THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
TƯ TƯỞNG CÔNG ÁN CỦA TRẦN NHÂN TÔNG
MỤC LỤC :……………………………………..………………..…Trang
I). DẪN NHẬP :…………………………………………………………………..2
II). THIỀN TÔNG TẠI VIỆT NAM :…………………………………………….2
III). THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ :………………………………………3
IV). LƯỢC SỬ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG :………………………...3
V). NỘI DUNG CHÍNH :…………………………………………………………5
1). Cư trần lạc đạo: tinh thần siêu việt thế tục :…………………………………..5
2). Tùy duyên bất biến - chìa khoá mở cửa vào cuộc sống an lạc :……………...6
3). Chính người là Phật và nguyên tắc không - truy - tầm :………………………7
4). Trăng sáng giếng xưa hay thể tính tâm không cảnh tịch :…………………….8
5). Đôi nét về thiền công án :...............................................................................................9
6). Công án tu thiền của trần nhân tông :…………………………………………10
7). Học ở trần nhân tông :…………………………………………………………12
8). Sức mạnh của tinh thần Phật hoàng Trần Nhân Tông :………………………..12
VI). SUY NGHIỆM VỀ SỰ CHỨNG NGỘ ĐẠO THIỀN CỦA
VUA TRẦN NHÂN TÔNG :……………………………………………………..13
VII). KẾT LUẬN :…………………………………………………………………14
TÀI LIỆU THAM KHẢO :………………………………………………………..17
TÌM HIỂU NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CÁC CÔNG ÁN ( MỘT TRONG BỐN CÔNG ÁN) CỦA TRẦN NHÂN TÔNG ĐƯỢC GHI TRONG TAM TỔ THỰC LỤC ?
I). DẪN NHẬP :
Suốt dọc dài lịch sử cách nay thiên niên kỷ, ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT đã chứng minh sự có mặt của mình trong cuộc Sinh Hoạt Toàn Diện của dân độc, với mục đích chân hóa, thiện hóa, mỹ hóa nếp sống Việt Nam. Nhìn lại quá trình hơn một ngàn năm xã hội Việt Nam chìm đắm dưới sự thống trị của người phương Bắc thì, quả là mối duyên kỳ ngộ, Đạo Phật truyền vào nước ta, mở ra cho người Việt một lối thoát bằng ánh sáng của đạo lý Giác ngộ Giải Thoát và Tự Chủ; để từ đó tạo điều kiện nhân duyên cùng với lối sống của người Việt hình thành một nền VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT SÁNG, ĐẸP. Mà bản chất của nền văn hóa Việt Phật ấy được thể hiện rõ nét nhất qua hai triều đại văn minh Lý – Trần. (Quả tình) Đạo Phật đã có những cống hiến thực tế to lớn đối với tổ quốc Việt Nam, trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước: đánh giặc phương Bắc, dẹp loạn phương Nam, bảo toàn lãnh thổ và chủ quyền độc lập của quốc gia Đại Việt ở thế kỷ XI-XIV cũng như đã và đang là sứ mệnh "giải cứu sinh dân" đối với những quốc gia Phật giáo và toàn thế giới nhân loại. Đạo Phật vào Việt Nam bằng cửa ngõ hòa bình như vào nhà mình, không giống các đạo lý và ý hệ khác đến Việt Nam bằng cách phô trương ầm ĩ, sắt thép… Đạo Phật (sở dĩ) được toàn dân Việt nồng nhiệt đón nhận là vì tinh chỉ giáo lý Đạo Phật không bao giờ trái với sự việc nào, bất cứ ở đâu, hạng người nào, khi con người biết hướng về chân lý. Mà Đạo Phật là chân lý.
II). THIỀN TÔNG TẠI VIỆT NAM :
Phật giáo truyền vào Việt Nam từ rất sớm, trước cả Trung Quốc với trung tâm Phật giáo quan trọng tại Luy Lâu. Và theo đó, Thiền tông Ấn Độ cũng được truyền bá vào Việt Nam trước tiên, với các thiền sư như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, nổi danh tại Trung Quốc từ trước thời Bồ-đề-đạt-ma. Họ đều từng có nhiều năm tu tập tại Việt Nam trước khi truyền đạo tại Trung Quốc, chứng minh cho sự phát triển rực rỡ của Thiền tông tại Việt Nam ở thế kỷ thứ 2 và thứ 3.
Thiền tông Trung Quốc được truyền sang Việt Nam lần đầu bởi Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (毘尼多流支, ?-594), vốn đắc pháp nơi Tam tổ Tăng Xán (僧璨, ?-606). Sau đó, đệ tử của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải là Vô Ngôn Thông (無言通, ?-826) sang Việt Nam truyền tông chỉ Huệ Năng. Thiền sư Thạch Liêm (石溓, 1633-1704), tông Tào Động đời thứ 29, là người đầu tiên truyền tông Tào Động sang miền Trung Việt Nam. Người truyền tông chỉ Tào Động sang miền Bắc lần đầu là Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt (通覺水月, 1637-1704), pháp hệ 35. Tông chỉ của tông Lâm Tế được Thiền sư Nguyên Thiều (元韶, 1648-1728, pháp hệ thứ 33) truyền sang miền Trung lần đầu, và Chuyết Công (拙公, 1590-1644) Hoà Thượng là người truyền tông Lâm Tế sang miền Bắc. Vân Môn tông được Thiền sư Thảo Đường (草堂, thế kỷ 11), đệ tử của Tuyết Đậu Trọng Hiển truyền sang Việt Nam.
III). THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ :
Dầu ai quyết chí tu hành
Có lên Yên Tử mới đành lòng tu
Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một dòng thiền mang bản sắc của dân tộc Việt Nam, sức sống của nó đã vang vọng vào cuộc đời, thắp sáng ngọn đèn “phản quan tự kỷ”, đồng thời soi đường cho những ai còn lạc bước lợi danh. Từ trên đỉnh núi Yên Tử hùng vĩ, vẫn còn thoáng hiện đâu đó, một bóng người lặng lẽ lên núi, bỏ lại sau lưng những áo mão cân đai, thoát ra khỏi ngục tù hoàng cung, cắt đứt những buộc ràng của cung tần mỹ nữ. Thế rồi, giữa sự u tịch của cuộc sống núi rừng, giữa sự giá buốt của bầu trời đêm đông, vua Trần Nhân Tông đã tỏa sáng như vì sao, nhận ra chính mình rõ suốt xưa nay, từ đó làm nên trang sử thiền vẻ vang cho dân tộc.
Theo dòng lịch sử, chúng ta nhìn lại Phật Giáo Việt Nam hẳn thấy nổi bật một nét đột phá vô cùng thú vị – Một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc. Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng.
Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua, không hiểu về Phật giáo Việt Nam trong đó Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử, một của báu của dân tộc càng phải hiểu rõ!
IV). LƯỢC SỬ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG (1258-1308) :
Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 07/12/1258 (11/11/Mậu Ngọ), con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh. Thân hình Ngài có những đặc điểm khác thường, nhất là có màu vàng, nên được vua cha đặt cho biệt hiệu là Phật kim.
Lớn lên, năm 16 tuổi (1274), Ngài được lập làm Đông cung Thái tử và cùng năm Ngài kết duyên cùng công chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại Vương. Vua Trần Thánh Tông đã mời các bậc lão thông Nho giáo, Tứ thư, Ngũ kinh để dạy cho Ngài như Lê Phụ Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ Cố v.v… tất cả đều hết lòng dạy dỗ. Chính Vua cha cũng đã soạn Di hậu lục để dạy dỗ cho Thái tử cách xử thế, chuẩn bị nối nghiệp sau nầy.
Về Phật pháp, Ngài học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ, được Thượng Sĩ hết lòng hướng dẫn và trao đổi những yếu nghĩa Thiền tông. Ngài tâm đắc nhất là câu: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” (Quan sát lại chính mình đó là bổn phận, không do người khác làm được) và tôn thờ Tuệ Trung Thượng Sĩ làm Thầy. Ngài thường tới lui chùa Tư Phúc trong kinh thành để tụng kinh, tọa thiền, lễ bái Tam bảo.
Trước thảm họa ngoại xâm, quân Nguyên - Mông chuẩn bị xâm chiếm nước Nam. Năm 1282, Ngài chủ trì Hội nghị Bình Than để lấy ý kiến toàn dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Năm 1284, trước khi cuộc chiến tranh diễn ra, Ngài chủ trì Hội nghị Diên Hồng, lấy ý kiến các vị Bô lão, những người đứng đầu các Bộ lạc. Toàn thể hội nghị già trẻ, gái trai đều một lòng tung hô quyết chiến.
Với ý đồ bành trướng Phương Nam, tiến chiếm Chiêm Thành, làm bàn đạp thôn tính Đại Việt, Trần Nhân Tông lại một lần nữa lãnh đạo cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, với sự quyết tâm chiến thắng của toàn quân, toàn dân, Ngài đã chiến thắng quân Nguyên – Mông lần thứ hai năm 1288. Cảm hứng trước sự chiến thắng của dân tộc, Ngài đã làm hai câu thơ lưu lại:
“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông muôn thuở vững âu vàng”
(Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu)
Sau khi đất nước thanh bình, dân chúng an cư lạc nghiệp, Ngài đã củng cố triều đình, phủ dụ, đoàn kết toàn dân, xây dựng và phát triển đất nước trong thời hậu chiến. Với mục đích chủ hòa, Ngài đã bỏ qua những lỗi lầm đã có của quần thần cũng như thân tộc.
Năm 1307, Ngài truyền Y Bát lại cho Tôn giả Pháp Loa, lên làm Sơ Tổ Trúc Lâm và Pháp Loa là Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian đó, Ngài thường lui tới chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Duơng, Vĩnh Nghiêm Lạng Giang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng kinh, thuyết pháp và chứng minh các Lễ hội…
Sau khi truyền Y Bát cho Tôn giả Pháp Loa, Ngài tập trung biên soạn Kinh sách và Ngữ lục. Qua đó, Ngài đã để lại cho đàn hậu học một số tài liệu vô cùng quý báu như: Trần Nhân Tôn thi tập, Đại Hương Hải Ấn thi tập, Tăng Già Toái Sự, Thạch Thất Mỵ Ngữ, Trung hưng Thực Lục, Truyền Đăng Lục v.v….
Trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ Pháp Thân Thường Trụ qua sự trả lời cho thị giả hầu cận bên Ngài là Bảo Sát: “Tất cả pháp không sanh. Tất cả pháp không diệt. Ai hiểu được như vầy. Thì chư Phật hiện tiền. Nào có đến có đi” (Nhất thiết pháp bất sanh. Nhất thiết pháp bất diệt. Nhược năng như thị giải. Chư Phật thường tại tiền. Hà khứ lai chi hữu).
Sau khi thu nhặt Xá lợi, Xá lợi được chia làm hai phần, một phần xây tháp thờ ở Lăng Quý Đức phủ Long Hưng – Thái Bình; một phần xây tháp tôn thờ tại chùa Vân Yên – Yên Tử, Quảng Ninh, lấy hiệu là Huệ Quang Kim Tháp, dâng Thánh hiệu: Đại Thánh Trần Triều, Trúc Lâm Đầu Đà, Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Phật Tổ.
V). NỘI DUNG CHÍNH :
1). Cư trần lạc đạo: tinh thần siêu việt thế tục :
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Khi nghe đức Phật dạy: “... già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, ái biệt ly là khổ, oán tắng hội là khổ, cầu bất đắc là khổ...” thì chúng ta cũng thầm hiểu và trực nhận rằng: chưa già là hạnh phúc, không bệnh là hạnh phúc, còn sống là hạnh phúc và oán tắng không hội tụ, thương yêu không chia lìa, cầu mong được toại ý... là hạnh phúc. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải hiểu thêm rằng: những hạnh phúc, an lạc này mà chúng ta đang có là hết sức tạm thời và tương đối. Thường, lạc, ngã, tịnh hay niết bàn mới là hạnh phúc chân thật và tuyệt đối.
Cư trần lạc đạo (sống đời vui đạo) - Lạc ở đây là niết bàn tại thế, là niềm vui, pháp lạc, hạnh phúc chân thật, xuất phát từ nội tâm, từ sự trực ngộ được thể tính thanh tịnh của tự tâm. Nghe được đạo và hiểu được đạo mới chỉ là cấp độ đầu tiên; phải tu theo đạo, thực hành theo đạo thì từ đó mới thực chứng và cảm nhận được hương vị giải thoát, an lạc của đạo, gọi là lạc đạo. Lạc đạo chính là cảnh giới cao nhất của tu đạo. Tất nhiên, niềm vui đạo này sẽ giá trị và tuyệt diệu hơn, nếu nó được lớn lên và hiện hữu sống động giữa cuộc đời:
"Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc,
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công".
(Hội thứ ba)
Cư trần lạc đạo là minh triết siêu việt thế tục, là một phương châm sống, là khí phách siêu thoát, phóng dật của bậc trượng phu đã thật sống và thấm hiểu luận đề nổi tiếng: “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” của ngài Huệ Năng. Sống với đời nhưng vẫn vui với đạo hay vui với đạo nhưng vẫn sống với đời, người làm được điều này phải là bậc siêu việt thế tục, vượt lên thế tục, không mắc vướng thế tục, chứ không phải chán đời, trốn tránh cuộc đời. Đã sống trong thế gian, đã làm người thì không ai có thể thoát khỏi thế gian được, kể cả những bậc ẩn tu nơi thâm sơn cùng cốc. Phải thật sự hiểu đời thì mới có khả năng siêu việt vượt lên cuộc đời. Nhờ hiểu bản chất cuộc đời mà không bị thị phi, danh lợi của đời chi phối, đưa đẩy. Đồng thời, cũng nhờ thật sự hiểu đạo và đời thì mới tự tại sống trong bụi bặm trần ai và vẫn ung dung giữ vui niềm cao quý, trong sáng, lâu bền, chứ không vui cái vui tạm bợ, hư giả của cuộc đời. Những con người hào khí Đông A - anh hùng một thuở của Phật giáo thời Trần mà tiêu biểu là Trần Nhân Tông đều là mẫu hình Đời - Đạo song toàn như thế. Thế nên, có người đã ví Trần Nhân Tông bằng một hình tượng khá sinh động: con chim đại bàng vương có hai đôi cánh đạo và đời hoàn chỉnh, mạnh khoẻ và lộng lẫy lạ thường.
2). Tùy duyên bất biến - chìa khoá mở cửa vào cuộc sống an lạc :
Trên phương diện chân đế, đạo và đời tuy khác nhau nhưng cốt tủy chỉ là một, đều tựa một lý tính nhất như, bình đẳng. Nhưng trên bình diện tục đế, đạo là đạo, đời là đời mặc dầu khoảng cách giữa đời và đạo là không thể phân cắt. Đạo cần đến đời để duy trì, truyền thừa như dòng nước cần không gian để chảy. Đời cần đến đạo để có thêm sức sống như cây xanh cần đến nước để khỏi cạn kiệt, khô cằn. Đói ăn, khát uống, mệt ngủ là nếp sống quy củ, thường nhật của con người giữa chốn phù sinh. Dẫu là xuất thế, thì trong đời sống chân đế không thể thiếu đời sống tục đế. Thế nên, ai biết tùy duyên thì người đó dễ sống, ngược lại, không biết tùy duyên thì quả thật khó sống: "Cơ tắc xan hề khốn tắc miên".
Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu thế và làm được như thế. Đói ăn, mệt ngủ là chuyện nhỏ, chuyện dễ nhưng thật ra cũng không phải dễ chút nào. Thực tế thì những con người đầy thủ trước như chúng ta vẫn ăn không ra ăn, ngủ không ra ngủ; thậm chí, cố chấp hơn, đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ.
Tinh thần tùy duyên này hết sức giản dị nhưng đã gói trọn cái tinh yếu của đạo Phật. Cuộc sống là một dòng thiên lưu chuyển động bất tận. Tất cả vạn pháp đều do duyên sinh, duyên khởi tương tục và tương tác. “Chư pháp tùng duyên sinh, diệc tùng nhân duyên diệt”. Nắm vững chân lý này thì con người có thể sống tùy duyên tự tại. Tất nhiên, tùy duyên ở đây không phải là tùy duyên phi đạo lý hay một nếp sống phóng túng, thả nổi như lục bình trôi sông mà là tùy duyên bất biến, là sự tĩnh thức để tắm mát trong dòng chảy hiện sinh. Đó là con đường cư trần lạc đạo hay chìa khoá mở cánh cửa vào cuộc sống hạnh phúc, an lạc.
3). Chính người là Phật và nguyên tắc không - truy - tầm :
Tự tính thanh tịnh ấy chính là giác tính, ở Phật không tăng, ở chúng sinh không giảm. Người học đạo, hiểu đạo, tu đạo và đạt đạo sở dĩ có khả năng sống tự tại tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên là bởi vì họ nhận ra một điều đơn giản rằng Phật vốn là lòng thanh tịnh hay mọi người đều có sẵn tính giác mà nói như Phật hoàng Trần Nhân Tông trong thi kệ: "Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch".
Con người vẫn thường rong ruổi suốt theo cảnh trần hoàn để nhằm tìm kiếm và thoả mãn mong muốn nào đó. Còn mong muốn, còn ước mơ đối tượng chứng tỏ đối tượng đó chưa có mặt, chưa đủ. Bản chất của sự tìm kiếm là cảm giác thiếu vắng, khát khao. Tính ra thì con người đã và đang thậm chí sẽ tìm, luôn tìm nhiều thứ: tài, danh, sắc, thực, thụy, v.v... để thỏa mãn những bản năng, mong muốn trần thế của mình. Và trong những người xuất trần không phải là không có người cũng đang truy tầm những đối tượng mong muốn vi tế nơi chính mình như thần thông, trí tuệ, sự giải thoát hay những mẫu hình lý tưởng của mình như Thần Tiên, La Hán, Bồ Tát, Phật đà:
"Con đã đi tìm Thế tôn
Từ hồi còn ấu thơ
Con đã nghe tiếng gọi của Thế tôn
Từ khi mới bắt đầu biết thở".
(Nhất Hạnh - Tìm nhau)
Ngọc báu trong mình mà không biết đem ra tiêu dùng, cũng như Phật tính sẵn có trong mỗi chúng sinh mà không biết trau dồi tu sửa để lâu ngày bị bụi trần che lấp đến nỗi phải vất vả kiếm tìm, hay nói như dân gian: “Phật nhà không cầu, đi cầu Thích Ca ngoài đường”.
Thế nên, mọi sự tìm kiếm ông Phật từ bên ngoài sẽ là nỗ lực dã tràng xe cát, là việc truy tìm lông rùa sừng thỏ. Muốn tìm Phật thì hãy hướng vào bên trong mình mà cầu tìm Phật, hay nói đúng hơn, nhận chân mình chính là Phật. Khi đã nhận chân mình chính là Phật rồi thì chẳng còn vấn đề tìm kiếm thần thông, trí tuệ, sự giải thoát hay những mẫu hình lý tưởng của mình như Thần Tiên, La Hán, Bồ Tát, Phật đà nữa:
“Thùy phược cánh tương cầu giải thoát,
Bất phàm hà tất mịch thần tiên”.(8)
(Trần Nhân Tông - Sơn phòng mạn hứng)
Ý hướng tư tưởng tự mình trở về thực hiện lấy tự tính giác ngộ bằng phương pháp không đối tượng hóa tự tính giác ngộ ấy để chạy theo đuổi bắt của Phật hoàng nước Việt, với Nguyễn Lang chính là nguyên tắc không - truy - tầm trong thiền học đời Trần. Dĩ nhiên, sở đắc thiền học này cũng hoàn toàn xuất phát từ yếu chỉ “phản quan tự kỷ” của Tuệ Trung như Phật hoàng Trần Nhân Tông đã viết trong Thượng Sĩ hành trạng:
4). Trăng sáng giếng xưa hay thể tính tâm không cảnh tịch :
Tâm vốn không, cảnh vốn lặng, nhưng do con người cứ mãi quen theo sự chấp nhân thủ ngã khiến cho cảnh và tâm đều thành xao động, chướng ngại. Thế nên, con đường thiền học theo yếu chỉ “phản quan tự kỷ”, “phản văn văn tự tính” chính là con đường “vô tâm đối cảnh” để thật sự sống với con người thật của mình giữa cuộc đời duyên sinh giả hợp:
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền
Đối cảnh vô tâm có nghĩa là khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà tâm không khởi tham sân si ưu bi khổ não. Đối với ngoại cảnh, dù đẹp xấu, thuận nghịch, khổ vui…, tâm mình đều không dấy động hay căn trần không dính nhau, đó là căn cốt của thiền, chính là vô tâm thiền:
Bên ngoài xa lìa các tướng tức là thiền.
Bên trong không loạn tức là định.
Nội thiền ngoại định, nên gọi là thiền định.
Đúng như có người đã nhận định, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã định nghĩa Thiền một cách hết sức đơn giản: “Thiền là sáu căn đối với sáu trần mà tâm không dấy động”, là tâm không vọng động khi đối cảnh bên ngoài, là đối cảnh vô tâm hay căn trần bất nhiễm. Đến đây, chắc sẽ có gạn hỏi, vô tâm ở đây đã phải là đạo chưa?
Trở lại thi kệ yết hậu thu tóm những tinh túy tư tưởng thiền học của Cư trần lạc đạo phú, chúng ta thấy hiện rõ bốn vấn đề chính: cư trần lạc đạo, nhậm vận tùy duyên, gia trung
hữu bảo, đối cảnh vô tâm. Bốn vấn đề này tồn tại trong mối liên hệ duyên khởi, giải thích cho nhau, liên hệ với nhau không thể tách rời. Sở dĩ cư trần lạc đạo được là nhờ biết sống nhậm vận tùy duyên. Sở dĩ biết sống nhậm vận tùy duyên là do trong nhà đã sẵn có ngọc báu. Sở dĩ biết và nhận ra gia trung hữu bảo là vì luôn luôn vô tâm đối cảnh.
Hình thức nghệ thuật này cũng là một phương thức biểu hiện nội hàm khái niệm Thiền của tác giả thi kệ, đồng thời có thể trả lời rằng đối cảnh vô tâm ở đây đã trùng phùng với nội hàm “bình thường tâm thị đạo”. Bởi vì bản chất thiền tông Trúc Lâm Yên Tử là nhập thế tích cực. Phật giáo, đối với Trần Nhân Tông, là cuộc sống, với cuộc sống không có sự cách ly phân biệt. Nếu Phật giáo là một quá trình đi tìm chân lý thì chân lý ấy hiện hữu ngay giữa lòng cuộc đời trần tục đầy những hệ luỵ này. Sống đời mà vui đạo là cuộc sống thiền, chứng tỏ người đang sống đã trực ngộ và đắm mình trong chân lý một cách sinh động.
5). Đôi nét về thiền công án :
Trước hết xin nói rõ, ở đây chúng tôi không mong làm cái việc khờ khạo, nguy hiểm và đáng chê trách như là những kẻ cầm còi chạy trước đầu xe. Bỡi việc làm đó chẳng những vô bổ đã đành, mà còn có hại cho tự thân và những người can hệ, tức các bạn đồng tu và những người đang nghiên cứu về Thiền học, đặc biệt những người bắt đầu có hứng thú với pháp tham công án Thiền.
Có nghĩa là, tuy đề tài có liên quan đến Thiền, đến Đạo, nhưng nội dung của bài viết hoàn toàn không mong lý-giải ý Đạo, ý Thiền hòng thỗ mãn tham vọng hiểu biết không thấy chán của người đời, hay mong muốn lấp đầy tri thức sanh diệt cho sự tò mò của người học đạo. Những việc làm ngốc nghếch đó, trước hết chẳng đem lại ích lợi gì cho sự đạt ngộ của người thật sự cầu đạo giải thoát, cũng như chẳng dính dấp gì tới bản chất và mục đích tối thượng của công án.
Bỡi một sự thật quá rõ ràng là, công án là tinh ba cốt tuỷ của Thiền được vận dụng thành lời, thành hành động vượt thoát nhị nguyên nhơn quả, nên tự thân nó và công năng kỳ đặc của nó cũng không nằm ngoài bản chất thanh tịnh tuyệt đối, vô ngôn, "biết rõ ràng nói không thể tới" của Thiền học. Điều ấy có nghĩa, tuy nó cũng là ngôn ngữ, là hành động nhưng chúng ta không thể hiểu nó bằng tư duy, phân biệt hay suy lường, mà chỉ có thể thâm nhập nó, "biết" nó bằng trực giác. Thế nên những công án Thiền không phải là đối tượng để cho chúng ta có thể tiếp cận hay hiểu nó bằng cảm quan, tình thức, bằng học vấn, suy tư hoặc có thể mổ xẻ, lý giải bằng ngôn ngữ, văn tự theo cách hiểu thông thường. Nghĩa là những Thiền ngữ này, tức phương tiện khai thị của các Thiền-sư hoàn toàn chẳng giống như những bài toán, những luận đề hay là những lý thuyết khoa học mà con người có thể biện biệt, phân tích, luận bàn đúng sai phải trái, để rồi dẫn đến một kết luận tương đối hay cho ra một đáp án khả dĩ số đông chấp nhận được. Bản chất và công năng của Công án Thiền hoàn toàn không phải như thế.
Có nghĩa là, với tánh sáng tịnh-thanh "vô nhứt vật", dù chỉ mảy may khái niệm cũng không có chỗ đứng, không chỗ dính dấp tới cảnh giới Thiền, nhưng cũng ngay đây, đức Phật và tiếp nối sau đó là chư Tổ Thiền-tông đã vận dụng trí huệ giải thoát và sức biện tài không thể nghĩ bàn lên ngôn ngữ và hành động vượt thoát khái niệm nhị nguyên một cách tài tình để ứng dụng thành phương tiện độc đáo mà độ người. Đó là thứ ngôn ngữ, hành động xuất sanh từ cảnh giới tự chứng, vượt tri kiến, lìa đối đãi nhơn quả, có công năng vừa chặn lấp, đánh đổ, triệt tiêu toàn bộ mọi ngóch ngách có thể nghĩ ngợi, suy lường bằng thế trí của người đối diện, vừa kích thích sự phát huy mạnh mẽ tiềm năng trực giác, vừa cùng lúc biết khai mở lối thoát đúng thời điểm cho trực giác phóng xuất; ngay đó tánh thấy biết bổn lai bùng vỡ, cũng là hốt nhiên ngộ nhập bản thể .
6). Công án tu thiền của trần nhân tông :
Có thể nói công án thiền học của Trần Nhân tông nằm gọn trong hai câu ngắn ngủi mà đã dẫn ra trong “Công án Trần Nhân Tông I.
“Hiểu theo như trước là chẳng phải.“ Và :
“Mỗi lần nêu ra một lần mới“ø
Hai câu này nằm trong “Bài giảng tại chùa Sùng nghiêm“ :
“Một vị tăng hỏi :
Thế nào là Phật ?
Đáp :
Hiểu theo như trước là chẳng phải
Lại tiến lên hỏi :
Thế nào là Pháp ?
Đáp :
Hiểu theo lối trước là chẳng phải.
…Lại đứng lên hỏi :
Thế nào là Tăng ?
Đáp :
Hiểu theo lối trước lại chẳng phải.“
Cũng trong bài giảng này, trả lời câu hỏi của Thiền sinh :
Dùng công án cũ để làm gì ?
Đáp :
Một lần nêu ra một lần mới.
Công án này chở trọn tư tưởng chủ yếu của Trần Nhân Tông về vấn đề tri thức luận Phật học như là chìa khóa để đạt giác ngộ chân lý tuyệt đối, cưú cánh Niết bàn. Chúng ta biết rằng, sau khi nhập diệt, Đức Phật đã để lại cho hậu thế không gì khác hơn làsự tin chắc vào ngọn đuốc của trí tuệ qua chính thí dụ tuyệt hảo của ngài. Tư tưởng Phật học không dựa vào một đấng Thượng đế để được mặc khải chân lý mà dựa vào trí tuệ của con người để giác ngộ chân lý. Kẻ truyền thừa của Đức Phật có trong tay không gì khác hơn là chính tri thức mà con người thâu lượm được trong quá trình đi tìm chân lý giải thoát. Bậc thang thứ nhất để chuyển Pháp luân là bậc thang chánh kiến. Do đấy có thể nói lịch sử của triết học Phật giáo là lịch sử tri thức luận Phật học dù đó là tiểu thừa hay đại thừa Phật giáo.
Bài viết sẽ không đặt vấn đề đánh giá một Trần Nhân Tông lừng lẫy trong lịch sử Việt Nam, mà chỉ xét đến người sáng lập ra Thiền Tông Việt Nam đã nói gì với chúng ta với tư cách của một người Phật tử Việt nam trong việc chuyển đạt giáo lý của Đức Phật, và từ đó tìm hiểu ý nghiã tinh yếu của Thiền tông Việt nam.
Bài viết này cũng không đề cập đến những tham khảo về TNT vàThiền học Việt nam đã được các vị cao tăng cũng như các thức giả cao kiến uyên bác đã truyền giảng, nghiên cứu mà chỉ tập trung - như một cách quán tưởng - vào công án nói trên. Nói quán tuởng có nghiã là đi tìm chiều sâu, chứ không phải chiều rộng của vấn đề, đồng thời cũng có nghiã là vừa tìm vừa ứng dụng, vừa phân tích vừa tổng hợp – một phương pháp tri thức luận nhất quán của triết lý Phật giáo.
Triển khai công án :
Với hai câu ngắn gọn nói trên, có thể nói trọng tâm bài giảng của Trần Nhân Tông ở chùa Sùng Nghiêm đả động đến 3 vấn đề then chốt của tư tưởng Phật giáo trên hai lãnh vực :
1. Làm thế nào để đạt được chân lý (câu hỏi “Thế nào làPhật ?“) – mà đó là chân lý giải thoát .
2. và chân lý này được truyền đạt như thế nào cho người khác để người ấy có thể lý hội được trọn vẹn (vế đầu của câu trả lời “HIỂU theo lối trước“)
Hai khiá cạnh này thuộc vào lãnh vực tri thức luận và phương pháp luận : Học và hiểu, hay TRI THỨC. Tạm gọi ở đây TRI THỨC LUẬN TRẦN NHÂN TÔNG
3. Điều kiện cần và đủ cho sự thực hành chân lý giải thoát là gì ?
Câu hỏi này thuộc vào lãnh vực thực hành : Đạo đức học hay HÀNH ĐẠO hay ĐẠO ĐỨC.
7). Học ở trần nhân tông :
Trong lúc 1. và 2. nằm trong câu trả lời thứ nhất “Hiểu theo lối trước lại chẳng phải“, vấn đề thứ 3. liên quan đến câu trả lời “Mỗi lần nêu ra một lần mới“
Ba khía cạnh này bao gồm câu hỏi thông suốt cả lịch sử triết học từ đông sang tây, từ khi tiếng nói, ngôn ngữ được dùng để làm phương tiện truyền đạt : Làm thế nào TRI (lý thuyết) HÀNH (thực tế) hợp nhất ?Hay nói cách khác : Có thể có một tri thức toàn hảo mà khi con người nắm vững tri thức ấy thì sự thực hành toàn hảo trực tiếp xảy ra không cần có một mệnh lệnh bên ngoài sai khiến ? Đạo Phật trả lời CÓ với viễn tượng của một tri thức gọi là LIỄU TRI hay tri thức Bồ đề phân biệt với tri thức thông thường, và tri thức này – Kant sẽ gọi đó là tri thức khoa học theo nghiã hẹp là tri thức đúng thực, xác thực – chính là sự giác ngộ chân lý xảy ra đồng thời với sự giải phóng khỏi khổ đau, sinh tử, thực chứng niết bàn. Muốn đạt được TRI – HÀNH hợp nhất này Thiền sinh cần phải triển khai trí tuệ của mình như thế nào ? Đó là câu hỏi then chốt của tri thức luận PH Trần Nhân Tông.
1. Tri thức luận PH Trần Nhân Tông : Nằm trong truyền thống tư tưởng Phật học của thế kỷ 13, 14 Trần Nhân Tông chắc chắn đã quán triệt tứ diệu đế, lý thuyết duyên khởi, và lý thuyết giải thoát bát chánh đạo, theo đó tri thức toàn diện đúng đắn hay chánh kiến (chính có nghĩa là trung đạo, chứ không phải theo nghiã chánh tà ) là bậc thang thứ nhất để đạt đến chân lý giải thoát. Tam Bảo Phật Pháp Tăng là đối tượng tu học của người Phật tử tìm hiểu giáo lý rốt ráo để thực hành giáo lý. Do đấy bài giảng của TNT có đối tượng là tri thức Phật học. Đối tượng này được khảo sát từ hai góc độ : Học Phật Pháp Tăng và Hiểu Phật Pháp Tăng. Học như thế nào và hiểu như thế nào, đó là mục tiêu của bài giảng.
8). Sức mạnh của tinh thần Phật hoàng Trần Nhân Tông :
Ngài tọa thiền, tập định và viết sách ở Yên Tử vỏn vẹn 12 năm lại đã khai mở tâm linh, làm nên sức mạnh cho dân tộc Việt từ lúc Ngài còn ở ngôi báu, lãnh đạo dân ta đánh thắng giặc Nguyên, thể hiện chói sáng tinh thần nhập thế, giáo dân, thân dân, chăn dân, cùng hòa lẫn trong dân, tu nhân hành đạo. Đây chính là điểm cốt lõi trong triết thuyết "Phật tức Tâm" của Trần Nhân Tông. Trước năm Giáp Thân (1284) là quãng thời gian hòa bình kiến quốc, Ngài hành đạo với phương châm "Tam giáo đồng nguyên" để đem lại quốc thái dân an, nước nhà cường thịnh. Lúc này, cái tinh hoa của Nho giáo về Tu - Tề - Bình - Trị đã tôi đúc cho tâm của Ngài đạt đến độ chí nhân, chí thánh. Cái vi huyền trong Lão giáo, vi diệu trong Phật giáo về con người tâm lý, lấy giải thoát làm lý tưởng tối cao giác ngộ đã khiến Ngài và các đại thần, vương công quý tộc có đời sống tâm linh khoáng đạt, ôn hòa nên triều đình là một khối đoàn kết thống nhất. Trên bình diện xã hội, dân chúng theo triết thuyết của Ngài lấy Nhân - Nghĩa - Trí - Lễ - Tín điều hòa các mối quan hệ; lấy hạnh tinh tấn để giác ngộ tâm linh; lấy phép ứng xử Lục hòa làm phương châm hành động. Vậy nên nửa cuối thế kỷ XIII, dưới ảnh hưởng của triết thuyết Trần Nhân Tông, xã hội Việt Nam thanh bình an lạc, kinh tế phát triển là cơ hội tích lũy nhân tài, vật lực, chuẩn bị chống giặc…
Những bài học thực tế vừa nêu đã thôi thúc vua Trần Nhân Tông sau chiến thắng Mậu Tý (1288), đến năm Quý Tỵ (1293) bàn giao ngôi báu cho Trần Anh Tông, rồi sau đó (1294) lên núi Yên Tử tu hành, viết sách để hệ thống hóa triết thuyết của mình, khai sáng Thiền phái Trúc Lâm. 700 năm đã qua đi, nhưng dãy núi Yên Tử mãi mãi là đất địa linh bởi trong đó có hồn thiêng của Trúc Lâm Tam Tổ và triết thuyết Trần Nhân Tông bao trùm tỏa sáng lên từng mô đất, ngọn cỏ, cành cây, khe suối. Các thế hệ Việt Nam hành hương lên Yên Tử không chỉ để chiêm ngưỡng cảnh đẹp núi sông, mà còn để hồn mình khai mở theo triết thuyết Trần Nhân Tông, tìm thấy sự an bình, siêu thoát trong giáo lý đạo hạnh của Trúc Lâm Tam Tổ.
VI). SUY NGHIỆM VỀ SỰ CHỨNG NGỘ ĐẠO THIỀN CỦA VUA TRẦN NHÂN TÔNG :
Rõ ràng Trần Thái Tông được sử sách tôn vinh là vị vua anh minh, là thiền gia chứng ngộ đạo lý thiền từ bao đời nay. Ông là vị vua đầu tiên khai sáng ra triều đại nhà Trần, cũng là người có công đặt nền móng tư tưởng cho thiền phái Trúc Lâm ra đời. Nhà vua là người đã thực hiện hoài bão của mình kể từ ngày trở về kinh đô nắm giữ triều đình, nhưng vẫn chuyên tâm nghiên cứu kinh điển cả Phật giáo lẫn Nho giáo suốt gần 10 năm trời. Ông đã trực ngộ bản kinh Kim cương nhất là chỗ cốt yếu “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”.
Chính cái tâm “Ưng vô sở trụ “ mà kinh Kim cương nói đến đã khai mở trí tuệ Trần Thái Tông. Người hành giả phát tâm vô thượng Bồ đề nên không trụ vào sắc mà sinh tâm, không nên trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh tâm ấy. Tâm ấy là tâm vô thượng Bồ đề. Thực tế, một tâm không trụ chỗ nào hết là cái tâm chân thật, thanh tịnh khi hành tiếp cận các pháp trần khởi niệm giác tỉnh v6 ngã tưởng ngay giữa dòng đời. Về điểm này, thật phù hợp với kinh điển Nikāya mà Đức Phật tuyên thuyết qua tinh thần Tứ Niệm Xứ: “Chú tâm, tinh cần, tỉnh giác không trú vào bất cứ điều gì ở đời.”
Con đường đó trở thành kim chỉ nam để ông đi vào thế giới công phu thiền Quán. Ông khuyến cáo mọi người cần phải giữ sáu căn thanh tịnh khi tiếp xúc với sáu trần qua phương pháp thực hành sám hối. Trần Thái Tông biên soạn Lục thời sám hối khoa nghi để “tự làm lợi cho mình và làm lợi cho người”, mục đích là trở về cái tự tánh vốn thanh tịnh, không bị cấu nhiễm bởi các trần. Công phu thiền Quán theo Trần Thái Tông là phải giác tỉnh sáu căn thường xuyên khi tiếp xúc sáu trần thường gây ra các nghiệp tội lỗi. Điều đáng nói, các khoa nghi sám hối như Lương hoàng sám, Từ bi thủy sám của Trung Hoa đã truyền tụng trước đó, nhưng Trần Thái Tông vẫn trước tác ra khoa nghi sám hối riêng biệt, để khẳng định ý thức tự chủ của dân tộc về mặt thực nghiệm tâm linh.
Trên bước đường tiến sâu vào tuệ, công phu tọa thiền sẽ hỗ trợ làm cho định lực phát sinh, từ đó tuệ sinh khởi. Mỗi bước đi của việc tụng kinh, trì giới, tọa thiền là mỗi bước đi hướng vào miền đất an lạc. Hướng giải thoát theo Trần Thái Tông chủ trương là hướng theo chủ trương Giới, Định, Tuệ mà Đức Thế Tôn và các bậc Thánh đã đi qua: “ Phù học đạo chi nhân, duy cầu kiến tính. Tuy thụ kỳ nhất thiết trì giới nhi vô tọa thiền tắc định bất sinh” và “ Phủ tuệ giả sinh ư định lực. Nhược tâm định tắc tuệ giám sinh” (Người học đạo chỉ cốt thấy bản tính, tuy chịu tất cả mọi tịnh giới mà không ngồi thiền thì định lực không sinh và người có trí tuệ được phát sinh từ định lực, nếu như tâm định thì gương tuệ phát sinh.)
Do nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau, hiện chỉ còn một số văn bản như Thiền tông chỉ nam tự, Khóa hư lục, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca và một số bài thơ, kệ, phú của cácTổ sư Thiền phái này. Thông qua việc khảo sát các văn bản nói trên, chúng ta có thể nhận định các vấn đề lý luận, hành trì được đặt ra của Thiền phái nhất tông này, về cơ bản đều đồng nhất với quan điểm của tư tưởng Trần Thái Tông đưa ra trong Khóa hư lục.
Khi bàn về cảnh giới giác ngộ, trong bài Niệm Phật luận, Trần Thái Tông viết “ Tâm tức thị Phật, bất giả tu thiêm. Niệm tức thị trần bất dung nhất điểm, trần niệm bản tĩnh, cố viết như bất động, tức nhị Phật thân. Phật thân tức ngã thị thân thị, vô hữu nhị tướng. Tướng tướng vô nhị, tịch nhi thường tồn, tồn nhi bất tri, thị danh hoạt Phật.” Ý niệm là trần (bụi), không dùng một điểm nào ở trong tâm ấy, ở đấy vốn trong sạch bụi nhơ, cho nên bao giờ cũng như thế không vọng động gọi là như như, tức là thể của Phật. Thực thể Phật thế nào thì thực thể ngã như thế, không có hai hình tướng. Hình tướng và hình tướng không có hai, yên lặng còn luôn mà không biết, thế là Phật sống.
VII). KẾT LUẬN :
Trong bài viết này, chúng ta không đá động gì đến nội dung, cũng là tinh ba sống động của công án Thiền. Điều ấy có nghĩa là, chúng tôi đủ sáng suốt để biết rằng, không dại gì mà tự nhiên gây nghiệp oan gia cho chính mình, chẳng khác cầm còi chạy trước đầu xe như đã cảnh giác ở trên. Bỡi một điều quá dễ hiểu, là tự thân công án chẳng khác viên Ma-ni bảo châu sáng trong, óng ánh, tuỳ ở từng vị trí khác nhau của ánh mắt hướng về nó mà tự nó phản quang, chiếu diệu muôn màu muôn vẻ khác nhau. Không có tia sáng và mầu sắc của một góc cạnh nào giống tia sáng và mầu sắc của một góc cạnh nào, mà tự nó luôn luôn đổi khác, luôn luôn mới lạ, luôn luôn sai biệt nhau, tuỳ thời và điểm nhỏ nhất của từng ánh mắt hướng về nó. Cho nên chúng ta hãy cứ lẳng lặng, yên ổn, thong thả và kiên nhẫn mà ngắm nghía, chiêm ngưỡng nó trong từng mỗi góc độ nhỏ nhất; nếu biết đem hết thân tâm hòa quyện vào nó, miệt mài không rời lìa, không dừng nghỉ, cho đến một lúc nào đó tròn duyên, hạnh lành kia chuyển thành công đức, vâng, công đức, nhưng phải nói là công đức hy hữu mới xứng, tức bất giác tự làm "một" cùng nó. Tới chừng đó, nó chẳng còn là nó đối với ta nữa, ta cũng chẳng còn là ta đối với nó nữa, mà nó là ta, ta là nó, không phải hai, không phải khác mà là nhứt hợp tướng; nói nhất hợp tướng cũng chỉ là cách mượn ngôn ngữ để tạm gọi cái chỗ "một" tuyệt đối nói không thể tới, an ổn, tịch lặng, sáng trong, bất động, tuỳ duyên thị hiện khắp cõi ba thời, mà chợt nhìn lại, không chốn đi về.
Một khi tánh thấy biết bừng sáng, tức con mắt đạo học khai mở, thì tự mỗi người liền nhận ra cái thấy biết vừa khám phá đan xen với cái thấy biết thường tình trước đây,thông lưu vô ngại nhau. Cũng ngay đó, liền tự biết như thật, vạn pháp trước mắt và cả cái thân tâm đang động tay, múa chân, nghĩ suy, nói nín này, cũng như cái thấy biết thường tình trước đây đều là chỗ dụng, là cái bóng của tánh biết tuyệt đối . Tất thảy những sắc tướng mà một sát na trước, với con mắt và cái biết thường tình, ta cho là thật có, thì một sát na sau, bằng tánh biết tuyệt đối, tự biết như thật, tất cả đều như huyễn, như hoá, không phải thật có; thật tướng của chúng là không; tánh biết sáng suốt tuyệt đối mới là bản thể chơn thật, tự tại, phi sanh diệt, cũng là pháp thân thường trụ.
Lời nói và động tác có tính cách giáo hoá của những người vừa được khai thị, đều chân thật, vì nó xuất sanh từ tánh biết tuyệt đối, vượt lìa khái niệm, cũng tức là từ cảnh giới Thiền, trong trẻo, chơn như, vô ngã, vô sở đắc, vô sở trụ nên người bình thường khó cùng bắt nhịp, nghĩa là không sao hiểu được. Thế là đối với cái thấy biết của người bình thường, những lời nói, những hành động vượt thoát kia lại trở thành những công án .
Ngày xưa, thiền sinh học đạo may mắn hơn chúng ta ngày nay rất nhiều, đó là được chư Tổ Thiền-tông đắc pháp dẫn dắt trong các Thiền đường, trực tiếp, mặt đối mặt, nên số người đắc pháp, theo Thiền sử, cũng không phải nhỏ, bỡi đó là thời kỳ cực thịnh của Thiền học. Còn ngày nay, chúng ta chỉ biết dựa vào lời dạy của người xưa, được gọi là công án Thiền, tức tham học lại những thiền ngữ còn ghi trong sử sách, song song với việc nghiên cứu kinh điển Đại thừa, để tự tham tự tu là chính. Không biết cách tu học như thế có phải là Thiền-Giáo song tu như người ta thường nói đến chăng?
Đôi khi cũng có ngoại lệ, đó là những người may mắn hơn nhờ duyên phước sâu dày, có thể gặp được các bậc đắc pháp của Tông-môn này trực tiếp dẫn dắt, thì sự đạt ngộ có thể nhanh chóng hơn những người trên kia. Nhưng điều này phải nói là rất hiếm, vì các Thiền sư đến đi thường ít lưu dấu, nên cũng khó có cơ duyên để nhận biết mà cầu học. Có lẽ đó là tình trạng thật tế của Tông Thiền tại thời điểm này nói chung, cũng như pháp tu tham công án Thiền nói riêng chăng?
Chư Tổ đã tịch diệt nhưng tâm từ thương xót chúng sinh thì xuyên suốt không gian và trùm khắp ba thời, nên đã gìn lòng tốt lưu lại cho thế gian những báu vật vô ngần, tức những công án kia. Phận làm con cháu các Ngài, chúng ta nên biết trân trọng, giữ gìn cái vốn quí ấy như gìn giữ viên bảo châu Ma-ni, để luôn luôn được trong sáng, mới mẻ, lúc nào cũng tinh nguyên, không sức mẻ, hoen ố. Có làm được như thế, những hàng hậu bối tiếp bước chúng ta trên con đường tu học theo Chánh-pháp Nhãn tạng của đức Phật chắc chắn sẽ cảm kích và biết ơn chúng ta lắm lắm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
• Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam, TP HCM 1995.
• Nguyễn Huệ Chi (chủ biên): Thơ văn Lý-Trần, tập II, quyển thượng, Hà Nội 1988.
• Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận I-III, Hà Nội 1992.
• Viện Văn học. Thơ văn Lý - Trần, t.2. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.42.
• - Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập II, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980.
• - Ngô Thì Sỹ, Việt sử tiêu án, Ngô Mạnh Nghinh dịch, Sài gòn: Tự do 1958; Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập I, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980, tr. 2.
• - Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 196-205. Xt Nghiên cứu về Mâu Tử, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr. 37-54.
• Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Tập 1, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, Huế, 1999, tr. 234.
• Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Mâu Tử, Học Viện Phật Giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Hoá Sài Gòn, 2008, tr.9
• Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, tập 1, NXB TP. HCM, 2001
• Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Thực Hiện 1999, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét