo phước đức là nền tảng độ quần sanh Được vậy sắc tướng chân lý hiện vô biên. Lời hay việc thiện nên lưu truyền Việc thiện có đâu hại cửa quyền Tâm địa vươn lên đường sáng cả Trăng lòng trí rọi ngoại nhân thiên Tiếng chuông thấu lọt viên thông giác Hương vị kinh văn nhập diệu huyền Tạo phước xây nền độ tứ chúng Nêu cao chân đế rộng vô biên. Mở dây trở mái chèo từ biệt bến chùa Tiếng sóng vang vọng cứ xuyên qua khoang thuyền Tâm đạo sáng lên như tấm gương chiếu trời Lời kinh nghe rõ như đang gần bên Phật Thập nhị nhân duyên gợi lòng ta thêm sáng Thế giới ba ngàn hiện bày cả đó đây Về nơi bến Ngự khúc thương lang vừa dứt Sáng trăng chói rạng chở ngập cả mạn thuyền Bến chùa từ biệt trở quay chèo Như thể lời chuông cứ vọng theo Tâm đạo sáng lên gương chiếu tỏ Lời kinh thấu rõ thậm cao siêu Tam thiên thế giới bày ra đó Thập nhị nhân duyên đã thuận chiều Bến Ngự đến rồi tâm vắng bặt Đầy thuyền trăng chở sáng bao nhiêu. Nhà sư tị cốc Nhà sư họ Hứa, pháp danh Liễu Tánh, 5 tuổi đã xuất gia, trải qua nhiều năm sống đúng quy củ của thiền môn, lớn tuổi chu du khắp xứ, lúc 89 trú tại phương trượng chàu Diệu Đế, tiếp tục hành đạo một cách đặc biệt, khiên vua Thiệu Trị cảm phục, làm bài thơ lưu niệm. Được quả tốt do nhân lành đến thiền lâm Tuổi già như xích tùng vẫn rửa bụi trần Tự nhiên tự tại nhàn hạ như mây bay Không nhớ chẳng quên lòng sáng như trăng nước Chống tích trượng truyền đăng làu thông muôn pháp Ngày tháng lặng yên như trò tàn bếp nguội Hoa vàng trúc biếc vẫn đọng lẫn sắc không Còn nguyên y bát nhập diệu thấu chơn thuyên. Quả nên xinh đẹp cậy thiền lâm Tuổi hạc xích tùng chí thậm thâm Tự tại an nhàn mây cứ ruỗi Sáng như trăng nước vẫn vô tâm Khơi đen chống gậy truyền muôn pháp Ngày tháng yên lòng cứ lặng câm Trúc thấm hoa vàng không sắc ấy Còn nguyên y bát nguyện chơn tâm. Thiệu Trị năm thứ sáu, ngay tốt tháng 7. IV NGỰ CHẾ THI THIÊN MỤ CHUNG THANH THẦN KINH ĐỆ THẬP TỨ CẢNH Thiệu Trị Ngự chế Thiên Mụ chung thanh, thắng cảnh 14 kinh thành Huế. Chùa Thiên Mụ ngự trên đỉnh đồi cao vút, dưới chân đồi được bao bọc bởi một dòng sông uốn lượn. Đó là nơi hiển linh độc đáo, kết tụ tinh anh. Hình thù của dòng sông, như một con rồng quyện mình, quay đầu về phía thần kinh. Dáng điệu của các ngon đồi, như con mãnh hổ ngồi oai vệ trên đồi cao, nhìn xuống dòng Hương Giang bất tận. Tất cả được phơi bày như một pháp giới tạng, an tọa trên đóa sen khổng lồ, lồ lộ chơn thuyên muôn ngàn bối diệp. Dòng dõi Tiên vương mở mang bờ cõi, ứng điềm thần nữ thánh địa Thừa Thiên. Mọi thứ phước đức đều hàm ẩn tại linh địa này. Do vậy, nên Tiên vương đã xây dựng Phạm Cung, biến núi này thánh di tích thánh địa. Thánh ý của Tiên vương đã trọn đầy thiện duyên. Đọc kỹ văn bia ta sẽ thấy nền văn chương xán lạn, nghe rõ khánh chuông lòng vàng giác ngộ. Núi cao chùa cổ trấn thâm uyên Khác thể trăng rằm rọi trước hiên Trăm tám hồi chuông tiêu hết khổ Ba ngàn thế giới rõ tam duyên Chuông trưa giờ Ngọ u minh tỏ Mõ sớm giờ Dần Tịnh độ biên Phật tích thánh công trùm bốn biển Thiện nhân phước quả thiệt vô biên. Hân hạnh thăm chùa Thiên Mụ, sai Hoàng đệ Hoàng tử đốt hương đảnh lễ, cảm đề. Tánh thiện quý lắm thay Ai bảo thiện chẳng hay Khi nhân nghĩa thấm rồi Trí tuệ trọn đầy thôi, Phật đạo lưỡng túc tôn Thiền môn thêm diệu vợi Nhiệm mầu đệ nhất ấy Tam duyên sắc không vậy Bát-nhã đến bờ kia Bồ-đề phước quả tron Mây lành giăng núi biển Pháp hóa lợi nhơn thiên. Ngày ấy đang lúc rảnh rỗi, tôi tản bộ đến chùa, vừa vào tới, liền thấy mây lành giăng phủ khắp nơi. Sau giây lát trở lại triều ca, đã thấy mây đen đổ xuống một cơn mưa nguồn, liền cảm hứng đề thơ. Thăm chùa Thiên Mụ ngẫu đề Ngắm cảnh chùa xưa dấu tích truyền Đến nay hai kỷ bốn mươi niên Bồ-đề bóng mát che dân xứ Phật đạo hương thơm khắp mọi miền Long mạch xuôi theo vượng đế chúa Huy hoàng tháp vũ Thứu linh thiêng Thừa Thiên tích thiện lòng nhân nghĩa Phước quả vun bồi rạng tổ tiên Trung nguyên chùa Thiên Mụ Chiều nay thắng hội lễ Vu Lan Chư vị Tỳ-kheo đến đạo tràng Sóng gợn mây hồng lồng qua bửu tháp Gió lay chuông lộng tận đài trang Lọng tàng che phủ chơn sư đến Kiệu đón thiền nhân đáo bỉ ngàn Hoằng nguyện phước lành khắp các loại Nhiệm mầu Phật pháp độ dân bang. Vào tiết giao thời cuối mùa hạ đầu mùa Thu, gặp lúc trời nắng oi bức, rất ít mưa, lòng trẫm thương dân và hay để tâm lo lắng cho nhà nông, nên sai Nguyễn Trung Nghĩa làm quan Thừa phủ tại Thừa Thiên, hãy vận dụng tấm lòng chân thành, chí tâm thiết lễ vì dân cầu đảo xin cho một trận mưa. Đã vài ba lần cầu đảo tại miếu Hội Đồng, song chưa thấy ứng. Lòng tôi băn khoăn và nghĩ vớ vẫn rằng: Nếu nắng hạn kéo dài thêm nữa nhất định sẽ gây tổn hại cho vụ lúa mùa. “ Vì lấy dân làm gốc” nên lúc nào lòng tôi cũng lo lắng cho sự an lạc no ấm của dân. Ngày ấy, chùa Thiên Mụ vừa xây dựng bảo tháp Phước Duyên hoàn mãn, chư vị Hoàng tử chọn ngày 6 tháng này, cung nghinh kim thân đức Thế Tôn đăng bảo tháp van tụng kinh cầu nguyện. Thị vệ đại thần là Lâm Duy Nghĩa soạn thảo một văn sớ, sai hoàng tử nhỏ tuổi đem tới tôi xem. Đang lúc nóng lòng mong đợi trời mưa, tôi liền cầm bút viết lên sớ rằng: Hiện nay đang nắng hạn mùa Thu Khắp xứ mong cầu mưa cứu vụ Xin bủa mây lành cho dội nước Ngõ hầu linh sáng đấng thâm u. Lạ lùng thay! Quả thật ngay hôm ấy, ta thấy mây lành bủa giăng khắp xứ, chốc lát mưa giọt dầm dề! Mưa dầm dề mà không hề có gió mạnh, mát mẽ thấm cả bầu trời. Tận đáy lòng mọi người, ai cũng tỏ vẻ hân hoan vui sướng. Tiếp theo ta được nghe quan Lãnh doãn phủ Thừa Thiên là Nguyễn Văn Đức tấu rằng: Nhờ trận mưa to nước nhiều nên ruộng lúa dưới đồng, cũng như cây xanh trên rẫy đều tươi tốt như lòng dân ước nguyện. Tiếp theo ta được nghe chư vị quan chức thuộc bộ Công tâu rằng: Ngày hôm ấy thuyền bè vận tải từ nhiều nơi về kinh đô có gần trăm chiếc, dù gặp mưa lớn, song các thuyền chở đầy vật dụng ấy, vẫn vào cửa khẩu một cách bình yên, không hề bị gió to sóng lớn gây thiệt hại! Khi cầu mưa lòng ta chỉ lo nghĩ đến vụ mùa của nông dân, lo cho dân là điều căn bản. Song, khi được mưa, thì lại thấy mình còn thiếu sót. Vì rằng hằng ngày biết bao nhiêu thuyền bè chuyên chở; quan trọng hơn, biết bao ngư ông sống trên sông ngòi, biết bao ngư phủ lặng lội ngoài biển khơi! Bấy giờ tâm vọng tưởng lại tưởng tượng: Nếu như mưa to gió lớn, sấm chớp long trời…ắt sẽ có chuyện chẳng lành. Khi ấy lại tự mình cười mình, mang nổi lo buồn, chẳng khác chuyện người nước Kỷ. Cứ thế mà hồi hợp lo âu! Thật ra thì bấy giờ tận con tim ta nơm nớp chỉ lo hạn hán kéo dài làm khổ muôn dân, mà quên lẵng mất đi những gì liên hệ, chí thiết đề lên trên văn sơ như vậy. Khi viết mấy câu ấy như vậy, với một tấm lòng thành kính, ta thầm nguyện ân trên chiếu giám. Lạ lùng thay! Có cảm liền có ứng, chỉ trong giây lát, như bóng theo hình; như vang theo tiếng, lập tức mưa dầm dề, không hề có gió mạnh! Thiệt là Pháp vũ độ nhơn gian. Qua cơn mưa ta vô cùng cảm kích, liền làm bài thơ cảm tạ: Tháp báu bảy tầng mới dựng xây Lạc thành cầu nguyện ứng vào ngay Mây lành qua lại tuồng cao thấp Mưa thấm nhuận đều mát cỏ cây Cứu hạn giúp dân nhờ Phật lực Trời thương nông vụ thiệt vui thay Vạn cầu vạn ứng hằng như nguyện Nhất hiện nam mô Phật hiện đầy. Lên Phước Duyên cảm đề Lòng từ rộng mở đạo vô biên Bảy tạng Phù đồ tháp Phước Duyên Trong thấy nước non lòng giác tỉnh Gậy mầu phải có ngón tay giỏi Biển khổ chiêu linh tiếng đỗ quyên Tám vạn bốn ngàn sắc tức không Dân lành tháp diệu xứng lưu truyền. Hương nguyện Bửu tháp khánh thành lại tụng kinh Tiên nhơn tạo phước lợi quần sinh Cửa thiền rộng mở trời mây nước Bia tháp lưu truyền vạn đại minh Sắc tượng trang nghiêm Tam bảo tạng Pháp luân thường chuyển sáu trần tinh Đại thiên thế giới theo điều thiện Muôn loại nhơn hòa một tánh linh. Nhân trung nguyên tịnh tọa tự huấn, cảm đề Đạo hàm nhất lý lại chấp trung Pháp chẳng hai dòng vạn loại dung Hàn Dũ khá thương cô cản chúa Nguyên Hòa lại nhớ nợ huyền xung Nói suông về Phước thanh đô hội Xích Bích xưa rày mấy kẻ trung Vạn cổ nhân tình tuồng ấy cả Như Lai thuyết pháp “diệu” vô cùng. Thiệu Trị năm thứ sáu, tháng tư, ngày tốt. V ĐẠI VIỆT QUỐC VƯƠNG SẮC TỨ HÀ TRUNG TỰ HOÁN BÍCH THIỀN SƯ PHÁP KÍ MINH (Văn bia ngài Nguyên Thiều) Ninh Vương - Nguyễn Phúc Chu Bài minh và bài ký của Quốc chủ Nguyễn Phúc Chu hiệu Ninh Vương, khắc vào bia đá dựng tại chùa Quốc Ân, nói về ngài Nguyên Thiều, khai sơn chùa Quốc Ân và chùa Hà Trung tại Phú Xuân (Huế). Ta vâng mệnh trời đến với trăm họ để lo việc chăn dân. Canh khuya khi tiếng gà vừa gáy sáng, ta đã tung màn trở dậy. Canh cánh bên lòng, chẳng lúc nào tâm ta không ẩn hiện đường nét “chí thiện”. Nhìn lại quá trình của nước ta, từ khi khai quốc dựng nước đến nay, trên từ vua chúa quan quân, cho đến thứ sĩ nhân dân, đâu đâu cũng lập chùa dựng am, cung đón và đào tạo Tăng tài, cúng dường Phật tổ, mở rộng mọi phương tiện nhằm mục đích, khiến mọi người khắp trong thiện hạ sớm biết mà bỏ dần những tư tưởng cục bộ sai lầm, thiếu tinh thần xây dựng đời sống chung, (đốn phao) để nuôi dưỡng và thể hiện đức tánh thương người giúp đời, trong cuộc sống chung, bất luận làm việc gì cũng thể hiện đức tánh chánh niệm… (bằng niệm). Có như vậy mới mong xây dựng một xã hội mà mọi người trong ấy, ai ai cũng được sống thì an lạc và tràn trề hạnh phúc, khi thọ hưởng hết tuổi trời, đến lúc phải chết, thì thuận đời đẹp đạo (sanh thuận tử an). Và cũng bắt nguồn từ đó mà tiến hóa dần, bằng cách thầy trò đồng đạo, vua quan thứ dân, tất cả đều làm trợ nhân cho nhau, đều dắt dìu hướng dẫn khiến mọi người đều thấm nhuần đạo giải thoát, tất cả đồng hưởng hạnh phúc của “hóa thành cảnh giới”. Điều này đã có thiền sư Hoán Bích, năm Đinh Tỵ Ngài từ xứ Trung Hoa nương thuyền vượt sóng đến thẳng trời Nam. Bước sơ khởi, Ngài đã dựng tích trượng tai xứ Quy Ninh. Nơi đây, Ngài đã đã sáng lập ngôi chùa Thập Tháp Di Đà, làm phương tiện hóa độ quần sanh. “Sau khi mãn nguyện với xứ này”, Ngài lại băng đèo vượt suối tìm đến xứ kinh thành nước ta, chọn núi Phú Xuân lập chùa Quốc Ân và cạnh chùa còn xây một tháp Phổ Đồng. Kịp đến Thánh triều “Ngãi Vương” mạng lệnh nhờ Ngài trở về Quảng Đông, Trung Hoa, nghinh thỉnh ngài Trường Thọ Thạch Liêm Hòa Thượng, cùng một số tượng Phật và mọi thứ pháp khí quan trọng. Chuyến công du ấy, đi về tất cả đều hoàn tất và tựu thành công đức vô cùng to lớn. Từ đây ngài Nguyên Thiều trở lại Trú trì chùa Hà Trung, “Ngài an cư nhập thất ở đây một cách liên tục và thầm lặng”. Cũng từ đây, Ngài tạo cơ duyên quán chiếu nội tâm kiểm soát mọi tác dụng biến động của toàn bộ nội tâm, khiến tâm địa sáng tỏ và chiếu rọi một trạng thái sáng rực (hồi quan tự chiếu), soi thấu diệu lý nhiệm mầu, nắm bắt được thiệt tính huyền vi. Và cũng từ đây, Ngài tự hoàn bị chức năng kiến văn nhất tri tận nguồn tâm thức sau thẩm, để tự nội tâm đủ năng lực của thiền công và trí tuệ. Ngài tự cắt đứt mọi tâm niệm tà ngụy, tự tâm nối lại một cách liên tục mối đạo chơn thuyên tận đáy lòng, mở bày cho kể hậu học được tiếp tục thọ giới nối mãi dòng thiền, môn đồ tứ chúng tiếp tục vô cùng tận. Thiền sư sinh giờ Tuất, ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tý, con nhà họ Tạ, quê quán huyện Trình Hương, phủ Triều Châu, Quảng Đông, Trung Hoa. Năm 19 tuổi Ngài xuất gia với Hòa Thượng Khoán Viên tại chùa Báo Tư, nhận pháp danh là Nguyên Thiều, tự Hoán Bích. Từ ngày Ngài vượt thuyền lướt sóng đến nước ta, kể ra cũng đã năm mươi năm rồi! Qua năm Mậu Thân, Ngài nhuốm bệnh. Ngày 19 tháng 10, cho gọi đồ chúng, dạy bảo vài điều cơ duyên huyền diệu, dặn dò lưu lại vài điều ngụ ngôn kỳ bí! Lúc ấy Ngài cầm bút viết bài kệ: Tâm tịnh lắng như gương Sáng tinh không bóng lời Hàm vạn vật phi vật Mênh mông không chẳng không. Viết xong bài kệ, Ngài đoan nhiên thị tịch, pháp lạp 81 tuổi. Chư vị tể quan và môn đồ tứ chúng xây tháp Ngài ở xứ Cửa Hóa. Môn đồ đến cầu ta xin bài kí và bài minh. Ta “Nhân danh quốc chủ nước Đại Nam, ban thụy là: “Hạnh Đoan thiền sư”. Bởi vì, ta cũng muốn muôn đời về sau mọi người ai cũng noi theo gương Ngài Nguyên Thiều, mà nuôi dưỡng và thể hiện trọn vẹn đức tánh “thiện tâm” của đạo từ bi, ngõ hầu đem giá trị đạo tâm nơi quả vị “vô thượng Bồ-đề” của đức Như Lai mà ấn hiện trong cuộc sống, để mọi người đều chung hưởng cảnh giới thái bình. Và trong cảnh giới thái bình ấy, mọi người đều noi gương nhau mà tạo điều phước đức đến vô cùng tận. Suy tư theo chiều hướng ấy nên ta viết bài kí và bài minh. Minh rằng: Bát-nhã rạng soi Phạm hạnh ngập trời Trăng lồng đáy nước Giới định tuyệt vời Vẳng lặng kiêu cường Cô với vô thường Thấu triệt chơn không Giáo hóa hanh thông Mây lành che đủ Mặt trời rạng soi Người người chiêm ngưỡng Thái sơn vời vợi. Bài minh dịch tám chữ Trí tuệ Bát-nhã Ngài cao siêu Pháp tu Phạm hạnh tròn vạnh mọi điều Tâm, vô tâm, như trăng lồng đáy nước Giới định tuệ, siêu mực thước nhơn thiên Vẳng lặng cô thân chí khí kiên cường Vững lập như núi vượt cả biên cương Thấu triệt nguồn thẳm, tánh tướng chơn không Giáo hóa hanh thông gồm thâu muôn vật Đức từ bi, như mây lành sương thấm Tánh trí tuệ, sưởi ấm, vạn lòng dân Đời nay đơi sau, ngưỡng mộ chiêm bái Lồng lộng như non thái, mãi cứ gần. Bảo Thái năm thứ 10, ngày mồng 8 tháng 4, vua ban phụng lập. chùa Quốc Ân.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét