THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN
BÀI THUYẾT TRÌNH
NHÓM IV
1) Nguyễn thanh sang: thích lệ danh
2) Nguyễn ngọc đạt: thích minh ngọc
3) Nguyễn văn vũ: thích huệ phát
4) Nguyễn chí dự: thích chơn đạt
5) Bùi hoàng tuấn: thích minh lộc
6) Nguyễn hồng nhật: thích quảng bình
7) Phan trung kiên: thích kiên trung
8) Đặng thới đinh: thích nhuận đạo
9) Phan trung kiên: thích kiến trung
10) Đặng quang phương: thích quảng ân
11) Trần văn phú: thích chỉnh phương
12) Nguyễn xuân nghiêm: thích huệ ngiêm
KHOA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
PGS. TS: NGUYỄN CÔNG LÝ
Học viện phật giáo việt nam tại TP. Hồ chí minh khóa VII
LÃO GIÁO, KHỔNG GIÁO VÀ PHẬT GIÁO VIỆT HÓA TƯ TƯỞNG , SỰ DUNG HỢP CỦA TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN:
Dân tộc việt nam vốn có tinh thần khoan dung với mọi tôn giáo tín ngưỡng từ bên ngoài. ở việt nam không có chiến tranh tôn giáo, không có xung đột lớn về tôn giáo. Có thể nói trước thế kỷ XX, sự tồn tại của ba tôn giáo: nho, phật, đạo chiếm một vị trí trọng yếu tố trong tiến trình lịch sử tư tưởng dân tộc. sự kết hợp của nho, phật, đạo (thường gọi là hiện tượng tam giáo đồng nguyên) là một trong những biểu hiện đặc sắc cho tinh thần khai phóng, khoan dung hòa đó của dân tộc.
Ngay trước thời kỳ thống nhất tư tưởng đó, sau khi đại việt giành được độc lập đầu thế kỷ X, phật giáo đã trở thành quốc giáo dưới các triều đại đinh, tiền lê, lý trần.
Đạo học nói chung là sự pha tạp một lý lão trang với các hình thức tín ngưỡng dân gian, bùa chú, phù phép. Trong lịch trình phát triển tư tưởng dân tộc việt nam từ khi độc lập, đạo giáo vẫn luôn tồn tại không chỉ trong cung đình à mạnh mẽ hơn trong dân gian, gắn bó mật thiết và chặt chẽ với các tín ngưỡng bản địa đến nỗi rất khó tách bạch đâu là đạo giáo, đâu là tín ngưỡng dân gian.
Ngay từ đầu triều đại, nhà lý đã nhận thấy điều đó nên lập văn miếu(1070) để thờ khổng tử, mở trường quốc tử giám(1076), mở khoa thi(1075) tạo nên các thiết chế chính trị văn hóa để đưa nho giáo vào trong cung đìnhviệt nam . nho giáo đã biết bám vào nhu cầu đó ma ngoi lên và từ đó nho giáo trở thành chỗ dựa, trở thành bệ đỡ tư tưởng cho nhà nước tập quyền quân chủ việt nam như lịch sử đã cho thấy.
Có thể nói toàn bộ lời phê phán của Nho gia trong cuốn "Lý Hoặc Luận" đều phạm sai lầm chủ quan ấy, cái sai lầm mà lô-gíc học Phật-giáo hay Nhân minh học Phật-giáo gọi là Sở y bất thành nghĩa là chỗ dựa để lập luận là không vững, bất thành. Đó là loại câu chất vấn như Nho-giáo trọng kiệm ước, vì sao đạo Phật lại đề cao sự bố thí (điều 17), Nho gia xem như không có con nối dõi tông đường là đại bất hiếu, sao Tăng sĩ lại không có vợ.
Đọc kỹ các tác phẩm văn học Phật giáo Lý – Trần, chúng ta sẽ dễ nhận thấy tinh thần điều hoà, dung hợp này. Có khi là sự phân công hợp tác giữa Phật và Thánh (Nho); có khi là sự kết hợp rất uyển chuyển giữa Phật với Lão – Trang để đi đến sự thống nhất: Tam giáo đồng nguyên. Tư tưởng Phật giáo không phải là hệ tư tưởng đóng kín trong khuôn khổ, trong quy tắc giáo điều mà là tư tưởng mở, đầy khai phóng.
Qua các tác phẩm, các Thiền sư Lý – Trần đã thừa nhận tư tưởng của đất Thánh cần thiết cho sự duy trì trật tự của xã hội cũng như giáo lý của Đức Phật cần thiết cho sự giải thoát tâm linh con người. Lời sư Trí Thiền sau đây có thể nói lên tinh thần vừa phân biệt lại vừa hoà đồng giữa Phật và Nho:
“Như Lai lục ngữ cái bất hư thiết. Thế gian chư pháp hư huyễn bất thực, duy đạo vi thực, ngã phục hà cầu. Thả Nho gia khả thuyết quân thần phụ tử chi đạo, Phật pháp khả ngôn Bồ tát, Thanh văn chi công. Nhị giáo tuy thủ, kỳ quy tắc nhất. Nhiêm, xuất sinh tử, nhược đoạn hữu vô kế phi Thích tắc bất năng dã”. (Thiền uyển tập anh).
Nho và Phật tuy khác nhau ở thực hiện giáo lý nhưng cũng cần thiết như nhau. Sự phân biệt chẳng qua là một sự phân công để cùng giúp ích cho đời. Bàn về sự khác nhau ấy, Viên Chiếu đã cho rằng Phật và Thánh như ánh sáng rực rỡ của trời soi tỏ khắp nơi, đem lại sự sống cho vạn vật; như bóng trăng êm dịu mang đến sự thanh tĩnh cho con người; như mùa xuân ấm áp thì chim oanh hót líu lo; như mùa thu về thì cúc vàng rực rỡ:
Ly hạ trùng dương cúc
Chi đầu thục khí oanh
(Trùng dương đến, cúc vàng dưới giậu
Xuân ấm về oanh náu đầu cành)
(Thơ văn Lý – Trần)
Trên bình diện tư tưởng, các Thiền sư thường kết hợp vũ trụ quan biến động của Dịch, tư tưởng nhất quán của Khổng Tử với tư tưởng “Nhất như” cùng chủ trương tất cả quy về tâm của Phật để phát biểu một vấn đề hiện thực. Đoạn mở đầu của bài bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn Thanh Hoá của Pháp Bảo (Giác Tính Hải Chiếu) là một minh chứng cho khuynh hướng kết hợp này:
Phù! Thiền tổ hiển thực nhi trực chỉ nhất tâm; Thánh nhân thích thời nhi thông hồ vạn biến. Vạn giả nhất chi tán; nhất nãi vạn chi tông. Chí ư hiền trí gián xuất: quỹ phạm điệt hưng. Tụ kỳ tán dĩ quy tông; bão ư nhất dĩ thống vạn. Lập trượng tướng nhi thị hữu sở thống; sùng thác miếu nhi linh hữu sở quy… (Thơ văn Lý – Trần)
Một bên là đạo, một bên là đời. Một đằng là thoả mãn giải thoát tâm linh của cá nhân, một đằng là đáp ứng yêu cầu tổ chức của đời sống xã hội. Sự phân công hợp tác giữa Phật và Nho kể trên đã đưa tới kết quả tốt đẹp trong đời sống của một dân tộc vừa phục hưng, đó là sự tương trợ giữa tôn giáo và chính trị. Điều đó rất cần thiết cho đất nước vừa độc lập đang trên đà phát triển như nước ta.
Ngày ấy, chính quyền rất cần đến tôn giáo và phải nhờ đến sự giúp đỡ, cố vấn của các nhà sư. Đời Đinh, Tiền Lê, Lý đều nhờ đến các vị Khuông Việt, Vạn Hạnh, Đỗ Pháp Thuận… để ổn định chính trị, Nhà nước. Các đời vua Trần vừa trị nước vừa tu Thiền cũng đã thể hiện rõ mối quan hệ này. Trong khi Nho phải nhờ Phật để phát triển, chính trị cần sự giúp đỡ của tôn giáo thì ngược lại, Phật cũng nhờ Nho, tôn giáo cũng phải nhờ đến phương tiện vật chất dồi dào của chính quyền để hoằng dương Phật pháp. Trong bài văn bia chùa Linh Xứng, Pháp Bảo đã thừa nhận:
“Tự Phật giáo dĩ lai, đãi kim nhị thiên dư tải, nhi kính phụng ích tân. Phàm hữu danh sơn thắng cảnh, mạc bất khải thác dĩ kiến giác trường. Nhiên nhi vương công đại nhân, hoằng lộ khuông duy tắc mạc năng thành yên.”
Mặt khác, lớp văn hoá Phật giáo sau này từ đường bộ Trung Quốc truyền xuống với hệ kinh sách đã dịch sang Hán văn, nên các nhà sư muốn học kinh Phật phải có chữ Hán của nhà Nho và thực tế các vị đều uyên thâm Hán học.
“Cố Lục tổ hữu vân: Tiên đại thánh nhân dữ đại sư vô biệt. Tắc tri ngã Phật chi giáo, hữu giả tiên thánh dĩ truyền ư thế dã” (cho nên Lục tổ có nói: bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau. Như thế là đại giáo của Đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời) (Thơ văn Lý – Trần).
Nhà Nho Chu Văn An khi lui về quê cũng đã viết những vần thơ ca ngợi thiên nhiên, bộc lộ tâm tình tiêu dao, phóng khoáng tự tại, mang cốt cách của thiền sư, của đạo sĩ:
“Nhàn thân nam bắc phiến vân khinh,
Bán chẩm thanh phong thế ngoại tình.
Phật giới thanh u, trần giới viễn,
Đình tiền phún huyết nhất oanh minh”.
(Thân nhàn tựa áng mây trôi,
Gió trăng nửa gối việc đời nhẹ tênh.
Cõi trần xa, cõi Phật thanh,
Sân hoa máu đỏ, chim oanh líu lường)
(Thơ văn Lý – Trần)
Tinh thần Phật – Nho hợp tác, Phật – Lão kết hợp như trên là bắt nguồn từ quan niệm Tam giáo đồng nguyên. Vấn đề Tam giáo đồng nguyên không phải là hiện tượng của riêng Việt Nam mà là hiện tượng chung của lịch sử tư tưởng Đông Á: Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản.
“Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca đều là bậc chí thánh, tuỳ thời đem ứng dụng vào vật, giáo lý tuy khác nhau nhưng nội ngoại đều có thể hỗ trợ cho nhau, cùng có lợi cho quần sinh. Muôn việc cần đến đều có thể dựa vào Tam giáo”.
Văn học Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện tinh thần của quan niệm trên. Sở dĩ ở Việt Nam chưa bao giờ có sự xung đột Tam giáo như ở Trung Quốc là nhờ sự dung hợp linh hoạt này của người Việt. Quan niệm Tam giáo đồng nguyên đã thể hiện qua lời vua Lý Nhân Tông nói với Mãn Giác:
“Chí nhân thị hiện, tất vụ tế sinh, vô hạnh bất cụ, vô sự bất tu, phỉ duy thả kính thậm chi” (Thiền uyển tập anh, bản in đời Vĩnh Thịnh năm thứ 11.
Tuy ngôn thân mệnh chi chí trọng, do vị túc trọng ư chí đạo dã. Cố Khổng Tử viết: Triệu văn đạo, tịch tử khả hỷ. Lão Tử viết: Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân. Thế Tôn cầu đạo xả thân cứu hổ. Khởi phi tam thánh nhân khinh thân nhi trọng đạo giả tai.
Tóm lại, văn học Phật giáo Lý – Trần có được tinh thần trên là nhờ chất cởi mở phóng khoáng, dân chủ nên dân tộc ta sẵn sàng mở cửa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa tư tưởng nước ngoài rồi dung hợp để tạo nên nét độc đáo riêng, phù hợp với điều kiện của một dân tộc vừa mới phục hưng, một đất nước vừa phát triển mà phần nào đã trình bày ở trên.
Nguyễn Đăng Thục đã phát biểu thú vị rằng: “Phật giáo là một tôn giáo mở cửa độc nhất trong các tôn giáo thế giới, không tự khẳng định mình là thật mà phủ định cả Ngã và Pháp, siệu việt cả có lẫn không, mới có thể cống hiến cho dân tộc Việt Nam đất Giao Chỉ cái nhựa sống thiết yếu để hợp nhất các khuynh hướng tư tưởng, tín ngưỡng giao lưu xung khắc thành cái ý thức hệ khai phóng của địa lý đòi hỏi”.
NHÓM CHÚNG TÔI XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN QUÍ THEO DÕI ! ! !
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét