THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

LỤC ĐỘ TẬP KINH

MUC LUC : I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : II- GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI : III- GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI : IV- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : V- CƠ SỞ TƯ LIỆU : VI- DẪN NHẬP : VII- GIỚI THIỆU VỀ KHƯƠNG TĂNG HỘI : VIII- KHƯƠNG TĂNG HỘI VÀ LỤC ĐỘ TẬP KINH : IX- QUÁ TRÌNH BIÊN SOẠN NỘI DUNG CHÍNH : X- NỘI DUNG : 1- TƯ TƯỞNG LỤC ĐỘ TẬP KINH : 2- TÓM TẮC NHỮNG CÂU TRUYỆN TRONG LỤC DỘ TẬP KINH : 3- SỰ TÍCH HỢP CÁC YẾU TỐ DÂN GIAN : 4- TÍCH HỢP VĂN HÓA DÂN GIAN : 5- VỀ TRUYỀN “TRĂM TRỨNG” TRUYỀN THUYẾT KHỞI NGUYÊN CỦA DÂN TỘC : 6- QUAN NIỆM VỀ CHỮ HIẾU THEO LỤC ĐỘ TẬP KINH VÀ DÂN GIAN : 7- LÝ GIẢI THẾ NÀO LÀ YẾU TỐ DÂN GIAN : 8- SỰ TÍCH HỢP VĂN HỌC ĐẠO VÀ ĐỜI : 9- TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO VÀ SỰ CHUYỂN HÓA DÂN GIAN : 10- TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG VĂN HÓA, VĂN HỌC CỦA TIẾNG VIỆT : 11- TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG VĂN HỌC DÂN TỘC : 12- TƯ TƯỞNG LỤC ĐỘ TẬP KINH VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM : 13- LỢI ÍCH CHO CON NGƯỜI VIỆT QUA 91 CÂU TRUYỆN : 14- ĐẶC TÍNH DÂN TỘC VIỆT NAM : 15- PHẬT GIÁO HÒA HỢP VỚI TINH THẦN DÂN TỘC : 16- TINH THẦN TỪ BI QUẢNG ĐẠI : XI- TỔNG KẾT : XII- KẾT LUẬN : - TÀI LIỆU THAM KHẢO : SỰ TÍCH HỢP CỦA CÁC YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN QUA CÁC CÂU TRUYỆN TRONG “LỤC ĐỘ TẬP KINH” CỦA KHƯƠNG TĂNG HỘI I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI : Trong cuộc sống quang ta có những điều lý thú theo cá tính của mỗi con người. từ sở thích từng sự cảm nhận của chúng ta theo cách suy nghĩ. Bỡi vậy, hôm nay vì lý do đó mà chúng tôi chọn đề tài về “lục độ tập kinh” để lfm sang rõ những vấn đề còn đắn đo chưa thấu hiểu củ chúng ta. Trong lục độ tập kinh đã nói lên tâm hồn của từng con người qua từng câu truyện đã nói rõ bản chất của chúng ta và gần gữi trong đời sống thường nhật. tính thiết yếu trong dân gian dân tộc việt nam ta nói riêng và tất cả mọi người trên thế gian nói chung, đến hướng về sự thanh cao thánh thiện, cho thế hệ mai sau noi gương theo và làm đẹp cho đời cho đọ. Sự hòa nhập trong của sống của đạo phật rất phù hợp theo từng con người ở mọi thời đại. Đạo Đức và Lòng Từ Bi là hai lĩnh vực rất quan trọng. Muốn hoàn thiện bản thân, nếu không lấy Đạo Đức làm tiêu chuẩn, Từ Bi làm cách xử thế thì chỉ là đáy nước tìm trăng. Cổ nhân dạy rằng: “Tôn mạc tôn hồ đạo, mỹ mạc mỹ hồà đức. Đạo đức chi sở tồn, tuy thất phu, phi cùng giả. Đạo đức chi sở bất tồn, tuy vương thiên hạ phi thông giả”. Tạm dịch: “Tôn quý không gì hơn đạo, tốt đẹp không gì tốt đẹp hơn đạo đức. Đạo đức còn, dù kẻ thất phu chăng nữa cũng chẳng màng. Đạo đức chẳng còn, làm vua chúa cũng chẳng phải người thông”. Chứng tỏ rằng cổ đức đã đánh giá rất cao về đạo đức, lấy đạo đức làm chuẩn mực cho cái đẹp của cuộc đời. Bên cạnh đó, đạo Phật đem lòng thương bao la đến cho vạn loại như một tôn chỉ truyền đạo, đây cũng là then chốt và điều tâm đắc của người viết trong quá trình học. II. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI : Lịch sử loài người là một quá trình chuyển hoá liên tục, không ngừng nghỉ. Sự chuyển hoá xảy ra trên nhiều bình diện của cuộc sống và nó gắn liền với môi trường xung quanh tạo thành một hợp thể tác động hai chiều thúc đẩy loài người cứ thế phát triển mãi không ngừng. Yếu tố chuyển hoá là nguyên lý vận động của các lực lượng tồn tại. Nếu không có yếu tố này mọi giá trị tồn tại đi vào sự huỷ diệt. Quá trình chuyển hoá và quá trình trao đổi chất trong cách thế tự điều tiết để giữ vị thế thăng bằng. Trong giới tự nhiên, sự trao đổi chất có tính cách tự điều tiết, tự phân phối điều hợp theo bản năng tự nhiên của chúng. Con người ở thời kỳ ban sơ, còn mông muội, vẫn sống trong qui luật này, nhưng do quá trình lao động, cọ xát với môi trường sống, con người dần dần tách mình ra khỏi lực lượng thiên nhiên và xem lực lượng này như là đối tượng quan sát và chinh phục. Lao động giúp cho trí não con người phát triển, biết tạo ra công cụ để lao động tạo ra sản phẩm cho nhu cầu cuộc sống, biết tư duy, con người bây giờ lần lần lột xác để bước vào thời kỳ khai sáng. Từ đó con người biết kế thừa tiếp nối mạch khai sáng qua kinh nghiệm lao động kéo dài hàng nghìn năm. Sự trao truyền và kế thừa nghiễm nhiên trở thành yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của con người, nó quyết định khả năng tri thức và khả năng sáng tạo, xa hơn nữa, nó đưa con người xích lại gần hơn, cùng chung sống trong mối quan hệ trao đổi xây dựng và phát triển tính chất toàn cầu. III. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI : Việt nam là một đất nước thuộc vùng Đông Nam Á, vừa tiếp cận với lục địa Châu Á, vừa chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh lớn nhất thế giới đó là Ấn Độ và Trung Hoa, đồng thời nước ta còn có nền văn minh bản địa thường được gọi là văn minh Lúa nước hoặc văn minh Sông Hồng. Sự giao thoa của hai nền văn minh trên cộng với nền văn minh bản địa đã tạo nên một sắc thái đặc biệt để cho ra đời một nền văn minh độc đáo và phong phú. Phong phú về các lĩnh vực đời sống tâm linh, về tín ngưỡng, về phong tục tập quán và các luồng văn hóa mới khác, mà trong đó Phật giáo chiếm lĩnh vực quan trọng bởi triết lý nhân sinh vũ trụ vô cùng thực tế và sinh động, làm cho chúng dễ dàng đi vào lòng người tạo nên một bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo. Là người Việt Nam, ngoài việc thừa hưởng trọn vẹn kho tàng văn hóa trên còn phải có nhiệm vụ bảo lưu và phát huy truyền thống ấy. IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : Đề tài nghiên cứu “SỰ TÍCH HỢP CỦA CÁC YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN QUA CÁC CÂU TRUYỆN TRONG “LỤC ĐỘ TẬP KINH” CỦA KHƯƠNG TĂNG HỘI ” là để tìm hiểu điểm đặc thù mà Lăng giàụ trình bày là tính thống nhất của vạn vật, như các trường phái triết học thường đề cập, đồng thời cũng là sự thống nhất giữa tâm và thức. Tâm thức đi tìm cái thanh tịnh, vô hạn tuyệt đối đằng sau cái vô thường, hữu hạn tương đối; tìm lý tưởng trong thế giới trần tục, tìm cái thiện trong cái ác… tâm thức coi thế giới của cải vật chất, tiền tài danh vọng, thậm chí cả thân thể con người cũng chỉ là vô thường, là hư vô, tạm bợ phù du; mà nếu con người cứ mê lầm theo đuổi chúng thì không bao giờ thoả mãn được dục vọng của mình, và chỉ tạo cho mình những thất vọng với những nỗi khổ triền miên. Mục đích của đề tài này là tìm cái giá trị vĩnh cữu sâu thẳm trong tâm linh, cái tinh thần đạo đức con người, khiến cho con người trở thành người đích thực, cao cả và vĩnh hằng. V. CƠ SỞ TƯ LIỆU : Thời gian trôi đi mãi, lịch sử không dừng lại và chờ đợi bất cứ ai … Trong tập luận văn này, người viết xin được góp nhặt cơ sở tư liệu duy nhất là trong sách vở, với nhiều nguồn khác nhau gọi chung là thư tịch, trực tiếp đọc và khai thác. Trong việc nghiên cứu, càng nhiều nguồn tư liệu bao nhiêu thì càng tốt cho người viết bấy nhiêu. Tuy nhiên đây là một vấn đề của tám thế kỷ trước, một vấn đề đã cách xa thời đại ngày nay và tất cả những điều đó được ghi lại trong sách vở, kết thành một xâu chuỗi ngọc vô cùng quí giá, từ suốt mấy ngàn năm trong lịch sử nước nhà. “lục độ tập kinh” Đây là những công trình nghiên cứu của những người đi trước xác định một cách rõ ràng về khung thời gian lịch sử. Có những công trình chuyên nghiên cứu về Phật giáo, những công trình nghiên cứu về tư tưởng nói chung trong đó có Phật giáo và những công trình nghiên cứu về sử học có liên quan đến Phật giáo. Để thế hệ mai sau học hỏi và tự hào với trang sử vàng son của Phật giáo Việt Nam nói riêng và của dân tộc Việt Nam nói chung. VI. DẪN NHẬP : Người đi qua cuộc đời với muôn ngàn lẽ sống, mỗi phương diện của cuộc đời người thể hiện bằng những hành động, cách sống và suy nghĩ khác nhau. Mỗi quốc độ, mỗi lãnh thổ, người hòa mình vào dòng trôi của lịch sử thế nhân, lần trôi trong luân chuyển của kiếp người. Cuộc sống luôn đầy đủ cả hạnh phúc và khổ đau. Trước đó là tiếng cười nhưng sau lại là những giọt nước mắt đã ẩn dưới làn mi xanh. Người mơ ước lắm, mong mỏi lắm cái vĩnh hằng của hạnh phúc, những chốn bình ổn và người với người chung nhau trong tiếng cười đểụ cuộc sống như một khúc hoan ca. Người ta đến với cuộc đời, tuy mong mỏi như vậy nhưng nếu không có một sự nỗ lực trau dồi đạo đức và tạo lập tình thương mà dừng lại ở chỗ đó thì phi thựỉc tế và khổ đau còn đầy trong tâm khảm. Đêm qua, giây phút giao thoa của vũ trụ rền lên tiếng nổ của những cuộc bạo động gây nên thảm khốc bi thương. Tội nghiệp thay những ánh mắt trẻ thơ vô tư phủ mờ màn lệ bởi những người thân lìa trần. Ôi! Họ nào có tội tình chi và nỗi đau của cuộc đời cứ thế nhân lên và kéo dài đến vô tận và khát vọng chỉ vẫn còn ấp ủ của một kiếp người. Lục độ tập kinh còn là nơi tập đại thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước v.v… làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam. Lục độ tập kinh còn là văn bản thiết định những chủ đề tư tưởng lớn của Phật giáo Việt Nam, làm tiền đề cho những phát triển tư duy Phật giáo Việt Nam. vì thế là một tác phẩm văn học lớn không chỉ của lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn là của lịch sử văn học tư tưởng và văn hóa dân tộc. Lục độ tập kinh cùng nội dung tư tưởng và những liên quan của nó với văn bản học Việt Nam. Từ đó, nó giúp ta tìm hiểu lại những sinh hoạt tư tưởng học thuật của không những Phật giáo, mà còn của dân tộc thời Lục độ tập kinh là một bản kinh tiếng Việt. Đặc biệt sự có mặt của một loạt các cấu trúc tiếng Việt cổ, của những nhận định về các xu thế tư tưởng ở Việt Nam thời nó, của các cải biên, thậm chí hư cấu nên các truyện mới. Đạo đức, lòng thương bao la và tiếng nói tĩnh thức nhân tâm mà con người thường lãng quên trong lợi danh của kiếp người. Có thể nói Phật giáo là một trường phái Triết Học, một Tôn Giáo Học, một Nghệ Thuật Học, một môn Nhân Bản Học… Vẫn không thiếu không thừa, Phật giáo đến với cuộc đời đầy đủ trong mọi phương diện phục vụ cho mọi đối tượng và đặc biệt là đưa con người vượt thoát khổ đau, tự mình hoàn thiện đạo đức cá nhân mà vẫn không tách rời khỏi cuộc sống hiện tại. Người viết cũng như mọi người cũng cộng sinh trong môi trường và sống chung cùng thời đại, dĩ nhiên những gì tiền nhân mong mỏi, đời hiện tại trông mong thì điều đó cũng tồn tại trong lòng của mỗi cá nhân. Hướng về cái đẹp, xây dựng cái đẹp hay nói cách khác là xây dựng Chân, Thiện, Mỹ, bất cứ quốc gia nào cũng muốn, lãnh thổ nào cũng tôn trọng bởi con người không ai muốn nhận mình là kẻ xấu xa, người hèn mọn. Xây dựng được những điều đó do đâu? Thưa chỉ có duy nhất là Từ Bi và Đạo Đức giáo lý của Phật giáo. Cho nên tự mình cũng muốn tìm hiểu, tự mình vốn mang trọng trách của Kẻ Sĩ Xuất Gia, người viết rất muốn thể hiện một khoảng rất nhỏ trong sâu thẳm nhiệm mầu của Giáo Lý và chuyển tải đến mọi người tiếng nói tri âm. VII. GIỚI THIỆU VỀ KHƯƠNG TĂNG HỘI : Ngài Khương Tăng Hội người nước Khương Cư, cha mẹ sang Giao Châu buôn bán. Ngài mồ côi cha mẹ từ lúc mười tuổi. Sau thời kỳ cư tang, Ngài xuất gia, chăm học kinh điển, trở thành một tăng sĩ nổi danh thời ấy. Ngài tánh tình chân thật hòa nhã rất thông minh. Ngài thông hiểu tam tạng, lục kinh còn nghiên cứu toán số, thiên văn, văn chương và chính trị. Ngài sang Đông Ngô tuyên dương Phật pháp trong thời Ngô Tôn Quyền (229-252). Ngài đến thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh) nhằm năm thứ mười niên hiệu Xích Ô nhà Ngô (247) cất một túp lều ở đó tu trì và mở trường giảng dạy. Ngô Tôn Quyền thấy Ngài thi thố nhiều phép lạ lấy làm tín phục, xây dựng ngôi chùa Kiến Sơ thỉnh Ngài ở. Từ đây Phật giáo thạnh hành miền Giang Tả. Vào năm 247, một vài năm sau khi Chi Khiêm rời khỏi kinh đô Kiến Nghiệp, Khương Tăng Hội, một vị cao tăng gốc miền Trung Á, đã đến đây. Ngài đến từ Giao Chỉ, thủ phủ của Giao Châu ở miền cực Nam của đế quốc Trung Hoa (gần Hà nội ngày nay). Gia đình của Ngài đã sinh sống ở Ấn độ trải qua nhiều thế hệ; thân phụ của Ngài, một thương gia, đến định cư ở thành phố thương mại quan trọng này. Không biết ai đã nuôi dạy Tăng Hội sau khi cha mẹ ông mất, chỉ biết rằng lớn lên ông đi xuất gia và tu học rất tinh tiến (Cao Tăng Truyện). Ta cũng không biết thầy ông là ai, và trong số mười vị tăng sĩ truyền giới cho ông có vị nào là tăng sĩ ngoại quốc không. Ta chỉ biết ông giỏi cả Phạn ngữ lẫn Hán tự. Trong các tác phẩm của ông ta thấy có tập Nê Hoàn Phạm Bối là một tập thi ca về đề tài niết bàn chuyển dịch từ những bài thi tụng Phạn ngữ. Lục Ðộ Tập Kinh của ông văn từ điển nhã, chứng tỏ Hán văn ông không thua gì người Trung Hoa thời ấy. Thật khó nói phần tiểu sử của vị Thánh này có căn cứ lịch sử hay không. Có hai sự kiện phải được ghi nhận. Sự kiện thứ nhất, quả thật là có sự ngược đãi Phật giáo mặc dầu nó đã xảy ra nhiều năm trước khi Tôn Hạo lên ngôi. Hơn nữa, điều này không nhằm trực tiếp chỉ chống lại Phật giáo, nhưng còn chống lại các giáo phái không chính thống. Những hoạt động của Khương Tăng Hội như là một dịch giả thì còn bị giới hạn hơn. Danh sách các tác phẩm được công nhận là của chính Ngài còn lưu lại hai tuyển tập của avadàna được cho là của Ngài: Lục Độ Tập Kinh (Đại Chánh Nhất Thiết Kinh 152) và (cựu) Tạp Thí Dụ Kinh (Đại Chánh Nhất Thiết Kinh 206; tác phẩm sau, tuy nhiên, không được đề cập đến trong những thư mục xưa nhất. Hơn nữa Đạo An nhắc đến một tác phẩm gọi là Ngô Phẩm gồm năm quyển và mười phẩm có lẽ là bản dịch của Bát Nhã Bát Thiên Tụng? Tác phẩm đã bị mất vào thời đại của Tăng Hữu. Phật giáo của Khương Tăng Hội hình thành sự kế tục của trường phái phía Bắc của An Thế Cao, An Huyền và Nghiêm Phật Điều với sự tập chú vào Thiền (Dhyàna). Cùng với một Trần Huệ nào đó từ Hội Kê, ông ấy đã viết một bản chú giải về Kinh An Bang Thủ Ý, là kinh văn căn bản của trường phái này, mà mặc dù với tựa đề của nó vẫn không có những nét đặc thù của một quyển kinh. VIII. KHƯƠNG TĂNG HỘI VÀ LỤC ĐỘ TẬP KINH : “Lục độ tập kinh” được thống nhất là do ngài Khương Tăng Hội dịch ra tiếng Hán vào đời Ngô, Tam quốc, và được thu vào Đại chính tạng, tập 3. Một số học giả còn chấp nhận thời điểm Hán dịch chính xác của bộ kinh này là vào năm Thái Nguyên Tân Mùi của Tôn Quyền nhà Đông Ngô, tức năm 251. Tuy nhiên, Lục độ tập kinh do ai soạn tập và có phải ngài Khương Tăng Hội dịch bộ kinh này trực tiếp từ bản tiếng Phạn hay không vẫn còn là một sự tồn nghi. Học giả Lê Mạnh Thát, sau khi nghiên cứu Lục độ tập kinh từ nhiều góc độ, đã đi đến kết luận rằng, Khương Tăng Hội đã sử dụng một bản đáy tiếng Việt với một hệ thống văn từ Phật giáo đã được Việt hóa mang sắc thái văn hóa Viễn Đông, để dịch bản Lục độ tập kinh sang tiếng Trung Quốc. Lục độ tập kinh (còn gọi là Lục độ vô cực kinh, Lục độ vô cực tập, Lục độ tập, Tập vô cực kinh), như tên gọi của nó, đã sử dụng những câu chuyện tiền thân của Phật khi Ngài còn tu hạnh Bồ tát để minh họa cho Sáu pháp Ba la mật (Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ). Tập kinh, vì thế, mang đậm màu sắc văn học dân gian và có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Cho dù bản kinh này đã được định thành văn bản tiếng Việt trước khi dịch ra tiếng Hán hay không thì nó cũng đã chiếm một vị trí quan trọng trong nền văn hóa, văn học dân tộc ta ngay từ buổi đầu, góp phần hun đúc nên một dân tộc Việt nhân ái, hiếu đạo, nhẫn nhục, xả thân… Lê Mạnh Thát gọi Lục độ tập kinh “là nơi tập đại thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước v.v… làm chủ nghĩa cho cột sống nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam”. Và dĩ nhiên, trong những chủ đề tư tưởng lớn này, hiếu đạo cũng ít nhiều được đề cập đến. IX. QUÁ TRÌNH BIÊN SOẠN NỘI DUNG CHÍNH : Lục Ðộ Tập Kinh là một tác phẩm rất đặc biệt. Xét văn thể và nội dung, ta biết chắc chắn đây không phải là một tác phẩm dịch thuật từ Phạn ngữ mà là một tác phẩm sưu khảo biên tập trong đó có nhiều đoạn lược dịch từ nhiều kinh điển và có những đoạn hoàn toàn do Tăng Hội viết, ví như đoạn nói về thiền. Có cả thảy tám quyền, nói về sáu độ (độ tức là sự vượt qua bờ, chữ paramia): bố thí độ, giới độ, nhẫn nhục độ, thiền độ và Minh độ. Minh ở đây là trí tuệ. Ba quyển đầu nói về bố thí độ, còn các quyển sau, mỗi quyển nói về một độ trong các độ còn lại. Những tác phẩm mà ta biết được có dính líu đến Tăng Hội được kê ra như sau: 1) An Ban Thủ Ý, An Thế Cao dịch, Tăng Hội và Trần Huệ chú sớ, Tăng Hội đề tựa. 2) Pháp Cảnh Kinh, An Huyền dịch, Tăng Hội chú sớ và đề tựa. 3) Ðạo Thọ Kinh, Chi Khiêm dịch, Tăng Hội chú sớ và đề tựa. 4) Lục Ðộ Yếu Mục, Tăng Hội biên tập (không còn). 5) Nê Hoàn Phạm Bối Tăng Hội biên tập (không còn). 6) Ngô Phẩm (Ðạo Hành Bồ Tát), Tăng Hội dịch (không còn). 7) Lục Ðộ Tập Kinh, Tăng Hội biên tập. X. NỘI DUNG : 1. TƯ TƯỞNG LỤC ĐỘ TẬP KINH : Lục độ tập kinh như nhan đề chỉ ra, là một tập kinh trình bày sáu hạnh vượt bờ của Bồ tát, tức bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Lý tưởng Bồ tát trong thời kỳ đầu của Phật giáo ở nước ta, do thế, đã được xiển dương mạnh mẽ, đề cao những con người có lòng thương rộng lớn đối với tất cả người vật (bố thí), tự mình kiểm soát lấy mình (trì giới), kiên trì chịu đựng gian khổ khó khăn (nhẫn nhục), năng động phấn đấu hoàn thành mục tiêu đã định (tinh tấn), bình tĩnh (thiền định) và sáng suốt (trí tuệ). Mẫu người lý tưởng của Phật giáo, mẫu người có lòng thương, có kỷ luật, kiên trì, năng động, bình tĩnh và sáng suốt, được định hình, và kế hoạch thể hiện mẫu người này trong cuộc sống được vạch ra thông qua khuôn khổ các câu chuyện tiền thân của đức Phật, cho các Phật tử Việt Nam thời Khương Tăng Hội và trước đó. Trong sáu phẩm chất của mẫu người lý tưởng vừa nêu, thì hai phẩm chất được đề cao nổi bật lên thành những nhân tố chủ đạo, đó là lòng thương và trí sáng suốt. Truyện 17 xác định lòng thương quan trọng hơn cả trì giới, còn truyện 89 nói thẳng ra "chỉ giữ giới thì chưa phải là trí tuệ". Con người lý tưởng, như thế, luôn luôn và trước hết phải là những con người có tình và có lý. Có tình, để có thể sống nhân đạo hòa bình với đồng loại của mình, với cả động vật và cỏ cây, trời đất quanh mình. Có lý để hướng dẫn, nhận định và hiểu biết cuộc sống của mình cũng như của những gì giúp tạo cho cuộc sống ấy ổn định và hạnh phúc. Châm ngôn "bi trí song tu" đã trở thành khẩu hiệu hiện thực của con tàu Phật giáo thời Lục độ tập kinh, là tín niệm thoạt đầu của giới Phật tử thời bấy giờ, trong đó bi hay tình thương là nền tảng, như truyện 31 xác định: “chư Phật cho lòng nhân là món quí nhất của ba cõi, ta thà bỏ thân này, chứ không bỏ đạo nhân”. 2. TÓM TẮC NHỮNG CÂU TRUYỆN TRONG LỤC DỘ TẬP KINH : Xác định này thể hiện ngay trong tổ chức của bản kinh. Với 8 quyển 91 truyện, Lục độ tập kinh dành hẳn 3 quyển và 26 truyện đầu, nghĩa là chiếm 1/3 số quyển và truyện của nó, để trình bày những biểu hiện cụ thể của lòng nhân, của tình thương, đó là bố thí. Lục độ tập kinh cũng không quên qui định rõ ràng nội dung bố thí gồm những gì. Nó viết: “Bố thí vượt bờ là gì? là yêu nuôi người vật, thương xót lũ tà, vui kẻ hiền lành, giúp người độ lượng, (...) đói cho ăn, khát cho uống, lạnh cho mặc, nóng cho mát, bệnh cho thuốc, xe ngựa thuyền bè, các thứ trân báu, vợ con đất nước, ai xin liền cho, như thái tử Tu Đại Noa cho người nghèo thiếu, giống cha mẹ nuôi con...”. Lục độ tập kinh hiện được ghi có 91 truyện, nhưng kiểm tra lại thì chỉ có 85 truyện mà thôi, như đã nói. Trong số 85 truyện này, thì có 16 truyện được cải biên lại nhiều ít để thành 7 truyện mới, đó là truyện 9 với truyện 33 và 39, truyện 12 với truyện 31, truyện 25 với truyện 49, truyện 28 với truyện 58, truyện 29 với truyện 63, và truyện 37 với truyện 59. Như thế thực số chỉ có 78 truyện mà thôi. Trong 78 truyện này, nếu lấy truyện của các dòng văn học bản duyên lưu hành đồng thời với niên đại của Khương Tăng Hội hay trước nữa, để so sánh. Chủ trương xây dựng một nhà nước dựa trên lòng thương về năm giới mười lành, được lặp đi lặp lại liên tục trong Lục độ tập kinh, từ truyện 3, 8, 9, 11, 12, 15, 23, 30, 31, 38, 40, 43, 53, 57, 67, 70, 81, 84, 87, cho đến truyện 91. Sự lặp đi lặp lại liên tục này phải nói là khá bất bình thường đối với một bản kinh tôn giáo. Tự bản thân nó thể hiện một mối quan tâm đặc biệt không chỉ của tác giả Lục độ tập kinh, mà còn của cả một thế hệ người Việt Nam thời Lục độ tập kinh ra đời, đối với vấn đề xây dựng một nhà nước bền vững có khả năng giữ nước, không còn để cho mất nước nữa. 3. SỰ TÍCH HỢP CÁC YẾU TỐ DÂN GIAN : Lục độ tập kinh bản dịch Soạn tập bách duyên kinh của người đồng thời với Khương Tăng Hội là Chi Khiêm, thì dĩ nhiên sự xuất hiện của tình tiết trăm trứng trong Lục độ tập kinh biểu thị một nỗ lực địa phương hóa và bản địa hóa truyền thống Phật giáo Ấn Độ, tạo cho truyền thống này một diện mạo Việt Nam, để trở thành Phật giáo Việt Nam, đồng thời để hòa nhập Phật giáo vào truyền thống văn hóa và tư tưởng Việt Nam, biến nó thành một bộ phận không thể phân ly của truyền thống đó. Chính quá trình bản địa hóa và hòa nhập này đã làm cho hai truyền thống quyện chặt vào nhau, đến nỗi trở nên một thể thống nhất làm nền tảng cho một thời kỳ văn hóa mới của dân tộc Việt Nam tồn tại cho đến bây giờ. Việc Phật giáo tiếp thu và nhào nặn một cách thân thiện, trân trọng truyền thống văn hóa tư tưởng và lịch sử dân tộc trong những giờ phút đọ sức đầu tiên đầy gay go khốc liệt và không tương xứng, tương phản thật rõ rệt với thái độ đầy hận thù dân tộc, xấc xược, hằn học và phản bội của đám Nho giáo tại Việt Nam thời Khương Tăng Hội, mà cụ thể là Lưu Hy. Trong Thích danh khi giải thích chữ "Việt" của nhóm người Việt, Hy đã viết "Việt là vượt quá lễ nghĩa". Viết như thế Hy đã bộc lộ não trạng của một tên xâm lược, nhục mạ một dân tộc khác để tiến tới nô dịch vĩnh viễn dân tộc ấy, đồng thời tỏ rõ tính cách kỳ thị dân tộc của Hy. Thái độ kỳ thị dân tộc này, truyện 86 Nho đồng thọ quyết kinh của Lục độ tập kinh phản ảnh khá đầy đủ. Khi Nho Đồng đã thắng trong cuộc tranh biện với 500 "chúng Nho", thì trên nguyên tắc Nho Đồng phải hưởng được giải thưởng 500 quan tiền và cô gái đẹp. "Nhưng các Nho đều nói: Ông ấy tuy là kẻ sỹ cao tài, song là người nước khác, nên không thể lấy con gái nước ta làm vợ". Đầu óc hẹp hòi nhỏ nhen không quân tử chút nào của "chúng Nho" này quả thật là một vết nhơ không thể nào gột sạch của Nho giáo tại Việt Nam. Nó mãi mãi tồn tại để làm chứng cho lịch sử manh động của thứ tư tưởng này đối với dân tộc ta, giải thích cho ta thấy tại sao trong khi xây dựng một nhà nước Việt Nam độc lập. Tóm lại, qua phân tích các tương đương trên, ý đồ và mục đích cũng như đối tượng thuyết giảng giáo lý của Lục độ tập kinh xuất hiện một cách khá hiển nhiên và dễ nhận thấy. Ý đồ và mục đích thuyết giảng giáo lý tất nhiên là nhằm trình bày giáo lý và thuyết phục người nghe thực hiện giáo lý đó trong cuộc sống. Còn người nghe ở đây phải nói chủ yếu là người Việt, bởi vì những cải biên đã được tiến hành trong khuôn khổ của truyền thống văn hóa học thuật và tư tưởng người Việt, cụ thể là tình tiết 100 trứng nói trên. Tuy nhiên, đôi khi do quá nhiệt tình trong công tác thuyết giảng và do yêu cầu của đối tượng người nghe địa phương, tác giả Lục độ tập kinh đã đi đến chỗ hư cấu nên những truyện mới, sử dụng các chất liệu văn hóa, tập tục địa phương, mà truyện 68 là một thí dụ điển hình. 3. TÍCH HỢP VĂN HÓA DÂN GIAN : Tìm hiểu về thần thoại Ấn Độ, với truyện Trăng và thỏ, Cao Huy Đỉnh nhận thấy: “Đạo Phật dùng thần thoại này làm phật thoại và cho rằng con thỏ hy sinh kia chính là hiện thân của đức Phật. Mục đích của nhà Phật là cốt để minh họa quan niệm hy sinh xả thân và lòng từ bi bác ái quên mình vì đạo. Truyện Trăng và thỏ này theo Phật giáo sang Trung Quốc, dân tộc hóa bằng cách hỗn hợp với truyện Hậu Nghệ. Vì vậy mà hình tượng vợ Hậu Nghệ là chị với con thỏ, hằng ngày cùng con thỏ xát thuốc trường sinh cho Ngọc Hoàng” Cũng theo con đường truyền giáo đó mà: “Nhiều truyện ngụ ngôn nước ngoài đã vào ta từ đầu công nguyên với đạo Phật và phát triển ở thời Lý, Trần. Đó là những truyện Ấn Độ đã được Việt hóa thông qua việc giảng kinh của các nhà thiền học. Kinh Avadana, kinh Jataka gồm nhiều truyện dân gian, phần lớn là ngụ ngôn, phê phán khá mạnh chế độ đẳng cấp của tôn giáo Bà la môn. Đạo Phật sử dụng loại truyện này của nhân dân Ấn Độ để minh họa giáo lý”. Có thể nhận thấy Phật giáo đã góp phần không nhỏ vào việc giúp cho các truyện dân gian “di chuyển” đến các vùng đất lạ theo con đường truyền giáo của mình. Benphây nhận thấy rằng: “Cùng với Phật giáo, từ thế kỷ I đầu Công nguyên, nó (truyện cổ tích - Đ.V.Đ) liên tục thâm nhập vào Trung Quốc, Tây Tạng. Vượt biên giới Tây Tạng, truyện cổ Ấn Độ lan sang Mông Cổ, từ đó truyền sang Nga; rồi qua Nga truyền sang Litva, Xécbi, Tiệp Khắc…”. Những câu chuyện cổ của Ấn Độ và của riêng Phật giáo cũng truyền vào Việt Nam từ hai con đường: đường bộ đi qua miền Trung Á (Mông Cổ, Tây Tạng, Trung Hoa) rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly và Nhật Bản; đường thủy qua ngả Sri-lanka, Java thuộc Indonésia và Trung Hoa. Phật giáo đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống của người dân Việt và một mặt tiếp thu nguồn văn hóa bản địa, một mặt truyền bá giáo lý của mình bằng những con đường giản dị nhất: thông qua những câu chuyện kể… Vì vậy, trong kho tàng truyện kể dân gian Việt Nam cho đến nay vẫn có không ít những cốt truyện hay những môtip truyện cùng lúc có mặt trong kinh điển, điển tích Phật giáo và trong những truyện kể dân gian. Ở đây tạm gọi sự “cùng có mặt” này là mối giao thoa giữa Phật giáo và văn học dân gian Việt Nam. Chúng tôi không có ý đi sâu phân tích - và cũng rất khó có thể phân tích một cách tường tận, thuyết phục - nhằm chỉ ra đâu là mẫu đề gốc và bên nào tiếp thu những mẫu đề gốc ấy. Mục đích của những phân tích, dẫn giải là nhằm nêu ra và minh chứng cho mối giao thoa văn hóa dân gian một cách cụ thể giữa Phật giáo và dân tộc. 4. VỀ TRUYỀN “TRĂM TRỨNG” TRUYỀN THUYẾT KHỞI NGUYÊN CỦA DÂN TỘC : Trong Lục độ tập kinh quyển 3 truyện thứ 23 có một đoạn như sau: “Mang thai đủ ngày, sinh ra một trăm cái trứng, hoàng hậu cung phi cho đến tì thiếp không ai là không ghét. Bèn chặt cây chuối khắc hình tượng quỉ, đợi khi sinh, lấy tóc phủ lên mặt, bôi nước bùn dơ lên cây chuối rồi đem trình vua. Bọn yêu che sáng, vua lầm tin theo. Lũ tà lấy hũ đựng trứng, bịt kín miệng lại, quăng xuống giòng sông. Trời Đế Thích xuống lấy ấn đóng miệng lại, chư thiên theo giữ, xuôi dòng dừng lại như trụ cắm đất. Vua nước hạ lưu đang ở trên đài, xa thấy giữa dòng có hũ trôi xuống, ánh sáng rực rỡ, như có oai trời. Bèn vớt lên xem, thấy dấu ấn Đế Thích, mở có trăm trứng, ra lệnh trăm người đàn bà ấp nuôi ấm nóng. Đủ ngày thành hình, nở ra trăm người con trai, sinh ra đã có trí thượng thánh, không dạy mà vẫn tự biết, nhan sắc hơn đời, tướng tốt hiếm có, tài cán thế lực hơn người trăm lần, tiếng nói vang như sư tử rống.” 1. Thứ nhất, truyền thuyết “trăm trứng” rõ ràng là một truyền thuyết có lịch sử và con đường phát triển riêng, không có điểm chung với truyền thuyết “bọc thịt”. Thực ra truyền thuyết về việc sự sống sinh ra từ quả trứng không phải là một truyền thuyết chỉ có ở riêng Việt Nam. Đây là một truyền thuyết có cả ở người Celts, người Hy Lạp, người Ai Cập, người Tây Tạng, người Ấn Độ, người Việt Nam, người Trung Quốc, người Nhật Bản, rất nhiều dân tộc khác nữa….(Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới)… Trong truyền thuyết trăm trứng của người Việt, chúng ta không thể không xét đến sự kết hợp giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ, một sự kết hợp được xem như là một “cuộc hôn nhân thần thánh”, là sự kết hợp giữa rồng (rắn) và chim… thường thì sự kết hợp này phản ánh một tập tục có thật là sự hiến tế trinh nữ cho các thủy thần (thường xuyên được nhận biết dưới hình hài những con rắn lớn hoặc những con rồng) ở các cư dân ven biển… Truyền thuyết “trăm trứng” rõ ràng mang tính bản địa rất cao. Chúng ta có thể tìm thấy dấu tích của nó trong truyện cổ của người Mường về việc con người sinh ra từ trứng Diếng hay con người sinh ra từ trứng trong Đẻ đất đẻ nước. Người Mường không tiếp xúc với hệ thống kinh Phật, như thế không thể nói truyền thuyết của họ về con người sinh ra từ trứng có nguồn gốc từ trong kinh Phật. Truyền thuyết “trăm trứng” theo chúng tôi là một truyền thuyết có sự phát triển nội tại mang đậm bản sắc văn hóa bản địa của cư dân vùng Đông Nam Á…. 2. Thứ hai, theo sự phân loại “mô típ sinh đẻ thần kỳ”, thì câu chuyện sinh một trăm người con trong dân gian dân tộc việt nam và trong Lục độ tập kinh, thuộc về môtíp “sinh đẻ do cầu nguyện”. Trong Đại Bharata thì nàng Gan dha ri ước nguyện nàng sẽ có từ nàng một trăm người con giống chồng nàng. Trong Lục độ tập kinh là do ước nguyện của một người đàn bà góa. Cũng theo dân gian thì “trong trường hợp này thần linh đã tác động lên người phụ nữ trần tục”. … 3. Xét về lớp nghĩa của truyện chúng ta thấy rằng: trong Đại Bharata và Lục độ tập kinh, “bọc thịt” hay “trăm trứng” chỉ là biểu tượng phản ánh sự tái sinh, sự “thoát khỏi chu trình hóa kiếp bất tận”, một giai đoạn chuyển giao từ kiếp này sang kiếp khác. Trong khi đó “truyền thuyết trăm trứng” ở Việt Nam là một truyền thuyết phức tạp với nhiều tầng lớp nghĩa trong đó phải tính đến “sự phân tách 50/50”, biểu hiện nguyên thủy của nó chính là sự phân tách của trời và đất, của âm và dương, là sự phân tách giữa Núi Non và Biển Cả trong tâm thức người Việt…vân vân…. Như vậy rõ ràng việc đồng nhất truyền thuyết trăm trứng của dân tộc Việt với lại chi tiết sinh 100 người con từ “bọc thịt” trong Đại Bharata là khiên cưỡng và khó có thể chấp nhận. 5. QUAN NIỆM VỀ CHỮ HIẾU THEO LỤC ĐỘ TẬP KINH VÀ DÂN GIAN : Đối với Việt Nam, hiếu đạo chính là truyền thống và nền tảng đạo lý của dân tộc. Đạo lý này tuy xuất phát từ tâm tính dân tộc, tâm thức con người nói chung, song không thể không xét đến những yếu tố tiếp thu từ văn hóa ngoại lai, mà trong đó phải kể đến Phật giáo và Nho giáo. Lục độ tập kinh tuy không nhấn mạnh đến chữ hiếu, song bàng bạc trong những câu chuyện xả thân của Bồ tát khi thực hiện những hạnh thương vô bờ, đã thể hiện những quan niệm rất rõ về hiếu đạo, và quan niệm này hẳn nhiên phù hợp với đạo lý Việt, nếu không muốn nói là góp phần tạo nên nền tảng đạo lý của dân tộc. Lục độ tập kinh cũng đề cao việc vâng lời dạy phải của song thân, giữ gìn và phát huy gia hạnh. Tuy nhiên, khái niệm “nếp hạnh gia đình” trong kinh này mang đậm tư tưởng Phật giáo. Theo đó, người con không đơn thuần phát huy và làm rạng rỡ tông môn trên con đường thành đạt công danh, sự nghiệp, mà chính là ở việc giữ gìn “nếp đạo”, từ bỏ oán thù, giữ lòng bi mẫn, sống theo lời Phật. Lục độ tập kinh không dạy người vì nỗi “nhục” của cha mẹ hay bản thân mà tìm mọi cách để báo thù. Câu chuyện số 10 trong Lục độ tập kinh kể về nhà vua nhân từ Trường Thọ (tiền thân Phật) và thái tử Trường Sinh (tiền thân A Nan); khi vua tham nước láng giềng muốn khởi quân xâm chiếm, vị vua hiền đức đã quyết định hy sinh thân mình cho người dân vô tội khỏi phải chịu cảnh đầu rơi máu chảy - “để toàn thân mình mà hại dân chúng thì bậc hiền không làm”. Vua cùng thái tử từ bỏ ngai cao, vượt thành vào chỗ núi đồng tìm nơi thiền định. Rồi vì muốn giúp cho vị Phạm chí nọ có được một khoản tiền thưởng, vua đã khuyến khích vị ấy trói ngài đem nộp cho vua tham. Trước lúc bị thiêu sống ở ngã tư đường, vua còn căn dặn thái tử: "Nếu trái lời trăng trối của cha, ngậm hung ôm dữ, chất chứa oán giận chập chồng, để tai vạ đến muôn đời. Đấy không phải là người con hiếu. Chư Phật lòng từ bốn bậc rộng thấm, đức trùm trời đất, ta theo đạo ấy, giết mình để cứu chúng, còn sợ không một chút của hạnh hiếu đạo, huống làm chuyện ngỗ ngược báo thù sao? Nếu không trái bỏ lời ta mới có thể gọi là hiếu". Tóm lại, mặc dù không phải là bộ kinh nói về hiếu đạo, song Lục độ tập kinh vẫn thể hiện một quan điểm rất rõ và xuyên suốt về đạo lý này. Bản kinh đã được cải biên ít nhiều so với nguyên bản nhưng vẫn giữ được cốt ý pháp tu của đạo Phật. Lối cải biên cùng với một số tình tiết, nhân vật được thêm vào hay thay đổi ấy hẳn nhằm mục đích muốn đem đến cho người Việt một nền tảng đạo lý gần gũi, không xa rời với tâm tính của dân tộc. Những đạo lý, nhất là hiếu đạo, trong bản kinh cổ xưa này phần nhiều vẫn được dân ta tôn trọng và gìn giữ, thể hiện sức sống của Phật giáo trong lòng dân tộc Việt Nam. 6. LÝ GIẢI THẾ NÀO LÀ YẾU TỐ DÂN GIAN : Đặc biệt hơn nữa là nội dung giáo lý do truyện này thuyết giảng. Tuy cũng nói đến quan điểm giáo lý tiêu chuẩn kiểu "Làm lành phước theo, làm ác họa tới", nhưng mục tiêu nó nhắm tới là kêu gọi mọi người xông vào nơi "lệ chính", để cứu dân mắc nạn chốn lầm than. Lệ chính là nền chính trị hà khắc độc ác, bạo ngược. Lời kêu gọi này phát ra cách nay gần 2000 năm, khi dân tộc ta đang đối đầu với một kẻ thù hết sức hung hãn và quỉ quyệt là bọn xâm lược Trung Quốc, thì phải nói là đầy can trường và hết sức táo bạo, mang tính chiến đấu cao. Nó thể hiện sự gắn bó máu xương giữa giáo lý Phật giáo và đời sống thực tế của dân tộc cho đến khi đơm hoa trong nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế và kết trái trong nhà nước hùng cứ đế vương của kỷ nguyên Đại Việt. Nội dung thuyết giảng giáo lý của Lục độ tập kinh do thế không chỉ đơn giản giới hạn trong giáo lý thuần túy Phật giáo mà còn mở rộng ra để cho giáo lý đó phản ánh ít nhiều đời sống thực tế của dân tộc và đề ra những phương cách nhằm giúp giải quyết những yêu cầu của đời sống thực tế đó. Một phân tích nội dung tư tưởng của Lục độ tập kinh sẽ làm rõ hơn nữa kết luận vừa nêu. Vậy thì, qua phân tích xuất xứ 91 truyện của Lục độ tập kinh, tức chiếm gần một nửa tổng số truyện, ta thấy có bốn nguồn cung cấp chất liệu cốt truyện cho tác giả Lục độ tập kinh, đó là truyền thống văn học bản duyên Pali, truyền thống văn học Phật giáo Phạn văn, truyền thống văn học Phạn văn và truyền thống văn hóa địa phương Việt Nam. Tất cả chất liệu do bốn nguồn này cung cấp đã được nhào nặn lại theo ý đồ và mục đích thuyết giảng giáo lý của tác giả và theo yêu cầu thưởng ngoạn và học tập của người địa phương, từ đó tạo nên những truyện mang tính nghệ thuật cao, vừa có tính nhân loại vừa có tính dân tộc. Vì thế, ta có thể kết luận mà không khiên cưỡng và cường điệu rằng Lục độ tập kinh là một trong những thành tựu văn học đầu tiên hiện còn của lịch sử văn học và Phật giáo Việt Nam. Nghiên cứu lịch sử văn học cổ Việt Nam không thể không nghiên cứu Lục độ tập kinh. Nhưng Lục độ tập kinh không chỉ là một tác phẩm văn học, mà còn là một tập kinh có chức năng thuyết giảng giáo lý, tức chức năng trình bày tư tưởng Phật giáo cho dân tộc ta. Thế thì, nội dung tư tưởng của Lục độ tập kinh là gì? 7. SỰ TÍCH HỢP VĂN HỌC ĐẠO VÀ ĐỜI : Đến đây, ta thấy tại sao trong khi trình bày những giáo lý cơ bản của Phật giáo, mà chủ yếu là vô thường, khổ, không và vô ngã, Lục độ tập kinh đã kết liên với ý niệm “nước” và “đất nước”, tại sao con người lý tưởng của Lục độ tập kinh (Bồ tát) “thấy dân kêu gào, gạt nước mắt, xông mình vào lệ chính, cứu dân mắc nạn chốn lầm than”. Phật giáo truyền vào nước ta, như thế, đã tự đặt cho mình nhiệm vụ phải hội nhập vào đời sống dân tộc ta, nâng nó lên và đáp ứng những yêu cầu do đời sống đó đặt ra. Mà đời sống dân tộc ta vào thời Lục độ tập kinh có những vấn đề bức thiết nổi bật, đó là vấn đề mất nước và những nguyên do, vấn đề xây dựng một nhà nước mới, những con người mới, vấn đề bảo vệ văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa khoa học thế giới, vấn đề sống đạo và liên hệ với đời. Lục độ tập kinh đã có những lý giải và đáp án cho các vấn đề ấy một cách sáng tạo và khởi sắc. Thông điệp nó gởi tới cho các thế hệ sau thật hàm súc và nhiều ý nghĩa. Dĩ nhiên, mọi vật đều vô thường, chúng vận động một cách không ngừng nghỉ. Cho nên, những lý giải và đáp án của Lục độ tập kinh cũng chịu qui luật đó. Chúng phải vận động trong dòng chảy của lịch sử dân tộc và chịu sức ma sát của dòng chảy lịch sử ấy. Hai trăm năm sau, Lý Miễu đã đặt lại vấn đề thấy Phật, nghi ngờ những lý giải cùng hứa hẹn do Lục độ tập kinh đưa ra, và đặt nền móng cho việc mở đầu một giai đoạn Phật giáo mới trong một đất nước độc lập của nhà nước hùng cứ đế vương đầu tiên sau kỷ nguyên Hùng Vương, đó là nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế với dòng thiền Pháp Vân lịch sử của Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Pháp Hiền. Dẫu thế, không phải tất cả lý giải và đáp án của Lục độ tập kinh đều bị dòng chảy lịch sử ma sát đến độ tiêu vong. 8. TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO VÀ SỰ CHUYỂN HÓA DÂN GIAN : Hiện tượng một cốt truyện hay một môtip cùng có mặt trong nhiều truyện kể dân gian các nước không phải là một hiện tượng lạ. Điều này được cắt nghĩa bằng sự vay mượn, sự di chuyển cốt truyện… và đặc biệt là sự tương đồng trong tư duy của các dân tộc. Trong khi đó, Ấn Độ được xem là một trong những “cái nôi” của truyện cổ, và đạo Phật nảy sinh từ trong “cái nôi” ấy nên trong kinh điển Phật giáo có nhiều yếu tố truyện kể dân gian là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, trong một bộ sách Phật được xem là ra đời tại Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ II, lại có mặt một môtip quen thuộc trong huyền thoại lập quốc của dân tộc ta là một điều thú vị và rất đáng chú ý, đó là bộ Lục độ tập kinh. Theo nhà nghiên cứu Lê Mạnh Thát, “Lục độ tập kinh là văn bản đầu tiên và xưa nhất, ngoài bài Việt ca, tập thành những chủ đề tư tưởng lớn của dân tộc như nhân nghĩa, trung hiếu, đất nước, mất nước v.v… làm cột sống cho chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam và truyền thống văn hóa Việt Nam. Lục độ tập kinh được Khương Tăng Hội dịch vào thời Tam Quốc, từ một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt, gồm có cả thảy 91 truyện”. Lê Mạnh Thát cho rằng: “khi nghiên cứu về truyền thuyết Trăm trứng trong truyện họ Hồng Bàng, ta thấy truyền thuyết này đã xuất hiện trong Lục độ tập kinh 3 ,truyện 23”. Truyện thứ 23 trong Lục độ tập kinh, có đoạn: “… Mang thai đủ ngày, sinh ra một trăm cái trứng, (…). Lũ tà lấy hũ đựng trứng, bịt kín miệng lại, đem quăng xuống dòng sông. Trời Đế Thích xuống lấy ấn đóng miệng lại, chư thiên theo giữ, xuôi dòng dừng lại như trụ cắm đất. Vua nước hạ lưu đang ở trên đài, xa thấy giữa dòng có hũ trôi xuống, ánh sáng rực rỡ, như có oai trời. Bèn vớt lên xem, thấy dấu ấn Đế Thích, mở có trăm trứng, ra lệnh trăm người đàn bà ấp nuôi ấm nóng. Đủ ngày thành hình, nở ra trăm người con trai, sinh ra đã có trí thượng thánh, không dạy mà vẫn tự biết, nhan sắc hơn đời, tướng tốt hiếm có, tài cán thế lực hơn người trăm lần, tiếng nói vang như sư tử rống”. Truyện Họ Hồng Bàng của ta kể rằng: Âu Cơ vốn người Phương Bắc, một hôm theo cha là Đế Lai đi tuần xuống phía Nam. Nhân đây Âu Cơ gặp Lạc Long Quân, hai người lấy nhau. “Long Quân lấy Âu Cơ rồi đẻ ra một bọc, cho là điềm bất tường, vứt ra cánh đồng; qua sáu bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi. Không phải bú mớm, các con tự lớn lên, trông đẹp đẽ kỳ dị, người nào cũng trí dũng song toàn, người người đều kính trọng cho là triệu phi thường”. Trăm người con trai ấy chính là tổ tiên của người Bách Việt. Những môtip trứng nở ra người (hay quả trứng thần kỳ); người đẻ ra bọc, từ bọc sinh ra con; người mẹ sinh một lúc nhiều con trai… không phải là môtip xa lạ trong kho tàng truyện kể dân gian của các dân tộc. Môtip người sinh ra một bọc trứng, bọc trứng nở ra nhiều con trai cũng được chúng tôi tìm thấy trong một phật thoại Ấn Độ. Bối cảnh câu chuyện diễn ra vào thời kỳ đức Phật còn tại thế, khi ngài an trú tại vườn Cấp Cô Độc và thái tử Kỳ Đà. Bấy giờ có một vị quan đại thần của vua nước Ba Tư Nặc đang tìm một nàng dâu giỏi để làm vợ người con trai út. Nàng dâu tên Tỳ Xá Ly, sau khi lấy người con trai út thì “sanh ra một bọc 32 cái trứng, nở ra 32 người con trai, người nào cũng thông minh anh dũng, văn võ toàn tài, sức một người địch nổi muôn người, cha mẹ rất yêu mến, mọi người đều kính sợ” . Những môtip khảo sát trên cho thấy người sinh ra một bọc trứng, bọc trứng nở ra nhiều con trai là những môtip khá quên thuộc, phản ánh một cách nghĩ rất xưa về nguồn gốc con người của các dân tộc bên cạnh môtip quả bầu mẹ. Tuy thế, giữa Lục độ tập kinh và huyền thoại lập quốc của ta xem ra vẫn có sự gần gũi hơn so với môtip cùng loại của các dân tộc khác và đây cũng là một điểm đặc biệt. Lê Mạnh Thát cho rằng: “Giả như Lục độ tập kinh nói tới chuyện con người sinh ra từ trứng một cách tổng quát, thì việc đó cũng không có gì đặc sắc cho lắm. Điểm đặc sắc của câu chuyện do Lục độ tập kinh ghi lại và vì thế nằm ở chỗ, nó liên kết việc sinh ra một trăm người con từ một trăm cái trứng và việc một trăm cái trứng sinh ra từ cùng một bào thai” . “Nói là đặc biệt nhất, bởi vì nếu tách rời ra, chuyện một trăm người con không phải là không được biết đến trong lịch sử văn học Phật giáo và Ấn Độ, và chuyện con người sinh ra từ trứng không phải là đã không được biết đến trong lịch sử văn hóa Trung Quốc và thế giới”. Việc trăm trứng sinh nên trăm người con trai thể hiện rất rõ mối giao thoa giữa Phật giáo với truyện kể của người Việt. Mối giao thoa đó cũng rất tiêu biểu cho sự giao hòa giữa Phật giáo với dân gian. Mặc dầu Lục độ tập kinh có thể ra đời trễ hơn nhiều so với truyện Họ Hồng Bàng, song chúng ta vẫn chưa có cơ sở xác định truyện 23 trong Lục độ tập kinh ảnh hưởng huyền thoại lập quốc của Việt Nam hay ảnh hưởng trực tiếp từ Ấn Độ. Bởi môtip sinh nhiều người con trai một lúc đã có mặt trong kinh điển Phật giáo, cụ thể là trong tập Bách thoại (Soạn tập bách duyên kinh - Đại tạng kinh , được bảo tồn trong nguyên bản Phạn văn cũng như Hán văn và Tạng ngữ. Bản tiếng Việt được Lê Mạnh Thát dịch, có đoạn: “Phật ở tại nước Ca tỳ la vệ dưới cây ni câu đà. Lúc bấy giờ trong thành ấy có một trưởng giả . Vợ ông có thai, đủ đầy mười tháng, sinh một bọc thịt. Lúc trưởng giả kia, thấy việc như vậy, lòng bèn buồn bã, cho là không lành. Bèn đến chỗ Phật, lạy trước chân Phật, Phật bảo trưởng giả: “Ngươi chẳng ngờ lạ, chỉ khéo nấng nuôi, bảy ngày đủ xong, ngươi sẽ tự thấy”. Khi bảy ngày qua, bọc thịt nở ra, có trăm con trai. Chúng rất đoan chính, đời ít khi có…”. 9. TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG VĂN HÓA, VĂN HỌC CỦA TIẾNG VIỆT : Nhờ tinh thần hòa hợp, tinh thần từ bi quảng đại, và những đặc tính thích ứng mà khi tôn giáo hình thức lễ nghi bị sa sút, triết lý Phật giáo đã bám rễ sâu vào tâm hồn dân Việt, dù người Việt bình dân hay quí phái học thức, không thể bị trốc gốc, mất rễ, dù đất nước, Phật giáo xảy ra những biến cố kinh thiên động địa, tư tưởng Phật giáo vẫn đứng vững như cây Tùng, cây Bách. Xét về yếu tố này, Vũng Hoàng Chương nói: “Trang sứ Việt Cũng là trang sử Phật Trãi bao độ hưng suy Có nguy mà chẳng mất”. “Chuông cảnh tỉnh vang lên lời kể lể Như khuyên lơn an ủi vạn linh hồn Khắp trần gian mà vọng lại cô thôn Cho tất cả một cái gì linh động”. Tiếng chuông như thấu suốt cõi địa ngục, phá tan âm u, mang ánh đạo vàng soi rọi chốn tối tăm. Tiếng chuông Nhất Hạnh tha thiết hơn trong đêm giao thừa: “Boong, boong …Bốn phía thấp thoáng những ngọn đèn của xóm làng trở dậy cúng giao thừa. Có lẽ cửa nhà nào cũng mở rộng. Núi đồi mất hẳn vẻ hoang dại, trở nên hiền lành. Tiếng đại hồng chung oai nghiêm và ấm áp đã xua đuổi những bóng hình sợ hãi và đánh tan u tịch. Đại hồng chung vẫn khoang thai điểm từng tiếng rành rọt. Âm thanh ngân dài, ấm áp và thuần hậu…” Trong khung cảnh tịch mịch, tiếng chuông chùa ngân nga không làm tan mất không khí đạo vị thiền môn mà càng làm tăng thêm sự thanh thoát trong tâm hồn mọi người. 10. TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG VĂN HỌC DÂN TỘC : Trước hết, người viết đề cập đến hình ảnh và vai trò của Đức Phật trong văn chương bình dân. Trong lục độ tập kinh văn chương bình dân, Đức Phật thường được mệnh danh là Bụt. Hình ảnh Bụt ở người bình dân là một hình ảnh đàng hoàng, chững chạc nên người đời thường nói: “No nên Bụt, đói nên ma” Không chỉ có vỏ bề ngoài, Bụt còn hiện thân tư cách đạo đức bên trong : “Đi với Bụt mặc áo Cà sa, đi với ma phải mặc áo giấy”. Rõ ràng, Bụt tượng trưng cái thiện, cái đẹp, còn ngược lại ma quỉ tượng trưng cho cái xấu, cái ác (xấu như ma, dữ như quỉ). Tấm lòng Bồ Tát hay Bụt rất quảng đại vị tha mà người đời phải cố gắng noi theo, dù biết là khó khăn vì bản tính con người là tham lam ích kỷ: “Của người Bồ Tát, của mình lạt buộc”. Vì thế, địa vị của Bụt ở trên cao, được mọi người tôn sùng: “Bụt ngồi trên tòa, không gà nào dám mổ mắt” Trong truyện cổ, vai trò của Bụt hiện ra rõ ràng hơn. Ở đây, đối với người dân Bụt là một đấng quyền năng siêu phàm nhưng bình dị, quảng đại quần chúng và “hiền như bụt”! Ngài lại luôn luôn nâng đỡ người cô thế. Trong truyện “Tấm Cám” cứ mỗi lần cô con gái hiền lành tên Tấm bị người mẹ ghẻ và đứa em gái khác mẹ cay độc hành hạ và nàng chỉ biết ngồi khóc thì Bụt hiện ra giúp đỡ. Truyện “Cây tre trăm đốt” tả Đức Phật xuất hiện cứu giúp, làm trợ duyên cho thiện nghiệp của chính những người hiền lành, tốt bụng thành tựu viên mãn trên đường đời như bà mụ giúp sản phụ được mẹ tròn con vuông chứ không thể tạo ra được bào thai. Người bình dân hay gặp những bất công trong đời sống. Bởi vậy, họ khao khát sự công bằng, và nhiều khi họ cũng muốn Bụt đóng vai trò cầm cân nẩy mực, như trong truyện cổ tích “Con Rắn Và Người Nuôi Rắn”. Người nuôi rắn bị rắn dọa mổ chết, xin cùng rắn đi hỏi Hạc thì Hạc bảo rằng là đồ vô ơn bạc nghĩa, hỏi rùa thì rùa bảo rắn cắn chết người là đúng, hỏi quạ thì quạ mổ chết rắn ngay. Hồn rắn kiện Bụt; Bụt xử cho Hạc được đứng trên cao, vì Hạc nói câu có nghĩa. Rùa nói câu bất nghĩa nên phải ép mình đội bia ở dưới thấp; còn rắn đáng chết và quạ được tha xác rắn lên ngọn tre để nêu gương cho đời (nên đầu cây phướn có con quạ đậu, dưới buông tấm vải tượng trưng hình con rắn). Dù giữ việc phán xét hành vi Thiện - Ác, Bụt vẫn có vẻ hiền từ thực thà. Ngài không nghiêm khắc như Diêm Vương thi hành những hình phạt nặng nề ghê rợn, dù nhiều khi Ngài cũng hay biến hình đổi dạng để thử lòng người. Giận dữ là một điều tai hại. Nó được liệt vào ba tội căn bản Tham - Sân - Si. Nếu nguồn gốc của khổ đau là chấp ngã, nó khiến ta làm khổ mình và khổ người, biến thế gian này thành địa ngục thì sân hận là một phản ứng, một biểu thị mãnh liệt của “ngã”, thấy mình bị xúc phạm hay không đạt điều mình muốn. Nó phải đốt phá, tiêu diệt đối lập. Truyện “Hai vợ chồng con Chiền Chiện và Ông Sư” ghi lại những hậu quả thảm khốc của giận dữ. Chúng ta tham lam, giận dữ, tạo ác, báo oán vì nghĩ có mình và có cái của mình. Nhưng, sự thật vô ngã, bởi mọi ngã đều do tứ đại giả hợp mà tuân theo luật vô thường, chẳng có gì tồn tại, tất cả đều sinh diệt. Tấm bi hài kịch của hai con chim trong truyện “Chẽo Cờ và Vẹt” cũng là hình cảnh của con người chúng ta. Trong truyện này, ta lại thấy một điều văn chương truyền khẩu, bình dân phục vụ cho mọi tầng lớp mà bình dân là đa số, nên ở căn bản thiết lý sâu xa mà chi tiết có những điểm hay những lời khi tầm thường thực tế, khi ngộ nghĩnh cợt đùa như câu kết: “Còn cây thị vẫn là của nhà chùa, Ông sư bà vải được hưởng với nhau”. Ta khôn nên lấy lời hại ý mà hiểu chủ đích của tác giả. Nhà chùa tượng trưng cho sự vô ngã, vậy của nhà chùa là không của ai. Người bình dân có hiểu hay không hiểu hết thì tác dụng vẫn sâu xa chân chính, vẫn làm họ cảm thấy rằng, tham lam vơ vét thực ra không có lợi, chỉ chuốc lắm khổ đau. Những điều mà trí người ta không hiểu hoàn toàn nhưng lòng rung cảm sẽ lắng xuống tiềm thứa, nói theo danh từ Duy thức học thì thành những chủng tử dưới A lại gia thức để nẩy nở dần cho đến ngày hiện hành, nổi lên ý thức và biến thành hành động. Vậy căn bản vô minh là không nhận ra lẽ vô thường để chấp chặt, chấp ngã đến nổi tranh giành nhau, nổi sân đối với nhau, báo oán và chết ví báo oán. Hoặc câu truyện “Phù Du và Đom Đóm” với những lời cổ lổ nhưng đượm vẽ thiêng liêng, huyền diệu, phảng phất ý vị đạo đức, giáo lý Phật giáo với câu kết của Đom Đóm vừa đi vừa hát: “Sự đời nghĩ cũng ngán thay Nữa đêm nữa ngày có kẻ không tin!” Con Phù du sớm sinh chiều chết nên không thể nào tin tưởng dược rằng lại có ban đêm, thế nhân sống trong cuộc vô thường, cuốn theo dòng sinh tử lưu chuyển, không nhận định lẽ tự nhiên trong vũ trụ. Những bậc có mắt tuệ, nhìn suốt chân ảnh cuộc đời khai thị cho quần sinh. Những vị đó bị kẻ không hiểu cười là gàn gỡ, nói chuyện ảo huyền trong khi vũ trụ đối với họ là thực tại, bản thân họ thực tại, hạnh phúc của họ cũng thực tại như không bao giờ hết, chẳng khác nào phù du kia sớm sinh chiều chết biết sao được mặt trời sẽ lặng. 11. TƯ TƯỞNG LỤC ĐỘ TẬP KINH VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM : Hệ tư tưởng của Lục độ tập kinh, như vậy, là một kết tinh những thành tựu cốt tủy của chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam thời Hùng Vương với những tinh hoa của giáo lý đạo Phật, một mặt sử dụng những thành tựu cốt tủy đó để thuyết minh và diễn giảng giáo lý Phật giáo cho dân tộc ta, mặt khác, huy động giáo lý Phật giáo để lý giải và bảo lưu những thành tựu đó, đặc biệt trong tình hình đất nước đang đứng trước một cuộc đấu tranh sống còn với kẻ thù có ưu thế về phương diện chính trị quân sự cũng như trên phương diện tư tưởng văn hóa. Nhận thức được điều này, ta mới thấy hết những đóng góp to lớn của Lục độ tập kinh đối với văn hóa và tư tưởng dân tộc, đối với lịch sử và văn học Việt Nam, trong suốt quá trình đấu tranh gian khổ nhưng hùng tráng cho độc lập dân tộc, cho việc hình thành một mẫu người Việt Nam lý tưởng. Sự thật, các đạo lý nhân nghĩa, trung hiếu, lễ giáo, thành tín đã trở thành những chủ đề tư tưởng lớn xuyên suốt lịch sử dân tộc, và cho đến hôm nay vẫn còn mang tính thời đại và thời sự của chúng. Có thể nói chúng là cột sống của chủ nghĩa nhân đạo và nếp sống nhân bản Việt Nam. Nội dung tư tưởng của Lục độ tập kinh vì thế, có những cống hiến thật đặc sắc và kỳ thú cho việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng và lịch sử chính trị Việt Nam, chứ không phải chỉ giới hạn trong lĩnh vực lịch sử Phật giáo và văn học Việt Nam. Vậy ngay từ đầu bản văn, Lục độ tập kinh đã xác định trọng tâm chính yếu của mình, đối tượng quan tâm bức thiết của mình là những người nghèo thiếu, đói khát, bệnh tật, là những kẽ lầm đường lạc lối, nói chung là những ai đang có những khó khăn về vật chất và tinh thần cần giúp đỡ. Lòng thương đã được đề cao. Những cụm từ "nhân ái" (truyện 68), "nhân nghĩa" (truyện 48), "nhân từ" (truyện 91) "nhân đạo" (truyện 31) v.v... lần đầu tiên bằng minh văn đã được ghi lại, thể hiện không những giáo lý tình thương của Phật giáo, mà còn truyền thống nhân đạo của Việt Nam. Nhưng không chỉ truyền thống nhân đạo, không chỉ giáo lý tình thương, dù cơ bản đến đâu, cũng chưa đủ để hình thành được những mẫu người lý tưởng, mẫu người có thể được "thiên sứ" trên trời xuống mời lên trên, như truyện 87 của vua Ma Điệu. Cần phải có một số phẩm chất khác, cụ thể là ngoài bố thí, còn phải có trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. 12. LỢI ÍCH CHO CON NGƯỜI VIỆT QUA 91 CÂU TRUYỆN : Trình bày bốn yếu quyết của Phật giáo như thế, Lục độ tập kinh quả đã tóm tắt được hết tất cả tinh hoa của giáo lý đạo Phật, soi rọi cho thấy tại sao mẫu người lý tưởng Phật giáo phải đặt nền tảng trên lòng thương, trên đạo nhân. Từ một thế giới vô thường đầy đau khổ tạm bợ và vô ngã, con người phải vươn lên bằng tình thương, bằng lòng "phổ từ", "phổ ái", để kiến tạo một thế giới an lạc, hạnh phúc. Nhưng đó mới là những nguyên lý chung chung có thể phát biểu bất cứ ở đâu và thời đại nào. Trong trường hợp người Việt Nam vào thời Khương Tăng Hội và trước đó, đã nổi lên những vấn đề đặc thù lôi kéo sự quan tâm và những nỗ lực đặc thù, mà ở một địa phương khác vào một thời đại khác chưa chắc đã có. Nói thẳng ra, người Việt Nam vào thời Lục độ tập kinh đang đứng trước một thực tế đau thương, là đất nước đang mất vào tay ngoại bang, hay nếu không, thì cũng đang đứng trước nguy cơ có thể bị mất vào bất cứ lúc nào. Do đó, mối quan tâm thường trực cũng như nỗi lo lắng triền miên là làm sao giữ nước, và nếu đã mất nước, làm sao lấy lại và bảo vệ. Ý niệm đất nước là ý niệm thường trực nổi cộm trong tâm khảm người Việt, là đầu mối suy tư chiêm niệm của họ. đặc biệt sau cuộc kháng chiến vệ quốc của Hai Bà Trưng đã thất bại. Đến đây, qua phân tích năm truyện tương đương trên, chúng ta có thể rút ra một số kết luận. Thứ nhất, có những truyền thuyết ta tưởng chúng không bao giờ truy ra nguồn gốc và thời điểm xuất hiện hay lưu hành, bây giờ có thể tìm lại được, mà quan trọng nhất là truyền thuyết trăm trứng của lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, thông qua Lục độ tập kinh. Thứ hai, nền văn học dân tộc ta không phải bắt đầu với Trần Nhân Tông và Nguyễn Trãi, hay Khuông Việt và Từ Đạo Hạnh, hay ngay cả Đại Thừa Đăng, hay Lý Miễu, Đạo Cao, Pháp Minh. Nền văn học thành văn của dân tộc ta phải bắt đầu với bài Việt ca, cụm truyện thần thoại và truyện cổ tích đầu tiên hiện tìm thấy trong Lục độ tập kinh và Cựu tạp thí dụ kinh, mà năm truyện phân tích trên là những thí dụ. 13. ĐẶC TÍNH DÂN TỘC VIỆT NAM : Lần về quá khứ, lịch sử Phật giáo, lịch sử dân tộc có biết bao công trình tráng lệ nguy nga, có biết bao anh hung liệt sĩ hy sinh oanh liệt, có biết bao người đã nằm xuống cho quê hương mà không cần ai biết đến. Trang sử vẽ vang đó đã ghi vào sử vàng của nhân dân Việt Nam. Vả lại, Việt Nam là một nước nằm ở ngã ba đường giao lưu quốc tế với Đông Nam Á và Châu Á, là nơi dừng chân hoặc trạm trung chuyển của các thương buôn vùng Địa Trung Hải, Trung Cận Đông, Ấn Độ trên đường đến Trung Quốc với khu vực có vùng thiên nhiên nhiệt đới gió mùa Tây Nam và Đông Bắc tạo nên hai mùa mưa nắng rõ rệt, dẫn đến nền văn minh nông nghiệp, mang truyền thống ổn định. Trên cơ sở đó, Việt Nam – nơi gặp gỡ nhiều dân tộc, nhiều nguồn văn hóa, văn minh – đã tạo ra một sắc thái riêng biệt của Việt Nam, đó là tính linh hoạt trong ứng xử, tổng hợp trong tiếp nhận. Tinh thần kiên nhẫn chịu đựng gian khổ, coi thường gian khổ, từ trời, đất, nước, thời tiết, khí hậu, từ số kiếp chẳng may hay từ người khác cố ý hãm hại … tất cả đều vượt qua và đến ngày nay đức tính này vẫn còn tồn động sống mãi trong người Việt. Sự yêu quê hương đất nước, suốt ngày, suốt năm tháng quanh quẩn với hòn đất, và vì cảnh sống trong lành êm ấm tình họ hàng bà con, không ai bóc lột ức hiếp ai, mà chỉ là lá lành đùm lá rách, tất cả đã vui với nhau và cùng để lại cho nhau nhiều kỷ niệm. Trên luân lý truyền thống quý báu này, người Việt không chịu cúi đầu làm nô lệ ngoại bang. Có những tình thế bắt buộc phải lệ thuộc nhưng tinh thần yêu quê hương đất nước lại biến thành ngòi thuốc súng cứ âm ỉ trong lòng dân Việt. Người thanh niên Việt Nam sẵn sang hy sinh tính mạng của mình để đem thân ra bảo vệ quê hương dân tộc: Giặc Tây đánh tới cần giờ Biểu đừng thương nhớ đợi chờ uổng công. Quê hương xứ sở của mình dù nhỏ nhoi nghèo thiếu nhưng người Việt vẫn yêu mến, quí trọng nó : Ta về ta tắm ao ta Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn. Trải qua những lần đau thương, về sau cả ngàn năm dưới quyền đô hộ của Tàu, dân Việt dù bị hành hạ cơ cực đến đâu cũng vẫn bám lấy mảnh đất Ông cha mà chịu đựng, chớ không rời bỏ quên quê hương như người Do Thái. Sự thích sống thảnh thơi, hòa mình với thiên nhiên đó là điều mà đời nay gọi là tự do, do chế độ chính trị ban phát, hay do ý thức đấu tranh mà có. Nhưng ở nguyên thủy, những tương quan xã hội nói trên, người Giao Chỉ đã quá dư tự do, khi sống thảnh thơi với mảnh ruộng, miếng vườn của mình. Không phải là tự do xâu xé, lẫn nhau, và tự do buông thả thú tính, mà đây là sự tự do có ý thức, tự do trong lễ nghĩa, để đời sống chung trong làng có nề nếp, dù phép vua ở chính quyền Trung ương cũng không thắng được lệ của làng. Điều này được minh chứng qua hội nghị Diên Hồng, muôn người như một quyết chung lưng đấu cật chiến đấu tới cùng. Tinh thần sống hòa mình này, ta nghe văng vẳng từ đồng quê vọng lại : Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Thật vậy, nếu cảm thấy mình khôn ngoan, có tài thì nên đem tài mình chống lại giặc ngoại xâm, và có tài mà đứng riêng một mình thì dù có tài giỏi đến đâu cũng không làm nên việc gì được. Một cây làm chẳng nên non Ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Mặc khác, cùng sống chung trên một đất nước thì khổ vui đồng chịu, chúng ta phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Với tinh thần chị ngã em nâng, sự cứu giúp này sẽ lành mạnh hóa xã hội. Gặp cơn nguy biến hoạn nạn, thiên tai lũ lụt, tình đồng bào chúng ta đâu nỡ làm ngơ, mà phải ra tay cứu giúp nhau. Người biết chia xớt khổ đau cho nhau thật là một tình thương đáng kính quí. Tình thương ấy đã phát ra ngôn ngữ, người Việt Nam không bao giờ quên : Đường xa xin chớ ngại ngùng Trèo non xuống biển ta cùng đỡ nhau. Như đã biết, xã hội Việt Nam được xây dựng trên nền tảng gia đình. Gia đình có anh vui, hạnh phúc thì xã hội mới vững mạnh. Vì thế trong gia đình cha mẹ phải Từ, con cháu phải Hiếu. Muốn con hiếu thảo trước phải dạy chúng biết công đức sanh thành, khổ cực của mẹ cha. Công ơn cha mẹ được người bình dân hình dung rộng như biển, cao như núi : Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Đã biết công ơn cha mẹ nặng nề như vậy, kẻ làm con lúc nào cũng hy vọng đền đáp. Có người cho sự học hành đỗ đạt, làm đẹp mặt nở mày cha mẹ là đền ơn. Có người sống trong cảnh nghèo thiếu vất vả nhưng lòng biết ơn cha mẹ không bao giờ quên. Họ phải nhịn ăn để nuôi cha mẹ. Đói lòng ăn đọt chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng. Khi cha mẹ gặp lúc trở trời trái gió, người con hiếu thảo lo sợ cha mẹ đi xa, nên đến trước bàn Phật thắp hương cầu nguyện : Lâm râm khấn vái Phật trời Xin cho cha mẹ ở đời với con. Như vậy, hiếu thảo là chất liệu thiết yếu trong xã hội Việt Nam. Thế nên, trong tinh thần dân tộc, ai cũng đặt chữ hiếu lên trên tất cả. Những điều trình bày trên, thiết tưởng đó là quan niệm nhân sinh, quan niệm triết lý, nói trọn trong đời sống thái hòa, trong đặc tính dân tộc có từ thời vua Hùng Vương đến nay. 14. PHẬT GIÁO HÒA HỢP VỚI TINH THẦN DÂN TỘC : Lịch sử cho biết Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ thời xa xưa bằng hai con đường Hồ Tiêu (đường biển) và Đồng Cỏ (đường từ Trung Á xuống). Có thể nói từ thời Hùng Vương và trước đó. Đạo vào Việt Nam đã hòa nhập vào bản sắc của dân tộc, theo lối tư duy linh hoạt, bản chất nhu hòa, không cực đoan, thiên về âm tính đã biến đạo Phật thành đạo của dân tộc. Người dân Việt Nam xem đức Phật như người mẹ hiền rất dân gian, phổ cập. Từ thời Hùng Vương trở về sau, nhất là Phật giáo Đại Thừa phát triển, Phật giáo đã hòa nhập và là sức mạnh của dân tộc để lại thiên nhiên, giặc giả ngoại xâm. Thời đó, Phật giáo vừa là sức mạnh để đánh giặc, vừa là bộ mặt văn hóa của đất nước như “An Nam tứ đại khí” mà sách Trung Quốc ca tụng. Chủ trương Phật giáo là “Tùy duyên nhi bất biến” hoặc ngược lại “bất biến nhi tùy duyên”. Bản chất từ bi, trí tuệ giải thoát của Đạo Phật không bao giờ thay đổi nhưng phương tiện thực hiện từ bi …cần phải tùy thời, tùy cảnh và tùy căn cơ chúng sanh. Vì thế, Phật giáo đến nước nào, đều có hình Thái thích nghi với dân tộc nước đó. Phật giáo ở nước nào là của dân tộc nước đó và cũng mang tên nước đó. Chính tinh thần này mà Hồ Chí Minh thành công trong sự nghiệp giải phóng đất nước của mình. Bởi quyết thoát nô lệ nên Phật giáo luôn pháp từ tính ỷ lại, dạy Phật tử phải nổ lực tự cường, như câu : “Các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Tinh thần hùng lực và giải thoát của Đạo Phật rất thích hợp với tinh thần bất khuất và độc lập của dân tộc Việt Nam. Chánh điện các chùa đều có bảng “Đại Hùng Bửu Điện” oai nghiêm rực rỡ, cũng đủ nói lên rằng, Phật giáo cương quyết đập tan hết mọi xiềng xích do xã hội tạo ra như giai cấp Bà La Môn thiết lập ở Ấn Độ. Xiềng xích lại bản thân con người do ngũ dục trói buộc, xiềng xích nội tâm do tham sân si sai xử. Tất cả thứ xiềng xích đó, Đức Phật đã phá bỏ, Đức Phật không bao giờ chịu khuất phục dưới một sức mạnh nào, dù là sức mạnh vô biên của nghiệp lực truyền kiếp lưu lại. Nghiệp lực ấy đã thể hiện qua hình thức vô số ma vương bao quanh cây Bồ đề chiến đấu với Ngài, cuối cùng Ngài đã chiến thắng chúng và thành bậc Đại Giác Ngộ. 15. TINH THẦN TỪ BI QUẢNG ĐẠI : Tinh thần hòa hợp kể trên có thể chưa đủ để giáo lý của Đức Phật Tổ thấm sâu vào hồn người Việt nếu không có tinh thần Từ bi Quảng đại. Bản chất giáo lý của Đạo Phật thừa nhận tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đã có Phật tánh thì dù các chúng sanh do hành nghiệp bất đồng bị quả báo sai biệt nhưng Phật tánh vẫn đầy đủ như nhau. Bởi hành nghiệp bất đồng nên chúng sanh chiêu cảm thân thể, hành động ngôn ngữ khác nhau. Như vậy, ta không thể bắt mọi người hiểu biết, hành động như ta được. Trong kinh Phật dạy: “Khi có Phật ra đời giáo hóa, người y theo pháp Phật dạy tu hành chứng quả gọi là Thanh Văn; khi không có Phật ra đời và không còn giáo pháp của Phật, người tự quán sắt lý sanh diệt của vạn vật mà ngộ đạo, gọi là Độc giác”. Như thế, không phải chỉ y cứ theo lời Phật dạy mà tu hành mới thành chánh quả, mà bất cứ ai biết xét đúng lý sanh hóa của vũ trụ được giác ngộ đều chứng thành quả. Thế thì Đức Lão Tử, Khổng Tử đâu không phải là hang Độc giác. Bởi quan niệm này, Phật giáo không bao giờ kỳ thị các tôn giáo khác, trái lại còn dung hòa thân mật. Bằng chứng trong lịch sử Việt Nam thời Lý Trần là thời độc tôn của Phật giáo, mà khoa thi tam giáo vẫn được mở đời Lý Nhân Tông, và chủ trương tam giáo đồng nguyên thịnh đạt nhầt thời Trần Thái Tông, một ông vua rất thong hiểu Phật giáo. Ta hãy nghe Ngài nói: “Ấy, thân mệnh tuy là chú trọng thật, song cũng chưa trọng bằng chí đạo kia. Cho nên Khổng Phu Tử có câu : Sớm nghe đạo tối chết cũng cam. Ông Lão Tử có câu, ta có sự lớn là vì ta có cái than. Đức Thế Tôn cầu đạo xả thân cứu khổ, thế chả phải ba đấng thánh đều khinh thân trọng đạo đó sao”. Vua Trần Thái Tông đã có lần trốn lên núi xuất gia đã viết nhiều tác phẩm về đạo giáo má vẫn tôn trọng Khổng Tử, Lão Tử, xem hai Ngài cũng là bậc Thánh; điều đó đủ chứng tỏ tinh thần Quảng đại của Phật giáo. Không phải như các tôn giáo khác chỉ trọng Ông giáo chủ của mình là Thánh, còn giáo chủ của tôn giáo khác là yêu quái, đạo mình là chính, đạo khác là tà, rồi sanh tâm khinh miệt kỳ thị. Nên trong lịch sử truyền bá Đạo Phật, ta không thấy vết thù hay giọt máu đọng lại trong trang sử. Đức tính Từ bi cứu khổ còn thể hiện rõ nét nơi hành xử của hàng Tăng Lữ. Quý Ngài chỉ biết ban phát, mở rộng thậm chí lắm khi bị người khác dèm pha khinh miệt nhưng không lộ một nét sân, mà trái lại còn thương hơn nữa. Vì đây là những đáng thương, cần sự tha thứ. XI. TỔNG KẾT : Từ những phân tích trên, ta có thể rút ra mấy kết luận sơ bộ sau: 1. Lục độ tập kinh hiện nay là một dịch phẩm của Khương Tăng Hội từ một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt. Sự kiện này giải thích cho thấy tại sao có hiện tượng “văn từ điển nhã”, mà Thang Dụng Đồng đã nhận ra, và bác bỏ kết luận mà Thang Dung Đồng đã đi tới, đó là Lục độ tập kinh có thể là một tác phẩm do Khương Tăng Hội viết. 2. Vì xuất phát từ một nguyên bản tiếng Việt, nên Lục độ tập kinh mới chứa đựng một lượng lớn những cấu trúc câu văn không theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc, mà theo ngữ pháp tiếng Việt. Số lượng những câu văn này cung cấp cho ta một lượng lớn thông tin để phác thảo lại diện mạo tiếng Việt cách đây gần 2.000 năm mà cho đến nay, ngoài bài Việt ca, ta không có một tín hiệu nào cả. Đây phải nói là những đóng góp vô giá, mà Lục độ tập kinh mang lại cho dân tộc ta nói chung, và các ngành văn học và ngữ học nói riêng. 3. Cũng vì xuất phát từ một nguyên bản tiếng Việt, nên Lục độ tập kinh ngày nay đã cho ta thấy những luồng tư tưởng nào đã chi phối dân tộc ta, những vấn đề gì đã làm cho họ suy tư trăn trở vào thời điểm Lục độ tập kinh ra đời. Từ đó, ta nhận ra một loạt những chủ đề, mà qua suốt lịch sử dân tộc đã trở thành cốt lõi của truyền thống văn hóa tư tưởng và chính trị Việt Nam. Về mặt này, Lục độ tập kinh có những cống hiến thật khởi sắc và đáng suy gẫm. 4. Hệ tư tưởng Phật giáo truyền dạy thông qua Lục độ tập kinh là bao gồm những gì tinh túy nhất, cốt lõi nhất và tích cực nhất của toàn bộ hệ thống giáo lý Phật giáo nguyên thủy, nêu mẫu người lý tưởng gồm hai phẩm chất chính yếu là tình thương và trí tuệ làm điển hình cho cuộc sống nội tâm và xã hội của người Phật tử, kiến tạo một quan hệ gắn bó chặt chẽ keo sơn giữa Phật giáo và dân tộc, từ đó thiết định vai trò và nhiệm vụ của Phật giáo trong quan hệ ấy. 5. Thêm vào đó, Lục độ tập kinh chứa đựng một lượng lớn thông tin về nhiều mặt của đời sống vật chất cũng như tinh thần của xã hội người Việt Nam vào giai đoạn nó xuất hiện. Từ những kiến thức hết sức chính xác của các khoa học thực nghiệm như khẳng định thai nhi ở trong bụng mẹ 266 ngày cho đến các phong tục tập quán kiểu liệm người chết bỏ vàng bạc ngũ cốc vào miệng hay ngứa nách, máy mắt v.v... từ việc lấy cây chuối làm hình nộm cho đến chuyện đem chuột nướng bán làm thịt, nó cung cấp cho ta nhiều dữ kiện để nghiên cứu lịch sử khoa học kỹ thuật Việt Nam cùng truyền thống văn hóa dân tộc. XII. KẾT LUẬN : Lục độ tập kinh hiện nay là một dịch phẩm của Khương Tăng Hội từ một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt. Sự kiện này giải thích cho thấy tại sao có hiện tượng “văn từ điển nhã”, mà Thang Dụng Đồng đã nhận ra, và bác bỏ kết luận mà Thang Dung Đồng đã đi tới, đó là Lục độ tập kinh có thể là một tác phẩm do Khương Tăng Hội viết. Vì xuất phát từ một nguyên bản tiếng Việt, nên Lục độ tập kinh mới chứa đựng một lượng lớn những cấu trúc câu văn không theo ngữ pháp tiếng Trung Quốc, mà theo ngữ pháp tiếng Việt. Số lượng những câu văn này cung cấp cho ta một lượng lớn thông tin để phác thảo lại diện mạo tiếng Việt cách đây gần 2.000 năm mà cho đến nay, ngoài bài Việt ca, ta không có một tín hiệu nào cả. Đây phải nói là những đóng góp vô giá, mà Lục độ tập kinh mang lại cho dân tộc ta nói chung, và các ngành văn học và ngữ học nói riêng. Cũng vì xuất phát từ một nguyên bản tiếng Việt, nên Lục độ tập kinh ngày nay đã cho ta thấy những luồng tư tưởng nào đã chi phối dân tộc ta, những vấn đề gì đã làm cho họ suy tư trăn trở vào thời điểm Lục độ tập kinh ra đời. Từ đó, ta nhận ra một loạt những chủ đề, mà qua suốt lịch sử dân tộc đã trở thành cốt lõi của truyền thống văn hóa tư tưởng và chính trị Việt Nam. Về mặt này, Lục độ tập kinh có những cống hiến thật khởi sắc và đáng suy gẫm. Hệ tư tưởng Phật giáo truyền dạy thông qua Lục độ tập kinh là bao gồm những gì tinh túy nhất, cốt lõi nhất và tích cực nhất của toàn bộ hệ thống giáo lý Phật giáo nguyên thủy, nêu mẫu người lý tưởng gồm hai phẩm chất chính yếu là tình thương và trí tuệ làm điển hình cho cuộc sống nội tâm và xã hội của người Phật tử, kiến tạo một quan hệ gắn bó chặt chẽ keo sơn giữa Phật giáo và dân tộc, từ đó thiết định vai trò và nhiệm vụ của Phật giáo trong quan hệ ấy. Thêm vào đó, Lục độ tập kinh chứa đựng một lượng lớn thông tin về nhiều mặt của đời sống vật chất cũng như tinh thần của xã hội người Việt Nam vào giai đoạn nó xuất hiện. Từ những kiến thức hết sức chính xác của các khoa học thực nghiệm như khẳng định thai nhi ở trong bụng mẹ 266 ngày cho đến các phong tục tập quán kiểu liệm người chết bỏ vàng bạc ngũ cốc vào miệng hay ngứa nách, máy mắt v.v... từ việc lấy cây chuối làm hình nộm cho đến chuyện đem chuột nướng bán làm thịt, nó cung cấp cho ta nhiều dữ kiện để nghiên cứu lịch sử khoa học kỹ thuật Việt Nam cùng truyền thống văn hóa dân tộc. Có tìm hiểu mới thấy đất nước ta đã trãi qua những thử thách ghê gớm như thế nào, và tổ tiên ta đã vượt lên và chiến thắng những thử thách ấy với bản lĩnh và sức mạnh gì. Có thấy được những điều ấy, ta mới nhận ra trên cơ sở nào dân tộc ta đã chiến thắng, và từ bệ phóng nào dân tộc ta đã vút lên để xây dựng thành công một nước Việt Nam như ta có hôm nay. Từ đó thấy rõ hơn vị thế và trách nhiệm của bản thân mỗi chúng ta trước những thách đố hiện nay của thời đại, thời đại của cuộc cách mạng dân chủ mới, của khoa học kỹ thuật hậu công nghiệp, của sự nghiệp thực hiện thắng lợi lý tưởng “nước giàu dân mạnh” của Lục độ tập kinh. Việc tìm hiểu quá khứ thực tế và để nhận rõ khả năng nội lực của mình, nhằm lượng định tình hình khách quan hiện tại mà tiến tới, biến hoài bảo ước mơ của từng cá nhân và dân tộc thành hiện thực, thành những lực lượng vật chất cụ thể, đáp ứng yêu cầu kiến tạo một đất nước phồn vinh, một xã hội an lạc. Ước mơ và nguyện vọng của Lục độ tập kinh đến nay sao vẫn gần gũi, thân thiết với chúng ta, những người sống sau gần 2.000 năm. Qua đây cho chúng ta thấy rằng quan điểm của Khương Tăng Hội trong quá trình Phật giáo hóa và dân tộc hóa những tin hoa thế giới, tuy diễn ra khốc liệt và đau thương, nhưng đã thành công rực rở, biểu thị khả năng tiếp thu và bản lĩnh sáng tạo mãnh liệt của nền văn hóa dân tộc.Những đạo lý nhân nghĩa, trung hiếu, thành tính, trinh tiết…Những quan hệ như vua tôi , cha con, vợ chồng.v.v..Được thiết định theo nhãn quan dân tộc và lý giải theo lăng kính Phật giáo trên cơ sở những thành tựu văn hóa dân tộc đạt được vào thời Lục Độ Tập Kinh ra đời. Qua những sự phân tích ở trên, ta thấy tác giả Lục Độ Tập Kinh tham gia tích cực vào không những sự truyền bá giáo lý Phật giáo, mà còn trách nhiệm bảo vệ văn hóa dân gian của dân tộc, thể hiện nguyện vọng chính đáng và những trăn trở đau thương của dân tộc ta vào thời điểm tác phẩm ấy ra đời. Hai nhiệm vụ thống nhất lại thành một thể , để cho việc thực hiện nhiệm vụ này tức đồng thời hoàn thành nhiệm vụ kia. Nếp sống đạo thống nhất với cuộc sống đời không có khoảng cách phân ly, không có màu sắc phân biệt, sống đạo một cách trọn vẹn tức phục vụ đời một cách viên mãn, và sống đời một cách tốt đẹp và thể hiện đạo một cách cụ thể tròn đầy.Quan các câu truyện” sự tích hợp văn hóa dân gian trong Lục Độ Tập Kinh của Khương Tăng Hội”, TÀI LIỆU THAM KHẢO : a- Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Tập 1, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, Huế, 1999, tr. 234. b- Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam, tập 1, NXB TP. HCM, 2001. c- Nghiên Cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Thực Hiện 1999, Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh. d- Nguyễn Huệ Chi (chủ biên): Thơ văn Lý-Trần, tập II, quyển thượng, Hà Nội 1988. e- Nguyễn Lang: Việt Nam Phật giáo sử luận I-III, Hà Nội 1992. f- Ngô Đức Thọ-Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích, Thiền Uyển tập Anh, Nhà xb Văn học Hà Nội 1993. h- Việt Nam Phật giáo Sử Lược, Thích Mật Thể, Nhà Xuất bản Tôn giáo Hà Nội, 2004. F- Thích Trí Quảng (2003), “Tinh thần đạo Phật trong dân gian Việt Nam”, Nguyệt san Giác ngộ (3), tr.2 r- Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2003), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.128. k- Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian - mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb Giáo dục, tr.251 i- Đinh Gia Khánh (1968), Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, Nxb Văn học, Hà Nội, tr.58. x- Cao Huy Đỉnh (1998), “Tìm hiểu thần thoại Ấn Độ”, Bộ ba tác phẩm nhận giải thưởng Hồ Chi Minh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.684-685. v- Cao Huy Đỉnh (1998), “Tìm hiểu tiến trình văn hóa dân gian Việt Nam”, Bộ ba tác phẩm nhận giải thưởng Hồ Chi Minh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.70. n- Chu Xuân Diên (2001), Văn hóa dân gian - mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại, Nxb Giáo dục, tr.251. m- Trần Quốc Vượng (2003), “Vài nét về Phật giáo dân gian Việt Nam”, Nguyệt san Giác ngộ (3), tr.25. j- Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (2003), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.128. z- Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 1- 5), Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.1678. o- Lê Mạnh Thát dẫn theo bản in năm 1957 của bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam. Trong các bản in sau này, do có một số điều chỉnh, truyện số 60, 142 sẽ là các truyện 61 và 143.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét