
THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012
bồ tát quan âm
Bồ tát Quán Thế Âm
Quán Thế Âm (觀世音), cũng gọi là Quán Tự Tại, Quan Âm, là một trong những vị Bồ tát có hạnh nguyện cứu khổ, cứu nạn cho mọi chúng sinh. Có nhiều luận giải khác nhau về nguyên nghĩa tên Ngài. Có người hiểu danh hiệu Ngài là một “người nam” quán chiếu thế giới, có người hiểu là vị Bồ tát lắng nghe mọi tiếng thế gian.
Nhìn chung, Bồ tát Quán Thế Âm là thể hiện lòng Bi, một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, mọi người gọi Bồ tát là bậc Đại Bi. Dạng kia của Phật tính là Trí huệ, là đặc tính được Bồ tát Văn-Thù-Sư-Lợi thể hiện. Quán Thế Âm là vị Bồ tát thể hiện nguyện lực của Phật A-Di-Đà và được xem như quyến thuộc của Phật A-Di-Đà (Tịnh độ tông). Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến mình lúc gặp hiểm nguy. Trong dân gian, Quán Thế Âm là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và giúp người phụ nữ không con cầu tự.
Trong các loại tranh tượng về Quán Thế Âm, chúng ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường tượng Bồ tát có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu. Trên đầu có tượng A-Di-Đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Bồ tát cầm hoa sen hồng, vì vậy nên Quán Thế Âm cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ. Số tay của Bồ tát biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh vô lượng.
Trong tranh tượng với 11 đầu thì Quán Thế Âm mang 9 đầu của chín vị Bồ tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-Di-Đà. Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt. Theo một cách nhìn khác thì 11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả.
Đôi lúc Quán Thế Âm Bồ tát cũng được trình bày dưới một dạng ít thấy, đó là “Sư Tử Hống Quán Tự Tại” (獅子吼觀自在). Dưới dạng này, Bồ tát là một Dược sư, đặc biệt cứu độ những người bệnh phong cùi. Mắt Bồ tát đang nhìn bệnh nhân và mắt chính giữa (huệ nhãn) đang tập trung chẩn bệnh. Hai bảo vật bên vai cũng là những dụng cụ của một dược sĩ, bình sắc thuốc bên trái của Bồ tát và đao trừ tà (bệnh) bên phải. Sư tử Bồ tát cưỡi xuất phát từ một sự tích. Tương truyền rằng, có một con sư tử sinh được một con nhưng con chết ngay sau khi sinh. Đau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con nó sống lại. Vì thế mà có sự liên hệ giữa tên của Sư Tử Hống Quán Tự Tại (“giọng sư tử”) với nghề nghiệp của một dược sĩ “gọi người sống lại”.
Một thuyết khác giải thích tích của 11 đầu và nghìn tay: lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Bồ tát đau xót vỡ ra từng mảnh. Phật A-di-đà xếp các mảnh đó lại thành 11 đầu. Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Bồ tát mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt. Quán Thế Âm cũng hay được vẽ là một vị Bồ tát cứu độ chúng sinh trong sáu nẻo Luân hồi (Lục đạo): trong súc sinh, Quán Thế Âm đầu ngựa, hoặc cưỡi sư tử; trong địa ngục, người có nghìn cánh tay; trong cõi A-tu-la, người có 11 đầu.
768824242_b13e0d1337_o.jpg
Tại Việt Nam, Quán Thế Âm còn gọi là Quan Âm, hay được trình bày dưới dạng “Phật Bà”. Tại Tây Tạng, Quán Thế Âm là “người bảo vệ xứ tuyết” và có ảnh hưởng trung tâm trong truyền thống Phật giáo tại đây. Người ta xem Bồ tát là cha đẻ của dân tộc Tây Tạng và nhờ Ngài mà Phật giáo được truyền bá qua nhà vua Tùng-tán Cương-bố, được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm. Đạt-lại Lạt-ma và Cát-mã-ba cũng được xem là hiện thân của Quán Thế Âm. Câu Man-tra OM MA-NI PAD-ME HUM được xem là thuộc tính của Quán Thế Âm, là thần chú đầu tiên truyền đến Tây Tạng và ngày nay được tụng đọc nhiều nhất. Tranh tượng của Bồ tát được biểu diễn bằng một người có 11 đầu và ngàn cánh tay hoặc trong dạng có bốn tay, ngồi toà sen.
Trong Diệu pháp liên hoa kinh, đức Phật Thích Ca đã giải thích rõ cho Vô Tận Ý Bồ tát về ý nghĩa của danh hiệu Quán Thế Âm là do vị Bồ tát này khi nghe âm thanh của chúng sinh xưng danh hiệu mình thì bèn tầm thanh để cứu khổ. Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh bị các khổ não nghe đến danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, một lòng xưng danh Ngài thì ngay khi đó, Bồ tát Quán Thế Âm bèn xem xét âm thanh ấy, khiến cho họ đều được giải thoát. Cũng theo kinh Diệu pháp liên hoa thì Quán Thế Âm Bồ tát có 32 hóa thân khác là thân Phật, Bích Chi, Thinh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Đại Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ Sa Môn, Tiểu Vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la–môn, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Phụ nữ, Đồng nam, Đồng nữ, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, A-tu-la, Khẩn-na-la Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân, Thần chấp Kim Cang.
Sau này lại có thêm 33 hóa thân khác của Quán Âm, những hóa thân này không dựa vào kinh sách mà chỉ dựa vào tư tưởng hóa độ lục đạo kết hợp với 33 Ứng hóa thân trên pha trộn với tín ngưỡng dân gian của Nhật Bản và Trung Hoa mà tạo thành, đó là các hồng danh: Dương Liễu Quán Âm, Long Đầu Quán Âm, Trì Kinh Quán Âm, Viên Quang Quán Âm, Du Hý Quán Âm, Bạch Y Quán Âm, Liên Ngọa Quán Âm, Lang Kiến Quán Âm, Thí Dược Quán Âm, Ngư Lam Quán Âm, Đức Vương Quán Âm, Thủy Nguyệt Quán Âm, Nhất Diệp Quán Âm, Thanh Cảnh Quán Âm, Uy Đức Quán Âm, Diên Mạng Quán Âm, Chúng Bảo Quán Âm, Nham Hộ Quán Âm, Năng Tĩnh Quán Âm, A Nậu Quán Âm, Vô Úy Quán Âm, Diệp Y Quán Âm, Lưu Ly Quán Âm, Đa La Quán Âm, Cáp Lỵ Quán Âm, Lục Thời Quán Âm, Phổ Bi Quán Âm, Mã Lang Phụ Quán Âm, Hiệp Chưởng Quán Âm, Nhất Như Quán Âm, Bất Nhị Quán Âm, Trì Liên Quán Âm, Sái Thủy Quán Âm.
Nhân ngày vía Bồ tát Quán Thế Âm 19.6.Nhâm Thìn (2012), mỗi người con Phật chúng ta hãy dâng nén tâm hương hướng về Ngài, cầu nguyện Đức Đại từ, Đại bi, Cứu khổ, Cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát cứu vớt mọi sinh linh đang sống trong biển khổ, sông mê mau mau tỉnh ngộ hướng về bờ giác.
THIỀN SƯ TÍNH QUẢNG
GIỚI THIỆU CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP
THIỀN SƯ TÍNH QUẢNG
Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều (1694-1768) là một tác gia lớn của văn học Phật giáo thời Lê Trịnh. Thiền sư để lại một số tác phẩm có giá trị học thuật, giúp ích cho công việc nghiên cứu văn học, lịch sử, tư tưởng giai đoạn Phật Giáo thời Hậu Lê. Nhiều tác phẩm như Phật Quốc Ký truyện, Nam Tuần quốc ngữ khúc, Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi, Ni bát kính pháp phương ngôn đã được khắc in. Còn Sa di ni quốc ngữ được đưa vào sách Hành trì tập yếu chư nghi. Chưa nói đến một số bài tựa, bài ký khắc vào văn bia lưu truyền ở các chùa mà thiền sư được mời biên soạn.
Hầu như các tác phẩm của Ngài chưa ai quan tâm, có nhiều nhà nghiên cứu chỉ mới nên tên sách cùng tên tác giả mà chưa biết rõ về tác gia này. Tiêu biểu là công trình Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 của Liên tổ văn học Việt Nam, Trường Đại Học Sư Phạm chỉ nhắc đến tác phẩm Phật Quốc ký truyện và một lời nhận xét nhỏ. Ông Hoàng Xuân Hãn có sử dụng chữ nôm trong Phật Quốc ký truyện để so sánh với một số tác phẩm đương thời. Cho đến công trình Di Văn Chùa Dâu có đụng chạm đến ván khắc cùng bản in Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi của thiền sư Tính Quảng. Những nhược điểm trên đây đã thúc đẩy chúng tôi công bố bài viết nhỏ nhằm giới thiệu con người và sự nghiệp thiền sư Tính Quảng. Công việc của chúng tôi là bước đầu thu thập tư liệu, giới thiệu hành trạng cùng các tác phẩm của thiền sư.
1. Tiểu Sử Thiền sư Tính Quảng (1694-1768)
Các tư liệu chữ Hán có liên quan đến hành trạng thiền sư Tính Quảng rất nhiều. Chúng tôi sử dụng hai văn bia do chính học trò của thiền sư lập ở hai ngôi tháp. Một bài văn bia Thời Vũ Tháp Thiên Ân Tự Khai Sáng Tổ Sư Thực Lục (sau đây gọi tắt là Thực Lục) do sư Hải Trí soạn được tạc trên tháp Thời Vũ[1] và Thiền Phong Tháp Ký do thiền sư Hải Khâm Thân Thân soạn được tạc trên tấm đá gắn trên thân tháp Thiền Phong tại chùa Bụt Mọc-Bắc Ninh. Hai tư liệu này có độ chính xác khá cao, có thể bổ sung cho nhau. Ngoài ra, Thiền Uyển Truyền Đăng Lục ghi lại thế hệ truyền thừa tông phái Cầm Sơn.
Thiền sư Tính Quảng sinh ra trong một gia đình truyền thống Nho học, bố họ Nguyễn, mẹ họ Lê. Ngài quê ở xã Phúc lai[2], huyện Gia Bình, trấn Kinh Bắc, nay thuộc thôn Phúc Lai, xã Xuân Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Đạo hiệu của ngài là Thích Điều Điều, tôn xưng là Thượng Đức Tổ Sư, tự xưng là Vô Vật Sa-môn, Hối Tích Tăng, Hối Tích Lão Phu, Tử Trầm Lão Nhân.
Trước lúc mang thai, mẹ ngài nằm mộng thấy ấn lớn[3]. Thực Lục chép: “khi ngài sinh có điềm lạ, ban đêm ánh sáng đầy nhà”. Ngài sinh giờ Tuất, ngày 14 tháng 4 năm Giáp Tuất (1694)[4]. Ngài còn nhỏ không khóc, ba tuổi thường đi chơi cảnh chùa[5]. Năm 6 tuổi[6], cha mẹ cho đi học, ngài thông minh dĩnh ngộ, học biết hơn người. Năm Nhâm Thìn (1712)[7], gặp lúc dịch bệnh, thiền sư vào ngụ tại chùa Phúc Khánh[8], thường nghe thiền sư Tịnh Niệm ngâm bài kệ Chỉ giá sắc thân mà ngộ đạo. Lúc 19 tuổi, Ngài xin xuất gia với hòa thượng Tính Giác Như Nghiễm [9] thụ học đạo nghiệp, theo thầy hầu hạ được 3, 4 năm.
Năm Đinh Dậu (1717), ngài xin thầy du phương tham học, tìm thầy hỏi bạn, xa nghe thiền sư Như Văn (1655-1724) đang hành đạo ở chùa Quang Khánh[10], huyện Kim Thành bèn đến qui tông tham cầu tâm yếu. Sau khi đắc chỉ, ngài phát nguyện thụ giới cụ túc với thiền sư Vô Trụ[11]. Năm Nhâm Dần (1722), thầy trò cùng lên kinh ứng thí, tổ sư Như Văn được ban chức Tăng Phó, còn thiền sư thì được cấp độ điệp hành đạo[12]. Năm sau, thiền sư chính thức nhận điệp trụ trì chùa Diên Phúc thôn Phí Gia [13]. Thiền sư ở đây hành hóa rất được lòng dân, tiếp nhận học trò. Trụ trì được một năm (1724) thì bản sư Như Văn viên tịch, Tính Quảng về lo tang lễ cho thầy. Năm Bảo Thái 7 (1726), tưởng nhớ đến công ơn thầy tổ đã giáo dưỡng mình, thiền sư Tính Quảng đứng in Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, trong đó cung tiến cho thiền sư Như Văn, lúc này thiền sư chưa thụ giới cụ túc, chỉ còn sa di[14].
Năm Canh Thân (1740) giặc nổi lên khắp nơi, nhận thấy nơi đây chưa được yên bình hành đạo, thiền sư dẫn học trò lên Kinh ngụ tại chùa Nga Mi cùng đạo hữu Tính Hài. Năm Tân Dậu (1741), quốc mẫu cho về trụ chùa Phổ Quang[15]. Năm Nhâm Tuất (1742), ngài muốn về Sơn Tây làm bài kệ tạ ơn đạo hữu, sau đến trụ chùa Hoa vân, An Sơn.
Năm Quí Hợi (1743) ngài ở chùa Phàn Long. Năm Giáp Tý (1744), ngài kết hạ an cư trên núi Tử Trầm. Năm Ất Sửu (1745), lên chùa Khánh Vân, Phú Ổ. Năm Mậu Thìn (1748), ngài trở lại núi Tử Trầm kết am lập Viện Thiền Phong. Từ đó, sư tu hành khắc khổ, giới hạnh tinh nghiêm, không mong cầu danh lợi, đạo đức hoàn bị, tăng ni vân tập học đạo rất đông, sau này trở thành những bậc long tượng trong thiền môn cũng một bề giáo hóa của sư. Năm Ất Hợi (1755), thôn miếu thỉnh sư trụ trì chùa, động Long Tiên. Năm Bính Tý (1756), đạo tràng Hải Dương thỉnh ngài về chùa Kim Âu, Việt Khê. Năm Đinh Sửu (1757), quận phu nhân họ Đặng thỉnh sư trở về Tử Trầm. Trong thời gian tại núi Tử Trầm thiền sư đã cho khắc in các tác phẩm như Hộ Pháp Luận[16], Thủy Sám Bị Giản, Kim Cương Quyết Nghi, Bát Nhã Trực Thuyết, Pháp Hoa Phẩm Tiết[17]. Đến năm Kỷ Mão (1759) thiền sư cho phân phát lưu thông.
Đến năm Giáp Thân (1764) thiền sư được 71 tuổi, lúc này đạo phong ngài lan tỏa khắp nơi, dân làng Phúc Lai bèn đến viện Thiền Phong cung thỉnh ngài hồi hương sáng lập tự viện để nhân dân có chỗ tu học. Sư nghĩ rằng Phúc Lai chính là nơi mình sinh ra và trưởng thành, nếu lập chùa chính là nền tảng muôn đời. Do thế, thiền sư không từ thân mệt mỏi mà nhận lời thỉnh cầu. Năm Ất Dậu (1765) thiền sư dẫn đồ chúng về quê, còn một số đệ tử ở lại trông coi viện Thiền phong. Lúc đầu, thiền sư bỏ tiền ra lo mua những gỗ tốt, cưu công tạo lập tiền đường, thiêu hương, thỉnh tôn tượng về an vị, cho trồng cây xung quanh tạo nên một già lam trang nghiêm, đặt tên là Thiên Ân tự[18], lập viện Thời Vũ, đào tạo đồ chúng.
Công thành hạnh mãn, thiền sư thị tịch giờ Dậu, ngày 13 tháng 5 năm Mậu Tý (1768), thọ 75 tuổi. Theo lời dặn dò của sư, đệ tử để trong ba ngày, sau đó trà tỳ thu xá lị dựng tháp Thời Vũ phía nam chùa, hương hỏa phụng thờ. Theo Thiền Phong tháp ký cho biết, sau khi làm lễ trà tỳ chia xá lị, những học trò của thiền sư như Hải Thuần, Hải Khâm, Hải Uyển, xin thỉnh một phần đem về chùa Bảo Quang (Bụt Mọc) – Bắc Ninh lập tháp, an lập tên là Thiền phong tháp. Tháp Thiền Phong xây xong vào năm Canh Dần (1770). Tại chùa Trầm hiện nay có một ngọn tháp lưng chừng núi mang tên “Hối Tích Tháp”, chúng tôi cho rằng tháp này được các học trò lập ra để tưởng nhớ công ơn của ngài.
2. Sự Nghiệp văn học của thiền sư Tính Quảng:
Hiện nay, tác phẩm của thiền sư Tính Quảng đã được Lê Mạnh Thát trong Tổng Tập Văn Học Phật Giáo, tập 1 cho đưa lên phần dự kiến công bố. Các tác phẩm như sau:
- Tam tổ thực lục
- Phật quốc ký
- Sa di ni học pháp oai nghi quốc âm
- Hiến cổ châu Phật tổ nghi
- Văn bia và một số bài tựa[19]
Nhìn vào danh sách do Lê Mạnh Thát dẫn ra vẫn còn thiếu mấy tác phẩm. Trong quá trình tìm đọc, sưu tầm các tư liệu hán nôm, chúng tôi được tiếp xúc một số tác phẩm của các thiền sư Việt Nam, trong đó xuất hiện nhiều tác phẩm của thiền sư Tính Quảng.
Trong một chuyến điền dã tại chùa Khê Hồi, chúng tôi phát hiện trong chùa còn lưu trữ một tủ ván khắc. Được sự cho phép của nhà chùa, chúng tôi bắt đầu phân loại bản gỗ và nhận thấy có một số bộ ván có giá trị. Phát hiện được một tấm có đề Thiện Tài Nam Tuần Ngũ Thập Tam Tham Khúc Dụng Quốc Ngữ trên gáy ván đề Nam tuần quốc ngữ khúc. Các bản ván này nằm trong bộ ván Văn Thù chỉ nam đồ tán. Khi cho in dập, mới nhận ra bản Nam tuần quốc ngữ khúc chính là bản dịch lại sách Văn thù chỉ nam đồ tán. Qua khảo sát bài tựa, chúng tôi mới biết đây là bản dịch theo thể thơ song thất lục bát của Thiền sư Tính Quảng. Tác phẩm chiếm 7 tờ và 1 tờ bài tựa. Bài tựa cho biết thiền sư Tính Quảng ủy thác cho Thanh Lương sa môn Hải Tràng Thích Ẩn Ẩn viện Pháp Đăng, chùa Bảo Khánh, xã Quảng Bố, huyện Lương Tài đứng in. Văn bản không ghi lại năm in sách. Theo văn bia Trùng tu công đức bi ký cho biết năm Giáp Thân (1824) thiền sư Từ Hòa Chiếu Thường (1765-1840) cho san khắc các kinh sách như Truy Môn Cảnh Huấn, Minh Ty Tướng Công, Văn Thù Chỉ Nam, Tây Phương Công Cứ. Bộ ván này được chùa Khê Hồi khắc lại vào năm 1824, nhưng hiện chưa tìm được sách in từ bộ ván.
Phật Quốc Ký Truyện in năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780) do đệ tử Hải Soạn Thích Thời Thời trùng san, Hải Khâm Thích Thân Thân viết tựa, thiền sư Hải Luật Vô Biệt đính chính nhuận văn, thiền sư Hải Hựu chùa Pháp Ấn viết chữ khắc in, ván giữ tại chùa Thiên Ân, Phúc Lai. Theo tờ 1a cho biết tác phẩm được thiền sư Tính Quảng phiên quốc âm ngày 23 tháng 3 năm Canh Ngọ (1750). Bản của chúng tôi thiếu mất mấy tờ bài tựa, chỉ còn lại tờ cuối, phần nội dung chiếm 53 tờ, trong đó có một trang cuối là phụ bạt do chính sư viết. Phần cuối gồm 8 tờ ghi lại danh sách thập phương tín cúng. Văn bản này in theo hai loại chữ, chữ nôm được khắc in lớn, chữ hán chú thích được khắc in cở nhỏ. Sau đây, chúng tôi trích một vài câu đầu nói lên duyên khởi như sau:
“Cảnh hưng thuở thập nhất niên
Quí xuân tiết ấy dịch phiên truyện này
Tử Cầm hiệu núi đó nay
Thiền Phong là viện bút rày chép biên
Thấy trong Phật Quốc Ký truyện
Có thầy Pháp Hiển ở miền Trường An
Xuân đài Hoằng Thủy nhị niên
Vừa năm Kỷ Hợi dân an thái hòa
Đâu đâu hưng vượng thiền gia
Thiên trường địa cửu âu ca vui vầy”
Sa Di Ni Học Pháp oai Nghi Quốc Âm được in trong Hành Trì Tập Yếu Chư Nghi, chùa Yên Ninh tàng bản. Văn bản này được lưu thông rộng rãi tại các chùa thuộc đồng bằng bắc bộ. Viện nghiên cứu hán nôm còn lưu trữ một tập văn bản bao gồm một số tác phẩm như Phật thuyết nhân quả bản hạnh, Tây phương tịnh độ ca, Ni bát kính pháp phương ngôn, Đạt na thái tử hạnh, Lí sự dung thông, giới thần bản hạnh (kí hiệu AB. 177). Hầu hết tác phẩm của các tác giả người Việt. Trong đó, Ni bát kính pháp phương ngôn của thiền sư Tính Quảng được khắc in năm Gia Long thứ 3 (1804). Cuối bài tựa, sau lạc khoản niên đại có ghi rõ: “Long Châu am Hối Tích sa môn Tính Quảng Điều Điều soạn”. Bản in gồm 5 tờ, một tờ bài tựa, 3 tờ mang nội dung chính và một tờ in phụ thêm bài Cổ đức khuyến niệm phật kệ phương ngôn của thiền sư Tính Quảng. Hai tác phẩm nôm Sa di ni học pháp oai nghi quốc âm và Ni bát kính pháp phương ngôn là hai tư liệu học tập dùng cho ni giới mới đầu Phật xuất gia. Trong bài Lược dẫn bát kính pháp tự cho biết: “Nay ta thấy đất này phần nhiều người nữ xuất gia nên lấy pháp đó thuật làm phương ngôn (chữ nôm)”. Như thế, có thể thiền sư Tính Quảng có khá nhiều những học ni đến tham học nhân đó, sư mới dịch các tư liệu này ra chữ nôm cho dễ học tập.
Tam Tổ Thực Lục hiện nay được lưu trữ tại Viện nghiên cứu hán nôm, kí hiệu A. 786 đã bị rách phần cuối các trang ở bài tựa. Chúng tôi còn tìm thấy một bản nữa tại chùa Hói - Hải Dương còn nguyên được đóng với Thiền Uyển Tập Anh, cũng in vào thời Lê trung hưng. Sách được sa di Hải Sung (海充)[20] trụ trì Bổ Đà mộ duyên trùng san khắc in năm Ất Dậu niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 (1765), bản lưu tại chùa Lân Động, núi Yên Tử. Theo bài tựa sách Tam tổ thực lục chép: “May còn bản cũ Thánh đăng lục trích ra cùng lược sao bia cổ chùa Hương Hải, phía sau in phụ Thiền đạo yếu học để tiện quan lãm, cho đến Trúc Lâm Tự Tổ Bản Hạnh biên tập thành một sách, đầu cuối ngôn ngữ chu toàn vậy”[21]. Qua bài tựa và sự kiểm chứng của các nhà nghiên cứu cho thấy sư Tính Quảng lấy truyện vua Trần Nhân Tông trong sách Thánh Đăng lục làm truyện đầu, sau đó lược sao bia chùa Hương Hải tức chép truyện thiền sư Pháp Loa rồi in thêm Thiền đạo yếu học, phần truyện tổ Huyền Quang thì lấy tư liệu Trúc Lâm tự tổ bản hạnh. Góp ba phần truyện đó trở thành một tập sách biệt lập là Tam Tổ thực lục. Thực ra, đây là công việc vừa biên tập vừa bảo tồn thư tịch cổ thời Lý Trần của thiền sư Tính Quảng.
Bản Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi, in năm Quang Trung 5 (1792), ván khắc được bảo tồn tại chùa Dâu, đã được công bố trong Di Văn Chùa Dâu[22].
Thiền sư soạn lại Cúng Đông Đô thủy tổ khoa tức khoa cúng cho thiền sư Chuyết Công. Văn bản được đóng thành một tập, bao gồm một số khoa cúng tổ, thứ tự như sau: “Tiêu sơn Thiên Tâm cúng tổ khoa, Cúng Đông Đô thủy tổ khoa, Cúng tổ khoa (Đại Tráng thủy tổ), Cúng Linh sơn Đại Tráng tổ khoa, Phương tiện cúng tổ sư khoa, Cúng gia tiên khoa”. Như thế, có tất cả 6 khoa cúng, bao gồm khoa cúng tổ chùa Tiêu, khoa cúng tổ chùa Phật Tích, 2 khoa cúng tổ chùa Linh Sơn-Đại Tráng tức cúng thiền sư Tịch Mẫn, Đạo Thuận, còn hai khoa cúng tiếp chỉ thông dụng trong các chùa. Cúng Đông Đô Thủy tổ khoa được soạn năm Cảnh Hưng Giáp Thân (1764) do lời mời của hòa thượng chùa Kim Liên, huyện Thọ Xương nên sư chấp bút soạn khoa. Không biết vì lí do gì mà khoa cúng này lại xuất hiện tại chùa Tiêu?
Như thế, thiền sư Tính Quảng để lại 7 tác phẩm được viết bằng hai ngôn ngữ Hán và Nôm như sau:
1. Phật quốc ký truyện
2. Nam tuần quốc ngữ khúc
3. Sa di ni học pháp oai nghi quốc ngữ
4. Ni bát kính pháp phương ngôn
5. Tam tổ thực lục
6. Hiến Cổ Châu Phật Tổ Nghi
7. Cúng Đông Đô thủy tổ khoa
Trong khi đó, tại một số tủ sách các chùa còn tìm thấy một số bài tựa, dẫn được in trong các kinh sách Phật Giáo. Chúng tôi thống kê như sau:
1. Trùng Tuyên Lăng Nghiêm Chính Mạch tự viết năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1738). Chùa Bổ Đà tàng ván, khắc in lại năm
2. Trùng Tuyên Thánh Đăng Ngữ Lục tự viết năm Cảnh Hưng 21 (1750). Bản lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu A. 2569.
3. Trùng Tuyên Hộ pháp luận Tự Dẫn viết năm Cảnh Hưng 15 (1754). Chùa Đọi tàng ván, bản in lại năm Tự Đức thứ 11.
4. Chư Kinh Nhật Dụng Tự viết năm Cảnh Hưng 26 (1765) tại viện Thời Vũ, chùa Phúc Lai. Bản lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu AC. 313.
5. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Phẩm Tiết viết năm Cảnh Hưng 29 (1768) tại viện Thời Vũ, chùa Phúc Lai. Bản in lại vào năm Bảo Đại thứ 2, chùa Đa Bảo tàng bản.
Tại một số chùa thuộc các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng còn bảo lưu nhiều văn bia do thiền sư soạn. Một số văn bia hiện mất, may nhờ Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp dập trước năm 1945 nên chúng tôi sử dụng thác bản này. Các bài văn bia được chúng tôi thống kê dưới đây:
1. Qui Tông Tháp viết năm Vĩnh Khánh thứ 1 (1730) tại chùa Diên Phúc. Thác bản Viện nghiên cứu Hán Nôm.
2. Dương Nham động tân tạo Đại Quán Âm Bồ Tát tứ thập nhị tý khắc thạch ký tịnh tự viết năm Long Đức thứ 2 (1733) tại chùa Diên Phúc, xã Phí Gia. Thác bản Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu 4097.
3. Trung Đạo Tháp Ký viết năm Vĩnh Hựu thứ 1 (1735) tại chùa Diên Phúc. Văn bia được tạc trên tháp Trung Đạo chùa Đống Cao, Hải Dương.
4. Tâm Hoa Tháp viết năm Vĩnh Hựu thứ 3 (1737) tại chùa Diên Phúc. Văn bia được tạc trên tháp Tâm Hoa chùa Bút Tháp.
5. Thừa Bình Tháp Ký Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 17 (1756) tại viện Thiền Phong. Văn bia được đặt trên tháp Thừa Bình, chùa Dâu, Bắc Ninh.
6. Tịnh Hạnh Tháp Ký Thật Lục Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 18 (1757). Văn bia được tạc trên tháp Tịnh Hạnh chùa Muống, Hải Dương.
7. Liên Phương Tháp Ký viết năm Cảnh Hưng 18 (1757). Văn bia được tạc trên tháp Liên Phương chùa Muống, Hải Dương.
8. Quang Thông Tháp Ký Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 19 (1758) tại viện Thiền Phong. Văn bia được đặt trên tháp Quang Thông, chùa Bảo Khánh, Bắc Ninh.
9. Thắng Quả Tháp Ký Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 21 (1760) tại viện Thiền Phong. Thác bản Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu 7936.
10. Lãm Sơn Bảo Quang Tự Báo Ân Tháp Ký Tịnh Minh viết năm Cảnh Hưng 34 (1773) tại viện Thiền Phong. Văn bia tại chùa Bụt Mọc, Bắc Ninh.
11. Hậu Phật Tự Ký viết năm Cảnh Hưng 38 (1777) tại chùa Thiên Ân. Thác bản Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu 4437.
12. Hậu Phật bi ký / Lưu truyền vạn đại được tạc vào đá năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793), tại chùa Bảo Khánh, xã Quảng thọ, huyện Lương Tài, Bắc Ninh. Thác bản viện nghiên cứu hán nôm, kí hiệu 6356, 6357
13. Linh Quang tháp minh lập năm Cảnh Hưng thứ 14 (1753). Văn bia tạc trên thân tháp Linh Quang, chùa Miểu, Hải Phòng
14. Diên Quang tháp ký tịnh minh lập năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763). Văn bia đặt trên thân tháp Diên Quang, chùa Miểu, Hải Phòng.
Như thế, chúng ta chỉ mới sưu tầm được 5 bài tựa, lời dẫn trong các kinh sách và 14 văn bia. Đây là một tư liệu quí có nhiều giá trị văn học, sử học. Thông qua các bài tựa, chúng ta có thể biết được công việc khắc in các kinh sách. Điểm nổi bật là thiền sư ghi lại xuất xứ các văn bản, tìm ra một bản tốt để sử dụng trong công việc khắc ván.
Thiền sư viết nhiều bài ký, minh được khắc trên bia đá, nhiều văn bia được tạc trên các ngôi tháp đá ghi lại hành trạng các vị thiền sư đương thời. Nếu đem so sánh với công trình Kế Đăng Lục của thiền sư Như Sơn, phương pháp ghi chép hành trạng của ngài có phần tiến bộ, nhất là ghi rõ hành trạng từng vị. Sau phần nội dung, Tính Quảng còn viết một bài minh ca ngợi công đức của các bậc đại sư. Bài minh này tóm tắt lại tiểu sử mà ông đã đề cập trước đó. Một phần không thể thiếu đối với hành trạng là ghi lại mục Truyền Đăng Lục, tức ghi chép nguồn gốc tông môn, cùng danh sách đồ đệ và người người kế đăng. Điều đó, giúp cho các nhà nghiên cứu thiền tông Việt Nam có điều kiện viết lại phổ hệ truyền thừa cùng sự hiểu biết chi phái trong thiền tông.
Ngoài sự nghiệp văn học, thiền sư Tính Quảng còn đứng in một số kinh sách như Hộ Pháp Luận, Thủy Sám Bị Giản, Kim Cương Quyết Nghi, Bát Nhã Trực Thuyết, Pháp Hoa Phẩm Tiết, Chư kinh nhật tụng. Hiện nay, tại thư viện Hán Nôm còn có các bản in như Pháp Hoa phẩm tiết, Hộ Pháp Luận[23], Lăng Nghiêm Chính Mạch, Chư kinh nhật tụng. Khi thiền sư Như Văn viên tịch, ngài cùng đồng đạo đứng in Duy ma Cật sở thuyết kinh để truy tiến cho bản sư.
3. Thiền sư Tính Quảng và truyền thừa tông Lâm Tế
Theo Thực Lục ghi chép tông phái thiền sư kế đăng như sau: “Thủy tổ Viên Văn Chuyết Công Hòa Thượng truyền Minh Lương Mãn Giác Hòa Thượng; truyền Chân Hiền Liễu Nhất Hòa Thượng truyền Như Văn tăng phó sa môn; truyền Tính Quảng Hối Tích sa môn truyền đến các pháp tự”[24]. Đây là một chi của thiền phái Lâm Tế miền Bắc. Theo thiền sử cho biết thiền sư Chuyết Công Viên Văn (1590-1644) người Trung Quốc sang hành đạo tại Đại Việt. Lúc đầu, sư dừng chân tại Đàng Trong, sau theo sự thỉnh mời, thiền sư tiếp bước vân du ra Đàng Ngoài, trú lại thành Thăng Long, rồi phục hưng chùa Phật Tích, xây dựng chùa Bút Tháp. Lấy hai đạo tràng Phật Tích và Bút Tháp làm trung tâm điểm, thiền phái Chuyết Công bắt đầu truyền xuống Tứ trấn.
Chuyết Công có vị đệ tử là thiền sư Minh Lương, trụ trì chùa Vĩnh Phúc trên núi Phù Lãng. Nhánh phái của thiền sư Minh Lương phát triển mạnh. Từ Phù Lãng, hai thiền sư Chân Nguyên, Chân Hiền kế nghiệp trụ trì Long Động, Hoa Yên thuộc núi Yên tử. Hai vị sư này hòa nhập phái mình với thiền phái Trúc Lâm, tạo nên một phái mà phần cuối sách Tam tổ thực lục ghi là phái Trúc Lâm Lâm Tế[25]. Tại Hoa Yên, thiền sư Như Văn(1655-1724), đệ tử của thiền sư Chân Hiền đã nhận trụ trì chùa Muống, Hải Dương. Tại đây, sư ra sức xây dựng đạo tràng, vân tập đồ chúng. Chính thiền sư Tính Quảng từ Bắc Ninh xuống đây thụ học. Theo Phúc Điền trong Thiền môn tu trì kinh chú luật nghi phần Chư tổ kế đăng cho biết sư Tính Quảng sau khi về Tử Trầm, định cư tu tập đã mở đạo tràng thu nhận đồ chúng giảng dạy Phật Pháp. Nhiều thiền sư đã đến tham học, sau đi các nơi hành đạo, tạo nên một một chi phái mới, gọi là phái Cầm Sơn.
Theo Thực Lục, mục Tự Pháp Đệ Tử ghi lại đệ tử xuất gia như sau tỳ kheo Hải Soạn, Hải Phạn, Hải Thắng, Hải Dật, Hải Trí, Hải Hồng, Hải Từ, Hải Trình, Hải Tràng, Hải Luật, Hải Thiếp, Hải Thiện, Hải Bật, Hải Thân…Tiêu biểu có thiền sư Hải Soạn kế đăng trụ trì chùa Phúc Lai, thiền sư Hải Luật Thích Cục Cục trụ trì chùa Khánh Quang. Thiền sư Hải Khâm Thích Thân Thân ở am Thụ Thụ chùa Bảo Quang, sau đó lập viện Hội Ninh, chùa Linh Quang thôn Phú Mẫn, huyện Yên Phong, tạo nên một sơn môn. Thiền sư Hải Bật (1716-1796) trụ trì chùa Càn An-Nam Đồng, Hà Nội. Thiền sư Hải Dật trụ trì chùa Long Động. Thiền sư Hải Uyển Thích Sâm Sâm kế đăng viện Thiền Phong, sau về trụ trì chùa Sùng Ân. Thiền sư Thanh Lương Hải Tràng Thích Ẩn Ẩn ở viện Pháp Đăng, chùa Bảo Khánh, xã Hạo Bá, huyện Lương Tài, Kinh Bắc.
Theo Phúc Điền, phái Cầm sơn có bốn chi. Một chi ở chùa Muống, chùa Khánh Quang phát triển thành sơn môn Muống. Một chi ở chùa Càn An, Hà Nội, truyền thừa được mấy đời từ Thiền sư Hải Bật, Tịch Nghiêm, Chiếu Kiên, Phổ Triện. Chi thứ ba phát triển ở chùa Linh Quang, lập viện Hội Ninh nối kết với phái chùa Bụt Mọc, Bắc Ninh. Chi thứ tư phát triển ở chùa Vân Giá, Sơn Tây do thiền sư Hải Uyển khai sáng. Trong bốn chi đó, pháp phái chùa Muống phát triển mạnh cho đến bây giờ.
Qua hành trạng cũng như sự nghiệp thiền sư Tính Quảng, chúng ta được biết thêm một tác gia văn học Phật Giáo Việt Nam thời hậu Lê. Thiền sư Tính Quảng để lại nhiều tác phẩm có giá trị văn học bằng chữ nôm như Phật Quốc Ký truyện, Nam tuần quốc ngữ khúc. Có công bảo tồn tư liệu Phật Giáo thời Trần như Tam tổ thực lục, Thánh đăng ngữ lục. Các văn bia do ngài soạn một giá trị sử học nhất định. Thông qua các bài tựa, dẫn, chúng ta có thể đánh giá cách làm trong công việc in ấn thuở xưa. Không chỉ thế, thiền sư còn thu nhận đồ chúng, đào tạo nhân tài góp phần vào sự phát triển của Phật Giáo thời cuối Lê.
ý nghĩa ba cái lạy trong PG
ý nghĩa ba cái lạy trong Phật giáo
Lạy hay còn gọi là Lễ Bái, là nghi thức rất phổ thông trong dân gian, mang ý nghĩa bày tỏ lòng biết ơn và niềm tôn kính đến với các đấng thần linh, các bậc tiên hiền có công khai phá giang sơn, bảo vệ sơn hà xã tắc, và tổ tiên dòng họ tiếp nối. Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm văn hoá Trung Hoa, nên việc lễ lạy, từ hình thức đến nội dung, từ lễ tổ tiên ông bà ở nhà cho đến lễ lạy Trời, Phật, Thánh, Thần ở đình, chùa, lăng, miếu cũng đều bị ảnh hưởng theo.
Hầu hết các tôn giáo đều có lễ lạy nhưng với nghi thức và ý nghĩa khác nhau. Với Phật Giáo, ý nghĩa và cách thức lễ lạy khác với các đạo giáo khác. Đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ. Tại xứ này ngày xưa, dân chúng thường bày tỏ lòng tôn kính chân thành đến một người nào đó họ ngưỡng mộ kính mến bằng cách quỳ xuống sát đất, đặt trán mình lên chân của vị ấy. Đức Phật là vị Đạo Sư, là bậc giác ngộ được tôn kính đặc biệt tại xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Lúc đức Phật còn tại thế, mỗi lần nghe pháp hay thưa thỉnh việc gì, chư Tăng thường chắp tay lạy ba lạy rồi thưa hỏi hay ngồi nghe pháp. Đức Phật mặc nhiên chấp nhận cung cách này như là một tục lệ có từ lâu đời của xã hội Ấn Độ. Tuy vậy Ngài cũng không đặt thành nghi thức lễ lạy mà để tùy tâm các đệ tử. Sau khi Phật Niết Bàn, hình thức lễ nghi và sự tôn kính ấy vẫn được duy trì trong các hàng đệ tử của Ngài. Sự duy trì hình thức ấy với mục đích là luôn luôn xem đức Phật như còn tại thế. Chư Tăng mỗi khi tụng kinh ôn lại lời Ngài dạy, phải mặc áo cà sa tức áo mầu hoại sắc trang nghiêm, lạy Phật ba lạy. Hàng đệ tử tại gia cũng theo quý chư Tăng lạy Phật như thế.
Tại sao lại lạy ba lạy mà không lạy hai lạy, bốn lạy hay năm lạy? Ba lạy chính là lễ lạy ba ngôi quý báu tức Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Người đời thường xem vàng, bạc, kim cương, hột xoàn, dollars, và danh lợi thế gian là quý báu. Nhưng thực tế cho biết những thứ này không đem lại hạnh phúc chơn thực, không cứu được con người thoát khỏi sinh lão bệnh tử. Nhưng với ba ngôi quý báu Tam Bảo: Phật, Pháp, và Tăng có năng lực dẫn dắt con người thoát khỏi mọi phiền não và ra khỏi sinh tử luân hồi.
Phật là Giác, là thức tỉnh ra khỏi giấc ngủ mê. Đức Phật là người đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Ngài là một bậc đạo sư, một người chỉ lối dẫn đường cho mọi chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy đầu tiên là để tỏ lòng thành kính, ngưỡng mộ và nhớ ơn Phật, cùng là thề nguyện sẽ theo gương Ngài mà tu hành để về bến giác. Pháp là những lời Phật dạy các đệ tử, sau đó được ghi bằng chữ, gọi là Kinh và Luật. Còn Luận là những lời bàn luận của các vị Bồ tát, đệ tử của Phật để làm sáng tỏ thêm những lời Phật dạy. Vì thế người Phật tử lạy cái lạy thứ hai là lạy Pháp bảo nhằm bày tỏ lòng thành kính, biết ơn và tưởng nhớ đến những lời dạy của Phật, những lời dạy mà, nếu chúng ta thực hành sẽ có công năng đưa chúng ta qua khỏi bể khổ, đến bến bờ giải thoát. Tăng là một đoàn thể sống chung với nhau ít nhất là bốn người, bỏ nhà xuất gia đi tu, giữ đầy đủ giới luật của Phật đặt ra, với mục đích tu hành giải thoát cho mình và cho tất cả chúng sinh. Vì thế cái lạy thứ ba là lạy Tăng Bảo, từ các vị Thánh Tăng xuất thế đến các vị Tỳ Kheo trụ thế tu hành chân chính, đạo đức trong sạch, và giới luật trang nghiêm, để tỏ lòng thành kính và biết ơn những vị này đã sống đời sống lý tưởng, đã hy sinh gia đình tiền của và danh vọng, đã xem tiền bạc châu báu như rắn độc, danh lợi như đôi dép rách, sắc đẹp như cạm bẫy, ăn ngon mặc đẹp như xiềng xích trói buộc, để tình nguyện thay Phật dẫn dắt chúng sinh trên đường đạo.
Ngoài ý nghĩa lễ lạy Phật, Pháp và Tăng nêu trên, ba cái lạy cũng còn mang ý nghĩa lễ lạy ba ngôi qúy báu bên trong chúng ta và trong mỗi chúng sinh, vì chúng sinh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt (Phật tánh), đồng một pháp tánh từ bi và bình đẳng (Pháp tánh), và đồng một đức tánh thanh tịnh, hòa hợp (Thanh tịnh tánh).
Về cung cách lạy cũng có nhiều thứ. Người Ấn Độ cũng như Trung Hoa có nhiều cách lễ lạy khác nhau. Riêng Phật giáo Việt Nam thường lạy theo phương cách "Ngũ thể đầu địa", tức là làm thế nào cho hai tay, hai chân và cái đầu đụng mặt đất. Đây là một phương cách lạy tôn kính nhất trong tất cả các cung cách lễ lạy. Khi lễ lạy, người Phật tử đứng ngay thẳng, hai chân khép sát vào nhau, hai bàn tay chắp sát lại nhau cho khít theo thế hiệp chưởng (không phải thế hình búp sen) tiêu biểu cho sự nhất tâm. Khi lạy Phật có người để hai tay trước ngực lạy xuống. Cũng có người đưa hai tay lên trán rồi mới lạy xuống theo phương cách ngũ thể đầu địa, tức là khi lạy phải quỳ xuống, ngửa hai bàn tay ra như đang nâng hai chân Phật và cúi lưng xuống đặt trán mình lên trên hai lòng bàn tay. Đối với phụ nữ, thường là quì thẳng lưng rồi lạy, chứ không đứng, vì hình thể đặc biệt của phụ nữ, khác với nam giới nên thế đứng thẳng trông hơi lộ liễu.
Trong đạo Phật bao giờ sự và lý cũng phải viên dung. Về sự thì như trên chúng tôi đã trình bày. Chúng ta lạy Tam Bảo với tất cả thân tâm thành kính nhớ ơn, thành kính nhớ ơn Phật, thành kính nhớ ơn Pháp, và thành kính nhớ ơn Tăng. Thế còn cái tâm của chúng ta trong khi lạy phải như thế nào? Nghĩ ngợi gì? Tưởng nhớ đến ai, đến cảnh gì, vật gì? Hay là để tâm không nghĩ ngợi, không cầu mong điều gì? Để trả lời câu hỏi này, thiết tưởng chúng ta hãy nhớ lại bài kệ "Quán Tưởng" mà chúng ta thường tụng trước khi đảnh lễ:
Năng lễ, sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao nan tư nghì,
Ngã thử đạo tràng như Đế Châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ.
Đã được dịch ra là:
Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng,
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,
Lưới đế châu ví đạo tràng,
Mười phương Phật hiện hào quang sáng ngời,
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện,
Cúi đầu xin thề nguyện quy y.
Như thế thì bản chất Phật và chúng sinh vốn là "không tịch" lặng lẽ, tạm gọi là chân tâm. Chỉ từ khi bắt đầu khởi niệm, là bắt đầu bị cuốn vào dòng vô minh, rồi thức mới hoạt động, mới suy nghĩ, mới phân biệt ra cái "ta" (năng) và cái "không phải ta" (sở), mới nảy sinh ra tình cảm yêu ghét, tạo nghiệp, trả quả, xoay chuyển trong vòng sinh tử không thấy đường ra.
Phật thương xót chúng sinh mê muội "... trong trí bồ đề mà không thanh tịnh, trong cảnh giải thoát mà sanh ràng buộc..." (Lời sám hối), mới dậy cho chúng sinh tu hành để chấm dứt cái vòng luẩn quẩn đó bằng cách trì giới, tham thiền, niệm Phật, trì chú, mục tiêu đều để giảm bớt sự hoành hành của con vượn tâm, con ngựa ý, giảm bớt những thói quen chấp trước, phân biệt, yêu ghét, từ từ đi tới định tâm. Khi tâm đã "định" thì trí huệ bát nhã mới có dịp hiển lộ, mới được hưởng mùi vị cam lồ của Phật Pháp. Đó là điểm đặc biệt của đạo Phật. Nếu chỉ dậy con người ăn hiền ở lành thì nhiều tôn giáo khác đã làm, đức Phật thị hiện ra đời là dư, không có gì đặc biệt đáng được tôn là Đấng Đại Giác. Chính là vì Ngài đã "nhận" được cái tánh "không tịch" và tự mình dẫn đường cho chúng sinh trong suốt 49 năm, còn để lại kinh sách làm bản đồ cho đời sau nương theo tu tập mà trở lại được cái tánh "không tịch" ấy.
Kẻ nội thù dìm ta trong dòng vô minh chính là cái tâm sinh diệt suy nghĩ liên miên này. Cho nên nếu muốn báo đền ơn Phật, vâng lời Phật thì ít nhất là trong khi lễ lạy phải tuân theo lời Phật dạy, không suy nghĩ gì cả, chỉ theo dõi hành động mà thôi, lễ xuống thì chỉ biết là lễ xuống, đứng lên thì chỉ biết là đứng lên, chắp tay thì chỉ biết là chắp tay, v..v... không có nghĩ đến bất cứ ai, không tưởng nhớ đến bất cứ cái gì. Hễ một niệm tưởng dấy lên là ô nhiễm rồi, là hết "không tịch" rồi, là từ "nhất niệm vô minh" trôi lăn vào dòng vô minh miên viễn rồi.
Nói tóm lại, "Năng lễ, sở lễ tánh không tịch", nghĩa là người lạy và đấng mình lạy, thể tánh đều vắng lặng bình đẳng. Thật tướng vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng, không phân biệt, không thấy có mình lạy và người để cho mình lạy. Nếu khi lạy mà tâm còn vướng mắc một chút xíu mong cầu, hay một chút tơ tưởng đến dòng họ tổ tiên, dù mỏng như một sợi tơ cũng không đúng phép. Tâm phải ở trạng thái thanh tịnh vắng lặng. Phật giáo Việt Nam đã thực hiện phép lý lạy này từ ngàn xưa, thiết tưởng không có phép nào đầy đủ ý nghĩa và hợp với lý Bát Nhã hơn.
tập thơ
Tập thơ
BỤI HỒNG
________________________________________
01-Lời mở
02-Bụi hồng
03-Không thời
04-Chưa lìa bước chân
05-Quên lối về !?
06-Một vòng tay
07-Chấp nhận
08-Giấc mộng
09-Mấy lần đau?
10-Vô tận thường không
11-Ráng hồng
12-Nhặt ánh trăng
13-Giọt nước
14-Một nụ cười
15-Giọt nắng
16-Sang trang
17-Chiều quê
18-Một chút hương
19-Làn gió
20-Đến và đi
21-Đơn Hà đốt tượng
22-Đức Sơn đốt kinh
23-Đức Sơn vung gậy
24-Tiếng hét của Lâm Tế
25-Bùng vỡ
26-Mây bay
27-Tịch liêu
28-Lời đầu tiên
29-Tái sinh
30-Vòng tròn Mã Tổ
31-Trước sau đâu rồi
32-Dụng tâm
33-Trở về
34-Hỏi đáp
35-Trò đùa
36-Niêm hoa 1
37-Niêm hoa 2
38-Chưa quen
39-Hiện sinh
40-Để lại luân hồi
41-Nhớ Hà Nội
42-Nhớ cố hương
43-Sư về muộn
44-Sương ứa lệ
45-Theo dấu chim bay
46-Thở dài đều hơi
47-Không đề
48-Xin chào tất cả
49-Nguyên xuân
50-Hồi đầu
51-Trăng lên
52-Đi về
01. Lời mở
Như giấc mộng, bụi hồng cứ rong chơi mà chưa từng biết mình là thật hay là hư, chỉ biết mình đang hiện hữu như là giấc mộng từ nguồn vô thỉ đến đời vô chung và, chỉ biết nỗi buồn vui qua đi như một giấc mộng.
Những chứng tích buồn vui được ghi lại từ những nét chấm phá trong cuộc rong chơi này, qua đó ngôn ngữ được sử dụng như là một vay mượn tạm thời cho những rung động từ trái tim mộng mị, mà thời gian đang giết chết chính nó, từ những đổi thay này qua những thay đổi khác. Ngôn ngữ chính là thời gian và, như vậy ngôn ngữ trở thành một mớ thi ca mâu thuẫn với chính nó. Thi ca là mẹ đẻ của ngôn ngữ, chính vì vậy cho nên tự ngôn ngữ đã mang mần mống mâu thuẫn với thi ca và, thi ca đã mang mần mống mâu thuẫn với chính nó trong cái vô thường, thường xuyên hiện hữu. Mọi vật sẽ trở nên duyên khởi hanh thông từ sự mâu thuẫn nền tảng này, nếu không có nó thì mọi vật sẽ trở nên xơ cứng và bất động.
Và như vậy bụi hồng có cơ hội để rong chơi mà không cần biết sự hiện hữu của chính mình là hư hay thật trong cuộc rong chơi này!
Việt Nam 2004
Phổ Đồng
________________________________________
02. Bụi hồng
Bụi hồng
mang hạt vô biên
Từ cha yêu mẹ
nỗi niềm gởi trao
Nắng vàng
nâng cánh phượng chao
Hai mươi năm ấy
biết bao đổi dời
Cha từ
cửa khép trang đời
Mang đi bụi đỏ
nửa đời mẹ đau
Hạt buồn
héo sắc duyên mau
Sầu lên phong kín
sắc màu thu sang
Cha còn
thử chuyện đá vàng
Bâng khuâng đời mẹ
ngỡ ngàng con đau!
03. Không thời
Gió mơn ru giấc ngủ
Mây trời vương nắng mai
Mộng nào không mộng thật
Mây nào không mưa bay?
Hiện tại làm sao bắt
Quá khứ vô thường không
Tương lai huyễn tưởng mộng
Bây giờ mới từng giây
Ai vượt qua thói quen
Ai thoát nhanh tập quán
Người nắm giữ hiện tiền
Từng sát-na hợp biến
Từng hơi thở nhiệm màu
An lành đang hiện hữu
Tủng tiểm miệng cười tươi
Xuân đến trong khóe mắt
Xuân đi trong nụ cười
Mặc cho việc lui tới .
04. Chưa lìa bước chân
Mưa giăng
rợp bóng chân thường
Chiều nghiêng nắng sớm
vô thường cánh chim
Mình về
nghe máu về tim
Cưu mang huyễn tượng
đắm chìm hồng hoang
Ra đi
tái hẹn bồi hoàn
Phía sau mất dấu
bàn hoàn bước chân
Người về
cho gởi bước chân
Bước lui bước tới
bước chân chưa rời.
05. Quên lối về !?
Ta từ
hạt bụi rong chơi
Lang thang khắp chốn
luân hồi bước chân
Ra đi
sớm nắng phù vân
Tối về hạt nặng
sương ngàn trùng khơi
Mỏi mòn
hạt bụi bên trời
Nhịp chân giong ruổi
gót bời dặm xa
Bóng đời
mấy dạo sương sa
Buồn vui mắt gợn
bóng tà huy rung
Ra đi
là biết nghìn trùng
Lối về bỏ ngõ
như chừng mất tăm
Quê nhà
giở một nấc chân
Vì ham chơi quá
nên quên lối về!?
06. Một vòng tay
Tự tại hỡi!
hãy chờ ta một chút
Vội vàng chi
ta dọn dẹp tự do
Đã đến lúc
chuyện đời rơi hun hút
Nắng vàng hong
sương nặng hạt nào ngờ
Ta hít thở
với hương ngàn gió mới
Chạm từng giây
như chợt sống bây giờ
Sông chia cách
một lần thôi nắng đợi
Nước xa nguồn
như vĩnh viễn cội mơ
Ta tự hỏi
thời gian thành con rối
Ngày qua rồi
sao cắt nghĩa hôm nay
Mai mốt đó
chưa bao giờ lầm lỗi
Có hay không
như giấc mộng đêm ngày
Ta tự nhủ
cuộc sống giờ bằng phẳng
Từ bắt đầu
và chung cuộc nơi đây
Bờ cõi đó
nghìn thu rơi lẳng lặng
Ta trần truồng
ôm trọn một vòng tay.
07. Chấp nhận
Ta hít thở,
cõi thiên thu phía trước
Và phía sau,
nhịp đập tới hồng hoang
Com bướm nhỏ,
quạt cánh mền từng bước
Dội hư vô,
nghe sóng dậy trong lòng
Ngày mới mở,
đang từng giây phút sáng
Tháng năm rồi,
thôi có nghĩa gì đâu
Người huyễn tưởng,
đôi mép bờ xa cuối
Nào ngờ đâu,
chỉ chớp nhoáng ban đầu
Điếm từng phút,
qua từng giây mới lạ
Ngạc nhiên đầu,
cũng là ngạc nhiên sau
Vì biến dịch,
nên vô thường sắc lá
Cho tim ta,
luôn mới nhận sắc màu
Sống hay chết,
không có gì phải bận
Khổ hay vui,
một thoáng hiện qua thôi
Vì duyên sống,
không gì không chấp nhận
Nên rốt cùng,
tự tại hiện trong ta.
08. Giấc mộng
Khi sắc lá,
đang cuốn tròn thơ ấu
Là bắt đầu,
nắng giã biệt trên cây
Đất khẻ gọi,
bốn mùa sương xuống đậu
Trắng đôi tay,
đang thể hiện từng ngày
Còn ôm giữ,
là đất trời dội ngược
Cách ngăn nhau,
chỉ tại một đường tơ
Thôi mặc kệ,
cho cuộc đời xuôi ngược
Lá vẫn xanh,
là thể hiện giấc mơ
Sáng hôm nay,
hoa nở tròn cánh mộng
Một bông hoa,
rơi rụng nhựa về mau
Cho đất khô,
đâm mấy chồi nhú mộng
Cả nghìn thu,
về phối hợp ngàn sau
Ta hiện hữu,
như con tằm ươm kén
Đủ sắc màu,
là thành hoại trong nhau
Giây phút đó,
chợt hiện về ca múa
Ồ đây rồi,
giấc mộng với nghìn năm.
09. Mấy lần đau?
Từ âm vọng,
của nguồn xưa muôn thuở
Hạt bụi này,
lăn lóc mấy lần đau?
Đi và đến,
chưa một lần thấy cũ
Môi hồng loan,
ánh hiện bóng chiều xiêu
Ta tan rã,
như tuyết mùa bão nỗi,
Lại biến thành,
làn khói mỏng mong manh
Lưu lạc mãi,
tuổi đời đau canh cánh
Chuyện qua đi,
chuyện ngày cũ đâu rồi?
Hoàng hôn xuống,
bình minh nào níu được
Bến trăng ngàn
không chở nổi sao băng
Lời hẹn ước,
ta đành mang rao bán
Đổi tóc màu,
kéo lại bước thời gian?
Đời lỡ hẹn,
nay thôi đành câm nín
Ở nơi này,
và tất cả mai sau
Giờ chấp nhận
như trái sầu bọng chín
Đủ sắc màu
và đủ cả vui đau!
10. Vô tận thường không
Chia xa
lá động mơ hồ
Thuyền thôi neo bến
cột trơ dáng buồn
Trăm năm
thành bại vui buồn
Nghìn năm mưa gió
xô nguồn tịch liêu
Ngày tàn
bóng hiện đìu hiu
Thoảng trong nỗi nhớ
thiên thu phận mình.
Ra đi
gợi nhớ tự tình
Thuyền không bến đậu
lênh đênh nẻo về
Bơ vơ
bến mộng
bờ mê
Chơi vơi ẩn hiện
bốn bề mênh mông
Nẻo về
vô tận thường không
Ta yêu
giọt sống vô thường
mong manh.
11. Ráng hồng
Ta đến từ giấc mộng
Mây buồn bay bơ vơ
Giọt sương cười nắng vỡ
Ra đi về chiêm bao.
Ráng mai hồng viễn tượng
Vỡ tràn bờ suơng tan
Đầu sào trăm thước tiến
Bước đầu tiên cuối cùng.
Ta quên hắt tư duy
Đọng lại giọt sương mờ
Trăng nghiêng thềm nắng đổ
Chuyện hư thiệt một đời.
Rêu xanh mờ nắng đợi
Chim trời cắm hạt sương
Uống tràn hư không mộng
Xa mãi giòng sông xưa.
Mây trắng dạt phương nào
Giòng sông, sâu biển cả
Trôi thây về xứ lạ
Mưa tràn kiếp phù sinh?
Thắp lên ngọn nến hồng
Xua tan bờ ảo vọng
Bờ trăng chìm đáy mộng
Nắng xế, chiều mông lung.
Nhịp cầu sanh qua tử
Giòng sông nước cuốn trôi
Hai bờ quên nắng vội
Thỉ chung mất cội nguồn.
Nắng chiều vương nghiêng đổ
Bên thềm tóc hong sương
Gió lùa từng sợi nhỏ
Ráng chiều ánh rừng phong.
12. Nhặt ánh trăng
Từ kiếp nào hạt bụi
Hoá làm kiếp phong trần
Bước đi vương nắng hiện
Bụi hồng vướng trăm năm.
Nến gầy trang kinh mở
Nhạt nhoà chữ run run
Bóng Người về lãng đãng
Nghìn năm vẫn ung dung.
Dưới trăng ngồi đọc kệ
Tụng nghìn trang kinh hoa
Vọng âm hải triều dậy
Biển trầm bọt nước qua.
Lữ hành xuôi quán trọ
Trăm năm mỏi gót hồng
Tàn canh lay đáy mộng
Tay dài nhặt ánh trăng.
13. Giọt nước
Chiềm sâu trong đáy huyệt
Cô liêu một kiếp người
Quán trọ cười triêu nguyệt
Mùa xuân, sẩy bước chân.
Lênh đênh đầu bọt sóng
Ta giọt nước mong manh
Nghìn năm xưa lấp lánh
Vị mặn nào đổi thay.
Biển trầm giọt nắng đợi
Mưa tràn lũng trời xa
Triều dâng chờ nguyệt hạ
Đáy lòng biển lặng căm.
Bọt sóng phù tang hoá
Nước lạnh bờ bến xưa
Muôn đời hạt cát mịn
Giọt nước cười buồn chưa?
14. Một nụ cười
Ngày xưa buồn hiển hiện
Kiếp người quá mong manh
Nỗi đau lòng canh cánh
Thương cho một nụ cười.
Hôm nay buồn đi vắng
Không nỗi buồn, mênh mông
Tràn đầy tâm ảnh hiện
Thế giới ngập hoa không.
Mai kia buồn lắng đọng
Soi rõ bản mặt xưa
Một cục thịt au đỏ
Máu trào nối đường qua.
Thoảng qua từng hơi thở
Vào ra một kiếp người
Êm đềm như lắng đọng
Nhặt hoa miệng mỉm cười.
15. Giọt nắng
Ta mang một giọt nắng
Nghìn năm đọng hai bờ
Sương tan cười mây vỡ
Ảnh hiện trăng đáy soi.
Dòng sông ánh mây hiện
Bồng bềnh lạc xứ xa
Ráng chiều nghiêng đổ hạt
Rừng sâu mờ núi xa.
Chừng ngủ quên giọt nắng
Mở mắt gió đông về
Mùa xuân hoa chao động
Nắng loan rụng bóng chiều.
Tường rêu xanh năm cũ
Sáng lên một chút buồn
Ngày qua lay đầu mộng
Mốt mai cuốn xa nguồn.
Tàn xuân nghiêng sợi nhớ
Nắng ngủ bờ ráng pha
Sợi tóc mềm bến đỗ
Luân lưu tháng năm gầy.
16. Sang trang
Đưa người
qua cuộc tử-sanh
Biển dâu thành bại
hư danh một đời
Buông tay
giọt nắng bồi hồi
Vô thường lay động
chơi vơi phận buồn
Trăm năm
bóng ngã hao mòn
Nghìn năm bụi đỏ
cuốn nguồn tịch liêu
Chim trời
cánh mỏi đìu hiu
Đường qua mất dấu
ảnh chiều hư vô
Ráng hồng
níu hạt chơ vơ
Nằm nghe trăng đổ
bên bờ thời gian
Mây buồn
gió đuổi lang thang
Cho ta hỏi thử
không gian mấy bờ?
Đâu rồi
giọt lệ bơ vơ
Đâu rồi tiếng nói
nguyên sơ nụ cười!?
Từ cuối kiếp
đến đầu đời
Bỗng dưng phút chốc
đổi dời sang trang!?
17. Chiều quê
Lúa xanh reo nắng đậu
Cánh cò mỏi đường qua
Lặng lội bờ sương cũ
In hình điểm đồng xa.
Luỹ tre thềm gió lộng
Bóng ngã chiều mông lung
Chiều quê êm đềm xuống
Mùi lúa thoảng đưa hương.
Đất thơm mùi cỏ dại
Tanh nồng nước phèn cay
Quyện thêm mùi rơm rạ
Bức tranh quê hiện bày.
Mục đồng lưng trâu cỡi
Trâu thong thả đường về
Tiếng sáo diều thoang thoảng
Gió hiu thổi bốn bề.
Chuông chùa buông nhẹ tiếng
Lay động bóng chiều qua
Đèn nhà ai mới tỏ
Giọt nắng vắng bờ xa.
18. Một chút hương
Sáng nay sunset nở
Hương thầm lay bóng đêm
Đọng mãi hương trời cũ
Lửng lơ giọt trăng tàn.
Người đi mang sợi nắng
Làm vỡ cõi hư vô
Vầng trăng thương nỗi nhớ
Trăng nay lạc nơi nào?
Duyên đâu từng nhánh nhỏ
Khởi động vô thường lay
Ra đi còn đọng lại
Chút gì sót trăm năm.
Vầng trăng nghìn năm tỏ
Ráng gầy qua gió bay
Lảng đãng bờ sương đậu
Hương lan đọng bên ngày.
19. Làn gió
Từ kiếp nào làn gió
Lang thang lạc bước chân
Ta làm duyên hạt bụi
Hai bờ vọng, phù vân.
Sát-na từng giây chuyển
Vô thường chạm hư không
Càn khôn đầu ngọn gió
Nhật nguyệt điểm từng không.
Nghìn năm thương làn gió
Vào ra cõi có không
Từ sinh qua tử lại
Thở ra vào cộng thông.
Gió đông lay tuyết rụng
Hoa khai động xuân phong
Gió hè du sen nở
Lá vàng ánh thu phong.
Phù vân hạt bụi nhỏ
Giọt nắng gió cỏn con
Duyên nhau hiện sinh diệt
Nâng niu cuộc sinh tồn.
20. Đến và đi
Người mở mắt
với hai bàn tay trắng
Mồi lợi danh
Khêu gợi đến vô cùng
Và từ đó
những mong cầu tranh thắng
Tự biến mình
làm con vật thiêu thân.
Mùi danh lợi
thoảng đưa mời hấp dẫn
Tự đốt mình
qua vinh nhục buồn vui
Cho đến khi
người buông xuôi cát bụi
Vinh nhục
bại thành
bỗng hóa hư không!
Và tay trắng
vẫn hoàn bàn tay trắng
Còn lại gì
sau đôi mắt khép kia!?
Niềm hối tiếc
đọc qua bờ thất vọng
Ôm nghiệp đời
tham đắm hận cuồng đi!
Và như thế
bao giờ dừng lại được
Kiếp luân hồi
đan trói khổ đeo theo?!
21. Đơn Hà đốt tượng
Tuyết lạnh căm căm phủ đầy trời
Chùa sao ngăn nổi suốt một đêm
Giờ không phương tiện nào kỳ đặc
Phật gỗ trên chùa đốt ấm lên!?
(Cổ tự hàn thiên độ nhất tiêu
bất cấm phong lãnh tuyết phiêu phiêu
hiện vô thiện lợi hà kỳ đặc
Đản thủ đường trung mộc Phật thiêu.)
22. Đức Sơn đốt kinh
Suốt nửa bình sanh từng cưu mang
San định giảng bày lý Kim cang
Hừng hực lửa lòng thôi thúc mãi
Phương nam hối hả dẹp tà man
Đường vô xa vắng Lão bà tiếp
Nghẹn họng lối về tâm mất tâm
Chợt tỉnh Long Đàm đêm thăm thẳm
Kinh xưa còn lại khói phù vân.
23. Đức Sơn vung gậy
Chờn vờn phía trước lại phía sau
Bên phải chợt vung bên trái đau
Ra vào lui tới đều tuyệt lối
Nói được hay không cũng như nhau
Mục đích dồn người vào hố thẳm
Tự do giải quyết vận mệnh mau
Vì thương con cháu nên phương tiện
Gậy chửa vung ra đã nhiệm màu.
24. Tiếng hét của Lâm Tế
Giật mình
mộng vỡ tràn lan
Khối nghi triền kiếp
cưu mang bao giờ?
Ô hay
sự thể nào ngờ
Xưa nay đây đó
bây giờ ở đâu?
25. Bùng vỡ
Mưa rơi ngoài song cửa
Từng hạt rơi tí tách
Từng hạt rơi rõ ràng
Đập tan trời đất cũ
Bùng vỡ tâm hữu vô
Mưa rơi từng hạt nhỏ
Từng hạt rơi tí tách
Từng hạt rơi rõ ràng.
26. Mây bay
Chân em trong bước nhỏ
Tung tăng rất nhiệm mầu
Lên chùa hỏi thăm Phật
Chiều nay mây đi đâu?
Cuối tường con chim ngủ
Giật mình chuông âm vang
Ngước lên nhìn sư cụ
Bát Nhã chuyển sang ngang
“… Thị chư pháp không tướng”
bất sanh và bất diệt
bất cấu và bất tịnh
bất tăng và bất giảm…”
Gió lùa tung vạt áo
Hương quyện nếp cà sa
Sen tàn rơi trong gió
Động với chuông ngân nga
Sư cụ dừng tay lại
Bồ Đề Tát bà ha
Đường về tâm vắng lặng
Mây trời bay xa xa.
27. Tịch liêu
1.1.98 thăm lại Long Tuờng chùa xưa, sau 35 năm xa cách.
Chiều qua
bóng rụng xiêu người
Nắng reo đồng vọng
cợt cười gió mây
Nếp xưa
ủ bước chân này
Rêu phong xanh ngát
phủ dày lối qua
Chim mừng
đồng vẳng hương xưa
Ngất ngây lối bước
ập lùa về dâng
Chùa nghiêng
nắng lửng ngập ngừng
Tháp xiêu bóng đổ
nghe chừng gió lay
Bờ tre
lá động bay bay
Nhớ xưa chuyện cũ
những ngày còn thơ
Gió đông
se cắt sương mờ
Chăn không đủ ấm
giấc mơ nửa chừng
(…)
Giờ đây
bước động ngập ngừng
Người xưa xa vắng
như chừng tịch liêu!
28. Lời đầu tiên
Tưởng nhớ về Thầy, Người đầu tiên mớn sữa nuôi lớn tuệ mạng cho con.
Tre làng
rợp bóng bước chân
Chùa xưa ấp ủ
tâm hồn tuổi thơ
Ngày qua
ươm hạt mộng chờ
Người xưa mớm sữa
ấu thơ no lòng
( ...)
Dại ghê
bứt trộm đòng đòng
Ngất say mùi lúa
trưa hừng hực tuông
Ham vui
Theo cánh chuồn chuồn
Nắng vang giữa bóng
chập chờn hoa rơi
Bướm màu
sắc đẹp trêu ngươi
Phấn hồng vương lại
trên đồi búp măng
Dế buồn
buông tiếng nỉ non
Gợi khêu hấp dẫn
trận đòn mua vui
Vì ham
theo bóng nào nguôi
Sáo diều lồng lộng
bùi ngùi trang kinh!
Trận đòn
nào khỏi thất kinh?
Rồi đâu vào đấy
cũng thành khói mây
Qua ngày
tháng lại thu bay
Vong thân đánh mất
những ngày nguyên sơ
Bây giờ
nhìn lại như mơ
Hiện tiền đối diện
nào ngờ chính tôi
Người xưa
nay đã đi rồi
Như còn hiển hiện
trong lời đầu tiên.
29. Tái sinh
Trăng xưa
rũ bóng hai nghìn
Ngữ ngôn rơi rụng
bao lần đơm hoa?
Trang kinh
dưới nguyệt ta đà
Ngàn năm vang bóng
Người qua trong đời
Còn chăng
tuế nguyệt đổi dời
Tồn sinh hóa diệt
bên trời thiên thâu
Hắc hiu
bờ mộng pha màu
Có-không huyễn tưởng
bên cầu nguyệt trôi
Duyên đầy
duyên thiếu hợp vơi
Hiện tiền hiện khởi
tuyệt vời tính không
Giờ còn hiển hiện
trang không
Đầu tiên ngôn ngữ
cuối cùng tái sinh.
30. Vòng tròn Mã Tổ*
Lão già
nói mộng ra mơ
Vòng tròn oan nghiệt
chực hờ duyên không
Bước vào
nỗi hiểm bên trong
Không vào sức nặng
lại công bên ngoài
Ba hèo
cửa mở chia hai
Vào, không cũng bị
tuyệt hai đầu đường
Chỉ mành
trước gió treo chuông
Bên bờ vực thẳm
hết đường phân vân!
Giờ còn
tí tắc lần khân
Thì ôi nghìn kiếp
xoay vần tử sinh
Mau mau
giải quyết vận mình
Té ra vòng nọ
hiệu linh mất rồi
Ba hèo
gậy đã gãy đôi
Hai đường tự tại
tuyệt vời lối đi.
* Mỗi khi Ngài Mã Tổ Đạo Nhất muốn dạy người thì thường vẽ một vòng tròn, và bảo: “Vào, không vào cũng bị ba hèo.”
31.Trước sau đâu rồi
Ngày qua cây hỏi lửa rằng
Anh sau tôi trước, sao bằng được anh
Khói rằng: nói chuyện vô minh
Không tôi hiện hữu sao thành trước sau
Cả ba ôm lấy cười nhau
Cộng thành đệ nhất trước sau đâu rồi?
32. Dụng tâm
Vô thường
gió thoảng chao cánh bướm
Động cả
chân thường cõi tịch không
Người ơi!
Cảnh động hay tâm động
Mà cả trời thơ
chợt vỡ tung?
33. Trở về
Tay em mười ngón ngọc ngà
Em bưng mặt khóc tìm cha nơi nào?
Thôi em thế sự ra vào
Tìm em không được làm sao tìm người?
34. Hỏi đáp
Có hỏi thì có đáp
Đáp sao không vướng lời
Được mất không vướng ý
Cùng Phật tổ dạo chơi
Hành tung ba nghìn cõi
Không lưu lại dấu giày
Âm ba phổ nhiếp mãi
Vô ngại tâm đại bi.
35.Trò đùa
Hoa giơ trượng quất cùng tiếng la
Mộng vỡ tan tành mộng hiện ra
Ngàn thánh giở trò đùa lém lỉnh
Mửa ra nuốt lại khác chi xa?
36. Niêm hoa 1
Hoa giơ tâm chuyển thái hư không
Ấn dấu truyền trao suốt một dòng
Mộng thật muôn đời chưa hề biết
Viên như trào lộng một dòng không.
37. Niêm hoa 2
Từ hoa
kết mọc đá vàng
Nở tâm rạng mặt
ngỡ ngàng chiêm bao
Suốt từ
mộng mị lao xao
Đến nay vân mộng
truyền trao bao lần?
Thong dong
rất mực vô ngần
Hố sâu không đáy
lại gần đỉnh xưa
Suối nguồn
sự thể đong đưa
Lòng như gái đá
tắm mưa giữa trời
Mốt mai
lòng chảy qua đời
Nước xuôi mặc nước
mưa trời dính ai?
Bình sanh lịch kiếp
nào phai
Sắc không hóa hiện
Như lai hiện tiền.
38. Chưa quen
Lần đầu
lần một
cuối cùng
Gặp nhau như thể
chưa từng quen nhau
Bên người
đối diện gần nhau
Đã từng thưa hỏi
nhưng nào biết tên
Rất mừng
xưa đã quên nhau
Bây giờ muôn sự
hiện tiền mới toanh
Sát na
sinh diệt tinh thành
Nghìn lần nghìn mới
mới thành chưa quen!
39.Hiện sinh
Cha già
bốn đại chia tư
Thiếu duyên năm ấm
chu du biến dời
Ngữ ngôn
hiện giữa nụ cười
Theo duyên bụi lửa
gió vời mây bay
Trùng dương
sóng bủa bên ngày
Ngàn năm bụi đỏ
hiển bày sắc chơn
Tơ hào
ý ngó từng cơn
Ra đi là mất
là còn hiện sinh.
40. Để lại luân hồi
Kính dâng Giác Linh cố Đại lão Hòa Thượng THÍCH ĐỨC NHUẬN
cố vấn Viện Hóa Đạo GHPHVNTN.
Cơn vô thường
cuốn trôi bờ huyễn-thật
Thạch trụ rừng thiền
xiêu quẹo đổ nghiêng
Hạt bụi đỏ
chợt thấy mình rạn nứt
Vỡ tan tành
như bóng vỡ hư không
Người ra đi
giữa những ngày pháp nhược
Cho ma cường
thêm lộng thế đảo điên!
Bờ tử sinh
niết-bàn nay từ biệt
Nhẹ gót chân
nhàn tản giữa vô phiền.
Nhớ bụi đỏ
cựa mình nghe sương xuống
Ráng mai hồng
cài lại nửa vầng trăng
Bờ bến cũ
lối về trăng sao sáng
Còn nửa kia
Người để lại luân hồi.
41. Nhớ Hà Nội
Sau ba tuần lễ rong chơi tại Hà Nội, giờ chỉ còn lại trong trí nhớ.
Hà nội giờ này
có gì để nhớ?
Cảnh mưa phùn gió bấc
lạnh căm căm
Nhớ gối chăn
qua làn hơi thở ấm
Cho thịt da
hâm nóng mộng nghìn năm.
Nhớ Thăng long
ngày đầu xây dựng nước
Thịnh trị một thời
oanh liệt một phương
Còn gì ngoài
văn bia-quốc tử giám
Khiêm tốn trở thành
di tích quê hương!
Nhớ tháp rùa
đứng nghiêng chờ nắng đổ
Mặt hồ gươm phẳng lặng
bóng chiều xiêu
Hàng cây xanh
mấy lần thay lá cũ
Cho nhựa về
nhú mộng hạt đâm mơ?
Nhớ hồ tây
mưa phùn bay giăng phủ
Bụi sương mờ
lảng đảng bến bờ xa
Từ Thiên phúc,
Kim liên về Tảo sách
Bước lãng du
bến đỗ gót đường qua.
Nhớ gánh hàng hoa
bên bờ yên phụ
Đôi vai gầy
ướt đẫm bụi sương mai
Rảo bước chân
qua phố phường sau trước
Đem cho đời
cái đẹp tưởng chừng phai!
Nhớ những hàng cây
xanh mờ nâu tím
Bóng chiều nghiêng
che phủ ánh trời xa
Bụi mưa phùn
tung gió bay trút lá
Cho đâm chồi nẩy lộc
với nghìn sau.
Nhớ ba mươi sáu
phố phường xưa cũ
Cửa đóng then cài
phong kín tường rêu
Của một thời
chỉ còn qua tên gọi
Ký ức nhạt nhoà
hiện thực còn đâu!
Nhớ tách chè xanh
vỉa hè hôm sớm
Ấm lòng người
hơi toả bóng mù sương
Nhớ tách cafe
bên hồ hoàn kiếm
Đường qua đi
lơ đễnh bước chân về.
Nhớ một cột
chùa xưa sau giấc mộng
Nét hương mù
sen toả ngát nghìn năm
Còn hiện tại
qua rêu mờ năm tháng
Chút tình xưa
dư ảnh mộng vì dân.
Nhớ mái chùa
cong cong chờ nắng đậu
Bụi mưa buồn
loan lổ vách tường sa
Vẫn hiên ngang
chở che hồn dân tộc
Nghiệp sống muôn đời
của tổ tiên ta .
Tháng 03-2003
(1) Theo ý thơ của Huyền Không: “Mái chùa che chở hồn dân tộc …”
42. Nhớ cố hương
Chuông khuya
lay bóng
trăng tàn
Lạnh giòng nước chảy
ngân tràn cuối sông
Đò ngang
nay đã xa nguồn
Thì nay thôi cũng
nghe buồn cố hương.
Chốn về
đau nỗi nhớ thương
Chỉ còn ký ức
vô thường giòng trôi
Phù du
thương một cõi đời
Gió lay ngọn sóng
vàng soi bọt tàn.
Nguồn xuôi
cuối bãi điêu tàn
Biển dâu hiêu hắt
vọng vang bóng chiều
Mơ về
chốn cũ đìu hiu
Tường rêu vách đổ
thành xiêu xa dòng.
Trăng buồn
rủ gió về sông
Soi vùng tâm sự
đau lòng nước qua
Thả buồn
trôi ngược dòng ca
Vọng triều sương khói
âm ba la đà.
Giờ còn
âm vọng xa xa
Khắc sâu dư ảnh
quê nhà cõi không
Chỉ vì
chút nhớ
chút thương
Thời-không xa cách
mà vương thành sầu!
43. Sư về muộn
Đêm nghiêng
ngõ gác trăng vàng
Mấy tầng chuông điểm
đổ tràn thái hư
Sư về
gõ cửa phù hư
Tam sinh đế mộng
trầm hư vỡ bờ
Uống tàn sương,
giọt xuân mơ
Điểm trang hồng nguyệt
kinh thơ vô phiền
Trăng lay
bóng chếch giường thiền
Tụng âm núi dựng
tiếng rền thu không.
Mùa xuân
én trải nắng hồng
Nụ xanh say gió
vàng hong hiên chùa
Gió về
mở mắt nghìn hoa
Gốc mai năm trước
rụng vài đóa hoa!
Trà xanh
Thềm thoảng hương mùa
Gió hây hây thổi
ngày đưa qua ngày
Niềm vui
còn một chút này
Dâng người ở lại
từ rày về sau.
Chùa Bảo Lâm 09.2003
44. Sương ứa lệ
Đôi cánh mộng
lưng trời nay xếp lại
Người ra đi
bụi đỏ chợt hao mòn
Nhớ vầng trăng
nửa cài song cửa mộng
Nửa giật mình
sương ứa lệ tàn canh.
Cầu sinh tử
gãy đôi bờ huyễn hoặc
Bụi mây mờ
xin để lại phía sau
Đêm mộng mị
lững lơ mờ sương đậu
Ráng hồng phai
nghe khóc vỡ ngày tàn.
Hoa sóng cả
bạc đầu vương nắng sớm
Bụi tro tàn
theo gió nước lang thang
Bờ bến cũ
Người về sao chợt sáng
Để ngậm ngùi
nhớ tiếc lại sau lưng !
45. Theo dấu chim bay
Xưa nếu biết
cuộc đời là cõi tạm
Thì lối về
đã theo dấu chân nai
Người cứ tưởng
ta bà là cõi thật
Nên nghìn đời
vẫn theo dấu chim bay.
Sầu hiu hắt
hai bờ loan nắng vỡ
Mộng trần gian
và hiện thật đâu rồi?
Giờ ngoảnh lại
bóng nhoà quên mất dấu
Bước tiếp theo
nghe quờ quạn bồi hồi!
Việc quá khứ
chỉ bày qua ký ức
Nuối tiếc nhiều
và ray rức khôn nguôi
Hiện tại
hạnh phúc đan xen ít ỏi
Khổ đau nhiều,
hận tủi lại càng tăng.
Tương lai chưa đến
mù mờ nào biết
Thả đường dài
quanh quẩn mỏi gót chân
Một trăm năm
bay vèo theo giọt nắng
Chờ trăng già
mơ hỏi tuổi trăng non!
Sỏi lăng mòn
tuổi buồn lên lá thắm
Rừng vẫn xanh
đá dựng bóng trăng qua
Suối róc rách
chở trăng về bến cũ
Nước xa nguồn
về cội lạnh dòng ca.
Mây bóng lay
gió về mưa chớm động
Tàn thu, đông
nghe lạnh tủi đá buồn
Sầu ly biệt
hắt hiu bờ nắng vọng
Én cựa mình
ngơ ngác động xuân phong.
Rồi một sớm
tàn xuân qua lửa hạ
Đào mai buồn
ủ rũ bóng chiều dâng
Nụ có biếc
tuổi xanh, vàng chuyển dịch
Lại một đời xê dịch
nỗi bâng khuâng.
Vì vô thường
luôn luôn là biến dịch
Nên vô thường
luôn hiện hữu như Không
Bờ quá khứ
tương lai thành không tưởng
Niềm bâng khuâng
chợt sáng dõi chân đi.
46. Thở dài đều hơi
Lên non
uống ánh trăng ngàn
Về xuôi
uống suối hoa vàng
cuối sông
Mốt mai
nguyệt hạ mờ sương
Áo trăng ai giũ
bên dòng bụi bay?
Ngày tàn
lá đỏ bóng lay
Nghìn thu lãng đãng
chiều ngây giấc nồng
Sư về
nhặt lá tàn đông
Phía sau mất dấu
rêu rong biển đời.
Chiều buông
vó ngựa chơi vơi
Dặm trường sương khói
vàng rơi cuối đường
Đìu hiu
quán trọ câu vương
Nghìn năm mây trắng
mù sương gót hài.
Đêm tàn
ráng đỏ ban mai
Giật mình ngỡ bóng
chiều phai bên thềm
Hoa cau
nở trắng im đềm
Gió ngây lảng đảng
bờ hiên hương thầm.
Tóc xanh
dài trắng ngày tàn
Chút hương cho gió
nghìn năm sau này?
Trăm năm
dồn lại một ngày
Mỗi giây mỗi phút
thở dài điều hơi.
47. Không đề
1.
Trên đầu sào trăm thước
Con bướm vàng ngủ say
Thiền sư buông tay gậy
Không hư bỗng hiện về.
2.
Ôm mây đầu gối mộng
Ngủ khì vọng trăm năm
Nghìn năm mây lãng đãng
Bước đầu tiên sau cùng.
3.
Đá cười duyên hoa nở
Phật về quên dấu chân
Người đi thiên thu mất
Giọt nắng buồn bân khuân!
4.
Thạch nhơn vẫy cờ múa
Trâu bùn lội qua sông
Sinh tử cầu huyễn mộng
Chợt gãy giữa lòng tay.
5.
Nắng phơi dòng nước lạnh
Mây trời đọng trên mi
Vầng trăng xưa trên đỉnh
Hố thẳm không đáy lay.
6.
Gió lay bông bưởi rụng
Hương thừa sót trăm năm
Đọng mãi vùng ký ức
Thoảng động bờ xa xăm.
7.
Một chút hương cho gió
Một chút lửa cho mây
Một chút tình cho mộng
Một chút si cho ngày.
8.
Xưa kia Người lay mộng
Nay Người về đối không
Mốt mai Người để lại
Biển không hoá mộng vàng.
9.
Chân đi không chạm đất
Mọi nhà ghé lại thăm
Sát-na vô lượng dặm
Chân không giở gót hài.
10.
Qua mơ hiện bươm bướm
Tỉnh ra chủ nhơn ông
Mộng-thật nào biết được
Chân giả có và không?
11.
Tụng kinh hoa lá rụng
Phật quên mất đường về
Buông tay kinh lay động
Phật về từng chữ hoa.
12.
Tự dưng cầu giải thoát
Ai trói buột mà cầu?
Nếu việc không lưu dấu
Xiềng xích có làm gì?
13.
Không nghĩ thiện và ác
Nghĩ gì không vướng tên
Nghĩ về không nơi chốn
Đương niệm về cố hương.
14.
Chuồn chuồn vờn gợn nước
Ảnh chìm mây cuốn bay
Bờ tre trưa gà gáy
Nghìn năm vọng chân mây.
15.
Cu cườm trưa chợt gáy
Nhớ quê nhà ấu thơ
Ngày qua ngày thật vội
Tay trắng tóc bạc phơ!
16.
Hương xoài thơm ngây ngấy
Lay động ký ức xưa
Một khúc đời cơ cực
Tuổi thơ đọng hương thừa.
17.
Rạ rơm mùi nhẫn nại
Mẹ đi cấy trên đồng
Nắng lay da nám đọng
Suốt đời khó vì con.
18.
Sông quê chiều nắng đỗ
Lúa nhẹ thoảng đưa hương
Đò ngang chờ khách vắng
Đèn đỏ lay bóng đêm.
19.
Sinh ra thời ly loạn
Mẹ cha lại nhà nghèo
Tuổi lên năm theo mẹ
Mót lúa cánh đồng xa.
20.
Mùa đông không đủ áo
Trời lạnh đến thấu xương
Co ro trong ổ rạ
Giấc mơ đẹp nửa chừng.
21.
Tối ba mươi mười bốn
Hay theo mẹ lên chùa
Cầu xin trên ân Phật
Cho cả nhà bình an.
22.
Vào chùa năm lên bảy
Làm chú tiểu đuổi chim
Thức khuya và dậy sớm
Tương lai mộng từng giờ.
23.
Năm mươi năm hành đạo
Đến giờ vẫn trắng tay
Từ đầu đến bước cuối
Tay không mộng về nhà.
24.
Dọc đường hoa dại nở
Bướm đậu bờ ngát hương
Vô tình cơn gió thoảng
Lay động giọt nắng xa.
25.
Chú tiểu quỳ đọc tụng
Gật gù tiếng mõ ru
Tiếng chuông choàng tỉnh mộng
Giật mình thời đã qua.
26.
Gối đầu dùi kình ngủ
Âm ba lắng giấc nồng
Chợt tỉnh dùi chuông dộng
Mặt nhật điểm từng không.
27.
Tìm lũng sâu rơi mãi
Như viên bi lăn tròn
Không nơi nào dừng lại
Cuộc sống đã hình thành.
28.
Một viên sỏi liệng xuống
Nước lặng vòng tròn loan
Tâm duyên thế giới hiện
Ba nghìn, hạt bụi lay.
29.
Con dế mèn thấp thỏm
Mơ gối nằm cỏ non
Thay trẻ trò kiêu hãnh
Hơn thua một trận đòn.
30.
Nắng qua còn để lại
Vết hằn nám mặt cha
Suốt đời người xa lạ
Bên cạnh mẹ vì con!
31.
Mỗi trưa hè nắng gắt
Ôi! dòng sông tuổi thơ
Trần truồng duyên vô sự
Còn chút gì mộng mơ.
32.
Lũ chuồn chuồn nhá nước
Đôi cánh trong thật xa
Hình như không biết lạ
Sao lại đậu nơi này?
33.
Trang kinh còn bỏ ngõ
Chú tiểu chạy đâu rồi
Thầy kêu dò kinh đó
Chắc lại tìm mo cau!
34.
“Nhược nhơn dục liễu tri
Tam thế nhứt thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
Nhứt thiết duy tâm tạo.”
Nếu ai muốn biết rõ
Tất cả Phật ba đời
Nên quán tánh pháp giới
Đều do tâm tạo ra.
Có tạo để tâm tạo đi
Đại thiên sa giới không ngoài tâm ni
Vọng chân phàm thánh khác gì
Cốt đừng chấp nhứt làm gì được tâm?
Thầy tôi lúc đó dạy tâm
Ba nghìn thế giới ngọng câm lời thầy
Mơ màng từ đó đến nay
Chiêm bao lúc tỏ lúc say chưa rành
Thôi thì để mặc đã đành
Nhưng còn giải quyết tử sanh thế nào?
..........
Giờ thì tỏ mặt ra vào
Đến đi qua lại phương nào cũng thông
Mặc cho tâm tạo vô thường
Đói ăn khát uống lạnh nồng đầy vơi
Tuỳ phương tuỳ cảnh tuỳ thời
Nghĩ suy không vướng đổi dời nào can.
35.
Bờ tre ngồi đứng bóng
Gió thoảng đồng lúa xa
Hương nghìn năm còn đọng
Chút tình vọng cố hương.
36.
Ngư ông còn để lại
Nước gợn bóng chân mây
Động chút bờ lau sậy
Trả lại nước lặng sâu.
37.
Đường quê xa nỗi nhớ
Gập ghềnh dấu chân trâu
Ký ức còn ghi lại
Cánh diều ảnh lưng trâu.
38.
Cánh cò nghiêng nắng xế
Thanh bình chiều đồng quê
Mục đồng nghiêu ngao hát
Trâu tự động đường về.
39.
Đu đưa dưới giàn mướp
Bông vàng rụng hương thơm
Cha đồng xa về muộn
Mẹ ngồi chờ trăng lên.
40.
Cớm rang từ hạt nếp
Nghe thơm lửng mía đường
Món cớm hương đồng nội
Nhớ quê mùa gặt xong.
41.
Rặng núi Bà tiếp giáp
Chân trời biển quê tôi
Vị muối mặn nghìn năm
Kết tinh nguồn đá cội.
42.
Lạc điền qua An lợi
An lợi lên Phổ đồng
Mẹ cha khốn khổ sống
Ôi nước lợ phèn chua!
43.
Một chút thương đồng loại
Một chút thương mẹ cha
Một chút thương nơi ở
Cộng nghiệp xứ nạn ta.
44.
Quê cha vùng Nước mặn
Quê mẹ nước xà hai
Gặp nhau cùng nghiệp sống
Quê nào cũng khó khăn.
45.
Năm lên sáu cắm trại
Lần đầu biết biển khơi
Rừng dương biển Cách thử
Nay ký ức mù khơi!
46.
Thương, cha thường dú kín
Mẹ hiện rõ chăm nom
Tính hiện thực thể hiện
Dù sao, mẹ gần hơn!
47.
Con quê nghèo thường đợi
Ngày giỗ chạp ông bà
Tôi tuổi thơ kỳ lạ
Nước mắn dầm cá rô.
48.
Phần thưởng dành toàn xã
Lớp năm mới vào đời
Cuối năm học trò giỏi
Thầy Tô Bường, Thầy tôi.
Sang lớp tư bết bát
Học hành chẳng ra chi
Cha mẹ thầy phiền trách
Không biết lý do gì?
49.
Ham chơi làm theo ý
Những trận đòn nên thân
Mẹ cha vì con trẻ
Không chỉ lo áo cơm!
50.
Mù sương biển đá lạnh
Hạt cát mòn sóng ca
Nghìn năm ru biển cả
Lắng trong vị trăm sông.
51.
Hàng rào hoa dâm bụt
Cha trồng cạnh mái hiên
Gió lay hoa bướm đậu
Nắng xanh trời ấu niên.
52.
Bông bí vàng ong đậu
Trời xanh thấp xuống dần
Trái non vừa tượng nụ
Tương lai một góc trời.
48. Xin chào tất cả
Ngày qua ta đã chết
Tuổi ấu thơ vô phiền
Ngày nay ta đang chết
Tuổi tráng niên vui phiền.
Ngày mai ta sẽ chết
Biết khi nao hiện về
Phát sinh duyên không đủ
Hơi thở thôi ra về!
Chuyện đời xin để lại
Lợi danh cùng xác thân
Thầy tổ cha cùng mẹ
Bạn bè và người thân.
Cỗ áo quan nến thắp
Hai hàng khóc rưng rưng
Tiếng mõ chuông đồng vọng
Muôn năm mộng giấc nồng.
Huyệt sâu ba tấc đất
Hay thiêu thân cuối cùng
Muôn đời nơi an nghỉ
Ngày qua, chợt ngàn trùng.
Ta xin chào tất cả
Hạt bụi của ta ơi
Nghìn năm bay lãng đãng
Trăm năm hết một đời.
Vô thường lay bóng xế
Cô đơn lay phận buồn
Nay ta lay giấc mộng
Mộng-thật trả về không.
Lầu đầu như lần cuối
Bước lãng du không cùng
Thiên thu mơ còn đọng
Bên thềm hạt bụi rơi.
49. Nguyên xuân
Quê người ở
tận nơi đâu?
Hỏi trăng rằng
tận bước đầu phù du
Hằng sa hạt,
đỉnh phù hư
Lạnh dòng nước chảy
sa mù tử sinh.
Hỏi hoa rằng
bướm tự tình
Sắc khoe bóng lệch
lịch kinh thương ngày
Nhụy vàng
nắng đọng màu phai
Vết loan hoen lổ
thời phai từ nguồn.
Hỏi mây rằng
cũng một giòng
Mưa tuôn cuối bãi
đầu truông chân trời
Ngược xuôi
mấy nẻo luân hồi
Nghìn năm mây vẫn
một đời lênh đênh.
Hỏi sông
nước bỗng buồn tênh
Cầu xưa bắt nhịp
tử sinh bao đời?
Nước xuôi
chảy một dòng thôi
Đến đi nào biết
bóng đời hằng đang.
Hỏi sương,
lá cỏ mơ màng
Giọt vang cuối lối
muộn màng chiêm bao
Buồn trông
mắt lá sương mờ
Ảnh trầm gương cũ
bóng mờ nhạt phai.
Hỏi cây
gió động trăng cài
Đong đưa liễu phấn
hồng phai trước thềm
Mai vàng
chớm nụ hoa đơm
Mấy mùa xuân lại
dưới thềm bước qua.
Hỏi sao,
trăng sáng một màu
Ngày qua ráng nhạt
bên cầu cuối sông
Tường rêu
xanh ngắt một dòng
Mưa qua còn để
dội trong sương mù.
Hỏi ngày
đêm vọng thâm u
Bóng đen quá khứ
trầm u bước dài
Tưởng người dưới nguyệt
một mai
Soi trăng lệ nhỏ
ảnh cài lung linh.
Hỏi người
im lặng làm thinh
Buân quơ tóc xỏa
vô tình gió say
Hương trời
gió nội my cay
Một thân phận nhỏ
chiều ngây ngất lòng.
Hỏi da
thịt trả lòng vòng
Đất thưa hạt bụi
một lòng mà ra
Trăm năm
trên cõi ta bà
Thiên thu trong cõi
hằng sa đất trời.
Hỏi trời
đất trả rằng ơi!
Tận nguồn vô thỉ
cuối đời vô chung
Quê nhà
chỉ một bước chung
Đến đi mất dấu,
nghìn trùng nguyên xuân!
50.Hồi đầu
Nước từ
mây quyện hằng sa
Nghìn trùng cát bụi
vào ra cho dù
Mênh mông
khói đọng bờ hư
Khí phân sắc nét
nguyên như vui phiền
Già lam
bóng rợp hai miền
Thượng thừa một cõi
phước điền vọng đưa
Nhớ ngày
giọt nắng chiều mưa
Đọng qua ký ức
đong đưa phận người
Tử sinh
bước một
hai đời
Đầu truông cuối nẻo
gọi mời lãng du
Thì thôi
cũng mặc phù hư
Nhìn mây lãng đãng
sa mù vây quanh
Hồi đầu
bóng hiện tinh anh
Một lần nhận diện
để thành thiên thu.
51. Trăng lên
Bờ trăng
đáy nước đôi đường
Nửa pha màu sắc
nửa nhường thu không
Có-không
huyễn tưởng vô thường
Xem ra hư-thật
sao lường được đây?
Triều dâng
sương đợi nguyệt đầy
Dấu chân du mục
nhớ ngày nguyên sơ
Bước đầu
cuối dặm bơ vơ
Còn nguyên sơ mộng
bên bờ trăng lên.
52. Đi về
Rỗng rang
một cõi đi về
Đến đi mất lối
đường về chân không
Ngược dòng
sóng vỗ đầu non
Chim non bỏ tổ
ngọn nguồn bay xa
Đường về
nào biết gần xa
Hiện thân một cõi
quê nhà mây bay
Hôm qua
mộng vỡ trời tây
Sáng ra chim hót
vườn đầy ráng vân
Đưa ta
huyệt hạ phù vân
Để cho lệ nhỏ
một lần rồi thôi
Thiên thu
đọng lại một đời
Một lần thôi cũng
ngậm ngùi nghìn năm.
cập nhật : 15-09-2009
www.phatviet.com website khác
tín đồ việt nam
Tín đồ Phật giáo Việt Nam chỉ còn 6.802.318 người!
GN - Điều làm nhiều người giật mình là số liệu người theo đạo Phật tại Việt Nam từ cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số công bố vào năm 2010 đã cho thấy số lượng tín đồ Phật giáo Việt Nam giảm đến mức chưa từng thấy: 6.802.318 người, chiếm 7,92% dân số!
Quan tâm, nghiên cứu, tự thực hiện và sử dụng các số liệu thống kê liên hệ đến tôn giáo là một yêu cầu của hoạt động tôn giáo hiện đại. Rất tiếc, Phật giáo chúng ta đã chưa làm được điều này như các tôn giáo khác. Điều đó chắc chắn có những ảnh hưởng nhất định đối với hoạt động hoằng pháp cũng như các hoạt động Phật sự khác của Phật giáo.
Số liệu thống kê đáng quan ngại trên liệu có chính xác, khi nhìn chung sinh hoạt Phật giáo
khởi sắc từ Bắc vào Nam những năm gần đây?
Nhưng sẽ càng đáng tiếc hơn nữa nếu bỏ qua những số liệu mà các cơ quan có thẩm quyền về thống kê, điều tra xã hội học thực hiện. Chúng tôi muốn nói đến số liệu tín đồ Phật giáo do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số thực hiện trong cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 được nhiều tài liệu nghiên cứu mới dẫn lại. Điều rất tiếc là số liệu của cuộc tổng điều tra này không được giới Phật giáo quan tâm. Các cây bút Phật giáo hầu như đều sử dụng các nguồn số liệu tín đồ Phật giáo khác đã cũ, không có tính cách chính thức. Trong rất nhiều số liệu về tín đồ Phật giáo tại Việt Nam, con số thấp nhất chỉ dừng lại ở mức khoảng 10 triệu người.
Thế nhưng, điều giật mình là số liệu người theo đạo Phật tại Việt Nam từ cuộc tổng điều tra dân số năm 2009, do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số công bố vào năm 2010 đã cho thấy số lượng tín đồ Phật giáo Việt Nam giảm đến mức chưa từng thấy: 6.802.318 người, chiếm 7,92% dân số. Như vậy là giảm đến 1/3 so với con số thấp nhất trước đây, vào khoảng 10 triệu.
Số liệu thống kê đáng quan ngại trên liệu có chính xác, khi nhìn chung sinh hoạt Phật giáo khởi sắc từ Bắc vào Nam những năm gần đây? Chắc chắn sẽ có nghi vấn như thế nêu ra. Thế nhưng, chúng ta còn có cuộc điều tra dân số nào khác để căn cứ vào đó? Tầm vóc, vai trò, quy mô của cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 là một thực tế khách quan. Không lẽ gì Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số thiếu công bằng khi điều tra số liệu tín đồ Phật giáo? Hiện nay, năm 2009, bối cảnh tự do tôn giáo đâu có thể làm người dân kê khai thiếu trung thực về tôn giáo của mình như những năm 1979, 1989. Số liệu do Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số về số lượng tín đồ các tôn giáo khác không sai biệt lớn so với số liệu do chính các tôn giáo đó thống kê và công bố.
Nếu có một sai số nào đó, thì chỉ có thể trong khoảng vài triệu người: 10 - 20%. Nếu có thêm vào số liệu đã có ước đoán như thế để vớt vát, thì con số cuối cùng vẫn cho thấy tín đồ Phật giáo Việt Nam đã giảm và đang trong tiến trình giảm. Đó là một kết luận mà chúng ta phải chấp nhận.
Phật giáo chúng ta phải đối mặt với vấn đề để tìm cách và có cách mà giải quyết. Nếu cứ bằng lòng, an tâm với con số 50%, 60%, 70%... người Việt Nam theo đạo Phật, thì đến cuộc tổng điều tra dân số sau, số liệu thực tế sẽ thấp hơn nữa, cay đắng hơn nữa, đau lòng hơn nữa.
Đạo Phật là đạo của sự thật, của chân chánh. Người con Phật không thể bỏ qua sự thật, ngoảnh mặt, bưng tay trước sự thật.
Sự thật là Phật giáo Việt Nam đang giảm sút tín đồ và mức giảm sút đã đến mức chưa từng thấy. Phật giáo Việt Nam đang đi vào một khúc quanh quan trọng. Đó là giai đoạn Phật giáo mất vị trí tôn giáo đa số tại Việt Nam. Số lượng tín đồ đã xấp xỉ mức Cơ Đốc giáo (hay Ki-tô giáo, một khái niệm gộp chung những giáo phái Thiên Chúa giáo). Nếu không có giải pháp tích cực, xu hướng giảm thiểu tiếp tục diễn tiến, thì trong lần tổng điều tra dân số sau, kết cục không thể tránh khỏi là Phật giáo trở thành tôn giáo thiểu số tại Việt Nam.
Như vậy, nói Tăng Ni Phật tử Việt Nam đang ở một khúc quanh lịch sử và chịu trách nhiệm nặng nề về vai trò, vị trí của Phật giáo Việt Nam mai hậu là việc không hề cường điệu một chút nào. Đây là những thời khắc quyết định. Có giữ được vị trí Phật giáo như là tôn giáo lớn nhất của dân tộc như truyền thống gần 2.000 năm qua hay không, hoặc chấp nhận Phật giáo trở thành tôn giáo thiểu số ở đất nước mình, tất cả tùy thuộc vào Tăng Ni, Phật tử Việt Nam hôm nay.
Người Phật tử cần tự hào và ý thức khi đặt bút khai vào lý lịch của mình
Dù gì đi nữa, thì tu sĩ và tín đồ của một tôn giáo lại có thể khoanh tay làm ngơ trước tình trạng thiểu số hóa của tôn giáo mình. Điều đó là không thể chấp nhận đối với mọi tôn giáo, huống nữa là Phật giáo, tôn giáo đòi hỏi người hành trì song song với “tự giác” phải có trách nhiệm vụ “giác tha” thì mới có thể đạt được cứu cánh.
Giác tha là hóa độ mọi người nhận thức và thực hành theo con đường thiện lành mà Đức Phật đã hướng dẫn. Hiện trạng như đã dẫn ra với số liệu dẫn trên cũng gián tiếp nói rằng, nhìn chung, hiện trạng hành đạo, tu tập của Phật tử tại Việt Nam có vấn đề, dẫn tới việc giảm thiểu đối tượng “giác tha”. Không lẽ gì khi đã được giác ngộ đạo Phật mà người ta lại khước từ việc nhìn nhận mình theo đạo Phật.
Do đó, trong hoàn cảnh hiện nay, vẫn nghĩ rằng 80%, 70% người Việt Nam theo đạo Phật là không thể phù hợp. Chúng ta không thể nói người ta theo đạo Phật trong khi người ta đặt bút viết rằng “không”!
Chúng tôi nghĩ đây là giờ phút Tăng Ni, Phật tử Việt Nam phải bừng tỉnh. Chúng ta vẫn còn một ít khả năng để xoay chuyển tình hình, bảo tồn vị trí mà tổ tiên đã truyền lại qua hàng ngàn năm lịch sử. Ngồi yên, buông xuôi, bỏ mặc là chúng ta không có trách nhiệm với cha ông và các thế hệ sau. Để rồi khi con số điều tra dân số mới phũ phàng hiện ra thì thời khắc quyết định đã qua, tình trạng sẽ là bi đát hơn nhiều.
Liệt vị tôn đức tiền bối hữu công đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo mấy mươi năm trước, liệu các ngài thế nào khi biết rằng, chưa đến nửa thế kỷ sau đó, số liệu tín đồ Phật giáo kê khai trong một cuộc điều tra quốc gia chỉ còn là khoảng trên 6 triệu người trên tổng số người Việt hơn 85 triệu người.
Con số là một lẽ, nhưng điều quan trọng hơn là việc trả lời câu hỏi, diễn tiến số lượng tín đồ Phật giáo Việt Nam là tăng hay giảm. Người ta đã kê khai chính thức rành rành như thế thì hôm nay, chúng ta cáo bạch như thế nào với anh linh liệt vị tiền bối Phật giáo Việt Nam.
Thời gian không chờ đợi chúng ta. Vấn đề hết sức cấp bách khi chúng ta đang xác định ở một khúc quanh lịch sử. Mười năm trước vẫn còn có nhiều người không chấp nhận con số 10 triệu tín đồ Phật giáo, thì 10 năm sau con số đó đã chỉ còn hơn 6 triệu. Thế thì, 10 năm sau nữa thì sao?
Không lẽ người Phật tử hôm nay sẽ là những người chứng kiến việc xác định nước Việt Nam có tôn giáo đa số đã là một tôn giáo khác không phải Phật giáo?
Đạo Phật là một tôn giáo không cạnh tranh. Nhưng đạo Phật cũng là một tôn giáo kêu gọi người tu hành trong đạo phải “giác tha”. Thịnh suy của đạo Phật tuy biết rằng “như hạt sương trên đầu ngọn cỏ”, “không nên sợ hãi” (ý thơ của Thiền sư Vạn Hạnh), nhưng chúng ta còn có trách nhiệm. Chúng ta không lo sợ trước nghiệp vận, nhưng đối với đạo Phật, chúng ta vẫn là người chủ nghiệp vận. Trong khúc quanh thịnh suy này của Phật giáo, trách nhiệm của Tăng Ni, Phật tử, những người còn chính thức kê khai mình theo đạo Phật, là hết sức nặng nề.
Con cháu mai hậu sẽ nhìn vào chúng ta trong thời điểm hiện nay, đúng vào lúc những con số đáng quan tâm, chưa từng có được ghi nhận. Cha anh chúng ta đã làm gì để còn có một nước Việt Nam có số đông người theo đạo Phật, hay ngậm ngùi sửa lại mục tôn giáo trong các quyển sách giáo khoa địa lý, từ điển bách khoa, Atlas… như đã phải làm đối với Hàn Quốc.
Đây là việc lớn, không thể xem thường một số liệu thống kê từ một cuộc điều tra quốc gia như vậy. Rất mong Giáo hội, quý Tăng Ni, Phật tử cùng nhau lưu ý với ghi nhận quan tâm xem đó là vấn đề mà tích cực tìm hướng giải quyết. Hoằng pháp nên được coi là ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh như thế.
lắng nghe và trị liệu
•
Phật học » Phật học lược khảo
Đã cập nhật: 2 giờ 0 phút
Kích cỡ chữ:
Nhân vía Đức Bồ-tát Quán Thế Âm (19-9ÂL):
Lắng nghe & trị liệu
GN - Lắng nghe và trị liệu, nói cho dễ hiểu là tu hạnh lắng nghe. Người tu hạnh này tiêu biểu nhất trong Phật giáo là Bồ-tát Quan Âm. Hành giả nào theo hạnh này thực tập có kết quả tốt thì cũng chữa trị được cho mình và cứu chữa được cho chúng sanh.
Thánh tượng Bồ-tát Quán Thế Âm tại chùa Huê Nghiêm, quận 2, TP.HCM
Đa số người thích nói, nhưng không thích nghe, cho nên mới có sự tranh cãi, vì người nào cũng muốn nói, nhưng không chịu nghe, tạo thành sự đấu khẩu bắt người nghe theo mình, nên mọi người đều bất an. Đây là điều tối kỵ trong Phật giáo, gọi là tà giáo ngoại đạo, thuyết phục người không được thì lại đe dọa để người phải nghe và theo mình. Ngược lại, trong Phật giáo, trước nhất chúng ta thấy Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời, Ngài có hạnh đặc biệt là trầm lặng và lắng nghe, nghe tâm sự của người để hiểu hoàn cảnh của họ và xa hơn là biết nghiệp của họ, mới tìm phương cách đối trị, giúp cho họ được giải thoát.
Trên bước đường tu, muốn làm được như vậy, chúng ta lắng nghe ai là điều quan trọng, vì sai lầm sẽ dẫn chúng ta vào đường tà. Theo kinh nghiệm của tôi, học hạnh này mình lắng nghe nỗi khổ niềm đau của chúng sanh, nhưng mình cũng chưa thoát khỏi khổ, thì nghe cái khổ của người làm cho lòng chúng ta đau thêm, khổ thêm. Lắng nghe như vậy chắc chắn là hậu quả không tốt. Vì vậy, đối với hạng chúng sanh này, Phật dạy chúng ta tập hạnh viễn ly, chẳng những không lắng nghe, mà còn không nghe.
Tôi tu đầu tiên tập hạnh không nghe, chỗ nào đông người tụ tập, tôi tránh, khác với những người thấy có chỗ ồn ào là chạy tới coi. Thấy đông người tìm tới để nghe thì được gì. Người Việt Nam hay rơi vô tật xấu này. Hôm trước chúng ta tổ chức cầu nguyện và quyên góp cho nạn nhân bị động đất ở Nhật. Có một số bạn nghe nói tôi sắp qua Nhật, họ bảo đừng đến đó, vì chưa khắc phục được sự nguy hiểm của phóng xạ, thì mình tới cũng chưa làm được gì. Thường chúng ta nghe điều gì thấy động lòng là làm ngay. Người Nhật khác chúng ta. Họ ở Nhật, nhưng cũng không tới vùng bị thiên tai này, vì họ nghĩ tới thì có thể làm được gì. Làm đạt hiệu quả cao nhất mới làm. Không làm được mà tới chỉ gây ra sự vướng bận việc cứu hộ . Theo họ, đến vùng hỏa tai thì có áo chống lửa, hay phao cứu mạng, hoặc phải có mặt nạ chống phóng xạ mới dám đi vô. Phải suy nghĩ và trang bị đầy đủ mới đến để cứu người, đó là cách làm theo Bồ-tát, xuất hiện để làm hay biến mất đều có sự chuẩn bị đầy đủ mới làm được và xong việc thì trở về bổn độ. Còn Phật tử chúng ta nghe không làm được cũng tới, như vậy tốn tiền và công sức nhiều, nhưng hậu quả không cao. Thí dụ chúng ta nghe Nhật bị thiên tai, có tinh thần tương thân tương trợ rất tốt, nhưng qua đó cứu trợ, tiền vé máy bay đi và chi phí lưu trú khách sạn và di chuyển tốn kém quá, trong lúc đó, tất cả thiết bị cần có để cứu trợ tốn kém hơn và cần thiết hơn. Ta tới cho vài gói mì, năm, mười đô-la, như vậy chúng ta bỏ ra nhiều, nhưng hiệu quả không cao. Vì vậy, những người tới cứu giúp phần nhiều là bác sĩ, y tá, nhân viên cứu hỏa, số người tới chuyên môn, nên không đông, nhưng làm việc hiệu quả cao; nước văn minh làm như vậy.
Trên bước đường tu, phải biết lắng nghe, nhưng có trí tuệ chỉ đạo. Sống trên cuộc đời mà không biết gì thì không nên, nhưng biết để sanh phiền não cũng không nên. Khẩu hiệu của người Nhật là hình ba con khỉ bịt mắt, bịt tai, bịt miệng để tâm chúng ta yên tĩnh, chúng ta không nghe không biết việc xảy ra sẽ giúp tâm bớt dao động và dễ tập trung tư tưởng, đó là việc chính của đạo Phật. Các vị Tổ sư rút kinh nghiệm này dạy chúng ta như vậy và điển hình là Tổ Quy Sơn dạy rằng “Bất dữ chư trần tác đối”, nghĩa là không tiếp xúc với ngoại duyên, vì tiếp xúc với bên ngoài nhiều, tâm chúng ta không thể an được. Chính vì vậy mà các thầy tu phải an cư ba tháng, hay nhập thất kín để có thể tập trung vào Phật pháp. Lúc đó không nghe bên ngoài, nhưng chúng ta lắng nghe âm thanh của Phật, Bồ-tát bằng cách đọc tụng kinh điển Đại thừa để suy nghĩ và xa hơn mới lắng nghe được yếu nghĩa mà Phật muốn dạy. Đức Phật cho biết khi Ngài hành Bồ-tát đạo ở thời tượng pháp của Phật Oai Âm Vương, Ngài không nghe bên ngoài, mới nghe được hai mươi ngàn muôn ức bài kệ kinh Pháp hoa của Phật Oai Âm Vương tuyên thuyết, tức cách xa Ngài một ngàn năm sau mà Ngài còn nghe được. Riêng tôi, không nghe sinh hoạt bên ngoài xã hội, mới nghe được pháp âm của Phật, nên tâm yên tĩnh và sáng lần. Tôi lắng nghe pháp âm Phật và trị liệu nghiệp chướng phiền não trần lao của mình là lấy pháp Phật rửa sạch trần tâm của mình. Và khi tâm chúng ta thanh tịnh và pháp Phật có trong lòng ta, thì người thấy ta, chắc chắn tâm họ cũng thấy an; đó là kinh nghiệm tu của tôi, tuy ta không nói, nhưng người có cảm giác ta hiểu họ, nên họ đến với ta và trong ta đã có Phật pháp, người muốn học Phật pháp thì tìm đến với ta. Nhưng nếu tâm chúng ta chưa thanh tịnh, Phật pháp chưa có trong lòng mà muốn người nghe ta là nghe cái nghiệp phiền não hay sao. Vì vậy, một số người tu không có kết quả, vì phần nhiều cũng đi chùa tụng kinh, nghe pháp, nhưng thực có lắng nghe pháp hay không, hay là nghe cái gì khác. Nghe được pháp Phật, tâm chúng ta phải lắng dịu, được an lạc, giải thoát, thì chính sự an lạc giải thoát đó của ta đã chữa được bệnh của mình rồi, mới chữa được cho người khác.
Vì thế, nếu ở giai đoạn một mà lắng nghe phiền não và đem phiền não đối xử với nhau là tu sai. Quan Âm lắng nghe phiền não của chúng sanh được, vì trong lòng Ngài đã tràn đầy Phật pháp, tất cả Phật pháp để trị liệu phiền não cho người thì Ngài đã có sẵn, tất cả bệnh của chúng sanh, Ngài biết rõ. Ngài lắng nghe trần thế, nhưng trần thế không tác động được Ngài. Khi trần thế còn tác động chúng ta là biết chúng ta chưa lắng nghe được. Còn tâm chúng ta thanh tịnh, sáng suốt rồi và thấy được phương pháp trị liệu thì mới lắng nghe. Cũng như khi quý vị không giải quyết được buồn phiền mới tìm người tư vấn có khả năng lắng nghe. Ta có thể nói hết tâm trạng của ta và họ tiếp thu được hoàn cảnh của chúng ta và sử dụng phương pháp trị liệu để chỉ chúng ta cách tu.
Người có khả năng lắng nghe và có phương pháp trị liệu thì chúng ta trút hết tâm sự cho người này rồi, lòng chúng ta sẽ thấy nhẹ liền, không còn phiền não. Còn nghe người trút tâm sự, nếu nghiệp phiền não mình còn sẽ tác động cho phiền não ta sanh khởi là ta chưa đủ tư cách nghe. Nghe nhưng chúng ta không buồn phiền khổ đau theo người, mà đem trí tuệ của mình để soi sáng, cho người lời khuyên hữu ích. Điển hình như khi nhà Lê sắp chấm dứt, Nguyễn Kim có người con trai là Nguyễn Hoàng rất đau khổ, vì ông rời Đông Kinh (tức Hà Nội ngày nay) hay ở lại đều sợ bị Trịnh Kiểm giết. Nguyễn Hoàng mới tìm Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có khả năng lắng nghe và trị liệu. Khi nghe Nguyễn Hoàng trình bày tâm sự này, Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ khuyên một câu thôi: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, thì ông về xin Trịnh Kiểm vào ở phía Nam dãy Trường Sơn, muôn đời được yên thân. Những nhà minh triết có khả năng lắng nghe và trị liệu mới làm được việc lớn.
Ta không phải Quan Âm, cũng không phải là nhà minh triết, nên suy nghĩ cẩn thận trước khi lắng nghe. Theo tôi, bước đầu phải đem Phật pháp vào tâm để rửa sạch tâm trần rồi, thì tuy chưa làm được việc lớn, nhưng chắc chắn cũng ít phạm sai lầm. Bản thân mình sai lầm mà khuyên người thì không tốt; việc mình chưa hóa giải được mà làm cho người là điều không tưởng. Việc của mình phải hóa giải trước, tự trị liệu chính mình. Tôi chuyên tụng kinh Pháp hoa, lạy Hồng danh Pháp hoa mà có sức khỏe tốt và có được lực tập trung ổn định. Nhờ lạy Phật, tôi được Phật hộ niệm, nhờ trì kinh mà tôi nhận được yếu chỉ kinh. Như vậy, phương pháp trị liệu của tôi là nhờ Phật hộ niệm và có Phật pháp hóa giải. Tôi khuyên quý vị khi không giải quyết được, nên xếp việc lại một bên, lo lạy Phật để cầu Phật gia hộ, xem Phật dạy ý gì trong kinh. Tất cả những điều Phật dạy đều là pháp để trị liệu, chúng ta đọc thấy điều nào ứng với mình thì chọn ra để áp dụng. Có thể khẳng định rằng phương pháp trị liệu được Phật để sẵn trong kinh.
Lễ hội hoa đăng cầu nguyện tại tượng đài Bồ-tát Quán Thế Âm ở núi Tứ Tượng (TT-Huế) - Ảnh.K.Lực
Đọc kinh Pháp hoa, tôi bắt gặp trong phẩm An lạc hạnh thứ 14 có phương pháp trị liệu mà Phật để lại rất tốt, đó là bốn pháp an lạc của Phật, khi chúng ta chưa được an thì cần phải áp dụng để được an. Một là phải an thân, muốn như vậy, không đến chỗ tranh chấp. Chỗ đông người, tranh cãi hơn thua mà chúng ta tới thì làm sao an được, chẳng những không giải quyết được gì, nghiệp chướng trần lao của chúng ta còn tăng thêm nữa; vì vậy, không nên gần gũi chỗ tranh chấp bất an.
Thứ hai là không nên gần gũi người quyền thế dù là bà con. Thực tế cho thấy hàng phàm phu thích nhìn bà con với người quyền thế, thực là dại. Người có quyền thế, nếu lắng lòng thanh tịnh chúng ta sẽ thấy họ thường có nhiều vấn đề, cho nên Phật khuyên chúng ta nên tránh họ, gần họ lợi trước mắt không bao nhiêu, nhưng nhiều khi hại mình, chuốc lấy đau khổ.
Thứ ba là không gần những người làm nghề ca xướng, múa hát, kỹ nữ; vì họ là người thêu dệt giỏi, họ muốn làm người ta cười hay khóc đều được. Vì vậy, trị liệu tâm buồn vui của mình bằng cách giữ tâm an lạc thì phải tránh họ.
Thứ tư là không đọc tiểu thuyết. Trước kia, ở Phật học đường Nam Việt, Hòa thượng Thiện Hòa không cho đọc tiểu thuyết, nhưng ra ngoài học văn, phải đọc. Hòa thượng dạy rằng tiểu thuyết làm người ta rối tâm, vì tiểu thuyết luôn bịa đặt thêm thắt, không thật, làm tâm chúng ta dao động, thì làm sao sáng tâm được.
Áp dụng được phương pháp trị liệu này của Phật, mình thấy an rõ ràng, vì tranh giành không có thì ai động đến mình. Kinh gọi là thân cận xứ, Phật dạy chúng ta nên ngồi yên một mình đọc tụng lời Phật dạy và thiền là giữ tâm chúng ta lắng yên. Thực tập pháp an lạc hạnh của Phật là chúng ta thấy an liền.
Ngoài phần thân an lạc, để khẩu an lạc, Phật khuyên chúng ta đừng nói, vì nói lỗi phải chưa biết đúng sai, nhưng chắc chắn chúng ta bị đánh giá là nhiều chuyện. Đôi khi, chúng ta nói ít, nhưng người lặp lại thì khác, sẽ làm mất lòng rất nhiều. Tốt nhất là đừng nói, điều thực còn không nói, huống chi là nói điều không thực. Nói nhiều sanh đôi chối, rất mệt. Cho nên, Phật khuyên chúng ta tịnh khẩu. Ngoài ra, Phật dạy chúng ta giữ ý thanh tịnh là không nghĩ gì, hay đúng hơn là nghĩ lời Phật dạy, suy nghĩ những điều trong Phật pháp mà mình tâm đắc. Ngài Huệ Tư cũng áp dụng an lạc hạnh có kết quả rất tốt. Trước khi tu, ngài bị bỏ thuốc độc, nhưng ngài giác ngộ phẩm 14, mới sửa đổi, không nói và chỗ đông thì tránh, chỉ chuyên tụng kinh Pháp hoa một thời gian, người trong vùng và vua chúa xe giá lên núi tặng cho ngài tôn danh là Đại Nhạc thiền sư.
Có phẩm 14 An lạc hạnh, vì các Bồ-tát phát nguyện hoằng truyền kinh Pháp hoa không sợ chết, chỗ nguy hiểm sẵn lòng dấn thân. Bấy giờ, Phật mới nói phẩm 14, vì ý tưởng của các Bồ-tát như vậy rất tốt, nhưng không nên liều lĩnh, chết uổng mạng. Vì vậy, Phật cho lời khuyên thệ nguyện an lạc, vì khi chưa có đủ điều kiện giúp đỡ thì đừng tới, đừng làm. Điều này cho chúng ta suy nghĩ rằng đến đâu để làm gì và gặp ai. Trả lời được câu này một cách đúng đắn, hãy tới và làm đúng việc đó thôi. Còn biết ta chưa làm được thì để đó, khi đủ điều kiện sẽ tới. Độ chúng sanh phải chờ đúng lúc mới độ được. Hòa thượng Trí Tịnh nhắc nhở rằng Phật và Bồ-tát thương chúng sanh, nhưng tại sao các Ngài không xuất hiện; đó là điều mà chúng ta phải suy nghĩ, Phật thường ví rằng trái chưa chín, không ăn được. Vì vậy, có thệ nguyện an lạc là nguyện trong lòng, nhưng phải chờ đúng lúc, làm sớm thất bại.
Tôi suy nghĩ đất nước Việt Nam trải qua giai đoạn dài của lịch sử, mà những sự kiện xảy ra đúng thời đó, có con người đó thì làm được. Khi nhà Đinh lập nghiệp, có Pháp sư Ngô Chân Lưu gầy dựng nhà Đinh. Chỉ có Đinh Tiên Hoàng và ngài Ngô Chân Lưu kết hợp mới thống nhất được mười hai sứ quân và thành lập nước Đại Cồ Việt. Đến thời Lý có Lý Thái Tổ và Vạn Hạnh thiền sư xuất hiện cùng lúc với danh nghĩa thầy trò để xây dựng và phát triển đất nước. Phật và Bồ-tát luôn xuất hiện đúng lúc. Đến nhà Trần, chúng ta thấy Trần Nhân Tông bỏ ngôi đi tu từ lúc tuổi còn trẻ. Con người đó, ở tuổi đó, làm được bao nhiêu việc đó, là xuất hiện đúng lúc để làm. Vì vậy, Phật khuyên chúng ta đọc tụng kinh điển để nắm cho được phương pháp trị liệu và đến đúng thời điểm sử dụng được thì đem dùng. Còn phương pháp chúng ta chưa nắm được và thời điểm cũng chưa tới, có làm cũng không đạt được kết quả tốt, khuyên một người cũng không được. Đúng thời điểm thì không khuyên, người cũng tìm nghe. Riêng tôi, chỉ lạy Phật cầu gia bị và tụng kinh Đại thừa, học phương pháp trị liệu mà Phật để lại, nên đạt được một số thành quả nhất định xin chia sẻ với quý vị.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





