THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012
SƠ LƯỢC LỊCH SỬ BÁO CHÍ PGVN
Sơ lược lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam
Cư sĩ Thiều Chửu
Báo chí Phật Giáo Việt Nam thực sự khai sinh và phát triển từ khi có phong trào chấn hưng Phật Giáo vào thập niên 1930. Sự đóng góp to lớn của những tạp chí, nguyệt san này đều được các vị sư lãnh đạo các hội Phật Giáo điều hành.
Dẫn nhập
Báo chí Phật Giáo Việt Nam thực sự khai sinh và phát triển từ khi có phong trào chấn hưng Phật Giáo vào thập niên 1930. Sự đóng góp to lớn của những tạp chí, nguyệt san nầy đều được các vị sư lãnh đạo các hội Phật Giáo điều hành.
Nội dung thường phản ảnh thực tế Phật Giáo trong từng giai đoạn. Có những cuộc kết hợp một số báo chí thời đó, nhưng đồng thời cũng có những cuộc tranh luận, đặc biệt là báo chí Phật Giáo ở một số tỉnh miền Nam Nam Bộ (Hội Lưỡng Xuyên và hội Kiêm Tế). Sau đây là lịch sử tiến triển báo chí PG quan trọng, trình bày theo từng miền Bắc, Trung, Nam.
Tạp chí Đuốc Tuệ
Tạp chí này ra đời vào đầu tháng Chạp năm 1935, do ông Nguyễn Năng Quốc làm chủ nhiệm. Đứng tên chủ bút là thiền sư Trung Thứ trú trì chùa Bằng Sở. Phó chủ bút là thiền sư Doãn Hài (Dương Văn Hiển), trú trì chùa Tế Cát. Quản lý là ông Cung Đình Bính.
Báo quán đặt tại chùa Quán Sứ, đường Richard Hà Nội. Hai cây bút bền bỉ nhất của tạp chí Đuốc Tuệ là Đồ Nam Tử và Thiều Chửu. Những cây bút khác là Thái Hòa, Thanh Đặc, Tố Liên, Đỗ Trần Bảo, Phạm Văn Côn, Đinh Gia Thuyết, Đỗ Đình Nghiêm, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ v.v…
Trong những số đầu, Đuốc Tuệ đăng nhiều bài có tính cách bênh vực cho phong trào chấn hưng Phật giáo chủ trương rằng đạo Phật là một đạo vì cuộc đời mà có chứ không phải trốn cuộc đời.
Ngay số đầu, Đuốc Tuệ đăng bài Đạo Phật Có Quan Thiết Với Sự Sống Của Đời Người của Phan Đình Hòe, trưởng ban đại ký chi hội Nam Định. Đuốc Tuệ số 2 (ngày 17.12. 1935) nêu rõ xã hội tính cần thiết của tôn giáo, tính cách Á đông và dân tộc của Phật giáo và tinh thần tự do, bình đẳng và hiếu hòa của đạo Phật.
Ông Nguyễn Trọng Thuật đã viết một truyện dài rất có ý vị đăng nhiều kỳ trong Đuốc Tuệ. Đó là truyện Cô Con Gái Phật Hái Dâu, kể lại cuộc đời Ỷ Lan Phu Nhân, một cô gái thôn quê làm nghề hái dâu ở làng Thổ Lỗi (sau này là làng Siêu Loại) được vua Lý Thánh Tông, đã đem tinh thần đạo Phật mà dựng nước và cải tổ những bất công ở xã hội nông thôn. Đây là một truyện dài viết rất có nghệ thuật, hơn hẳn tác phẩm Quả Dưa Đỏ của cùng một tác giả.
Đuốc Tuệ cũng đăng thiên biên khảo Việt Nam Thiền Tông Thế Hệ của ông trong nhiều kỳ. Đây là một tác phẩm nói về hành trạng, thi văn và tư tưởng của các thiền sư Việt Nam các phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông. Ông Nguyễn Trọng Thuật đã căn cứ trên sách Thiền Uyển Tập Anh để viết thiên biên khảo này.
Ngoài tạp chí Đuốc Tuệ, Nguyễn Trọng Thuật còn viết về đề tài Phật giáo trong tạp chí Nam Phong. Bài Phật Giáo Tân Luận của ông được đăng trong cá số 208-209 trang 217-221 và 267-278 (năm 1934 và bài Bình Luận về Sách “Khóa Hư” của ông được đăng trong số 189 trang 315-324 (năm 1933). Trong Nam Phong, ông có viết nhiều đề tài quan trọng như Điều Đình Cái Án Quốc Học.
Tạp chí Tiếng Chuông Sớm
Sự bất đồng tình giữa các sơn môn và hội Bắc Kỳ Phật Giáo xảy ra rất sớm, trước khi Đuốc Tuệ mới ra đời. Hội Bắc Kỳ Phật Giáo thành lập vào tháng Mười một năm 1934, nhưng mãi đến tháng Chạp năm 1935 tạp chí Đuốc Tuệ mới ra đời. Trong khi đó thì các sơn môn Linh Quang và Hồng Phúc đã đặt cơ sở cho một tạp chí Phật học Tiếng Chuông Sớm từ cuối năm 1934. Ngày 31.1.1935 thì có nghị định cho phép xuất bản Tiếng Chuông Sớm.
Chủ nhiệm sáng lập ra tạp chí này là thiền sư Đỗ Văn Hỷ, Tăng Cương chùa Linh Quang (Bà Đá), và quản lý là thiền sư Thanh Tường, trú trì chùa Trầm ở Hà Đông và chùa Vũ Thạch ở Hà Nội. Một nhân vật thứ ba nữa làm nòng cốt cho công việc này là thiền sư Đặng Văn Lợi, tăng trưởng chùa Trần Quốc. Chủ bút của tờ báo là thiền sư Bảo Giám, trú trì chùa Đông Lâm ở Bắc Ninh, và phó chủ bút là thiền sư Nguyễn Quang Độ trú trì chùa Bảo Phúc ở Hà Đông. Số đầu của Tiếng Chuông Sớm ra ngày 15.6.1935.
Trong bài Tình Hình Phật Giáo Trong Nước đăng ở số này, ký giả H.S. nhắc đến công trình chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ và Trung Kỳ và sự thành lập hội Bắc Kỳ Phật Giáo tại chùa Quán Sứ. “Hiện nay nhờ thế lực của các quan đại thần và của các bậc thượng lưu, hội đã lan ra hầu khắp Bắc Kỳ, đâu đâu cũng có chi bộ, lại được tổ Vĩnh Nghiêm, một vị trưởng lão trong Tùng Lâm Bắc Kỳ chủ trương mọi việc ở Hội Chính. Tiếng Chuông Sớm này do Cổ Sơn Môn Hồng Phúc và Bà Đá cũng xin góp phần phục vụ…”
Để ủng hộ cho Tiếng Chuông Sớm, thiền sư Thanh Tường đã mời một số các vị tăng sĩ có uy tín vào làm cố vấn cho tạp chí: Thiền sư Thanh Phán (chùa Triệu Khánh, Hà Đông), thiền sư Nguyễn Duy Trinh (chùa Hưng Khánh, Hà Đông), thiền sư Ngô Công Bốn (chùa Hàm Long, Hà Nội), thiền sư Nguyễn Văn Thi (chùa Hương Tuyết, Hà Đông), thiền sư Thạch Điều (chùa Đế Thích, Hà Nội) và thiền sư Thanh Trọng (chùa Mễ Sơn, Hà Đông). Ông lại còn mời các ông Mai Đăng Đệ, Trịnh Đình Rư, Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Tiến Lãng vào ban biên tập. Nguyễn Tiến Lãng thì phụ trách phần tiếng Pháp và Nguyễn Khắc Hiếu (Tản Đà) thì phụ trách phần chữ Hán.
Số ra mắt Tiếng Chuông Sớm gây ảnh hưởng khá lớn trong Phật học giới, nhưng ông Nguyễn Năng Quốc hội trưởng Bắc Kỳ Phật Giáo không được hoan hỷ, bởi vì ông nghĩ rằng một Phật sự như thế phải nằm trong phạm vi hoạt động của hội. Ngày 25.6.1935 ông gửi một lá thư cho Tiếng Chuông Sớm trách rằng chùa Bà Đá đã không chịu hợp tác với hội Bắc Kỳ Phật Giáo, lại cho ra “báo riêng”. Một hành động như thế, theo ông, là một hành động “đối lập”, trái với tinh thần lục hòa.
Ban Quản Trị hội Bắc Kỳ Phật Giáo trong một buổi họp ngày 23.6.1935, nghĩa là trước đó hai hôm, đã quyết định “không đồng ý cổ động cho Tiếng Chuông Sớm.
Việc làm của hội Bắc Kỳ Phật Giáo không được phù hợp với truyền thống Phật giáo ở nhiều điểm: (a) Ban Trị Sự của hội chỉ toàn là cư sĩ. Thiền gia Pháp Chủ Thanh Hanh tuy ngồi đó nhưng chỉ có hư vị. (b) Hội lập trường Phật học theo “lối mới” để đào tạo một thế hệ “sư mới”, như vậy là phủ nhận truyền thống học tập trong mùa kết hạ của thiền môn.
Tiếng Chuông Sớm ra điều kiện: nếu hội Bắc Kỳ Phật Giáo sửa chữa lại Điều Lệ, bầu lên một Ban Trị Sự gồm toàn các thành phần tăng sĩ, với thiền sư Thanh Hanh làm hội trưởng, đem trụ sở về chùa Hòa Giai hay là chùa Bà Đá, thì Tiếng Chuông Sớm sẽ xin tự hiến mình làm cơ quan ngôn luận của hội .
Sự bất đồng ý kiến kéo dài từ giữa năm 1935 cho đến cuối năm 1935. Trong thời gian đó, các tổ đình Bà Đá, Hồng Phúc và Hòa Giai phối hợp với các chùa chi nhánh tại Hà Nội và các tỉnh để tổ chức Bắc Kỳ Phật Giáo Cổ Sơn Môn, đường lối là phát triển Phật giáo trong tinh thần duy trì truyền thống sinh hoạt cổ điển của thiền môn.
Tuy vậy, sơn môn Vĩnh Nghiêm đã không để cho sự chia rẽ trở nên trầm trọng. Sau những cuộc thăm viếng liên tiếp giữa các tổ đình Vĩnh Nghiêm và Linh Quang do thiền sư Thanh Hanh chủ trương, sự bất đồng ý kiến kia dần dần nhường chỗ cho sự cộng tác.
Đầu tháng Chạp năm 1935, Đuốc Tuệ ra mắt Phật học giới. Tiếng Chuông Sớm số 14 ra ngày 26.12.1935 mở lời chào mừng Đuốc Tuệ và đăng những bài có tinh thần hòa giải và cởi mở. Tiếng Chuông Sớm lại mời thêm một số nhà văn vào ban biên tập, như Nguyễn Mạnh Bổng và Nguyễn Trung Như, nhưng đến cuối tháng Năm 1936 thì báo đình bản vì lý do tài chính. Số chót của Tiếng Chuông Sớm là số 24, ra ngày 21.5.1936.
Vào thời gian này, những dị biệt giữa Bắc Kỳ Phật Giáo Cổ Sơn Môn và hội Bắc Kỳ Phật Giáo không còn nữa, cho nên sự suy tôn thiền sư Thanh Tường lên ngôi Thiền gia Pháp chủ được thực hiện một cách dễ dàng. Thiền sư Thanh Tường vốn là vị tôn túc cao niên nhất trong pháp phái Lâm Tế lúc bấy giờ và được tất cả các tổ đình Linh Quang và Hồng Phúc quy ngưỡng.
Tạp chí Viên Âm
Viên Âm ra mắt số đầu ngày 1.12.1933. Danh từ Viên Âm được giải thích như sau: “Viên Âm nghĩa là tiếng tròn. Tiếng tròn là tiếng nói hoàn toàn; tiếng nói hoàn toàn duy chỉ pháp âm của Phật. Phật là bậc viên giác, tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, cho nên lời nói tròn, việc làm tròn, giáo pháp tròn, tròn theo bổn tánh thanh tịnh, tròn làm sao, trong tròn, ngoài tròn, trên tròn, dưới tròn, cũng tam giới khắp thập phương, lớn nhỏ xa gần đâu đâu cũng tròn cả”.
Đệ tử tại gia xuất sắc nhất của Giác Tiên hẳn là Tâm Minh Lê Đình Thám. Bác sĩ Lê Đình Thám là một người có tư chất cực kỳ thông minh và trái tim đầy nhiệt tình. Ông sinh năm 1897 tại Quảng nam, con của thượng thư bộ binh Lê Đỉnh triều Tự Đức.
Từ hồi nhỏ ông đã được học Nho và đã làm được văn bài cùng thi phú cổ điển. Lớn lên ông theo tân học, đậu thủ khoa trong tất cả các kỳ thi từ cấp tiểu học đến Đại học. Ông tốt nghiệp thủ khoa Đông Dương Y Sĩ khóa 1916, và Y Khoa Bác Sĩ khóa 1930. Tâm Minh Lê Đình Thám đã có căn bản Hán học lại có óc thông minh nên đã đi rất mau trên con đường học Phật. Liên tiếp trong ba năm (1929-1932) ông được học tập dưới sự chỉ đạo của Giác Tiên và của thiền sư Phước Huệ, một cao tăng nổi tiếng bác thông minh kinh luận vào bậc nhất thời ấy.
Trong số những vị cư sĩ tham dự vào việc vận động thành lập hội An Nam Phật Học, ta thấy có Ưng Bàn, Nguyễn Đình Hòe, Nguyễn Khoa Tân, Viễn Đệ, Nguyễn Khoa Toàn, Ưng Bình, Bửu Bác, Trần Đăng Khoa, Lê Thanh Cảnh, Lê Quang Thiết, Trương Xướng, Tôn Thất Quyên, Nguyễn Xuân Tiêu, Hoàng Xuân Ba, Lê Bá Ý và Tôn Thất Tùng.
Trong bước đầu, Lê Đình Thám đảm nhiệm chức vụ hội trưởng, nhưng ông không ngồi mãi ở địa vị đó. Các vị khác như Nguyễn Khoa Tân, Ưng Bàng v.v… cũng thay thế nhau là hội trưởng cho hội. Lê Đình Thám không những làm cái trục trung ương của hội mà còn là linh hồn của tạp chí Viên Âm nữa.
Sở dĩ ông làm việc được một cách bền bỉ là tại vì ông có đủ đức khiêm nhượng. Ông làm một chất keo dính liền các phần tử khác biệt về tuổi tác và về nhận thức chính trị. Hội An Nam Phật Học lúc đầu đặt trụ sở tại chùa Từ Quang và nguyệt san Viên Âm đã đặt tòa soạn tại số 13 đường Champeau Huế.
Các buổi giảng diễn Phật pháp đầu tiên được tổ chức tại chùa Từ Quang, và hai giảng sư phụ trách giảng diễn nhiều nhất là Mật Khế và Tâm Minh Lê Đình Thám. Cư sĩ Tâm Minh cũng viết những bài Phật pháp bằng Pháp văn để đăng trên báo Viên Âm nữa.
Trong các số đầu của Viên Âm, ông tự tay viết cả truyện ngắn (ký tên T.M.), truyện dài (ký tên Châu Hải) và truyện hài hước (ký tên Ba Rảm), gọi đó là những “biệt khai phương tiện”. Tuy rằng truyện ngắn và truyện dài của ông có nhiều ý vị nhưng vì độc giả Viên Âm muốn dành hết số trang cho giáo lý nên đến số 4, ông hy sinh hai mục đó và chỉ giữ lại mục câu chuyện khôi hài, tức là câu chuyện của chú tiểu Cửu Giới.
Sau lễ Phật Đản 1935, có nhiều bài báo công kích đạo Phật, cho rằng đạo Phật là đạo ru ngủ và phục hưng Phật giáo là một việc làm không hợp thời. Chẳng hạn báo Ánh Sáng ra ngày 8.6.1935 đã đăng một bài của Kính Hiển Vi. Nhan đề là Phật Giáo Dưới Kính Hiển Vi. Ký giả Nguyễn Xuân Thanh của Viên Âm bác bỏ các luận cứ của Kính Hiển Vi, và bảo rằng Kính Hiển Vi chỉ “có thể để xem vi trùng chứ không có thể xem Phật giáo”.
Ông cho rằng Phật giáo rất thích hợp với đời sống mới, rằng đạo Phật có đủ tinh thần cải cách, tinh thần độc lập, tinh thần thực hành và tinh thần dũng cảm.
Tuy chứng minh đạo sư của hội là Giác Nhiên có viết thư khuyên Viên Âm “tránh sự cãi cọ như tránh hang lửa trừ khi phải hộ pháp”, tạp chí Viên Âm vẫn chứng tỏ làm một tạp chí có biện tài. Trong khi Tâm Minh đối chất với Bích Liên và những học giả khác về đề tài “Cái Hồn”, thì Nguyễn Xuân Thanh thẳng tay phê bình những bài viết trên các báo Tràng An và Ánh Sáng về đạo Phật.
Chủ trương của Nguyễn Xuân Thanh là đạo Phật có thể luyện cho con người một tinh thần tự lập, khẳng khái, cương quyết, biết hy sinh, và thanh niên của đạo Phật là người có thể thực hiện được tinh thần ấy vì họ là những bậc đã phát bồ đề tâm.
Cây bút Nguyễn Xuân Thanh là cây bút thanh niên. Ông nhấn mạnh với đối phương: “Người nào muốn phê bình đạo Phật thì trước hết, ít nữa cũng phải biết đạo Phật là chi đã”. Nguyễn Xuân Thanh còn viết nhiều bài nữa để chứng minh rằng Phật học rất cần thiết để bổ túc cho khoa học.
Rất nhiều đoàn viên của Đoàn Phật Học Đức Dục đã đóng góp bài cho Viên Âm: Lê Hữu Hoài, Phạm Hữu Bình, Lê Bối, Trần Đỗ Cung, Ngô Điền, Nguyễn Năng Viên, Nguyễn Hữu Quán, Võ Đình Cường, Đinh Văn Vinh, Hoàng Kim Hải, Trực Hiên, Hà Thị Hoài, Nguyễn Khải, Ngô Đồi, trong đó Phạm Hữu Bình là một trong những người có kiến thức giáo lý vững chãi nhất. Ông đã viết về Duy Thức trong nhiều số Viên Âm.
Đoàn Phật Học Đức Dục lại có tổ chức Phật học Tùng Thư và xuất bản nhiều sách Phật, trong đó có cuốn Phật Giáo Và Thanh Niên Đức Dục của Phạm Hữu Bình và cuốn Phật Giáo Và Đức Dục của Đinh Văn Vinh. Hai cuốn này đều nhằm đến sự xây dựng phong trào thanh niên Phật tử.
Tuy làm được thật nhiều việc, ông vẫn có thái độ khiêm cung và sự khiêm cung và sự khiêm cung này được trông thấy nơi một bài thơ ông làm và đăng ở Viên Âm số 17 (tháng Chín 1935): Bấy nay vật vã kiếp phù trầm/ May đặng vào tai tiếng Phạm Âm/ Tùy tiện trau dồi gương chánh kiến/ Ứng cơ giảng giải lý duy tâm/ Ngộ mê vẫn đủ ngôn thân ý/ Sinh tử nguyên vì sát đạo dâm/ Tam bảo từ bi xin mật hộ/ Cho khi hoằng pháp khỏi sai lầm.
Nhiều ban Đồng Ấu mới được thành lập, và những ban này bắt đầu hướng dẫn, học tập và rèn luyện bởi những đoàn viên của đoàn Phật học Đức Dục. Cuốn sách căn bản về Phật học để giáo dục thanh thiếu niên hồi ấy là cuốn Phật Giáo Sơ Học được đoàn Phật Học Đức Dục soạn và ấn hành năm 1942. Thấy thế hệ trẻ làm việc có hiệu quả, Lê Đình Thám giao cho họ việc biên tập Viên Âm và sử dụng tạp chí này để tạo dựng một thế hệ Phật tử mới.
Từ số 48 trở đi, Viên Âm đổi mới hoàn toàn. Hầu hết mọi bài vở đều do đoàn viên Đoàn Phật Học Đức Dục viết. Văn của họ mới, gọn và dễ hiểu, hướng cả về tuổi trẻ. Truyện tiền thân của họ viết làm say mê thiếu niên và thiếu nữ. Trong phần Pháp văn họ viết về sự thực tập thiền định (Pratique de la Méditation), giới thiệu phần thực tiễn và tinh ba nhất của đạo Phật cho giới tân học.
Tạp chí Tam Bảo
Tạp chí xuất bản năm 1937 đã bị đình bản vào giữa năm 1938. Tờ Tam bảo là cơ quan truyền bá cuộc chấn hưng Phật Giáo ở miền Nam Trung Phần (Bình Định)
Hội Phật học Bình Định là một trong những hội hoạt động khá nhất ở Trung Kỳ. Tại chùa Long Khánh, một Phật học đường cấp trung đẳng được hội thiết lập đầu năm 1937 do thiền sư Phước Huệ đứng làm đốc giáo. Thiền sư Phước Huệ vì lý do sức khỏe, từ đây chỉ ở lại Bình Định và dạy Phật học đường Long Khánh, chứ không ra Huế nữa.
Vì lý do đó, nhiều học tăng lớp đại học tại Huế, trong số đó có nhiều vị được gửi từ Phật học đường Lưỡng Xuyên ra, đã theo về Bình Định và tiếp tục học nơi Phật học đường Long Khánh. Trong số đó ta có thể kể thiền sư Thiện Hòa, Thiện Hoa, Hiển Thụy, Hiển Không và Bửu Ngọc.
Tạp chí này thường xuyên đề cập đến nhu yếu thống nhất các đoàn thể Phật giáo trong xứ thành một hội Phật Giáo Liên Hiệp. Bản ý và chủ đích hành động của hội Đà Thành Phật Học, theo Tam Bảo, là:
1) Phò khởi tăng giới, nguyện cùng chư Sơn Nam Bắc liên đoàn, để bảo tồn Tăng Bảo.
2) Nguyện cùng chư Sơn chấn chỉnh tôn phong, chung một điều lệ thi hành, cần nhất là phải giữ cho được hoàn toàn giới hạnh .
Về một hội Phật giáo liên hiệp thống nhất, Tam Bảo đề nghị tổ chức hai cơ quan: cơ quan Hoằng Pháp và cơ quan Hộ Pháp. Cơ quan Hoằng Pháp do chư tăng chủ động, gồm có các trách vụ nghi lễ, tổ chức, truyền bá và giáo dục. Cơ quan Hộ Pháp, do cư sĩ phụ trách gồm có các trách vụ cứu tế, ngoại giao, kiểm sát, kiến trúc, điều độ và kinh tế..
Trước khi các tạp chí Viên Âm của hội An Nam Phật Học và Liên Hoa của Giáo Hội Tăng Già Trung Việt ra đời, tại Huế đã có đặc san Phật Giáo Văn Tập và tạp chí Giác Ngộ. Đặc san Phật Giáo Văn Tập được xuất bản lần đầu vào ngày Phật Đản 1947, do cư sĩ Tráng Đinh chủ trương.
Cư sĩ Tráng Đinh là một người có lòng đối với nền văn học Phật giáo; ông đã liên lạc với các cây bút tăng sĩ và cư sĩ hồi đó để đề nghị sáng tác và đã đứng ra xuất bản văn tập này ba tháng một lần với phương tiện tài chính do chính ông vận động.
Phật Giáo Văn Tập ra đời trước khi hội Việt Nam Phật Học được thành lập. Đến năm 1949, ông vận động xin phép xuất bản tạp chí Giác Ngộ, mời nhà văn Võ Đình Cường làm chủ bút, còn mình thì đứng làm chủ nhiệm kiêm quản lý. Tờ Viên Âm (bộ mới) ra đời đầu năm 1950, do cư sĩ Chơn An Lê Văn Định đứng làm chủ nhiệm, thiền sư Trí Quang làm chủ bút, và cư sĩ Tôn Thất Tùng làm quản lý.
Viên Âm chuyên về khảo cứu giáo lý, khác hẳn với Giác Ngộ có tính cách văn nghệ và thời sự. Cộng tác với Giác Ngộ, ngoài Võ Đình Cường còn có Nguyễn Hữu Ba, Cao Khả Chính, Nguyễn Khắc Ngữ, Tống Anh Nghị, Trương Tú, Trinh Tiên và Lê Bối.
Viên Âm là cơ quan chính thức của hội An Nam Phật Học; thiền sư Trí Quang cũng đã viết trong tạp chí này với những bút hiệu như Thích Kim Sơn và Thích Thuyền Minh. Các thiền sư Thiện Siêu, Thiện Minh, Mật Nguyện và cư sĩ Chơn An đều có cộng tác với tạp chí này.
Tạp chí Liên Hoa
Là Tạp chí cuả Giáo Hội Tăng Già Trung Việt, được xuất bản năm 1959, do thiền sư Đôn Hậu đứng làm chủ nhiệm và thiền sư Đức Tâm đảm nhiệm trách vụ chủ bút. Tạp chí này có sự cộng tác của nhiều học tăng đang du học tại ngoại quốc.
Ngoài phần giáo lý, tạp chí cũng đăng nhiều bài có tính cách văn nghệ. Tạp chí này đình bản vào năm 1966. Tại Đà Lạt, từ năm 1950 đã có tạp chí Hướng Thiện do thiền sư Thiện Minh làm chủ nhiệm. Đến năm 1951, tạp chí này đình bản.
Tạp chí Liên Hoa
Một tạp chí khác ra đời lấy tên là Liên Hoa, do cư sĩ Huỳnh Văn Trọng chủ nhiệm. Tạp chí này được một tổ chức Phật tử trí thức tên là Phật Giáo Thiện Hữu trợ lực về phương diện tài chính. Trong tổ chức này có những cư sĩ như Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Minh Tâm, André Migot và Pierre Marti. Bác sĩ Migot đã gây nhiều chấn động thế giới Công giáo vì tác phẩm Phật Giáo Với Văn Minh Âu Tây, trong đó ông chủ trương nên để cho người Á Đông theo tôn giáo của họ là Phật giáo và chấm dứt truyền bá Cơ Đốc giáo trong xã hội của họ.
Cư sĩ Pierre Marti, pháp danh là Long Tử, đã từng diễn thuyết về Phật giáo tại các chùa cao nguyên Trung Phần bằng tiếng Việt. Ông là quản lý cho tập san Liên Hoa từ năm 1951 đến 1954. Chủ bút của tạp chí này là thiền sư Nhất Hạnh.
Tạp chí Pháp Âm
Năm 1923 trong một buổi họp của đại diện các tổ đình tại chùa Long Hòa ở Trà Vinh, dưới sự hướng dẫn của ngài Khánh Hoà, một tổ chức tăng sĩ được thiết lập gọi là hội Lục Hòa liên Hiệp với mục đích là vận động thành lập một hội Phật giáo Việt Nam Toàn Quốc làm cơ sở chấn hưng Phật giáo.
Trong số những người cộng sự của ông, có một vị tăng sĩ trẻ đầy nhiệt huyết tên là Thiện Chiếu. Thiện Chiếu khác hẳn với hầu hết các tăng sĩ đương thời, vì ông là người tân học xuất gia. Năm 1927, Thiện Chiếu được ông gửi ra Bắc để vận động. Tại đây, Thiện Chiếu đã tiếp xúc với các tổ đình Linh Quang, Hồng Phúc, Tiên Lữ v.v..., nhưng gặp nhiều trở ngại, cuộc vận động bất thành.
Sau mùa an cư tại Quy Nhơn, Khánh Hòa trở về Nam đề nghị khởi xướng phong trào ở Nam Kỳ trước. Năm 1928 ông cùng ba vị tăng sĩ đồng chí là Từ Nhẫn, Chơn Huệ và Thiện Niệm lo tổ chức việc xây dựng Thích Học Đường và Phật Học Thư Xã tại chùa Linh Sơn đường Duaumonht Sài Gòn.
Năm 1929, Khánh Hòa và Thiện Chiếu lại vận động giới cư sĩ hữu tâm ở Trà Vinh gửi mua cho Thư Xã một bộ Tục Tạng Kinh gồm 750 tập và an trí tại chùa Linh Sơn.
Năm 1929, Khánh Hòa cho ấn hành một tập san Phật học bằng quốc ngữ lấy tên là Pháp Âm. Pháp Âm đặt cơ sở tại chùa Xoài Hột Mỹ Tho, dựa trên sự ủng hộ kinh tế của bổn đạo chùa này. Đó là tờ báo Phật đầu tiên bằng quốc ngữ tại Việt Nam. Số đầu ra đời ngày 13.8.1929.
Nhưng Thiện Chiếu cho từ báo ấy là “xưa” quá, cho nên ông tự ý vận động xuất bản một văn tập lấy tên là Phật Hóa Tân Thanh Niên, nhắm tới giới thanh niên trí thức. Tờ này đặt căn cứ tại chùa Chúc Thọ ở Xóm Gà (Gia Định). Trong khi công việc vận động xây dựng Thích học đường đang được xúc tiến thì Khánh Hòa cùng các bạn đồng chí quyết định thành lập một hội Phật học để làm bàn đạp cho sự tiến tới thành lập Phật giáo Tổng Hội.
Ông triệu tập các đồng chí, và với sự cộng tác của một số cư sĩ tại Sài gòn như các ông Phạm Ngọc Vinh, Huỳnh Văn Quyền, Trần Nguyên Chấn, Trần Văn Khuê, Nguyễn Văn Nhơn, Lê Văn Phổ và Nguyễn Văn Cần... thành lập hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Hồi đó Khánh Hòa đã được năm mươi lăm tuổi. Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học được thành lập năm 1931, điều lệ của hội được phê y ngày 26 tháng Tám năm ấy.
Tạp chí Từ Bi Âm
Thiền sư Từ Phong chùa Giác Hải ở Chợ Lớn được bầu làm chánh hội trưởng. Khánh Hòa giữ trách vụ phó nhất hội trưởng và chủ nhiệm tạp chí Từ Bi Âm. Tạp chí này chào đời ngày 1.3.1932. Hai vị cố vấn là thiền sư Huệ Định (71 tuổi) và thiền sư Trí Thiền (50 tuổi). Ông Trần Nguyên Chấn làm phó nhì hội trưởng. Chùa Linh Sơn ở số 149 đường Douaumont được lấy làm trụ sở, ngay cạnh khu đất riêng của ông Trần Nguyên Chấn.
Ngay sau khi hội được thành lập, sáu căn nhà ngói được khởi công xây dựng gần chùa Linh Sơn, trên khu đất của ông Trần Nguyên Chấn với sự đồng ý của ông này. Khuôn viên chùa chật hẹp nên thư viện cũng được xây cất trên đất ông Chấn. Thư viện này có tên là Pháp Bảo Phương. Tục Tạng Kinh được đem an trí tại đây. Thiện Chiếu lại vận động giới cư sĩ ở Chợ Lớn gởi mua thêm cho Pháp Bảo Phương một Đại Tạng Kinh vừa mới được ấn hành tại Trung Hoa.
Thất vọng về hội Nam kỳ Nghiên Cứu Phật Học, đầu năm 1933 Khánh Hòa từ bỏ chức vị phó hội trưởng và chủ nhiệm Từ Bi Âm. Lúc đó Từ Bi Âm đã ra tới số 45. Ông rút về Trà Vinh để cùng các thiền sư Huệ quang và Khánh Anh để tìm con đường mới.
Một vị thiền sư ở chùa Thiên Phước quận Trà Ôn tên là Chánh Tâm được mời giữ chức chủ nhiệm Từ Bi Âm. Tuy vậy nhờ sự hợp tác của các thiền sư Bích Liên và Liên Tôn mà Từ Bi Âm còn đóng được một vai trò hoằng pháp đáng kể.
Từ Bi Âm không đóng góp được gì trong việc xây dựng ý thức văn hóa dân tộc, nhưng trong mười năm trời cũng đã làm được công việc phổ thông hóa Phật học bằng quốc ngữ. Bích Liên và Liên Tôn phát xuất tại Bình Định. Chính Khánh Hòa đã khám phá được hai người này khi ông ra thuyết pháp tại giới đàn Long Khánh ở Quy Nhơn và năm 1928. Nhận thấy thực tài của hai người, ông bèn kết làm thân hữu và mời hai người vào Nam họat động.
Bích liên đã làm chủ bút Từ Bi Âm trong khi Liên Tôn làm phó chủ bút. Trần Nguyên Chấn làm quản lý của tạp chí này, và đã không bao giờ để cho Từ Bi Âm chết vì lý do tiền bạc.
Trong các tập san Từ Bi Âm và Tam Bảo, Bích Liên còn viết nhiều bài Phật pháp bằng thơ lục bát. Năm 1938, ông được mời về làm giáo sư tại Phật học đường Long Khánh ở Quy Nhơn.
Tạp chí Từ Bi Âm có thể nói là đóng góp đáng kể gần như duy nhất của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học. Tuy nhiên, Bích Liên và Trí Độ không làm việc được mãi với hội này. Cuối năm 1936, Bích Liên trở về Bình Định, nhận chức giáo thọ cho Phật học đường chùa Long Khánh, Quy Nhơn; Trí Độ cũng về Bình Định và sau đó ra Huế dạy trường An Ban Phật học ở Báo Quốc.
Tạp chí Duy Tâm
Năm 1935, hội xuất bản sách Phật Học Giáo Khoa bằng hai thứ tiếng Việt và Hán. Tạp chí Duy tâm của hội Lưỡng Xuyên Phật Học được ra mắt vào tháng Mười năm 1935. Huệ Quang đứng làm chủ nhiệm và quản lý là bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe. Tòa soạn được đặt tại chùa Long Phước. Tạp chí khởi dịch từ các kinh Ưu Bà Tắc Giới và Quán Vô Lượng Thọ Phật.
Hồi ấy phong trào Phật học đã lan rộng cho nên báo Lục Tỉnh Tân Văn tại Sài Gòn cũng mở “Trang Phật Học”. Duy Tâm thường lên tiến kêu gọi thành lập một Phật Giáo Tổng Hội để thống nhất tổ chức Phật Giáo Việt Nam.
Từ cuối năm 1937 trở đi, trong số nào Duy Tâm cũng có bài bàn về vấn đề thành lập Phật Giáo Tổng Hội. Hội Lưỡng Xuyên Phật Học có nhiều liên lạc thân hữu với hội An Nam Phật Học và với sơn môn Thừa Thiên. Năm 1936, hội gửi bốn học tăng xuất sắc ra học trường Sơn Môn Phật Học. Năm 1939 lại gởi ra thêm sáu vị nữa.
Trường của hội bị đóng cửa trong mấy tháng vì thiếu tài chính, sau nhờ có một nữ cư sĩ ở Đa Kao là bà Thái Văn Hiệp pháp danh là Chân Nhật nhận trợ cấp bảy mươi lăm đồng một tháng cho nên mới mở cửa lại được. Lúc bấy giờ học tăng Hiển Thụy ra Huế học tốt nghiệp. Ông trở vào trường Lưỡng Xuyên cũng mời thêm các thiền sư Mật Thể và Như Ý từ Thừa Thiên vào để phục lực giảng dạy Phật pháp.
Nhưng đến cuối năm 1941, trường lại bị đóng cửa vì thiếu tài chính, và hội Lưỡng Xuyên Phật Học chỉ còn đủ sức duy trì những lớp tiểu học tại các chi hội địa phương như Sa Đéc, Phú Nhuận và Kế Sách.
Những liên hệ giữa hội Lưỡng Xuyên Phật Học và Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học không được tốt đẹp. Trần Nguyên Chấn vì không ưa sự hiện diện của hội Lưỡng Xuyên, nên đã có lần kích bác hội và tạp chí Duy Tâm trên báo Từ Bi.
Tạp chí Tiến Hóa
Là cơ quan truyền bá Phật pháp và cứu tế xã hội của hội Phật Học Kiêm Tế (lập năm 1936). Số đầu ra vào ngày đầu năm năm 1938; Phan Thanh Hà đứng tên chủ bút. Thiền sư Thiện Chiếu không giữ chức vụ nào trên mặt giấy tờ cả; ông chỉ làm việc phía sau.
Những bài trên Tiến Hóa do ông viết được ký tên bằng bút hiệu. Chủ nhiệm của Tiến Hóa là ông Đỗ Kiết Triệu. Tạp chí Tiến Hóa số ra mắt đã đăng hình cô nhi viện Kiêm Tế, một cô nhi viện có thể gọi là cô nhi viện Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam tổ chức theo kiểu Tây phương. Tiến Hóa số 1 cũng đăng hình hội Phật Học Kiêm Tế cứu trợ nạn nhân bão lụt tại Rạch Giá và cho biết rằng hội đã nuôi ăn từ 200 đến 300 nạn nhân bảo lụt tại trụ sở của hội trong thời gian hai tháng. Hình chụp ngày 26.9.1937.
Ngoài chủ ý muốn chứng minh rằng hội Phật Học Kiêm Tế không phải là hội “chịu nói suông”, Tiến Hóa lại tuyên bố rằng tờ báo không những sẽ “tuyên truyền” cho Phật học mà còn ‘tuyên truyền” cho “bất cứ học thuyết nào có đủ phương pháp làm chúng sanh khỏi khổ được vui”. Theo Tiến Hóa, những học thuyết nào có tính cách từ bi bác ái thì đều được Tiến Hóa công nhận là “Phật pháp” cả.
Ký giả Trầm Quân của Tiến Hóa giữ mục triết học thường thức. Bắt đầu từ số 1 ông viết về đề tài “Triết học là gì?”. Trong số 4, ông đã trình bày Duy Vật Biện Chứng Pháp. Từ các số 6 trở đi, ông phê bình những hình thức khác nhau của Duy Tâm Luận. Đứng về phương diện lý thuyết. Tiến Hóa chủ trương những điểu sau đây:
1. Người Phật tử mới phải có sự giác ngộ mới. Những sự giác ngộ mới này do các khoa học khám phá. Người Phật tử phải học khoa học để biết rằng không hề có Thiên Đường cùng Địa Ngục. Phải học kinh tế học để biết rằng quan niệm giàu nghèo tại mạng là sai, rằng những đau khổ của con người là do những chế độ chính trị đè nén và những cuộc khủng hoảng kinh tế, chứ không phải do một vị thần linh ban phúc giáng họa.
2. Phật Thích Ca chỉ là bậc “sáng suốt hoàn toàn” trong thời đại của Ngài mà thôi. Bây giờ cái biết của nhân loại đã trở thành rộng lớn; phải nắm hết tất cả những cái biết về các khoa học ngày nay thì mới được gọi là Phật.
Báo xuân Phật giáo xưa
Chủ nhật, 17 Tháng 4 2011 21:11 Nguyễn Ngọc Phan
Trong lịch sử báo chí Việt Nam, tờ báo xuân đầu tiên ở nước ta là tờ Ðông Pháp Thời báo ra đời năm Mậu Thìn, 1928; Kế đến là các tờ Thần Chung xuân Canh Ngọ 1930, rồi Phụ nữ Tân Văn xuân Canh Ngọ 1930, Công Luận xuân Tân Mùi 1931, Trung Lập, xuân Ất Hợi 1933, Ðuốc Nhà Nam xuân Ất Hợi 1935...(1) Báo xuân Phật giáo xuất hiện muộn hơn, đến năm 1937 trở đi mới có một số tờ thể hiện rõ nét về nội dung và hình thức, nhưng không có những giai phẩm xuân riêng biệt như báo chí sau nầy mà vẫn đánh số thứ tự theo năm. Nhân 80 năm ngày ra đời tờ báo Phật giáo đầu tiên, xin điểm qua vài số báo xuân của những năm đầu thế kỷ XX:
-Tập chí Duy Tâm Phật học (2) số 17, xuân Đinh Sửu, ra ngày 1-1-1937 với câu đối:
Đêm trừ niên tống quỉ vô minh “tát đát da đa”, phong pháo miệng.
Tiết chánh đán nghinh thần đại giác, “phi phan phủ phất” nén hương lòng.
-Tờ Đuốc Tuệ (3) số 78 xuân Mậu Dần, ra ngày 1-2-1938 với bài Đuốc Tuệ mừng tuổi đăng bên dưới tiêu đề “Cung chúc tân niên”;
-Từ Bi Âm (4) xuân Đinh Sửu 1937 ngay trang đầu có ba bài thơ liên hoàn mừng Xuân của Giảng Trai và bài xã luận khá dài của hòa thượng Liên Tôn với nhan đề Mừng xuân bằng cách nào;
-Tạp chí Bác Nhã âm (5) số xuân Mậu Dần 1938 với bài Bác Nhã chào xuân của Giác Quang...
Giai đoạn nầy, Mặt trận bình dân trong đó có Đảng Cộng sản Pháp làm nòng cốt đã thắng thế và lên nắm quyền ở Pháp. Do vậy chính sách của Chính phủ Pháp đối với thuộc địa có sự thay đổi. Cuối năm 1936 phong trào cách mạng Dân chủ Việt Nam bắt đầu đi lên với khí thế mới, tiếp tục phát triển trong năm 1937. Năm 1938 có thể coi là đỉnh cao với phong trào Đông Dương Đại hội, đã giành được thắng lợi trên nhiều mặt, trong đó báo chí có vai trò rất quan trọng. Đây cũng là thời kỳ đỉnh cao phong trào chấn hưng Phật giáo nhằm đứng lên phục hồi lại giá trị truyền thống của mình. Do đó báo chí Phật giáo nói chung và các tờ báo xuân trong giai đoạn nầy cũng hòa nhập vào dòng chảy lịch sử và đã không hề bàng quan trước những sự kiện xã hội quan trọng. Tập chí Duy Tâm Phật học số 17, xuân Đinh Sửu, ngày 1-1-1937 ngay trang đầu đăng bức thư như sau:
“Quan thủ hiến J.Brevié Toàn quyền Đông Dương và quan Tổng trưởng đại biểu chánh phủ Bình Dân Justin-Godart mới đến Đông Pháp lần thứ nhứt mà chúng ta được thấy hai ngài có lẻ hai ngài là Bửu tinh giáng lâm hai ngài đến xứ nầy cũng vì lòng chan chứa đức từ bi tâm công bình để thay mặt cho nước Pháp. Sau khi quan sát trực tiếp, có lẻ dân trong năm xứ được hưởng cái hạnh phúc giải phóng: chánh trị, xã hội kinh tế, học thuật giáo dục vệ sanh, ngôn luận....
Báo Đuốc Tuệ số xuân Mậu Dần, ra ngày 1-2-1938 đăng bài Đuốc tuệ mừng tuổi bộc lộ tâm tình ước nguyện đầu năm“Lại nhờ có ngày hôm nay, nhân lễ mừng xuân được lúc thanh nhàn, khắp cổ công sĩ nông, có dịp ngồi mà tính cuộc tiền trình, mong cho năm nầy hơn năm trước. Cho đến những người trù mưu việc nước, thấy tin xuân cũng cầu cho thế vận nhật tân”. Đáng chú ý trong mục Văn uyển số nầy có bài “hài văn” giải ách đầu năm của Quảng Tràng Thiệt cư sĩ nêu thực trạng xã hội đương thời và kêu gọi tu tâm dưỡng tánh, giáo dục trong gia đình, lập thêm trường học, mở nhiều bệnh viện, mở mang kỹ nghệ, tôn trọng nhân đạo, giảm thuế, hạ sưu, tăng tiền công....
- “Hoặc ngộ tranh quyền cướp nước, phân giống chia nòi, chỗ sướng như trời, chỗ như địa ngục chi ách, kim nhật kim thì, học phật bình đẳng, kim đường thỉnh giải.
-“Hoặc ngộ thất giáo thất học, dốt nát u mê, rút rát (nhút nhát) vụng về, đành thân trâu ngựa chi ách, kim nhật kim thì, lập nhiều trường học, đương kim thỉnh giải...
Đặc biệt, trong bài Nhiệm vụ của tăng chúng đạo phật đối với xã hội ngày nay, tác giả ĐNT viết “Ngày nay là thời đại ngày càng thịnh hành về chủ nghĩa xã hội, là cái chủ nghĩa giải phóng triệt để cho loài người. Thế mà đạo Phật chính lại là vì cái mục đích giải thoát cho chúng sinh được thoát mọi sự khổ nảo mà hưởng mọi sung sướng, cái tông chỉ của chủ nghĩa từ bi đạo phật là hoàn toàn ở đó.
Như vậy tông chỉ giải thoát của đạo Phật với tông chỉ giải phóng của chủ nghĩa xã hội ngày nay thực là khác đường mà lại cùng về một chỗ” (Nhiệm vụ của tăng chúng đạo phật đối với xã hội ngày nay – ĐNT- Đuốc tuệ số 79, tháng 2-1938).
Từ sau năm 1940, nhất là sau thất bại cuộc Nam kỳ khởi nghĩa, tình hình chính trị xã hội trong nước u ám hơn sau những cuộc đàn áp khốc liệt của nhà cầm quyền, báo chí Phật giáo nói chung và những giai phẩm xuân trong giai đoạn nầy cũng không thoát khỏi tâm tư ấy:
“Nông nổi thống khổ của loài người từ khi có lịch sử tới nay, thực chưa thấy có bao giờ thống khổ ác liệt đến như ngày nay. Chẳng nói đâu xa cứ xem ngay những biến cố trên thế giới bây giờ cũng đủ thấy cái nổi thống khổ của loài người đã không thể hồi đầu được nữa...”(bài “Chúng ta phải nương theo lời Phật mà xây đắp nên cái nền dân gian Phật giáo - Đuốc Tuệ xuân 1941, ngày 1-1-1941)
“Xuân về, xuân đã mang đến cho mọi người mọi vật mỗi điều toại chí, nên muôn vật vui tuơi, còn riêng ta, đối với xuân ta không hi vọng...Đã vậy mà mỗi lần xuân về muôn vật vui tuơi thì riêng ta lại lo nghĩ trong người không an....Nghĩ cách súc dưỡng năng lực để đảm nhận cái trọng trách chấn hưng phật giáo, hoằng pháp lợi sanh và cải tạo cỏi ta bà trở nên cảnh cực lạc” (Xuân về -Thích Hiển Thụy-Từ Bi Âm số 217, tháng 1-1944).
Hòa thượng Thích Minh Nguyệt trong Bác nhã âm số 17, xuân Canh Thìn 1940 tổng kết “Thế giới hiện nay đương bồng bột phấn khởi cái thảm khốc về nổi chiến tranh mấy triệu lương dân của các dân tộc, mặc dù không thù khích nhau, chỉ vì cái quan niệm sâu ác của kẻ có thế lực trong một quốc gia gây nên mà phải xô xát đẩm dẫm nhau, chẳng những biến máu non xương mà không khí oán sầu của nhơn loại đang phiêu diêu giữa vũ trụ kết nên cái thảm họa bi oan.”(bài Một nguyên nhân sẽ đưa thế giới và nhân sanh vào con đường tuyệt diệt)
Cũng trong số xuân nầy, tác giả Giác Quang viết:
Người trần tục khờ chi hóa bấy
Thấy hoa cười trở nói hoa vui
Vui xuân tuy thấy hoa cười
Mặt hoa thường ứa một vài giọt sương
(Bác Nhã cao hứng xuân- Bác Nhã âm số 17- tháng 1-1940)
Tám mươi năm, từ khi tờ báo Phật giáo đầu tiên ra đời, ở cấp độ đậm nhạt khác nhau, ta thấy báo chí Phật giáo trong sự nghiệp xiển dương Phật pháp và chấn hưng Phật giáo luôn gắn liền với nhân sinh thời cuộc, bộc lộ những ưu tư trăn trở trước hoàn cảnh mất nước và sự cùng khổ của đồng bào, mặc dù đâu đó cũng có những người "chấn hưng Phật giáo là vì Phật giáo chứ không phải vì nhân sinh" như tác giả Ngộ Không đã lên án trong bài viết về Phật Giáo Và Xã Hội trên tạp chí Pháp Âm năm 1937. (6)
Chú thích:
1. Phan Thứ Lang - Những tờ báo xuân đầu tiên ở Nam Bộ. Tạp chí Xưa và nay số 71B, tháng 1-2000).
2. Tập chí Duy Tâm Phật học, xuất bản hàng tháng số 1 ra tháng 10-1935. Chủ nhiệm Nguyễn Văn Ân (tức Hòa thượng Huệ Quang); Quản lý Nguyễn Văn Khoẻ. Tập chí có hai vị Hoà thượng nổi tiếng chứng minh: Đại đạo sư Thích Từ Phong và Đốc học sư Lê Khánh Hòa. Tòa soạn đặt tại Lưỡng xuyên Phật học hội tỉnh Trà Vinh.
3. Đuốc Tuệ, Tuần báo ra ngày 1 và 15 hàng tháng. Số 1 ra ngày 10-12-1935. Số cuối cùng năm 1945. Báo quán đặt tại chùa Quán Sứ- Hà Nội. Chủ nhiệm Nguyễn Năng Quốc, chủ bút Phan Chung Thứ, Quản lý Cung Đình Bích.
4. Từ Bi Âm: Xuất bản mỗi tháng 2 kỳ. Năm thứ nhất số 1 ra ngày 1-1-1932, số cuối cùng 223 năm thứ 11; Chủ hiệm Phạm Ngọc Vinh. Tòa soạn đặt tại chùa Linh Sơn, số 149, đường Rue de Douaumont- Sài Gòn.
5. Bác Nhã Âm, Tạp chí ra hàng tháng, số 1 tháng 3-1936; Chủ nhiệm Đỗ Phước Tâm, tự Minh Chánh. Là cơ quan tuyên truyền của Thiên Thai Tiền giáo tông. Tòa soạn đặt tại chùa Thiên Bửu, tỉnh Bà Rịa.
6. Pháp Âm số 5 (tháng Năm, 1937)
• Home
• Hoạt Động Phật Sự
• Từ Thiện Xã Hội
• Lịch Sử Văn Hoá
• Tuệ Tĩnh Đường
• Biên Khảo
• Bạn đọc viết
• Ca khúc
• Bạc Liêu
• C.Nghệ T.Tin
Bạn đang xem:Home Lịch Sử Văn Hoá Báo chí Phật giáo xưa trong dòng chảy lịch sử (Nguyễn Ngọc Phan)
Báo chí Phật giáo xưa trong dòng chảy lịch sử (Nguyễn Ngọc Phan)
Người viết: ThanhHung
16/12/2011
BÁO CHÍ PHẬT GIÁO XƯA TRONG DÒNG CHẢY LỊCH SỬ
* Nguyễn Ngọc Phan
Trong lịch sử báo chí, Nam bộ là vùng đất đầu tiên xuất hiện báo chí Phật giáo. Từ những tờ báo đầu tiên, báo chí Phật giáo đã đóng góp rất lớn vào công cuộc chấn hưng Phật giáo, đồng thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của người dân mất nước, kêu gọi bình đẳng giới và đặc biệt trong công cuộc kháng chiến chống Pháp, báo chí Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong việc kêu gọi đoàn kết tăng ni Phật tử hành động cứu nước.
1. Những tờ báo đầu tiên trong phong trào chấn hưng Phật giáo.
Pháp Âm là tờ báo Phật giáo đầu tiên được xuất bản ngày 31.8.1929. Chủ nhiệm là hòa thượng Lê Khánh Hòa (1877 – 1947), trụ trì chùa Tiên Linh (Mõ Cày-Bến Tre). Năm 1929, ông có một số đệ tử thân tín ở chùa Sắc tứ Linh thứu, làng Thạnh Phú, Mỹ Tho ([1]) vì vậy tờ Pháp Âm được phát hành ở chùa nầy, đồng thời cũng là nơi trị sự. Tờ Pháp Âm được in ở nhà in Thạnh Mậu –Sài Gòn. Báo có 48 trang, khổ 14 x 20 cm. Hai bên có hai dòng chữ quốc ngữ và chữ Hán nêu chủ trương của tờ báo là “Từ bi, Bác ái, Tự giác và Giác tha”. Theo dự kiến của người sáng lập, Pháp Âm là nguyệt san, mỗi tập loại 6 quyển, nhưng tờ báo nầy chỉ ra được 1 số duy nhất. Theo lịch sử địa phương, sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, tờ báo Dân Cày –Tiếng nói của tỉnh Đảng bộ Mỹ Tho cũng được biên tập phát hành tại chùa Sắc tứ Linh thứu. Chính quyền Thực dân phát hiện, chùa bị lục soát, vị Thủ tọa bị truy nã, Hòa thượng Khánh Hòa phải ôm kinh sách đến sở Mật thám giải trình. Sau biến cố nầy, tờ Pháp Âm không ra được các số kế tiếp và nó trở thành kỷ yếu của cuộc vận động Chấn hưng phật giáo, các bài viết của Hòa thượng Khánh Hòa rất có giá trị trong việc tìm hiểu phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam kỳ trong những năm đầu của thế kỷ XX.
Trong bài “Tự Trần”, Hòa thượng Khánh Hòa viết: “Phật giáo suy đồi là bởi tăng đồ thất học. Nay chỉ còn một đôi ông bạn học rộng thấy xa, nhưng lải rải ở nơi lục châu (tức lục tỉnh Nam kỳ-NV), chưa biết có ai đồng chí nhiệt thành mà đề xướng thật hành cái phương pháp ấy” ([2]).
Ước nguyện chấn hưng Phật giáo của vị Hòa thượng nầy được thể hiện bằng 3 mục tiêu hành động cụ thể là: Chỉnh đốn Tăng già; Kiến lập Phật học đường; Diễn dịch và xuất bản Kinh sách bằng chữ quốc ngữ. Trong suốt thời gian Hòa thượng Khánh Hòa đi đến các ngôi chùa nổi danh ở Nam kỳ và sang xứ Chùa Tháp để kêu gọi tăng ni tín đồ Phật giáo đoàn kết chấn hưng Phật giáo được thể hiện qua bài Hành trình nhựt ký. Đây là bài ký sự quan trọng, chiếm 12 trang trên tờ Pháp Âm và được viết với giọng văn truyền cảm, có sức thu hút. Hành trình nhựt ký không chỉ là thiên ký sự ghi chép tỉ mỉ công việc đi cổ động chấn hưng Phật giáo; ngoài những mẫu đối thoại sinh động phản ánh nhiệt tâm của người viết, bài ký mô tả nhiều chi tiết, cảnh vật những nơi tác giả trải qua, đồng thời bày tỏ tâm trạng thất vọng của mình trước sự bàng quan của đồng đạo: “...Tối qua tôi cũng bàn qua việc lập học đường nữa, té ra Hoà thượng cũng từ quyết, cứ nói mắc công kia việc nọ không thể chung lo. Ôi ! thất vọng rồi! Thật buồn.
Sau khi Pháp Âm đình bản, trợ thủ đắc lực của Hòa thượng Khánh Hòa là sư Thiện Chiếu cho ra đời Phật hóa Tân Thanh niên. Đây là tạp chí khổ nhỏ 14 x 20 cm, dày 49 trang, in tại nhà in Thạnh Thị Mậu, 186 Rue d`Espague, Sài Gòn, phát hành tại chùa Chúc Thọ, xóm Thuốc, xã Hạnh Thông, Gò Vấp. Phật hóa Tân Thanh niên thể hiện tư tưởng Phật giáo cấp tiến của giới tăng sĩ trẻ trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở giai đoạn này. Mục đích của Phật hóa Tân Thanh niên là “để gây cái nền chánh tín cho dân tộc nào ưa cái chủ nghĩa hòa bình và muốn cái hạnh phúc sanh tồn trên thế giới”. Nhưng tờ Phật hóa Tân Thanh niên cũng chỉ ra được một số thì phải đình bản.
Đây là hai tờ báo Phật giáo đầu tiên đồng thời là diễn đàn khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo.
2. Báo chí Phật giáo và những ưu tư trăn trở trước hoàn cảnh mất nước.
Giai đoạn 1936-1939, mặt trận Bình dân thắng thế và lên nắm quyền ở Pháp. Do vậy chính sách của chính phủ Pháp đối với thuộc địa có sự thay đổi. Cuối năm 1936 phong trào Cách mạng Dân chủ ViệtNam bắt đầu đi lên với khí thế mới, tiếp tục phát triển trong năm 1937. Năm 1938 có thể coi là đỉnh cao với phong trào Đông Dương Đại hội, đồng thời cũng là thời kỳ đỉnh cao phong trào Chấn hưng Phật giáo nhắm mục tiêu phục hồi lại giá trị truyền thống của mình. Do đó báo chí Phật giáo cũng hòa nhập vào dòng chảy lịch sử và đã không hề bàng quan trước những sự kiện xã hội quan trọng. Tập chí Duy Tâm Phật học số 17, ngày 1-1-1937 ngay trang đầu đăng bức thư như sau: “Quan thủ hiến J.Brevié Toàn quyền Đông Dương và quan Tổng trưởng đại biểu chánh phủ Bình Dân Justin-Godart mới đến Đông Pháp lần thứ nhứt mà chúng ta được thấy hai ngài có lẻ hai ngài là Bửu tinh giáng lâm hai ngài đến xứ nầy cũng vì lòng chan chứa đức từ bi tâm công bình để thay mặt cho nước Pháp. Sau khi quan sát trực tiếp, có lẻ dân trong năm xứ được hưởng cái hạnh phúc giải phóng: chánh trị, xã hội kinh tế, học thuật giáo dục vệ sanh, ngôn luận....
Báo Đuốc Tuệ số ra ngày 1-2-1938 đăng bài Đuốc tuệ mừng tuổi bộc lộ tâm tình ước nguyện “Lại nhờ có ngày hôm nay, nhân lễ mừng xuân được lúc thanh nhàn, khắp cổ công sĩ nông, có dịp ngồi mà tính cuộc tiền trình, mong cho năm nầy hơn năm trước. Cho đến những người trù mưu việc nước, thấy tin xuân cũng cầu cho thế vận nhật tân”. Đáng chú ý trong mục Văn uyển số nầy có bài “hài văn” giải ách đầu năm của Quảng Tràng Thiệt cư sĩ nêu thực trạng xã hội đương thời và kêu gọi tu tâm dưỡng tánh, giáo dục trong gia đình, lập thêm trường học, mở nhiều bệnh viện, mở mang kỹ nghệ, tôn trọng nhân đạo, giảm thuế, hạ sưu, tăng tiền công....Đặc biệt, trong bài Nhiệm vụ của tăng chúng đạo phật đối với xã hội ngày nay, tác giả ĐNT viết “Ngày nay là thời đại ngày càng thịnh hành về chủ nghĩa xã hội, là cái chủ nghĩa giải phóng triệt để cho loài người. Thế mà đạo Phật chính lại là vì cái mục đích giải thoát cho chúng sinh được thoát mọi sự khổ nảo mà hưởng mọi sung sướng, cái tông chỉ của chủ nghĩa từ bi đạo phật là hoàn toàn ở đó. Như vậy tông chỉ giải thoát của đạo Phật với tông chỉ giải phóng của chủ nghĩa xã hội ngày nay thực là khác đường mà lại cùng về một chỗ” ([3]).
Từ sau thất bại cuộc Nam kỳ khởi nghĩa năm 1940, tình hình chính trị xã hội ở Nam bộ u ám hơn sau những cuộc đàn áp khốc liệt của nhà cầm quyền, báo chí Phật giáo nói chung trong giai đoạn nầy cũng không thoát khỏi tâm tư ấy “Nông nổi thống khổ của loài người từ khi có lịch sử tới nay, thực chưa thấy có bao giờ thống khổ ác liệt đến như ngày nay. Chẳng nói đâu xa cứ xem ngay những biến cố trên thế giới bây giờ cũng đủ thấy cái nổi thống khổ của loài người đã không thể hồi đầu được nữa...”(bài “Chúng ta phải nương theo lời Phật mà xây đắp nên cái nền dân gian Phật giáo - Đuốc Tuệ xuân 1941, ngày 1-1-1941).
“Xuân về, xuân đã mang đến cho mọi người mọi vật mỗi điều toại chí, nên muôn vật vui tuơi, còn riêng ta, đối với xuân ta không hi vọng...Đã vậy mà mỗi lần xuân về muôn vật vui tuơi thì riêng ta lại lo nghĩ trong người không an....Nghĩ cách súc dưỡng năng lực để đảm nhận cái trọng trách chấn hưng phật giáo, hoằng pháp lợi sanh và cải tạo cỏi ta bà trở nên cảnh cực lạc” (Xuân về -Thích Hiển Thụy-Từ Bi Âm số 217, tháng 1-1944).
Hòa thượng Thích Minh Nguyệt trong Bác nhã âm số 17, 1940 tổng kết “Thế giới hiện nay đương bồng bột phấn khởi cái thảm khốc về nổi chiến tranh mấy triệu lương dân của các dân tộc, mặc dù không thù khích nhau, chỉ vì cái quan niệm sâu ác của kẻ có thế lực trong một quốc gia gây nên mà phải xô xát đẩm dẫm nhau, chẳng những biến máu non xương mà không khí oán sầu của nhơn loại đang phiêu diêu giữa vũ trụ kết nên cái thảm họa bi oan.”([4])
Từ khi tờ báo Phật giáo đầu tiên ra đời, ở cấp độ đậm nhạt khác nhau, ta thấy báo chí Phật giáo trong sự nghiệp xiển dương Phật pháp và chấn hưng Phật giáo luôn gắn liền với nhân sinh thời cuộc, bộc lộ những ưu tư trăn trở trước hoàn cảnh mất nước và sự cùng khổ của đồng bào.
3. Ni giới cũng tham gia diễn đàn.
Bán nguyệt san Từ Bi Âm ra mắt số đầu tiên ngày 31 tháng 4 năm 1931, đến ngày 26.8.1931, tờ báo nầy là cơ quan ngôn luận của Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học hội, do Hòa thượng Khánh Hòa làm chủ nhiệm. Trụ sở tờ Từ Bi Âm đặt ở số 149 đường Douaumont (nay là đường Cô Giang) Sài Gòn. Tờ báo nầy phát hành vào ngày mồng 1 và 15 mỗi tháng. Nhờ phần đông độc giả là các chùa và đồng bào Phật tử nên số lượng xuất bản khá nhiều.
Trong lịch sử báo chí Phật giáo có thể nói Từ Bi Âm là diễn đàn đầu tiên của ni giới. Người xuất hiện đầu tiên là ni sư Diệu Tịnh. Ni sư tên thật là Phạm Thị Thọ, pháp danh Hồng Thọ, hiệu Diệu Tịnh, sinh năm 1910, người Gò Công. Năm 1933, Ni sư viết bài “Lời than phiền của một cô vải” đăng trên Từ Bi Âm số 27- 1933, tiếp theo là bài “Cái án nguỵ truyền Chánh pháp” số 73-1935. Hai bài viết trên đã gây chú ý trong cả tăng giới và ni giới. Tất cả các bài đăng về sau của ni sư trên tờ báo nầy cũng đều tập trung vào mục đích kêu gọi chấn hưng ni phái và sự bình đẳng.
Điểm nổi bật và xuyên suốt trong các bài viết hay diễn thuyết (được đăng tải trên Từ Bi Âm) của ni sư Diệu Tịnh là đánh thức ý thức tự lực, tự cường của ni giới nói riêng và phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ nói chung. Kêu gọi họ tham gia gánh vác những công việc của xã hội. “...ta hô bè rủ bạn, đậu của chung công, mà tổ chức những việc bổ ích cho phần trí dục, thể dục, đức dục của nhơn loại, hoặc lập trường phật học để hoằng dương Phật giáo mà cứu vớt chúng mê tâm, hoặc lập sở dục anh, hoặc lập nhà dưỡng lão, hoặc khai viện thí thuốc v..v...nhứt thiết những việc nhu yếu của nhơn sanh, ta đều ra sức cung cấp, ta không nên để cho trong xã hội Phật giáo của ta còn một điều gì khuyết điểm, thì ta mới gọi là “người trong đạo phật” (bài giảng tại chùa Linh Sơn hôm khai nhóm đại hội của NKCNPH).
Là người rất nỗ lực đóng góp cho phong trào chấn hưng Phật giáo, các bài viết của Ni sư Diệu Tịnh gióng lên tiếng chuông tập hợp ni giới tham gia trùng hưng Phật giáo nước nhà; Đồng thời kêu gọi ni giới dẹp bỏ tính tự ti mặc cảm, tập trung ý chí nghị lực cho việc hoằng hóa, trùng hưng Phật giáo. Văn ngôn của ni sư Diệu Tịnh ngắn gọn, đanh thép, mang tính thuyết phục cao, tác động mạnh mẽ đến nhận thức của tất cả mọi người kể cả nam giới. “Như trong tỉnh Gia Định, về làng Tân Sơn Nhì có cô vải Diệu Tịnh, trụ trì chùa Hải Ấn, xuất gia từ nhỏ, nay tuổi gần ba mươi, tánh tình thanh tịnh, giới hạnh nghiêm minh. Hớn tự quốc văn cả hai đều am hiểu, thường thấy đắp y lên diễn đàn mà thuyết pháp, làm trong phái tòng lâm có nhiều người thấy vậy mà bắt hổ thầm” (Một cuộc điều tra về ni giới-cư sĩ Minh Ký - TBÂ số 117, ngày 1-12-1936).
Các bài viết của ni sư Diệu Tịnh được đăng tải trên Từ Bi Âm có sức lan tỏa mạnh, đồng thời khởi xướng diễn đàn ni giới và hoằng pháp trên báo chí Phật giáo, về sau đã xuất hiện nhiều cây bút ni giới, gây tiếng vang đáng kể, như sư cô Diệu Ngôn với bài “Đối với nữ lưu hiện thời, chị em ta có nên ghé mắt không ?” (TBÂ số 100, ngày 15-1-1936). Sư cô Diệu Minh, bài “Vấn đề hoằng dương Phật pháp bên nữ giới” (TBÂ số 116, 117 và 118 từ tháng 11 đến tháng 12 -1936).
Trên diễn đàn Từ Bi Âm ni giới cũng đã có tiếng nói mạnh mẽ, đả phá vào những điều cấm kỵ: “Vậy thử hỏi hết thảy Phật giáo đồ trong ba kỳ ngày nay ai là người vào trong nhà đỉ, quán rượu mà thân tâm thanh tịnh như ở chỗ đạo trường được chưa ? Ai là người thấy sắc không mê sắc, nghe tiếng mà không mê tiếng được chưa ? – Hay là: nhãn bị sắc khiền qui ngạ quỉ, nhĩ tùy thinh khứ nhập a tì ? (Con mắt bị sắc đẹp dắt đến đường ngạ quỉ, lổ tai bị tiếng hay dẫn vào ngục a tì)- (Bài Cái tu sơn lâm với cái tu thành thị của Tâm Đăng nữ cư sĩ-TBÂ số 133-1937, tr.28). Hoặc “Trong thế gian thường có nhiều kẻ mượn danh Phật là nghề sanh nhai....Chừng nào họ chết xuống âm phủ, Diêm vương hành tội thì họ mới biết, chớ bây giờ trên dương thế nầy, thì họ cứ làm nghề “mượn Phật làm danh” đó, sung sướng hơn các nghề khác, được ăn trên ngồi trước mà có rượu thịt ăn uống ê hề - Tội lắm! - Tội lắm !...” (Hiện trạng Phật giáo đồ ở nước ta hiện nay. Diệu Quang- TBÂ số 140, tr.40).
Có thể nói những đóng góp trên diễn đàn của Ni giới ở bán nguyệt san Từ Bi Âm trong giai đoạn nầy rất đáng trân trọng, không chỉ làm phong phú trang lịch sử báo chí Phật giáo, mà góp phần không nhỏ trong việc làm thay đổi nhận thức của mọi người về nữ giới nói chung và về ni giới nói riêng.
3. Và đến tờ báo của hội Phật giáo cứu quốc.
Thực dân Pháp trở lại tái chiếm nước ta. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phật tử không đứng ngoài cuộc. Năm 1946, sư Minh Nguyệt cùng các tu sĩ, cư sĩ ra chiến khu Đồng Tháp Mười lập Ban Chấp hành Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ, đặt Văn phòng Trung ương tại chùa Ô Môi, xã Mỹ Quý, Đồng Tháp Mười. Phật giáo Cứu quốc Nam Bộ được tổ chức tại Gia Định, Chợ Lớn, Sài Gòn, Bà Rịa, Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Long Xuyên, Bạc Liêu, Rạch Giá… Hội đã xuất bản báo Tinh Tấn, do sư Tam Không (Thích Minh Nguyệt) làm chủ nhiệm.
Tinh Tấn ([5]) là cơ quan ngôn luận của Phật giáo cứu quốcNam bộ. Báo in ở nhà in Trí Thiền (Nguyễn Văn Đồng) (chưa rõ địa chỉ này ở đâu). Báo có 4 trang khổ lớn, ngoài các bài viết có mục Công tác kháng chiến đăng tin tức các phật tử tham gia kháng chiến, các chùa chiền hiến chuông và đồ đồng đóng góp cho công binh xưởng đúc đạn...Số đặc san in khổ nhỏ, có 12 trang, bài viết khá phong phú, có cả mục phóng sự. Chứng tỏ tờ báo không ra định kỳ nhưng số lượng phát hành khá cao 5.000 số mỗi kỳ. Theo lời giới thiệu, mục đích Tinh Tấn ra đời là:
1.Tấn triển công tác kháng chiến cứu quốc cũng như kiến quốc, thiết thực của người Phật tử.
2. Nghiên cứu Giáo lý đại thừa để phát huy tinh hoa Phật giáo.
3. Nâng cao chánh pháp để chỉnh đốn giáo hội Tăng già.
4. Đem chánh tín diệt trừ mê tín cho hợp với “đời sống mới” của toàn dân ([6])
Trên tờ Tinh Tấn số 2 ngày 25-7-1949, ta có thể bắt gặp những bài đáng chú ý như sau: Tường thuật cuộc lễ kỷ niệm sinh hận Đức Thích ca mâu ni và bài diễn văn khai mạc của Hội trưởng Tam Không,: Bài Diễn văn giáo lý của Phó hộ trưởng, cư sĩ Bạch Liên. Trong bài này, ông viết “ Đạo phật có cái tinh thần đặc biệt của nó khiến cho những phép tắc đặt ra, có đặc tính riêng. Phật tổ cho cái khổ là gốc, nhưng không có quan niệm yếm thế, vì vậy kỷ luật của giáo hội tăng già không có tánh khắc khe, cứng rắn mà lại ôn hòa, nên gọi là lục hòa ([7])... Đặc biệt là bài xã luận thể hiện rõ tôn chỉ mục đích của báo “Tinh tấn là không tiếc thân mạng, không tham sống sợ chết, là hăng hái siêng năng bền bĩ, cương quyết cho thành đạo. Bài xã luận kêu gọi “Giờ này giặc càn thua càng dữ, đồng bào càng chịu khốn khó, chúng ta là phật tử,đã thề vì nước vì dân, xông ra chống giặc thời phải kiên quyết thêm lên. Chúng ta phải nói: Phật tử tinh tấn, phải tinh tấn hơn nữa, để thi hành đúng lịnh chuẩn bị tổng phản công, hoàn thành sứ mạng phật tử kháng chiến ([8]).
Báo Tinh Tấn ắt hẵn có nhiều độc giả ủng hộ, nhất là trong giới Phật tử. Sau khi đăng bài thơ Mấy lời tâm huyết của sư Tam Không, trên Tinh Tấn đăng ý kiến hưởng ứng của Hòa thượng Quảng Ân, chùa Linh Phước Mỹ Tho “Sau khi đọc Mấy lời tâm huyết, tôi thiết tưởng nó là một hồi chuông cảnh tỉnh, để phật giáo đồ thực hành ngay bàn nguyện lợi sanh của chư phật. Sứ mạng của tăng già trong giai đoạn này là diệt trừ bọn tàn ác xâm lăng, đem lại hòa bình tự do cho dân tộc. Tôi mong lối thi này đủ hiệu lực rền vang cùng chuông khánh mỏ kinh mà phấn khởi tất cả tăng ni đương ẩn khuất trong chốn thị thành đứng lên kháng chiến”
Tờ Tinh Tấn cũng có những số đặc biệt như số 3, số kỷ niệm Cách mạng tháng 8 và Độc Lập, in khổ lớn, trang đầu trích tuyên ngôn độc lập của Bác. Trang chót trích lời di giáo của Hòa thượng Khánh Hòa “Giết một con kiến mà lợi riêng cũng có tội; giết một ngàn giặc Pháp để cứu nước là làm phước”
Tóm lại, báo chí Phật Giáo ViệtNam nói chung và ởNam bộ nói riêng thực sự khai sinh và phát triển từ khi có phong trào chấn hưng Phật Giáo vào đầu thập niên 1930. Tuy từng thời điểm thăng trầm trong sự biến chuyển của lịch sử đất nước, nhưng tất cả đều nỗ lực thực hiện sứ mệnh hoằng pháp, đồng thời qua đó ta thấy được thực tế hoạt động Phật giáo trong từng giai đoạn.
Báo chí Phật giáo trong giai đoạn từ khia khia sinh đến 1965 cũng có những lúc đấu tranh quyết liệt để vươn lên tìm lối đi đúng với chánh pháp, cũng có những sự xung đột trong cuộc đấu tranh nội bộ nhưng vẫn giữ được sự ôn hòa, độ lượng. Nét chủ đạo của nhiều tờ báo là cân bằng việc đời việc đạo, không thoát ly thời cuộc nhưng không xem nhẹ việc tu tập hướng về sự giải thoát giác ngộ để giải quyết vấn đề khổ đau của con người.
Tài liệu Tham khảo:
+ 100 câu hỏi đáp về Báo Chí ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Trương Ngọc Tường - Nguyễn Ngọc Phan-Nxb Văn Hoá Sài Gòn 2007.
+ Hành trạng Chư ni ViệtNam - Chủ biên Tỳ kheo Thích Như Nguyệt- NXB Tôn Giáo 2007.
+ Các tạp chí Từ Bi Âm, Tinh Tấn, Pháp Âm...
1000 Năm Thăng Long
Thông Cáo Báo Chí
Học Viện Phật Giáo Việt Nam
26 tháng 8, 2010
HỘI NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY
VĂN HỌC TP. HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
THÔNG CÁO BÁO CHÍ
Hội thảo khoa học: “Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long – Hà Nội” do Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TP.HCM phối hợp với Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM đồng tổ chức vào ngày thứ Bảy, 28-8-2010 tại Phương Nam Resort, tỉnh Bình Dương là một trong những hoạt động học thuật quan trọng, hướng tới đại lễ kỷ niệm 1000 Thăng Long – Hà Nội, diễn ra vào tháng 10-2010 tại thủ đô Hà Nội.
Hội thảo khoa học lần này thu hút gần 300 nhà nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, văn học Việt Nam và lịch sử Việt Nam trong đạo và ngoài đời tham dự. Trong số hơn 100 bài tham luận gửi cho Ban Tổ chức, có trên 75 bài được tuyển chọn xuất bản trong tập sách mang cùng tên và gửi tặng các đại biểu trong ngày Hội thảo.
Về nội dung, Hội thảo khoa học này nhấn mạnh hai vấn đề lớn của lịch sử thủ đô Việt Nam nói riêng và đất nước Việt Nam nói chung, là “Phật giáo và 1000 năm Thăng Long – Hà Nội” và “Văn học và 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.”
Trong nhóm đề tài thứ nhất, Phật giáo và Thăng Long, có 12 bài viết về Phật giáo đời Lý với vai trò dựng nước và phát triển đất nước từ móc dời đô lịch sử. Các tác giả đã phác hoạ bức tranh về chính sách nội trị của nhà Tiền Lê, vai trò dựng nước của Chiếu dời đô, chiến lược giữ nước của vua Lý Thái Tổ, vai trò của các vị Tăng quan, đóng góp to lớn của các thiền sư nổi tiếng như thiền sư Vạn Hạnh và Khuông Việt trong việc xây dựng và phát triển đất nước bền vững.
Có 14 bài nghiên cứu bao quát về hai giai đoạn Phật giáo Lý Trần trong tương quan giữa tư tưởng, triết lý Phật giáo với lịch sử văn học của hai triều đại này. Thông qua đó, các nhà nghiên cứu khẳng định rằng Phật giáo là sức mạnh tinh thần thời Đại Việt, nhờ vào sự đồng hành của Phật giáo với dân tộc và vai trò văn hoá và đạo đức Phật giáo đối với đời sống tinh thần của nhân dân Đại Việt.
Ngoài ra, còn có 7 bài giới thiệu về giai đoạn Phật giáo sau đời Trần bao gồm Phật giáo Khmer, văn học Phật giáo ở Nam bộ, các loại văn bia Phật giáo trong văn học, cũng như phong tục Nam bộ.
Nhóm đề tài thứ hai, văn học và Thăng Long, bao gồm 36 bài viết, gắn liền 3 giai đoạn văn học là văn học Lý Trần, văn học cổ điển sau đời Trần và văn học hiện đại. Các bài trong mảng văn học Lý Trần rất đa dạng, phong phú, từ các chủ đề thiền, cảm hứng thiền, sự đốn ngộ, giải thoát, cho đến những câu chuyện văn chương của các thiền sư.
Nhóm bài về văn học cổ điển sau đời Trần đề cập đến hình ảnh đa nghĩa của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du và thơ xưa, con người đất kinh kỳ trong thời Lê và trí thức kinh kỳ qua các tác giả nổi tiếng, các bài văn tế thời trung đại, và các tác phẩm văn học nổi tiếng như Tụng Tây Hồ phú, Quốc âm thi tập, Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục và Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh.
Mảng văn học hiện đại được xem là có nhiều bài nhất, chiếm 15/36 bài thuộc nhóm văn học và Thăng Long. Sự đa dạng của nhóm đề tài này có thể kể Thăng Long trong văn xuôi, văn học hiện đại và văn học yêu nước; Hà Nội trong thơ An Giang, qua du ký và trong tiểu thuyết. Ngoài ra, còn có các nghiên cứu về các nhà văn nổi tiếng có liên hệ đến Thăng Long hoặc viết về Thăng Long như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Minh Kiên v.v…
Hội thảo “Văn học, Phật giáo với 1000 năm Thăng Long – Hà Nội” được thành tựu là nhờ nhiều tháng chuẩn bị và nhất là sau một ngày thảo luận học thuật nghiêm túc và sôi nổi. Những vấn đề lịch sử, chính trị, văn hoá, kinh tế và tôn giáo của Thăng Long – Hà Nội trong một thiên kỷ qua được thảo luận và rút ra trong Hội thảo lần này sẽ là các dữ liệu có giá trị tham khảo cho việc phát triển đất nước trong giai đoạn toàn cầu hoá. Thăng Long – Hà Nội, trái tim của cả nước, đang mở cửa chào đón một thiên kỷ mới với biết bao niềm hân hoan về tương lai tươi sáng của tinh thần độc lập, tự chủ dân tộc, để đất nước Việt Nam hôm nay và mãi mãi về sau luôn được giàu mạnh, xã hội Việt Nam được công bằng, dân chủ và văn minh.
Học Viện Phật Giáo Việt Nam
________________________________________
Những bài liên hệ:
- Chương Trình Hội Thảo Khoa Học "Văn Học, Phật Giáo Với 1000 Năm Thăng Long"
- Thông Cáo Báo Chí
- Mục Lục Tham Luận Hội Thảo
- Ban Tổ Chức Hội Thảo
- Báo Cáo Tổng Kết Hội Thảo
Trang Tôn Giáo
Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 - 2008)
Bìa sách
Năm 2011, về mặt tổ chức, Giáo hội Phật giáo Việt Nam kỷ niệm 30 năm thành lập. Tuy nhiên, báo chí Phật giáo Việt Nam thì có sớm hơn thế và đã bước qua tuổi 80, đầy trải nghiệm. Việc biên soạn một cuốn sách về lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam là một việc làm cần thiết.
Nó không chỉ có ý nghĩa đối với Phật giáo và Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà còn rất quan trọng đối với những người nghiên cứu về lý luận, lịch sử báo chí và đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, văn hóa, xã hội.
Trong thực tế đã có một số nhà nghiên cứu, ở một vài tác phẩm viết về lịch sử báo chí Việt Nam đã có nhắc đến báo chí Phật giáo, tuy nhiên mới chỉ ở một vài khía cạnh nhỏ, thiếu hệ thống và chưa thể gọi là đầy đủ.
Với chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực báo chí và nghiên cứu Phật giáo lâu năm, tác giả Nguyễn Đại Đồng có cơ hội tiếp cận, khảo cứu nhiều tư liệu tổng hợp ở nhiều nguồn quan trọng. Trong đó có cả tư liệu lưu của nhà nước ở các thư viện, trung tâm lưu trữ quốc gia, các viện nghiên cứu, có cả tư liệu lưu tại thư viện của các tổ chức, cơ sở Phật giáo, và có cả tư liệu thuộc sở hữu cá nhân của nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Qua việc khảo chứng từ các nguồn tư liệu phong phú đó, tác giả Nguyễn Đại Đồng đã viết nên cuốn Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 - 2008). Đây là kết quả xứng đáng của công trình nghiên cứu nghiêm túc, tốn nhiều thì giờ, công sức và cả tài chính của tác giả.
Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 - 2008) là một tài liệu tham khảo có giá trị về bức tranh toàn cảnh của báo chí Phật giáo Việt Nam từ khi ra đời năm 1929 (theo tác giả) cho đến năm 2008. Với việc chia sách ra thành 4 phần: Phần thứ nhất: Báo chí Phật giáo từ khi ra đời đến ngày toàn quốc kháng chiến (1929 - 1945); Phần thứ hai: Báo chí Phật giáo thời kỳ 1947 - 1954; Phần thứ ba: Báo chí Phật giáo từ khi hòa bình lập lại đến đầu thế kỷ XXI (1955 - 2008); Phần thứ tư: Báo điện tử Phật giáo tiếng Việt; và Phần kết luận, tác giả đã mang đến cho người đọc một cái nhìn tổng thể, hệ thống, tương đối toàn diện về báo chí Phật giáo Việt Nam, các loại hình báo chí, các tờ báo cụ thể, đặc trưng về tổ chức bộ máy, nhân sự lãnh đạo, nội dung, tầm ảnh hưởng của từng loại báo chí Phật giáo trong đời sống xã hội.
Đúng như tác giả nhận định, cùng với sự phát triển của lịch sử và đáp ứng nhu cầu xã hội, báo chí Phật giáo Việt Nam giai đoạn đầu gắn chặt với phong trào chấn hưng Phật giáo, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức, hệ phái Phật giáo ở Việt Nam. Nội dung của các tờ báo, tạp chí, tạp san… có thể khác nhau, nhưng nó giống nhau ở việc cùng đấu tranh không khoan nhượng với các thế lực ngoại bang, đấu tranh chống lại các hủ tục, mê tín dị đoan của Phật giáo thời bấy giờ, góp phần chấn hưng Phật giáo. Qua các trang báo, nội dung kinh điển, văn hóa Phật giáo được tuyên truyền, phổ biến và hoằng dương đến với đông đảo công chúng độc giả, mà quan trọng là chức sắc, tín đồ, Phật giáo Việt Nam để hướng họ đến với những giá trị trân quý, thiện lành, nhân bản của chân Phật giáo.
Cùng với nền báo chí cách mạng, báo chí của các tổ chức chính trị, xã hội, các tôn giáo khác, qua tác phẩm Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 – 2008), báo chí Phật giáo đã góp phần tạo nên cái nhìn toàn cảnh, phong phú, đa dạng về báo chí, vai trò của báo chí và hoạt động của báo chí ở Việt Nam.
Lược khảo Báo chí Phật giáo Việt Nam (1929 – 2008) là một cuốn sách công cụ có giá trị tra cứu, tham khảo về lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam. Sách do Nhà Xuất bản Tôn giáo ấn hành. Xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Về những tờ báo đầu tiên của báo chí Phật giáo Việt nam
(1/1)
chuthoong:
Pháp Âm và Phật Hóa Tân Thanh Niên là hai tờ báo Phật giáo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam.
Nguyệt san Pháp Âm
Theo Hòa thượng Lê Khánh Hòa hiệu Như Trí, trụ trì chùa Tiên Linh, Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, thì năm Mậu Thìn (1928), ông cùng với các sư Huệ Quang, Từ Nhẫn, Chơn Huê, Thiện Chiếu thành lập Phật học Thư xã (PHTX), trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn (đường Douaumont, nay là đường Cô Giang) quận 1, thành phố Hồ Chí Minh.
Được sự ủng hộ tài chính của các cư sĩ Trần Nguyên Chấn, Ngô Văn Chương và các sư Thiện Niệm, Từ Phong, các ông quyết định ra báo Pháp Âm làm cơ quan ngôn luận của PHTX(1).
Công tác chuẩn bị được tiến hành từ tháng 2 năm Kỷ Tỵ (3-1929) bắt đầu bằng việc tìm người có trình độ viết bài. Hơn một tháng sau, tại chùa Linh Sơn, các đồng chí của ông đã bắt tay vào biên tập nội dung tờ báo. Pháp Âm được xuất bản ngày 31-8-1929, in tại nhà in Thạnh Thị Mậu, 186 Rue d’Espague, Sài Gòn và phát hành tại chùa Sắc tứ Linh Thứu, làng Thạnh Phú - Xoài Hột, tỉnh Mỹ Tho (nay là xã Thạnh Phú, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).
Pháp Âm số 1 có 48 trang không kể bìa 1, bìa 2 và bìa 4, khổ báo là (14 x 20cm. Bìa 1 và 2: trên cùng là chữ Pháp Âm bằng Quốc ngữ, ở dưới là dòng chữ Chủ nhiệm Lê Khánh Hòa, Hòa thượng chùa Tiên Linh. Tập thứ 1, giá 0$30. Ở giữa là chữ Pháp Âm bằng chữ Hán, hai bên có hai dòng chữ Hán (trên) và Quốc ngữ (dưới) nêu tôn chỉ của Phật giáo là “Tự giác Giác tha” (bên trái) và “Từ bi Bác ái” (bên phải), ở dưới ghi: một tập; 12 quyển giá là 3$00; 6 quyển giá 1$50, suy ra báo mỗi tháng ra 1 kỳ (nguyệt san). Dưới cùng ghi: Thơ từ và mandat xin gửi cho ông Lê Khánh Hòa, chùa Sắc Tứ, làng Thạnh Phú, Xoài Hột - Mỹ Tho.
Bìa 4 đăng Lời cảm tạ của Chủ trì chùa Linh Sơn kiêm Quản lý PHTX Sài Gòn (tức sư Thiện Chiếu), cám ơn chư đàn việt cư sĩ tỉnh Trà Vinh hiến cúng Đại tạng kinh toàn bản 771 bộ để tại PHTX - chùa Linh Sơn, Sài Gòn.
Nội dung Pháp Âm có 9 yếu mục:
a) Đầu tiên, từ trang 3 - 5 là Mấy lời bày tỏ do Bổn viện đồng nhơn kính khải, kêu gọi Phật tử viết bài và đóng góp tài chính để tổ chức Thư xã và lập Phật học viện, ra báo Phật học như Thái Hư Hòa thượng bên Trung Quốc đã làm. Qua cách hành văn, chúng tôi cho rằng tác giả bài này là sư Thiện Chiếu.
b) Bàn về Phật học, tác giả Nguyễn Khoa Tùng hiệu là Thanh Nguyên trong hơn 4 trang báo đã lược kể Phong trào Chấn hưng Phật giáo (CHPG) ở Âu châu, ở Trung Hoa, Xiêm La (Thái Lan) và các báo Đông Pháp, Khai Hóa năm 1927, 1928 ở nước ta đã đăng những bài về CHPG và kêu gọi tiến hành CHPG thông qua việc bày tỏ sự ủng hộ đối với những việc làm của PHTX.
c) Phật giả: từ trang 9 đến trang 16, tác giả Minh Châu Tử bàn về Phật tính: “hết thảy chúng sinh đều có Phật tính, mà thấy được Phật tính của mình, ấy là thấy Phật”; ông khuyên mọi người cần phân biệt Phật thật và Phật giả và lên án những kẻ lợi dụng đạo Phật làm bậy. Với lý luận chặt chẽ, lời văn quyết liệt, theo chúng tôi, Minh Châu Tử có thể là bút hiệu của sư Thiện Chiếu hoặc HT Huệ Quang.
d) Tự trần của HT. Lê Khánh Hòa dài 4 trang, cung cấp cho chúng ta những chi tiết về quá trình CHPG ở Nam Kỳ. Khởi đầu là việc huyện quan Huỳnh Thái Cửu kêu gọi “sửa đạo” năm 1926 ở Trà Vinh, sau đó là cuộc gặp gỡ giữa Hòa thượng với HT Huệ Quang và sư Thiện Chiếu tại chùa Long Khánh tháng 2 năm Đinh Mão (1927), rồi sang tháng 5 năm đó, Giáo thụ Thiện Chiếu đi Hà Nội về mang một số báo Hải Triều Âm của Thái Hư Đại sư (có chương trình Phật giáo hội Trung Hoa ...) ghé qua trường hạ ở Qui Nhơn, Bình Định đưa cho HT. Lê Khánh Hòa xem và thúc giục cụ phải mau tiến hành CHPG không nên để trễ; cho đến khi Hòa thượng cùng các ngài Huệ Quang (chùa Long Hòa, Trà Vinh), Từ Nhẫn (chùa Thới Bình, Mỹ Tho), Thiện Chiếu (chùa Linh Sơn, Sài Gòn) thành lập PHTX và Phật học viện (1928) tại chùa Linh Sơn với sự giúp đỡ tài chính của Trần Nguyên Chấn, Ngô Văn Chương, các sư Thiện Niệm (chùa Viên Giác), sư Từ Phong ở chùa Liên Trì...
e) Những điều cần thiết cho người tại gia tín ngưỡng Phật giáo trình bày các quy tắc của Phật giáo: Quy y; Giữ giới; Lạy Phật, Khen Phật; Trì tụng; Sám hối; Cúng Phật; Ăn chay, Niệm Phật; Phát nguyện.
f) Phật giáo luân lý học, nguyên tác chữ Hán do Hoàng Phi Long dịch, trong 8 trang báo trình bày tiết thứ 1 là Cứu cánh chính học luận giới thiệu Cái Chính học tiêu cực; Chính học tích cực và nêu những thủ đoạn thực hành là: 1. Hàng phục cái Tâm; 2. Tinh tiến cái Nghiệp.
g) Ai tri âm đó biết cho ai! Tác giả (có lẽ là Thiện Chiếu) tự đặt câu hỏi và trả lời về mục đích lập Thư xã là cơ quan truyền bá tư tưởng Phật giáo, sách báo ra trong giai đoạn phôi thai này bán lấy tiền để dùng vào việc mở rộng Thư xã tiến tới lập trường Phật học để dạy dỗ trẻ cô bần, lập xưởng công nghệ để tế độ những người thất nghiệp...
h) Văn uyển đăng ba bài thơ của HT. Bích Liên (người Bình Định): Tĩnh tâm (thể lục bát) và hai bài thơ Đường luật: Vịnh đá vọng phu và Chúc mừng Phật học Thư xã.
i) Hành trình Nhật ký đi cổ động cuộc sáng lập Tòng lâm Phật giáo hội (chính là cuộc vận động chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ) của HT. Lê Khánh Hòa. Trên gần 9 trang báo, Hòa thượng kể lại cuộc hành trình, bắt đầu ngày 27 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (1929) từ chùa Tiên Linh, Bến Tre đi Châu Đốc, sang Tà Keo, Phnom Penh (Campuchia) rồi về Sa Đéc, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá ra tận Hòn Quéo. Hơn 1 tháng sau mới về Thư xã.
Vì sao nguyệt san Pháp Âm phải đình bản? Có người cho rằng vì lý do tài chính, nhưng theo lịch sử địa phương thì sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, tờ Dân Cày, tiếng nói của Tỉnh Đảng bộ Mỹ Tho cũng đặt trụ sở tại chùa Sắc tứ Linh Thứu, báo in tại ngôi nhà sát vách chùa. Mọi việc đạo việc đời đều do Giáo thụ Chơn Huê và Thủ tọa Điển (đệ tử của HT Lê Khánh Hòa) sắp xếp.
Chính quyền thực dân Pháp phát hiện, tiến hành lục soát chùa Sắc tứ Linh Thứu. Thủ tọa Điển bị truy nã, HT. Lê Khánh Hòa phải ôm kinh sách lên sở Mật thám giải trình. Vì thế Pháp Âm phải đình bản, chỉ ra được một số duy nhất.
Phật Hóa Tân Thanh niên
Phật Hóa Tân Thanh Niên (PHTTN) có 49 trang không kể trang yếu mục và bìa, khổ báo là 14 x 20cm. Bìa 1 trên cùng là chữ Phật Hóa Tân Thanh Niên bằng Quốc ngữ, ở dưới là dòng chữ quản lý Trương Tấn Phát. Ở giữa là chữ PHTTN bằng chữ Hán. Phía dưới ghi: Quyển thứ nhất, giá 0$30. Ở giữa hai hàng này đề Sở Phát hành, chùa Chúc Thọ, xóm Thuốc, xã Hạnh Thông, Gò Vấp (Gia Định).
Bìa 4 ghi Độc giả chú ý: Tập "Phật Hóa Tân Thanh Niên” sẽ lần lượt xuất bản, chư độc giả quân tử ai có lòng yêu muốn mua xin viết thơ và trả tiền trước trọn tập 12 cuốn, giá là 3$00. Thơ tờ, mandat xin đề cho Trương Tấn Phát, Quản lý Phật Hóa Tân Thanh Niên. Chùa Chúc Thọ, xóm Thuốc, xã Hạnh Thông, Gò Vấp (Gia Định)".
In tại nhà in Thạnh Thị Mậu, 186 Rue d’Espague, Sài Gòn.
Nội dung của nguyệt san Phật Hóa Tân Thanh Niên có các yếu mục sau:
a) Ai là người lo đời, thương đời, muốn làm việc cho đời?
Bài báo nêu mục đích của PHTTN là “để gây cái nền chánh tín cho dân tộc nào ưa cái chủ nghĩa hòa bình và muốn cái hạnh phúc sanh tồn trên thế giới” và kêu gọi chư quân tử, ai có lòng bác ái, có nghiên cứu Phật học xin tán trợ cho tờ báo.
b) Nước ta ngày nay cần phải chấn hưng Phật giáo
Trên 12 trang báo, Thiện Chiếu trình bày các vấn đề về Khổ, và cho rằng: Phật giáo không chủ trương thuyết Thượng đế tạo vật; Lời bàn của ông về Phật giáo với Khoa học, Phật giáo với Tôn giáo khá sắc sảo. Tiếp đó Thiện Chiếu nêu các nguyên nhân làm cho Phật giáo nước ta suy đồi và ông kêu gọi phải CHPG bằng cách lập Phật học viện và Phật học xã đào tạo tăng tài, chuyên về giáo nghĩa, lập các công trường, nông trường chuyên về thực nghiệp...
c) Kính cáo các Sư cụ
Tác giả Tân Thanh Niên nêu vai trò của người xuất gia: gia vụ là hoằng pháp; sự nghiệp là lợi sinh. Ông cho rằng Phật pháp thịnh hay suy là do người xuất gia mà trách nhiệm của các sư cụ - trụ trì các chùa - là đống lương của Phật pháp, quy giám của hậu côn phải chống đỡ Phật pháp và tiếp dẫn hậu côn trở thành những tăng đồ có học. Tác giả kêu gọi: “Các sư cụ là đại biểu của Giáo hội, có lẽ cũng biết tự trọng, mà sớm trả lời cho chúng tôi bằng cách thực hành”.
Lời văn thật quyết liệt, theo chúng tôi, tác giả bài báo là sư Thiện Chiếu.
d) Kính cáo các tín đồ
Tác giả Tân Thanh Niên phân biệt thế nào là xuất gia? Thế nào là tại gia, nêu rõ trách nhiệm của người tại gia là phải tiễu trừ cho tuyệt bọn Ma vương, tổ chức lại Giáo hội cho thuần túy và kêu gọi: “Tín đồ! Nếu muốn thoát ly cái kiếp nô lệ với Ma vương, thì phải mau mau sung vào đội binh “vấn tội”.
e) Nhập học vấn đáp
Tác giả Pháp Linh ghi lại những vấn đáp “vì sao nói đạo Phật là đạo cứu khổ”.
f) Bài diễn thuyết của ông Lương Khải Siêu tại Phật giáo Tổng hội nước Tàu do Bác Ái dịch nói về mối quan hệ giữa thời cuộc với Phật giáo ở Trung Hoa. Lương Khải Siêu cho rằng: “muôn vàn tội ác đều do ở cái vì mình mà thôi. Để khắc phục, phải dựa vào cái gốc là đạo đức”.
g) Một buổi hội nghị tại chùa Linh Sơn
Tác giả Huệ Thanh cho biết: Chiều ngày 16-7-1929 tại chùa Linh Sơn, Sài Gòn tổ chức Hội nghị Tăng già, gồm các liệt vị Hòa thượng tại các chùa: Từ Ân, Hội Khánh, Phú Long, Long Huê, Văn Thánh, Chúc Thọ, Tập Phước, Đức Sơn, Bình Long, Lý Dương Sanh v.v.., chùa Linh Sơn có HT. Khánh Hòa - đương kim trụ trì, sư Thiện Chiếu và ông Trần Nguyên Chấn Commis giúp việc Dinh Đốc lý Sài Gòn, hộ chủ chùa Linh Sơn, bàn về chấn hưng Phật giáo.
Đầu tiên, Commis Chấn trình bày một số sự việc: năm 1923 ông Chấn thỉnh sư Thiện Chiếu về chùa Linh Sơn, năm 1925 Thiện Chiếu đi làm Giáo thụ trường “Hạ” tại chùa Chúc Thọ, Gò Vấp. Ở đó Thiện Chiếu định tổ chức “Phật giáo Thanh niên học Hội”, mục đích đào tạo nhân tài ra đảm đương Phật pháp. Nhưng tiếc thay, Hội ấy không thành lập được bởi Thiện Chiếu lúc đó còn trẻ tuổi, chưa được Giáo hội tín nhiệm.
Đến năm 1926, một tôn giáo mới (đạo Cao Đài) ra đời tại Nam Kỳ, nên mới có phong trào CHPG. Cuộc vận động chấn hưng do HT. Khánh Hòa chủ trương chỉ được một số ít chùa hưởng ứng, trong 3,4 năm trường cũng lắm phen thất bại, nhưng nhờ nghị lực của các đồng chí, tuy chưa kết quả hoàn toàn, cũng lập được PHTX và Phật học viện.
Cũng năm này, sư Thiện Chiếu giao lại chùa Linh Sơn cho Commis Chấn và khuyên ông Chấn thỉnh HT. Khánh Hòa là người đức cao vọng trọng làm trụ trì để tổ chức tùng lâm. Tới tháng 7-1929, HT Khánh Hòa đã thường trụ tại Linh Sơn ba bốn tháng. Ông Chấn đề nghị chư vị Hòa thượng mở lòng từ bi quan tâm, chỉ bảo giúp đỡ công việc của ông ở chùa Linh Sơn.
Tiếp sau, sư Thiện Chiếu phát biểu làm rõ thêm lý do việc ông giao chùa lại cho Commis Chấn và nêu quan điểm CHPG của ông là “chống các hủ tục ở bên trong và tà thuyết ở bên ngoài bấy lâu nay làm cho lu mờ cái nhân nghĩa của Phật giáo, ngăn lấp cái đường sáng suốt của chúng sinh”.
Hòa thượng chùa Hội Khánh thay mặt liệt vị Hòa thượng, trả lời vắn tắt: “Các ngài có nhiệt tâm như thế, chúng tôi lấy làm hoan hỷ lắm, nhưng các ngài cứ lo tiến hành, còn phần chúng tôi thì xin để cho chúng tôi suy nghĩ lại”.
Bài báo đã cung cấp cho chúng ta những tư liệu quý về hoạt động CHPG ở Nam Kỳ lúc bấy giờ. Cũng qua bài này chúng ta biết được tờ PHTTN có thể ra đời vào tháng 9 hoặc tháng 10 năm 1929 ngay sau ngày tờ Pháp Âm số 1 bị đình bản.
h) Chương trình chùa của "Phật Hóa Tân Thanh Niên” sẽ lập. Từ trang 37 - 48 đăng 5 chương (1. Tôn chỉ: 7 điều; 2. Cách tổ chức: 4 điều; 3. Chức vụ và quyền hạn các viên chức: 18 điều; 4. Chùa và tài sản của chùa: 3 điều; 5. Công trụ quy ước: 52 điều) chương trình chùa PHTTN.
Tuy không ghi rõ trong tờ nguyệt san, nhưng hầu hết bài vở trong tờ báo là do sư Thiện Chiếu đảm nhiệm, có thể nói sư Thiện Chiếu là người sáng lập tờ Phật Hóa Tân Thanh Niên(2).
Đáng tiếc Phật Hóa Tân Thanh Niên - tờ báo tiếp sức cho nguyệt san Pháp Âm cũng chỉ ra được một số phải đình bản vì lý do tài chính.
Có thể nói nguyệt san Pháp Âm và Phật Hóa Tân Thanh Niên là hai đạo quân tiên phong dọn đường đi trước cho báo chí Phật giáo phát triển ở cả ba miền trong giai đoạn CHPG sau này.
(1) Sách 100 câu hỏi đáp về Phật giáo ở thành phố Hồ Chí Minh,Trần Hồng Liên, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh và Nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2006, câu 072, tr.178 viết: “Năm 1931, Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học hội là hội Phật học đầu tiên cả nước được thành lập tại chùa. Cơ quan ngôn luận là tờ Pháp Âm, nhưng chỉ ra được một số duy nhất thì bị Pháp ra lệnh đình chỉ”. Thực ra cơ quan ngôn luận của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học là tờ Từ Bi Âm ra số đầu tiên vào ngày 1-1-1932, còn tờ Pháp Âm bị đình bản từ tháng 9 năm 1929. (2) Tác giả Nguyễn Q. Thắng trong Từ điển nhân vật lịch sử cho rằng PHTTN là tác phẩm của sư Thiện Chiếu.
Nguyễn Đại Đồng (Theo Giác Ngộ online)
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét