THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

THIỀN SƯ TOÀN NHẬT

HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM Tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM Môn học VĂN HỌC PHẬT GIÁO THỜI LÊ-NGUYỄN Đề tài tiểu luận “Thiền đạo và vẻ đẹp văn chương trong một số tác phẩm của thiền sư Toàn Nhật” ( NHÓM BỐN ) Giảng viên hướng dẫn sinh viên thực hiện GV. TS : NGUYỄN CÔNG LÝ THÍCH LỆ DANH Điển : thế danh : NGUYỄN THANH SANG TP. HỒ CHÍ MINH 2012 THIỀN SƯ TOÀN NHẬT “ Thiền đạo và vẻ đẹp văn chương trong một số tác phẩm của Toàn Nhật thiền sư ” I. DẪN NHẬP : Toàn Nhật là một trong những nhà văn, nhà thơ lớn của lịch sử văn học dân tộc ta, là một nhà tư tưởng có những quan điểm độc đáo đầy sáng tạo đối với lịch sử tư tưởng việt nam. Kho tàng văn học cổ điển việt nam chưa bao giờ có một nhà thơ nhà văn để lại một số lượng lớn tác phẩm bằng tiếng âm như Toàn Nhật. Là một nhà tư tưởng lớn, bởi vì Toàn Nhật đã nêu lên trong thời đại mình những luận đề hết sức mới mẻ và táo bạo, liên quan tới vấn đề chống quân, vấn đề lao động và bản chất của các vấn đề nhân đạo và chiến đấu đây là những luận đề mà ta rất hiến gặp, nếu không nói là chưa bao giờ gặp trong tác phẩm của lịch sử tư tưởng Việt Nam. Cuối cùng, là một vị thiền sư đặc biệt của lịch sử Phật Giáo Việt Nam, bởi vì Toàn Nhật ta sẽ thấy Phật Giáo đã được tiếp thu như thế nào qua bản lĩnh và yêu cầu khách quan của dân tộc ta. Đã được nhào nặn trong thực tiễn Việt Nam nhuần nhuyễn tới mức nào. Tác phẩm của Toàn Nhật sẽ cho ta thấy trong vường hoa muôn màu của tư tưởng Phật giáo, người dân Việt qua Toàn Nhật đã lựa chọn và chấp nhận những bông hoa nào. Chắc chắn có một số người sẽ lập luận rằng, Phật giáo dù sao cũng chỉ là một hiện tượng văn hoá đến từ nước ngoài, nếu Phật giáo vạch ra một lý thuyết rồi đứng ra chỉ đạo cuộc vận động đó thì tất nhiên Phật giáo cũng mang một ý đồ áp đặt một nền văn hoá ngoại lai lên đầu lên cổ dân tộc Việt mà thôi chăng? Phật giáo đúng là cũng từ nước ngoài du nhập vào, như Khổng giáo vào Lão giáo chẳng hạn, nhưng sở dĩ Phật giáo thành công là vì: “Phật giáo khiêm tốn khép mình, không lên tiếng dạy đời, không bắt người Việt Nam bỏ hết phong tục tập quán bản địa, mà vẫn tiếp thu quá khứ của người Việt, uốn nắn quá khứ đó lên để biến thành hiện tại có lợi cho cả hai. Cho nên người Việt Nam chấp nhận Phật giáo như là một yếu tố bản địa và không xem là phần tử ngoại lai. Những người ngoại quốc đến Việt Nam như các nhà sư Ấn độ, Chiêm thành, Khang Cư đều cũng phải khép mình vào văn hoá Việt, yêu thương đất nước Việt như đất nước họ. Quan hệ đó dần dần tự kết chặt họ vào mảnh đất này và Việt hoá họ.” Sự đau đớn thống khổ của dân tộc và nhân loại kéo dài trong suốt thế kỷ 20 vừa qua bắt buộc chúng ta phải đi đến một sự khẳng định mạnh mẽ rằng, một cuộc xâm lăng ồ ạt bằng quân sự của một cường quốc khổng lồ vào một quốc gia nhỏ bé nào đó, tất nhiên phải gây ra đau khổ và tang tóc cho dân tộc đó rồi. Nhưng sự đau khổ tang tóc vì bạo lực không nguy hiểm bằng sự đau khổ, tang tóc do nọc độc của chủ thuyết hay giáo điều cuồng tín gây ra, vì một lý do dễ hiểu là quân chiếm đóng bằng bạo lực không thể nào ở mãi trên đất nước mà họ chiếm đóng được. Còn ý thức hệ hay giáo điều cuồng tín thì có thể ở lại lâu dài trong tâm hồn của những kẻ bệnh hoạn, những kẻ khát khao quyền lực. Những kẻ này sẽ cấu kết lại với nhau để thực hiện cho bằng được cuồng vọng của mình bất chấp sự thống khổ của đồng loại. II. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP : Cuộc cách mạng Tây Sơn vĩ đại nổ bùng lên như một cơn thủy triều lớn cuồn cuộn quét sạch mọi rác rưởi thối tha, san bằng mọi cẳn trở trên đà tiến lên của lịch sử, giải phóng sức sống dân tộc từ lâu đã bị trói chặt vào hệ ý thức phong kiến phản động. Cho nên, trong thời kỳ đầy bão táp cahcs mạng đó, nhiều khuôn mặt anh tài đã xuất hiện, làm rạng rỡ truyền thống oai hùng của ông cha ta, làm vẻ vang tiến tăm của đất nước, và mãi mãi là niềm tự hào bất diệt của dan tộc, trong đó có cả hình ảnh của Toàn Nhật. Với sự sụp đỗ của nhà Tây Sơn, một lần nửa hệ ý thức phong kiến rữa nát lại ngóc đầu dậy, trở nên chuyên chế hơn trước, cương quyết loại trừ và phá hoại không nhân nhượng những thành quả mà cuộc cách mạng Tây Sơn đã thực hiện được. Toàn Nhật là ai ? tài liệu liên quan đến Ngài thì rất hiếm hoi. Chúng gồm thứ nhất là bài vị của Ngài thời tại chùa Phổ Quang, thôn Phổ Trạch xã Phước Thuận huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Bài vị này cũng đã lâu nên khoogn thấy rõ lắm. không ghi pháp danh pháp hiệu của Ngài. Và vẫn còn ghi lại nagyf tháng năm mất của Toàn Nhật, đây là tìa liệu quí giúp cho ta biết niên đại của Ngài rất chính xác. Chúng ta còn phát hiện thêm long vị của Toàn Nhật thờ ở chùa Phổ Đà, lonh vị này vào năm 1974 là long vị riêng biệt chỉ ghi tên Húy của Toàn Nhật, nhưng không ghi niên đại. thật ra lng vị này được thình từ một ngôi chùa tàn phá trong chiến tranh và đem về tôn thờ ở chùa Phổ Đà. Long vị này đã cho biết pháp tự là Vi Bảo. ngoài pháp hiệu Quang Đài. Lối đặt pháp tự này là một đặc trưng của dòng thiền Chúc Thánh của thiền sự Minh Hải Pháp Bảo ( 1670-1754 ). Thiền sư Toàn Nhật, “là một nhà văn, nhà thơ lớn của lịch sử văn học dân tộc ta, là một nhà tư tưởng lớn, có những quan điểm độc đáo đầy sáng tạo đối với lịch sử tư tưởng thế kỷ 18, và cũng là một vị Thiền Sư đặc biệt trong lịch sử Phật giáo Việt Nam” Nhưng “cho đến nay, tên tuổi và sự nghiệp của ông đã bị chìm vào quên lãng”. III. NỘI DUNG : 1). Văn chương trong thơ thiền của thiền sư toàn nhật : Trong tác phẩm Tam giáo nguyên lưu ký, đã cho ta thấy sự thông thái và uyên bác của Toàn Nhật về ba Tôn giáo chính của dân tộc ta là Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo. Trong đoạn cuối của tác phẩm, Toàn Nhật đã cho biết vì sao ông đã trở về với Phật giáo: Ta xưa cũng dự Nho gia Mười hai tuổi học đến ba mươi rày Hỏi thăm năm bảy ông thầy Không ai tỏ đặng tánh trời huyền môn Tông nguyên uẩn áo thánh nhân Cũng là Chân Lạc hạo nhiên đề truyền Sau ta đầu học phép Thiền Thuở ba mươi tuổi vậy liền xuất gia Duyên lành may gặp thầy ta Người thương chỉ thị thoát nhà tử sinh Thiền môn khăn khắn tu hành Bốn mươi ba tuổi tánh lành chút thông. Soạn làm một kệ mừng lòng Để cho người thế cũng đồng xem coi. Vậy là đến ba mươi tuổi thì Toàn Nhật mới xuất gia. Trong Xuất gia vân, Toàn Nhật cho biết sở dĩ ông xuất gia trễ như vậy là vì phải phụng dưỡng cha mẹ già: Xưa còn ân nặng cù lao Vậy nên nấn ná ra vào dưỡng nuôi Là chỉ sau khi cha mẹ đã khuất núi rồi, thì Toàn Nhật mới thực hiện chí nguyện xuất gia học đạo mà có lẽ ông đã ôm ấp từ lâu. Thảo thân nay đã khẳm rồi. Tay giơ gươm tuệ chân lui thị thành. Dường như trong các tác phẩm văn học cổ điển của Phật giáo Việt Nam chưa có câu nào diễn tả được chí nguyện xuất gia học đạo một cách hoành tráng như câu của Toàn Nhật. Cũng theo lời tâm sự của Toàn Nhật trong Tam giáo nguyên lưu ký thì đến: “Bốn mươi ba tuổi tánh lành chút thông”, thế có nghĩa đến tuổi 43 thì Toàn Nhật mới đắc Pháp. Vậy Toàn Nhật đã đắc Pháp với ai? Và ai là vị thầy của Toàn Nhật? Và vị thầy của Toàn Nhật đã đắc Pháp nhất định phải là một bậc đạo sư đầy thông tuệ, nên Toàn Nhật mới nói về thầy mình một cách tuyệt đối qua 2 câu: Duyên lành may gặp thầy ta Người thương chỉ thị thoát nhà tử sanh “Căn cứ từ Quang tự sa môn Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm Thiền Sư xuất thế nhân do sự tích chí” thì Toàn Nhật là một trong 28 vị “Pháp truyền đăng” của Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm. Nói cách khác, ông là một người đệ tử đắc Pháp với Pháp Chuyên Luật Truyền Diệu Nghiêm, do đó phải xuất gia với vị thiền sư này” Trong Hứa Sử truyện vãn, Toàn Nhật đã nhiều lần nói đến con đường đi lên đầy khó khăn và nguy hiểm: Cheo leo non nước xa đàng Quyết lòng cầu đạo gian nan chẳng từ Và một đoạn khác : Chí tôi muốn tới lâm tuyền Quyết phương tịch cốc liệu đường tử sinh Thân người như bọt lênh đênh Nắng không dời gót, ắt đành mắc mưa. Khi đọc những câu sau đây cũng trong Hứa Sử truyện vãn, chuáng ta có cảm tưởng là Toàn Nhật đã ghi lại niềm thanh bình của nội tâm mình khi sống tại những ngôi chùa như Linh Phong và Từ Quang: Ba năm ẩn chốn non xanh Đói no chẳng quản, rách lành chi nao Bốn mùa cảnh vắng thanh tao Chim kêu tiếng Pháp, suối xao máy Thiền Nhiệm màu khuya sớm luận bàn Mặc khi vui ngắm hoa vàng trúc xanh. Đối với Toàn Nhật yêu núi non rừng thẳm cũng có nghĩa là yêu luôn sự từ bỏ. Cho nên ta chẳng lấy gì làm lạ, hễ khi nào Toàn Nhật nhắc đến những con người đã can đảm vứt bỏ những lợi danh những hạnh phúc mong manh của cuộc đời để lên đường đi tìm con đường tuyệt đối thì cây bút của Toàn Nhật luôn luôn làm ta bồi hồi xúc động. Đây là Nhan Hồi trong Tam Giáo Nguyên lưu ký : An bần lạc đạo thanh tao Đẫy cơm bầu nước chẳng nao chẳng nài Sang giàu dong ruỗi mặc ai Đạo mầu chân tánh hôm mai trau dồi. Nhưng nói đến từ bỏ, nói đến vứt bỏ để ra đi thì dễ, và ai cũng có thể ba hoa được, nhưng thực hiện được ước mơ đó như Nhan Hồi như Lục Lỗ Huệ Năng đã thực hiện thì vẫn là một điều thiên nam vạn nan với những con người vẫn còn đang mê ngủ trong đêm dài tối tăm trên cuộc đời này. Toàn Nhật ý thức được điều này, nên trong hai câu thơ cuối trong Thiền Cơ Yếu ngữ vãn, Toàn Nhật đã thống thiết kêu gọi: Có bi có lực có hùng Mới đủ sức dùng vượt biển trèo non Nhưng mặc dù Diệu Nghiêm cũng như học trò của mình là Toàn Nhật đã “Biết giàu sang là một trường ảo mộng” và đã quyết định “bắt chước những bậc cổ nhân kia” rồi quyết định từ bỏ để “sống ở núi khe mà học đạo”. Nhưng trong những tác phẩm của mình Diệu Nghiêm và Toàn Nhật đã chứng tỏ là những nhà truyền giáo đầy bản lĩnh, không chấp nhận “khuôn vàng thước ngọc” do truyền thống đã để lại mà đã công khai một cách can đảm đặt ngược lại vấn đề. Ví dụ trong tác phẩm Tam Bảo biện hoặc luận Diệu Nghiêm dám nêu lên những hoài nghi cũng như thắc mắc mà ta đoan chắc rằng bất cứ ai cũng đã ít nhất một lần thắc mắc và hoài nghi như: “Từ xưa đến nay, người chết thì làm Phật sự để dâng cho vong linh, nhưng có ai thấy họ thoát khỏi địa ngục mà sanh lên thiên đàng đâu. Phải chăng đó là sự bày vẽ đối trá của các thầy tu” Con người từ nhiều thế kỷ nay, luôn luôn phải sống trong sự nghịch lý, nghĩa là lúc nào cũng mơ ước một cuộc sống ngày mai sẽ tốt đẹp hơn ngày hôm nay. Chính vì thế, nên mới có nhiều tôn giáo, nhiều ý thức hệ, lý thuyết ra đời để đáp ứng sự khát khao muôn thưở đó của con người. Nhưng đau đớn thay, tôn giáo nào, ý thức hệ nào cũng muốn chứng minh rằng chỉ có tôn giáo, lý thuyết, ý thức hệ của mình mới đáp ứng được nỗi khát khao ấy của con người, nên đã thi đua nhau “tô hồng” cho tôn giáo và ý thức hệ của mình. Hậu quả hiển nhiên là, hiện nay một phần của nhân loại lại đang là nạn nhân thê thảm cho cái “màu hồng” mà các tôn giáo và ý thức hệ tự tô vẽ rồi dùng quyền lực bắt buộc con người phải chấp nhận “màu hồng” do chính họ tự tô vẽ ấy. Đức Phật đã thấy được rằng, mọi cực đoan đều nguy hiểm, ngay cả cực đoan về những điều tốt lành nhất cho chính cuộc đời đi nữa thì cũng đều là những tai hoạ giáng xuống cho con người. Bởi vậy, thông điệp đầu tiên mà Đức Phật muốn gởi đến cho thế giới cực đoan này là: “Này các Tỳ Kheo, có hai cực đoan (antà) mà hàng xuất gia phải từ bỏ.” Và Đức Phật cũng xác quyết rằng chính vì ngài đã từ bỏ hai cái cực đoan (antà) ấy nên Đức Phật mới đạt được trí tuệ siêu việt (abhinnàya) và đưa đến sự an tịnh (vupasamàya). Hai Tỉnh Bình Định và Phú Yên, và giáo sư đã phát hiện được nhiều tác phẩm của Diệu Nghiêm và Toàn Nhật ở hai tỉnh này. Và nhờ thế, tôi mới biết được rằng, Diệu Nghiêm là vị Thiền sư đã khai sáng ra chùa Đá Trắng Từ Quang ở quận Tuy An tỉnh Phú Yên, đã viết nhiều tác phẩm bằng Hán văn, trong đó nổi tiếng nhất là Tam Bảo lý hoặc luận, và học trò là Toàn Nhật lại viết hơn 20 tác phẩm bằng chữ Nôm, trong đó có tác phẩm Hứa Sử truyện vãn, mà nghe nói một thời đã được Phật tử cũng như nhân dân ở các tỉnh Nam Trung Bộ đọc nằm lòng để ngâm vịnh, giống như người dân ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ngâm nga Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu vậy. Nhưng Nguyễn Đình Chiểu thì may mắn hơn Thiền Sư Toàn Nhật nhiều, vì trong khi ngâm nga thì ai cũng biết Lục Vân Tiên là của Nguyễn Đình Chiểu, trong khi Hứa Sử truyện vãn thì gần như là một tác phẩm khuyết danh, chẳng ai bận tâm đến tác giả của nó cả. Bình Định và Phú Yên là hai tỉnh mà hầu hết người dân đều sinh sống bằng nghề nông. Làm lụng vất vả quanh năm, hết cày sâu cuốc bẩm ở đồng án thì lại phải vào rừng để phát rẫy hoặc đốn củi. Có phải chính từ vùng đất nghèo khổ và cơ cực này mà Toàn Nhật mới đủ điều kiện để dựng lên những nhân vật chính trong Hứa Sử truyện vãn, của mình chăng? Đồng thời có người thế gian Vợ chồng Đào Thị nghèo nàn khó khăn Hái rau bán củi nuôi thân Cửa nhà cực khổ truân chuyên. Chồng đi làm mướn tay sần lưng chai. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là dù nghèo khổ nhưng những nhân vật trong tác phẩm của Toàn Nhật lại tràn đầy tình thương và nhân nghĩa. Nói cách khác, họ chỉ nghèo khổ về vật chất nhưng lại rất giàu sang về tấm lòng. Ta hãy nghe Toàn Nhật tả lại hai vợ chồng Đào Thị này bàn bạc với nhau nên nhịn bớt miếng ăn để lên chùa thăm viếng vị thầy đã quy y cho họ: Vợ chồng năn nỉ cùng nhau Những điều khổ não thần sầu quỷ thương Chồng đi làm mướn bốn phương Nhà nghèo con dại ghê đường xót xa Đặng chị nhịn miệng bớt ra. Kính thầy đã sau mà mới ăn Thương thầy chẳng quản xa gần Nhớ thời lại viếng chưa từng lãng quên. Nhưng Toàn Nhật không phải chỉ ngồi yên trong chùa tụng kinh gõ mõ mà tưởng tượng ra đời sống lam lũ cơ cực của người nông dân đâu, mà chính bản thân Toàn Nhật cũng đã nỗi trôi theo nỗi cơ cực ấy từ những ngày đầu mới xuất gia với Thầy là Thiền sư Diệu Nghiêm, trong Xuất gia tối lạc tỉnh thể tu hành vãn, Toàn Nhật viết : Mỗ nay Sãi ở tha hương Tới đâu ngụ đó cũng nương nhờ làng Xuất hành chen học theo ông Cả Biết lấy chi mà trả ơn nhau. Rồi trên bước đường hoằng pháp độ sinh nỗi cơ cực ấy vẫn không chịu buông tha : Lần hồi ăn bữa đói bữa no Áo nhờ tín thí một hai nhà Chập chùng vá tấm lành tấm rách Cơm y bồ dầu kẻ cúng theo phận theo thời Canh cốt đổng mặc người cho chẳng từ chẳng hổ. (Thơ Bà Vãi) Đôi khi vị Thiền sư thi sĩ của chúng ta cũng cố gắng tự khôi hài với chính mình về những nghịch cảnh khó khăn trên bước đường du hoá đã gặp phải: Ngồi tựa cột như thầy bói ế Buồn quy y các chúng ăn mày Lại sẵn giường những bạn hàng quen Dụ thế phát mấy con kẻ cắp. Dù có cố khôi hài, cố che dấu những thất bại đau đớn do nghịch cảnh, chúng ta dường như vẫn cảm nghe được một nỗi xót xa cay đắng nào đó trào ra từ cõi thơ của Toàn Nhật, trong Bát Nhã ngộ đạo văn, ông viết : Bữa rau muối đã an phận khó Cũng hơn người bán chó treo dê. Chính vì Toàn Nhật đã sống và đã chịu đựng nhiều vất vả và cơ cực như một người nông dân chính hiệu, nên khi Toàn Nhật muốn trình bày giáo pháp của Đức Phật cho người nông dân chân lấm tay bùn, ông đã sử dụng một cách rất thành thạo thứ ngôn ngữ của người nông dân để người nông dân có thể lãnh hội dễ dàng điều ông muốn trình bày. Ví dụ, khi Toàn Nhật muốn nói cho người nông dân hiểu rằng, không phải ngẫu nhiên mà năm nay lúa thóc vào đầy nhà, mà đó là kết quả tất nhiên của những cố gắng từ năm trước : Dữ lành họa phước máy trời Ví như trong đời nông nghiệp cày gieo Năm trước khó nhọc dãi dầu Ắt là lúa thóc năm sau vào nhà Thường năm thêm giống gieo ra Lúa thóc trong nhà chẳng biết bao nhiêu Nếu mà không biết nối gieo Ngồi ăn hết giống nhà đều cơ nguy Người đời ít biết xét suy Nên hư muôn việc đều quy cho trời. (Hứa Sử truyện vãn) “Ví như ruộng màu mỡ mà có người gieo giống cày bừa, tuỳ sức nhiều ít thì năm sau tất có được lúa. Mỗi năm trồng gieo thêm, dần dần trở thành tiểu phú, trung phú. Sau đến nỗi của cải lúa thóc tràn dư, tất trở thành đại phú trưởng giả. Nếu lúa thu được năm rồi, năm tới ngồi ăn, thì chắc chắn sẽ hết lúa, đến nỗi phải bán hết ruộng đất mà không khỏi đói khát ly tán” . Và từ ví dụ công việc đồng án của người nông dân trên, Toàn Nhật cảnh giác giới tăng sĩ rằng: “Nếu không siêng năng tinh tấn, mà buông lòng nhác nhớm, thì khi sự may mắn đời trước đã hết, không khỏi việc bán Phật pháp để nuôi thân, đời sau rớt vào ba đường, khó gặp được Tam Bảo. Đó tức gọi là các Thầy gieo giống ruộng tốt vậy” Đó là những lời Toàn Nhật giảng giải cho giới nông dân cũng như tăng sĩ nông dân về luật nhân quả của Phật giáo, thứ quy luật mà Toàn Nhật đã khẳng định là, ngày mai tốt hay xấu đều do mỗi người trong chúng ta tự quyết định lấy chứ chẳng ai có thể thay thế chúng ta quyết định cả: Nhân quả chẳng chạy hào ly Muôn việc tóm lại đều quy ở người (Hứa Sử truyện vãn). Và trong Tam giáo Nguyên lưu ký, Toàn Nhật cũng khẳng định lại như vậy: Phải mà giữ của bo bo Đời nay một miếng chẳng no lọ giàu Chẳng bỏ mà luống vọng cầu Mình không cày ruộng thóc đâu vào nhà. Khi giảng giải về đạo lý vô thường (anitya) cho giới nông dân, Toàn Nhật cũng sử dụng những sự vật hay cảnh vật mà người nông dân có thể trông thấy mỗi ngày. Trong Hoán Tỉnh Trần Ttâm Khuyến Tu Tịnh Độ vãn: Thân này lấp lững cheo leo Cây bờ giây giếng có bao lâu dài. Trong Thiền cơ yếu ngữ văn: Xem giàu sang ví bằng mây nổi Gẫm lợi danh dường đổi mưa dông. Và trong Tam giáo Nguyên lưu ký: Ví như sương dính ngọn cây Bọt xao trên nước, phút giây thấy gì. Mặc dù mộc mạc dễ hiểu nhưng không vì thế mà cõi thơ của Toàn Nhật rơi vào tầm thường hay sáo ngữ: Máy quang âm lướt thôi hơn nhíp Người trăm năm chẳng khác chiêm bao Cõi bờ này sóng bủa lao xao Cái danh lợi gẫm như bọt nước. Đó là bốn câu trong Bát Nhã Ngộ đạo văn, bốn câu mà tác giả TNQĐ đã cho là: “Có một nhận thức sắc bén về sự thật của cuộc đời”. Nhưng những cụm từ như “cheo leo”, “cây bờ giếng”, “mây nổi”, những “mưa dông”, “sương dính ngọn cây” hay “bọt xao trên nước”… dù rất dễ hiểu đối với người nông dân, nhưng dù sao thì những hình tượng ấy cũng đã sử dụng nhiều trong kinh điển, trong thi kệ của các Thiền sư và đặc biệt nhất là trong thi ca. Nhưng trái lại trong Khuyến tu hành quốc ngữ phú Toàn Nhật lại nhắc đến cái chợ hay quán khách để chỉ cái vắng vẻ heo hút của kiếp người và của cuộc đời: Thân đời dường quán khách vào ra, đi rồi lại đến. Việc thế như chợ đông xao xuyến, hợp ắt có tan. Mỗi lần có dịp đi ngang qua chợ Đèo gần Chùa Viên Quang ở Phú Yên, tôi lại thấy những cái chợ quê nghèo xơ xác ở vùng này vẫn tiếp tục hợp và tan mỗi ngày, dù Toàn Nhật đã ra đi gần hai thế kỷ rồi, và chắc sẽ chẳng bao giờ trở về đứng nhìn cảnh hợp rồi tan của chợ đời để xao xuyến và bâng khuân nữa? Còn một cái khó khăn nữa là làm sao cho người dân quê hiểu được rằng “Ông Phật” mà họ đến chùa quỳ lạy cầu xin mỗi ngày đó không phải ở trên trời cao hay bên ngoài mà “Ông Phật” đó lại ở ngay trong chính họ. Dường như đây là điều mà Toàn Nhật đã nổ lực giải thích trong hầu hết các tác phẩm của ông. Tất nhiên cũng bằng những ví dụ mà người nông dân có thể hình dung ra được. Trước hết, Toàn Nhật ví Phật như nước trong, mà muốn có nước trong thì phải lọc: Cặn lọc thì đặng nước trong Ma Phật trong lòng lọ phải tìm đâu. Phật như ngọn đèn, muốn nhà mình sáng, không còn tối tăm, không sợ kẻ gian rình rập thì phải đốt ngọn đèn ấy lên: Hãy khêu ngọn đèn nhà mình cho sáng Kẻ gian tà đâu dám phạm xâm Từ những ví dụ này, Toàn Nhật mới bắt đầu khai mở cho họ biết rằng: Thiên đường địa ngục nơi ta Dữ lành ấy đó, Phật ma bởi mình Tất cả mọi cố gắng đi tìm đi cầu “Ông Phật” bên ngoài đều vô ích: Chẳng phải cầu ta mà thành Phật ở trong mình, nào nhọc tìm đâu Phật ở trong chính mình, nhưng vì sao không nhận ra, trong Hứa Sử truyện vãn Toàn Nhật cho biết lý do: Nếu ai trọc loạn tấm lòng Phật tuy có đó cũng không thấy rồi Phật như trăng tỏ trên trời Muôn phương soi thấu đòi nơi sáng loà Giả như khe, chiếu giang hà Lặng thinh đáy nước đâu mà không trăng Nếu mà gió thổi sóng nhăn Đâu đâu đáy nước nào từng thấy chi Lòng người ví dường nước kia Thanh thời thấy Phật, trọc thời thấy đâu Sắc tài danh lợi tham cầu Mà đặng thấy Phật dễ hầu có ai. Và đây có lẽ là lời khuyên quan trọng mà Toàn Nhật muốn gởi đến cho tất cả những người nông dân lam lũ mà ông hằng thương yêu với tất cả tấm lòng: Phật thương hết thảy chúng sanh Chúng sanh tung hoành Phật độ làm sao? Vậy là khi ta không còn “tung hoành” nữa thì chính ta là Phật rồi, thì ta cần gì “Ông Phật” ở bên ngoài thương ta nữa? Người nông dân bản tính vốn hiền lành chân chất, nhưng chính sự hiền lành chơn chất này nên họ luôn luôn là nạn nhân của những kẻ cậy quyền cậy thế, những kẻ mang lòng tham vô đáy. Trước tiên, Toàn Nhật lên án những thứ thầy bói cùng “phù thủy bóng chàng”: Thầy bói phù thủy bóng chàng Mắc vòng lao lụy ghê đường nhân gian Người ta nhiễm chứng thương hàn Cảm khí thiên địa mình mang bệnh nghèo Rồi tâu mở sách quẻ gieo Khiến nên sát hại dê heo vịt gà Bảo người mau trở về nhà Lo cho đặng kịp kẻo mà chết oan Người nghe lật đật kinh hoàng Giàu thời lo đặng bần hàn chạy vay. (Hứa Sử truyện vãn) Người nông dân vốn đã nghèo khổ, nhưng chính những bọn thầy bói cùng “phù thủy bóng chàng” này đã khiến đời sống của họ càng nghèo thêm. Bởi vậy, nên Toàn Nhật kêu gọi: Chớ tin phù thủy bóng chàng Cùng lời thầy bói gây đường trái oan Vã mình bệnh khổ chăng an Hoặc nhiễm thương hàn khí huyết già suy Phép đời đã có lương y Thuốc điều tiết dưỡng ắt thì bệnh an. (Hứa Sử truyện vãn) Và ta không ngờ rằng, vào những thập niên ở cuối thế kỷ 18, vị Thiền sư của chúng ta lại có một quan niệm rất đúng đắn về y học, rằng đã có thân thì phải có bệnh, mà đã bệnh thì phải chữa bệnh bằng thuốc của các lương y: Phép đời đã có lương y Thuốc điều tiết dưỡng ắt thì bệnh an Toàn Nhật còn vạch ra cho người nông dân thấy cái vô lý khi giết hại gà vịt dê heo dể cúng tế thần linh mà cầu mạng sống cho chính mình: Sát sanh mà đặng sống lâu Thì các nhà giàu ở chật đòi nơi (Hứa Sử truyện vãn) Và càng phi lý hơn nữa, vẫn theo lời Toàn Nhật đã là “thần linh chánh trực” thì họ đến gần, “những giống hôi tanh” ấy để làm gì? Các vị chánh trực thần linh Đến gần những giống hôi tanh làm gì? (Hứa Sử truyện vãn) Và kẻ nào đã đến để hưởng thụ “những giống hôi tanh” đó thì nhất định không phải là “thần linh chánh trực” mà phải là “loại ma lồi yêu tinh” vậy: Và món máu thịt tanh hôi Có dùng là loại ma lồi yêu tinh (Hứa Sử truyện vãn) Với tất cả tình thương, Toàn Nhật đã tha thiết khuyên răng những kẻ thích giết hại súc vật để thỏa mãn sự thèm khát của mình nên hiểu rằng: Huống chi kinh Phật ghi lời Muôn vật cùng người một vóc khác chi Cùng đồng chịu khí lưỡng nghi Sanh nên người vật nối thì đến nay Chẳng qua một niệm trước sai Làm đường ác nghiệp nhiều đời vô minh Ắt sa vào lọai súc sinh Hoặc làm cha mẹ chị anh ông bà Phàm gian nhục nhãn tin tà Vật chi cách vách coi mà thấy đâu (Hứa Sử truyện vãn) Và nếu như đối với những lọai thầy bói hoặc “thầy thủy bóng chàng” thì Toàn Nhật chỉ kêu gọi người dân hãy cảnh giác đừng nhẹ dạ cả tin theo bọn chúng chứ không có thái độ quyết liệt như lọai ngươi sau đây, loại người mà lúc nào cùng nhân danh nhân dân nhưng thực ra chỉ dùng quyền hành để bòn rút của cải mà người dân lao động đã phải tốn biết bao nhiêu công sức mới có được: Cậy mình quyết quý hơn người Làm điều hung hiểm hiếp hoài người ta Kẻ gian hối lộ thì tha Người ngay không của bắt ra hành hình Đặng thời phú quý hiển vinh Hại người lấy của ích mình không lo Tạm ai bắt lấy phải lo Chẳng thời thù oán không lo cả nhà (Hứa Sử truyện vãn) Toàn Nhật căm phẩn loại người “quyền qúy” này đến nổi qua một phiên tòa của nhân dân, ông đã để cho Diêm vương đuổi chúng ra khỏi thế giới của loài người, đày chúng xuống sống chung với bọn yêu ma quỷ quái: Phú cho ngục tốt giam vào Y luật hành tội ép dầu muôn năm Roi cho hồn nó trầm luân Ra loài ngạ quỷ ra làm bàng sanh (Hứa Sử truyện vãn) Trong văn học cổ điển của nước ta, có lẽ phải đợi đến Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18, với Hứa Sử truyện vãn thì nông dân lao động mới được đề cao, không chỉ đề cao chung chung, mà đề cao một cách rất cụ thể, nghĩa là xác nhận phẩm giá cũng như nhân phẩm của họ nữa. Họ, những người nông dân chân lấm tay bùn của Toàn Nhật không những được “Phật ngợi khen” mà còn “ đồng phẩm cao” như bất cứ giới nào, kể cả giới quý tộc, giới đang cầm quyền. Trong Hứa Sử truyện vãn, Toàn Nhật đã để cho Đổng Vân, một vị quan đầy quyền uy nhưng lại rất được nhân dân hâm mộ, xác nhận giá trị ấy: Đổng Vân cười mới nói rằng Hễ vui sanh khổ, khổ hằng đặng vui Phát rẫy sen vàng đặng ngồi Danh chói trong đời thầy tớ Châu Công Hái rau bán củi tay không Vợ chồng Đào Thị cùng đồng phẩm cao Cùng là phát rẫy cần lao Hái rau bán củi mặt nào làm nên Phật còn phong tặng ngợi khen Ấy phận khó hèn huống lọ là ta. Tác giả Toàn Nhật Quang Đài đã nói rất đúng rằng: “đây có lẽ là lần đầu tiên và duy nhất mà lao động được ca ngợi và xác minh là yếu tố cho con người trở thành thần thánh”. Khi viết lại hành trạng của Lục Tổ Huệ Năng trong Lục Tổ Diễn Ca, một vị Tổ sư mà D.T. Suzuki đã cho là “một trong những nhà huyền học vĩ đại nhất của Phương đông”, Toàn Nhật cũng nhắc nhở lại cho chúng ta biết rằng, Huệ Năng trước khi trở thành vị Tổ sư vĩ đại, cũng là một người đã từng “hái rau bán củi tay không” mà ra: Thưa rằng tôi chủ Cát Lào Thật là phụ quán tranh lau quê nhà Người đà phận nói tỏ ra Lòng tôi dễ dám vậy hòa dấu chi Đạo là hỷ xã từ bi Nào phân nam bắc thế thì thiệt hơn Ai ai có một tính chân Thánh phàm chẳng khác, nhân nhân thể đồng Người tuy phân cỏi tây đông Đạo là vốn một đồng thông thánh phàm. Và tất cả đều phải lao động, nghĩa là phải từ sự nổ lực trong gian khổ thì mới tự mình hoàn thiện được chính mình: Những ông Bồ Tát đầu trần Còn đi giã gạo ân cần sớm khuya Những ông Bách Trượng xưa kia Không làm một bữa chẳng hề ăn cơm. Nhưng điều lạ lùng như ta đã biết là những con người hễ có “Bữa tối thì thiếu bữa trưa” đó lại ít nghĩ đến sự bất hạnh và đau khổ của chính mình, mà lúc nào cũng canh cánh trong lòng những bất hạnh và đau khổ của kẻ khác, như vợ chồng Đào Thị trong Hứa Sử truyện vãn chẳng hạn. Như vậy ta phải giải thích như thế nào cái quan niệm xưa nay vẫn cho rằng “ phú quý sanh lễ nghĩa, nghèo hèn sinh đạo tặc”? có phải Toàn Nhật muốn vận dụng tinh thần của Phật giáo để đạp đổ cái quan niệm ngu si đã tồn tại từ lâu trong xã hội của chúng ta chăng? Tác giả Toàn Nhật Quang Đài đã viết: “Nó là một gáo nước lạnh tạt vào mặt tuồng giả nhân, giả nghĩa của thứ đạo đức cho rằng: “giàu sang sinh lễ nghĩa, nghèo hèn sinh đạo tặc” đây là thứ đạo đức, nếu có thể gọi như vậy, để phục vụ cho bọn thống trị áp bức, cho hành động ngược đãi nhân dân, tại sao người nghèo lai không có đạo đức lễ nghĩa? Hể bần tiện nghèo khổ là sinh đạo tặc chăng? Chủ trương đạo đức loại đó, thực sự là khinh miệt đạo đức, nếu không phải là không đạo đức. Nó khinh miệt những người cùng khổ, tước đoạt nhân phẩm của họ. Cho nên, trên bối cảnh của thứ đạo đức suy đồi đốn mạt đó, nó nổi lên thật rõ nét thứ đạo đức trong sáng của vợ chồng Đào Thị. Sự có mặt của nó là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng với thứ đạo đức lấy của cải làm thước đo của bọn thống trị vừa nói. Nó đấu tranh để thiết lập nên một nền đạo đức căn cứ vào tình người gắn bó với nhau qua lao động và bằng thành quả của lao động. Trên cơ sở đạo đức ấy, nghĩa thầy trò, tình vợ chồng, lòng thương con người mới có thể phát huy. Người ta thương nhau, chia xẻ cho nhau từng bát cơm manh áo rất ít ỏi do chính bàn tay lao động tạo ra”. Và như vậy, tác giả kết luận: “có thể nói Toàn Nhật là người đầu tiên công khai nêu lên quan điểm ấy, và nó đã được cha ông ta tiếp nhận và truyền đạt lại cho con cháu”. Thật cảm động biết bao khi ta biết được rằng vị Thiền sư của chúng ta đã “tuốt dép lánh xa khỏi nơi doanh liễu” và “cũng đã trải đường danh lợi”, nhưng rồi cuối cùng đã “dốc liều mình tìm tới, vào chốn cửa thiền”. Sau đó lại cùng với thầy là Diệu Nghiêm lặn lội vào tận Phú Yên, mảnh đất của những người nông dân cày sâu cuốc bẩm, làm trụ trì tại một ngôi chùa mà cho đến ngày nay vẫn còn là nơi hoang vu hẻo lánh, âm thầm sống chung với người lao động để chia xẻ những đau khổ cũng như cơ cực của họ. Cuối cùng và theo tôi đều quan trọng hơn cả vẫn là qua những tác phẩm Toàn Nhật đã gây ý thức cho họ biết rằng: “chỉ trong khó nhọc lao động con người mới rèn luyện được mình, nâng mình lên tới cấp độ xứng đáng với phẩm chất và nhân cách con người”. Và cũng thật xót xa biết bao cho đến bây giờ đã gần hai thế kỷ trôi quan rồi kể từ khi Toàn Nhật vĩnh viễn ra đi (1757 – 1834), vậy mà đại đa số người dân lao động ờ thôn quê vẫn còn sống trong lầm than cơ cực, dù đã có biết bao lý thuyết, biết bao ý thức hệ, biết bao tổ chức nhân danh sự đau khổ của họ để ra đời, nhưng cuối cùng khi mục đích của họ đã đạt được rồi thì cũng bỏ mặc mà ra đi và những người nông dân vẫn tiếp tục kéo lê cuộc đời của mình trong lầm than cơ cực. Và mặc dù chỉ là viết lại hành trang của Lục Tổ Huệ Năng, nhưng chúng ta phải hiểu rằng Toàn Nhật cũng xem Kinh Kim Cang là quyển kinh căn bản nhất để đưa con người đến chân trời giác ngộ như vua Trần Thái Tông của đời Trần: Bây giờ cảm động thiết tình Nghe câu sở tục tâm truyền Kim Cang Trực liền ngộ đặng linh quang Diệu xưa Phật Tổ thấy toàn chân như Quan điểm ấy càng rõ ràng hơn nữa khi trong Bát Nhã Ngộ Đạo văn Toàn Nhật lặp lại: Giảng cho thông tứ cú Kim Cang Thì mới thấy bổn lai diện mục Dưới ảnh hưởng của những nhà trí thức lỗi lạc của thời đại như Ngô Thời Nhiệm và Toàn Nhật thì rõ ràng Kinh Kim Cang cũng trở thành quyển kinh được triều đình Tây Sơn xem như quyển kinh quan trọng nhằm vạch ra một hướng đi tinh thần cho dân tộc Việt, điều đó được thể hiện qua việc Ngọc Hân công chúa tức Bắc cung Hoàng hậu của triều đình Tây Sơn chủ trì việc thêu Kinh Kim Cang Bát Nhã lên gấm. Hiện chùa Trúc Lâm ở Huế vẫn còn giữ gìn tấm thêu bằng gấm này. Bởi vậy, xin được lập lại câu hỏi rất có ý nghĩa của tác giả Toàn Nhật Quang Đài “Thái độ tôn giáo của triều đình Quang Trung như thế nào, thì Ngọc Hân công chúa mới thêu Kinh Kim Cang Bát Nhã lên gấm chứ!” Hỏi tức là đã trả lời vậy. Nhưng ảnh hưởng mãnh liệt nhất tinh thần Phật giáo đời Trần đối với Toàn Nhật vẫn là trong Hứa sử truyện vãn. Tôi có cảm tưởng là khi viết tác phẩm này mục đích của Toàn Nhật không gì khác hơn là nhằm giải thích hai tác phẩm quan trọng nhất của đời Trần là bài tựa Thiền Tông chỉ Nam của vua Trần Thái Tông và Cư Trần Lạc Đạo phú của vua Trần Nhân Tông. Trong Hứa sử truyện vãn của thiền sư Toàn Nhật của thời Tây Sơn, Đồng Vân, một vị quan bách chiến bách thắng đang trấn giữ miền biên giới của nước Trung Quốc Việt Vương cùng ám ảnh nỗi sầu muôn thuở ấy của kiếp người như Trần Thái Tông của đời Trần: Đời tham cả lộc cao ngôi Ví như lá vược hớp mồi mắc câu Tuổi xanh khiến sớm bạc đầu Phút đau lại chết khổ sầu mà thôi Và Đồng Vân cũng đã vứt bỏ cả lộc cao ngôi bỏ vợ con lên chùa xuất gia với thiền sư Mật Hạnh. Khi nghe tin Đồng Vân đã xuất gia, thì Triệu Tân bên nước láng giềng liền ráo riết chuẩn bị xâm lăng: Lệnh truyền tướng tá các nha Chỉnh tu binh mã can qua sẵn sàng Triệu Tân mới cất binh sang Ngựa ăn chật nội quân hàn dãy non. Chỉ mới có giao tranh trận đầu quân của nước Trung Quốc Việt vương đã thảm bại vì: Triệu Tân tài mạnh tột đời Tướng việt sa thế, rã rời chạy đi Triệu Tân sách mà huy kỳ Trống sáu reo đuổi ầm ỷ vang rân Quân việt rã chạy rần rần Triệu Tân chém tướng tưng bừng Đông Tây Không còn cách nào hơn, vua Việt vương đành phải cùng các quan xa giá đến chùa để xin Đỗng Vân cứu nguy xã tắc. Trong Hứa Sử truyện vãn của thiền sư Toàn Nhật, Hứa Sử cùng đặt vấn đề ấy với Việt Vương: Thị thành lại với lâm tuyền Tu hành công đức hai đường đâu hơn? Việt Vương trả lời: Nay thầy lời đã hỏi ta Lấy trong sự lý phân ra cho tường Lâm truyền thanh cảnh náu nương Đặng phần tịch mịch, khỏi đường huyên hoa Song thời cũng ở lòng ta Lòng ta thanh tĩnh, cảnh hoà cùng thanh Dẫu mà ở chốn non xanh Lòng còn loạn động thị thành khác chi Thị thành xao xuyến nhiều bề Lòng ta thanh tĩnh khác gì Sơn Lâm Tu hành yếu vốn tại tâm Nếu nệ nơi cảnh, mắc lầm hoà hai Ta phải hiểu thế nào về quan điểm trên của Toàn Nhật, có phải Toàn Nhật muốn nói như thế này chăng: “Điều quan trọng không phải là sống ở thị thành hay núi rừng. Vấn đề là làm sao giác ngộ được sự thật. Đấy mấu chốt của vấn đề. Ta đã thấy sự giác ngộ có thể tìm thấy ở bất cứ nơi đâu, đặc biệt là chính giữa cuộc đời trần tục đầy những hệ lụy thế sự. Chính trong cuộc sống trần tục ấy mà giác ngộ được thì giá trị còn nâng lên gấp bội”. Còn một vấn đề quan trọng nữa mà tôi nghĩ rằng có lẽ Toàn Nhật cũng muốn triều đại Tây Sơn phải tiếp tục con đường mà đời Trần đã vạch ra, đó là vấn đề sử dụng chữ Quốc âm. Khi đọc những bài thơ chữ Hán của Toàn Nhật, tác giả Toàn Nhật Quang Đài nhận xét rằng: “… qua những bai thơ chữ Hán, chứng tỏ khả năng sử dụng chữ Hán văn rất điêu luyện và thành thục của Toàn Nhật. Điều hãy còn cho ta thấy là việc phần lớn tác phẩm Toàn Nhật viết bằng tiếng quốc âm không có nghĩa là ông không thể sử dụng chữ Hán. Ngược lại, dù là một người rất giỏi chữ Hán nhưng ông đã tìm về với tiếng nói của dân tộc để chuyển tải những gì mình muốn nói với nhân dân. Ý muốn xây dựng một nền văn học quốc âm, không chỉ dân tộc mà còn cho Phật giáo, đã đặt Toàn Nhật không những vào những nhà thơ lớn của dân tộc mà còn của Phật giáo. Thứ đến, với những bài thơ đó nền văn học quốc âm của dân tộc ta vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 chứng tỏ sự đa dạng và phong phú với những tình tự và nhận thức của những con người khác nhau”. Tiếng quốc âm của dân tộc ta chắc chắn đã có từ rất lâu, có thể từ các triều đại vua Hùng trước Tây lịch, nhưng “chỉ đến thời vua Trần Nhân Tông, với hai tác phẩm của mình là Cư Trần lạc đạo phú và đắc thú lâm truyền thành đạo ca cùng Vịnh Vân Yên tự phú của thiền sư Huyền Quang (1234-1334) và giáo tử phú của Mạc Đĩnh Chi (1284-1361), thì nền văn học tiếng việt mới có những tác phẩm đầu tiên hoàn chỉnh của mình còn được bảo tồn đến ngày nay. Vị trí văn học của vua Trần Nhân Tông do thế đối với dân tộc ta rất là vĩ đại”. Cố học giả Trần Trọng Kim trong phần viết về việc học hành và thi cử đời Tây Sơn có nói rằng: “việc cai trị thường hay dùng chữ Nôm. Nhà vua muốn nói rằng người Việt Nam thì phải dùng tiếng Việt Nam, để gây thành cái tinh thần của nước nhà, và cái văn chương đặc biệt, không phải đi mượn tiếng mượn chữ của nước Tàu. Vậy nên khi thi cử thường bắt quan ra bài chữ Nôm và bắt sĩ tử làm bài bằng chữ Nôm. Thời bây giờ nhiều người không hiểu rõ cái ý nghĩa sâu xa ấy, cho là nhà Tây Sơn dùng hà chính mà ức hiếp nhân dân”. Bằng chứng hùng hồn về lòng tự hào đối với tiếng nói của dân tộc mình, đó là việc vua Quang Trung đã dõng dạc đọc bản tuyên ngôn độc lập bằng tiếng Nôm trước ba quân trước khi xuất quân đi đánh đuổi quân Tàu: Đánh cho để dài tóc Đánh cho để răng đen Đánh cho nó chích luôn bất phản Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn Đánh cho nó sử tư Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ Nếu quả đúng Toàn Nhật là tướng của Tây Sơn hay quan trọng hơn nữa là mưu thần của vua như hai tác giả Nguyễn Đình Chúc và Huệ Nguyễn đã xác nhận trong tác phẩm biên khảo Lịch sử Phật giáo và các chùa ở Phúc Yên thì chắc hẳn việc sử dụng tiếng Nôm như tiếng chính thức trong hành chánh công như trong thi cử của triều đình Tây Sơn Quang Trung thì tất nhiên phải có sự đóng góp công sức lớn lao của Toàn Nhật, vị thiền sư đã hết lòng yêu thương tiếng nói của dân tộc mình, và mặc dù rất giỏi chữ Hán nhưng đã để lại gần hai mươi tác phẩm bằng chữ Nôm. Và không còn hồ nghi gì nữa, một người biết trân trọng tiếng Nôm mà còn là một Thiền sư của Phật giáo Việt Nam thì qua hai tác phẩm Cư Trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm truyền thành đạo ca, Toàn Nhật đã ý thức một cách triệt để rằng “Tiếng Việt như một ngôn ngữ có thể phát biểu những tư tưởng trừu tượng tương đối khó nắm bắt một cách khéo léo và dễ hiểu. Từ đó Tiếng Việt đã từ thành một ngôn ngữ đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau nào và có vẻ đẹp riêng của nó”. IV. LỜI KẾT : Chúng ta, những người Phật tử Việt Nam nên nhìn sự hưng thịnh cũng như suy vong như thế nào của lịch sử Phật giáo Việt Nam qua các thời đại? Và có phải chỉ có các triều đại Đinh Lê và nhất là Lý Trần thì mới đựơc xem là thời kỳ hưng thịnh nhất của Phật giáo Việt Nam chăng ? “Chẳng hạn, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần thay đổi khác nhau, hết triều đại này tới triều đại kia, nhưng Phật giáo vẫn vươn lên phát triển và có những đóng góp to lớn cho dân tộc. Điều này chứng tỏ bên ngoài sự thay đổi của các triều đại, dân tộc vẫn phát triển theo tính quy luật của nó, bất chấp ý chí chủ quan của một triều đại. Có vẻ như dân tộc có một sức sống của riêng nó, và Phật giáo biết bám vào sức sống này của dân tộc để cùng dân tộc đi lên. Các triều đại thay đổi và chúng đã không đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc, nên đã bị loại bỏ”. Giả như không có trường hợp của Toàn Nhật thì quan điểm trên về lịch sử Phật giáo Việt Nam của giáo sư Lê Mạnh Thát khó có thể chấp nhận đối với nhiều người, vì ai cũng có thói quen nghĩ rằng, chỉ có Đinh, Lê và đặc biệt là Lý, Trần mới là thời cực thịnh của Phật giáo Việt Nam, còn sau đó thì Phật giáo suy tàn và Nho giáo đã thay thế chỗ đứng của Phật giáo. Nhưng vì có trường hợp của thiền sư Toàn Nhật nên theo tôi quan điểm lịch sử ấy hoàn toàn chính xác, nghĩa là Toàn Nhật đã tham gia cuộc Cách mạng của Tây Sơn, vì theo quan điểm của Toàn Nhật cuộc Cách mạng ấy phù hợp với lòng dân nhưng khi cuộc Cách mạng Tây Sơn tan rã, triều đại khác lên thay, Toàn Nhật nhận thấy triều đại ấy không đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc thì vị thiền sư của chúng ta chỉ còn “biết bán vào sức sống của dân tộc”. Kết quả là, ngày nay chúng ta có được gần 20 tác phẩm bằng tiếng quốc âm, mà theo giáo sư Lê Mạnh Thát thì: “Kho tàng văn học cổ điển Việt Nam chưa bao giờ có một nhà thơ nhà văn để lại một lượng lớn tác phẩm bằng tiếng quốc âm như Toàn Nhật. Chỉ với số lượng đó thôi, nó đã biển thị không những sức sống dạt dào của dân tộc đang lên thể hiện qua tiếng nói nhân dân”. Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất trong quan điểm đó là, chúng ta những người Phật giáo Việt nam hiện tại cũng như mai sau nên “bám vào sức sống của dân tộc để đi lên” thay vì chỉ biết bám vào các triều đại hay các Nhà nước, vì “các triều đại sẽ phải thay đổi khi không còn đáp ứng được yêu cầu của sức sống dân tộc”. Vậy là, chỉ có “bám vào sức sống của dân tộc” thì Phật giáo Việt nam mới có thể tồn tại mãi trong lòng của dân tộc mà thôi. Có phải đó là bài học lịch sử lớn lao mà thiền sư Toàn Nhật ở nửa cuối thế kỷ 18 đã để lại cho chúng ta, những người Phật giáo Việt Nam hôm nay chăng? TÀI LIỆU THAM KHẢO : Toàn Nhật Quang Đài toàn tập I, NXB TP.HCM.2005 trang 27-28. Toàn Nhật Quang Đài tập I, NXB TP HCM 2005, trang 30. Việt Nam sử lược NXB tổng hợp TP.HCM tái bản 2005 trang 373. Ngô Thời Nhiệm trong văn học Tây Sơn của Mai Quốc Liên NXB VHTT Nghĩa Bình 1985 trang Trần Nhân Tông toàn tập của Lê Mạnh Thát, NXB TP.HCM năm 2000. Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập II của Lê Mạnh Thát - NXB TP Hồ Chí Minh 2001, lời tựa.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét