THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

HÌNH ĐỘNG

imageanchor="1" style="margin-left:1em; margin-right:1em">

bồ tát quan âm

Bồ tát Quán Thế Âm Quán Thế Âm (觀世音), cũng gọi là Quán Tự Tại, Quan Âm, là một trong những vị Bồ tát có hạnh nguyện cứu khổ, cứu nạn cho mọi chúng sinh. Có nhiều luận giải khác nhau về nguyên nghĩa tên Ngài. Có người hiểu danh hiệu Ngài là một “người nam” quán chiếu thế giới, có người hiểu là vị Bồ tát lắng nghe mọi tiếng thế gian. Nhìn chung, Bồ tát Quán Thế Âm là thể hiện lòng Bi, một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, mọi người gọi Bồ tát là bậc Đại Bi. Dạng kia của Phật tính là Trí huệ, là đặc tính được Bồ tát Văn-Thù-Sư-Lợi thể hiện. Quán Thế Âm là vị Bồ tát thể hiện nguyện lực của Phật A-Di-Đà và được xem như quyến thuộc của Phật A-Di-Đà (Tịnh độ tông). Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến mình lúc gặp hiểm nguy. Trong dân gian, Quán Thế Âm là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và giúp người phụ nữ không con cầu tự. Trong các loại tranh tượng về Quán Thế Âm, chúng ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường tượng Bồ tát có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu. Trên đầu có tượng A-Di-Đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Bồ tát cầm hoa sen hồng, vì vậy nên Quán Thế Âm cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ. Số tay của Bồ tát biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh vô lượng. Trong tranh tượng với 11 đầu thì Quán Thế Âm mang 9 đầu của chín vị Bồ tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-Di-Đà. Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt. Theo một cách nhìn khác thì 11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả. Đôi lúc Quán Thế Âm Bồ tát cũng được trình bày dưới một dạng ít thấy, đó là “Sư Tử Hống Quán Tự Tại” (獅子吼觀自在). Dưới dạng này, Bồ tát là một Dược sư, đặc biệt cứu độ những người bệnh phong cùi. Mắt Bồ tát đang nhìn bệnh nhân và mắt chính giữa (huệ nhãn) đang tập trung chẩn bệnh. Hai bảo vật bên vai cũng là những dụng cụ của một dược sĩ, bình sắc thuốc bên trái của Bồ tát và đao trừ tà (bệnh) bên phải. Sư tử Bồ tát cưỡi xuất phát từ một sự tích. Tương truyền rằng, có một con sư tử sinh được một con nhưng con chết ngay sau khi sinh. Đau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con nó sống lại. Vì thế mà có sự liên hệ giữa tên của Sư Tử Hống Quán Tự Tại (“giọng sư tử”) với nghề nghiệp của một dược sĩ “gọi người sống lại”. Một thuyết khác giải thích tích của 11 đầu và nghìn tay: lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Bồ tát đau xót vỡ ra từng mảnh. Phật A-di-đà xếp các mảnh đó lại thành 11 đầu. Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Bồ tát mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt. Quán Thế Âm cũng hay được vẽ là một vị Bồ tát cứu độ chúng sinh trong sáu nẻo Luân hồi (Lục đạo): trong súc sinh, Quán Thế Âm đầu ngựa, hoặc cưỡi sư tử; trong địa ngục, người có nghìn cánh tay; trong cõi A-tu-la, người có 11 đầu. 768824242_b13e0d1337_o.jpg Tại Việt Nam, Quán Thế Âm còn gọi là Quan Âm, hay được trình bày dưới dạng “Phật Bà”. Tại Tây Tạng, Quán Thế Âm là “người bảo vệ xứ tuyết” và có ảnh hưởng trung tâm trong truyền thống Phật giáo tại đây. Người ta xem Bồ tát là cha đẻ của dân tộc Tây Tạng và nhờ Ngài mà Phật giáo được truyền bá qua nhà vua Tùng-tán Cương-bố, được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm. Đạt-lại Lạt-ma và Cát-mã-ba cũng được xem là hiện thân của Quán Thế Âm. Câu Man-tra OM MA-NI PAD-ME HUM được xem là thuộc tính của Quán Thế Âm, là thần chú đầu tiên truyền đến Tây Tạng và ngày nay được tụng đọc nhiều nhất. Tranh tượng của Bồ tát được biểu diễn bằng một người có 11 đầu và ngàn cánh tay hoặc trong dạng có bốn tay, ngồi toà sen. Trong Diệu pháp liên hoa kinh, đức Phật Thích Ca đã giải thích rõ cho Vô Tận Ý Bồ tát về ý nghĩa của danh hiệu Quán Thế Âm là do vị Bồ tát này khi nghe âm thanh của chúng sinh xưng danh hiệu mình thì bèn tầm thanh để cứu khổ. Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh bị các khổ não nghe đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, một lòng xưng danh Ngài thì ngay khi đó, Bồ tát Quán Thế Âm bèn xem xét âm thanh ấy, khiến cho họ đều được giải thoát. Cũng theo kinh Diệu pháp liên hoa thì Quán Thế Âm Bồ tát có 32 hóa thân khác là thân Phật, Bích Chi, Thinh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Đại Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ Sa Môn, Tiểu Vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la–môn, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Phụ nữ, Đồng nam, Đồng nữ, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, A-tu-la, Khẩn-na-la Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân, Thần chấp Kim Cang. Sau này lại có thêm 33 hóa thân khác của Quán Âm, những hóa thân này không dựa vào kinh sách mà chỉ dựa vào tư tưởng hóa độ lục đạo kết hợp với 33 Ứng hóa thân trên pha trộn với tín ngưỡng dân gian của Nhật Bản và Trung Hoa mà tạo thành, đó là các hồng danh: Dương Liễu Quán Âm, Long Đầu Quán Âm, Trì Kinh Quán Âm, Viên Quang Quán Âm, Du Hý Quán Âm, Bạch Y Quán Âm, Liên Ngọa Quán Âm, Lang Kiến Quán Âm, Thí Dược Quán Âm, Ngư Lam Quán Âm, Đức Vương Quán Âm, Thủy Nguyệt Quán Âm, Nhất Diệp Quán Âm, Thanh Cảnh Quán Âm, Uy Đức Quán Âm, Diên Mạng Quán Âm, Chúng Bảo Quán Âm, Nham Hộ Quán Âm, Năng Tĩnh Quán Âm, A Nậu Quán Âm, Vô Úy Quán Âm, Diệp Y Quán Âm, Lưu Ly Quán Âm, Đa La Quán Âm, Cáp Lỵ Quán Âm, Lục Thời Quán Âm, Phổ Bi Quán Âm, Mã Lang Phụ Quán Âm, Hiệp Chưởng Quán Âm, Nhất Như Quán Âm, Bất Nhị Quán Âm, Trì Liên Quán Âm, Sái Thủy Quán Âm. Nhân ngày vía Bồ tát Quán Thế Âm 19.6.Nhâm Thìn (2012), mỗi người con Phật chúng ta hãy dâng nén tâm hương hướng về Ngài, cầu nguyện Đức Đại từ, Đại bi, Cứu khổ, Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát cứu vớt mọi sinh linh đang sống trong biển khổ, sông mê mau mau tỉnh ngộ hướng về bờ giác.

THIỀN SƯ TÍNH QUẢNG

GIỚI THIỆU CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP THIỀN SƯ TÍNH QUẢNG Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều (1694-1768) là một tác gia lớn của văn học Phật giáo thời Lê Trịnh. Thiền sư để lại một số tác phẩm có giá trị học thuật, giúp ích cho công việc nghiên cứu văn học, lịch sử, tư tưởng giai đoạn Phật Giáo thời Hậu Lê. Nhiều tác phẩm như Phật Quốc Ký truyện, Nam Tuần quốc ngữ khúc, Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi, Ni bát kính pháp phương ngôn đã được khắc in. Còn Sa di ni quốc ngữ được đưa vào sách Hành trì tập yếu chư nghi. Chưa nói đến một số bài tựa, bài ký khắc vào văn bia lưu truyền ở các chùa mà thiền sư được mời biên soạn. Hầu như các tác phẩm của Ngài chưa ai quan tâm, có nhiều nhà nghiên cứu chỉ mới nên tên sách cùng tên tác giả mà chưa biết rõ về tác gia này. Tiêu biểu là công trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 của Liên tổ văn học Việt Nam, Trường Đại Học Sư Phạm chỉ nhắc đến tác phẩm Phật Quốc ký truyện và một lời nhận xét nhỏ. Ông Hoàng Xuân Hãn có sử dụng chữ nôm trong Phật Quốc ký truyện để so sánh với một số tác phẩm đương thời. Cho đến công trình Di Văn Chùa Dâu có đụng chạm đến ván khắc cùng bản in Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi của thiền sư Tính Quảng. Những nhược điểm trên đây đã thúc đẩy chúng tôi công bố bài viết nhỏ nhằm giới thiệu con người và sự nghiệp thiền sư Tính Quảng. Công việc của chúng tôi là bước đầu thu thập tư liệu, giới thiệu hành trạng cùng các tác phẩm của thiền sư. 1. Tiểu Sử Thiền sư Tính Quảng (1694-1768) Các tư liệu chữ Hán có liên quan đến hành trạng thiền sư Tính Quảng rất nhiều. Chúng tôi sử dụng hai văn bia do chính học trò của thiền sư lập ở hai ngôi tháp. Một bài văn bia Thời Vũ Tháp Thiên Ân Tự Khai Sáng Tổ Sư Thực Lục (sau đây gọi tắt là Thực Lục) do sư Hải Trí soạn được tạc trên tháp Thời Vũ[1] và Thiền Phong Tháp Ký do thiền sư Hải Khâm Thân Thân soạn được tạc trên tấm đá gắn trên thân tháp Thiền Phong tại chùa Bụt Mọc-Bắc Ninh. Hai tư liệu này có độ chính xác khá cao, có thể bổ sung cho nhau. Ngoài ra, Thiền Uyển Truyền Đăng Lục ghi lại thế hệ truyền thừa tông phái Cầm Sơn. Thiền sư Tính Quảng sinh ra trong một gia đình truyền thống Nho học, bố họ Nguyễn, mẹ họ Lê. Ngài quê ở xã Phúc lai[2], huyện Gia Bình, trấn Kinh Bắc, nay thuộc thôn Phúc Lai, xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đạo hiệu của ngài là Thích Điều Điều, tôn xưng là Thượng Đức Tổ Sư, tự xưng là Vô Vật Sa-môn, Hối Tích Tăng, Hối Tích Lão Phu, Tử Trầm Lão Nhân. Trước lúc mang thai, mẹ ngài nằm mộng thấy ấn lớn[3]. Thực Lục chép: “khi ngài sinh có điềm lạ, ban đêm ánh sáng đầy nhà”. Ngài sinh giờ Tuất, ngày 14 tháng 4 năm Giáp Tuất (1694)[4]. Ngài còn nhỏ không khóc, ba tuổi thường đi chơi cảnh chùa[5]. Năm 6 tuổi[6], cha mẹ cho đi học, ngài thông minh dĩnh ngộ, học biết hơn người. Năm Nhâm Thìn (1712)[7], gặp lúc dịch bệnh, thiền sư vào ngụ tại chùa Phúc Khánh[8], thường nghe thiền sư Tịnh Niệm ngâm bài kệ Chỉ giá sắc thân mà ngộ đạo. Lúc 19 tuổi, Ngài xin xuất gia với hòa thượng Tính Giác Như Nghiễm [9] thụ học đạo nghiệp, theo thầy hầu hạ được 3, 4 năm. Năm Đinh Dậu (1717), ngài xin thầy du phương tham học, tìm thầy hỏi bạn, xa nghe thiền sư Như Văn (1655-1724) đang hành đạo ở chùa Quang Khánh[10], huyện Kim Thành bèn đến qui tông tham cầu tâm yếu. Sau khi đắc chỉ, ngài phát nguyện thụ giới cụ túc với thiền sư Vô Trụ[11]. Năm Nhâm Dần (1722), thầy trò cùng lên kinh ứng thí, tổ sư Như Văn được ban chức Tăng Phó, còn thiền sư thì được cấp độ điệp hành đạo[12]. Năm sau, thiền sư chính thức nhận điệp trụ trì chùa Diên Phúc thôn Phí Gia [13]. Thiền sư ở đây hành hóa rất được lòng dân, tiếp nhận học trò. Trụ trì được một năm (1724) thì bản sư Như Văn viên tịch, Tính Quảng về lo tang lễ cho thầy. Năm Bảo Thái 7 (1726), tưởng nhớ đến công ơn thầy tổ đã giáo dưỡng mình, thiền sư Tính Quảng đứng in Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, trong đó cung tiến cho thiền sư Như Văn, lúc này thiền sư chưa thụ giới cụ túc, chỉ còn sa di[14]. Năm Canh Thân (1740) giặc nổi lên khắp nơi, nhận thấy nơi đây chưa được yên bình hành đạo, thiền sư dẫn học trò lên Kinh ngụ tại chùa Nga Mi cùng đạo hữu Tính Hài. Năm Tân Dậu (1741), quốc mẫu cho về trụ chùa Phổ Quang[15]. Năm Nhâm Tuất (1742), ngài muốn về Sơn Tây làm bài kệ tạ ơn đạo hữu, sau đến trụ chùa Hoa vân, An Sơn. Năm Quí Hợi (1743) ngài ở chùa Phàn Long. Năm Giáp Tý (1744), ngài kết hạ an cư trên núi Tử Trầm. Năm Ất Sửu (1745), lên chùa Khánh Vân, Phú Ổ. Năm Mậu Thìn (1748), ngài trở lại núi Tử Trầm kết am lập Viện Thiền Phong. Từ đó, sư tu hành khắc khổ, giới hạnh tinh nghiêm, không mong cầu danh lợi, đạo đức hoàn bị, tăng ni vân tập học đạo rất đông, sau này trở thành những bậc long tượng trong thiền môn cũng một bề giáo hóa của sư. Năm Ất Hợi (1755), thôn miếu thỉnh sư trụ trì chùa, động Long Tiên. Năm Bính Tý (1756), đạo tràng Hải Dương thỉnh ngài về chùa Kim Âu, Việt Khê. Năm Đinh Sửu (1757), quận phu nhân họ Đặng thỉnh sư trở về Tử Trầm. Trong thời gian tại núi Tử Trầm thiền sư đã cho khắc in các tác phẩm như Hộ Pháp Luận[16], Thủy Sám Bị Giản, Kim Cương Quyết Nghi, Bát Nhã Trực Thuyết, Pháp Hoa Phẩm Tiết[17]. Đến năm Kỷ Mão (1759) thiền sư cho phân phát lưu thông. Đến năm Giáp Thân (1764) thiền sư được 71 tuổi, lúc này đạo phong ngài lan tỏa khắp nơi, dân làng Phúc Lai bèn đến viện Thiền Phong cung thỉnh ngài hồi hương sáng lập tự viện để nhân dân có chỗ tu học. Sư nghĩ rằng Phúc Lai chính là nơi mình sinh ra và trưởng thành, nếu lập chùa chính là nền tảng muôn đời. Do thế, thiền sư không từ thân mệt mỏi mà nhận lời thỉnh cầu. Năm Ất Dậu (1765) thiền sư dẫn đồ chúng về quê, còn một số đệ tử ở lại trông coi viện Thiền phong. Lúc đầu, thiền sư bỏ tiền ra lo mua những gỗ tốt, cưu công tạo lập tiền đường, thiêu hương, thỉnh tôn tượng về an vị, cho trồng cây xung quanh tạo nên một già lam trang nghiêm, đặt tên là Thiên Ân tự[18], lập viện Thời Vũ, đào tạo đồ chúng. Công thành hạnh mãn, thiền sư thị tịch giờ Dậu, ngày 13 tháng 5 năm Mậu Tý (1768), thọ 75 tuổi. Theo lời dặn dò của sư, đệ tử để trong ba ngày, sau đó trà tỳ thu xá lị dựng tháp Thời Vũ phía nam chùa, hương hỏa phụng thờ. Theo Thiền Phong tháp ký cho biết, sau khi làm lễ trà tỳ chia xá lị, những học trò của thiền sư như Hải Thuần, Hải Khâm, Hải Uyển, xin thỉnh một phần đem về chùa Bảo Quang (Bụt Mọc) – Bắc Ninh lập tháp, an lập tên là Thiền phong tháp. Tháp Thiền Phong xây xong vào năm Canh Dần (1770). Tại chùa Trầm hiện nay có một ngọn tháp lưng chừng núi mang tên “Hối Tích Tháp”, chúng tôi cho rằng tháp này được các học trò lập ra để tưởng nhớ công ơn của ngài. 2. Sự Nghiệp văn học của thiền sư Tính Quảng: Hiện nay, tác phẩm của thiền sư Tính Quảng đã được Lê Mạnh Thát trong Tổng Tập Văn Học Phật Giáo, tập 1 cho đưa lên phần dự kiến công bố. Các tác phẩm như sau: - Tam tổ thực lục - Phật quốc ký - Sa di ni học pháp oai nghi quốc âm - Hiến cổ châu Phật tổ nghi - Văn bia và một số bài tựa[19] Nhìn vào danh sách do Lê Mạnh Thát dẫn ra vẫn còn thiếu mấy tác phẩm. Trong quá trình tìm đọc, sưu tầm các tư liệu hán nôm, chúng tôi được tiếp xúc một số tác phẩm của các thiền sư Việt Nam, trong đó xuất hiện nhiều tác phẩm của thiền sư Tính Quảng. Trong một chuyến điền dã tại chùa Khê Hồi, chúng tôi phát hiện trong chùa còn lưu trữ một tủ ván khắc. Được sự cho phép của nhà chùa, chúng tôi bắt đầu phân loại bản gỗ và nhận thấy có một số bộ ván có giá trị. Phát hiện được một tấm có đề Thiện Tài Nam Tuần Ngũ Thập Tam Tham Khúc Dụng Quốc Ngữ trên gáy ván đề Nam tuần quốc ngữ khúc. Các bản ván này nằm trong bộ ván Văn Thù chỉ nam đồ tán. Khi cho in dập, mới nhận ra bản Nam tuần quốc ngữ khúc chính là bản dịch lại sách Văn thù chỉ nam đồ tán. Qua khảo sát bài tựa, chúng tôi mới biết đây là bản dịch theo thể thơ song thất lục bát của Thiền sư Tính Quảng. Tác phẩm chiếm 7 tờ và 1 tờ bài tựa. Bài tựa cho biết thiền sư Tính Quảng ủy thác cho Thanh Lương sa môn Hải Tràng Thích Ẩn Ẩn viện Pháp Đăng, chùa Bảo Khánh, xã Quảng Bố, huyện Lương Tài đứng in. Văn bản không ghi lại năm in sách. Theo văn bia Trùng tu công đức bi ký cho biết năm Giáp Thân (1824) thiền sư Từ Hòa Chiếu Thường (1765-1840) cho san khắc các kinh sách như Truy Môn Cảnh Huấn, Minh Ty Tướng Công, Văn Thù Chỉ Nam, Tây Phương Công Cứ. Bộ ván này được chùa Khê Hồi khắc lại vào năm 1824, nhưng hiện chưa tìm được sách in từ bộ ván. Phật Quốc Ký Truyện in năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780) do đệ tử Hải Soạn Thích Thời Thời trùng san, Hải Khâm Thích Thân Thân viết tựa, thiền sư Hải Luật Vô Biệt đính chính nhuận văn, thiền sư Hải Hựu chùa Pháp Ấn viết chữ khắc in, ván giữ tại chùa Thiên Ân, Phúc Lai. Theo tờ 1a cho biết tác phẩm được thiền sư Tính Quảng phiên quốc âm ngày 23 tháng 3 năm Canh Ngọ (1750). Bản của chúng tôi thiếu mất mấy tờ bài tựa, chỉ còn lại tờ cuối, phần nội dung chiếm 53 tờ, trong đó có một trang cuối là phụ bạt do chính sư viết. Phần cuối gồm 8 tờ ghi lại danh sách thập phương tín cúng. Văn bản này in theo hai loại chữ, chữ nôm được khắc in lớn, chữ hán chú thích được khắc in cở nhỏ. Sau đây, chúng tôi trích một vài câu đầu nói lên duyên khởi như sau: “Cảnh hưng thuở thập nhất niên Quí xuân tiết ấy dịch phiên truyện này Tử Cầm hiệu núi đó nay Thiền Phong là viện bút rày chép biên Thấy trong Phật Quốc Ký truyện Có thầy Pháp Hiển ở miền Trường An Xuân đài Hoằng Thủy nhị niên Vừa năm Kỷ Hợi dân an thái hòa Đâu đâu hưng vượng thiền gia Thiên trường địa cửu âu ca vui vầy” Sa Di Ni Học Pháp oai Nghi Quốc Âm được in trong Hành Trì Tập Yếu Chư Nghi, chùa Yên Ninh tàng bản. Văn bản này được lưu thông rộng rãi tại các chùa thuộc đồng bằng bắc bộ. Viện nghiên cứu hán nôm còn lưu trữ một tập văn bản bao gồm một số tác phẩm như Phật thuyết nhân quả bản hạnh, Tây phương tịnh độ ca, Ni bát kính pháp phương ngôn, Đạt na thái tử hạnh, Lí sự dung thông, giới thần bản hạnh (kí hiệu AB. 177). Hầu hết tác phẩm của các tác giả người Việt. Trong đó, Ni bát kính pháp phương ngôn của thiền sư Tính Quảng được khắc in năm Gia Long thứ 3 (1804). Cuối bài tựa, sau lạc khoản niên đại có ghi rõ: “Long Châu am Hối Tích sa môn Tính Quảng Điều Điều soạn”. Bản in gồm 5 tờ, một tờ bài tựa, 3 tờ mang nội dung chính và một tờ in phụ thêm bài Cổ đức khuyến niệm phật kệ phương ngôn của thiền sư Tính Quảng. Hai tác phẩm nôm Sa di ni học pháp oai nghi quốc âm và Ni bát kính pháp phương ngôn là hai tư liệu học tập dùng cho ni giới mới đầu Phật xuất gia. Trong bài Lược dẫn bát kính pháp tự cho biết: “Nay ta thấy đất này phần nhiều người nữ xuất gia nên lấy pháp đó thuật làm phương ngôn (chữ nôm)”. Như thế, có thể thiền sư Tính Quảng có khá nhiều những học ni đến tham học nhân đó, sư mới dịch các tư liệu này ra chữ nôm cho dễ học tập. Tam Tổ Thực Lục hiện nay được lưu trữ tại Viện nghiên cứu hán nôm, kí hiệu A. 786 đã bị rách phần cuối các trang ở bài tựa. Chúng tôi còn tìm thấy một bản nữa tại chùa Hói - Hải Dương còn nguyên được đóng với Thiền Uyển Tập Anh, cũng in vào thời Lê trung hưng. Sách được sa di Hải Sung (海充)[20] trụ trì Bổ Đà mộ duyên trùng san khắc in năm Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 (1765), bản lưu tại chùa Lân Động, núi Yên Tử. Theo bài tựa sách Tam tổ thực lục chép: “May còn bản cũ Thánh đăng lục trích ra cùng lược sao bia cổ chùa Hương Hải, phía sau in phụ Thiền đạo yếu học để tiện quan lãm, cho đến Trúc Lâm Tự Tổ Bản Hạnh biên tập thành một sách, đầu cuối ngôn ngữ chu toàn vậy”[21]. Qua bài tựa và sự kiểm chứng của các nhà nghiên cứu cho thấy sư Tính Quảng lấy truyện vua Trần Nhân Tông trong sách Thánh Đăng lục làm truyện đầu, sau đó lược sao bia chùa Hương Hải tức chép truyện thiền sư Pháp Loa rồi in thêm Thiền đạo yếu học, phần truyện tổ Huyền Quang thì lấy tư liệu Trúc Lâm tự tổ bản hạnh. Góp ba phần truyện đó trở thành một tập sách biệt lập là Tam Tổ thực lục. Thực ra, đây là công việc vừa biên tập vừa bảo tồn thư tịch cổ thời Lý Trần của thiền sư Tính Quảng. Bản Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi, in năm Quang Trung 5 (1792), ván khắc được bảo tồn tại chùa Dâu, đã được công bố trong Di Văn Chùa Dâu[22]. Thiền sư soạn lại Cúng Đông Đô thủy tổ khoa tức khoa cúng cho thiền sư Chuyết Công. Văn bản được đóng thành một tập, bao gồm một số khoa cúng tổ, thứ tự như sau: “Tiêu sơn Thiên Tâm cúng tổ khoa, Cúng Đông Đô thủy tổ khoa, Cúng tổ khoa (Đại Tráng thủy tổ), Cúng Linh sơn Đại Tráng tổ khoa, Phương tiện cúng tổ sư khoa, Cúng gia tiên khoa”. Như thế, có tất cả 6 khoa cúng, bao gồm khoa cúng tổ chùa Tiêu, khoa cúng tổ chùa Phật Tích, 2 khoa cúng tổ chùa Linh Sơn-Đại Tráng tức cúng thiền sư Tịch Mẫn, Đạo Thuận, còn hai khoa cúng tiếp chỉ thông dụng trong các chùa. Cúng Đông Đô Thủy tổ khoa được soạn năm Cảnh Hưng Giáp Thân (1764) do lời mời của hòa thượng chùa Kim Liên, huyện Thọ Xương nên sư chấp bút soạn khoa. Không biết vì lí do gì mà khoa cúng này lại xuất hiện tại chùa Tiêu? Như thế, thiền sư Tính Quảng để lại 7 tác phẩm được viết bằng hai ngôn ngữ Hán và Nôm như sau: 1. Phật quốc ký truyện 2. Nam tuần quốc ngữ khúc 3. Sa di ni học pháp oai nghi quốc ngữ 4. Ni bát kính pháp phương ngôn 5. Tam tổ thực lục 6. Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi 7. Cúng Đông Đô thủy tổ khoa Trong khi đó, tại một số tủ sách các chùa còn tìm thấy một số bài tựa, dẫn được in trong các kinh sách Phật Giáo. Chúng tôi thống kê như sau: 1. Trùng Tuyên Lăng Nghiêm Chính Mạch tự viết năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1738). Chùa Bổ Đà tàng ván, khắc in lại năm 2. Trùng Tuyên Thánh Đăng Ngữ Lục tự viết năm Cảnh Hưng 21 (1750). Bản lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A. 2569. 3. Trùng Tuyên Hộ pháp luận Tự Dẫn viết năm Cảnh Hưng 15 (1754). Chùa Đọi tàng ván, bản in lại năm Tự Đức thứ 11. 4. Chư Kinh Nhật Dụng Tự viết năm Cảnh Hưng 26 (1765) tại viện Thời Vũ, chùa Phúc Lai. Bản lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu AC. 313. 5. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Phẩm Tiết viết năm Cảnh Hưng 29 (1768) tại viện Thời Vũ, chùa Phúc Lai. Bản in lại vào năm Bảo Đại thứ 2, chùa Đa Bảo tàng bản. Tại một số chùa thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng còn bảo lưu nhiều văn bia do thiền sư soạn. Một số văn bia hiện mất, may nhờ Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp dập trước năm 1945 nên chúng tôi sử dụng thác bản này. Các bài văn bia được chúng tôi thống kê dưới đây: 1. Qui Tông Tháp viết năm Vĩnh Khánh thứ 1 (1730) tại chùa Diên Phúc. Thác bản Viện nghiên cứu Hán Nôm. 2. Dương Nham động tân tạo Đại Quán Âm Bồ Tát tứ thập nhị tý khắc thạch ký tịnh tự viết năm Long Đức thứ 2 (1733) tại chùa Diên Phúc, xã Phí Gia. Thác bản Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu 4097. 3. Trung Đạo Tháp Ký viết năm Vĩnh Hựu thứ 1 (1735) tại chùa Diên Phúc. Văn bia được tạc trên tháp Trung Đạo chùa Đống Cao, Hải Dương. 4. Tâm Hoa Tháp viết năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) tại chùa Diên Phúc. Văn bia được tạc trên tháp Tâm Hoa chùa Bút Tháp. 5. Thừa Bình Tháp Ký Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 17 (1756) tại viện Thiền Phong. Văn bia được đặt trên tháp Thừa Bình, chùa Dâu, Bắc Ninh. 6. Tịnh Hạnh Tháp Ký Thật Lục Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 18 (1757). Văn bia được tạc trên tháp Tịnh Hạnh chùa Muống, Hải Dương. 7. Liên Phương Tháp Ký viết năm Cảnh Hưng 18 (1757). Văn bia được tạc trên tháp Liên Phương chùa Muống, Hải Dương. 8. Quang Thông Tháp Ký Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 19 (1758) tại viện Thiền Phong. Văn bia được đặt trên tháp Quang Thông, chùa Bảo Khánh, Bắc Ninh. 9. Thắng Quả Tháp Ký Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 21 (1760) tại viện Thiền Phong. Thác bản Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu 7936. 10. Lãm Sơn Bảo Quang Tự Báo Ân Tháp Ký Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 34 (1773) tại viện Thiền Phong. Văn bia tại chùa Bụt Mọc, Bắc Ninh. 11. Hậu Phật Tự Ký viết năm Cảnh Hưng 38 (1777) tại chùa Thiên Ân. Thác bản Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu 4437. 12. Hậu Phật bi ký / Lưu truyền vạn đại được tạc vào đá năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793), tại chùa Bảo Khánh, xã Quảng thọ, huyện Lương Tài, Bắc Ninh. Thác bản viện nghiên cứu hán nôm, kí hiệu 6356, 6357 13. Linh Quang tháp minh lập năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753). Văn bia tạc trên thân tháp Linh Quang, chùa Miểu, Hải Phòng 14. Diên Quang tháp ký tịnh minh lập năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763). Văn bia đặt trên thân tháp Diên Quang, chùa Miểu, Hải Phòng. Như thế, chúng ta chỉ mới sưu tầm được 5 bài tựa, lời dẫn trong các kinh sách và 14 văn bia. Đây là một tư liệu quí có nhiều giá trị văn học, sử học. Thông qua các bài tựa, chúng ta có thể biết được công việc khắc in các kinh sách. Điểm nổi bật là thiền sư ghi lại xuất xứ các văn bản, tìm ra một bản tốt để sử dụng trong công việc khắc ván. Thiền sư viết nhiều bài ký, minh được khắc trên bia đá, nhiều văn bia được tạc trên các ngôi tháp đá ghi lại hành trạng các vị thiền sư đương thời. Nếu đem so sánh với công trình Kế Đăng Lục của thiền sư Như Sơn, phương pháp ghi chép hành trạng của ngài có phần tiến bộ, nhất là ghi rõ hành trạng từng vị. Sau phần nội dung, Tính Quảng còn viết một bài minh ca ngợi công đức của các bậc đại sư. Bài minh này tóm tắt lại tiểu sử mà ông đã đề cập trước đó. Một phần không thể thiếu đối với hành trạng là ghi lại mục Truyền Đăng Lục, tức ghi chép nguồn gốc tông môn, cùng danh sách đồ đệ và người người kế đăng. Điều đó, giúp cho các nhà nghiên cứu thiền tông Việt Nam có điều kiện viết lại phổ hệ truyền thừa cùng sự hiểu biết chi phái trong thiền tông. Ngoài sự nghiệp văn học, thiền sư Tính Quảng còn đứng in một số kinh sách như Hộ Pháp Luận, Thủy Sám Bị Giản, Kim Cương Quyết Nghi, Bát Nhã Trực Thuyết, Pháp Hoa Phẩm Tiết, Chư kinh nhật tụng. Hiện nay, tại thư viện Hán Nôm còn có các bản in như Pháp Hoa phẩm tiết, Hộ Pháp Luận[23], Lăng Nghiêm Chính Mạch, Chư kinh nhật tụng. Khi thiền sư Như Văn viên tịch, ngài cùng đồng đạo đứng in Duy ma Cật sở thuyết kinh để truy tiến cho bản sư. 3. Thiền sư Tính Quảng và truyền thừa tông Lâm Tế Theo Thực Lục ghi chép tông phái thiền sư kế đăng như sau: “Thủy tổ Viên Văn Chuyết Công Hòa Thượng truyền Minh Lương Mãn Giác Hòa Thượng; truyền Chân Hiền Liễu Nhất Hòa Thượng truyền Như Văn tăng phó sa môn; truyền Tính Quảng Hối Tích sa môn truyền đến các pháp tự”[24]. Đây là một chi của thiền phái Lâm Tế miền Bắc. Theo thiền sử cho biết thiền sư Chuyết Công Viên Văn (1590-1644) người Trung Quốc sang hành đạo tại Đại Việt. Lúc đầu, sư dừng chân tại Đàng Trong, sau theo sự thỉnh mời, thiền sư tiếp bước vân du ra Đàng Ngoài, trú lại thành Thăng Long, rồi phục hưng chùa Phật Tích, xây dựng chùa Bút Tháp. Lấy hai đạo tràng Phật Tích và Bút Tháp làm trung tâm điểm, thiền phái Chuyết Công bắt đầu truyền xuống Tứ trấn. Chuyết Công có vị đệ tử là thiền sư Minh Lương, trụ trì chùa Vĩnh Phúc trên núi Phù Lãng. Nhánh phái của thiền sư Minh Lương phát triển mạnh. Từ Phù Lãng, hai thiền sư Chân Nguyên, Chân Hiền kế nghiệp trụ trì Long Động, Hoa Yên thuộc núi Yên tử. Hai vị sư này hòa nhập phái mình với thiền phái Trúc Lâm, tạo nên một phái mà phần cuối sách Tam tổ thực lục ghi là phái Trúc Lâm Lâm Tế[25]. Tại Hoa Yên, thiền sư Như Văn(1655-1724), đệ tử của thiền sư Chân Hiền đã nhận trụ trì chùa Muống, Hải Dương. Tại đây, sư ra sức xây dựng đạo tràng, vân tập đồ chúng. Chính thiền sư Tính Quảng từ Bắc Ninh xuống đây thụ học. Theo Phúc Điền trong Thiền môn tu trì kinh chú luật nghi phần Chư tổ kế đăng cho biết sư Tính Quảng sau khi về Tử Trầm, định cư tu tập đã mở đạo tràng thu nhận đồ chúng giảng dạy Phật Pháp. Nhiều thiền sư đã đến tham học, sau đi các nơi hành đạo, tạo nên một một chi phái mới, gọi là phái Cầm Sơn. Theo Thực Lục, mục Tự Pháp Đệ Tử ghi lại đệ tử xuất gia như sau tỳ kheo Hải Soạn, Hải Phạn, Hải Thắng, Hải Dật, Hải Trí, Hải Hồng, Hải Từ, Hải Trình, Hải Tràng, Hải Luật, Hải Thiếp, Hải Thiện, Hải Bật, Hải Thân…Tiêu biểu có thiền sư Hải Soạn kế đăng trụ trì chùa Phúc Lai, thiền sư Hải Luật Thích Cục Cục trụ trì chùa Khánh Quang. Thiền sư Hải Khâm Thích Thân Thân ở am Thụ Thụ chùa Bảo Quang, sau đó lập viện Hội Ninh, chùa Linh Quang thôn Phú Mẫn, huyện Yên Phong, tạo nên một sơn môn. Thiền sư Hải Bật (1716-1796) trụ trì chùa Càn An-Nam Đồng, Hà Nội. Thiền sư Hải Dật trụ trì chùa Long Động. Thiền sư Hải Uyển Thích Sâm Sâm kế đăng viện Thiền Phong, sau về trụ trì chùa Sùng Ân. Thiền sư Thanh Lương Hải Tràng Thích Ẩn Ẩn ở viện Pháp Đăng, chùa Bảo Khánh, xã Hạo Bá, huyện Lương Tài, Kinh Bắc. Theo Phúc Điền, phái Cầm sơn có bốn chi. Một chi ở chùa Muống, chùa Khánh Quang phát triển thành sơn môn Muống. Một chi ở chùa Càn An, Hà Nội, truyền thừa được mấy đời từ Thiền sư Hải Bật, Tịch Nghiêm, Chiếu Kiên, Phổ Triện. Chi thứ ba phát triển ở chùa Linh Quang, lập viện Hội Ninh nối kết với phái chùa Bụt Mọc, Bắc Ninh. Chi thứ tư phát triển ở chùa Vân Giá, Sơn Tây do thiền sư Hải Uyển khai sáng. Trong bốn chi đó, pháp phái chùa Muống phát triển mạnh cho đến bây giờ. Qua hành trạng cũng như sự nghiệp thiền sư Tính Quảng, chúng ta được biết thêm một tác gia văn học Phật Giáo Việt Nam thời hậu Lê. Thiền sư Tính Quảng để lại nhiều tác phẩm có giá trị văn học bằng chữ nôm như Phật Quốc Ký truyện, Nam tuần quốc ngữ khúc. Có công bảo tồn tư liệu Phật Giáo thời Trần như Tam tổ thực lục, Thánh đăng ngữ lục. Các văn bia do ngài soạn một giá trị sử học nhất định. Thông qua các bài tựa, dẫn, chúng ta có thể đánh giá cách làm trong công việc in ấn thuở xưa. Không chỉ thế, thiền sư còn thu nhận đồ chúng, đào tạo nhân tài góp phần vào sự phát triển của Phật Giáo thời cuối Lê.

ý nghĩa ba cái lạy trong PG

ý nghĩa ba cái lạy trong Phật giáo Lạy hay còn gọi là Lễ Bái, là nghi thức rất phổ thông trong dân gian, mang ý nghĩa bày tỏ lòng biết ơn và niềm tôn kính đến với các đấng thần linh, các bậc tiên hiền có công khai phá giang sơn, bảo vệ sơn hà xã tắc, và tổ tiên dòng họ tiếp nối. Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hoá Trung Hoa, nên việc lễ lạy, từ hình thức đến nội dung, từ lễ tổ tiên ông bà ở nhà cho đến lễ lạy Trời, Phật, Thánh, Thần ở đình, chùa, lăng, miếu cũng đều bị ảnh hưởng theo. Hầu hết các tôn giáo đều có lễ lạy nhưng với nghi thức và ý nghĩa khác nhau. Với Phật Giáo, ý nghĩa và cách thức lễ lạy khác với các đạo giáo khác. Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ. Tại xứ này ngày xưa, dân chúng thường bày tỏ lòng tôn kính chân thành đến một người nào đó họ ngưỡng mộ kính mến bằng cách quỳ xuống sát đất, đặt trán mình lên chân của vị ấy. Đức Phật là vị Đạo Sư, là bậc giác ngộ được tôn kính đặc biệt tại xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Lúc đức Phật còn tại thế, mỗi lần nghe pháp hay thưa thỉnh việc gì, chư Tăng thường chắp tay lạy ba lạy rồi thưa hỏi hay ngồi nghe pháp. Đức Phật mặc nhiên chấp nhận cung cách này như là một tục lệ có từ lâu đời của xã hội Ấn Độ. Tuy vậy Ngài cũng không đặt thành nghi thức lễ lạy mà để tùy tâm các đệ tử. Sau khi Phật Niết Bàn, hình thức lễ nghi và sự tôn kính ấy vẫn được duy trì trong các hàng đệ tử của Ngài. Sự duy trì hình thức ấy với mục đích là luôn luôn xem đức Phật như còn tại thế. Chư Tăng mỗi khi tụng kinh ôn lại lời Ngài dạy, phải mặc áo cà sa tức áo mầu hoại sắc trang nghiêm, lạy Phật ba lạy. Hàng đệ tử tại gia cũng theo quý chư Tăng lạy Phật như thế. Tại sao lại lạy ba lạy mà không lạy hai lạy, bốn lạy hay năm lạy? Ba lạy chính là lễ lạy ba ngôi quý báu tức Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Người đời thường xem vàng, bạc, kim cương, hột xoàn, dollars, và danh lợi thế gian là quý báu. Nhưng thực tế cho biết những thứ này không đem lại hạnh phúc chơn thực, không cứu được con người thoát khỏi sinh lão bệnh tử. Nhưng với ba ngôi quý báu Tam Bảo: Phật, Pháp, và Tăng có năng lực dẫn dắt con người thoát khỏi mọi phiền não và ra khỏi sinh tử luân hồi. Phật là Giác, là thức tỉnh ra khỏi giấc ngủ mê. Đức Phật là người đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Ngài là một bậc đạo sư, một người chỉ lối dẫn đường cho mọi chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy đầu tiên là để tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ và nhớ ơn Phật, cùng là thề nguyện sẽ theo gương Ngài mà tu hành để về bến giác. Pháp là những lời Phật dạy các đệ tử, sau đó được ghi bằng chữ, gọi là Kinh và Luật. Còn Luận là những lời bàn luận của các vị Bồ tát, đệ tử của Phật để làm sáng tỏ thêm những lời Phật dạy. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy thứ hai là lạy Pháp bảo nhằm bày tỏ lòng thành kính, biết ơn và tưởng nhớ đến những lời dạy của Phật, những lời dạy mà, nếu chúng ta thực hành sẽ có công năng đưa chúng ta qua khỏi bể khổ, đến bến bờ giải thoát. Tăng là một đoàn thể sống chung với nhau ít nhất là bốn người, bỏ nhà xuất gia đi tu, giữ đầy đủ giới luật của Phật đặt ra, với mục đích tu hành giải thoát cho mình và cho tất cả chúng sinh. Vì thế cái lạy thứ ba là lạy Tăng Bảo, từ các vị Thánh Tăng xuất thế đến các vị Tỳ Kheo trụ thế tu hành chân chính, đạo đức trong sạch, và giới luật trang nghiêm, để tỏ lòng thành kính và biết ơn những vị này đã sống đời sống lý tưởng, đã hy sinh gia đình tiền của và danh vọng, đã xem tiền bạc châu báu như rắn độc, danh lợi như đôi dép rách, sắc đẹp như cạm bẫy, ăn ngon mặc đẹp như xiềng xích trói buộc, để tình nguyện thay Phật dẫn dắt chúng sinh trên đường đạo. Ngoài ý nghĩa lễ lạy Phật, Pháp và Tăng nêu trên, ba cái lạy cũng còn mang ý nghĩa lễ lạy ba ngôi qúy báu bên trong chúng ta và trong mỗi chúng sinh, vì chúng sinh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt (Phật tánh), đồng một pháp tánh từ bi và bình đẳng (Pháp tánh), và đồng một đức tánh thanh tịnh, hòa hợp (Thanh tịnh tánh). Về cung cách lạy cũng có nhiều thứ. Người Ấn Độ cũng như Trung Hoa có nhiều cách lễ lạy khác nhau. Riêng Phật giáo Việt Nam thường lạy theo phương cách "Ngũ thể đầu địa", tức là làm thế nào cho hai tay, hai chân và cái đầu đụng mặt đất. Đây là một phương cách lạy tôn kính nhất trong tất cả các cung cách lễ lạy. Khi lễ lạy, người Phật tử đứng ngay thẳng, hai chân khép sát vào nhau, hai bàn tay chắp sát lại nhau cho khít theo thế hiệp chưởng (không phải thế hình búp sen) tiêu biểu cho sự nhất tâm. Khi lạy Phật có người để hai tay trước ngực lạy xuống. Cũng có người đưa hai tay lên trán rồi mới lạy xuống theo phương cách ngũ thể đầu địa, tức là khi lạy phải quỳ xuống, ngửa hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cúi lưng xuống đặt trán mình lên trên hai lòng bàn tay. Đối với phụ nữ, thường là quì thẳng lưng rồi lạy, chứ không đứng, vì hình thể đặc biệt của phụ nữ, khác với nam giới nên thế đứng thẳng trông hơi lộ liễu. Trong đạo Phật bao giờ sự và lý cũng phải viên dung. Về sự thì như trên chúng tôi đã trình bày. Chúng ta lạy Tam Bảo với tất cả thân tâm thành kính nhớ ơn, thành kính nhớ ơn Phật, thành kính nhớ ơn Pháp, và thành kính nhớ ơn Tăng. Thế còn cái tâm của chúng ta trong khi lạy phải như thế nào? Nghĩ ngợi gì? Tưởng nhớ đến ai, đến cảnh gì, vật gì? Hay là để tâm không nghĩ ngợi, không cầu mong điều gì? Để trả lời câu hỏi này, thiết tưởng chúng ta hãy nhớ lại bài kệ "Quán Tưởng" mà chúng ta thường tụng trước khi đảnh lễ: Năng lễ, sở lễ tánh không tịch, Cảm ứng đạo giao nan tư nghì, Ngã thử đạo tràng như Đế Châu, Thập phương chư Phật ảnh hiện trung, Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền, Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ. Đã được dịch ra là: Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng, Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn, Lưới đế châu ví đạo tràng, Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời, Trước bảo tọa thân con ảnh hiện, Cúi đầu xin thề nguyện quy y. Như thế thì bản chất Phật và chúng sinh vốn là "không tịch" lặng lẽ, tạm gọi là chân tâm. Chỉ từ khi bắt đầu khởi niệm, là bắt đầu bị cuốn vào dòng vô minh, rồi thức mới hoạt động, mới suy nghĩ, mới phân biệt ra cái "ta" (năng) và cái "không phải ta" (sở), mới nảy sinh ra tình cảm yêu ghét, tạo nghiệp, trả quả, xoay chuyển trong vòng sinh tử không thấy đường ra. Phật thương xót chúng sinh mê muội "... trong trí bồ đề mà không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc..." (Lời sám hối), mới dậy cho chúng sinh tu hành để chấm dứt cái vòng luẩn quẩn đó bằng cách trì giới, tham thiền, niệm Phật, trì chú, mục tiêu đều để giảm bớt sự hoành hành của con vượn tâm, con ngựa ý, giảm bớt những thói quen chấp trước, phân biệt, yêu ghét, từ từ đi tới định tâm. Khi tâm đã "định" thì trí huệ bát nhã mới có dịp hiển lộ, mới được hưởng mùi vị cam lồ của Phật Pháp. Đó là điểm đặc biệt của đạo Phật. Nếu chỉ dậy con người ăn hiền ở lành thì nhiều tôn giáo khác đã làm, đức Phật thị hiện ra đời là dư, không có gì đặc biệt đáng được tôn là Đấng Đại Giác. Chính là vì Ngài đã "nhận" được cái tánh "không tịch" và tự mình dẫn đường cho chúng sinh trong suốt 49 năm, còn để lại kinh sách làm bản đồ cho đời sau nương theo tu tập mà trở lại được cái tánh "không tịch" ấy. Kẻ nội thù dìm ta trong dòng vô minh chính là cái tâm sinh diệt suy nghĩ liên miên này. Cho nên nếu muốn báo đền ơn Phật, vâng lời Phật thì ít nhất là trong khi lễ lạy phải tuân theo lời Phật dạy, không suy nghĩ gì cả, chỉ theo dõi hành động mà thôi, lễ xuống thì chỉ biết là lễ xuống, đứng lên thì chỉ biết là đứng lên, chắp tay thì chỉ biết là chắp tay, v..v... không có nghĩ đến bất cứ ai, không tưởng nhớ đến bất cứ cái gì. Hễ một niệm tưởng dấy lên là ô nhiễm rồi, là hết "không tịch" rồi, là từ "nhất niệm vô minh" trôi lăn vào dòng vô minh miên viễn rồi. Nói tóm lại, "Năng lễ, sở lễ tánh không tịch", nghĩa là người lạy và đấng mình lạy, thể tánh đều vắng lặng bình đẳng. Thật tướng vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng, không phân biệt, không thấy có mình lạy và người để cho mình lạy. Nếu khi lạy mà tâm còn vướng mắc một chút xíu mong cầu, hay một chút tơ tưởng đến dòng họ tổ tiên, dù mỏng như một sợi tơ cũng không đúng phép. Tâm phải ở trạng thái thanh tịnh vắng lặng. Phật giáo Việt Nam đã thực hiện phép lý lạy này từ ngàn xưa, thiết tưởng không có phép nào đầy đủ ý nghĩa và hợp với lý Bát Nhã hơn.

tập thơ

Tập thơ BỤI HỒNG ________________________________________ 01-Lời mở 02-Bụi hồng 03-Không thời 04-Chưa lìa bước chân 05-Quên lối về !? 06-Một vòng tay 07-Chấp nhận 08-Giấc mộng 09-Mấy lần đau? 10-Vô tận thường không 11-Ráng hồng 12-Nhặt ánh trăng 13-Giọt nước 14-Một nụ cười 15-Giọt nắng 16-Sang trang 17-Chiều quê 18-Một chút hương 19-Làn gió 20-Đến và đi 21-Đơn Hà đốt tượng 22-Đức Sơn đốt kinh 23-Đức Sơn vung gậy 24-Tiếng hét của Lâm Tế 25-Bùng vỡ 26-Mây bay 27-Tịch liêu 28-Lời đầu tiên 29-Tái sinh 30-Vòng tròn Mã Tổ 31-Trước sau đâu rồi 32-Dụng tâm 33-Trở về 34-Hỏi đáp 35-Trò đùa 36-Niêm hoa 1 37-Niêm hoa 2 38-Chưa quen 39-Hiện sinh 40-Để lại luân hồi 41-Nhớ Hà Nội 42-Nhớ cố hương 43-Sư về muộn 44-Sương ứa lệ 45-Theo dấu chim bay 46-Thở dài đều hơi 47-Không đề 48-Xin chào tất cả 49-Nguyên xuân 50-Hồi đầu 51-Trăng lên 52-Đi về 01. Lời mở Như giấc mộng, bụi hồng cứ rong chơi mà chưa từng biết mình là thật hay là hư, chỉ biết mình đang hiện hữu như là giấc mộng từ nguồn vô thỉ đến đời vô chung và, chỉ biết nỗi buồn vui qua đi như một giấc mộng. Những chứng tích buồn vui được ghi lại từ những nét chấm phá trong cuộc rong chơi này, qua đó ngôn ngữ được sử dụng như là một vay mượn tạm thời cho những rung động từ trái tim mộng mị, mà thời gian đang giết chết chính nó, từ những đổi thay này qua những thay đổi khác. Ngôn ngữ chính là thời gian và, như vậy ngôn ngữ trở thành một mớ thi ca mâu thuẫn với chính nó. Thi ca là mẹ đẻ của ngôn ngữ, chính vì vậy cho nên tự ngôn ngữ đã mang mần mống mâu thuẫn với thi ca và, thi ca đã mang mần mống mâu thuẫn với chính nó trong cái vô thường, thường xuyên hiện hữu. Mọi vật sẽ trở nên duyên khởi hanh thông từ sự mâu thuẫn nền tảng này, nếu không có nó thì mọi vật sẽ trở nên xơ cứng và bất động. Và như vậy bụi hồng có cơ hội để rong chơi mà không cần biết sự hiện hữu của chính mình là hư hay thật trong cuộc rong chơi này! Việt Nam 2004 Phổ Đồng ________________________________________ 02. Bụi hồng Bụi hồng mang hạt vô biên Từ cha yêu mẹ nỗi niềm gởi trao Nắng vàng nâng cánh phượng chao Hai mươi năm ấy biết bao đổi dời Cha từ cửa khép trang đời Mang đi bụi đỏ nửa đời mẹ đau Hạt buồn héo sắc duyên mau Sầu lên phong kín sắc màu thu sang Cha còn thử chuyện đá vàng Bâng khuâng đời mẹ ngỡ ngàng con đau! 03. Không thời Gió mơn ru giấc ngủ Mây trời vương nắng mai Mộng nào không mộng thật Mây nào không mưa bay? Hiện tại làm sao bắt Quá khứ vô thường không Tương lai huyễn tưởng mộng Bây giờ mới từng giây Ai vượt qua thói quen Ai thoát nhanh tập quán Người nắm giữ hiện tiền Từng sát-na hợp biến Từng hơi thở nhiệm màu An lành đang hiện hữu Tủng tiểm miệng cười tươi Xuân đến trong khóe mắt Xuân đi trong nụ cười Mặc cho việc lui tới . 04. Chưa lìa bước chân Mưa giăng rợp bóng chân thường Chiều nghiêng nắng sớm vô thường cánh chim Mình về nghe máu về tim Cưu mang huyễn tượng đắm chìm hồng hoang Ra đi tái hẹn bồi hoàn Phía sau mất dấu bàn hoàn bước chân Người về cho gởi bước chân Bước lui bước tới bước chân chưa rời. 05. Quên lối về !? Ta từ hạt bụi rong chơi Lang thang khắp chốn luân hồi bước chân Ra đi sớm nắng phù vân Tối về hạt nặng sương ngàn trùng khơi Mỏi mòn hạt bụi bên trời Nhịp chân giong ruổi gót bời dặm xa Bóng đời mấy dạo sương sa Buồn vui mắt gợn bóng tà huy rung Ra đi là biết nghìn trùng Lối về bỏ ngõ như chừng mất tăm Quê nhà giở một nấc chân Vì ham chơi quá nên quên lối về!? 06. Một vòng tay Tự tại hỡi! hãy chờ ta một chút Vội vàng chi ta dọn dẹp tự do Đã đến lúc chuyện đời rơi hun hút Nắng vàng hong sương nặng hạt nào ngờ Ta hít thở với hương ngàn gió mới Chạm từng giây như chợt sống bây giờ Sông chia cách một lần thôi nắng đợi Nước xa nguồn như vĩnh viễn cội mơ Ta tự hỏi thời gian thành con rối Ngày qua rồi sao cắt nghĩa hôm nay Mai mốt đó chưa bao giờ lầm lỗi Có hay không như giấc mộng đêm ngày Ta tự nhủ cuộc sống giờ bằng phẳng Từ bắt đầu và chung cuộc nơi đây Bờ cõi đó nghìn thu rơi lẳng lặng Ta trần truồng ôm trọn một vòng tay. 07. Chấp nhận Ta hít thở, cõi thiên thu phía trước Và phía sau, nhịp đập tới hồng hoang Com bướm nhỏ, quạt cánh mền từng bước Dội hư vô, nghe sóng dậy trong lòng Ngày mới mở, đang từng giây phút sáng Tháng năm rồi, thôi có nghĩa gì đâu Người huyễn tưởng, đôi mép bờ xa cuối Nào ngờ đâu, chỉ chớp nhoáng ban đầu Điếm từng phút, qua từng giây mới lạ Ngạc nhiên đầu, cũng là ngạc nhiên sau Vì biến dịch, nên vô thường sắc lá Cho tim ta, luôn mới nhận sắc màu Sống hay chết, không có gì phải bận Khổ hay vui, một thoáng hiện qua thôi Vì duyên sống, không gì không chấp nhận Nên rốt cùng, tự tại hiện trong ta. 08. Giấc mộng Khi sắc lá, đang cuốn tròn thơ ấu Là bắt đầu, nắng giã biệt trên cây Đất khẻ gọi, bốn mùa sương xuống đậu Trắng đôi tay, đang thể hiện từng ngày Còn ôm giữ, là đất trời dội ngược Cách ngăn nhau, chỉ tại một đường tơ Thôi mặc kệ, cho cuộc đời xuôi ngược Lá vẫn xanh, là thể hiện giấc mơ Sáng hôm nay, hoa nở tròn cánh mộng Một bông hoa, rơi rụng nhựa về mau Cho đất khô, đâm mấy chồi nhú mộng Cả nghìn thu, về phối hợp ngàn sau Ta hiện hữu, như con tằm ươm kén Đủ sắc màu, là thành hoại trong nhau Giây phút đó, chợt hiện về ca múa Ồ đây rồi, giấc mộng với nghìn năm. 09. Mấy lần đau? Từ âm vọng, của nguồn xưa muôn thuở Hạt bụi này, lăn lóc mấy lần đau? Đi và đến, chưa một lần thấy cũ Môi hồng loan, ánh hiện bóng chiều xiêu Ta tan rã, như tuyết mùa bão nỗi, Lại biến thành, làn khói mỏng mong manh Lưu lạc mãi, tuổi đời đau canh cánh Chuyện qua đi, chuyện ngày cũ đâu rồi? Hoàng hôn xuống, bình minh nào níu được Bến trăng ngàn không chở nổi sao băng Lời hẹn ước, ta đành mang rao bán Đổi tóc màu, kéo lại bước thời gian? Đời lỡ hẹn, nay thôi đành câm nín Ở nơi này, và tất cả mai sau Giờ chấp nhận như trái sầu bọng chín Đủ sắc màu và đủ cả vui đau! 10. Vô tận thường không Chia xa lá động mơ hồ Thuyền thôi neo bến cột trơ dáng buồn Trăm năm thành bại vui buồn Nghìn năm mưa gió xô nguồn tịch liêu Ngày tàn bóng hiện đìu hiu Thoảng trong nỗi nhớ thiên thu phận mình. Ra đi gợi nhớ tự tình Thuyền không bến đậu lênh đênh nẻo về Bơ vơ bến mộng bờ mê Chơi vơi ẩn hiện bốn bề mênh mông Nẻo về vô tận thường không Ta yêu giọt sống vô thường mong manh. 11. Ráng hồng Ta đến từ giấc mộng Mây buồn bay bơ vơ Giọt sương cười nắng vỡ Ra đi về chiêm bao. Ráng mai hồng viễn tượng Vỡ tràn bờ suơng tan Đầu sào trăm thước tiến Bước đầu tiên cuối cùng. Ta quên hắt tư duy Đọng lại giọt sương mờ Trăng nghiêng thềm nắng đổ Chuyện hư thiệt một đời. Rêu xanh mờ nắng đợi Chim trời cắm hạt sương Uống tràn hư không mộng Xa mãi giòng sông xưa. Mây trắng dạt phương nào Giòng sông, sâu biển cả Trôi thây về xứ lạ Mưa tràn kiếp phù sinh? Thắp lên ngọn nến hồng Xua tan bờ ảo vọng Bờ trăng chìm đáy mộng Nắng xế, chiều mông lung. Nhịp cầu sanh qua tử Giòng sông nước cuốn trôi Hai bờ quên nắng vội Thỉ chung mất cội nguồn. Nắng chiều vương nghiêng đổ Bên thềm tóc hong sương Gió lùa từng sợi nhỏ Ráng chiều ánh rừng phong. 12. Nhặt ánh trăng Từ kiếp nào hạt bụi Hoá làm kiếp phong trần Bước đi vương nắng hiện Bụi hồng vướng trăm năm. Nến gầy trang kinh mở Nhạt nhoà chữ run run Bóng Người về lãng đãng Nghìn năm vẫn ung dung. Dưới trăng ngồi đọc kệ Tụng nghìn trang kinh hoa Vọng âm hải triều dậy Biển trầm bọt nước qua. Lữ hành xuôi quán trọ Trăm năm mỏi gót hồng Tàn canh lay đáy mộng Tay dài nhặt ánh trăng. 13. Giọt nước Chiềm sâu trong đáy huyệt Cô liêu một kiếp người Quán trọ cười triêu nguyệt Mùa xuân, sẩy bước chân. Lênh đênh đầu bọt sóng Ta giọt nước mong manh Nghìn năm xưa lấp lánh Vị mặn nào đổi thay. Biển trầm giọt nắng đợi Mưa tràn lũng trời xa Triều dâng chờ nguyệt hạ Đáy lòng biển lặng căm. Bọt sóng phù tang hoá Nước lạnh bờ bến xưa Muôn đời hạt cát mịn Giọt nước cười buồn chưa? 14. Một nụ cười Ngày xưa buồn hiển hiện Kiếp người quá mong manh Nỗi đau lòng canh cánh Thương cho một nụ cười. Hôm nay buồn đi vắng Không nỗi buồn, mênh mông Tràn đầy tâm ảnh hiện Thế giới ngập hoa không. Mai kia buồn lắng đọng Soi rõ bản mặt xưa Một cục thịt au đỏ Máu trào nối đường qua. Thoảng qua từng hơi thở Vào ra một kiếp người Êm đềm như lắng đọng Nhặt hoa miệng mỉm cười. 15. Giọt nắng Ta mang một giọt nắng Nghìn năm đọng hai bờ Sương tan cười mây vỡ Ảnh hiện trăng đáy soi. Dòng sông ánh mây hiện Bồng bềnh lạc xứ xa Ráng chiều nghiêng đổ hạt Rừng sâu mờ núi xa. Chừng ngủ quên giọt nắng Mở mắt gió đông về Mùa xuân hoa chao động Nắng loan rụng bóng chiều. Tường rêu xanh năm cũ Sáng lên một chút buồn Ngày qua lay đầu mộng Mốt mai cuốn xa nguồn. Tàn xuân nghiêng sợi nhớ Nắng ngủ bờ ráng pha Sợi tóc mềm bến đỗ Luân lưu tháng năm gầy. 16. Sang trang Đưa người qua cuộc tử-sanh Biển dâu thành bại hư danh một đời Buông tay giọt nắng bồi hồi Vô thường lay động chơi vơi phận buồn Trăm năm bóng ngã hao mòn Nghìn năm bụi đỏ cuốn nguồn tịch liêu Chim trời cánh mỏi đìu hiu Đường qua mất dấu ảnh chiều hư vô Ráng hồng níu hạt chơ vơ Nằm nghe trăng đổ bên bờ thời gian Mây buồn gió đuổi lang thang Cho ta hỏi thử không gian mấy bờ? Đâu rồi giọt lệ bơ vơ Đâu rồi tiếng nói nguyên sơ nụ cười!? Từ cuối kiếp đến đầu đời Bỗng dưng phút chốc đổi dời sang trang!? 17. Chiều quê Lúa xanh reo nắng đậu Cánh cò mỏi đường qua Lặng lội bờ sương cũ In hình điểm đồng xa. Luỹ tre thềm gió lộng Bóng ngã chiều mông lung Chiều quê êm đềm xuống Mùi lúa thoảng đưa hương. Đất thơm mùi cỏ dại Tanh nồng nước phèn cay Quyện thêm mùi rơm rạ Bức tranh quê hiện bày. Mục đồng lưng trâu cỡi Trâu thong thả đường về Tiếng sáo diều thoang thoảng Gió hiu thổi bốn bề. Chuông chùa buông nhẹ tiếng Lay động bóng chiều qua Đèn nhà ai mới tỏ Giọt nắng vắng bờ xa. 18. Một chút hương Sáng nay sunset nở Hương thầm lay bóng đêm Đọng mãi hương trời cũ Lửng lơ giọt trăng tàn. Người đi mang sợi nắng Làm vỡ cõi hư vô Vầng trăng thương nỗi nhớ Trăng nay lạc nơi nào? Duyên đâu từng nhánh nhỏ Khởi động vô thường lay Ra đi còn đọng lại Chút gì sót trăm năm. Vầng trăng nghìn năm tỏ Ráng gầy qua gió bay Lảng đãng bờ sương đậu Hương lan đọng bên ngày. 19. Làn gió Từ kiếp nào làn gió Lang thang lạc bước chân Ta làm duyên hạt bụi Hai bờ vọng, phù vân. Sát-na từng giây chuyển Vô thường chạm hư không Càn khôn đầu ngọn gió Nhật nguyệt điểm từng không. Nghìn năm thương làn gió Vào ra cõi có không Từ sinh qua tử lại Thở ra vào cộng thông. Gió đông lay tuyết rụng Hoa khai động xuân phong Gió hè du sen nở Lá vàng ánh thu phong. Phù vân hạt bụi nhỏ Giọt nắng gió cỏn con Duyên nhau hiện sinh diệt Nâng niu cuộc sinh tồn. 20. Đến và đi Người mở mắt với hai bàn tay trắng Mồi lợi danh Khêu gợi đến vô cùng Và từ đó những mong cầu tranh thắng Tự biến mình làm con vật thiêu thân. Mùi danh lợi thoảng đưa mời hấp dẫn Tự đốt mình qua vinh nhục buồn vui Cho đến khi người buông xuôi cát bụi Vinh nhục bại thành bỗng hóa hư không! Và tay trắng vẫn hoàn bàn tay trắng Còn lại gì sau đôi mắt khép kia!? Niềm hối tiếc đọc qua bờ thất vọng Ôm nghiệp đời tham đắm hận cuồng đi! Và như thế bao giờ dừng lại được Kiếp luân hồi đan trói khổ đeo theo?! 21. Đơn Hà đốt tượng Tuyết lạnh căm căm phủ đầy trời Chùa sao ngăn nổi suốt một đêm Giờ không phương tiện nào kỳ đặc Phật gỗ trên chùa đốt ấm lên!? (Cổ tự hàn thiên độ nhất tiêu bất cấm phong lãnh tuyết phiêu phiêu hiện vô thiện lợi hà kỳ đặc Đản thủ đường trung mộc Phật thiêu.) 22. Đức Sơn đốt kinh Suốt nửa bình sanh từng cưu mang San định giảng bày lý Kim cang Hừng hực lửa lòng thôi thúc mãi Phương nam hối hả dẹp tà man Đường vô xa vắng Lão bà tiếp Nghẹn họng lối về tâm mất tâm Chợt tỉnh Long Đàm đêm thăm thẳm Kinh xưa còn lại khói phù vân. 23. Đức Sơn vung gậy Chờn vờn phía trước lại phía sau Bên phải chợt vung bên trái đau Ra vào lui tới đều tuyệt lối Nói được hay không cũng như nhau Mục đích dồn người vào hố thẳm Tự do giải quyết vận mệnh mau Vì thương con cháu nên phương tiện Gậy chửa vung ra đã nhiệm màu. 24. Tiếng hét của Lâm Tế Giật mình mộng vỡ tràn lan Khối nghi triền kiếp cưu mang bao giờ? Ô hay sự thể nào ngờ Xưa nay đây đó bây giờ ở đâu? 25. Bùng vỡ Mưa rơi ngoài song cửa Từng hạt rơi tí tách Từng hạt rơi rõ ràng Đập tan trời đất cũ Bùng vỡ tâm hữu vô Mưa rơi từng hạt nhỏ Từng hạt rơi tí tách Từng hạt rơi rõ ràng. 26. Mây bay Chân em trong bước nhỏ Tung tăng rất nhiệm mầu Lên chùa hỏi thăm Phật Chiều nay mây đi đâu? Cuối tường con chim ngủ Giật mình chuông âm vang Ngước lên nhìn sư cụ Bát Nhã chuyển sang ngang “… Thị chư pháp không tướng” bất sanh và bất diệt bất cấu và bất tịnh bất tăng và bất giảm…” Gió lùa tung vạt áo Hương quyện nếp cà sa Sen tàn rơi trong gió Động với chuông ngân nga Sư cụ dừng tay lại Bồ Đề Tát bà ha Đường về tâm vắng lặng Mây trời bay xa xa. 27. Tịch liêu 1.1.98 thăm lại Long Tuờng chùa xưa, sau 35 năm xa cách. Chiều qua bóng rụng xiêu người Nắng reo đồng vọng cợt cười gió mây Nếp xưa ủ bước chân này Rêu phong xanh ngát phủ dày lối qua Chim mừng đồng vẳng hương xưa Ngất ngây lối bước ập lùa về dâng Chùa nghiêng nắng lửng ngập ngừng Tháp xiêu bóng đổ nghe chừng gió lay Bờ tre lá động bay bay Nhớ xưa chuyện cũ những ngày còn thơ Gió đông se cắt sương mờ Chăn không đủ ấm giấc mơ nửa chừng (…) Giờ đây bước động ngập ngừng Người xưa xa vắng như chừng tịch liêu! 28. Lời đầu tiên Tưởng nhớ về Thầy, Người đầu tiên mớn sữa nuôi lớn tuệ mạng cho con. Tre làng rợp bóng bước chân Chùa xưa ấp ủ tâm hồn tuổi thơ Ngày qua ươm hạt mộng chờ Người xưa mớm sữa ấu thơ no lòng ( ...) Dại ghê bứt trộm đòng đòng Ngất say mùi lúa trưa hừng hực tuông Ham vui Theo cánh chuồn chuồn Nắng vang giữa bóng chập chờn hoa rơi Bướm màu sắc đẹp trêu ngươi Phấn hồng vương lại trên đồi búp măng Dế buồn buông tiếng nỉ non Gợi khêu hấp dẫn trận đòn mua vui Vì ham theo bóng nào nguôi Sáo diều lồng lộng bùi ngùi trang kinh! Trận đòn nào khỏi thất kinh? Rồi đâu vào đấy cũng thành khói mây Qua ngày tháng lại thu bay Vong thân đánh mất những ngày nguyên sơ Bây giờ nhìn lại như mơ Hiện tiền đối diện nào ngờ chính tôi Người xưa nay đã đi rồi Như còn hiển hiện trong lời đầu tiên. 29. Tái sinh Trăng xưa rũ bóng hai nghìn Ngữ ngôn rơi rụng bao lần đơm hoa? Trang kinh dưới nguyệt ta đà Ngàn năm vang bóng Người qua trong đời Còn chăng tuế nguyệt đổi dời Tồn sinh hóa diệt bên trời thiên thâu Hắc hiu bờ mộng pha màu Có-không huyễn tưởng bên cầu nguyệt trôi Duyên đầy duyên thiếu hợp vơi Hiện tiền hiện khởi tuyệt vời tính không Giờ còn hiển hiện trang không Đầu tiên ngôn ngữ cuối cùng tái sinh. 30. Vòng tròn Mã Tổ* Lão già nói mộng ra mơ Vòng tròn oan nghiệt chực hờ duyên không Bước vào nỗi hiểm bên trong Không vào sức nặng lại công bên ngoài Ba hèo cửa mở chia hai Vào, không cũng bị tuyệt hai đầu đường Chỉ mành trước gió treo chuông Bên bờ vực thẳm hết đường phân vân! Giờ còn tí tắc lần khân Thì ôi nghìn kiếp xoay vần tử sinh Mau mau giải quyết vận mình Té ra vòng nọ hiệu linh mất rồi Ba hèo gậy đã gãy đôi Hai đường tự tại tuyệt vời lối đi. * Mỗi khi Ngài Mã Tổ Đạo Nhất muốn dạy người thì thường vẽ một vòng tròn, và bảo: “Vào, không vào cũng bị ba hèo.” 31.Trước sau đâu rồi Ngày qua cây hỏi lửa rằng Anh sau tôi trước, sao bằng được anh Khói rằng: nói chuyện vô minh Không tôi hiện hữu sao thành trước sau Cả ba ôm lấy cười nhau Cộng thành đệ nhất trước sau đâu rồi? 32. Dụng tâm Vô thường gió thoảng chao cánh bướm Động cả chân thường cõi tịch không Người ơi! Cảnh động hay tâm động Mà cả trời thơ chợt vỡ tung? 33. Trở về Tay em mười ngón ngọc ngà Em bưng mặt khóc tìm cha nơi nào? Thôi em thế sự ra vào Tìm em không được làm sao tìm người? 34. Hỏi đáp Có hỏi thì có đáp Đáp sao không vướng lời Được mất không vướng ý Cùng Phật tổ dạo chơi Hành tung ba nghìn cõi Không lưu lại dấu giày Âm ba phổ nhiếp mãi Vô ngại tâm đại bi. 35.Trò đùa Hoa giơ trượng quất cùng tiếng la Mộng vỡ tan tành mộng hiện ra Ngàn thánh giở trò đùa lém lỉnh Mửa ra nuốt lại khác chi xa? 36. Niêm hoa 1 Hoa giơ tâm chuyển thái hư không Ấn dấu truyền trao suốt một dòng Mộng thật muôn đời chưa hề biết Viên như trào lộng một dòng không. 37. Niêm hoa 2 Từ hoa kết mọc đá vàng Nở tâm rạng mặt ngỡ ngàng chiêm bao Suốt từ mộng mị lao xao Đến nay vân mộng truyền trao bao lần? Thong dong rất mực vô ngần Hố sâu không đáy lại gần đỉnh xưa Suối nguồn sự thể đong đưa Lòng như gái đá tắm mưa giữa trời Mốt mai lòng chảy qua đời Nước xuôi mặc nước mưa trời dính ai? Bình sanh lịch kiếp nào phai Sắc không hóa hiện Như lai hiện tiền. 38. Chưa quen Lần đầu lần một cuối cùng Gặp nhau như thể chưa từng quen nhau Bên người đối diện gần nhau Đã từng thưa hỏi nhưng nào biết tên Rất mừng xưa đã quên nhau Bây giờ muôn sự hiện tiền mới toanh Sát na sinh diệt tinh thành Nghìn lần nghìn mới mới thành chưa quen! 39.Hiện sinh Cha già bốn đại chia tư Thiếu duyên năm ấm chu du biến dời Ngữ ngôn hiện giữa nụ cười Theo duyên bụi lửa gió vời mây bay Trùng dương sóng bủa bên ngày Ngàn năm bụi đỏ hiển bày sắc chơn Tơ hào ý ngó từng cơn Ra đi là mất là còn hiện sinh. 40. Để lại luân hồi Kính dâng Giác Linh cố Đại lão Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN cố vấn Viện Hóa Đạo GHPHVNTN. Cơn vô thường cuốn trôi bờ huyễn-thật Thạch trụ rừng thiền xiêu quẹo đổ nghiêng Hạt bụi đỏ chợt thấy mình rạn nứt Vỡ tan tành như bóng vỡ hư không Người ra đi giữa những ngày pháp nhược Cho ma cường thêm lộng thế đảo điên! Bờ tử sinh niết-bàn nay từ biệt Nhẹ gót chân nhàn tản giữa vô phiền. Nhớ bụi đỏ cựa mình nghe sương xuống Ráng mai hồng cài lại nửa vầng trăng Bờ bến cũ lối về trăng sao sáng Còn nửa kia Người để lại luân hồi. 41. Nhớ Hà Nội Sau ba tuần lễ rong chơi tại Hà Nội, giờ chỉ còn lại trong trí nhớ. Hà nội giờ này có gì để nhớ? Cảnh mưa phùn gió bấc lạnh căm căm Nhớ gối chăn qua làn hơi thở ấm Cho thịt da hâm nóng mộng nghìn năm. Nhớ Thăng long ngày đầu xây dựng nước Thịnh trị một thời oanh liệt một phương Còn gì ngoài văn bia-quốc tử giám Khiêm tốn trở thành di tích quê hương! Nhớ tháp rùa đứng nghiêng chờ nắng đổ Mặt hồ gươm phẳng lặng bóng chiều xiêu Hàng cây xanh mấy lần thay lá cũ Cho nhựa về nhú mộng hạt đâm mơ? Nhớ hồ tây mưa phùn bay giăng phủ Bụi sương mờ lảng đảng bến bờ xa Từ Thiên phúc, Kim liên về Tảo sách Bước lãng du bến đỗ gót đường qua. Nhớ gánh hàng hoa bên bờ yên phụ Đôi vai gầy ướt đẫm bụi sương mai Rảo bước chân qua phố phường sau trước Đem cho đời cái đẹp tưởng chừng phai! Nhớ những hàng cây xanh mờ nâu tím Bóng chiều nghiêng che phủ ánh trời xa Bụi mưa phùn tung gió bay trút lá Cho đâm chồi nẩy lộc với nghìn sau. Nhớ ba mươi sáu phố phường xưa cũ Cửa đóng then cài phong kín tường rêu Của một thời chỉ còn qua tên gọi Ký ức nhạt nhoà hiện thực còn đâu! Nhớ tách chè xanh vỉa hè hôm sớm Ấm lòng người hơi toả bóng mù sương Nhớ tách cafe bên hồ hoàn kiếm Đường qua đi lơ đễnh bước chân về. Nhớ một cột chùa xưa sau giấc mộng Nét hương mù sen toả ngát nghìn năm Còn hiện tại qua rêu mờ năm tháng Chút tình xưa dư ảnh mộng vì dân. Nhớ mái chùa cong cong chờ nắng đậu Bụi mưa buồn loan lổ vách tường sa Vẫn hiên ngang chở che hồn dân tộc Nghiệp sống muôn đời của tổ tiên ta . Tháng 03-2003 (1) Theo ý thơ của Huyền Không: “Mái chùa che chở hồn dân tộc …” 42. Nhớ cố hương Chuông khuya lay bóng trăng tàn Lạnh giòng nước chảy ngân tràn cuối sông Đò ngang nay đã xa nguồn Thì nay thôi cũng nghe buồn cố hương. Chốn về đau nỗi nhớ thương Chỉ còn ký ức vô thường giòng trôi Phù du thương một cõi đời Gió lay ngọn sóng vàng soi bọt tàn. Nguồn xuôi cuối bãi điêu tàn Biển dâu hiêu hắt vọng vang bóng chiều Mơ về chốn cũ đìu hiu Tường rêu vách đổ thành xiêu xa dòng. Trăng buồn rủ gió về sông Soi vùng tâm sự đau lòng nước qua Thả buồn trôi ngược dòng ca Vọng triều sương khói âm ba la đà. Giờ còn âm vọng xa xa Khắc sâu dư ảnh quê nhà cõi không Chỉ vì chút nhớ chút thương Thời-không xa cách mà vương thành sầu! 43. Sư về muộn Đêm nghiêng ngõ gác trăng vàng Mấy tầng chuông điểm đổ tràn thái hư Sư về gõ cửa phù hư Tam sinh đế mộng trầm hư vỡ bờ Uống tàn sương, giọt xuân mơ Điểm trang hồng nguyệt kinh thơ vô phiền Trăng lay bóng chếch giường thiền Tụng âm núi dựng tiếng rền thu không. Mùa xuân én trải nắng hồng Nụ xanh say gió vàng hong hiên chùa Gió về mở mắt nghìn hoa Gốc mai năm trước rụng vài đóa hoa! Trà xanh Thềm thoảng hương mùa Gió hây hây thổi ngày đưa qua ngày Niềm vui còn một chút này Dâng người ở lại từ rày về sau. Chùa Bảo Lâm 09.2003 44. Sương ứa lệ Đôi cánh mộng lưng trời nay xếp lại Người ra đi bụi đỏ chợt hao mòn Nhớ vầng trăng nửa cài song cửa mộng Nửa giật mình sương ứa lệ tàn canh. Cầu sinh tử gãy đôi bờ huyễn hoặc Bụi mây mờ xin để lại phía sau Đêm mộng mị lững lơ mờ sương đậu Ráng hồng phai nghe khóc vỡ ngày tàn. Hoa sóng cả bạc đầu vương nắng sớm Bụi tro tàn theo gió nước lang thang Bờ bến cũ Người về sao chợt sáng Để ngậm ngùi nhớ tiếc lại sau lưng ! 45. Theo dấu chim bay Xưa nếu biết cuộc đời là cõi tạm Thì lối về đã theo dấu chân nai Người cứ tưởng ta bà là cõi thật Nên nghìn đời vẫn theo dấu chim bay. Sầu hiu hắt hai bờ loan nắng vỡ Mộng trần gian và hiện thật đâu rồi? Giờ ngoảnh lại bóng nhoà quên mất dấu Bước tiếp theo nghe quờ quạn bồi hồi! Việc quá khứ chỉ bày qua ký ức Nuối tiếc nhiều và ray rức khôn nguôi Hiện tại hạnh phúc đan xen ít ỏi Khổ đau nhiều, hận tủi lại càng tăng. Tương lai chưa đến mù mờ nào biết Thả đường dài quanh quẩn mỏi gót chân Một trăm năm bay vèo theo giọt nắng Chờ trăng già mơ hỏi tuổi trăng non! Sỏi lăng mòn tuổi buồn lên lá thắm Rừng vẫn xanh đá dựng bóng trăng qua Suối róc rách chở trăng về bến cũ Nước xa nguồn về cội lạnh dòng ca. Mây bóng lay gió về mưa chớm động Tàn thu, đông nghe lạnh tủi đá buồn Sầu ly biệt hắt hiu bờ nắng vọng Én cựa mình ngơ ngác động xuân phong. Rồi một sớm tàn xuân qua lửa hạ Đào mai buồn ủ rũ bóng chiều dâng Nụ có biếc tuổi xanh, vàng chuyển dịch Lại một đời xê dịch nỗi bâng khuâng. Vì vô thường luôn luôn là biến dịch Nên vô thường luôn hiện hữu như Không Bờ quá khứ tương lai thành không tưởng Niềm bâng khuâng chợt sáng dõi chân đi. 46. Thở dài đều hơi Lên non uống ánh trăng ngàn Về xuôi uống suối hoa vàng cuối sông Mốt mai nguyệt hạ mờ sương Áo trăng ai giũ bên dòng bụi bay? Ngày tàn lá đỏ bóng lay Nghìn thu lãng đãng chiều ngây giấc nồng Sư về nhặt lá tàn đông Phía sau mất dấu rêu rong biển đời. Chiều buông vó ngựa chơi vơi Dặm trường sương khói vàng rơi cuối đường Đìu hiu quán trọ câu vương Nghìn năm mây trắng mù sương gót hài. Đêm tàn ráng đỏ ban mai Giật mình ngỡ bóng chiều phai bên thềm Hoa cau nở trắng im đềm Gió ngây lảng đảng bờ hiên hương thầm. Tóc xanh dài trắng ngày tàn Chút hương cho gió nghìn năm sau này? Trăm năm dồn lại một ngày Mỗi giây mỗi phút thở dài điều hơi. 47. Không đề 1. Trên đầu sào trăm thước Con bướm vàng ngủ say Thiền sư buông tay gậy Không hư bỗng hiện về. 2. Ôm mây đầu gối mộng Ngủ khì vọng trăm năm Nghìn năm mây lãng đãng Bước đầu tiên sau cùng. 3. Đá cười duyên hoa nở Phật về quên dấu chân Người đi thiên thu mất Giọt nắng buồn bân khuân! 4. Thạch nhơn vẫy cờ múa Trâu bùn lội qua sông Sinh tử cầu huyễn mộng Chợt gãy giữa lòng tay. 5. Nắng phơi dòng nước lạnh Mây trời đọng trên mi Vầng trăng xưa trên đỉnh Hố thẳm không đáy lay. 6. Gió lay bông bưởi rụng Hương thừa sót trăm năm Đọng mãi vùng ký ức Thoảng động bờ xa xăm. 7. Một chút hương cho gió Một chút lửa cho mây Một chút tình cho mộng Một chút si cho ngày. 8. Xưa kia Người lay mộng Nay Người về đối không Mốt mai Người để lại Biển không hoá mộng vàng. 9. Chân đi không chạm đất Mọi nhà ghé lại thăm Sát-na vô lượng dặm Chân không giở gót hài. 10. Qua mơ hiện bươm bướm Tỉnh ra chủ nhơn ông Mộng-thật nào biết được Chân giả có và không? 11. Tụng kinh hoa lá rụng Phật quên mất đường về Buông tay kinh lay động Phật về từng chữ hoa. 12. Tự dưng cầu giải thoát Ai trói buột mà cầu? Nếu việc không lưu dấu Xiềng xích có làm gì? 13. Không nghĩ thiện và ác Nghĩ gì không vướng tên Nghĩ về không nơi chốn Đương niệm về cố hương. 14. Chuồn chuồn vờn gợn nước Ảnh chìm mây cuốn bay Bờ tre trưa gà gáy Nghìn năm vọng chân mây. 15. Cu cườm trưa chợt gáy Nhớ quê nhà ấu thơ Ngày qua ngày thật vội Tay trắng tóc bạc phơ! 16. Hương xoài thơm ngây ngấy Lay động ký ức xưa Một khúc đời cơ cực Tuổi thơ đọng hương thừa. 17. Rạ rơm mùi nhẫn nại Mẹ đi cấy trên đồng Nắng lay da nám đọng Suốt đời khó vì con. 18. Sông quê chiều nắng đỗ Lúa nhẹ thoảng đưa hương Đò ngang chờ khách vắng Đèn đỏ lay bóng đêm. 19. Sinh ra thời ly loạn Mẹ cha lại nhà nghèo Tuổi lên năm theo mẹ Mót lúa cánh đồng xa. 20. Mùa đông không đủ áo Trời lạnh đến thấu xương Co ro trong ổ rạ Giấc mơ đẹp nửa chừng. 21. Tối ba mươi mười bốn Hay theo mẹ lên chùa Cầu xin trên ân Phật Cho cả nhà bình an. 22. Vào chùa năm lên bảy Làm chú tiểu đuổi chim Thức khuya và dậy sớm Tương lai mộng từng giờ. 23. Năm mươi năm hành đạo Đến giờ vẫn trắng tay Từ đầu đến bước cuối Tay không mộng về nhà. 24. Dọc đường hoa dại nở Bướm đậu bờ ngát hương Vô tình cơn gió thoảng Lay động giọt nắng xa. 25. Chú tiểu quỳ đọc tụng Gật gù tiếng mõ ru Tiếng chuông choàng tỉnh mộng Giật mình thời đã qua. 26. Gối đầu dùi kình ngủ Âm ba lắng giấc nồng Chợt tỉnh dùi chuông dộng Mặt nhật điểm từng không. 27. Tìm lũng sâu rơi mãi Như viên bi lăn tròn Không nơi nào dừng lại Cuộc sống đã hình thành. 28. Một viên sỏi liệng xuống Nước lặng vòng tròn loan Tâm duyên thế giới hiện Ba nghìn, hạt bụi lay. 29. Con dế mèn thấp thỏm Mơ gối nằm cỏ non Thay trẻ trò kiêu hãnh Hơn thua một trận đòn. 30. Nắng qua còn để lại Vết hằn nám mặt cha Suốt đời người xa lạ Bên cạnh mẹ vì con! 31. Mỗi trưa hè nắng gắt Ôi! dòng sông tuổi thơ Trần truồng duyên vô sự Còn chút gì mộng mơ. 32. Lũ chuồn chuồn nhá nước Đôi cánh trong thật xa Hình như không biết lạ Sao lại đậu nơi này? 33. Trang kinh còn bỏ ngõ Chú tiểu chạy đâu rồi Thầy kêu dò kinh đó Chắc lại tìm mo cau! 34. “Nhược nhơn dục liễu tri Tam thế nhứt thiết Phật Ưng quán pháp giới tánh Nhứt thiết duy tâm tạo.” Nếu ai muốn biết rõ Tất cả Phật ba đời Nên quán tánh pháp giới Đều do tâm tạo ra. Có tạo để tâm tạo đi Đại thiên sa giới không ngoài tâm ni Vọng chân phàm thánh khác gì Cốt đừng chấp nhứt làm gì được tâm? Thầy tôi lúc đó dạy tâm Ba nghìn thế giới ngọng câm lời thầy Mơ màng từ đó đến nay Chiêm bao lúc tỏ lúc say chưa rành Thôi thì để mặc đã đành Nhưng còn giải quyết tử sanh thế nào? .......... Giờ thì tỏ mặt ra vào Đến đi qua lại phương nào cũng thông Mặc cho tâm tạo vô thường Đói ăn khát uống lạnh nồng đầy vơi Tuỳ phương tuỳ cảnh tuỳ thời Nghĩ suy không vướng đổi dời nào can. 35. Bờ tre ngồi đứng bóng Gió thoảng đồng lúa xa Hương nghìn năm còn đọng Chút tình vọng cố hương. 36. Ngư ông còn để lại Nước gợn bóng chân mây Động chút bờ lau sậy Trả lại nước lặng sâu. 37. Đường quê xa nỗi nhớ Gập ghềnh dấu chân trâu Ký ức còn ghi lại Cánh diều ảnh lưng trâu. 38. Cánh cò nghiêng nắng xế Thanh bình chiều đồng quê Mục đồng nghiêu ngao hát Trâu tự động đường về. 39. Đu đưa dưới giàn mướp Bông vàng rụng hương thơm Cha đồng xa về muộn Mẹ ngồi chờ trăng lên. 40. Cớm rang từ hạt nếp Nghe thơm lửng mía đường Món cớm hương đồng nội Nhớ quê mùa gặt xong. 41. Rặng núi Bà tiếp giáp Chân trời biển quê tôi Vị muối mặn nghìn năm Kết tinh nguồn đá cội. 42. Lạc điền qua An lợi An lợi lên Phổ đồng Mẹ cha khốn khổ sống Ôi nước lợ phèn chua! 43. Một chút thương đồng loại Một chút thương mẹ cha Một chút thương nơi ở Cộng nghiệp xứ nạn ta. 44. Quê cha vùng Nước mặn Quê mẹ nước xà hai Gặp nhau cùng nghiệp sống Quê nào cũng khó khăn. 45. Năm lên sáu cắm trại Lần đầu biết biển khơi Rừng dương biển Cách thử Nay ký ức mù khơi! 46. Thương, cha thường dú kín Mẹ hiện rõ chăm nom Tính hiện thực thể hiện Dù sao, mẹ gần hơn! 47. Con quê nghèo thường đợi Ngày giỗ chạp ông bà Tôi tuổi thơ kỳ lạ Nước mắn dầm cá rô. 48. Phần thưởng dành toàn xã Lớp năm mới vào đời Cuối năm học trò giỏi Thầy Tô Bường, Thầy tôi. Sang lớp tư bết bát Học hành chẳng ra chi Cha mẹ thầy phiền trách Không biết lý do gì? 49. Ham chơi làm theo ý Những trận đòn nên thân Mẹ cha vì con trẻ Không chỉ lo áo cơm! 50. Mù sương biển đá lạnh Hạt cát mòn sóng ca Nghìn năm ru biển cả Lắng trong vị trăm sông. 51. Hàng rào hoa dâm bụt Cha trồng cạnh mái hiên Gió lay hoa bướm đậu Nắng xanh trời ấu niên. 52. Bông bí vàng ong đậu Trời xanh thấp xuống dần Trái non vừa tượng nụ Tương lai một góc trời. 48. Xin chào tất cả Ngày qua ta đã chết Tuổi ấu thơ vô phiền Ngày nay ta đang chết Tuổi tráng niên vui phiền. Ngày mai ta sẽ chết Biết khi nao hiện về Phát sinh duyên không đủ Hơi thở thôi ra về! Chuyện đời xin để lại Lợi danh cùng xác thân Thầy tổ cha cùng mẹ Bạn bè và người thân. Cỗ áo quan nến thắp Hai hàng khóc rưng rưng Tiếng mõ chuông đồng vọng Muôn năm mộng giấc nồng. Huyệt sâu ba tấc đất Hay thiêu thân cuối cùng Muôn đời nơi an nghỉ Ngày qua, chợt ngàn trùng. Ta xin chào tất cả Hạt bụi của ta ơi Nghìn năm bay lãng đãng Trăm năm hết một đời. Vô thường lay bóng xế Cô đơn lay phận buồn Nay ta lay giấc mộng Mộng-thật trả về không. Lầu đầu như lần cuối Bước lãng du không cùng Thiên thu mơ còn đọng Bên thềm hạt bụi rơi. 49. Nguyên xuân Quê người ở tận nơi đâu? Hỏi trăng rằng tận bước đầu phù du Hằng sa hạt, đỉnh phù hư Lạnh dòng nước chảy sa mù tử sinh. Hỏi hoa rằng bướm tự tình Sắc khoe bóng lệch lịch kinh thương ngày Nhụy vàng nắng đọng màu phai Vết loan hoen lổ thời phai từ nguồn. Hỏi mây rằng cũng một giòng Mưa tuôn cuối bãi đầu truông chân trời Ngược xuôi mấy nẻo luân hồi Nghìn năm mây vẫn một đời lênh đênh. Hỏi sông nước bỗng buồn tênh Cầu xưa bắt nhịp tử sinh bao đời? Nước xuôi chảy một dòng thôi Đến đi nào biết bóng đời hằng đang. Hỏi sương, lá cỏ mơ màng Giọt vang cuối lối muộn màng chiêm bao Buồn trông mắt lá sương mờ Ảnh trầm gương cũ bóng mờ nhạt phai. Hỏi cây gió động trăng cài Đong đưa liễu phấn hồng phai trước thềm Mai vàng chớm nụ hoa đơm Mấy mùa xuân lại dưới thềm bước qua. Hỏi sao, trăng sáng một màu Ngày qua ráng nhạt bên cầu cuối sông Tường rêu xanh ngắt một dòng Mưa qua còn để dội trong sương mù. Hỏi ngày đêm vọng thâm u Bóng đen quá khứ trầm u bước dài Tưởng người dưới nguyệt một mai Soi trăng lệ nhỏ ảnh cài lung linh. Hỏi người im lặng làm thinh Buân quơ tóc xỏa vô tình gió say Hương trời gió nội my cay Một thân phận nhỏ chiều ngây ngất lòng. Hỏi da thịt trả lòng vòng Đất thưa hạt bụi một lòng mà ra Trăm năm trên cõi ta bà Thiên thu trong cõi hằng sa đất trời. Hỏi trời đất trả rằng ơi! Tận nguồn vô thỉ cuối đời vô chung Quê nhà chỉ một bước chung Đến đi mất dấu, nghìn trùng nguyên xuân! 50.Hồi đầu Nước từ mây quyện hằng sa Nghìn trùng cát bụi vào ra cho dù Mênh mông khói đọng bờ hư Khí phân sắc nét nguyên như vui phiền Già lam bóng rợp hai miền Thượng thừa một cõi phước điền vọng đưa Nhớ ngày giọt nắng chiều mưa Đọng qua ký ức đong đưa phận người Tử sinh bước một hai đời Đầu truông cuối nẻo gọi mời lãng du Thì thôi cũng mặc phù hư Nhìn mây lãng đãng sa mù vây quanh Hồi đầu bóng hiện tinh anh Một lần nhận diện để thành thiên thu. 51. Trăng lên Bờ trăng đáy nước đôi đường Nửa pha màu sắc nửa nhường thu không Có-không huyễn tưởng vô thường Xem ra hư-thật sao lường được đây? Triều dâng sương đợi nguyệt đầy Dấu chân du mục nhớ ngày nguyên sơ Bước đầu cuối dặm bơ vơ Còn nguyên sơ mộng bên bờ trăng lên. 52. Đi về Rỗng rang một cõi đi về Đến đi mất lối đường về chân không Ngược dòng sóng vỗ đầu non Chim non bỏ tổ ngọn nguồn bay xa Đường về nào biết gần xa Hiện thân một cõi quê nhà mây bay Hôm qua mộng vỡ trời tây Sáng ra chim hót vườn đầy ráng vân Đưa ta huyệt hạ phù vân Để cho lệ nhỏ một lần rồi thôi Thiên thu đọng lại một đời Một lần thôi cũng ngậm ngùi nghìn năm. cập nhật : 15-09-2009 www.phatviet.com website khác

tín đồ việt nam

Tín đồ Phật giáo Việt Nam chỉ còn 6.802.318 người! GN - Điều làm nhiều người giật mình là số liệu người theo đạo Phật tại Việt Nam từ cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số công bố vào năm 2010 đã cho thấy số lượng tín đồ Phật giáo Việt Nam giảm đến mức chưa từng thấy: 6.802.318 người, chiếm 7,92% dân số! Quan tâm, nghiên cứu, tự thực hiện và sử dụng các số liệu thống kê liên hệ đến tôn giáo là một yêu cầu của hoạt động tôn giáo hiện đại. Rất tiếc, Phật giáo chúng ta đã chưa làm được điều này như các tôn giáo khác. Điều đó chắc chắn có những ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động hoằng pháp cũng như các hoạt động Phật sự khác của Phật giáo. Số liệu thống kê đáng quan ngại trên liệu có chính xác, khi nhìn chung sinh hoạt Phật giáo khởi sắc từ Bắc vào Nam những năm gần đây? Nhưng sẽ càng đáng tiếc hơn nữa nếu bỏ qua những số liệu mà các cơ quan có thẩm quyền về thống kê, điều tra xã hội học thực hiện. Chúng tôi muốn nói đến số liệu tín đồ Phật giáo do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số thực hiện trong cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 được nhiều tài liệu nghiên cứu mới dẫn lại. Điều rất tiếc là số liệu của cuộc tổng điều tra này không được giới Phật giáo quan tâm. Các cây bút Phật giáo hầu như đều sử dụng các nguồn số liệu tín đồ Phật giáo khác đã cũ, không có tính cách chính thức. Trong rất nhiều số liệu về tín đồ Phật giáo tại Việt Nam, con số thấp nhất chỉ dừng lại ở mức khoảng 10 triệu người. Thế nhưng, điều giật mình là số liệu người theo đạo Phật tại Việt Nam từ cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số công bố vào năm 2010 đã cho thấy số lượng tín đồ Phật giáo Việt Nam giảm đến mức chưa từng thấy: 6.802.318 người, chiếm 7,92% dân số. Như vậy là giảm đến 1/3 so với con số thấp nhất trước đây, vào khoảng 10 triệu. Số liệu thống kê đáng quan ngại trên liệu có chính xác, khi nhìn chung sinh hoạt Phật giáo khởi sắc từ Bắc vào Nam những năm gần đây? Chắc chắn sẽ có nghi vấn như thế nêu ra. Thế nhưng, chúng ta còn có cuộc điều tra dân số nào khác để căn cứ vào đó? Tầm vóc, vai trò, quy mô của cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 là một thực tế khách quan. Không lẽ gì Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số thiếu công bằng khi điều tra số liệu tín đồ Phật giáo? Hiện nay, năm 2009, bối cảnh tự do tôn giáo đâu có thể làm người dân kê khai thiếu trung thực về tôn giáo của mình như những năm 1979, 1989. Số liệu do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số về số lượng tín đồ các tôn giáo khác không sai biệt lớn so với số liệu do chính các tôn giáo đó thống kê và công bố. Nếu có một sai số nào đó, thì chỉ có thể trong khoảng vài triệu người: 10 - 20%. Nếu có thêm vào số liệu đã có ước đoán như thế để vớt vát, thì con số cuối cùng vẫn cho thấy tín đồ Phật giáo Việt Nam đã giảm và đang trong tiến trình giảm. Đó là một kết luận mà chúng ta phải chấp nhận. Phật giáo chúng ta phải đối mặt với vấn đề để tìm cách và có cách mà giải quyết. Nếu cứ bằng lòng, an tâm với con số 50%, 60%, 70%... người Việt Nam theo đạo Phật, thì đến cuộc tổng điều tra dân số sau, số liệu thực tế sẽ thấp hơn nữa, cay đắng hơn nữa, đau lòng hơn nữa. Đạo Phật là đạo của sự thật, của chân chánh. Người con Phật không thể bỏ qua sự thật, ngoảnh mặt, bưng tay trước sự thật. Sự thật là Phật giáo Việt Nam đang giảm sút tín đồ và mức giảm sút đã đến mức chưa từng thấy. Phật giáo Việt Nam đang đi vào một khúc quanh quan trọng. Đó là giai đoạn Phật giáo mất vị trí tôn giáo đa số tại Việt Nam. Số lượng tín đồ đã xấp xỉ mức Cơ Đốc giáo (hay Ki-tô giáo, một khái niệm gộp chung những giáo phái Thiên Chúa giáo). Nếu không có giải pháp tích cực, xu hướng giảm thiểu tiếp tục diễn tiến, thì trong lần tổng điều tra dân số sau, kết cục không thể tránh khỏi là Phật giáo trở thành tôn giáo thiểu số tại Việt Nam. Như vậy, nói Tăng Ni Phật tử Việt Nam đang ở một khúc quanh lịch sử và chịu trách nhiệm nặng nề về vai trò, vị trí của Phật giáo Việt Nam mai hậu là việc không hề cường điệu một chút nào. Đây là những thời khắc quyết định. Có giữ được vị trí Phật giáo như là tôn giáo lớn nhất của dân tộc như truyền thống gần 2.000 năm qua hay không, hoặc chấp nhận Phật giáo trở thành tôn giáo thiểu số ở đất nước mình, tất cả tùy thuộc vào Tăng Ni, Phật tử Việt Nam hôm nay. Người Phật tử cần tự hào và ý thức khi đặt bút khai vào lý lịch của mình Dù gì đi nữa, thì tu sĩ và tín đồ của một tôn giáo lại có thể khoanh tay làm ngơ trước tình trạng thiểu số hóa của tôn giáo mình. Điều đó là không thể chấp nhận đối với mọi tôn giáo, huống nữa là Phật giáo, tôn giáo đòi hỏi người hành trì song song với “tự giác” phải có trách nhiệm vụ “giác tha” thì mới có thể đạt được cứu cánh. Giác tha là hóa độ mọi người nhận thức và thực hành theo con đường thiện lành mà Đức Phật đã hướng dẫn. Hiện trạng như đã dẫn ra với số liệu dẫn trên cũng gián tiếp nói rằng, nhìn chung, hiện trạng hành đạo, tu tập của Phật tử tại Việt Nam có vấn đề, dẫn tới việc giảm thiểu đối tượng “giác tha”. Không lẽ gì khi đã được giác ngộ đạo Phật mà người ta lại khước từ việc nhìn nhận mình theo đạo Phật. Do đó, trong hoàn cảnh hiện nay, vẫn nghĩ rằng 80%, 70% người Việt Nam theo đạo Phật là không thể phù hợp. Chúng ta không thể nói người ta theo đạo Phật trong khi người ta đặt bút viết rằng “không”! Chúng tôi nghĩ đây là giờ phút Tăng Ni, Phật tử Việt Nam phải bừng tỉnh. Chúng ta vẫn còn một ít khả năng để xoay chuyển tình hình, bảo tồn vị trí mà tổ tiên đã truyền lại qua hàng ngàn năm lịch sử. Ngồi yên, buông xuôi, bỏ mặc là chúng ta không có trách nhiệm với cha ông và các thế hệ sau. Để rồi khi con số điều tra dân số mới phũ phàng hiện ra thì thời khắc quyết định đã qua, tình trạng sẽ là bi đát hơn nhiều. Liệt vị tôn đức tiền bối hữu công đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo mấy mươi năm trước, liệu các ngài thế nào khi biết rằng, chưa đến nửa thế kỷ sau đó, số liệu tín đồ Phật giáo kê khai trong một cuộc điều tra quốc gia chỉ còn là khoảng trên 6 triệu người trên tổng số người Việt hơn 85 triệu người. Con số là một lẽ, nhưng điều quan trọng hơn là việc trả lời câu hỏi, diễn tiến số lượng tín đồ Phật giáo Việt Nam là tăng hay giảm. Người ta đã kê khai chính thức rành rành như thế thì hôm nay, chúng ta cáo bạch như thế nào với anh linh liệt vị tiền bối Phật giáo Việt Nam. Thời gian không chờ đợi chúng ta. Vấn đề hết sức cấp bách khi chúng ta đang xác định ở một khúc quanh lịch sử. Mười năm trước vẫn còn có nhiều người không chấp nhận con số 10 triệu tín đồ Phật giáo, thì 10 năm sau con số đó đã chỉ còn hơn 6 triệu. Thế thì, 10 năm sau nữa thì sao? Không lẽ người Phật tử hôm nay sẽ là những người chứng kiến việc xác định nước Việt Nam có tôn giáo đa số đã là một tôn giáo khác không phải Phật giáo? Đạo Phật là một tôn giáo không cạnh tranh. Nhưng đạo Phật cũng là một tôn giáo kêu gọi người tu hành trong đạo phải “giác tha”. Thịnh suy của đạo Phật tuy biết rằng “như hạt sương trên đầu ngọn cỏ”, “không nên sợ hãi” (ý thơ của Thiền sư Vạn Hạnh), nhưng chúng ta còn có trách nhiệm. Chúng ta không lo sợ trước nghiệp vận, nhưng đối với đạo Phật, chúng ta vẫn là người chủ nghiệp vận. Trong khúc quanh thịnh suy này của Phật giáo, trách nhiệm của Tăng Ni, Phật tử, những người còn chính thức kê khai mình theo đạo Phật, là hết sức nặng nề. Con cháu mai hậu sẽ nhìn vào chúng ta trong thời điểm hiện nay, đúng vào lúc những con số đáng quan tâm, chưa từng có được ghi nhận. Cha anh chúng ta đã làm gì để còn có một nước Việt Nam có số đông người theo đạo Phật, hay ngậm ngùi sửa lại mục tôn giáo trong các quyển sách giáo khoa địa lý, từ điển bách khoa, Atlas… như đã phải làm đối với Hàn Quốc. Đây là việc lớn, không thể xem thường một số liệu thống kê từ một cuộc điều tra quốc gia như vậy. Rất mong Giáo hội, quý Tăng Ni, Phật tử cùng nhau lưu ý với ghi nhận quan tâm xem đó là vấn đề mà tích cực tìm hướng giải quyết. Hoằng pháp nên được coi là ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh như thế.

lắng nghe và trị liệu

• Phật học » Phật học lược khảo Đã cập nhật: 2 giờ 0 phút Kích cỡ chữ: Nhân vía Đức Bồ-tát Quán Thế Âm (19-9ÂL): Lắng nghe & trị liệu GN - Lắng nghe và trị liệu, nói cho dễ hiểu là tu hạnh lắng nghe. Người tu hạnh này tiêu biểu nhất trong Phật giáo là Bồ-tát Quan Âm. Hành giả nào theo hạnh này thực tập có kết quả tốt thì cũng chữa trị được cho mình và cứu chữa được cho chúng sanh. Thánh tượng Bồ-tát Quán Thế Âm tại chùa Huê Nghiêm, quận 2, TP.HCM Đa số người thích nói, nhưng không thích nghe, cho nên mới có sự tranh cãi, vì người nào cũng muốn nói, nhưng không chịu nghe, tạo thành sự đấu khẩu bắt người nghe theo mình, nên mọi người đều bất an. Đây là điều tối kỵ trong Phật giáo, gọi là tà giáo ngoại đạo, thuyết phục người không được thì lại đe dọa để người phải nghe và theo mình. Ngược lại, trong Phật giáo, trước nhất chúng ta thấy Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời, Ngài có hạnh đặc biệt là trầm lặng và lắng nghe, nghe tâm sự của người để hiểu hoàn cảnh của họ và xa hơn là biết nghiệp của họ, mới tìm phương cách đối trị, giúp cho họ được giải thoát. Trên bước đường tu, muốn làm được như vậy, chúng ta lắng nghe ai là điều quan trọng, vì sai lầm sẽ dẫn chúng ta vào đường tà. Theo kinh nghiệm của tôi, học hạnh này mình lắng nghe nỗi khổ niềm đau của chúng sanh, nhưng mình cũng chưa thoát khỏi khổ, thì nghe cái khổ của người làm cho lòng chúng ta đau thêm, khổ thêm. Lắng nghe như vậy chắc chắn là hậu quả không tốt. Vì vậy, đối với hạng chúng sanh này, Phật dạy chúng ta tập hạnh viễn ly, chẳng những không lắng nghe, mà còn không nghe. Tôi tu đầu tiên tập hạnh không nghe, chỗ nào đông người tụ tập, tôi tránh, khác với những người thấy có chỗ ồn ào là chạy tới coi. Thấy đông người tìm tới để nghe thì được gì. Người Việt Nam hay rơi vô tật xấu này. Hôm trước chúng ta tổ chức cầu nguyện và quyên góp cho nạn nhân bị động đất ở Nhật. Có một số bạn nghe nói tôi sắp qua Nhật, họ bảo đừng đến đó, vì chưa khắc phục được sự nguy hiểm của phóng xạ, thì mình tới cũng chưa làm được gì. Thường chúng ta nghe điều gì thấy động lòng là làm ngay. Người Nhật khác chúng ta. Họ ở Nhật, nhưng cũng không tới vùng bị thiên tai này, vì họ nghĩ tới thì có thể làm được gì. Làm đạt hiệu quả cao nhất mới làm. Không làm được mà tới chỉ gây ra sự vướng bận việc cứu hộ . Theo họ, đến vùng hỏa tai thì có áo chống lửa, hay phao cứu mạng, hoặc phải có mặt nạ chống phóng xạ mới dám đi vô. Phải suy nghĩ và trang bị đầy đủ mới đến để cứu người, đó là cách làm theo Bồ-tát, xuất hiện để làm hay biến mất đều có sự chuẩn bị đầy đủ mới làm được và xong việc thì trở về bổn độ. Còn Phật tử chúng ta nghe không làm được cũng tới, như vậy tốn tiền và công sức nhiều, nhưng hậu quả không cao. Thí dụ chúng ta nghe Nhật bị thiên tai, có tinh thần tương thân tương trợ rất tốt, nhưng qua đó cứu trợ, tiền vé máy bay đi và chi phí lưu trú khách sạn và di chuyển tốn kém quá, trong lúc đó, tất cả thiết bị cần có để cứu trợ tốn kém hơn và cần thiết hơn. Ta tới cho vài gói mì, năm, mười đô-la, như vậy chúng ta bỏ ra nhiều, nhưng hiệu quả không cao. Vì vậy, những người tới cứu giúp phần nhiều là bác sĩ, y tá, nhân viên cứu hỏa, số người tới chuyên môn, nên không đông, nhưng làm việc hiệu quả cao; nước văn minh làm như vậy. Trên bước đường tu, phải biết lắng nghe, nhưng có trí tuệ chỉ đạo. Sống trên cuộc đời mà không biết gì thì không nên, nhưng biết để sanh phiền não cũng không nên. Khẩu hiệu của người Nhật là hình ba con khỉ bịt mắt, bịt tai, bịt miệng để tâm chúng ta yên tĩnh, chúng ta không nghe không biết việc xảy ra sẽ giúp tâm bớt dao động và dễ tập trung tư tưởng, đó là việc chính của đạo Phật. Các vị Tổ sư rút kinh nghiệm này dạy chúng ta như vậy và điển hình là Tổ Quy Sơn dạy rằng “Bất dữ chư trần tác đối”, nghĩa là không tiếp xúc với ngoại duyên, vì tiếp xúc với bên ngoài nhiều, tâm chúng ta không thể an được. Chính vì vậy mà các thầy tu phải an cư ba tháng, hay nhập thất kín để có thể tập trung vào Phật pháp. Lúc đó không nghe bên ngoài, nhưng chúng ta lắng nghe âm thanh của Phật, Bồ-tát bằng cách đọc tụng kinh điển Đại thừa để suy nghĩ và xa hơn mới lắng nghe được yếu nghĩa mà Phật muốn dạy. Đức Phật cho biết khi Ngài hành Bồ-tát đạo ở thời tượng pháp của Phật Oai Âm Vương, Ngài không nghe bên ngoài, mới nghe được hai mươi ngàn muôn ức bài kệ kinh Pháp hoa của Phật Oai Âm Vương tuyên thuyết, tức cách xa Ngài một ngàn năm sau mà Ngài còn nghe được. Riêng tôi, không nghe sinh hoạt bên ngoài xã hội, mới nghe được pháp âm của Phật, nên tâm yên tĩnh và sáng lần. Tôi lắng nghe pháp âm Phật và trị liệu nghiệp chướng phiền não trần lao của mình là lấy pháp Phật rửa sạch trần tâm của mình. Và khi tâm chúng ta thanh tịnh và pháp Phật có trong lòng ta, thì người thấy ta, chắc chắn tâm họ cũng thấy an; đó là kinh nghiệm tu của tôi, tuy ta không nói, nhưng người có cảm giác ta hiểu họ, nên họ đến với ta và trong ta đã có Phật pháp, người muốn học Phật pháp thì tìm đến với ta. Nhưng nếu tâm chúng ta chưa thanh tịnh, Phật pháp chưa có trong lòng mà muốn người nghe ta là nghe cái nghiệp phiền não hay sao. Vì vậy, một số người tu không có kết quả, vì phần nhiều cũng đi chùa tụng kinh, nghe pháp, nhưng thực có lắng nghe pháp hay không, hay là nghe cái gì khác. Nghe được pháp Phật, tâm chúng ta phải lắng dịu, được an lạc, giải thoát, thì chính sự an lạc giải thoát đó của ta đã chữa được bệnh của mình rồi, mới chữa được cho người khác. Vì thế, nếu ở giai đoạn một mà lắng nghe phiền não và đem phiền não đối xử với nhau là tu sai. Quan Âm lắng nghe phiền não của chúng sanh được, vì trong lòng Ngài đã tràn đầy Phật pháp, tất cả Phật pháp để trị liệu phiền não cho người thì Ngài đã có sẵn, tất cả bệnh của chúng sanh, Ngài biết rõ. Ngài lắng nghe trần thế, nhưng trần thế không tác động được Ngài. Khi trần thế còn tác động chúng ta là biết chúng ta chưa lắng nghe được. Còn tâm chúng ta thanh tịnh, sáng suốt rồi và thấy được phương pháp trị liệu thì mới lắng nghe. Cũng như khi quý vị không giải quyết được buồn phiền mới tìm người tư vấn có khả năng lắng nghe. Ta có thể nói hết tâm trạng của ta và họ tiếp thu được hoàn cảnh của chúng ta và sử dụng phương pháp trị liệu để chỉ chúng ta cách tu. Người có khả năng lắng nghe và có phương pháp trị liệu thì chúng ta trút hết tâm sự cho người này rồi, lòng chúng ta sẽ thấy nhẹ liền, không còn phiền não. Còn nghe người trút tâm sự, nếu nghiệp phiền não mình còn sẽ tác động cho phiền não ta sanh khởi là ta chưa đủ tư cách nghe. Nghe nhưng chúng ta không buồn phiền khổ đau theo người, mà đem trí tuệ của mình để soi sáng, cho người lời khuyên hữu ích. Điển hình như khi nhà Lê sắp chấm dứt, Nguyễn Kim có người con trai là Nguyễn Hoàng rất đau khổ, vì ông rời Đông Kinh (tức Hà Nội ngày nay) hay ở lại đều sợ bị Trịnh Kiểm giết. Nguyễn Hoàng mới tìm Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có khả năng lắng nghe và trị liệu. Khi nghe Nguyễn Hoàng trình bày tâm sự này, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ khuyên một câu thôi: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, thì ông về xin Trịnh Kiểm vào ở phía Nam dãy Trường Sơn, muôn đời được yên thân. Những nhà minh triết có khả năng lắng nghe và trị liệu mới làm được việc lớn. Ta không phải Quan Âm, cũng không phải là nhà minh triết, nên suy nghĩ cẩn thận trước khi lắng nghe. Theo tôi, bước đầu phải đem Phật pháp vào tâm để rửa sạch tâm trần rồi, thì tuy chưa làm được việc lớn, nhưng chắc chắn cũng ít phạm sai lầm. Bản thân mình sai lầm mà khuyên người thì không tốt; việc mình chưa hóa giải được mà làm cho người là điều không tưởng. Việc của mình phải hóa giải trước, tự trị liệu chính mình. Tôi chuyên tụng kinh Pháp hoa, lạy Hồng danh Pháp hoa mà có sức khỏe tốt và có được lực tập trung ổn định. Nhờ lạy Phật, tôi được Phật hộ niệm, nhờ trì kinh mà tôi nhận được yếu chỉ kinh. Như vậy, phương pháp trị liệu của tôi là nhờ Phật hộ niệm và có Phật pháp hóa giải. Tôi khuyên quý vị khi không giải quyết được, nên xếp việc lại một bên, lo lạy Phật để cầu Phật gia hộ, xem Phật dạy ý gì trong kinh. Tất cả những điều Phật dạy đều là pháp để trị liệu, chúng ta đọc thấy điều nào ứng với mình thì chọn ra để áp dụng. Có thể khẳng định rằng phương pháp trị liệu được Phật để sẵn trong kinh. Lễ hội hoa đăng cầu nguyện tại tượng đài Bồ-tát Quán Thế Âm ở núi Tứ Tượng (TT-Huế) - Ảnh.K.Lực Đọc kinh Pháp hoa, tôi bắt gặp trong phẩm An lạc hạnh thứ 14 có phương pháp trị liệu mà Phật để lại rất tốt, đó là bốn pháp an lạc của Phật, khi chúng ta chưa được an thì cần phải áp dụng để được an. Một là phải an thân, muốn như vậy, không đến chỗ tranh chấp. Chỗ đông người, tranh cãi hơn thua mà chúng ta tới thì làm sao an được, chẳng những không giải quyết được gì, nghiệp chướng trần lao của chúng ta còn tăng thêm nữa; vì vậy, không nên gần gũi chỗ tranh chấp bất an. Thứ hai là không nên gần gũi người quyền thế dù là bà con. Thực tế cho thấy hàng phàm phu thích nhìn bà con với người quyền thế, thực là dại. Người có quyền thế, nếu lắng lòng thanh tịnh chúng ta sẽ thấy họ thường có nhiều vấn đề, cho nên Phật khuyên chúng ta nên tránh họ, gần họ lợi trước mắt không bao nhiêu, nhưng nhiều khi hại mình, chuốc lấy đau khổ. Thứ ba là không gần những người làm nghề ca xướng, múa hát, kỹ nữ; vì họ là người thêu dệt giỏi, họ muốn làm người ta cười hay khóc đều được. Vì vậy, trị liệu tâm buồn vui của mình bằng cách giữ tâm an lạc thì phải tránh họ. Thứ tư là không đọc tiểu thuyết. Trước kia, ở Phật học đường Nam Việt, Hòa thượng Thiện Hòa không cho đọc tiểu thuyết, nhưng ra ngoài học văn, phải đọc. Hòa thượng dạy rằng tiểu thuyết làm người ta rối tâm, vì tiểu thuyết luôn bịa đặt thêm thắt, không thật, làm tâm chúng ta dao động, thì làm sao sáng tâm được. Áp dụng được phương pháp trị liệu này của Phật, mình thấy an rõ ràng, vì tranh giành không có thì ai động đến mình. Kinh gọi là thân cận xứ, Phật dạy chúng ta nên ngồi yên một mình đọc tụng lời Phật dạy và thiền là giữ tâm chúng ta lắng yên. Thực tập pháp an lạc hạnh của Phật là chúng ta thấy an liền. Ngoài phần thân an lạc, để khẩu an lạc, Phật khuyên chúng ta đừng nói, vì nói lỗi phải chưa biết đúng sai, nhưng chắc chắn chúng ta bị đánh giá là nhiều chuyện. Đôi khi, chúng ta nói ít, nhưng người lặp lại thì khác, sẽ làm mất lòng rất nhiều. Tốt nhất là đừng nói, điều thực còn không nói, huống chi là nói điều không thực. Nói nhiều sanh đôi chối, rất mệt. Cho nên, Phật khuyên chúng ta tịnh khẩu. Ngoài ra, Phật dạy chúng ta giữ ý thanh tịnh là không nghĩ gì, hay đúng hơn là nghĩ lời Phật dạy, suy nghĩ những điều trong Phật pháp mà mình tâm đắc. Ngài Huệ Tư cũng áp dụng an lạc hạnh có kết quả rất tốt. Trước khi tu, ngài bị bỏ thuốc độc, nhưng ngài giác ngộ phẩm 14, mới sửa đổi, không nói và chỗ đông thì tránh, chỉ chuyên tụng kinh Pháp hoa một thời gian, người trong vùng và vua chúa xe giá lên núi tặng cho ngài tôn danh là Đại Nhạc thiền sư. Có phẩm 14 An lạc hạnh, vì các Bồ-tát phát nguyện hoằng truyền kinh Pháp hoa không sợ chết, chỗ nguy hiểm sẵn lòng dấn thân. Bấy giờ, Phật mới nói phẩm 14, vì ý tưởng của các Bồ-tát như vậy rất tốt, nhưng không nên liều lĩnh, chết uổng mạng. Vì vậy, Phật cho lời khuyên thệ nguyện an lạc, vì khi chưa có đủ điều kiện giúp đỡ thì đừng tới, đừng làm. Điều này cho chúng ta suy nghĩ rằng đến đâu để làm gì và gặp ai. Trả lời được câu này một cách đúng đắn, hãy tới và làm đúng việc đó thôi. Còn biết ta chưa làm được thì để đó, khi đủ điều kiện sẽ tới. Độ chúng sanh phải chờ đúng lúc mới độ được. Hòa thượng Trí Tịnh nhắc nhở rằng Phật và Bồ-tát thương chúng sanh, nhưng tại sao các Ngài không xuất hiện; đó là điều mà chúng ta phải suy nghĩ, Phật thường ví rằng trái chưa chín, không ăn được. Vì vậy, có thệ nguyện an lạc là nguyện trong lòng, nhưng phải chờ đúng lúc, làm sớm thất bại. Tôi suy nghĩ đất nước Việt Nam trải qua giai đoạn dài của lịch sử, mà những sự kiện xảy ra đúng thời đó, có con người đó thì làm được. Khi nhà Đinh lập nghiệp, có Pháp sư Ngô Chân Lưu gầy dựng nhà Đinh. Chỉ có Đinh Tiên Hoàng và ngài Ngô Chân Lưu kết hợp mới thống nhất được mười hai sứ quân và thành lập nước Đại Cồ Việt. Đến thời Lý có Lý Thái Tổ và Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện cùng lúc với danh nghĩa thầy trò để xây dựng và phát triển đất nước. Phật và Bồ-tát luôn xuất hiện đúng lúc. Đến nhà Trần, chúng ta thấy Trần Nhân Tông bỏ ngôi đi tu từ lúc tuổi còn trẻ. Con người đó, ở tuổi đó, làm được bao nhiêu việc đó, là xuất hiện đúng lúc để làm. Vì vậy, Phật khuyên chúng ta đọc tụng kinh điển để nắm cho được phương pháp trị liệu và đến đúng thời điểm sử dụng được thì đem dùng. Còn phương pháp chúng ta chưa nắm được và thời điểm cũng chưa tới, có làm cũng không đạt được kết quả tốt, khuyên một người cũng không được. Đúng thời điểm thì không khuyên, người cũng tìm nghe. Riêng tôi, chỉ lạy Phật cầu gia bị và tụng kinh Đại thừa, học phương pháp trị liệu mà Phật để lại, nên đạt được một số thành quả nhất định xin chia sẻ với quý vị.