THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
THIỀN SƯ HUYỀN QUANG
MỤC LỤC :
I). DẪN NHẬP :………………………………………………………………..2
II). THIỀN TÔNG TẠI VIỆT NAM :…………….……………………………3
III). THIỀN SƯ HUYỀN QUANG :.………………..……….…………………..4
IV). THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ……………………………………….5
V). NỘI DUNG :………………………………………………………………..6
1). Tính cách thơ thiền của ngài huyền quang :…………….…………………….6
2). Phong cách nghệ sĩ của thiền sư huyền quang :……….……………………7
3). Sự chứng ngộ của thiền sư qua các bài thơ thiền :……….…………………8
4). Sự tương tác thơ thiền với nhau của các vị thiền sư :………………………9
5). Sự giáo dục qua thơ thiền của ngài huyền quang :…………………………12
VI). KẾT LUẬN :……………………………………………………………….14
TÀI LIỆU THAM KHẢO :……………………………………………………..15
I). DẪN NHẬP :
Trải qua các triều đại, đạo Phật đều thể hiện nét riêng biệt đặc thù và cả trong ba yếu tố cấu thành của Phật giáo Việt Nam là Thiền tông, Tịnh độ và Mật tông cũng tuy từng thời điểm khác nhau mà thể hiện yếu tố này nhiều hay ít hơn yếu tố khác. Từ đó cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng có thể cho rằng con người và hoàn cảnh xã hội mỗi thời kỳ cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần quy định bản chất của Phật giáo Việt Nam. Trong lịch sử tuy rằng có những giai đoạn phát triển rực rỡ của Phật giáo, trong đó có yếu tố Mật tông vượt lên trên, với nhà sư nổi tiếng Từ Đạo Hạnh.... nhưng phải thừa nhận rằng trong suốt tiến trình lịch sử, Thiền tông vẫn là yếu tố, là giòng phái chủ đạo mang tính bao trùm, và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến mọi hoạt động của Phật giáo Việt Nam.
II/ Khi đề cập đến các thiền sư đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ai cũng thừa nhận đó là một trong những Thiền phái tiêu biển cho Phật giáo Việt Nam và Thiền tông. Do đâu triều đại này có được những mặt tích cực đó ? Tìm hiểu điều này cũng có nghĩa là nêu lên những đặc điểm của Thiền tông Việt Nam.
- Tính vô ngã, vị tha : Đây là một trong những tính chất mang tính tiêu biểu của Phật giáo, là mục đích nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân, là phương tiện chi phối mọi hoạt động. Vô ngã và vị tha là hai yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tùy thuộc vào nhau. Khi bản ngã còn thì không có được vị tha trọn vẹn. Ở những triều đại khác, nơi mỗi nhà tu hành, ít nhiều cũng có hai yếu tố này, nhưng đặc biệt đối với triều đại nhà Trần, là giai đoạn có sự thử thách cao, đối đầu với xâm lược có tầm cỡ trên thế giới, nên để đạt được mục tiêu chung, nhằm giữ gìn nền độc lập cho xứ sở, tính chất này càng được bộc lộ mạnh mẽ. Những đố kỵ, hiềm khích, ghen ghét nhau trong vua tôi tạm thời được gác lại, để tập trung vào mục tiêu chung, thì trong các Thiền sư, tính chất vô ngã, vị tha càng được thể hiện rõ nét qua câu nói của nhà sư trụ trì trên dãy Yên Tử (Quốc sư Trúc Lâm hay Phù Vân) khuyên vua Trần Thái Tông : "Phàm là đấng làm vua cai trị muôn dân, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình".
- Tinh thần nhập thế : Có "tâm vô ngã" thiền sư mới hòa mình trọn vẹn vào cuộc đời, không còn cái tôi nên không còn phân biệt hình tướng đạo đời, mới sống an nhiên, tự tại không thấy mình là nhà tu, là khác đời, và vì vậy mà không tạo thế xa cách. Tuệ Trung là một người đạo cao, đức trọng, được vua Thánh Tông khâm phục gọi là Thượng Sĩ (tức là Bồ Tát), khi hay tin giặc Nguyên xâm lược, ông rời khỏi thiền lâm ra trận. Vua Nhân Tông sau khi đổi pháp hiệu là Trúc Lâm đã đi "vân du, hành đạo" không còn mang tư tưởng mình là một vị vua cai trị muôn dân, ông đã thoát bỏ dễ dàng cái ta, đạt được tinh thần vô ngã nên mới có hành động vị tha, đi vào dân để kêu gọi hành thập thiện. Do vậy, nhập thế vào đời, điều kiện trước hết đòi hỏi ở người hành đạo, ở một thiền sư, là phải có tinh thần vô ngã, vị tha. Càng thể hiện trọn vẹn tinh thần này thì hành động càng mang lại lợi ích thiết thực. Tinh thần này còn được thể hiện qua cái nhìn và việc đánh giá cao về con người và vai trò của Tuệ Trung. Dưới con mắt của nhà Thiền, Tuệ Trunng được đưa lên tầm cao và được phá bỏ những dị biệt về hình tướng, không còn xét xem đó là một tu sĩ hay cư sĩ, là người đạo hay kẻ đời.
II). THIỀN TÔNG TẠI VIỆT NAM :
Phật giáo truyền vào Việt Nam từ rất sớm, trước cả Trung Quốc với trung tâm Phật giáo quan trọng tại Luy Lâu. Và theo đó, Thiền tông Ấn Độ cũng được truyền bá vào Việt Nam trước tiên, với các thiền sư như Mâu Tử, Khương Tăng Hội, nổi danh tại Trung Quốc từ trước thời Bồ-đề-đạt-ma. Họ đều từng có nhiều năm tu tập tại Việt Nam trước khi truyền đạo tại Trung Quốc, chứng minh cho sự phát triển rực rỡ của Thiền tông tại Việt Nam ở thế kỷ thứ 2 và thứ 3.
Thiền tông Trung Quốc được truyền sang Việt Nam lần đầu bởi Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (?-594), vốn đắc pháp nơi Tam tổ Tăng Xán (?-606). Sau đó, đệ tử của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải là Vô Ngôn Thông (?-826) sang Việt Nam truyền tông chỉ Huệ Năng. Thiền sư Thạch Liêm (1633-1704), tông Tào Động đời thứ 29, là người đầu tiên truyền tông Tào Động sang miền Trung Việt Nam. Người truyền tông chỉ Tào Động sang miền Bắc lần đầu là Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt (1637-1704), pháp hệ 35. Tông chỉ của tông Lâm Tế được Thiền sư Nguyên Thiều (1648-1728, pháp hệ thứ 33) truyền sang miền Trung lần đầu, và Chuyết Công (1590-1644) Hoà Thượng là người truyền tông Lâm Tế sang miền Bắc. Vân Môn tông được Thiền sư Thảo Đường (thế kỷ 11), đệ tử của Tuyết Đậu Trọng Hiển truyền sang Việt Nam.
III). THIỀN SƯ HUYỀN QUANG :
Thiền sư Huyền Quang (Giáp Dần 1254-Giáp Tuất 1334) tên Lý Đạo Tái, người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Gia Lương, tỉnh Hà Bắc. Theo sách Tổ gia thực lục, cha của ông tên Tuệ Tổ, có công đánh Chiêm Thành nhưng không chịu làm quan, sớm tối chỉ vui thú với sách vở và việc đồng áng. Mẹ ông là Lê thị(?), người hiền lành. Tương truyền, dung mạo ông xấu xí lại thêm cảnh nghèo khó, nên ông thường bị người đời hắt hủi, cả việc đi hỏi vợ nhiều nơi vẫn không thành. Nhờ tư chất thông minh, hiếu học; năm 20 tuổi, ông đỗ thi hương rồi năm sau đỗ đầu thi hội (theo Đăng khoa lục, Huyền Quang đỗ tiến sĩ năm Bảo Phù thứ hai, 1274). Đến lúc ấy, nhiều gia đình mới lân la để gả con, nhưng ông đều từ chối. Ông chua chát viết:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng, trăm nghìn nhân duyên
Kể từ đó, trên dưới 30 năm, ông làm quan tận tụy nơi viện nội Hàn. Từng phụng mệnh tiếp sứ giả phương Bắc, bởi ông thông thạo thư tịch, giỏi đối đáp, ứng xử… Một lần, ông theo vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phụng Nhãn dự buổi thuyết pháp. Nghe xong, ông chạnh lòng than:
…Phú qúi vinh hoa thích thú
Đáng lo như lá vàng mùa thu, mây trắng ngày hè
Sao ta có thể lưu luyến lâu dài được ?…
Nhờ nhà Trần rất sùng tín đạo Phật, nên sau vài lần dâng biểu xin từ quan để đi tu, ông được vua chấp thuận. Buổi đầu xuất gia khi đã 51 tuổi (1305), ông đến học đạo với thiền sư Bảo Phác nơi chùa Lễ Vĩnh. Sau ông theo Sơ Tổ Thiền phái Trúc Lâm là Điều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông khoảng 2 năm để giúp việc biên soạn kinh sách, được ngài hài lòng khen: “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn, khảo đính thì không thể thêm bớt được một chữ nào nữa”.
Khi Trúc Lâm viên tịch, ông theo Pháp Loa làm đồ đệ người thầy, cũng là Tổ thứ hai thiền phái, trẻ hơn mình đến 30 tuổi (Pháp Loa sinh năm 1284, mất năm 1330). Sau đó ông được cho về trụ trì chùa Vân Yên trên đỉnh núi Yên Tử, nơi phát tích dòng thiền Trúc Lâm. Hằng ngày ông giảng đạo, biên tập kinh …và gần như không còn liên hệ với chốn quan trường. Nhưng chỉ được một thời gian, ông xin về chùa Thanh Mai rồi chùa Tư Phúc ở Côn Sơn. Năm 1330, Pháp Loa viên tịch, ông được trao truyền làm Tổ thứ ba dòng thiền này, sau Trúc Lâm, Pháp Loa. Ông từ giã cõi trần tại Côn Sơn vào ngày 23 th. Giêng năm Giáp Tuất (1334) thọ 81 tuổi, được vua Trần Minh Tông ban thuỵ hiệu: Trúc Lâm đệ tam đại, Tự pháp Huyền Quang tôn giả.
Khi Huyền Quang được Pháp Loa chính thức trao truyền y bát, làm tổ thứ 3, kế thừa Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử (1330), năm ấy, Huyền Quang đã 77 tuổi. Tuổi cao cùng với cá tính vốn thích sống trong cô độc của ông, nên ta có thể chắc rằng, Huyền Quang đã phải miễn cưỡng nhận lấy trách nhiệm nặng nề này.
Theo Tổ gia thực lục trong Tam tổ thực lục thì từ nhỏ ông đã có khiếu văn chương, năm hai mươi tuổi đỗ khoa thi hương và năm sau lại đỗ đầu khoa thi hội. Được bổ dụng vào Viện Nội Hàn, từng tiếp sứ Bắc, rất nổi tiếng về ngoại giao ứng đối và chính trị. Nhưng không bao lâu ông một mực xin từ chức đi tu. Được người đứng đầu dòng thiền Trúc Lâm lúc bấy giờ là thái thượng hoàng Trần Nhân Tông bỏ ngai lên núi Yên Tử rất quý mến, giao cho Pháp Loa (vị tổ thứ hai) hướng dẫn học Phật. Về sau ông trở thành vị tổ thứ ba của dòng thiền này.
IV). THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ :
Dầu ai quyết chí tu hành
Có lên Yên Tử mới đành lòng tu
Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là một dòng thiền mang bản sắc của dân tộc Việt Nam, sức sống của nó đã vang vọng vào cuộc đời, thắp sáng ngọn đèn “phản quan tự kỷ”, đồng thời soi đường cho những ai còn lạc bước lợi danh. Từ trên đỉnh núi Yên Tử hùng vĩ, vẫn còn thoáng hiện đâu đó, một bóng người lặng lẽ lên núi, bỏ lại sau lưng những áo mão cân đai, thoát ra khỏi ngục tù hoàng cung, cắt đứt những buộc ràng của cung tần mỹ nữ. Thế rồi, giữa sự u tịch của cuộc sống núi rừng, giữa sự giá buốt của bầu trời đêm đông, vua Trần Nhân Tông đã tỏa sáng như vì sao, nhận ra chính mình rõ suốt xưa nay, từ đó làm nên trang sử thiền vẻ vang cho dân tộc.
Theo dòng lịch sử, chúng ta nhìn lại Phật Giáo Việt Nam hẳn thấy nổi bật một nét đột phá vô cùng thú vị – Một Thiền phái mang tên Việt Nam, với ông Tổ người Việt Nam, lại là một vị vua anh hùng của dân tộc. Đây là một chấm son trên lịch sử dân tộc nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng.
Chúng ta là người Việt Nam học Phật, quyết không thể bỏ qua, không hiểu về Phật giáo Việt Nam trong đó Thiền phái Trúc Lâm-Yên Tử, một của báu của dân tộc càng phải hiểu rõ!
V). NỘI DUNG :
1). Tính cách thơ thiền của ngài huyền quang :
Thơ Huyền Quang "thể hiện rõ phong cách Thiền gia an lạc, thanh thản, con người hòa đồng cùng tự nhiên", "là niềm cảm thông với những nỗi khổ vô hạn của nhân thế". Thơ Huyền Quang "bộc lộ mọi cung bậc của tâm trạng mình. Có vui, có buồn, có day dứt và có yên tĩnh ... song đậm nét hơn cả vẫn là nỗi buồn, là tâm trạng cô đơn''.
Có thể nói khởi đi của thơ bắt nguồn từ thi kệ. thiền sư huyền quang đều là nhà thi sỹ và là nghệ sĩ vĩ đại. Ở đây thơ được hiểu là sự tuôn trào không biên giới khi chọc thủng vào tận cùng đối tượng, đẩy nó bay bổng ra ngoài suy tưởng để vụt khởi. Chặng đường nầy không khởi đi từ ý niệm, bởi lẽ ý niệm không bao giờ rượt kịp theo đối tượng, có thể ý niệm phủ trùm và quyết đoán về một cái gì và điều ấy không hẳn là đối tượng. Khi đề cập về cái gì, tức còn đứng bên ngoài để nhìn ngắm, như vậy chỉ mới trông thấy bóng dáng giả hợp trãi dài của sự vật. Đây là lối mòn thông tục thường xuất hiện ở trong ta, nếu đứng từ ngoài thì làm sao trông thấy được bản thể linh hiện của từng hiện hữu? Nhất là những ý niệm được dựng nên từ sự suy tư trong ý niệm, thì kết quả sẽ trái ngược, vì trong ý niệm không có cái gì hoàn toàn bất biến, bản chất của nó vốn đong đưa biến hóa và không thật.
2). Phong cách nghệ sĩ của thiền sư huyền quang :
Thiền Sư Huyền Quang được kể như một nhà thi sỹ lớn trong nền thi ca Việt Nam và Phật Giáo, những bài thơ của ông phảng phất hương vị thanh thoát, chìm lặng trong vô cùng. Dưới đây bài thơ Hoa Cúc được ông sáng tác khi tuổi về chiều nhưng lời thơ hàm chứa sức sống linh hiện trào dâng.
Hoa cúc
Đường nhà Tưởng Hủ tre reo gió
Vườn cảnh Tây Hồ đẹp nét mai
Nghĩa khí chẳng đồng, tình chẳng hợp
Cúc hoa nở sáng khắp vườn ai
Ngàn sông không đủ thấm lòng già
Bách vịnh mai hoa vẫn kém xa
Đầu bạc ngâm hoài vần chưa ổn
Thấy hoa cúc nở rộn lòng ta
Quên thân quên thế thảy đều quên
Thiền tọa giờ lâu lạnh thấm giường
Trong núi năm tàn không có lịch
Thấy hoa cúc nở: tiết trùng dương
Cái phảng phất mênh mang chìm khuất trong vô cùng đó, được thi sỹ Huyền Quang đưa vào khung cảnh huyền nhiệm, khơi dậy vẽ đẹp muôn màu của hoa cúc. Huyền Quang yêu nhất là hoa cúc, đành rằng đã là thi sỹ ai lại không yêu hoa bao giờ? Nhưng đối với Huyền Quang thì khác, cung cách thưởng ngoạn và diễn tả về thơ cuả ông đều cách biệt. Ông vẫn tự thú" Lòng thơ qủa thật bối rối vì yêu hoa cúc"
Bài thơ này có thể ngài làm lúc ở trên hoa yên. Đây là tam niệm tu hành được trong sang, cái lặng lẽ đó không phải chỉ ở người mà ảnh hưởng luôn cả sự vật chung quanh. Người tâm an, muôn vật theo đó mà an. Nên nói lặng lẽ ngồi lâu lạnh cả thấu giường. như vậy thiền sưở núi, buông bỏ tất cả thân thế, cuộc đời, không còn bận bịu, không còn một niệm vương vấn. tâm thân và cảnh đều tịch tĩnh nên quên hết tháng ngày. Nhưng sỡ dĩ có nhớ được là do nhìn thấy hoa cúc trước chùa nở nên biết là tiết trùng dương.
Như cô gái e lệ mới bước vào tình yêu, có nỗi gì vương vấn, xa xăm không cất nên lời, đành yên lặng để từng nhịp yêu chớm nụ lặng lẽ bước qua tâm hồn. Nhưng với thiền sư thi sỹ thì nỗi lòng bối rối nầy khác hẳn, và không đơn thuần như sự rung động ở những thi sỹ, dù trạng thái vẫn như nhau. Bởi lẽ điều hẳn nhiên dù qua cách nhìn Huyền Quang như một thi sỹ đi nữa, thì những ẩn mang, cốt cách trong lòng của ông đều được hiểu như sự tác động linh hiện chìm khuất trong mỹ học của thiền. Nó phảng phất ,tràn gập dù cho những cảm xúc tột cùng của con người thi sỹ đơn phương nơi ông trổi dậy, cũng không thể tách rời ra. Những thiền sư là những nhà nghệ sỹ, được hiểu theo nghĩa không bận lòng và nếu có, thì cái vướng ấy khởi động cho thi ca tuôn trào, đâu đó bổng chốc đi vào hư vô quên lãng, để rồi chìm khuất trong tịch mịch cô liêu, chỉ còn lại lời thơ vang vang về nơi vô tận.
3). Sự chứng ngộ của thiền sư qua các bài thơ thiền :
Tuy nhiên, trong dân gian, những giai thoại, huyền thoại về Huyền Quang lại khá phong phú. Nó chứng tỏ Huyền Quang vừa là vị Tổ đáng kính, lại vừa là một con người còn khá trần tục, rất gần gũi với những người bình thường, do đã biết rung động thực sự trước vẻ đẹp của giai nhân!
Điều khác nữa, nếu không có những rung cảm tuyệt vời, gấp trăm ngàn lần những rung cảm thường tình, thì sẽ không bao giờ mở được cánh cửa giác ngộ và nếu không khơi dậy quả tim nhạy bén thì ta sẽ chết ngộp trong những thường nghiệm thông tục ở cuộc đời. Bởi lẽ, sự rung động tuyệt diệu chỉ được tìm thấy trong tận cùng của những vén mở, đập phá bằng những công lực khác. Đó là sự rung động trong tận cùng rung động, và để chết trong rung động, chỉ có lúc chết đó ta mới tái sinh ra một thứ khác, đó là sự rung động đã gạn lọc, còn laị tinh yếu, cốt tuỷ phủ trùm qua thời không. Từ đó ta xác quyết lại cung cách và sự huân trưởng trong những thiền sư thi sỹ, với bản năng thường nghiệm để dệt vần thơ, không lúc nào là không sống trọn vẹn minh mẫn trong từng hơi thở của đối tượng, một sự hòa nhịp, sống bằng sự sống nơi sự vật, từ đó biến thành ngôn ngữ thi ca, trải bày hương sắc ươm mật trong vườn hoa Thiền.
4). Sự tương tác thơ thiền với nhau của các vị thiền sư :
Với Huyền Quang cung cách ngồi ngắm hoa cúc nở, giống như khi ông ngồi thiền, tất cả kỳ bí và đi qua quá trình tư duy, chiêm nghiệm trọn vẹn hình hài, hương sắc của từng biến động. Những diễn biến ấy đều không thoát khỏi tâm thức, tuệ nhãn của ông. Trong Thiền điều quan trọng, không có đối tượng để thiền và người tu thiền. Với hoa cúc cũng thế, ông ngồi ngắm cho đến khi thấy người ngắm hoa và hoa hai thể ấy bổng nhiên hòa lại làm một, như đóa hoa vừa mới nở tung, hiển lộ trọn vẹn về thực trạng huy hoàng, chớp nhoáng phủ trùm lên thời không. Cách ngắm hoa của ông thật thú vị, hoa dưới sân người ở trên lầu, ông thắp hương trầm, mùi thơm thoang thoảng bay phảng phất, đưa hồn thơ quyện với đất trời, khơi dậy hình hài hương sắc của hoa, và ai đó đang từ từ đưa vẻ đẹp ấy chôn chặt, gõ vào tận cùng như một thứ công án, khơi dậy bản thể tịch nhiên, làm tan đi những lo toan vướng bận u sầu.
Đối với Huyền Quang, cúc là bạn đời muôn thuở, chỉ có hoa cúc mới làm cõi lòng lặng yên, điểm tô hương vị cho cuộc đời, và vơi đi những phiền lụy. Trong vườn đâu đó ông trồng toàn hoa cúc, ông đánh gía " so sánh với muôn hoa thì cúc đứng đầu". Phải chăng đó là một thứ công án không được chứng ngôn bằng ngôn từ? Tất cả tâm huyết và thân mạng, dồn hết để khơi dậy một cái gì, dù điều đó ngắm hoa, trồng hoa đều có thể trở nên giác ngộ. Nếu so sánh với những công án khác, nó ngang bằng với nhau. Điều quan trọng, kẻ dụng công có thành ý đúng mức hay không? Có vén mở thực tại bằng sự quật tung ở bên trong?
Khi Huyền Quang hái hoa, cung cách nầy tiềm ẩn cả khung trời thơ mộng triết lý, ông hất tung chứng bệnh thông thường ở trong ta, đó là luôn níu kéo nắm bắt những gì mình ham muốn, với ông thì khác hẳn.
"Phải đâu ham ngắm mà hái hoa
Muốn mượm màu xuân nguôi bệnh già"
(Chiết lai bất vị già thanh nhãn
Nguyện tá xuân tư ủy bệnh ông)
Một sự khác biệt không tách rời thực tại, ông đặt vào khung cửa hiện hữu trong muôn vàn cái không, hình ảnh ông nhắm đến, sự phân chia giữa có không, giữa gìa trẻ, hể còn thanh xuân màu hồng luôn ngự trị, khi gìa đến thì đong đầy héo hon, sầu mộng, sắp bước vào thế giới của ly biệt não nề. Mượn hình ảnh trên có phải ông muốn lật trái một cái gì? và điều ấy có phải sự tham đắm vào thời gian như hình ảnh của xuân và già? Chắc hẳn là không, bởi lẽ câu đầu tiên xác quyết vị trí rõ rệt trong ông rồi, không vì "ham ngắm mà hái hoa". Như thế phải chăng Huyền Quang vén mở cho ta bí quyết không thể nghĩ bàn của mùa xuân miên viễn ngự trị? Như cành mai bất diệt của Mãn Giác thiền sư mà ta đã bắt gặp:
"Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai"
( Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai)
Huyền Quang được kể như một nhà thi sỹ vĩ đại. Bài thơ được truyền tụng nhiều nhất là bài " Xuân nhật tức sự" dịch:
Giai nhân đôi tám ngồi thêu
Tử kinh hoa nở oanh kêu rộn ràng
Đáng yêu xuân ý muôn vàn
Mỗi lần đụng mũi kim vàng lặng thinh.
(Nhị bát giai nhân thích tú trì
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly
Khả liên vô hạn thương xuân ý
Tận tại đình châm bất ngữ thì)
Qua thi ca mặc dù ngài rất ít dùng thuật ngữ của nhà Thiền nói riêng và Phật giáo nói chung. Nhưng không thể vì thế, chúng không cho chúng ta một dấu hiệu nào khả dĩ nói lên tư tưởng siêu thoát, tự tại trong ngài. Mà ngược lại chúng nói rất rõ tiến trình kinh nghiệm kỹ thuật tâm linh của ngài nhằm gởi gắm lại người sau. Trước hết, bằng vào kinh nghiệm sống qua cuộc đời, khi còn là một sĩ tử, ngài đã nhận ra cái thế thái nhân tình qua hai câu thơ:
"Khó khăn thì chẳng ai nhìn,
Đến khi đỗ Trạng, tám nghìn nhân duyên."
Từ cái nhìn về nhân sanh quan, ngài thấy được cái bạc bẽo, bỉ ổi, chua chát của người đời, đến cái nhìn về vũ trụ, ngài bắt nhịp với cái thay đổi về vô thường qua mau trong cuộc sống, đã khiến cho cái cô đơn được nâng lên đến vô tận.
Từ cái nhìn này, đã đưa thiền sư đến một nếp sống mới “muôn duyên chẳng vướng” hay “một mảy nào lo”. Đó là nếp sống của ngài huyền quang từ nếp sống mới này thiền sư huyền quang đã thật sự tự tại trong cuộc sống. ngài hòa nhập vào bát cứ nơi đâu, với tâm vô phân biệt thì cho dù nơi đó núi rừng hoang vắng, song nước mênh mông, đôngf mông hoang dã hay b nửa, thì bất cứ đâu đâu chăng nửa, thì nơi đó không đủ khả năng làm vướng bận chân ông. Đây chúng ta hày theo dõi cuộc sinh hoạt phiêu bồng thường ngayf của ông, từ núi cheo leo ngút ngàn mây phủ.
Qua đây, thời gian không gian không còn nghĩa lý gì đối với thiền sư cả, cứ như thế mọi vấn đề không can hệ đến ngài, mặc dù ngài sống với chúng, nhưng tấm lòng ngài không bị chúng trói buộc, và ngược lại ngài cũng không trói buộc chúng, nhờ vậy mà cuộc sống của thiền sư trở thành tự tại giải thoát. Ngài viết:
bài thơ Sơn Vũ (chùa núi)
"Thu phong ngọ dạ nhất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la.
Dĩ hĩ thành thiền tâm nhất phiến,
Cung ma tức Phật vị thùy da."
Dịch:
"Gió thu chao động bức rèm khuya,
Nhà núi đìu hiu núp bóng cây.
Thiền đạt thôi rồi tâm một phiến,
Dế mèn rên rỉ gọi ai đây?"
Hình ảnh đẹp nhất sự thúc dục rộn rã của tiếng dế trong đêm trường như mời gọi, nhắn nhủ cùng ai. Từng cơn gió thu trổi dậy, mang mang lay động lướt qua là một hình ảnh não nùng và hàng hiên thững thờ, im lìm nghe đâu đây qua tiếng gió vi vu, nĩ non vọng về, như thận phận cuả kiếp người mãi luống trôi. Độc đáo nhất xuyên qua những cảm xúc thường tình đó, bóng dáng cô tịch của ngôi chùa im lìm gối lên cỏ may, xác quyết về một thực tại huy hoàng muôn đời vẫn thế, bất khả phân ly nơi dòng tâm,dòng đời, qua đó ta thấy mức độ chứng nghiệm nơi ông. Mặc cho phiến động ba đào, tâm ấy bặt yên không lay động, trạng thái nầy vô cùng tuyệt diêu nhờ sự hợp nhất thành một khối mà câu dưới của bài thơ đã phán quyết.
5). Sự giáo dục qua thơ thiền của ngài huyền quang :
Ở đây cho thấy rõ khi tấc cả chúng ta tu, tâm đã lắn đọng không còn một niệm thứ hai, đó gọi là một khối thì mọi cảnh chung quanh dù đẹp dù xấu. dù động dù tịnh cũng không có nghĩa lý gì đối với mình. Nếu là thi sĩ, nằm ở bãi cỏ nghe tiếng dế gáy rè rè thì nói dế ngâm sầu vì tâm họ hay nghĩ suy nên nghe tiếng gì họ cũng suy nghĩ.
Đây là giai đoạn tâm linh đạt đến chỗ tột cùng của Thiền sư Huyền Quang qua câu: "Dĩ hĩ thành thiền tâm nhất phiến"mà thuật ngữ thiền gọi là "Tâm vật nhất như." Giờ đây, không còn là chủ thể và đối tượng, không tâm và vật, không còn bất cứ chướng ngại ngăn cách nào giữa Thiền sư và cuộc sống, và ngược lại giữa cuộc sống và thiền sư, chúng đã trở thành một phiến. Cũng từ đó thiền sư Huyền Quang thỏng tay vào chợ phiêu bồng, và dường như ông đã quên hết tất cả mọi thứ trên đời này, cứ theo duyên mà sống.
Đây là nếp sống ĐƯƠNG-NIỆM theo nhà Thiền, ở đây ngài Huyền Quang chỉ biết sống trong hiện tại ngay trước mắt, còn những cái đã qua thì không còn nhớ nữa, hay việc gì chưa đến thì không khởi lên.
Cái đạt của Thiền sư là ở chỗ hồn nhiên trong cuộc sống, đó là lối thể hiện tâm vô phân biệt. Ở đây, chúng tôi xin mở ngoặc một tí. Nếu chúng ta đứng bên ngoài mà nhìn, thì tuy chúng ta thấy cai hôn nhiên do tâm vô phân biệt của các Thiền sư thể hiện, cũng giống như tánh hồn nhiên của tuổi thơ, nhưng thật sự cốt tủy bên trong chúng khác nhau xa. Cái hồn nhiên do tâm vô phân biệt của các Thiền sư thể hiện ra bên ngoài chúng câu hữu với giaỉ thoát, còn cái hồn nhiên của tuổi thơ chúng câu hữu với vô minh. Thế nên khi chúng ta đề cập đến vấn đề đó, thì phải hiểu chúng thể hiện theo chiều hướng nào, về hiện tượng hay bản chất? Kẽo không chúng ta sẽ bị ngộ nhận ngay về lối sống của các vị thiền sư.
Bài thơ Thạch Thất dưới đây mở rộng phương trời triết lý thơ mộng trong ông.
Nữa gian nhà đá lẫn trong mây.
Một mảnh áo lông trãi tháng ngày
Tăng ở trên giường kinh tại án
Lò tàn hương lụn mặt trời lên
(Bán gian thạch thất hòa vân trụ
Nhất lĩnh xối y kinh tuế hàn
Tăng tại thiền sàng kinh tại án
Lò tàn cốt đột nhật tam can)
Đẹp nhất và còn đó, nữa gian thạch thất lẫn khuất trong mây, trơ gan cùng tuế nguyệt và nữa kia chôn mình thật sâu trong lòng đất hoang lạnh, đếm thời gian lặng lẽ trôi qua, như một thách đố thâm diệu về thời không. Hình ảnh đẹp vẫn là "một mảnh áo lông trãi tháng ngày". Dù thời gian có trôi, dù cõi lòng tái tê hay ấm áp, ngày lai ngày qua, đêm laị đêm đến, vẫn không hơn không kém. Độc đáo hơn nữa hai câu cuối cuả bài thơ như hai điểm không cùng, tách ra ngoài vật thể. Nhưng cuối cùng ánh sáng cuả mặt trời, cuả giác ngộ tỏa chiếu, xô đẩy tất cả tàn rụi.
Huyền Quang là một nhà sư đồng thời là một thi sĩ có tiếng đời Trần. Thơ ông rất đậm chất trữ tình. Các nhà phê bình đời sau như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đều khen thơ ông "ý tinh tế, cao siêu", "lời bay bướm, phóng khoáng". Có lẽ con người thi nhân trong ông rõ nét hơn con người tôn giáo. Xung quanh thân thế ông có nhiều giai thoại khá hấp dẫn, đã trở thành những câu chuyện dân gian được lưu truyền rộng rãi, và cũng đã từng được nhà văn đương thời ghi lại dưới hình thức một truyện truyền kỳ, lý thú, đi vào kho sách vở nhà Phật từ nhiều thế kỷ nay.
Ngôn ngữ chỉ là phương tiện chuyên chở bóng dáng trãi dài của ý thức, khi ý tưởng bắt đúng cung bậc thơ sẽ tuôn trào. Nhưng ngôn ngữ không hoàn toàn khai mở đúng mức về thực trạng linh hiện ẩn mình trong từng hiện thể. Dù quyền năng của thơ có thể đưa sự vật đến ngưỡng cửa biến dạng, nhưng không có nghĩa truy tìm ra uyên nguyên, ban sơ, vô cùng của nó. Nếu chưa biến mình hòa cùng sự vật, sống và thở như chính nó, thì chẳng bao giờ tóm thâu được ý nghĩa chung cuộc. Khi nào còn vận dụng đến tri thức so đo, tính toán, sai biệt, chưa có cơ may lọt hẳn vào tận bên trong, chưa thể nhập vào vô cùng, ta vẫn là kẻ đứng ngoài cuộc chơi. Những gì còn đứng từ bên ngoài để nhìn, để ngắm thì sẽ không bao giờ tìm thấy được giá trị hiển nỡ của từng siêu thể vắng bặt ý ngôn.
VI). KẾT LUẬN :
Như vậy, nếu xét một cách hệ thống ở Huyền Quang từ hành vi, ứng xử, đến thơ ca, đều có một sự thống nhất không thể chia cách và theo một định hướng rõ ràng đến cái tuyệt đối. Những cái đó đều thuộc loại "ngoại cỡ" trong thời kỳ của ông, và có lẽ không chỉ trong thời đại của ông!
Từ ông nảy sinh ta nhiều truyền thuyết, huyền thoại, chẳng những trong dân chúng, mà cả trong giới có học, đỗ đạt cao và nắm giữ các chức vụ lớn trong xã hội trước kia. Và có nhiều cách bình luận.
Thơ, không phải sự khởi đi từ ý niệm móng động. Nhờ vận hành phục hoạt của đối tượng đẩy thẳng, đập vào khiến nguồn thơ chợt trổi dậy, bởi lẽ những dong ruổi của nó không còn khoảng trống để đối tượng có thể xen vào ngự trị. Trừ khi sự dừng lại để nguồn thơ xuất hiện, điều nầy càng tố giác chính đối tượng là môi năng khiến thơ vụt khởi. Tuy vậy hai thể đó không tách rời ra để tồn tại, hoặc phải bám vào một trong hai lối. Thông thường nương vào ý niệm để bài thơ hình thành, điều nầy diễn tả phần nào về đối tượng và hẳn nhiên không hoàn toàn biến thành đối tượng, nếu không vứt đi quan niệm khởi đầu. Chỉ khi nào đạt được sự thể nhập vô cùng của tâm cảnh, cuả trong ngoài, có không, của bất nhị, nó mới trỗi dậy làm cuộc lên đường về nơi vô tận.
những bài thơ ngài Huyền Quang để lại, đã cho chúng ta một cái nhìn đúng về ngài hơn. Nghĩa là trong con người của ngài Huyền Quang qua thi ca chúng mang hai sắc thái: Một thiền sư và một thi sĩ, con người thiền sư trong tư tưởng và con người thi sĩ qua hình thức thi ca, nhưng nếu nói cho cùng thì hình thức chuyên chở tư tưởng, và tư tưởng quyết định hình thức, chúng không phải là hai, nhưng chúng cũng không phải khác. Đó là một trong những đặc điểm mà ngài Huyền Quang đã sử dụng trong thi ca của ông, nó mang tính tâm linh độc đáo của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO :
• Thích Thanh Từ: Thiền sư Việt Nam, TP HCM 1995.
• Nguyễn Huệ Chi (chủ biên): Thơ văn Lý-Trần, tập II, quyển thượng, Hà Nội 1988.
• Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận I-III, Hà Nội 1992.
• Viện Văn học. Thơ văn Lý - Trần, t.2. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.42.
• - Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập II, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980.
• - Ngô Thì Sỹ, Việt sử tiêu án, Ngô Mạnh Nghinh dịch, Sài gòn: Tự do 1958; Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập I, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980, tr. 2.
• - Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 196-205. Xt Nghiên cứu về Mâu Tử, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr. 37-54.
• Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Tập 1, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, Huế, 1999, tr. 234.
• Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Mâu Tử, Học Viện Phật Giáo Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Hoá Sài Gòn, 2008, tr.9
• Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, tập 1, NXB TP. HCM, 2001
• Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Thực Hiện 1999, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét