THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
PHẬT GIÁO TRƯỚC THẾ KỶ THỨ 10
BÀI THUYẾT TRÌNH
Nhóm IV
HỌC VIỆN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
tại TP. HCM
KHÓA: VIII
KHOA. LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Môn: văn học phật giáo việt nam trước thế kỷ thứ X
Giảng viên: PGS. TS: NGUYỄN CÔNG LÝ
ĐỀ: Vấn đề bản thể luận và giải thoát luận trong một số văn văn bản trong văn học phật giáo việt nam trước thế kỷ X.
I. DẪN NHẬP
Phật Giáo vào thế kỷ thứ 2. Trong thế kỷ đầu của Tập lịch sinh hoạt Phật ở Giao Châu chắc chắn còn thô sơ lắm.
Trong bối cảnh tín ngưỡng và văn hóa kia, đạo Phật đã được mang vào Việt Nam. Phật Giáo không gặp nhiều trở ngại như khi đi vào đất Hán. Ðạo Phật thấm vào văn minh Giao Châu tự nhiên dễ dàng như nước thấm vào lòng đất.
Giáo lý vô ngã tuy là giáo lý căn bản trong Phật Giáo nhưng có lẽ đã không được giảng dạy trong bước đầu này bởi tính cách khó hiểu khó nhận của nó. Ðạo lý Ly Dục cũng chỉ giới hạn trong giới Tang Môn. Chắc hẳn trong khi dạy về đạo lý Từ Bi và công đức, cá Tang Môn cũng đã dạy tiết dục, bỏ bớt những hưởng thụ vật chất cho riêng mình để bố thí cho kẻ khốn khó đói khổ.
Quan Niệm Về Phật - Ðối với người xuất gia, Phật là người giác ngộ và dạy đạo giác ngộ. Nhưng đối với người trí thức theo Khổng hay theo Lão, thì Phật được trình bày như nguyên tổ của đạo và đức.
Ta hãy đọc đoạn sau đây của Lý Hoặc Luận để thấy quan niệm tín ngưỡng bình dân về Phật phối hợp với quan niệm về Phật của Phật tử trí thức (những người như Mâu Tử) trình bày trong một ngôn ngữ có thể đối thoại được với người theo Khổng Lão:
“Phật là nguyên Tổ của Ðạo và Ðức, nguồn gốc của thần minh. Phật nghĩa là Thức Tỉnh (Giác). Ngài có thể biến hóa không cùng, phân thân tán thể, khi có đó, không đó, khi lớn khi nhỏ, khi vuông khi tròn, khi già khi trẻ, khi ẩn khi hiện, lửa không đốt được, trong bùn không nhiễm, giữa họa mà không bị tai ương, khi đi có thể bay, khi ngồi hào quang sáng chói. Ðó gọi là Phật”.
Phương pháp của đạo Phật không phải là chống đối, mà là hòa đồng. Ðặc điểm này thấy rất rõ trong lịch sử phát triển của đạo Phật khắp trên thế giới. Ðiều này một phần do tinh thần cởi mở không giáo điều của đạo Phật, một phần do Phật tử chịu học hiểu về các ý thức hệ mà họ muốn đối thoại.
II. THIỀN SƯ ĐỊNH KHÔNG (730 - 808)
(Đời thứ 8, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư họ Nguyễn quê ở làng Cổ Pháp, con nhà danh giá, lại thâm hiểu về thế số. Những hành động của Sư đều hợp pháp tắc, người trong làng quí kính gọi là Trưởng lão.
- Chữ thập, chữ khẩu hợp thành chữ cổ. Chữ thủy, chữ khứ hợp thành chữ pháp. Thổ là chính chỗ chúng ta ở, tức chỉ đất này.
Nhân đây, Sư đổi tên làng là Cổ Pháp (trước tên Diên Uẩn), lại làm bài tụng:
Đất dâng pháp khí
Một món thuần đồng.
Ấy điềm Phật pháp hưng long
Đặt tên làng là Cổ Pháp.
地 裎 法 氣
一 品 惺 同
治 佛 法之 興 隆
立 香 名 之 古 法
(Địa trình pháp khí
Nhất phẩm tinh đồng.
Trị Phật pháp chi hưng long
Lập hương danh chi Cổ Pháp.)
Trước hết, người cầu học pháp môn này như Pháp-Thường phải là người đa căn lành, nhiều phước đức, thông minh, linh lợi, lanh cơ, giàu trực giác, chợt nghe liền nhận ra cách dùng từ ngữ độc đáo của Mã-Tổ trong lời đáp này nói riêng, cũng như của chư Tổ Thiền Tông và các Thiền-sư nói chung, và đó cũng chính là cái ổ khóa bí hiểm, vô hình, vi nhiệm để người cầu học nương đó mà tự vượt thoát chính mình, cũng là lách tọt vào cửa Tổ. Hễ một khi đã thật sự chợt vào thì không còn có lối để ra, vì rằng ngay đó vô minh chợt tan biến, triệt tiêu, trước mắt tất thảy thênh thang, rỗng hoát, tâm thể sáng trong, như nhứt, vô biên, vô hạn lượng, không còn cửa nẻo, chẳng chỗ đến đi, không lầm nhơn quả, tất thảy pháp biến hiện mất còn không chỗ dính dấp, như hoa đốm trong không.
Người căn trí vào bậc thượng, phát huy trực giác tối đa nương đây mà tự ngoảnh đầu khám phá chính mình. "Tức" trong khoảng một phần "sát-na", mà trước niệm không sanh, sau niệm không dứt, hiện tiền là nhứt niệm, cũng vô niệm sáng suốt tuyệt đối, là chơn ngã, chơn tâm, Niết-bàn thanh tịnh. Nhận ra hiện thực tuyệt đối trước mắt, cũng là chơn tâm hiển lộ thì cũng tức ngay ấy, ngộ ra thể tánh chơn thật của bổn tâm, thì liền sáng suốt, để tự trả lời Phật là gì một cách chơn thật, mà trong đây vừa chợt khám phá, biết như thật Tánh-Tướng viên dung, Phật-Tâm-Đạo huyền đồng nhứt như, Thể và Tánh chẳng phải một, chẳng phải hai cũng không phải khác, mà như sóng với nước.
III. THIỀN SƯ VÔ NGÔN THÔNG (? – 826) :
Thiền sư Vô Ngôn Thông người họ Trịnh ở Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 9 năm Canh Tý niên hiệu Đường Nguyên Hoà thứ 15 (năm 820) sang Việt Nam, đến tu ở chùa Kiến Sơ, huyện Tiên Du, nay thuộc xã Phù Đổng, Gia Lâm, Hà Nội
Thiền sư là người sáng lập ra dòng thiền Vô Ngôn Thông hay còn gọi là dòng thiền Quan Bích hoặc dòng Kiến Sơ.
Bài kệ :
Nhất thiết chư pháp
Giai tòng tâm sinh
Tâm vô sở sinh
Pháp vô sở trụ
Nhược đạt tâm địa
Sở tác vô ngại
Phi ngộ thượng căn
Thận vật khinh hứa
一 切 諸 法
皆 從 心 生
心 無 所 生
法 無 所 住
若 達 心 地
所 作 無 礙
飛 悟上 根
慎 物 轻 許
Dịch :
Tất cả các pháp
Đều từ tâm sinh
Tâm không chỗ sinh
Pháp không chỗ trụ
Nếu đạt đất lòng
Làm gì chẳng ngại
Không gặp thượng căn
Cẩn thận chớ nói
Trong thời nào cũng có những chúng sanh nghiệp chướng nặng nề, phước đức kém cỏi, trí tuệ không bằng một đốm lửa cỏn con, tự thân không sao vuợt nổi sự trói buộc của bản ngã vì danh lợi hồng trần, vì vô minh vọng nghiệp nhơn quả kết dệt quá sâu dày, khiến ma tâm lừng lẫy, ngã mạn cao ngạo, chẳng những căn cơ không đủ để tiếp nhận nổi pháp môn này của Thế-tôn thì thôi, lại còn đem lòng đố kỵ, dùng miệng lưỡi tri thức phàm tình chê pháp, báng Tổ, phủ nhận Chánh Pháp Nhãn Tạng thậm vi thậm diệu của đức Phật.
IV. TRƯỞNG LÃO LA QUÍ : (852-936)
(Đời thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư họ Đinh người An Chân, đi du phương từ thuở nhỏ, tham yết khắp các bậc thầy nổi danh trong nhà Thiền. Trải nhiều năm như thế, mà pháp duyên chưa hợp, Sư sắp thối chí. Sau gặp Thiền sư Thông Thiện ở chùa Thiền Chúng nói một câu, tâm Sư liền khai ngộ.
Lúc trồng cây Miên, Sư có làm bài kệ:
Đại sơn đầu rồng dấy
Đuôi to ẩn Châu Minh
Thập bát tử định thành
Cây gạo hiện hình rồng
Thỏ gà trong tháng chuột
Quyết thấy mặt trời lên.
大 山 隆 頭 起
求 暐 隱 周 明
十 八 子 定 成
眠 壽 現 隆 形
兔 雞 此 軏 内
定 見 日 出 清
(Đại sơn long đầu khởi
Cầu vỹ ẩn Chu Minh
Thập bát tử định thành
Miên thọ hiện long hình
Thố kê thử ngoạt nội
Định kiến nhật xuất thanh.)
"Chư Phật và tất cả chúng sanh chỉ là một Tâm, không có pháp nào khác. Tâm nầy từ vô thủy tới nay không từng sanh, không từng diệt, không xanh không vàng, không hình tướng, không thuộc có không, không mới không cũ, không dài không ngắn, không ti không nhỏ, siêu việt tất cả hạn lượng danh ngôn, tung tích đối đãi, đương thể tức là nó. Giống như Hư không, không có biên giới, không thể đo lường.
Tánh biết sáng suốt tuyệt đối không sở không năng, không chung không thỉ, như như tự tại, là đệ nhất nghĩa, là tuyệt đối mà không miệng mồm, trí giải nào có thể với tới được vậy. Bởi cái gì có thể với tới được "nó" thì tự nó chẳng còn là tuyệt đối nữa, chẳng còn là đệ nhất nghĩa đối với chỗ độc hữu diệu mầu, phi sanh diệt của tự nó, chẳng còn là thường đạo chơn thật nữa, mà khiến cùng nó chia lìa, là hai là khác, là có chỗ tương tác, vướng mắc trong nhơn quả rồi.
V. THIỀN SƯ PHÁP THUẬN : (914-990)
(Đời thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi)
Sư họ Đỗ, không rõ quê quán ở đâu, xuất gia từ thuở bé, thọ giới với Thiền sư Long Thọ Phù Trì. Sau khi đắc pháp, Sư nói lời nào cũng phù hợp sấm ngữ.
Vua Đại Hành hỏi vận nước dài ngắn thế nào, Sư đáp bằng bài kệ:
Vận nước như dây quấn
Trời Nam sống thái bình
Rảnh rang trên điện các
Chốn chốn dứt đao binh.
國 胙 如 滕 洛
南 千 里 太 平
無 圍 居 殿 閣
處 處 即 刀 兵
(Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh.)
Cũng ngay sát-na đó chợt lọt vào tai mình, thì người thính pháp liền tự chuyển não, tự vượt thoát khỏi bản ngã, tự vượt thoát khỏi cái nghe, cái biết của tâm ý thức để ngay đó thấy nghe hay biết bằng cái tánh nghe vốn dĩ tự sẵn có, thường hằng, tự tại, để tự đồng "một" cùng chỗ Pháp Thường ngay ấy "đang-là" không khác.
Bằng vận dụng tri thức sanh diệt để nghĩ suy, lý giải, biện biệt đúng sai bằng cái tâm phân biệt thường tình trong lẽ tương đối của nhơn quả, thì liền cùng với cái chỗ "biết - giác" tuyệt đối không sở, không năng, vô tướng, vô tác kia của chư Tổ, thì liền là hai, là khác, là cùng nó bị cách chia, bị che chắn bởi chính cái tâm ý thức khởi niệm phân biệt, suy lý, nghĩ ngợi của mình.
VI. ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT (933 – 1011):
Đại sư Khuông Việt người họ Ngô tên là Chân Lưu, hậu duệ của Ngô Thuận Đế (thuỵ hiệu của Ngô Quyền). Quê ở hương Cát Lị, huyện Thường Lạc. Thụ giới tại chùa Khai Quốc với thiền sư Vân Phong (?-957). Năm 40 tuổi (971), nhà sư được vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Tăng thống, sau đó được ban hiệu là Khuông Việt Đại sư. Đại sư Khuông Việt thuộc thế hệ thứ 5 dòng thiền Vô Ngôn Thông. còn lại đến nay trọn vẹn chỉ có hai bài. Trong đó, bài thứ hai là kệ ông làm trước khi mất.
木 中 元 有 火
元 火 復 還 生
若 謂 木 無 火
鑽 燧 何 由 萌
Phiên âm:
Mộc trung nguyên hữu hỏa
Nguyên hỏa phục hoàn sinh
Nhược vị mộc vô hỏa
Toàn toại hà do manh?
Dịch nghĩa:
Trong mộc vốn có hỏa
Cái nguyên hỏa lại hoàn sinh
Nếu nói mộc không có hỏa
Thì lúc đánh nhùi, lửa từ đâu mà ra?
Bài kệ thị tịch này là một thể loại văn học Phật giáo, được Khuông Việt thiền sư “khẩu chiếm” cho học trò trước khi tịch để giảng về sự ngộ đạo của mình. đây lại là một dấu hỏi lớn về vấn đề luân hồi, sinh lão bệnh tử, cũng như bản thể luận thế giới và con đường tu chứng ngộ đạo.
Trong Phật học, “lửa” hay “ánh sáng” là nói về điểm đích cứu cánh của tu thiền, tức là giác ngộ, là trí tuệ, là Bát Nhã. Ý vị hơn nữa là ông đã đặt ra một nghi vấn khoa học như một sự trả lời về thiền học và lẽ sống chết!
Ông tuy khoác áo nhà Chiền, nhưng vẫn thung dung trên dặm thanh vân. Ông coi niết bàn ngay tại thế gian; giảng đàn chính giữa triều trung. Có thể nói, ông là một phức thể sống động, dung hội giữa Nho và Phật, giữa đời và đạo.
Thiền sư là những con người có được sự bén nhạy nhanh và năng cảm nhất, vì khám phá uyên nguyên sự vật trước hết, trên hết phải chuyển mình trở thành sự vật đang hiện hữu, không thể đứng ngoài sự vật mà tìm thấy những thầm kín trong ấy, muốn tìm ra gốc rễ phải sống và thở như chính nó đã sống. Nếu không có những điều nầy thì làm sao có thể thành tựu trong việc truy lùng uyên nguyên vật thể.
Thiền sư là những kẻ đang thở và sống trong tất cả mọi hiện tượng và sự vật, hoán chuyển để trở thành nguồn sống nuôi dưỡng cho những trổi dậy, vượt thoát ra ngoài tương quan hiện thực.
VI. VÂN PHONG, THIỆN HỘI:
Ta thấy ngay sự khác nhau giữa hai đàng: một đàng thì muốn nghe những tư tưởng về đại đạo, một người muốn kéo người đối thoại về thế giới sinh hoạt thực tại. Một người thì đi tìm định nghĩa căn cứ trên sự phân biệt, một người thì cố gắng đập gãy lề lối thói phân biệt để hiển lộ thực tại vốn thoát ly danh từ và sự phân biệt. Thoại đầu không cần phải dài dòng bởi thoại đàu là dụng cù tháo gỡ sự đạt ngộ mà kinh phải là những giải thích về đốn ngộ. Vân Phong (mất 956) hỏi Thiện Hội (mất 950): Làm sao tránh khỏi sinh tử?
Thiện hội: Ði vào chỗ vô sinh tử
Vân Phong: Chỗ vô sinh tử là chỗ nào?
Thiện Hội: Nó nằm ngay trong chỗ sinh tử.
Vân Phong: Làm sao hiểu được?
Thiện Hội: Ði đi, mai sẽ tới gặp lại.
Thiện hội đưa cho Vân Phong một chìa khóa “Vô sinh tử nằm ngay sinh tử”. Vân Phong không hiểu được, đòi Thiện Hội giải thích. Nhưng làm thế nào để giải thích một chiếc chìa khóa? Làm thế nào để giải thích một thoại đầu? Nếu Vân Phong có thể hiểu, là ông đã hiểu ngay khi đó; nếu ông không hiểu, đó là vì tâm trí của ông chưa chìm, dù có nói thêm hai ba chục câu nữa ông cũng không hiểu. Thà rằng ông về phòng còn hơn. Sáng mai, qua một đêm thiền quán, có lẽ ông sẽ có thể bừng tỉnh được nhờ câu thoại đầu ấy.
Qua kinh nghiệm giác ngộ triết lý của đạo Phật và được gạn lọc qua nhiều tầng vỉa của ngôn ngữ thi ca Việt Nam, thơ Thiền đối với kho tàng văn hóa dân tộc đã biểu hiện một sắc thái độc đáo, riêng biệt.
VII. LÁ THƯ THỨ NHẤT: Lý Miễu của Giao Châu viết cho Cao pháp sư:
也就是說,這裡沒有和四大常識董事,但神秘的教義在各個領域蔓延。如果安全是聰明還是不錯的教材,更多的人得到它,為什麼不存在了做人的道理?合理的,沒有什麼說,不是真的空?現在是時候尋求它的西方起源。五月古老的大學邀請憐憫,取心臟,但不幸的是沒有教學性神。
Rằng, chỗ đạo trong vắng, bốn đại lẽ thường, nhưng giáo pháp nhiệm mầu lan khắp mọi cõi. Nếu bảo lời dạy ấy khéo hay lợi vật, độ thoát nhiều người thì sao chân hình nó lại không hiện ở đời? Ấy phải chăng chẳng qua là nói suông không thật? Nay chính là lúc phải nên tìm nguồn gốc phương Tây của nó. Nguyện xin đại Hòa thượng rủ lòng thương xót, nhận lấy lòng con, mà không tiếc lời dạy thần tình.
Về khía cạnh văn học, Sáu lá thư trên là những tác phẩm xưa nhất của lịch sử văn học nước ta được phát hiện cho tới ngày nay. Đây không phải là chỗ cho chúng tôi bàn cãi xem những tác phẩm Hán văn do người nước ta sáng tác có nên coi là thuộc lịch sử văn học nước ta hay không.
Về khía cạnh tư tưởng, những đóng góp của Sáu lá thư càng trở nên khởi sắc, vì chúng là những văn kiện đầu tiên còn sót lại với những ghi chú đáng quan tâm do người nước ta viết về không những thực tế quan niệm của Phật tử Việt Nam vào thế kỷ thứ V, mà còn về thực tế quan niệm của những người không theo Phật giáo nước ta lúc bấy giờ.
Thơ Thiền còn được gọi là Kệ và dùng để tụng, ngợi ca nhằm khẳng định giáo lý, kinh nghiệm, truyền tâm pháp cho đệ tử. Hiện nay, các nhà nghiên cứu gọi chung thơ nhà chùa là thơ Thiền nhưng quan niệm về thơ Thiền lại khác nhau.
Với tư cách là một tông phái hấp thu tinh hoa các tông phái Phật giáo, Thiền cảm nhận cuộc sống một cách trực tiếp, trực giác, thiền thiên về thực hành, chú trọng tự lực, đi vào mọi tầng lớp (hòa quang đồng trần) thấm nhuần trong các ngành văn hóa – nghệ thuật Phương Đông.
Trong hầu hết những công án của Thiền đều ẩn mang cốt cách văn chương thi ca, như một câu nói lơ lửng, một bài thơ không hiểu nổi. Nhưng, chính cái lửng lơ ấy tạo cho kẻ đối diện hoang mang, ray rứt, bí lối trước những suy luận và cuối cùng bỗng nhiên lăn mình trường tới cửa ngõ rỗng không.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về thơ Thiền nhưng tất cả đều giống nhau ở chỗ cho rằng mọi quan niệm nhận thức thơ Thiền đều xuất phát từ tiêu chí nội dung phản ánh của nó: "Từ việc biểu đạt một nội dung xác định, thơ Thiền lựa chọn cho mình những đề tài, chủ đề phản ánh riêng. Nó không đề cập tới cuộc sống nói chung mà đề cập tới một phạm vi nhất định của cuộc sống có ảnh hưởng Phật giáo.
VIII. LỜI KẾT:
Tìm về thơ Thiền xưa cũng có nghĩa là đến với văn học Phật giáo. Thực ra văn học Phật giáo "không hình thành một dòng văn thơ riêng biệt, dù trong một giai đoạn hay suốt chiều dài lịch sử văn học nước nhà" nhưng những đóng góp quan trọng của nó đối với văn học Việt Nam nói chung và với cuộc sống của con người nói riêng là điều không thể phủ nhận.
Thơ thiền đã bao quát một dung lượng rộng lớn trong việc thể hiện triết lý của Đạo phật và tâm hồn, tình cảm của con người. Đó là sự ca ngợi con người siêu việt, thăng hoa vào linh không bằng đốn ngộ, đồng thời cũng biểu hiện ý thức về sự hiện hữu của con người theo quan điểm triết học Phật giáo.
Đó chính là giá trị nhân bản sâu sắc mà các tác giả Thiền sư - thi sĩ gửi gắm tạo nên bóng dáng con người với những phẩm chất tốt đẹp, có ý chí, nghị lực và niềm tin mãnh liệt vào bản thân, có trái tim yêu thương, biết rung động sâu xa, tinh tế trước vẻ đẹp của từng nhành cây, ngọn cỏ.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét