THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2017
QUAN NIỆM VÀ GIÁ TRỊ CỦA BỒ TÁT
MỤC LỤC:
I. DẪN NHẬP:
1. lý do chọn đề tài:
II. NỘI DUNG:
1. Ý nghĩa của bồ tát:
1.1. Lý tưởng của bồ tát:
2. Lịch Sử và Sự Phát Triển Của Bồ Tát:
2.1. Sự chuyển tiếp đến việc phát triển trọn vẹn khái niệm Bồ tát đạo:
3. quan điểm bồ tát của nguyên thủy:
4. Các Quan Điểm Của các Bộ Phái Thuộc Đại Chúng Bộ:
5. Sự xuất hiện của tông phái Đại thừa như là Bồ tát thừa:
5.1. quan điểm bồ tát của đại thừa:
5.2. Phương tiện thiện xảo của Bồ-tát Đại thừa Phật giáo:
5.3. Bồ Tát Đạo Trong Truyền Thống Đại thừa:
6. Để tiến đến việc hoà hợp lành mạnh của cả hai thừa:
7. Bồ Tát phát bồ đề tâm như thế nào?
7.1. Học Phật Đạo, Hành Bồ Tát Đạo:
8. Bồ tát ở thời đại luân hồi:
9. Tối hậu thân bồ tát:
III. KẾT LUẬN:
SÁCH THAM KHẢO
QUAN NIỆM VÀ GIÁ TRỊ CỦA BỒ TÁT
I. DẪN NHẬP:
Nếu không có những chuyến đi ra khỏi bốn cửa thành của Thái tử Tất Đạt Đa để được chứng kiến tận mắt cảnh sinh, lão, bệnh, tử và từ đó chứng nghiệm một chân lý giản đơn rằng đời sống quả là vô thường, ngắn ngủi thì người con xuất sắc của giòng họ Thích Ca đã không từ bỏ cung vàng điện ngọc, quyết chí lên đường xuất gia tìm đạo giải thoát, nhằm giải quyết vấn nạn cho chính bản thân mình và cho tất cả muôn loài chúng sanh.
Đạo Phật gọi đó là lý tưởng Bồ Tát. “Lý tưởng khác với chủ nghĩa giáo điều ở chỗ nó không khép kín. Lý tưởng thúc đẩy và khuyến khích sự tự do quyết định của cá nhân, và do đó, khác với chủ nghĩa giáo điều, nó không cần sự biện hộ của tư liệu lịch sử hay lý luận. Lý tưởng có sức thuyết phục trực tiếp vì nó luôn tạo niềm cảm hứng mới mẽ cho con người và giúp con người định hướng một cách sáng tạo cho tương lai. Nhờ chính điều này mà lý tưởng có giá trị ngay trong hiện tại và cho chính cuộc sống hiện tại.
1. lý do chọn đề tài:
Phật Pháp vốn cao siêu và huyền diệu, nếu không có các vị tổ tương truyền, chỉ ra yếu điểm của Pháp thì chúng ta như bơi lăn trong biển cả bao la của Phật Pháp. Chứ không biết làm cách nào để tỏ ngộ, và áp dụng phật pháp vào đời sống một cách thiết thực để đem đến sự an vui cho mình và cho người.
Con người do chấp trước mà khổ đau, mà cái nguyên nhân đầu tiên là do vô minh, quả là khổ não. Do vậy, muốn trị sạch bệnh khổ thì phải diệt tận nguồn gốc của vô minh. Nhưng muốn tận diệt vô minh thì phải có một thứ khí giới siêu việt, khí giới ấy chính là thanh kiếm bén chắc của trí tuệ Bát Nhã cũng là lý do chọn đề tài này.
II. NỘI DUNG:
1. Ý nghĩa của bồ tát:
Trước tiên ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của danh từ Bồ Tát. Trên phương diện từ nguyên, Bồ Tát –Bodhisattva, tiếng Phạn – là một danh từ ghép bao gồm hai từ Bodhi và Sattva. Bodhi, phiên âm Hán ngữ là Bồ Đề, có nghĩa là ‘nhận thức, hiểu biết’ với hàm ý rằng đây là những hiểu biết siêu việt, tối thượng, những hiểu biết về tâm linh, thực tại; đồng thời nó cũng có nghĩa là ‘tỉnh thức’ trong cái ý nghĩa tỉnh thức trước thực tại tuyệt đối của vạn pháp, xuyên suốt qua trái tim của hiện hữu. Bồ Đề vì thế cũng còn được dịch là ‘Giác Ngộ’, một danh từ không nên hiểu bằng nhận thức thuần lý mà bằng tất cả tâm linh, kể cả cảm quan siêu việt. Đây là sự hiểu biết của tâm linh siêu việt, một sự đại tỉnh thức, được xem như là cứu cánh tối hậu của một người hành trì Phật đạo.
Khi nói rằng Bồ Tát là một chúng sanh đã dành trọn cuộc đời mình để vươn tới sự thành tựu Giác Ngộ thì như thế Bồ Tát là một chúng sanh rất đặc biệt, một Chúng Sanh được viết hoa và điều đó cũng có nghĩa rằng Bồ Tát là một mẫu người Phật tử lý tưởng, bởi vì một người Phật tử lý tưởng là gì nếu không phải là người học Phật nhằm đạt đến thực chứng Giác Ngộ như Đức Phật trước đây. Lý tưởng Bồ Tát vì thế cũng giống như cái lý tưởng chuyển hoá tự thân một cách nhân bản từ mê lầm đến Giác Ngộ.
1.1. Lý tưởng của bồ tát:
Nếu không có những chuyến đi ra khỏi bốn cửa thành của Thái tử Tất Đạt Đa để được chứng kiến tận mắt cảnh sinh, lão, bệnh, tử và từ đó chứng nghiệm một chân lý giản đơn rằng đời sống quả là vô thường, ngắn ngủi thì người con xuất sắc của giòng họ Thích Ca đã không từ bỏ cung vàng điện ngọc, quyết chí lên đường xuất gia tìm đạo giải thoát, nhằm giải quyết vấn nạn cho chính bản thân mình và cho tất cả muôn loài chúng sanh. Đây là những chuyến đi rời bỏ tháp ngà để tiếp xúc với thực tại đời sống và để chấp nhận một sự thực rằng, nhân sinh vẫn còn mãi hoài chìm đắm trong cơn mê dài với nỗi đau muôn thuở, từ đó "nước mắt của chúng sanh trong ba nghìn thế giới còn nhiều hơn nước bể bốn đại dương". Thế cho nên có thể nói một cách rõ ràng và dứt khoát rằng, Đạo Phật phát xuất từ nỗi khổ đau của con người và nhằm giải quyết những khổ đau ấy. Nếu chân lý này không hiện hữu tức là chư Phật, chư Bồ Tát đã không hiện hữu, bởi vì làm sao các ngài có đủ lý do để thị hiện ra trên cõi đời này với một hạnh nguyện lớn lao là cứu khổ muôn loài chúng sanh?
Chính cái hạnh nguyện lớn lao này đã làm cháy bùng lên một ngọn lửa nung nấu mãnh liệt trong trái tim người. Nó kết tinh lại thành lý tưởng, thúc đẩy ta không ngừng đi tới, không lùi bước trước mọi hiểm nguy, gian khổ, và có thể chấp nhận hy sinh tất cả ngay chính cả thân mạng mình. Lý tưởng có sức thuyết phục trực tiếp vì nó luôn tạo niềm cảm hứng mới mẽ cho con người và giúp con người định hướng một cách sáng tạo cho tương lai. Nhờ chính điều này mà lý tưởng có giá trị ngay trong hiện tại và cho chính cuộc sống hiện tại.
2. Lịch Sử và Sự Phát Triển Của Bồ Tát:
Trong thời kỳ sơ khởi của Phật giáo qua những kinh sách thuộc hệ Pali, ý niệm Bồ Tát đã được phổ biến khá rộng rãi, trong giới tăng sĩ cũng như cư sĩ tại gia. Người ta thấy trong những truyền thống bảo thủ như Theravada chẳng hạn, thuật ngữ Bồ Tát thường được dùng để chỉ những vị-Phật-sắp-thành, tức là một số kiếp trước khi vị đó đạt thành giác ngộ. Trong ngữ cảnh đó, mặc dầu các truyền thống này công nhận sự hiện hữu của những vị Bồ Tát khác của những đại kiếp trong quá khứ cùng với một Bồ Tát sẽ là một vị Phật tương lai, Đức Di Lặc, từ Bồ Tát thường được dùng trong ý nghĩa chính hạn hẹp nhằm nói đến những tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Những câu chuyện tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni như là Bồ Tát là chủ đề chính của Bản Sinh Kinh (Jataka), nhằm minh họa cho ta thấy nỗ lực viên mãn hoá chính mình trên con đường hành trì tu tập vươn tới giác ngộ của một vị Phật tương lai.
Từ đây, Bồ Tát Đạo -được dịch từ tiếng Phạn bodhisattvayana-, “bồ tát thừa” hoặc thông dụng hơn bodhisattvacarya, “bồ tát hạnh,” là những thuật ngữ được dùng khá phổ biến trong kinh sách Phật giáo Đại thừa. Như đã nói ở trên, mặc dầu trong văn học Pali, từ bodhisattva -Bồ Tát- xuất hiện khá thường xuyên, tuy nhiên đã không có thuật ngữ nào tương đương với hai Phạn ngữ bồ tát thừa và bồ tát hạnh, điều này đã phản ảnh quan điểm khác biệt về Bồ Tát của cả hai truyền thống Tiểu thừa và Đại thừa.
2.1. Sự chuyển tiếp đến việc phát triển trọn vẹn khái niệm Bồ tát đạo:
Có lẽ để có một giáo lý Bồ tát đạo phát triển trọn vẹn xuất hiện trong Phật giáo, cần phải có một cái gì khác hơn là khái niệm về Phật quả mà chúng ta tìm thấy trong các văn bản kinh điển Nguyên thủy cổ đại. Như vậy, công trình thông thường so sánh quả vị A-la-hán của kinh tạng Nguyên thủy với hình ảnh của vị Bồ tát trong kinh điển Đại thừa có lẽ đã bị sai lệch đôi chút. Theo tôi thấy, thì một trong những yếu tố tiềm ẩn bên dưới sự xuất hiện của lý thuyết Bồ tát được phát triển trọn vẹn chính là sự chuyển hoá của khái niệm Phật quả cổ điển trong kinh tạng Nikayas thành hình ảnh Đức Phật của đức tin và huyền thoại Phật giáo. Điều này đã xảy ra trong thời kỳ Phật Giáo Bộ Phái, nghĩa là, giữa giai đoạn Phật giáo tiền Nguyên thủy mà đại diện tiêu biểu là bộ kinh Nikayas và việc xuất hiện của Phật giáo tiền Đại thừa.
Kinh tạng Nikayas đã đề cập sáu vị Phật xuất hiện trước Sa môn Gotama và một vị sẽ xuất hiện sau Ngài, đó là Đức Phật Di Lặc. Giờ đây, vì thời gian vũ trụ không có sự khởi đầu một cách rõ ràng hay sự chấm dứt có thể quan niệm được, người ta có thể rút ra kết luận rằng ắt hẳn phải có những vị Phật quá khứ, và như vậy số chư Phật quá khứ được gia tăng; có những câu chuyện về một số vị Phật đã được lưu truyền và đưa vào thực tại đời sống.
3. quan điểm bồ tát của nguyên thủy:
Phật giáo nguyên thủy luôn bảo lưu quan niệm cho rằng trong thế gian này mỗi chu kỳ chỉ có một vị Phật duy nhất ra đời. Quá trình được thọ ký để trở thành Phật Thích Ca được bắt đầu bằng một lời phát nguyện vươn tới thành tựu giác ngộ trước một vị Phật khác -Phật Nhiên Đăng- của những kiếp rất lâu xa trước đây. Lời nguyện này đã được Phật Nhiên Đăng thụ ký, có nghĩa là công nhận rằng ở vào một thời điểm nào đó, tại một nơi nào đó, người phát lời thệ nguyện này sẽ trở thành một vị Phật. Trải qua không biết bao nhiêu kiếp tái sinh, vị Phật tương lai đã nỗ lực không ngừng để tự viên mãn hoá bản thân bằng cách thực hiện lục độ ba la mật, đặc biệt là trí tuệ ba la mật và bố thí ba la mật. Cái cấu trúc đầy huyền thoại này đồng thời cũng được áp dụng cho những vị Phật ở những chu kỳ khác, tất cả đều cũng phát lời đại nguyện, tu tập, và viên mãn hoá bản thân trong nhiều cách thế khác nhau trước khi đạt thành giác ngộ. Và rồi cái đạo lộ này được xem như là một lãnh vực độc quyền của một số lượng rất ít những chúng sanh mà sự xuất hiện của họ trên thế gian như là một vị Phật chẳng khác gì một đoá hoa hiếm quý chỉ trổ sanh trên một loại cây hy hữu “hiếm hoi như hoa ưu đàm nở”. Trong thời kỳ sơ khai của Phật giáo, những người tìm ra con đường giải thoát ngoài Đức Phật hình như cũng đạt đến tuệ giác về những chân lý giống như chư Phật đã khám phá ra, nghĩa là không có gì khác biệt lắm về nội dung hay mức độ sâu cạn của sự giác ngộ tỉnh thức. Tuy nhiên, người ta thấy vẫn có những khác biệt cơ bản tùy theo đạo lộ mà mỗi hành giả theo đuổi. Con đường của những người chỉ nhờ vào lời dạy của Phật mà đạt đến giác ngộ, được gọi là hàng Thanh văn, họ chỉ đạt đến đạo quả A-la-hán chứ không phải là Phật quả. Không giống với một vị Phật, vị A-la-hán đến với Pháp là do nghe được người khác thuyết giảng thế nên không hề dự phần vào cái bầu khí dẫn đến sự ra đời của một vị Phật trên thế gian này.
4. Các Quan Điểm Của các Bộ Phái Thuộc Đại Chúng Bộ:
Các quan điểm căn bản của Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê-dận bộ
Các quan điểm căn bản của Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê-dận bộ đồng cho rằng:
1. Chư Phật Thế Tôn đều là những bậc siêu xuất thế gian.
2. Tất cả các đức Như Lai không còn hữu lậu.
3. Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân.
4. Đức Phật dùng một âm thanh nói tất cả pháp.
5. Tất cả những lời nói của Thế Tôn đều như thật nghĩa.
6. Sắc thân của Như Lai không có giới hạn.
7. Oai lực của Như Lai cũng không có giới hạn.
8. Thọ lượng của Như Lai cũng không có giới hạn.
9. Chư Phật hóa độ các loài hữu tình khiến sanh lòng tịnh tín nhưng các Ngài không có tâm chán ngán hoặc thỏa mãn.
10. Đức Phật không có ngủ và nằm mộng.
11. Như Lai vấn đáp không cần phải đợi suy nghĩ.
12. Đức Phật không bao giờ nói về danh, cú, văn vì Ngài luôn ở trong định, tuy nhiên các loài hữu tình cho rằng Ngài có nói danh, cú, văn liền sanh tâm vui vẻ phấn khởi.
13. Chư Phật trong một sát na tâm liễu tri tất cả các pháp.
14. Chư Phật trong một sát na tâm tương ưng với bát nhã biết được tất cả các pháp.
15. Lậu tận trí và vô sanh trí của Phật Thế Tôn thường luôn hiện hữu (tùy chuyển) cho đến lúc Niết-bàn.
16. Tất cả các vị Bồ-tát khi nhập thai đều không chấp thọ các trạng thái: Yết lạt lam, Át-bộ-đàm, Bế-thi và Kiện-nam của thai nhi làm tự thể.
17. Tất cả Bồ-tát khi vào thai mẹ đều hiện hình voi trắng.
18. Tất cả Bồ-tát xuất thai đều bằng hông bên phải.
19. Tất cả Bồ-tát đều không có khởi tư tưởng tham dục, tư tưởng sân hận, tư tưởng ác hại.
20. Bồ-tát vì muốn lợi ích cho hữu tình, nguyện sanh vào ác thú liền như ý thọ sanh.
21. Trong một sát na tâm dùng trí Hiện quán biên biết khắp tất cả các tướng sai biệt của Tứ đế.
22. Năm thức của thân gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức có nhiễm ô và lìa nhiễm ô.
23. Ở cõi Sắc và Vô sắc mỗi thân đều đủ sáu thức.
24. Thể chất của năm sắc căn là khối thịt nên mắt không thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, mũi chẳng ngửi mùi, lưỡi chẳng nếm mùi, thân không biết sự xúc chạm.
25. Ở Đẳng dẫn vị vẫn phát ra ngôn ngữ, vẫn có tâm điều phục, có tác ý thanh tịnh.
26. Mọi việc làm điều đã hoàn tất, không còn chấp chứa một pháp nào.
27. Các vị Dự-lưu có thể thấu rõ tự tánh của tâm và tâm sở.
28. Có vị A-la-hán vẫn còn bị người khác dẫn dụ, vẫn còn vô tri, tâm còn hoài nghi, lại nhờ người khác được ngộ đạo và nhờ vào tiếng (khổ) mà thánh đạo phát khởi.
29. Khổ có thể dẫn dắt vào thánh đạo.
30. Tiếng khổ có thể trợ giúp (ngộ đạo).
31. Trí tuệ làm gia hạnh có thể diệt trừ được các khổ, cũng có khả năng đưa đến an lạc.
32. Khổ (thọ) cũng là thức ăn.
33. Địa thứ 8 cũng được trụ lâu dài.
34. Cho đến Tánh địa pháp có thể nói vẫn còn thối chuyển.
35. Dự-lưu còn có thối chuyển.
36. Bậc A-la-hán thì không thối chuyển.
37. Không có chánh kiến thế gian.
38. Không có tín căn thế gian.
39. Cũng không có pháp vô ký.
40. Khi nhập Chánh tánh ly sanh mới có thể nói là đoạn trừ tất cả các kiết sử.
41. Các vị Dự-lưu vẫn còn tạo nghiệp ác chỉ trừ tội vô gián.
42. Các kinh của đức Phật thuyết đều là liễu nghĩa.
43. Pháp vô vi gồm có 9 loại: 1) trạch diệt, 2) phi trạch diệt, 3) hư không, 4) không vô biên xứ, 5) thức vô biên xứ, 6) Vô sở hữu xứ, 7) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, 8) Duyên khởi chi tánh (12 chi phần duyên khởi), 9) Thánh đạo chi tánh (tám chi phần thánh đạo).
44. Tâm tánh vốn thanh tịnh nhưng vì bị tạp nhiễm bởi khách trần phiền não nên mới nói bất tịnh.
45. Tùy miên chẳng phải tâm, chẳng phải tâm sở, cũng không có đối tượng (sở duyên).
46. Tùy miên khác với triền phược, triền phược khác với tùy miên. Cho nên mới nói tùy miên không tương ưng với tâm mà triền phược lại tương ưng với tâm.
47. Quá khứ và vị lai không có thật thể .
48. Tất cả các pháp xứ không phải là cái được biết, không phải là cái được nhận thức suy lường, cũng không phải là cái thông đạt.
49. Cũng không có thân trung hữu (ấm).
50. Các quả vị Dự-lưu cũng đạt được tĩnh lự.
51. Những điều trên đây là những các quan điểm căn bản.
5. Sự xuất hiện của tông phái Đại thừa như là Bồ tát thừa:
Giờ đây vào một thời điểm nào đó trong giai đoạn này, việc diễn giải về sự kiện thành đạo của Đức Phật đã đạt đến cao điểm trong khái niệm về Bồ tát đạo hướng về cộng đồng Phật tử và đã mang một sức mạnh có tính qui định, ít ra là đối với một số thành viên. Khi những vị đệ tử Phật này suy nghĩ sâu xa về hình ảnh một người Phật tử lý tưởng phải như thế nào, họ đã kết luận rằng đi theo bước chân Phật trong ý nghĩa cao nhất, sẽ không còn đầy đủ nếu chỉ theo con đường Bát Chánh Đạo nhằm đạt đến Niết bàn. Điều này vẫn được xem là một lựa chọn có giá trị, một sự lựa chọn mà cao điểm là đạt đến giải thoát cho chính mình và những người có thể chịu ảnh hưởng trực tiếp nhờ sự giảng dạy và đời sống gương mẫu của mình; nhưng các vị hành giả này cho rằng, chính Đức Phật đã nhắm đạt đến một quả vị cho phép Ngài hoạt động vì lợi lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Vì vậy, họ cảm thấy rằng sự lựa chọn tối ưu, con đường cao hơn để noi theo Đức Phật, là ra đi để tìm đường giải thoát đau khổ cho chúng sanh mà Đức Phật đã đặt ra cho chính Ngài: bằng cách phát tâm theo đuổi hạnh nguyện Bồ tát và đi theo Bồ tát đạo. Điều này đã đánh dấu sự xuất hiện của Bồ tát thừa như một khái niệm về nếp sống lý tưởng của người Phật tử, con đường ràng buộc người đệ tử chân chính của Bậc Giác Ngộ.
Lý tưởng này xuất hiện từ một điểm khởi đầu khác với thời kỳ Phật giáo tiền Nguyên thủy, từ một bối cảnh với tầm nhìn khác. Trong lúc Phật giáo tiền Nguyên thủy lấy điều kiện chung của con người như điểm khởi đầu của họ (như chúng ta đã thấy ở trên), và thậm chí họ còn nhìn Đức Phật cũng bắt đầu như một con người phải hứng chịu những hệ lụy mong manh của kiếp người, Phật giáo tiền Đại- thừa đã dùng bối cảnh vũ trụ trong một phạm vi lâu dài cho việc hoàn thành Phật đạo của một vị Phật như là điểm khởi đầu.
5.1. quan điểm bồ tát của đại thừa:
Phật giáo Đại thừa, trái lại đã đưa ra một quan điểm cấp tiến hơn về một đạo lộ tu tập, quan điểm này hẵn nhiên hàm chứa một sự phê phán về lý tưởng A-la-hán. Căn cứ trên những dữ kiện còn lưu lại thì trong khoảng một thế kỷ sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, quả vị A-la-hán đã được một số đệ tử nhà Phật -đặc biệt thuộc Đại Chúng Bộ- xem là biểu hiện một tình trạng tâm linh rõ ràng là thấp kém hơn một vị Phật. Những chi tiết liên quan đến sự ly khai đầu tiên trong hàng ngũ Tăng già đã cho thấy quan điểm của Đại Chúng Bộ về A-la-hán, khi cho rằng những người đạt quả vị này vẫn còn bị ô nhiễm bởi những tàn dư của lòng tham dục -đặc biệt là dục tình, còn tồn đọng những dấu vết của vô minh trên những chủ đề phi tín ngưỡng, cho nên quả vị này rất đáng ngờ. Mặc dầu không có những bằng chứng trực tiếp cho thấy sự liên hệ giữa Đại Chúng Bộ với những cộng đồng Phật giáo Đại thừa nguyên thủy, một điều khá rõ ràng là việc phê phán quả vị A-la-hán là một yếu tố góp phần vào việc phát triển một con đường tu tập khác trong cộng đồng Phật giáo.
Như thế Phật giáo Đại thừa có thể đã được phát khởi bởi những nhóm tăng già lẫn cư sĩ hành hoạt bên ngoài những đạo tràng quy ước, lấy các lăng tháp hoặc những địa điểm chứa thánh tích của Đức Phật làm cơ sở hành đạo. Thành viên của những “giòng tu” này lấy sự sùng kính thờ phượng Đức Bổn Sư làm trọng tâm và tự xem mình là những bồ tát.
5.2. Phương tiện thiện xảo của Bồ-tát Đại thừa Phật giáo:
Phương tiện thiện xảo là những phương pháp Bồ-tát sử dụng khi dấn thân vào cuộc sống, hoạt động làm lợi ích cho đời thể nhưng không bị nhiễm ô, không bị lôi cuốn. Đây là cách sử dụng trí sắc bén, nhạy bén đển vận dụng các phương khéo léo, linh hoạt để đạt được mục đích. Nhờ phương tiện thiện xảo mà Bồ tát có thể hoà nhập vào dòng đời, vào mọi tầng lớp trong xã hội để hoá độ. Phương tiện cũng là phương cách tối ưu để hóa độ chúng sinh. Phương tiện thiện xảo là sản phẩm của trí tuệ. Phương tiện thiện xảo là độ thoát chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào được độ, làm mọi công việc hữu ích cho đời mà không thấy có ai làm. Bồ Tát Đại thừa lấy tinh thần dấn thân, giúp đời, tham gia hoạt động xã hội.
Người ta hình dung A-la-hán như những người có tinh thần bảo thủ, khắc khổ và Bồ tát là những người có tinh thần khai phóng, vui vẻ. Bồ-tát luôn song hành với nhân loại. A-la-hán cầu ra khỏi thế gian, Bồ-tát nguyện mãi mãi ở lại thế gian để cứu độ, tuỳ hạng người và hoàn cảnh mà thuyết pháp với mọi phương tiện thiện xảo. Với tinh thần phổ độ làm căn bản, Bồ-tát có tình thương bao la đối với xã hội, nhân loại, muôn loài. Bồ-tát ứng xử luôn phù hợp với nhu cầu của mọi hạng người, mọi hoàn cảnh. Lý tưởng Bồ-tát rất thực tế với cuộc sống. Xuất gia tầm cầu an lạc, niết-bàn không có nghĩa là từ bỏ, xa lánh cuộc đời. Như chúng ta thường nói Niết-bàn không thể tìm kiếm ngoài sanh tử.
5.3. Bồ Tát Đạo Trong Truyền Thống Đại thừa:
Phát Bồ Đề Tâm : Truyền thống Phật giáo Đại thừa, xem một vị Bồ Tát như là “người có bồ đề tâm”. Thế nên con đường trở thành một vị Bồ Tát chỉ thực sự bắt đầu khi một người khởi phát bồ đề tâm, mang đại nguyện trở thành một vị Phật và hành hoạt cho phúc lợi của toàn thể chúng sanh. Như thế, muốn tìm hiểu về Bồ Tát Đạo ta không thể không biết qua khái niệm thế nào là Bồ Đề Tâm. Dùng một hình ảnh cụ thể thì việc phát sinh của bồ đề tâm cũng giống như một dòng suối tươi mát ngọt ngào xuất hiện giữa một sa mạc khô cằn, cháy nắng. Cái sa mạc khô cháy đó chính là vương quốc mà cái ngã của chúng ta đang ngự trị, nơi mà mọi thứ đều được xếp đặt lớp lang đâu đó, cũng như được kiểm soát chặt chẽ. Trong một môi trường như vậy, thật khó mà loại cây nào có thể mọc lên, bởi vì cái ngã tự nó là một bải cát khô, một mảnh đất chết. May mắn thay, đạo Phật đến với ta, cho ta những phương tiện thiện xão để có thể đào sâu vào lòng sa mạc khô chết này, từ đó ngọn suối nhiệm mầu của bồ đề tâm xuất hiện dẫn ta đến cả một bể trí tuệ viên mãn vô tận nằm sâu trong lòng đất.
6. Để tiến đến việc hoà hợp lành mạnh của cả hai thừa:
Theo quan điểm của tôi, cả hai con đường (hay hai thừa )- A-la-hán đạo và Bồ tát đạo – có thể xem như những biểu hiện có giá trị về lời giảng dạy của Đức Phật. Tuy nhiên, cả hai phải tuân theo một số tiêu chuẩn chính thức. Về vấn đề nguyên tắc, cả hai phải tuân theo những giáo pháp căn bản như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Tam Pháp Ấn, Lý Duyên Khởi . Về vấn đề thực hành, cả hai phải biểu hiện nền tảng đạo đức tốt đẹp, tuân theo khuôn mẫu rèn luyện của Tam vô lậu học về Giới, Định, và Tuệ. Tuy nhiên, ngay cả khi ba tiêu chuẩn ấy được hoàn thành, trong lúc đi tìm một sự hoà hợp lành mạnh của hai con đường này, chúng ta phải tránh cái mà tôi gọi là chủ trương dung hòa “ nhẹ nhàng kiểu đế quốc” như lý thuyết Nhất Thừa, lý thuyết này cho rằng chỉ có Bồ tát thừa là rốt ráo và Thanh văn thừa chỉ là phương tiện. Lý thuyết này cuối cùng đưa đến việc hạ thấp giá trị những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật lịch sử. Lý thuyết này nói rằng những lời dạy của chính Đức Phật trong suốt 45 năm hành đạo chỉ là những lời mô phỏng của bầu không khí tôn giáo ở Ấn độ thời đại ấy và không diễn đạt được ý định của Ngài, mà những ý định này chỉ được làm sáng tỏ trong các kinh điển Đại thừa giảng giải giáo lý Nhất Thừa 400 trăm năm sau ngày Đức Phật nhập diệt. Công nhận giá trị ngang nhau của hai thừa (hay ba thừa, nếu kể thêm Độc Giác thừa) cho phép chúng ta có một thái độ bao dung hơn, biết tôn trọng tính xác thực của Phật giáo Nguyên thủy và những sự kiện lịch sử về những lời giảng dạy nguyên thủy của Đức Phật.
7. Bồ Tát phát bồ đề tâm như thế nào?
Bồ Tát phát tâm cũng lại như vậy; tất cả chúng sanh, khắp cùng tất cả, như chúng sanh giới vô lượng vô biên bất khả cùng tận, Bồ Tát phát tâm cũng lại như vậy. Nghĩa là cũng vô lượng vô biên không có cùng tận, hư không vô tận, cho nên chúng sanh cũng vô tận, chúng sanh cũng vô tận cho nên Bồ Tát phát tâm khắp tất cả chúng sanh giới vậy. Nghĩa chúng sanh giới, tức là không có hạn lượng.
Phát bồ đề tâm chính là bước đầu tiên trên con đường thực hành Bồ Tát Đạo. Phát bồ đề tâm cũng được hiểu là phát bồ đề tâm nguyện, và lời nguyện này sẽ là một nền tảng căn bản gắn liền với sinh mệnh của một vị bồ tát, kể từ đây, nó sẽ là một bộ phận chỉ hướng cho nghiệp quả của y, mở đầu cho một hành trình vươn đến viên mãn tâm linh mà có thể phải trải qua rất nhiều đại kiếp để thành tựu.
Thực Hành Bồ Tát Hạnh: Như vậy, một khi đã dâng lời phát nguyện «Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành» tức là hành giả đã lựa chọn dấn bước trên con đường Bồ Tát Đạo mà bước cuối cùng là phải tự viên mãn hoá mình bằng cách thực hành thập hay lục độ ba la mật. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh và Pháp Hoa là những bộ kinh sớm nhất đã nói về Lục Độ Ba La Mật, bao gồm: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Tuệ. Những bộ kinh sau này, cụ thể như Thập Địa Kinh đã thêm vào Phương Tiện, Nguyện, Lực, và Trí. Trong bốn Ba La Mật được thêm vào thì Phương Tiện là quan trọng nhất, bởi vì Bồ Tát được xem như là người có đầy đủ năng lực để sử dụng tất cả mọi phương tiện thiện xảo nhằm đưa chúng sinh đến bờ Giác Ngộ:
7.1. Học Phật Đạo, Hành Bồ Tát Đạo:
Là người Phật tử Việt Nam có nghĩa là chúng ta đang đi trên con đường hành trì Bồ Tát đạo. Có thể là chúng ta sẽ không thành tựu được ngôi vị Thập Địa ngay trong kiếp sống này, nhưng một điều rõ ràng là chúng ta đã và đang bước vào tầng thánh thứ nhất: Hoan Hỷ Địa. Một cuộc sống có tín ngưỡng chắc chắn là một cuộc sống có ý nghĩa và mang lại niềm vui. Chỉ nội cái ý nghĩ mình thuộc về đại gia đình của Đức Phật cũng đủ mang đến trong ta một niềm hạnh phúc lớn lao, trong cái ý nghĩa tích cực rằng tất cả những thành viên của gia đình này đang nỗ lực tự khắc phục mình -chiến thắng tội lỗi và những nỗi sợ hãi- để làm việc cho hạnh phúc của tha nhân.
Trong cái tâm hoan hỷ đó, đồng thời một vấn nạn cũng được đặt ra: Làm thế nào chúng ta có thể sống được một đời sống lý tưởng trong cái thế giới thực tế này? Làm sao chúng ta có thể hạnh phúc được khi cùng một lúc phải đối diện với khổ đau của người khác? Điều này có thể thực hiện được: Đó chính là thông điệp của lý tưởng Bồ Tát.
8. Bồ tát ở thời đại luân hồi:
Ở thời Phật Nhiên Đăng, từ phát tâm đến Bồ tát, trong khoảng ba a-tăng-kỳ trăm kiếp (nhưng Phật Thích Ca chỉ có a-tăng-kỳ chín mươi mốt kiếp) kế tục tu hành, không gián đoạn. Mà trong khoảng thời gian ấy Bồ tát đã sinh vào vô số loài hữu tình, đó là điều đã được nói rõ trong Bản-sinh-đàm hay Sở-hành-tán. Do đó, vấn đề đầu tiên ở đây được đặt ra là: Bồ tát ở địa vị này cứu kính là thánh nhân hay phàm phu? Đoạn diệt phiền não hay không đoạn diệt phiền não? Về điểm này, các phái thuộc Thượng-tọa-bộ-hệ, bất luận là Hữu-bộ hay Tuyết-sơn-bộ (nhưng theo Ba-ô-da thì Tuyết-sơn-bộ cho Bồ tát không phải dị sinh) đều coi Bồ tát ở địa vị này là phàm phu. Theo phái này, Bồ tát trong thời kỳ tu hành, tuy luôn luôn nhắm đến cảnh giới hướng thượng, nhưng khi chưa thành chính giác thì vẫn có phiền não, do đó, về điểm này, dĩ nhiên là phàm phu, nếu không thế thì ý nghĩa hàng ma thành đạo thì trở nên vô nghĩa (Tôn-luân-luận, mục Hữu-bộ, tr. 46; và mục Tuyết-sơn-bộ, tr. 50, Quốc dịch). Cứ theo nhận xét này thì trong khoảng ba a-tăng-kỳ (trăm kiếp trở về sau gọi là “trụ-định-vị” có hơi bất đồng), tuy là Bồ tát nhưng vẫn có thể phải sinh vào các ngả ác, như địa ngục, ngạ quỷ và nhất là súc sinh, v.v… Mà đây không phải tự mình muốn thế mà là do phiền não và nghiệp lực dẫn khởi. Dứng về phương diện tự giác mà nhận xét – ít ra theo Hữu Bộ - hết a-tăng-kỳ-đầu, tuy Bồ tát đã thành tựu khổ hạnh, nhưng vẫn chưa tự biết mình sau này có thể thành Phật; đến hết a-tăng-kỳ thứ hai, tuy đã tự biết mình sẽ thành Phật nhưng vẫn chưa đạt đến quyết định vô úy; sau, hết a-tăng-kỳ thứ ba thì đã tích tập công đức của ba mươi hai tướng, trí tuệ quyết định vô úy, lúc đó tự biết mình là Bồ tát và đã đầy đủ tư cách của một vị Bồ tát đích thực.
Nói một cách đơn giản thì, Thượng-tọa-bộ-hệ tuy coi Bồ tát là một người phát tâm tu hành đặc biệt nhưng trước sau vẫn là một người phàm phu, vẫn chưa đạt đến địa vị siêu nhân. Bồ tát có thể thọ sinh vào ác thú khi đến bách kiếp vị (nhẫn vị), nói theo Phật ngữ là nhập trụ-định-vị. Còn trước đó thì không khỏi có khi sinh vào cảnh giới ấy (khi tu nghiệp diệu tướng, bỏ năm điều xấu, được năm điều tốt: 1- Bỏ ác thú, sinh thiện thú… xin xem Bà sa 176, Đại chính 27, tr. 887, thượng). Còn về phía Đại-chúng-bộ-hệ thì vốn cũng coi Bồ tát là phàm phu, về điểm này tuy cùng nhất trí với Thượng-tọa-bộ-hệ, nhưng địa vị phàm phu ấy chỉ ở a-tăng-kỳ đầu mà thôi, từ a-tăng-kỳ thứ hai trở đi thì Bồ tát đã trở vào thánh vị, nghĩa là trong a-tăng-kỳ thứ hai, Bồ tát đã hoàn thành sự nghiệp tự tu. Theo Luận-sự thì Án-đạt-la phải giải thích là: “Bodhisatto Kassapassa bhagavato pàvacane okkanta-niỳamo carita-brahmacariyo”. Dưới thời Phật Ca Diếp ở quá khứ, Bồ tát đã đến chính tính ly sinh, cho nên lúc đó được coi là đã thoát địa vị phàm phu. Nếu thế thì từ a-tăng-kỳ thứ hai trở về sau Bồ tát tu hạnh gì? Các học giả của Đại-chúng-bộ-hệ cho rằng lúc đó Bồ tát duy chỉ tu hạnh vị tha, nghĩa là, nỗ lực ở sự nghiệp “ hạ hóa chúng sinh”. Dĩ nhiên, nếu lấy Phật làm tiêu chuẩn thì việc độ tha là điều kiện tiên quyết để thành Phật, nếu nói theo nghĩa rộng thì đây vẫn là tự lợi, nhưng ít ra nó không hoàn toàn là lợi ích tự kỷ, cho nên, nếu nói theo nghĩa hẹp thì vẫn có thể cho đó là vị tha. Do đó, Bồ tát hiện thân vào các ngả ác, điều đó không phải kết quả của nghiệp lực mà là vì nguyện độ sinh không vào ác thú không được. Vì thế mới có câu “Bồ tát vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh nên nguyện sinh vào ác thú và tùy ý được toại nguyện”. (Quốc dịch, Dị-bộ-Tôn-luân-luận, mục Đại-chúng-bộ, tr. 21).
9. Tối hậu thân bồ tát:
Điểm thứ nhất cần được nói đến về tối-hậu-thân Bồ tát là khi từ cung trời Đâu Suất đi xuống dùng hình voi trắng mà vào thai mẹ. Căn cứ theo Tôn-luân-luận thì Đại-chúng-bộ, Nhất-thuyết-bộ, Thuyết-xuất-thế-bộ và Kệ-dận-bộ (theo Sa-vô-gia thì chủ yếu là Nhất-thuyết-bộ) cho rằng, voi trắng là hình thức tất nhiên của tối-hậu-thân Bồ tát dùng để thác thai, và chủ trương “tất cả Bồ tát khi vào thai mẹ đều là hình voi trắng”. Đương nhiên, Đại-chúng-bộ vì không thừa nhận sự tồn tại của “trung hữu” nên không cho voi trắng là trung hữu của Bồ tát, nhưng dù sao thì Đại-chúng-bộ vẫn chủ trương hình voi trắng. Về voi trắng, có hai loại truyền thuyết; trong kinh Thái-tử-thụy-ứng nói là “cưỡi” voi trắng mà đến, nhưng kinh Phổ-Diệu tức là Lalitavistra thì lại bảo là “làm” voi trắng mà đến. Trong hai thuyết này, Đại-chúng-bộ đại khái căn cứ theo truyền thuyết thứ hai. Song, truy tầm đến căn nguyên của truyền thuyết thì đây chỉ là giấc mộng của Ma-gia nên không cấn cố chấp một cách miễn cưỡng về thuyết voi trắng. Căn cứ vào ý nghĩa này, Hữu Bộ đã bác bỏ thuyết voi trắng là hình thức thai. Thuyết voi trắng chỉ là một thí dụ nói lên cái điểm tốt lành của một giấc mộng mà thôi.
Điểm thứ hai cần phải khảo sát là ý niệm khi đầu thai. Căn cứ theo pháp tướng của A-Tỳ-Đạt-Ma thì tất cả mọi người khi đầu thai, đối với cha mẹ, đều mang lòng yêu hay ghét. Khi đối với cha mang lòng ghét và đối với mẹ mang lòng yêu, thì đứa hài nhi ấy sẽ là con trai, ngược lại, sẽ là con gái. Do đó, vấn đề được nêu ra là: ý niệm của tối hậu thân Bồ tát khi đầu thai như thế nào? Tất cả người thường, bất luận khi nhập thai hay khi xuất thai đều không có ý thức, nhưng Bồ tát thì tự ý thức được điều này, đó là điểm được các bộ phái thừa nhận (tham chiếu Thi-thi-thiết-luận, bản Hán dịch, quyển thứ hai, mục nói về Bồ tát biết mình khi nhập thai, trụ thai và xuất thai; Nhưng, vấn đề là: sự ý thức ở đây có yêu, ghét hay không? Theo Đại-chúng-bộ và Tuyết-sơn-bộ thì Bồ tát nguyên là bậc thánh, chẳng qua vì nguyện độ sinh mà đầu thai, cho nên sự đầu thai đó không có niệm tham ái (Dị-bộ-tôn-luân-luận).
III. KẾT LUẬN:
Khi nhìn thấy con người Việt Nam đau khổ, trái tim chúng ta xót xa. Khi nhìn thấy quê cha đất tổ xác xơ nghèo đói, chúng ta xúc động. Nhưng ý lực và tâm nguyện Bồ Tát không dừng lại và quằn quại trên võng lưới đau thương. Chúng ta bắt đầu từ đó bằng trái tim từ bi để tạo động cơ ra đi làm việc nghĩa. Những thế hệ cha anh chúng ta cũng đã ra đi nhưng họ đã bị kẹt vào những mắt lưới của hận thù hạn hẹp và bất lực trước cơn lốc đổi thay của thời đại. Thế hệ Phật tử Việt Nam hôm nay có thể có được một tầm nhìn rộng mở hơn để thấy được những giới hạn của đấu tranh tiêu cực và thiếu quân bình. Chúng ta muốn mở lớn một sinh lộ cho dân tộc mà trong đó những giá trị khai phóng, bao dung, rộng mở, hướng thượng là nền tảng giá trị của con người thời đại.
Đó là tinh thần học Phật đạo, hành Bồ Tát đạo. Thực hành Bồ Tát đạo vì thế không thể không được bắt đầu, phát xuất, và xây dựng trên nền tảng một cuộc cách mạng, chuyển đổi tâm linh từ trong mỗi cá nhân. Không có chuyển biến tâm linh, tất cả đều chỉ là một trò đùa thảm khốc, cho chính cá nhân mình và cho tha nhân. Khi những giòng chữ này được viết ra, thế giới hiện đang bước vào một khúc quanh nghiêm trọng. Ngọn lửa hận thù đã bùng cháy khắp nơi với giết chóc và khủng bố. Người ta nói đến một Thế Chiến Thứ Ba đang được châm ngòi mà nhân loại không thể nào tránh khỏi. Cuộc cách mạng tâm linh vì thế là một yêu cầu cấp thiết đối với người Phật tử Việt Nam và cả cho nhân loại. Người Phật tử Việt Nam hôm nay vì thế không phải chỉ cầm tay nhau đi dưới tấm bảng chỉ đường của trí tuệ. Cuộc cách mạng tâm linh hôm nay này phải được soi sáng, dẫn dắt dưới ánh sáng TỪ BI của Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, dưới ánh sáng TRÍ TUỆ của Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, và với HẠNH NGUYỆN dũng mãnh của Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát .
SÁCH THAM KHẢO
1. Phát Bồ Đề Tâm. Tác giả Đại sư Thật Hiền. Đức Viên ấn tống, 2003.
2. Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Bách Khoa, 2006.
3. Bryan Magee, Câu Chuyện Triết Học. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Thống Kê, 2003.
4. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê Dịch), Lịch Sử Văn Minh ấn Độ. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 2004.
5. Viên Trí (biên soạn), Ấn Độ Phật Giáo Sử luận. NXB: Phương Đông, 2006.
6. Thích Mãn Giác, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ, NXB: Văn Hóa Sài Gòn, 2007.
7. Doãn Chính, Lịch Sử Triết Học ấn Độ Cổ Đại. NXB: Thanh Niên, 1999.
8. Samuel Enoch Stumpf, Lịch Sử Triết Học Và Các Luận Đề. XB: Lao Động, 2007.
9. Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông Tập 3. NXB: Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001.
10. HT. Thích Thanh Kiểm, Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ. NXB: Thành Phố Hồ CHí Minh, 1995.
11. HT Thích Trí Quảng, Lược Giảng Kinh Hoa Nghiêm, THPGTPHCM Ấn
a. Hành1990.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét