THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017

"Bản chất của cái tôi" theo quan điểm của Thành Duy Thức luận.

"Bản chất của cái tôi" theo quan điểm của Thành Duy Thức luận. I. LỜI NÓI ĐẦU: Những lời chỉ dạy của Phật cho các đệ tử thì được gọi là kinh, còn những điều ngăn cấm thì gọi là luật. trong tam tạng kinh điển thì Luận là những gì mà các đệ tử chứng ngộ của Phật viết ra nhằm làm sáng tỏ những điều Phật nói. Hệ thống duy thức học được đề cập rất nhiều trong các bộ kinh như Giải thâm mật, Lăng già và đặc biệt là Vi diệu pháp ...Về sau có hai anh em là Vô Trước và Thế Thân đã hệ thống hóa hoàn toàn về giáo lý duy thức cho ngắn gọn và dễ hiểu. Duy Thức Học, môn nghiên cứu tìm hiểu nguyên ủy của hiện tượng vạn pháp để xác lập một luận cứ, cho người tìm hiểu học và đọc có thể biết được. Duy Thức Học là phương tiện chỉ nam hướng dẫn phương pháp nhận thức về mặt cụ thể của vạn pháp và khái niệm tư duy bên mặt trừu tượng. Do vậy, Duy Thức Học, còn gọi là Pháp Tướng Duy Thức Học. Người học phật muốn tìm hiểu và tu tập theo duy thức thì cần phải hiểu rõ những thuật ngữ và quán xét được các hành tướng của Pháp, nhân và ngã đều không có thực mà chỉ là do thức biến, mà không còn phiền não. Đó là khái quát nội dung vì sao người viết chọn đề tài của bài luận là “Tìm hiểu nguồn gốc và sự phát triển của học thuyết Duy Thức” mà giáo sư đã cho, nhằm xác lập chân lý Vô ngã qua cái nhìn của Đại thừa Duy Thức Học qua thức Alaya với vấn đề vũ trụ nhân sinh quan. II. DẪN NHẬP: Cái gọi là bản ngã này thực chất là gì? Chúng ta cho rằng đó chính là lớp vỏ bọc mà chúng ta dễ dàng nhầm lẫn với bản chất thực của mình. Bản ngã chính là cách chúng ta hình dung về bản thân, đó là tất cả những nhãn mác ta tự gán cho mình, những trải nghiệm dễ khiến cảm xúc tuôn trào. Bản ngã chính là lăng kính, là bộ lọc để qua đó chúng ta nhìn thế giới. Vì một lý do nào đó, chúng ta thường lầm tưởng bản ngã là bất biến, trong khi cũng như vạn pháp trong cuộc sống, nó biến đổi không ngừng và chúng ta tuyệt nhiên không nên để nó kiểm soát và giới hạn mình. Theo thời gian, bản ngã dựng lên những bức tường cản trở sự thay đổi khiến chúng ta quá chú trọng đến bản thân. Từ những trải nghiệm thời niên thiếu trải dài suốt cuộc đời, bản ngã luôn rao giảng với chúng ta rằng mình là ai và nên kỳ vọng điều gì ở bản thân. Nó bắt đầu từ lúc cha mẹ mô tả bạn ra sao khi bạn còn là một đứa trẻ, rằng bạn nhút nhát và ít nói, và rồi bạn có thể hoàn tất khá tốt vai diễn này suốt những năm tháng tuổi thơ cho đến khi chợt nhận ra mình thực sự thích giao lưu và tán gẫu. Có thể bạn là đứa trẻ “ngoan” luôn lo lắng mình sẽ khiến mọi người thất vọng. Cũng có thể bạn là một “cơn ác mộng”, nghịch ngợm quậy phá nhưng lại bắt đầu tự nhủ mình sẽ “hoàn lương”. Tất nhiên, trẻ em như tờ giấy trắng không nên bị đóng khung vào nét tính cách nào đó, thế mà những “nhãn mác” này lại có một sức mạnh rất lớn. Khi bạn trưởng thành, bản ngã sẽ vồ chụp lấy chúng và đồng hóa chúng với con người bạn. Khi đó, bạn dễ có xu hướng tự giam mình trong quá khứ với cái nhìn cứng nhắc về bản thân và thế giới, rất khó được tự do thoải mái. Hoặc cũng có thể bạn quá vội vã lao vào tương lai, chạy trốn quá khứ mà bỏ quên mất hiện tại. Khi chúng ta để bản ngã ngự trị, những bám chấp vào sở hữu của cải, vào con người và thậm chí vào chính những xúc tình tiêu cực sẽ ngày càng mạnh mẽ, biến thành xiềng xích cản trở chúng ta sống cuộc đời tự do và giản đơn. Bản ngã gắn liền với những nguyên nhân của khổ đau. Nó ngăn cản tuệ giác bên trong chúng ta lên tiếng. Tâm trí chúng ta bị che phủ bởi tầng tầng lớp lớp những suy diễn và ngụy tạo. Do vậy, chúng ta cần phải hiểu rõ bản chất của bản ngã để kiểm soát và từ bỏ nó. III. NỘI DUNG: 1. Bản ngã là gì? Cái đau khổ nhất của một người xuất phát không đâu khác mà ngay chính trong tâm chúng ta. Có những nỗi đau về xác thịt không thể bằng được những vết thương lòng phải không nào? Chỉ có điều, ta có đủ can đảm để vượt qua chính bản thân mình để mà đi tới hạnh phúc hay không. Có lẽ để có được hạnh phúc cũng cần có sự dũng cảm. Mà chắc chắn là như vậy! Nếu không đủ dũng cảm để vượt qua bản ngã, cái Tôi của chính mình thì ta làm sao có được hạnh phúc. Cái Tôi, hay còn gọi là bản ngã, rốt cuộc là cái gì chứ? Một cái tượng đài to tướng luôn cho mình là cao nhất, là trung tâm của vũ trụ. Một mớ bầy nhầy những tham ái, dục vọng, kiêu mạn, ích kỷ, nhỏ nhen mà vẫn cho rằng mình thật đẹp đẽ, mĩ miều và cần được vun đắp bằng chính những nhân tố trong nó. Chính vì vậy, bản ngã chi phối toàn bộ suy nghĩ của chính hình hài chứa đựng nó, tức là phần thể xác chúng ta. Khi bạn nhìn vào một cái áo, bạn cảm thấy nó đẹp thì nó là đẹp, bạn thấy nó xấu thì nó là xấu. Vẫn là cái áo đó, bạn thì thấy nó đẹp, song người khác lại thấy nó xấu, bạn yêu quý nhưng người khác lại ghét bỏ nó. Vốn cái áo chỉ là cái áo, còn đẹp hay xấu lại là do mình và mọi người áp đặt lên nó bằng những bản ngã khác nhau. Hợp với ta thì ta thấy yêu thích, không hợp với ta thì ta chán ghét. Vậy nên mới nảy sinh sự yêu và ghét, quý trọng và khinh bỉ, thần tượng và ghê tởm… Nhiều người cho đó chính là sự tương đối của mọi vật. 1.1. Phủ nhận các quan điểm ngoài Phật Giáo về "cái tôi" hay "cái ngã" Chúng ta hãy trở lại vấn đề Tánh Không hay là "không-có-cái-tôi" của con người và xem cách Tịch Thiên bác bỏcác quan điểm về "cái tôi" của hai học phái triết học Ấn độ ra sao. Học phái thứ nhất là Samkhya xem "cái tôi" như một thứ tri thức tự chủ và độc lập, và học phái thứ hai là Vaisheshika xem "cái tôi" là một thực thể vật chất, tự chủvà độc lập (chủ trương vật chất và cả "cái tôi" được tạo thành bởi sự kết hợp của các hạt "nguyên tử"). Tuy không đi sâu vào chi tiết về sự phủ nhận "cái tôi" theo các quan điểm của các học phái ngoài Phật Giáo, thế nhưng tôi thiết nghĩ cũng nên giải thích sơ qua về bối cảnh mà các quan điểm đó đã được hình thành. Phần chính yếu nhất trong chủ thuyết về "cái tôi" do các người thuộc học phái Samkhya cổ xúy là một hệ thống phân loại hiện thực thành hai mươi lăm thể loại, trong số này hai mươi ba thể loại là những biểu hiện của một trong hai thể loại còn lại gọi là chất liệu nguyên thủy hay Nguyên Lý Sáng Tạo, và thể loại sau cùng là "cái tôi", được hình dung như một thứ tri thức nhận biết, hàm chứa một thực thể tự chủ. Hai mươi ba thể loại được xem như những thể dạng "thụ hưởng" của "cái tôi". Theo những người thuộc học phái Samkhya thì cho đến khi nào chưa đạt được sự giác ngộ, chúng ta vẫn chưa có thể ý thức được là tất cả những thể loại trên đây đều phát sinh từ Nguyên Lý Sáng Tạo, và cũng có nghĩa là chúng ta vẫn còn vướng mắc trong thế giới nhị nguyên và đa dạng. Tuy nhiên, theo họ thì khi nào chúng ta đã hiểu được các thể loại ấy thực ra chỉ là những biểu hiện của Nguyên Lý Sáng Tạo thì "cái tôi" sẽ được giải thoát và thế giới nhị nguyên của các biểu hiện bên ngoài cũng sẽ biến mất. "cái tôi" là một chủ thể giữ vai trò cảm nhận sự đau đớn và thích thú: chính vì lý do đó nên người ta bảo rằng nó "thụ hưởng". Nó không hề được sinh ra và cũng không chết, chính vì thế nên nó mang tính cách trường tồn. Bởi vì nó không phải là kẻ sáng tạo ra bất cứ một biểu hiện nhị nguyên và đa dạng nào nên nó hoàn toàn trống không về mọi chức năng. Vì lý do nó không hàm chứa các phẩm tính thuộc ba thể dạng căn bản - trung hoà, tích cực và tiêu cực - nên nó không hề vướng mắc vào các đặc tính này, không như trường hợp của Nguyên Lý Sáng Tạo (hàm chứa các đặc tính ấy). Nó không giữ một chức năng đặc biệt nào cả. Vì mang đặc tính hiện hữu cùng khắp nên nó cũng không đảm trách một chức năng đặc biệt nào cả. Từ bản chất nó biết "ý thức". 1.2. Khám phá thế giới của cái “tôi” Để làm điều này, hãy đơn giản quan sát bao nhiêu lần bạn sử dụng từ “Tôi” trong một ngày và tìm hiểu xem bạn đã sử dụng nó ra sao? Bạn muốn nói điều gì? Nó có ý nghĩa thế nào? Liệu bạn có đang để bản ngã thống trị suy nghĩ và hành động của mình? Tôi băn khoăn không biết người đó nghĩ gì về mình? Tôi thấy họ thế nào? Ai giỏi hơn, thành công hơn, hấp dẫn hơn? Chúng ta thường bị tấn công dồn dập bởi những suy nghĩ xuất phát từ bản ngã, trái bóng kiêu hãnh của chúng ta dễ bị xì hơi bởi một cái kim bé xíu. Ban đầu bạn chỉ cần quan sát hiện tượng này, rồi thử xem tiếp liệu mình có khả năng vượt lên những so sánh hoài nghi đang được bản ngã và nỗi sợ hãi sai khiến để được trở về với chính mình. Khi bắt đầu nhận ra chẳng có điều gì trên thế gian này là thật mà đều do tâm ta thêu dệt nên, chúng ta sẽ cởi bỏ được những lớp vỏ bọc của bản ngã, bớt bảo thủ và trở nên cởi mở dễ lắng nghe quan điểm của người khác hơn. Ví dụ, bạn có thể thấy ai đó thú vị giỏi giang nhưng một người khác lại nhận định rằng người này chẳng có gì hay ho xuất sắc cả. Thực tế là chẳng ai đúng mà cũng chẳng ai sai, bởi mọi sự vật hiện tượng đều có tính chất “tương đối”, tất cả đều phụ thuộc vào quan điểm của riêng của mỗi người. Vạn pháp duy tâm tạo! Đó là lý do vì sao chúng ta nên cố gắng thực hành nói “Tôi nghĩ” hay “Tôi cảm thấy” bất cứ khi nào có thể, thay vì khẳng định mọi thứ như một thực tế không cần bàn cãi. Khi đó chúng ta sẽ dễ dàng đối thoại cũng như có khả năng chấp nhận những ý kiến khác biệt của nhau. 2. Tâm thức có phải là "cái tôi" hay không? "Cái tôi" như là một tên gọi liên quan đến một tổng thể gồm thân xác và tâm thức, thì có phải "cái tôi" ấy cũng có thể được nhận diện như là tâm thức hay không? Có một số học phái triết học Phật Giáo sau khi phân tích "cái tôi" dưới tất cả mọi khía cạnh đã quả quyết rằng tri thức chính là "cái tôi". dòng tiếp nối liên tục của tri thức tâm thần (ý nói đến tri thức thứ sáu, hay là thành phần tri thức cao nhất trong số sáu thành phần trí thức thuộc ngũ uẩn) chính là "cái tôi". nếu chúng ta bắt buộc phải chấp nhận tri thức như là "cái tôi" thì chúng ta sẽ phải chọn lựa như thế nào? Tư duy thuộc quá khứ hay (sẽ xảy ra trong) tương lai đều không phải là "cái tôi", bởi vì chúng không hề hiện hữu (tư duy quá khứ đã chấm đứt, tư duy tương lai chưa xảy ra). Vậy tư duy hiện tại có phải là "cái tôi" hay không? Thế nhưng nếu tư duy ấy (tức là tư duy hiện tại) biến đi, thì tất "cái tôi" cũng sẽ không còn nữa. (Nếu cho rằng sự suy nghĩ trong đầu mình là "cái tôi" của mình, thì "cái tôi quá khứ" không còn nữa, "cái tôi tương lai" chưa có và "cái tôi trong hiện tại" đang biến mất, vậy cái tôi trường tồn, bất biến sẽ phải là cái tôi nào?) Vậy trong số các tri thức như: tri thức thuộc quá khứ, tri thức sắp hiện ra trong tương lai và tri thức hiện tại, thì tri thức nào sẽ là "cái tôi"? Tri thức quá khứ đã chấm dứt, tri thức tương lai thì chưa xảy đến. Nếu tri thức trong khoảnh khắc hiện tại là "cái tôi" thì nó chỉ có tính cách nhất thời, khi nó chấm dứt hiện hữu thì "cái tôi" hay con người (tức nhân dạng) cũng chấm dứt hiện hữu. Cũng tương tự như thế, nếu tri thức là "cái tôi" thì khái niệm về chủ thể và đối tượng cũng sẽ không thể nào đứng vững được (tri thức chỉ có thể hiện hữu như là một chủ thể khi có một đối tượng - trong trường hợp này là "cái tôi" - để nó nhận biết, thế nhưng nếu nó lại chính là "cái tôi" thì sẽ không còn có "cái tôi" làm đối tượng cho nó nhận biết nữa, và trong trường hợp ấy sẽ không có chủ thể và đối tượng. Một cách nôm na và dễ hiểu: nhờ tri thức nên chúng ta biết được mình có "linh hồn", thế nhưng nếu bảo rằng tri thức là "linh hồn" của chính mình, tức có nghĩa là "linh hồn" và "tri thức" cũng chỉ là một thứ, thế thì "cái gì" nhận biết là mình có cái "linh hồn"của mình. Tất nhiên là cách lập luận cho rằng chủ thể là "tri thức" và đối tức tượng là "linh hồn" không thể đứng vững được, nói cách khác là nếu xem "tri thức" là "linh hồn" của mình là một điều phi lý). Hơn nữa, có thể nói rằng không có một sự liên hệ nào cả giữa "cái tôi" và tri thức (tri thức là thành phần của ngũ uẩn liên quan đến sự vận hành chung của toàn bộ năm thứ cấu hợp, nó không dính dáng gì với cái tôi hay "linh hồn" cả) bởi vì sau khi phân tích đến tận cùng thì tri thức cũng chỉ là con người. 2.1. Con người bị chi phối bởi vô thức: Tâm trí con người được chia làm hai phần: ý thức và tiềm thức. Ý thức là bề nổi của tâm trí, là cái con người nắm bắt được, còn tiềm thức là cái nằm bên dưới ý thức. Tiềm thức bao gồm tiền thức và vô thức. Con người tuy có ý thức làm chủ những hành động và tư duy nhưng ý thức chỉ chiếm một phần nhỏ trong tâm trí con người. Vô thức, nơi mà ý thức cũng không thể tiếp cận và điều khiển, là bề sâu của tâm trí con người bao gồm những kinh nghiệm, cảm xúc mà bản ngã không chấp nhận và đã bị tự chế hay ức chế. Khái niệm về bản ngã sẽ được nói đến ở phần sau, tuy nhiên, có thể hiểu bản ngã như là “ông chủ” của những tư tưởng hay cảm xúc. Một khi bản ngã từ chối một yếu tố nào, nghĩa là không cho nó hiện diện ở ý thức, bằng cách tự chế hay ức chế, yếu tố đó bị dồn xuống vô thức. Ở điểm này, những gì trong vô thức dường như là những gì tâm trí con người cố gắng lãng quên hay loại bỏ khỏi ý thức. Vô thức như một nhà kho chứa tất cả những thứ ý thức không muốn để ý tới. Hẳn nhiên những thứ trong vô thức thường không tốt đẹp gì. Đó có thể là những ước muốn chưa được thoả mãn, những tổn thương cảm xúc trong quá khứ, những lo sợ hay né tránh thực tại hay những thúc đẩy của bản năng. Dưới tác động của môi trường sống, những ranh giới của văn hoá và đạo đức, tất cả những yếu tố trên bị chủ thể loại bỏ khỏi tâm trí hay bị môi trường sống lên án khiến chúng không thể tồn tại trong ý thức. Và như thế vô thức như một mớ hỗn độn và phức tạp trong tâm trí con người. 2.3. Cấu trúc bản ngã: Bản năng, bản ngã và siêu ngã. Bản năng hay còn gọi là phi ngã là những đòi hỏi sinh lý luôn đòi hỏi được thoả mãn cách trực tiếp và có thể dưới bất cứ hình thức nào, bất chấp cả thực tiễn. Bản ngã là cái giúp con người nhận biết chính mình hay phân biệt mình với người khác và với thế giới bên ngoài. Bản ngã có nhiệm vụ điều khiển phi ngã và buộc phi ngã phải tuân theo những giới hạn của thực tiễn. Siêu ngã hình thành sau cùng nơi cấu trúc bản ngã, đó là tập hợp những yếu tố cao cấp của con người và tinh hoa của môi trường sống trong việc hướng dẫn con người. Siêu ngã biểu hiện qua lương tâm, cái tôi lý tưởng, và những giá trị đạo đức văn hóa, tôn giáo. Mục đích của siêu ngã là chống lại phi ngã và điều khiển bản ngã. Trong ba thành phần trên, phi ngã là cái gây nhiều “vấn đề” nhất. Phi ngã hay bản năng là nguồn cho năng lực tâm lý, do đó nó nắm trong mình sức mạnh tối ưu chi phối con người. Bản năng bao gồm những nhu cầu căn bản của thể lý như ăn uống, ngủ nghỉ và truyền sinh. Những nhu cầu và ước muốn rất thể xác này như những xung lực âm ỉ nơi con người và gây sức ép cho bản ngã. 2.4. Sự bám chấp mạnh mẽ vào bản ngã làm ta suy yếu: Bản ngã dường như không thích sự thay đổi, nó thường nhìn nhận mọi điều bằng tư duy chủ quan cứng nhắc. Bởi vậy, chỉ một vài điều vặt vãnh đụng chạm đến niềm tin và định kiến cũng dễ khiến nó bị tổn thương. Và khi bản ngã đầy uy lực, chúng ta trở nên thích phán xét mình và người khác. Thế giới hiện đại tràn ngập định kiến, nó bảo ta phải hành động thế nào, hình thức ra sao, rằng bạn là người xấu hay tốt, thành công hay thất bại. Gia đình và xã hội luôn đặt kỳ vọng nơi ta, hay đôi khi chúng ta tự kỳ vọng vào chính mình để rồi liên tục bị phán xét và thường là bị thất vọng. Hệ thống giáo dục hiện đại dạy trẻ em sự tự tin, nỗ lực hết mình, dám ước mơ và sẵn sàng chấp nhận thách thức. Điều đó thật tuyệt vời! Tuy nhiên, thông điệp này nếu được nhắc nhở một cách mù quáng lại trở thành gánh nặng và tiêu chí đè lên vai bọn trẻ khi trưởng thành. Chính những kỳ vọng này từng bước dựng lên bức tường kiên cố của bản ngã. Chúng ta bắt đầu cảm thấy cần sở hữu tài sản, thèm muốn sự giàu có, thành đạt bằng mọi giá. Chúng ta đầu tư để có được kiến thức phục vụ mục tiêu đó và đóng chặt mọi cánh cửa học hỏi, tìm tòi và khám phá khác trong cuộc sống. Một ví dụ điển hình là những đứa trẻ khi trưởng thành thường bị ám ảnh bởi ước mơ được nổi tiếng. Nếu thiếu một động cơ chân chính, những kiểu tham vọng như vậy sẽ chỉ vuốt ve bản ngã để đến một lúc nào đó chúng ta sẽ đánh mất mình. 3. Bản ngã là gốc của tà kiến và tham dục: Theo giáo lý nhà Phật, thì con người là do 5 uẫn kết hợp lại mà thành, đó chính là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Và nếu 5 uẫn này rời ra thì con người không còn nữa. Hay nói ngắn gọn hơn đó chính là Danh và Sắc. Là thân xác và tinh thần của con người chúng ta. Nhưng riêng về tinh thần, chúng ta có thể nhận thấy có 3 phần khác nhau sau đây. Và chính 3 phần khác nhau của tinh thần này, nó sẽ tương ứng với 3 cái là: Tham dục, tà kiến và bản ngã của con người. Thứ nhất, đó là “thế giới cảm giác” của 5 giác quan thuộc thân xác con người. Là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân xác xúc chạm. Thứ hai là tinh thần bề mặt theo chiều rộng đó là ý thức (lý trí), và hoạt động của ý thức này thì được gọi là tư duy. Thứ ba là tinh thần chiều sâu bên trong, chính là tiềm thức (mạt na thức) và vô thức (a lại da thức), hai cái này được gọi chung là tâm lý của con người vậy. Do đó “thế giới cảm giác” của 5 giác quan thuộc thân xác con người, cũng là một dạng tinh thần bề mặt không xác định được. Vì “cảm giác” nói chung là mông lung giả tạo, mỗi người mỗi khác nhau theo dân tộc, chủng tộc, địa phương mà có cảm nhận khác nhau. Nên chúng ta không cần xét về “thế giới cảm giác” này nhiều quá chỉ thêm rối mà vô ích thôi. Nhưng căn bản 5 giác quan này đều được điều khiển bằng ý thức, thuộc thần kinh trung ương của não người. Và nhờ đó mà con người mới vượt xa hơn được phần bản năng động vật của mình. Và 5 giác quan này chính là 5 tên lính gác 5 cửa thành của thân xác ở bên ngoài. Và từ đây sinh ra tánh tham dục của con người. 4. Sự hình thành và phát triển nhân cách: Ba tiền giả định về nhân cách: nhân cách chịu ảnh hưởng bởi các kinh nghiệm tuổi thơ, bị chi phối bởi năng lực của vô thức và bản năng tính dục và những thất đoạt và xung khắc trong các nhu cầu căn bản cũng ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách. Từ các tiền giả định đó, Freud cho rằng nhân cách con người chịu ảnh hưởng rất nhiều từ quá khứ, bản năng và những thất bại trong việc thoả mãn những nhu cầu. Bên cạnh đó, Freud nhấn mạnh khía cạnh dục tính như là một nguồn năng lực chi phối mạnh mẽ nhân cách con người. Chính vì thế, Freud phác họa các chặng phát triển tâm lý dựa trên việc tìm kiếm thoả mãn những nhu cầu dục tính. Mỗi giai đoạn, con người tìm thoả mãn một nhu cầu liên quan đến thể xác: giai đoạn miệng thì tìm khoái cảm bú mút, giai đoạn hậu môn tìm khoái cảm khi đại tiện,… Và nếu một trong các nhu cầu không được thoả mãn thoả đáng, có thể để lại những ham muốn hay xung lực, tồn tại ở bản năng hay vô thức, gây ảnh hưởng khi con người tiến sang giai đoạn khác. Như thế, đối với Freud, nhân cách, tuy không hoàn toàn được xây dựng trên nền tảng bản năng và dục tính, chịu ảnh hưởng rất nhiều từ khía cạnh tự nhiên của con người và dường như đã được xác định sẵn bởi bản năng và những ảnh hưởng đầu đời. Môi trường và những tác động sau này không thể hay ít làm suy chuyển tính cách đã định hình. Nói cách khác, nhân cách như là kết quả của một chuỗi những giằng co của nhu cầu và thoả mãn nhu cầu nơi con người. Chính việc con người thành công hay thất bại trong việc xử lý những giằng có đó để lại những nét tính cách đặc trưng cho mỗi người. Một khi có sự mất cân bằng trong việc giải toả các nhu cầu, con người hứng chịu những xáo trộn về tâm trí và những xung đột nơi nhân cách. Mức độ xáo trộn nặng hay nhẹ tuỳ thuộc sự bức bách và sức ép của việc thoả mãn nhu cầu đó. Nói cách khác, tuỳ thuộc năng lực dành cho nhu cầu đó. Nếu năng lực mạnh mẽ (đòi thoả mãn một nhu cầu nào đó) không được điều hợp đúng cách sẽ gây ra tác động lớn hơn một nhu cầu có nguồn năng lực kém hơn. 4.1. Con người là một tổng thể các yếu tố tâm trí: Ý thức bao gồm cái tôi và cái bề ngoài. Cái tôi là những gì con người ý thức, suy nghĩ, nhớ lại và cảm nhận; cái bề ngoài là hình ảnh cái tôi muốn thể hiện mình cho thế giới bên ngoài. Vô thức bao gồm vô thức cá nhân và vô thức tập thể. Vô thức cá nhân là những gì đã từng ở trong ý thức nhưng đã bị dồn nén, quên hay không thể nhớ lại. Vô thức cá nhân gồm các phức cảm: một nhóm ý tưởng gây lo lắng cho cá nhân được liên kết với nhau bởi một loại cảm giác chung. Vô thức tập thể là những kinh nghiệm được đúc kết dưới dạng những nguyên mẫu và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nguyên mẫu khiến con người hành xử như đã được lập trình và có thể coi như bản năng. Trong nguyên mẫu có nam hồn và nữ hồn. Điều này có nghĩa cả nam và nữ đều mang tính lưỡng tính: người nam có tính nữ và người nữ có tính nam. Dĩ nhiên tỷ lệ nam tính và nữ tính không làm mất đặc tính căn bản của người đó! Một yếu tố khác trong vô thức tập thể là “bóng”. Yếu tố thâu gom mọi thành phần nói trên là bản ngã. Trong cấu trúc nhân cách, bản ngã là tổng hợp của ý thức và vô thức để hình thành một cá vị độc nhất. Nếu nói vô thức tập thể là một nguyên mẫu được tặng ban cho con người, bản ngã là nguyên mẫu căn bản nhất. Nơi đó không còn xung khắc, không còn năng lượng thúc đẩy, nhưng đã đạt đến cân bằng và ổn định. Bản ngã đi tìm cá vị hoá và mục đích của đời sống là hiện thực hoá bản ngã. Bước đầu là cá vị hoá bằng việc phân biệt và chân nhận các thành phần của tâm hồn, sau là bước siêu vượt ngang qua việc hội nhất các thành phần này thành một tổng thể hoà hợp. 4.2. Con người và nỗ lực hiện thực hoá bản ngã: Phát triển nhân cách con người qua tiến trình hiện thực hoá bản ngã, trong đó gồm hai bước: cá vị hoá và thống nhất hoá các thành phần của tâm hồn. Cá vị hoá là việc chân nhận đầy đủ các thành phần của tâm hồn và qua chức năng siêu vượt, con người đi đến thống nhất hoá các thành phần này với nhau để đi đến một sự nhất quán trong nhân cách. Tiến trình định hình nhân cách cũng trải qua các giai đoạn tuổi thơ, trưởng thành và trung niên. trung niên được xem là giai đoạn thành toàn của nhân cách khi đạt đến sự thống nhất hoá các thành phần của tâm hồn. Động lực phát triển nhân cách, cũng phần nào có sự khác biệt so với quan điểm của Freud. Jung cũng cho rằng con người bị chi phối bởi bản năng nhưng đây không phải là yếu tố chi phối chính yếu. Libido trong lý thuyết của Jung cũng mang ý nghĩa “nhẹ nhàng” hơn khi ông cho rằng libido chỉ gắn với những nhu cầu căn bản trong thời kỳ đầu phát triển của con người. Khi nhân cách đã đạt được sự thống nhất hoá, libido trở thành động lực của sự sáng tạo để cá nhân theo đuổi những giá trị cao quý khác của con người như triết học hay tôn giáo. Như thế có thể thấy một bước chuyển trong trọng tâm của lý thuyết về nhân cách giữa Freud và Jung. Nếu Freud nhấn mạnh vào vô thức và bản năng tính dục trong việc ảnh hưởng đến nhân cách, Jung đề cao khía cạnh chủ động của con người trong việc cá vị hoá và tiến trình tiến tới thành toàn. Nếu coi con người chủ yếu dưới lăng kính “con” thì Jung có cái nhìn “người” hơn. Nếu Freud coi nhân cách con người là tất định và khó thay đổi, Jung lại nhìn được khía cạnh tích cực hơn khi tin rằng con người có thể thay đổi chính mình để trở nên tốt hơn. 5. Bản ngã và thoát khỏi bản ngã: Ý của chúng ta là gì qua bản ngã? Nếu bạn hỏi ai đó bản ngã là gì, họ sẽ nói, “Nó là tất cả các giác quan của tôi, các cảm xúc của tôi, mọi sự tưởng tượng của tôi, những đòi hỏi yêu đương lãng mạn của tôi, mọi xúc cảm của tôi, chồng, vợ, mọi bản chất của tôi, mọi sự vật lộn của tôi, mọi thành tựu của tôi, mọi tham vọng của tôi, mọi khát vọng của tôi, mọi đau khổ của tôi, và mọi niềm vui của tôi”- Mọi điều đó sẽ là bản ngã. Bạn có thể thêm vào một vài ngôn từ nữa nhưng chủ yếu nó vẫn là trung tâm, cái “tôi”, mọi thôi thúc của cái “tôi” – “Tôi bắt buộc phải tìm tới Ấn độ để tìm hiểu lẽ thật” vân vân và vân vân. Từ trung tâm này, tất cả mọi hoạt động diễn ra: Tất cả mọi khao khát của chúng ta, mọi tham vọng của chúng ta, mọi tranh cãi của chúng ta, mọi bất đồng ý kiến của chúng ta, mọi khái niệm của chúng ta, mọi thành kiến của chúng ta và mọi kinh nghiệm của chúng ta đều là trung tâm của hiện tượng này. Trung tâm không chỉ là ý thức bản ngã đang tác động bên ngoài nhưng cũng là ý thức sâu thẳm của nội tâm không công khai và rõ rệt. Nó là tất cả mọi địa hạt của ý thức. Để thoát khỏi mọi kinh nghiệm của bạn, mọi kiến thức của bạn, mọi nhận thức tích lũy của bạn… điều này là có thể xảy ra nếu bạn thật sự muốn, và nó không cần thời gian. Thời gian cũng là một trong những lý do mà chúng ta tự bào chữa: Chúng ta chắc chắn phải cần thời gian để được giải thoát. Khi bạn thấy một trong các yếu tố của bản ngã là sự dính mắc và bạn thấy nó đã tác động thế giới này như thế nào và nó đã làm gì với mối liên hệ của bạn với người khác, những cuộc tranh cãi, chia ly, và tất cả mọi sự xấu xa của các mối quan hệ… Nếu bạn thấy được hiện thực của sự dính mắc này thì bạn thoát khỏi nó. Sự nhận thức của bạn sẽ khiến bạn được tự do. IV. KẾT LUẬN: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”. Nhạc Trịnh Công Sơn đã đi vào lòng người. Khi cất tiếng hát, ai cũng cảm thấy như đang nói lên cõi lòng của chính mình vậy. Từ một người đạp xích-lô trên đường phố, cho đến một ca sĩ chuyên nghiệp, ai cũng có thể tùy hứng nghêu ngao một vài câu trong bài hát bất cứ khi nào thấy thích. Nhưng để trình diễn xuất sắc, hát hay nhạc Trịnh thì không có được nhiều người. Cũng thế, bản chất trong sáng tinh khôi, an tĩnh, rất trí tuệ nơi chính mỗi người ai ai cũng sẵn có. Dù muốn hay không, hoặc ít hay nhiều, mọi người cũng đang sống bằng nó. Nhưng đa phần chúng ta chỉ nhận chân được phần nào hoặc có người thi thoảng mới thoáng chợt hay ra. Không có được nhiều người có đủ điều kiện để nhận ra và sống trọn vẹn bằng chính nó. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta nghi ngờ về cội nguồn trí tuệ vô biên này. Sử dụng được ít hay nhiều là do sự dốc tâm khám phá và sống về của mỗi người. Một khi đã nhận ra được giá trị cao thượng và chân thật tuyệt đối của nó, chúng ta sẽ hào hứng để khám phá và sống về bằng cái tôi chân thật đầy ý vị này. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1.NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 2. Phạm Kim Khánh dịch, Đức phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009. 3. NT Thích Nữ Trí Hải dịch, Đức Phật Đã Dạy Những Gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 4TT Thích Viên Trí biên soạn, Ấn Độ Phật Giáo Sử Luận, Nxb Phương Đông, 2007. 5.NT Thích nữ Trí Hải dịch, Đức Phật đã dạy những gì, Nxb Tôn Giáo, 2000. 6.HT Thích Quảng Độ dịch, Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Nxb Ban Tu Thư Đại Học Vạn hạnh, 1969. 7. HT. Thích Phước Sơn dịch, Ấn Độ Phật Học Nguyên Lưu Lược Giảng, Nxb Phương Đông, 2011. 8. HT. Thích Minh Châu dịch, Trường Bộ Kinh, Nxb Tôn Giáo, 2001, tr. 85. 9. HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh, Tập I, Kinh Đoạn Tận Ái, Nxb Tôn Giáo, 2003. 10. HT Thích Quảng Độ dịch, Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận, Bxb Ban tu thư đại học Vạn Hạnh, 1969, tr. 207-208. 11. TT Thích Viên Trí, Phật Giáo Nguyên Thủy Và Phật Giáo Đại Thừa, Tài Liệu Lưu Hành Nội Bộ. 12. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật Và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2009. 13. Đại tạng kinh Việt Nam Nam truyền, HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ, tập I, Kinh Aggivacchagotta, Nxb Tôn Giáo, 2012. 14. HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Tương Ương bộ kinh, tập I, VNCPHVN ấn hành, 1993. 15. TT Thích Minh Tuệ, Phật và thánh chúng, Nxb Tôn Giáo, 2009. 16. Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp, Nxb Tôn Giáo, 2008.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét