THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Hai, 19 tháng 6, 2017

SỐ ĐIỆN THOẠI

0989601768 tuấn 0835161281 sư bà 0985104579 cô luyến 0908115862 cô thủy 01269933115 cô mỹ 01682013045 diệu hoàng 0926994997 linh 0933327746 lợi 01283784084 men 0979933926 nam 01284087030 phong 0966431215 pi 0839551472 quốc hoàng 0986741942 tươi 0838383399 khải nam 0916873759 thầy thành 0993309523 cô hương 0933327746 lợi

Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2017

HINH NỘI

33 câu nói có ý nghĩa

33 câu nói có ý nghĩa 22/12/2016 21:32:00Thích Đạt Ma Phổ Giác Đã đọc: 524 Cỡ chữ: Decrease font Enlarge font image 1-Người Phật tử cần phải thiền trong đi đứng nằm ngồi, trong sinh hoạt hằng ngày sẽ giúp cho chúng ta nhận biết được rõ ràng những ý nghĩ, lời nói, hành động của mình là thiện hay bất thiện, để ta sửa sai điều xấu ác và biết phát huy điều tốt đẹp. 2-Người Phật tử khi đến chùa đọc kinh nghe pháp, khi hiểu rõ lời Phật dạy sau đó mới đem áp dụng vào cuộc sống của mình để có được an lạc hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và xã hội. 3-Người Phật tử khi đi chùa phát tâm cúng dường phải biết nhu cầu ở trong chùa là gì, để việc phát tâm cúng dường của chúng ta có được lợi ích thật sự mà không lãng phí xa hoa. 4-Người Phật tử phải sống có trách nhiệm đối với gia đình người thân, biết hướng con cháu mình tin sâu nhân quả, sống mẫu mực đạo đức thì trong tương lai gia đình, xã hội, đất nước mới được hạnh phúc tốt đẹp. 5-Người Phật tử không nên quá coi trọng đồng tiền mà để tâm dính mắc chấp trước vào đó, sức khỏe mới là thứ quan trọng hơn nhiều, có sức khỏe thì mới làm được nhiều việc có lợi ích cho mình và người khác. 6-Người Phật tử bất cứ môi trường và điều kiện nào cũng phải biết sống thích nghi, ta có thể sống một mình mà không cảm thấy cô đơn, vì ta lúc nào cũng sống trong chánh niệm tỉnh giác. 7-Người Phật tử chân chính nên biết: “Thành công hay thất bại, là con đường thể nghiệm cuộc sống. Hạnh phúc hay khổ đau, trước sau gì ai cũng phải biết”. 8-Người Phật tử biết gieo trồng phước đức thì sẽ được hưởng hạnh phúc trọn vẹn trong hiện tại và mai sau. Kẻ chỉ biết cho riêng mình thì sẽ trở thành người ích kỷ, làm tổn hại người và vật. 9-Mọi thứ trong cuộc đời đều có giá của nó, ít ai được trọn vẹn. Được cái này thì phải mất cái kia, muốn nhận thật nhiều thì phải cho đi tất cả, muốn được thành công và hạnh phúc lâu bền thì ta phải trả giá bằng sự nỗ lực và cố gắng trong kiên trì bền bỉ. 10-Phật tử tu hành hay bị thối chuyển, bởi vì hay cầu khẩn van xin không tin tưởng chính mình. Mọi người ai cũng có khả năng nhận diện tâm qua sự xúc chạm thấy nghe hay biết, mới có thể trở nên hiền từ, sống chân thật, đạo đức và biết giúp đỡ sẻ chia, bằng tình người trong cuộc sống. 11-Gia đình người thân biết tu tâm, thì mới được bình yên, an vui, hạnh phúc. Xã hội có tu tâm, thì đất nước mới an cư lạc nghiệp trên tinh thần đoàn kết vì đạo pháp và dân tộc bằng trái tim có hiểu biết. 12-Thế giới ai cũng biết tu tâm, thì mọi người sống trong hòa bình. Phật tử biết tu tâm, mới mau vượt qua biển khổ sông mê. Và Phật dạy không thấy ai là kẻ thù chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi. 13-Người nhiều bận rộn trong công việc giúp đỡ sẻ chia sẽ tránh được thị phi, còn quá nhàn rỗi mà không biết tu sẽ dễ sinh ra những sai lầm đáng tiếc. 14-Người Phật tử chân chính phải biết, kho tàng vô tận của ta là từ bi hỷ xả được thể hiện qua nụ cười chân thật và hành động dấn thân vì lợi ích chung. 15-Người Phật tử nên tìm hiểu cho chín chắn lời Phật dạy để áp dụng trong đời sống hàng ngày. Mỗi ngày học Phật, mỗi ngày tu tập sẽ giúp cho ta thay đổi cách nhìn trong cuộc sống, vì không cố định nên ta mới tu hành được. 16-Người Phật tử sống phải biết chuyên cần học hỏi rèn luyện tu sửa làm việc, dấn thân đóng góp phụng sự xã hội trong chánh niệm tỉnh giác, để không làm tổn hại mình và người khác. 17-Người Phật tử không chê trách dèm pha phỉ báng người khác, luôn khen ngợi việc làm tốt, không tạo ra oan gia trái chủ gây chia rẽ hận thù. Tâm luôn định tĩnh sáng suốt, nhờ biết cách làm chủ bản thân. 18-Người Phật tử chân chính biết thương yêu tôn trọng lẫn nhau bằng trái tim có hiểu biết, thì tình yêu ngày càng thêm gắn bó và an lạc hạnh phúc nhiều hơn. 19-Người Phật tử chân chính hãy nên nhớ rằng từ bi là phương thuốc nhiệm mầu, trị lành các bệnh khổ đau ở đời, nhờ biết giữ giới, thiền định và buông xả. 20-Người Phật tử hãy giữ tâm mình không bị loạn động bởi những thứ ô hợp, phải quấy, tốt xấu, đúng sai. Muốn làm chủ bản thân thì phải định tĩnh, sáng suốt mới không bị dòng đời cuốn trôi. 21-Người Phật tử phải biết buông bỏ những kiến chấp sai lầm và các tạp niệm xấu ác. Nhờ vậy cuộc sống lúc nào bình yên hạnh phúc trong từng phút giây. 22-Trong cuộc sống, con người thường bị dính mắc vào những thứ như tiền tài, sắc đẹp, danh vọng mà đánh mất bản thân mình. Chính vì thế, họ thường hay oán giận thù hằn mỗi khi có việc trái ý nghịch lòng. 23-Cuộc sống ngày càng văn minh hiện đại, với vô vàn những thứ cám dỗ thúc đẩy sự ham muốn của con người, bởi vậy, một người không tin nhân quả và rèn luyện đạo đức thì không thể có cuộc sống hạnh phúc thật sự. 24-Người Phật tử phải nên biết đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã không còn nữa. Con người đối xử không tốt với nhau bởi thất tình lục dục mà ngày đêm hao tâm tổn chí, cuối cùng khi ra đi chỉ mang theo hai bàn tay trắng? 25-Người Phật tử nên nhớ khi con người có quyền và tiền trong tay thì hạnh phúc tinh thần sẽ mất đi. Vì lo sợ mất mát, sợ người chiếm đoạt, những thứ không thuộc về mình mà cố nắm giữ chỉ gây thêm phiền muộn khổ đau. 26-Người Phật tử nên biết không tranh thì an ổn, không giết không hại người vật thì an nhiên tự tại trong mọi hoàn cảnh. Người hay giúp đỡ sẻ chia thì tâm từ bi rộng lớn mà sống đời an vui, hạnh phúc. 27-Người Phật tử hãy nên làm chủ khen chê, vì khi được khen ai cũng thích thú vui vẻ, khi bị chê ai cũng cảm thấy mình bị xúc phạm. Vượt qua mọi khen chê mà an ổn sống đời hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. 28-Người biết đủ là người giàu có hạnh phúc nhất vì không thấy thiếu thốn, người tham lam ích kỷ, hà tiện keo kiệt dù có nhiều tiền vẫn là người nghèo nhất thiên hạ vì tâm toan tính hại người. 29-Con người sống không thể không có niềm tin, nhưng niềm tin đó phải là chánh tín nhân quả, được xây dựng trên cơ sở có chánh kiến, chánh tư duy bằng sự thấy biết chân chính nhờ biết buông xả. 30-Người Phật tử không nên tiếc nuối về quá khứ tốt xấu, đúng sai mà đánh mất chính mình trong hiện tại, vì ta đang sống hạnh phúc trong từng phút giây của hiểu và thương. 31-Người Phật tử biết tu học và buông xả nên có niềm vui chân thật, thì người đó không chờ người khác làm cho mình vui mà ngược lại mình còn hiến tặng niềm vui đến cho nhiều người. 32-Một niềm tin thiếu hiểu biết đúng như thật gây tác hại, ảnh hưởng xấu, làm trở ngại cho sự phát triển, tiến bộ của xã hội, gieo bất an, khổ não cho nhiều người thì đó không phải là niềm tin đúng đắn, chúng ta cần loại bỏ. 33-Người Phật tử nên biết, vật chất chỉ giúp cho ta có được cuộc sống đầy đủ bởi nhà lầu, xe hơi, tiền bạc thức ăn ngon…nhưng để thật sự an lạc hạnh phúc, ta phải biết buông xả về sự chấp trước ta, người, chúng sinh.

QUAN NIỆM VÀ GIÁ TRỊ CỦA BỒ TÁT

MỤC LỤC: I. DẪN NHẬP: 1. lý do chọn đề tài: II. NỘI DUNG: 1. Ý nghĩa của bồ tát: 1.1. Lý tưởng của bồ tát: 2. Lịch Sử và Sự Phát Triển Của Bồ Tát: 2.1. Sự chuyển tiếp đến việc phát triển trọn vẹn khái niệm Bồ tát đạo: 3. quan điểm bồ tát của nguyên thủy: 4. Các Quan Điểm Của các Bộ Phái Thuộc Đại Chúng Bộ: 5. Sự xuất hiện của tông phái Đại thừa như là Bồ tát thừa: 5.1. quan điểm bồ tát của đại thừa: 5.2. Phương tiện thiện xảo của Bồ-tát Đại thừa Phật giáo: 5.3. Bồ Tát Đạo Trong Truyền Thống Đại thừa: 6. Để tiến đến việc hoà hợp lành mạnh của cả hai thừa: 7. Bồ Tát phát bồ đề tâm như thế nào? 7.1. Học Phật Đạo, Hành Bồ Tát Đạo: 8. Bồ tát ở thời đại luân hồi: 9. Tối hậu thân bồ tát: III. KẾT LUẬN: SÁCH THAM KHẢO QUAN NIỆM VÀ GIÁ TRỊ CỦA BỒ TÁT I. DẪN NHẬP: Nếu không có những chuyến đi ra khỏi bốn cửa thành của Thái tử Tất Đạt Đa để được chứng kiến tận mắt cảnh sinh, lão, bệnh, tử và từ đó chứng nghiệm một chân lý giản đơn rằng đời sống quả là vô thường, ngắn ngủi thì người con xuất sắc của giòng họ Thích Ca đã không từ bỏ cung vàng điện ngọc, quyết chí lên đường xuất gia tìm đạo giải thoát, nhằm giải quyết vấn nạn cho chính bản thân mình và cho tất cả muôn loài chúng sanh. Đạo Phật gọi đó là lý tưởng Bồ Tát. “Lý tưởng khác với chủ nghĩa giáo điều ở chỗ nó không khép kín. Lý tưởng thúc đẩy và khuyến khích sự tự do quyết định của cá nhân, và do đó, khác với chủ nghĩa giáo điều, nó không cần sự biện hộ của tư liệu lịch sử hay lý luận. Lý tưởng có sức thuyết phục trực tiếp vì nó luôn tạo niềm cảm hứng mới mẽ cho con người và giúp con người định hướng một cách sáng tạo cho tương lai. Nhờ chính điều này mà lý tưởng có giá trị ngay trong hiện tại và cho chính cuộc sống hiện tại. 1. lý do chọn đề tài: Phật Pháp vốn cao siêu và huyền diệu, nếu không có các vị tổ tương truyền, chỉ ra yếu điểm của Pháp thì chúng ta như bơi lăn trong biển cả bao la của Phật Pháp. Chứ không biết làm cách nào để tỏ ngộ, và áp dụng phật pháp vào đời sống một cách thiết thực để đem đến sự an vui cho mình và cho người. Con người do chấp trước mà khổ đau, mà cái nguyên nhân đầu tiên là do vô minh, quả là khổ não. Do vậy, muốn trị sạch bệnh khổ thì phải diệt tận nguồn gốc của vô minh. Nhưng muốn tận diệt vô minh thì phải có một thứ khí giới siêu việt, khí giới ấy chính là thanh kiếm bén chắc của trí tuệ Bát Nhã cũng là lý do chọn đề tài này. II. NỘI DUNG: 1. Ý nghĩa của bồ tát: Trước tiên ta hãy tìm hiểu ý nghĩa của danh từ Bồ Tát. Trên phương diện từ nguyên, Bồ Tát –Bodhisattva, tiếng Phạn – là một danh từ ghép bao gồm hai từ Bodhi và Sattva. Bodhi, phiên âm Hán ngữ là Bồ Đề, có nghĩa là ‘nhận thức, hiểu biết’ với hàm ý rằng đây là những hiểu biết siêu việt, tối thượng, những hiểu biết về tâm linh, thực tại; đồng thời nó cũng có nghĩa là ‘tỉnh thức’ trong cái ý nghĩa tỉnh thức trước thực tại tuyệt đối của vạn pháp, xuyên suốt qua trái tim của hiện hữu. Bồ Đề vì thế cũng còn được dịch là ‘Giác Ngộ’, một danh từ không nên hiểu bằng nhận thức thuần lý mà bằng tất cả tâm linh, kể cả cảm quan siêu việt. Đây là sự hiểu biết của tâm linh siêu việt, một sự đại tỉnh thức, được xem như là cứu cánh tối hậu của một người hành trì Phật đạo. Khi nói rằng Bồ Tát là một chúng sanh đã dành trọn cuộc đời mình để vươn tới sự thành tựu Giác Ngộ thì như thế Bồ Tát là một chúng sanh rất đặc biệt, một Chúng Sanh được viết hoa và điều đó cũng có nghĩa rằng Bồ Tát là một mẫu người Phật tử lý tưởng, bởi vì một người Phật tử lý tưởng là gì nếu không phải là người học Phật nhằm đạt đến thực chứng Giác Ngộ như Đức Phật trước đây. Lý tưởng Bồ Tát vì thế cũng giống như cái lý tưởng chuyển hoá tự thân một cách nhân bản từ mê lầm đến Giác Ngộ. 1.1. Lý tưởng của bồ tát: Nếu không có những chuyến đi ra khỏi bốn cửa thành của Thái tử Tất Đạt Đa để được chứng kiến tận mắt cảnh sinh, lão, bệnh, tử và từ đó chứng nghiệm một chân lý giản đơn rằng đời sống quả là vô thường, ngắn ngủi thì người con xuất sắc của giòng họ Thích Ca đã không từ bỏ cung vàng điện ngọc, quyết chí lên đường xuất gia tìm đạo giải thoát, nhằm giải quyết vấn nạn cho chính bản thân mình và cho tất cả muôn loài chúng sanh. Đây là những chuyến đi rời bỏ tháp ngà để tiếp xúc với thực tại đời sống và để chấp nhận một sự thực rằng, nhân sinh vẫn còn mãi hoài chìm đắm trong cơn mê dài với nỗi đau muôn thuở, từ đó "nước mắt của chúng sanh trong ba nghìn thế giới còn nhiều hơn nước bể bốn đại dương". Thế cho nên có thể nói một cách rõ ràng và dứt khoát rằng, Đạo Phật phát xuất từ nỗi khổ đau của con người và nhằm giải quyết những khổ đau ấy. Nếu chân lý này không hiện hữu tức là chư Phật, chư Bồ Tát đã không hiện hữu, bởi vì làm sao các ngài có đủ lý do để thị hiện ra trên cõi đời này với một hạnh nguyện lớn lao là cứu khổ muôn loài chúng sanh? Chính cái hạnh nguyện lớn lao này đã làm cháy bùng lên một ngọn lửa nung nấu mãnh liệt trong trái tim người. Nó kết tinh lại thành lý tưởng, thúc đẩy ta không ngừng đi tới, không lùi bước trước mọi hiểm nguy, gian khổ, và có thể chấp nhận hy sinh tất cả ngay chính cả thân mạng mình. Lý tưởng có sức thuyết phục trực tiếp vì nó luôn tạo niềm cảm hứng mới mẽ cho con người và giúp con người định hướng một cách sáng tạo cho tương lai. Nhờ chính điều này mà lý tưởng có giá trị ngay trong hiện tại và cho chính cuộc sống hiện tại. 2. Lịch Sử và Sự Phát Triển Của Bồ Tát: Trong thời kỳ sơ khởi của Phật giáo qua những kinh sách thuộc hệ Pali, ý niệm Bồ Tát đã được phổ biến khá rộng rãi, trong giới tăng sĩ cũng như cư sĩ tại gia. Người ta thấy trong những truyền thống bảo thủ như Theravada chẳng hạn, thuật ngữ Bồ Tát thường được dùng để chỉ những vị-Phật-sắp-thành, tức là một số kiếp trước khi vị đó đạt thành giác ngộ. Trong ngữ cảnh đó, mặc dầu các truyền thống này công nhận sự hiện hữu của những vị Bồ Tát khác của những đại kiếp trong quá khứ cùng với một Bồ Tát sẽ là một vị Phật tương lai, Đức Di Lặc, từ Bồ Tát thường được dùng trong ý nghĩa chính hạn hẹp nhằm nói đến những tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Những câu chuyện tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni như là Bồ Tát là chủ đề chính của Bản Sinh Kinh (Jataka), nhằm minh họa cho ta thấy nỗ lực viên mãn hoá chính mình trên con đường hành trì tu tập vươn tới giác ngộ của một vị Phật tương lai. Từ đây, Bồ Tát Đạo -được dịch từ tiếng Phạn bodhisattvayana-, “bồ tát thừa” hoặc thông dụng hơn bodhisattvacarya, “bồ tát hạnh,” là những thuật ngữ được dùng khá phổ biến trong kinh sách Phật giáo Đại thừa. Như đã nói ở trên, mặc dầu trong văn học Pali, từ bodhisattva -Bồ Tát- xuất hiện khá thường xuyên, tuy nhiên đã không có thuật ngữ nào tương đương với hai Phạn ngữ bồ tát thừa và bồ tát hạnh, điều này đã phản ảnh quan điểm khác biệt về Bồ Tát của cả hai truyền thống Tiểu thừa và Đại thừa. 2.1. Sự chuyển tiếp đến việc phát triển trọn vẹn khái niệm Bồ tát đạo: Có lẽ để có một giáo lý Bồ tát đạo phát triển trọn vẹn xuất hiện trong Phật giáo, cần phải có một cái gì khác hơn là khái niệm về Phật quả mà chúng ta tìm thấy trong các văn bản kinh điển Nguyên thủy cổ đại. Như vậy, công trình thông thường so sánh quả vị A-la-hán của kinh tạng Nguyên thủy với hình ảnh của vị Bồ tát trong kinh điển Đại thừa có lẽ đã bị sai lệch đôi chút. Theo tôi thấy, thì một trong những yếu tố tiềm ẩn bên dưới sự xuất hiện của lý thuyết Bồ tát được phát triển trọn vẹn chính là sự chuyển hoá của khái niệm Phật quả cổ điển trong kinh tạng Nikayas thành hình ảnh Đức Phật của đức tin và huyền thoại Phật giáo. Điều này đã xảy ra trong thời kỳ Phật Giáo Bộ Phái, nghĩa là, giữa giai đoạn Phật giáo tiền Nguyên thủy mà đại diện tiêu biểu là bộ kinh Nikayas và việc xuất hiện của Phật giáo tiền Đại thừa. Kinh tạng Nikayas đã đề cập sáu vị Phật xuất hiện trước Sa môn Gotama và một vị sẽ xuất hiện sau Ngài, đó là Đức Phật Di Lặc. Giờ đây, vì thời gian vũ trụ không có sự khởi đầu một cách rõ ràng hay sự chấm dứt có thể quan niệm được, người ta có thể rút ra kết luận rằng ắt hẳn phải có những vị Phật quá khứ, và như vậy số chư Phật quá khứ được gia tăng; có những câu chuyện về một số vị Phật đã được lưu truyền và đưa vào thực tại đời sống. 3. quan điểm bồ tát của nguyên thủy: Phật giáo nguyên thủy luôn bảo lưu quan niệm cho rằng trong thế gian này mỗi chu kỳ chỉ có một vị Phật duy nhất ra đời. Quá trình được thọ ký để trở thành Phật Thích Ca được bắt đầu bằng một lời phát nguyện vươn tới thành tựu giác ngộ trước một vị Phật khác -Phật Nhiên Đăng- của những kiếp rất lâu xa trước đây. Lời nguyện này đã được Phật Nhiên Đăng thụ ký, có nghĩa là công nhận rằng ở vào một thời điểm nào đó, tại một nơi nào đó, người phát lời thệ nguyện này sẽ trở thành một vị Phật. Trải qua không biết bao nhiêu kiếp tái sinh, vị Phật tương lai đã nỗ lực không ngừng để tự viên mãn hoá bản thân bằng cách thực hiện lục độ ba la mật, đặc biệt là trí tuệ ba la mật và bố thí ba la mật. Cái cấu trúc đầy huyền thoại này đồng thời cũng được áp dụng cho những vị Phật ở những chu kỳ khác, tất cả đều cũng phát lời đại nguyện, tu tập, và viên mãn hoá bản thân trong nhiều cách thế khác nhau trước khi đạt thành giác ngộ. Và rồi cái đạo lộ này được xem như là một lãnh vực độc quyền của một số lượng rất ít những chúng sanh mà sự xuất hiện của họ trên thế gian như là một vị Phật chẳng khác gì một đoá hoa hiếm quý chỉ trổ sanh trên một loại cây hy hữu “hiếm hoi như hoa ưu đàm nở”. Trong thời kỳ sơ khai của Phật giáo, những người tìm ra con đường giải thoát ngoài Đức Phật hình như cũng đạt đến tuệ giác về những chân lý giống như chư Phật đã khám phá ra, nghĩa là không có gì khác biệt lắm về nội dung hay mức độ sâu cạn của sự giác ngộ tỉnh thức. Tuy nhiên, người ta thấy vẫn có những khác biệt cơ bản tùy theo đạo lộ mà mỗi hành giả theo đuổi. Con đường của những người chỉ nhờ vào lời dạy của Phật mà đạt đến giác ngộ, được gọi là hàng Thanh văn, họ chỉ đạt đến đạo quả A-la-hán chứ không phải là Phật quả. Không giống với một vị Phật, vị A-la-hán đến với Pháp là do nghe được người khác thuyết giảng thế nên không hề dự phần vào cái bầu khí dẫn đến sự ra đời của một vị Phật trên thế gian này. 4. Các Quan Điểm Của các Bộ Phái Thuộc Đại Chúng Bộ: Các quan điểm căn bản của Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ và Kê-dận bộ Các quan điểm căn bản của Đại chúng bộ, Nhất thuyết bộ, Thuyết xuất thế bộ, Kê-dận bộ đồng cho rằng: 1. Chư Phật Thế Tôn đều là những bậc siêu xuất thế gian. 2. Tất cả các đức Như Lai không còn hữu lậu. 3. Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân. 4. Đức Phật dùng một âm thanh nói tất cả pháp. 5. Tất cả những lời nói của Thế Tôn đều như thật nghĩa. 6. Sắc thân của Như Lai không có giới hạn. 7. Oai lực của Như Lai cũng không có giới hạn. 8. Thọ lượng của Như Lai cũng không có giới hạn. 9. Chư Phật hóa độ các loài hữu tình khiến sanh lòng tịnh tín nhưng các Ngài không có tâm chán ngán hoặc thỏa mãn. 10. Đức Phật không có ngủ và nằm mộng. 11. Như Lai vấn đáp không cần phải đợi suy nghĩ. 12. Đức Phật không bao giờ nói về danh, cú, văn vì Ngài luôn ở trong định, tuy nhiên các loài hữu tình cho rằng Ngài có nói danh, cú, văn liền sanh tâm vui vẻ phấn khởi. 13. Chư Phật trong một sát na tâm liễu tri tất cả các pháp. 14. Chư Phật trong một sát na tâm tương ưng với bát nhã biết được tất cả các pháp. 15. Lậu tận trí và vô sanh trí của Phật Thế Tôn thường luôn hiện hữu (tùy chuyển) cho đến lúc Niết-bàn. 16. Tất cả các vị Bồ-tát khi nhập thai đều không chấp thọ các trạng thái: Yết lạt lam, Át-bộ-đàm, Bế-thi và Kiện-nam của thai nhi làm tự thể. 17. Tất cả Bồ-tát khi vào thai mẹ đều hiện hình voi trắng. 18. Tất cả Bồ-tát xuất thai đều bằng hông bên phải. 19. Tất cả Bồ-tát đều không có khởi tư tưởng tham dục, tư tưởng sân hận, tư tưởng ác hại. 20. Bồ-tát vì muốn lợi ích cho hữu tình, nguyện sanh vào ác thú liền như ý thọ sanh. 21. Trong một sát na tâm dùng trí Hiện quán biên biết khắp tất cả các tướng sai biệt của Tứ đế. 22. Năm thức của thân gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức có nhiễm ô và lìa nhiễm ô. 23. Ở cõi Sắc và Vô sắc mỗi thân đều đủ sáu thức. 24. Thể chất của năm sắc căn là khối thịt nên mắt không thấy sắc, tai chẳng nghe tiếng, mũi chẳng ngửi mùi, lưỡi chẳng nếm mùi, thân không biết sự xúc chạm. 25. Ở Đẳng dẫn vị vẫn phát ra ngôn ngữ, vẫn có tâm điều phục, có tác ý thanh tịnh. 26. Mọi việc làm điều đã hoàn tất, không còn chấp chứa một pháp nào. 27. Các vị Dự-lưu có thể thấu rõ tự tánh của tâm và tâm sở. 28. Có vị A-la-hán vẫn còn bị người khác dẫn dụ, vẫn còn vô tri, tâm còn hoài nghi, lại nhờ người khác được ngộ đạo và nhờ vào tiếng (khổ) mà thánh đạo phát khởi. 29. Khổ có thể dẫn dắt vào thánh đạo. 30. Tiếng khổ có thể trợ giúp (ngộ đạo). 31. Trí tuệ làm gia hạnh có thể diệt trừ được các khổ, cũng có khả năng đưa đến an lạc. 32. Khổ (thọ) cũng là thức ăn. 33. Địa thứ 8 cũng được trụ lâu dài. 34. Cho đến Tánh địa pháp có thể nói vẫn còn thối chuyển. 35. Dự-lưu còn có thối chuyển. 36. Bậc A-la-hán thì không thối chuyển. 37. Không có chánh kiến thế gian. 38. Không có tín căn thế gian. 39. Cũng không có pháp vô ký. 40. Khi nhập Chánh tánh ly sanh mới có thể nói là đoạn trừ tất cả các kiết sử. 41. Các vị Dự-lưu vẫn còn tạo nghiệp ác chỉ trừ tội vô gián. 42. Các kinh của đức Phật thuyết đều là liễu nghĩa. 43. Pháp vô vi gồm có 9 loại: 1) trạch diệt, 2) phi trạch diệt, 3) hư không, 4) không vô biên xứ, 5) thức vô biên xứ, 6) Vô sở hữu xứ, 7) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, 8) Duyên khởi chi tánh (12 chi phần duyên khởi), 9) Thánh đạo chi tánh (tám chi phần thánh đạo). 44. Tâm tánh vốn thanh tịnh nhưng vì bị tạp nhiễm bởi khách trần phiền não nên mới nói bất tịnh. 45. Tùy miên chẳng phải tâm, chẳng phải tâm sở, cũng không có đối tượng (sở duyên). 46. Tùy miên khác với triền phược, triền phược khác với tùy miên. Cho nên mới nói tùy miên không tương ưng với tâm mà triền phược lại tương ưng với tâm. 47. Quá khứ và vị lai không có thật thể . 48. Tất cả các pháp xứ không phải là cái được biết, không phải là cái được nhận thức suy lường, cũng không phải là cái thông đạt. 49. Cũng không có thân trung hữu (ấm). 50. Các quả vị Dự-lưu cũng đạt được tĩnh lự. 51. Những điều trên đây là những các quan điểm căn bản. 5. Sự xuất hiện của tông phái Đại thừa như là Bồ tát thừa: Giờ đây vào một thời điểm nào đó trong giai đoạn này, việc diễn giải về sự kiện thành đạo của Đức Phật đã đạt đến cao điểm trong khái niệm về Bồ tát đạo hướng về cộng đồng Phật tử và đã mang một sức mạnh có tính qui định, ít ra là đối với một số thành viên. Khi những vị đệ tử Phật này suy nghĩ sâu xa về hình ảnh một người Phật tử lý tưởng phải như thế nào, họ đã kết luận rằng đi theo bước chân Phật trong ý nghĩa cao nhất, sẽ không còn đầy đủ nếu chỉ theo con đường Bát Chánh Đạo nhằm đạt đến Niết bàn. Điều này vẫn được xem là một lựa chọn có giá trị, một sự lựa chọn mà cao điểm là đạt đến giải thoát cho chính mình và những người có thể chịu ảnh hưởng trực tiếp nhờ sự giảng dạy và đời sống gương mẫu của mình; nhưng các vị hành giả này cho rằng, chính Đức Phật đã nhắm đạt đến một quả vị cho phép Ngài hoạt động vì lợi lạc và hạnh phúc của chư thiên và loài người. Vì vậy, họ cảm thấy rằng sự lựa chọn tối ưu, con đường cao hơn để noi theo Đức Phật, là ra đi để tìm đường giải thoát đau khổ cho chúng sanh mà Đức Phật đã đặt ra cho chính Ngài: bằng cách phát tâm theo đuổi hạnh nguyện Bồ tát và đi theo Bồ tát đạo. Điều này đã đánh dấu sự xuất hiện của Bồ tát thừa như một khái niệm về nếp sống lý tưởng của người Phật tử, con đường ràng buộc người đệ tử chân chính của Bậc Giác Ngộ. Lý tưởng này xuất hiện từ một điểm khởi đầu khác với thời kỳ Phật giáo tiền Nguyên thủy, từ một bối cảnh với tầm nhìn khác. Trong lúc Phật giáo tiền Nguyên thủy lấy điều kiện chung của con người như điểm khởi đầu của họ (như chúng ta đã thấy ở trên), và thậm chí họ còn nhìn Đức Phật cũng bắt đầu như một con người phải hứng chịu những hệ lụy mong manh của kiếp người, Phật giáo tiền Đại- thừa đã dùng bối cảnh vũ trụ trong một phạm vi lâu dài cho việc hoàn thành Phật đạo của một vị Phật như là điểm khởi đầu. 5.1. quan điểm bồ tát của đại thừa: Phật giáo Đại thừa, trái lại đã đưa ra một quan điểm cấp tiến hơn về một đạo lộ tu tập, quan điểm này hẵn nhiên hàm chứa một sự phê phán về lý tưởng A-la-hán. Căn cứ trên những dữ kiện còn lưu lại thì trong khoảng một thế kỷ sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, quả vị A-la-hán đã được một số đệ tử nhà Phật -đặc biệt thuộc Đại Chúng Bộ- xem là biểu hiện một tình trạng tâm linh rõ ràng là thấp kém hơn một vị Phật. Những chi tiết liên quan đến sự ly khai đầu tiên trong hàng ngũ Tăng già đã cho thấy quan điểm của Đại Chúng Bộ về A-la-hán, khi cho rằng những người đạt quả vị này vẫn còn bị ô nhiễm bởi những tàn dư của lòng tham dục -đặc biệt là dục tình, còn tồn đọng những dấu vết của vô minh trên những chủ đề phi tín ngưỡng, cho nên quả vị này rất đáng ngờ. Mặc dầu không có những bằng chứng trực tiếp cho thấy sự liên hệ giữa Đại Chúng Bộ với những cộng đồng Phật giáo Đại thừa nguyên thủy, một điều khá rõ ràng là việc phê phán quả vị A-la-hán là một yếu tố góp phần vào việc phát triển một con đường tu tập khác trong cộng đồng Phật giáo. Như thế Phật giáo Đại thừa có thể đã được phát khởi bởi những nhóm tăng già lẫn cư sĩ hành hoạt bên ngoài những đạo tràng quy ước, lấy các lăng tháp hoặc những địa điểm chứa thánh tích của Đức Phật làm cơ sở hành đạo. Thành viên của những “giòng tu” này lấy sự sùng kính thờ phượng Đức Bổn Sư làm trọng tâm và tự xem mình là những bồ tát. 5.2. Phương tiện thiện xảo của Bồ-tát Đại thừa Phật giáo: Phương tiện thiện xảo là những phương pháp Bồ-tát sử dụng khi dấn thân vào cuộc sống, hoạt động làm lợi ích cho đời thể nhưng không bị nhiễm ô, không bị lôi cuốn. Đây là cách sử dụng trí sắc bén, nhạy bén đển vận dụng các phương khéo léo, linh hoạt để đạt được mục đích. Nhờ phương tiện thiện xảo mà Bồ tát có thể hoà nhập vào dòng đời, vào mọi tầng lớp trong xã hội để hoá độ. Phương tiện cũng là phương cách tối ưu để hóa độ chúng sinh. Phương tiện thiện xảo là sản phẩm của trí tuệ. Phương tiện thiện xảo là độ thoát chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào được độ, làm mọi công việc hữu ích cho đời mà không thấy có ai làm. Bồ Tát Đại thừa lấy tinh thần dấn thân, giúp đời, tham gia hoạt động xã hội. Người ta hình dung A-la-hán như những người có tinh thần bảo thủ, khắc khổ và Bồ tát là những người có tinh thần khai phóng, vui vẻ. Bồ-tát luôn song hành với nhân loại. A-la-hán cầu ra khỏi thế gian, Bồ-tát nguyện mãi mãi ở lại thế gian để cứu độ, tuỳ hạng người và hoàn cảnh mà thuyết pháp với mọi phương tiện thiện xảo. Với tinh thần phổ độ làm căn bản, Bồ-tát có tình thương bao la đối với xã hội, nhân loại, muôn loài. Bồ-tát ứng xử luôn phù hợp với nhu cầu của mọi hạng người, mọi hoàn cảnh. Lý tưởng Bồ-tát rất thực tế với cuộc sống. Xuất gia tầm cầu an lạc, niết-bàn không có nghĩa là từ bỏ, xa lánh cuộc đời. Như chúng ta thường nói Niết-bàn không thể tìm kiếm ngoài sanh tử. 5.3. Bồ Tát Đạo Trong Truyền Thống Đại thừa: Phát Bồ Đề Tâm : Truyền thống Phật giáo Đại thừa, xem một vị Bồ Tát như là “người có bồ đề tâm”. Thế nên con đường trở thành một vị Bồ Tát chỉ thực sự bắt đầu khi một người khởi phát bồ đề tâm, mang đại nguyện trở thành một vị Phật và hành hoạt cho phúc lợi của toàn thể chúng sanh. Như thế, muốn tìm hiểu về Bồ Tát Đạo ta không thể không biết qua khái niệm thế nào là Bồ Đề Tâm. Dùng một hình ảnh cụ thể thì việc phát sinh của bồ đề tâm cũng giống như một dòng suối tươi mát ngọt ngào xuất hiện giữa một sa mạc khô cằn, cháy nắng. Cái sa mạc khô cháy đó chính là vương quốc mà cái ngã của chúng ta đang ngự trị, nơi mà mọi thứ đều được xếp đặt lớp lang đâu đó, cũng như được kiểm soát chặt chẽ. Trong một môi trường như vậy, thật khó mà loại cây nào có thể mọc lên, bởi vì cái ngã tự nó là một bải cát khô, một mảnh đất chết. May mắn thay, đạo Phật đến với ta, cho ta những phương tiện thiện xão để có thể đào sâu vào lòng sa mạc khô chết này, từ đó ngọn suối nhiệm mầu của bồ đề tâm xuất hiện dẫn ta đến cả một bể trí tuệ viên mãn vô tận nằm sâu trong lòng đất. 6. Để tiến đến việc hoà hợp lành mạnh của cả hai thừa: Theo quan điểm của tôi, cả hai con đường (hay hai thừa )- A-la-hán đạo và Bồ tát đạo – có thể xem như những biểu hiện có giá trị về lời giảng dạy của Đức Phật. Tuy nhiên, cả hai phải tuân theo một số tiêu chuẩn chính thức. Về vấn đề nguyên tắc, cả hai phải tuân theo những giáo pháp căn bản như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Tam Pháp Ấn, Lý Duyên Khởi . Về vấn đề thực hành, cả hai phải biểu hiện nền tảng đạo đức tốt đẹp, tuân theo khuôn mẫu rèn luyện của Tam vô lậu học về Giới, Định, và Tuệ. Tuy nhiên, ngay cả khi ba tiêu chuẩn ấy được hoàn thành, trong lúc đi tìm một sự hoà hợp lành mạnh của hai con đường này, chúng ta phải tránh cái mà tôi gọi là chủ trương dung hòa “ nhẹ nhàng kiểu đế quốc” như lý thuyết Nhất Thừa, lý thuyết này cho rằng chỉ có Bồ tát thừa là rốt ráo và Thanh văn thừa chỉ là phương tiện. Lý thuyết này cuối cùng đưa đến việc hạ thấp giá trị những lời dạy nguyên thủy của Đức Phật lịch sử. Lý thuyết này nói rằng những lời dạy của chính Đức Phật trong suốt 45 năm hành đạo chỉ là những lời mô phỏng của bầu không khí tôn giáo ở Ấn độ thời đại ấy và không diễn đạt được ý định của Ngài, mà những ý định này chỉ được làm sáng tỏ trong các kinh điển Đại thừa giảng giải giáo lý Nhất Thừa 400 trăm năm sau ngày Đức Phật nhập diệt. Công nhận giá trị ngang nhau của hai thừa (hay ba thừa, nếu kể thêm Độc Giác thừa) cho phép chúng ta có một thái độ bao dung hơn, biết tôn trọng tính xác thực của Phật giáo Nguyên thủy và những sự kiện lịch sử về những lời giảng dạy nguyên thủy của Đức Phật. 7. Bồ Tát phát bồ đề tâm như thế nào? Bồ Tát phát tâm cũng lại như vậy; tất cả chúng sanh, khắp cùng tất cả, như chúng sanh giới vô lượng vô biên bất khả cùng tận, Bồ Tát phát tâm cũng lại như vậy. Nghĩa là cũng vô lượng vô biên không có cùng tận, hư không vô tận, cho nên chúng sanh cũng vô tận, chúng sanh cũng vô tận cho nên Bồ Tát phát tâm khắp tất cả chúng sanh giới vậy. Nghĩa chúng sanh giới, tức là không có hạn lượng. Phát bồ đề tâm chính là bước đầu tiên trên con đường thực hành Bồ Tát Đạo. Phát bồ đề tâm cũng được hiểu là phát bồ đề tâm nguyện, và lời nguyện này sẽ là một nền tảng căn bản gắn liền với sinh mệnh của một vị bồ tát, kể từ đây, nó sẽ là một bộ phận chỉ hướng cho nghiệp quả của y, mở đầu cho một hành trình vươn đến viên mãn tâm linh mà có thể phải trải qua rất nhiều đại kiếp để thành tựu. Thực Hành Bồ Tát Hạnh: Như vậy, một khi đã dâng lời phát nguyện «Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành» tức là hành giả đã lựa chọn dấn bước trên con đường Bồ Tát Đạo mà bước cuối cùng là phải tự viên mãn hoá mình bằng cách thực hành thập hay lục độ ba la mật. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh và Pháp Hoa là những bộ kinh sớm nhất đã nói về Lục Độ Ba La Mật, bao gồm: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định và Trí Tuệ. Những bộ kinh sau này, cụ thể như Thập Địa Kinh đã thêm vào Phương Tiện, Nguyện, Lực, và Trí. Trong bốn Ba La Mật được thêm vào thì Phương Tiện là quan trọng nhất, bởi vì Bồ Tát được xem như là người có đầy đủ năng lực để sử dụng tất cả mọi phương tiện thiện xảo nhằm đưa chúng sinh đến bờ Giác Ngộ: 7.1. Học Phật Đạo, Hành Bồ Tát Đạo: Là người Phật tử Việt Nam có nghĩa là chúng ta đang đi trên con đường hành trì Bồ Tát đạo. Có thể là chúng ta sẽ không thành tựu được ngôi vị Thập Địa ngay trong kiếp sống này, nhưng một điều rõ ràng là chúng ta đã và đang bước vào tầng thánh thứ nhất: Hoan Hỷ Địa. Một cuộc sống có tín ngưỡng chắc chắn là một cuộc sống có ý nghĩa và mang lại niềm vui. Chỉ nội cái ý nghĩ mình thuộc về đại gia đình của Đức Phật cũng đủ mang đến trong ta một niềm hạnh phúc lớn lao, trong cái ý nghĩa tích cực rằng tất cả những thành viên của gia đình này đang nỗ lực tự khắc phục mình -chiến thắng tội lỗi và những nỗi sợ hãi- để làm việc cho hạnh phúc của tha nhân. Trong cái tâm hoan hỷ đó, đồng thời một vấn nạn cũng được đặt ra: Làm thế nào chúng ta có thể sống được một đời sống lý tưởng trong cái thế giới thực tế này? Làm sao chúng ta có thể hạnh phúc được khi cùng một lúc phải đối diện với khổ đau của người khác? Điều này có thể thực hiện được: Đó chính là thông điệp của lý tưởng Bồ Tát. 8. Bồ tát ở thời đại luân hồi: Ở thời Phật Nhiên Đăng, từ phát tâm đến Bồ tát, trong khoảng ba a-tăng-kỳ trăm kiếp (nhưng Phật Thích Ca chỉ có a-tăng-kỳ chín mươi mốt kiếp) kế tục tu hành, không gián đoạn. Mà trong khoảng thời gian ấy Bồ tát đã sinh vào vô số loài hữu tình, đó là điều đã được nói rõ trong Bản-sinh-đàm hay Sở-hành-tán. Do đó, vấn đề đầu tiên ở đây được đặt ra là: Bồ tát ở địa vị này cứu kính là thánh nhân hay phàm phu? Đoạn diệt phiền não hay không đoạn diệt phiền não? Về điểm này, các phái thuộc Thượng-tọa-bộ-hệ, bất luận là Hữu-bộ hay Tuyết-sơn-bộ (nhưng theo Ba-ô-da thì Tuyết-sơn-bộ cho Bồ tát không phải dị sinh) đều coi Bồ tát ở địa vị này là phàm phu. Theo phái này, Bồ tát trong thời kỳ tu hành, tuy luôn luôn nhắm đến cảnh giới hướng thượng, nhưng khi chưa thành chính giác thì vẫn có phiền não, do đó, về điểm này, dĩ nhiên là phàm phu, nếu không thế thì ý nghĩa hàng ma thành đạo thì trở nên vô nghĩa (Tôn-luân-luận, mục Hữu-bộ, tr. 46; và mục Tuyết-sơn-bộ, tr. 50, Quốc dịch). Cứ theo nhận xét này thì trong khoảng ba a-tăng-kỳ (trăm kiếp trở về sau gọi là “trụ-định-vị” có hơi bất đồng), tuy là Bồ tát nhưng vẫn có thể phải sinh vào các ngả ác, như địa ngục, ngạ quỷ và nhất là súc sinh, v.v… Mà đây không phải tự mình muốn thế mà là do phiền não và nghiệp lực dẫn khởi. Dứng về phương diện tự giác mà nhận xét – ít ra theo Hữu Bộ - hết a-tăng-kỳ-đầu, tuy Bồ tát đã thành tựu khổ hạnh, nhưng vẫn chưa tự biết mình sau này có thể thành Phật; đến hết a-tăng-kỳ thứ hai, tuy đã tự biết mình sẽ thành Phật nhưng vẫn chưa đạt đến quyết định vô úy; sau, hết a-tăng-kỳ thứ ba thì đã tích tập công đức của ba mươi hai tướng, trí tuệ quyết định vô úy, lúc đó tự biết mình là Bồ tát và đã đầy đủ tư cách của một vị Bồ tát đích thực. Nói một cách đơn giản thì, Thượng-tọa-bộ-hệ tuy coi Bồ tát là một người phát tâm tu hành đặc biệt nhưng trước sau vẫn là một người phàm phu, vẫn chưa đạt đến địa vị siêu nhân. Bồ tát có thể thọ sinh vào ác thú khi đến bách kiếp vị (nhẫn vị), nói theo Phật ngữ là nhập trụ-định-vị. Còn trước đó thì không khỏi có khi sinh vào cảnh giới ấy (khi tu nghiệp diệu tướng, bỏ năm điều xấu, được năm điều tốt: 1- Bỏ ác thú, sinh thiện thú… xin xem Bà sa 176, Đại chính 27, tr. 887, thượng). Còn về phía Đại-chúng-bộ-hệ thì vốn cũng coi Bồ tát là phàm phu, về điểm này tuy cùng nhất trí với Thượng-tọa-bộ-hệ, nhưng địa vị phàm phu ấy chỉ ở a-tăng-kỳ đầu mà thôi, từ a-tăng-kỳ thứ hai trở đi thì Bồ tát đã trở vào thánh vị, nghĩa là trong a-tăng-kỳ thứ hai, Bồ tát đã hoàn thành sự nghiệp tự tu. Theo Luận-sự thì Án-đạt-la phải giải thích là: “Bodhisatto Kassapassa bhagavato pàvacane okkanta-niỳamo carita-brahmacariyo”. Dưới thời Phật Ca Diếp ở quá khứ, Bồ tát đã đến chính tính ly sinh, cho nên lúc đó được coi là đã thoát địa vị phàm phu. Nếu thế thì từ a-tăng-kỳ thứ hai trở về sau Bồ tát tu hạnh gì? Các học giả của Đại-chúng-bộ-hệ cho rằng lúc đó Bồ tát duy chỉ tu hạnh vị tha, nghĩa là, nỗ lực ở sự nghiệp “ hạ hóa chúng sinh”. Dĩ nhiên, nếu lấy Phật làm tiêu chuẩn thì việc độ tha là điều kiện tiên quyết để thành Phật, nếu nói theo nghĩa rộng thì đây vẫn là tự lợi, nhưng ít ra nó không hoàn toàn là lợi ích tự kỷ, cho nên, nếu nói theo nghĩa hẹp thì vẫn có thể cho đó là vị tha. Do đó, Bồ tát hiện thân vào các ngả ác, điều đó không phải kết quả của nghiệp lực mà là vì nguyện độ sinh không vào ác thú không được. Vì thế mới có câu “Bồ tát vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh nên nguyện sinh vào ác thú và tùy ý được toại nguyện”. (Quốc dịch, Dị-bộ-Tôn-luân-luận, mục Đại-chúng-bộ, tr. 21). 9. Tối hậu thân bồ tát: Điểm thứ nhất cần được nói đến về tối-hậu-thân Bồ tát là khi từ cung trời Đâu Suất đi xuống dùng hình voi trắng mà vào thai mẹ. Căn cứ theo Tôn-luân-luận thì Đại-chúng-bộ, Nhất-thuyết-bộ, Thuyết-xuất-thế-bộ và Kệ-dận-bộ (theo Sa-vô-gia thì chủ yếu là Nhất-thuyết-bộ) cho rằng, voi trắng là hình thức tất nhiên của tối-hậu-thân Bồ tát dùng để thác thai, và chủ trương “tất cả Bồ tát khi vào thai mẹ đều là hình voi trắng”. Đương nhiên, Đại-chúng-bộ vì không thừa nhận sự tồn tại của “trung hữu” nên không cho voi trắng là trung hữu của Bồ tát, nhưng dù sao thì Đại-chúng-bộ vẫn chủ trương hình voi trắng. Về voi trắng, có hai loại truyền thuyết; trong kinh Thái-tử-thụy-ứng nói là “cưỡi” voi trắng mà đến, nhưng kinh Phổ-Diệu tức là Lalitavistra thì lại bảo là “làm” voi trắng mà đến. Trong hai thuyết này, Đại-chúng-bộ đại khái căn cứ theo truyền thuyết thứ hai. Song, truy tầm đến căn nguyên của truyền thuyết thì đây chỉ là giấc mộng của Ma-gia nên không cấn cố chấp một cách miễn cưỡng về thuyết voi trắng. Căn cứ vào ý nghĩa này, Hữu Bộ đã bác bỏ thuyết voi trắng là hình thức thai. Thuyết voi trắng chỉ là một thí dụ nói lên cái điểm tốt lành của một giấc mộng mà thôi. Điểm thứ hai cần phải khảo sát là ý niệm khi đầu thai. Căn cứ theo pháp tướng của A-Tỳ-Đạt-Ma thì tất cả mọi người khi đầu thai, đối với cha mẹ, đều mang lòng yêu hay ghét. Khi đối với cha mang lòng ghét và đối với mẹ mang lòng yêu, thì đứa hài nhi ấy sẽ là con trai, ngược lại, sẽ là con gái. Do đó, vấn đề được nêu ra là: ý niệm của tối hậu thân Bồ tát khi đầu thai như thế nào? Tất cả người thường, bất luận khi nhập thai hay khi xuất thai đều không có ý thức, nhưng Bồ tát thì tự ý thức được điều này, đó là điểm được các bộ phái thừa nhận (tham chiếu Thi-thi-thiết-luận, bản Hán dịch, quyển thứ hai, mục nói về Bồ tát biết mình khi nhập thai, trụ thai và xuất thai; Nhưng, vấn đề là: sự ý thức ở đây có yêu, ghét hay không? Theo Đại-chúng-bộ và Tuyết-sơn-bộ thì Bồ tát nguyên là bậc thánh, chẳng qua vì nguyện độ sinh mà đầu thai, cho nên sự đầu thai đó không có niệm tham ái (Dị-bộ-tôn-luân-luận). III. KẾT LUẬN: Khi nhìn thấy con người Việt Nam đau khổ, trái tim chúng ta xót xa. Khi nhìn thấy quê cha đất tổ xác xơ nghèo đói, chúng ta xúc động. Nhưng ý lực và tâm nguyện Bồ Tát không dừng lại và quằn quại trên võng lưới đau thương. Chúng ta bắt đầu từ đó bằng trái tim từ bi để tạo động cơ ra đi làm việc nghĩa. Những thế hệ cha anh chúng ta cũng đã ra đi nhưng họ đã bị kẹt vào những mắt lưới của hận thù hạn hẹp và bất lực trước cơn lốc đổi thay của thời đại. Thế hệ Phật tử Việt Nam hôm nay có thể có được một tầm nhìn rộng mở hơn để thấy được những giới hạn của đấu tranh tiêu cực và thiếu quân bình. Chúng ta muốn mở lớn một sinh lộ cho dân tộc mà trong đó những giá trị khai phóng, bao dung, rộng mở, hướng thượng là nền tảng giá trị của con người thời đại. Đó là tinh thần học Phật đạo, hành Bồ Tát đạo. Thực hành Bồ Tát đạo vì thế không thể không được bắt đầu, phát xuất, và xây dựng trên nền tảng một cuộc cách mạng, chuyển đổi tâm linh từ trong mỗi cá nhân. Không có chuyển biến tâm linh, tất cả đều chỉ là một trò đùa thảm khốc, cho chính cá nhân mình và cho tha nhân. Khi những giòng chữ này được viết ra, thế giới hiện đang bước vào một khúc quanh nghiêm trọng. Ngọn lửa hận thù đã bùng cháy khắp nơi với giết chóc và khủng bố. Người ta nói đến một Thế Chiến Thứ Ba đang được châm ngòi mà nhân loại không thể nào tránh khỏi. Cuộc cách mạng tâm linh vì thế là một yêu cầu cấp thiết đối với người Phật tử Việt Nam và cả cho nhân loại. Người Phật tử Việt Nam hôm nay vì thế không phải chỉ cầm tay nhau đi dưới tấm bảng chỉ đường của trí tuệ. Cuộc cách mạng tâm linh hôm nay này phải được soi sáng, dẫn dắt dưới ánh sáng TỪ BI của Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, dưới ánh sáng TRÍ TUỆ của Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, và với HẠNH NGUYỆN dũng mãnh của Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát . SÁCH THAM KHẢO 1. Phát Bồ Đề Tâm. Tác giả Đại sư Thật Hiền. Đức Viên ấn tống, 2003. 2. Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Bách Khoa, 2006. 3. Bryan Magee, Câu Chuyện Triết Học. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Thống Kê, 2003. 4. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê Dịch), Lịch Sử Văn Minh ấn Độ. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 2004. 5. Viên Trí (biên soạn), Ấn Độ Phật Giáo Sử luận. NXB: Phương Đông, 2006. 6. Thích Mãn Giác, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ, NXB: Văn Hóa Sài Gòn, 2007. 7. Doãn Chính, Lịch Sử Triết Học ấn Độ Cổ Đại. NXB: Thanh Niên, 1999. 8. Samuel Enoch Stumpf, Lịch Sử Triết Học Và Các Luận Đề. XB: Lao Động, 2007. 9. Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông Tập 3. NXB: Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001. 10. HT. Thích Thanh Kiểm, Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ. NXB: Thành Phố Hồ CHí Minh, 1995. 11. HT Thích Trí Quảng, Lược Giảng Kinh Hoa Nghiêm, THPGTPHCM Ấn a. Hành1990.

ĐẠI CHÚNG BỘ QUAN ĐIỂM VỀ CHỦNG QUAN

MỤC LỤC: I. DẪN NHẬP: 1. Lý do chọn đề tài 2. Phạm vi nghiên cứu: II. NỘI DUNG: 1. Chủng tử quan theo quan điểm của Đại Chúng bộ: 1.1. Khái niệm về Chủng tử ( Tàng thức) 1.1.1. Tàng thức (Àlayavijnàna): 1.1.2. Nhất thiết chủng: 1.1.3.Dị thục thức (Vipàkavijnàna): 2. Các đặc tính của Tàng thức: 2.1. Hình thái của Tàng thức: 3. Chủng tử và gène – di truyền: 3.1. Chủng tử: 3.2. Tâm huân chủng tử: 3.3. Huân tập và tập khí: 3.4. Bản chất của tập khí: 3.5. Sự qua đời của thân Dị thục: 4: Tầm quan trọng của học thuyết chủng tử với định hướng và mục tiêu trong tâm lý giáo dục Phật giáo: 4.1. Những nguyên gây ra khủng hoảng tâm lý của con người trong nền văn minh phương Tây: 4.2.Tầm quan trọng của học thuyết chủng tử với định hướng và mục tiêu trong tâm lý giáo dục Phật giáo: III .KẾT LUẬN: ĐẠI CHÚNG BỘ QUAN ĐIỂM VỀ CHỦNG QUAN I. DẪN NHẬP: 1. Lý do chọn đề tài Không ít học giả cho rằng từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ II sau đức Phật nhập diệt, người ta khó phân biệt đạo Phật với nhiều giáo phái khổ hạnh khác. Mãi đến năm 268 -226 trước TL, hoàng đế Phật tử Asoka đã hỗ trợ và mở đường cho các đoàn truyền giáo của đạo Phật đi đến nhiều nước trên thế giới, để truyền bá chánh pháp. Từ đó trở đi phạm vi Phật giáo ngày càng được mở rộng. Thế nhưng, dù pháp Phật thực thể bất biến, song vì muốn thích ứng với trào lưu tư tưởng mỗi thời đại, nên hình thức và phương pháp truyền đạo có thay đổi ít nhiều. Cho đến thế kỷ V, VI sau Tây lịch, tổ chức giáo lý lại càng phát đạt và hấp thu tất cả những tinh hoa của Ấn Độ ( hấp thu cả những tệ đoan của thời đại ), dể nghiểm nhiên trở thành một tôn giáo lớn nhất. Khởi thủy Phật giáo tuy là một chi phái trong tư trào Ấn Độ, song bất luận về phương diện nào thì nội dung cũng như hình thức so với toàn bộ tư trào Ấn Độ, Phật giáo vẫn có một ý nghĩa siêu việt hơn. Đó là một sự thật hiển nhiên mà không ai có thể phủ nhận được. Vì lẽ, dù bất cứ ở, đâu hay thời đại nào giáo lý Đạo Phật luôn mang đến những lợi ích thực tiễn cho đời sống nhân loại, trong đó có học thuyết vể chủng tử của các bộ phái Đại chúng bộ. Chính vì lý do đó mà người viết chọn đề tài này. 2. Phạm vi nghiên cứu: Có nhiều liên quan đến đề tài này. Tuy nhiên, trong đề tài này Người viết chỉ xin trình bày những những ý chính sau: - Chủng tử quan theo quan điểm của Đại Chúng bộ - Chủng tử và gène – di truyền. - Tầm quan trọng của học thuyết chủng tử với định hướng và mục tiêu trong tâm lý giáo dục Phật giáo. II. NỘI DUNG: 1. Chủng tử quan theo quan điểm của Đại Chúng bộ: Sau Phật diệt độ khoảng 800 năm, tức vào khoảng thế kỷ thứ III Tây lịch, có các bậc Đại luận sư như ngài Nagarjuna (Long Thọ), Nàgasena (Na Tiên), Vasumitra (Thế Hữu) và Asvaghosa (Mã Minh) v.v... ra đời; và đây là những gương mặt vĩ đại phát huy giáo nghĩa Mahayana (Đại thừa) trong lịch sử tư tưởng, triết học Phật giáo. Đến khoảng cuối thế kỷ thứ IV Tây lịch, có ngài Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân). Đây là hai vị Đại luận sư (anh em ruột) tiêu biểu cho dòng triết học Duy thức - tức tâm lý học Phật giáo - Mahayàna. Vô Trước và Thế Thân đã lập nên thức A lại gia thứ tám để giải quyết hết thảy, nghĩa là thức A lại gia là nguồn gốc của vạn vật, là nơi nương tựa của vạn vật, là nguyên lý của cá nhân, đồng thời cũng là nguyên lý của vũ trụ. Đó là đứng trên lập trường Duy tâm luận mà thuyết minh hiện thực, hơn nữa muốn thuyết minh luôn cả chỗ quy hướng của lý tưởng. Lấy luận lý Duy tâm luận của Phật giáo nguyên thủy làm điểm xuất phát trải qua những Thức thể quan (căn bản thức, cùng sinh tử uẩn, tế ý thức v.v...) của Phật giáp Tiểu thừa, lại xây dựng trên lý thuyết Tam giới duy tâm của Phật giáo Đại thừa, đem tổng hợp tất cả những kết quả đó lại, theo một ý nghĩa nào đó, ta có thể nói rằng đó là một thuyết tổng hợp của cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa: Nhất thiết duy tâm. Do đó, Phật giáo thuộc Vô Trước và Thế Thân hệ, đứng về phương diện tổ chức, tuy cực kỳ phức tạp, nhưng trung tâm điểm là thuyết A lại gia thức. Đây cũng là một trong những đặc tính tiêu biểu trong hệ thống tư tưởng của Phật giáo thời Vô trước và Thế Thân nói riêng và Đại chúng bộ nói chung. 1.1. Khái niệm về Chủng tử ( Tàng thức) Nhiều ý kiến cho rằng:một trong những tác phẩm nổi tiếng đại diện cho cho Đại chúng bộ chính là Duy Thức Tam Thập Tụng của ngài Vashubandhu. Tác phẩm này gồm có 30 bài tụng về Tâm lý học Phật giáo. cũng như những tác phẩm Duy thức của ngài Huyền Trang và Khuy Cơ (một môn đệ xuất sắc của Huyền Trang) là Đại thừa chưa tuyệt đối (hay là Quyền thừa). Về sau, ngài Pháp Tạng (người Trung Hoa), một hành giả chuyên môn về Hoa Nghiêm đã nỗ lực kết hợp tư tưởng Hoa Nghiêm với Duy thức học nhằm làm cho Duy thức trở thành giáo nghĩa Đại thừa - Viên giáo. Vì vậy người viết khí niệm về Chủng tử dựa trên những bài tụng của Duy Thức Tam Thập tụng của Ngài Vashubandhu, Thành Thuật luận và Bát Thức Quy Củ Tụng của ngài Huyền Trang. Dù được đánh giá hay luận bình trên lập trường nào đi chăng nữa người ta không ai có thể phủ nhận quan điểm chúng của Đại chúng bộ về Alaya hay Chủng tử chính là hạt mầm. Chúng ta sẽ thấy rõ quan điểm này qua việc tìm hiểu những khái niệm, tính năng và hình thái, của nó như sau Trong Tam Thập Tụng viết :"Do giả lập nên nói có Ngã và Pháp [chủ thể và đối tượng], có tất cả sự vật hiện tượng, [nhưng] tất cả Ngã và Pháp đó đều nương vào Thức mà sinh ra; [bản chất] của thức - năng biến có ba [đặc tính]". Dị thục và Tư lương, cùng với Liễu biệt cảnh. Trước hết là thức A-lại-da, cũng gọi là Dị thục hay Nhất thiết chủng". Qua hai bài kệ trên ta thấy Alaya còn được gọi là Tàng thức, Dị thục thức và Nhất thiết chủng. Mỗi danh từ trên mang những ý nghĩa khác nhau để minh giải về tính năng của thức thứ tám. 1.1.1. Tàng thức (Àlayavijnàna): Chữ tàng nghĩa là kho tàng, có chức năng dung chứa tất cả chủng tử tức là hạt giống tâm thức . Tàng thức, do đó, được ví như là nền tảng của tâm thức, là đất để tâm phát triển. Vì thế, Tàng thức được xem như là tự tướng - hay thể của tâm. Ở đây, nó có ba tính chất: 1- Năng tàng: là chủ thể dung chứa, mang tính chất năng động. 2- Sở tàng: là đối tượng được dung chứa hay của sự dung chứa,tức là bị thức thứ bảy chấp làm ngã tính: cái tôi, cái của tôi, cái tự ngã của tôi ... 3- Ngã ái chấp tàng: bị ngộ nhận là ngã tính vĩnh hằng, mang tính chất bị động, tức là bị thiên chấp bởi một thức khác, đó là Mạt na thức. Như vậy tác dụng đầu tiên của tâm là cất giữ, bảo trì. Tâm được nhận thức luôn luôn bao gồm hai phần đó là chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. 1.1.2. Nhất thiết chủng: Một tính năng khác của tâm là Nhất thiết chủng. Sarva là tất cả (Nhất thiết), Bija là hạt giống (chủng). Nghĩa là tính năng của Tàng thức có thể dung chứa tất cả hạt giống (chủng tử) thiện, ác trong tâm thức. Thông thường mọi hiện tượng diễn biến trong thế giới thực tại khách quan cũng như trong tâm thức luôn luôn được sinh khởi từ các hạt giống (ý niệm) tiềm tàng trong tâm thức. Tại đó, khi các hạt giống đang ngủ yên trong Tàng thức thì gọi là nhân, và sự hiện khởi của nó được gọi là quả. Tỉ dụ, trong tâm thức chúng ta có đầy đủ các hạt giống thiện và bất thiện, khi nào gặp thuận duyên là nó hiện khởi (hiện hành). Như sự sân hận luôn luôn sẵn có trong ta, khi gặp thuận duyên (như bị ai mắng chửi, đánh đập...)thì hạt giống sân hận đó sẽ biến hiện. Cũng như hoa cam và trái cam dầu chưa xuất hiện, nhưng mầm mống của hoa và trái cam có sẵn trong cây cam. Sự kiện này được gọi là Căn bản thức. Trong luận thư của Nhất Thiết Hữu Bộ cũng có đề cập đến Căn bản thức; và Đồng Diệp Bộ thì gọi là Hữu phần thức - nghĩa là các hạt giống tâm thức như biểu hiện của sóng-nước luôn luôn hiện hữu trong dòng nước. Về khái niệm Căn bản thức, nghĩa là thức cơ bản, như hạt giống sản sinh ra mọi hiện tượng sự vật như: vui, buồn, mê, ngộ, sinh tử, Niết bàn, thân, tâm, thế gian, giới, địa v.v... Ở đây nên chú ý rằng, theo quan điểm của Duy thức, thì thân thể của con người cũng được nhận diện hay phát sinh từ trong tâm thức, vì tâm ở đây được hiểu là Nhất thiết chủng thức. 1.1.3.Dị thục thức (Vipàkavijnàna): Dị thục có nghĩa là sự chín muồi của nghiệp quả hay sự kết tinh "khí chất" của mỗi con người; nói đến Dị thục là nói đến tính năng tương quan nhân quả của dòng tâm thức. Dị thục được chia thành ba loại: 1/ Dị thời nhi thục: Thời điểm chín muồi của quả khác với thời điểm gieo nhân. Tỉ dụ: trái cam, thời điểm sinh ra và thời điểm chín muồi là khác nhau. 2/ Dị loại nhi thục: khi chín muồi thì đã biến chất Tỉ dụ: trái cam khi mới sinh ra thì chua, đến khi chín vàng thì ngọt. 3/ Biến dị nhi thục: khi chín muồi thì đã biến thái (biến tướng). Tỉ dụ: trái cam lúc nhỏ thì màu xanh, đến khi chín muồi thì ngả sang màu vàng. Ở đây, sự phân biệt khái niệm "Dị thục" cốt là để soi sáng cái bản chất vô ký (không thể xác định là thiện ác) hay bất định của Tàng thức, tức là Dị thục thức. Như thế, sự biện biệt về các danh từ Tàng thức, Nhất thiết chủng thức và Dị thục thức là nhằm giải minh các tính năng cơ bản của tâm thức (thức thứ tám). 2. Các đặc tính của Tàng thức: Duy Thức Tam Thập tụng nói: “Đặc tính của nó là bất khả tri: chấp thủ và duy trì, nhưng trong sự biểu biệt các xứ các quan năng của căn thân nó thường biểu hiện cùng với xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư; và trong các thọ nó chỉ tương ưng với xả thọ". "Thức này và các tâm sở của nó là vô phú và vô ký, nó trôi chảy như dòng sông, khi đạt đến quả vị A La Hán thì tất cả đều buông xả". Theo hai bài tụng trên, tính chất của Tàng thức có những điều không thể biết được (bất khả tri) so với tri giác thường nghiệm của con người, đó là: 1/ Sự cất giữ và duy trì các chủng tử của căn thân (thân thể) và khí thế gian (thế giới thực tại khách quan), làm cho nó không biến mất và chờ nhân duyên để hiện hành. 2/ Tính chất năng động (năng duyên - thuộc chủ thể, lối dịch cũ là kiến phần) của Tàng thức vô cùng nhiệm mầu và tinh tế. Do đó, đặc tính của Tàng thức bao gồm hai tính chất; một là năng động - tức là chủ thể cất giữ và duy trì các chủng tử của thân thể và thế giới thực tại khách quan, lối dịch cũ là kiến phần - tức chủ thể; hai là bị động - tức là đối tượng (chủng tử của thân thể và thế giới thực tại khách quan) được cất giữ và duy trì bởi chủ thể, lối dịch cũ là tướng phần - tức đối tượng. 2.1. Hình thái của Tàng thức: Như chúng ta đã biết, nhận thức bao giờ cũng được nhận diện khi có sự giao tiếp giữa chủ thể nhận thức, và đối tượng nhận thức và biểu hiện ra một hệ quả của nhận thức đó. Vì thế trong Tàng thức, đặc biệt là ở khái niệm Nhất thiết chủng thức, (tất cả hạt giống trong Tàng thức) đã nói lên các mối quan hệ cơ bản như: khổ-vui, mê-ngộ, phàm-thánh, chung, riêng vv…Trong (Đại thừa Bách pháp minh môn luận), ngài Vasubandhu đã đề cập đến những quan hệ của Tàng thức với ba cảnh, ba tánh, ba lượng, ba thọ, ba cỏi, chín địa và chín duyên. Tuy nhiên, hình thái cơ bản của Tàng thức là vô hình, vô tướng (vô sắc); hình thái của Tàng thức và các thức khác nói chung là phi vật thể , nó là một dạng của năng lượng - năng lượng tâm lý. Theo quan điểm của khoa học hiện đại, "Vật chất là sự cô kết của năng lượng và năng lượng là sự pha loãng của vật chất". Tỉ dụ, về vật chất như một gram Uranium, khi biến thành năng lượng nguyên tử sức công phá và tiêu diệt của nó không thể tưởng tượng được. Hay mặt trời chẳng hạn, ánh sáng của nó cũng là một dạng năng lượng, do ánh sáng năng lượng mặt trời mà muôn loài phát sinh. Như vậy, hình thái của thức có thể ví như sự chuyển động của vật chất và năng lượng, của sóng và nước..., nó vừa là phi vật thể vừa là vật thể. Tuy nhiên, hình thái cơ bản của nó là năng lượng - tức phi vật thể; do đó, năng lượng vừa thuộc về sắc lại vừa là vô sắc. Ở đây cần ghi nhận rằng, mọi sự phân biệt đều là tương đối. Đây là ý nghĩa của chân như - Duyên khởi (của Bồ tát Mã Minh), tức là Chân như = hiện tượng, và hiện tượng = Chân như; và, Chân như và hiện tượng không hai, không khác. 3. Chủng tử và gène – di truyền: Duy Thức Tam Thập Tụng viết: "Do các tập khí - nghiệp và các chủng tử chấp thủ của cả năng và sở, nên khi thân Dị thục qua đời thì tiếp tục tái sinh". Tụng ngôn trên tập chú vào các khái niệm quan trọng và cơ bản nhất trong dòng sinh diệt của tâm thức, con người và thế giới, đó là: chủng tử tập khí, nghiệp và phân biệt nhị nguyên như: nhân và pháp, kiến và tướng, danh và sắc, tâm và tâm sở, bản thức và tình thức ... 3.1. Chủng tử: Chủng tử là hạt giống và tập khí là động lực của khuôn mẫu tâm lý - thói quen. Ở đây, trước hết chúng ta bàn về chủng tử . Trong triết học Duy thức, chủng tử là một khái niệm nói về căn để hay cội nguồn sẵn có của tâm thức, nó vốn không có đầu mối - vô thủy; do đó, trước viễn cảnh của dòng sông tâm thức, mọi hiện tượng tâm lý sinh khởi và mất đi đều nương vào hạt giống sẵn có - thuật ngữ gọi là "Chủng tử bản hữu" (bản hữu) - trong Tàng thức. Vì thế đối với thế giới thực tại khách quan như đất, nước, gió, lửa, không gian, thời gian, phương hướng, và tâm thức (Bát đại) là những điều kiện cơ bản kiến lập nên sinh thái của muôn loài (hữu tình và vô tình). Trong quan điểm của triết học Duy thức, thời gian, không gian tâm thức... là một tổng thể bất khả phân ly. Dưới ánh sáng của chân lý Duyên khởi thì không có cái-chết sau cùng và không có cái-sống đầu tiên (vô thủy - vô chung). Mọi biên độ của không và thời tính đều là biến hiện của tâm thức, còn bản thân của thế giới thực tại khách quan là vô biên. Einstein, trong thuyết tương đối đã chứng minh rằng không hề có cái thực thể độc lập của không gian và thời gian; không gian và thời gian cũng là một tổng thể. Tương tự như thế đối với muôn ngàn hạt giống trong tâm thức, không có hạt giống nào có một thực thể độc lập bất biến, tất cả đều là sự trôi lăn trong mỗi niệm tương tục. Sự trôi lăn tương tục đó giống như những giọt nước nối tiếp nhau, nương tựa nhau trong dòng nước tuôn chảy của sông, suối, thác ghềnh... Tuy nhiên, chủng tử được phân thành nhiều loại như: chủng tử sẵn có, chủng tử được trao truyền, chủng tử được huân tập. Ở đây, trên góc độ di truyền của nghiệp, chúng ta chỉ đề cập đến những chủng tử trao truyền và huân tập. 3.2. Tâm huân chủng tử: Tân huân chủng tử là những hạt giống tâm thức mới (tân) được gieo (huân) vào Tàng thức. Khái niệm này chỉ được dùng cho dòng tâm thức trong sự giao tiếp của hiện tại. Vì thực chất, mỗi hạt giống đều có hai phần: bản hữu và huân tập. Bản hữu là cái có sẵn, huân tập là sự vun trồng, tưới tẩm làm cho cái có sẵn hiện hành Do đó, giữa hiện hành và chủng tử là sự đối lưu, tương tác để cùng hiện hữu. Tỉ dụ, hạt giống u buồn vốn có sẵn trong Tàng thức của mỗi con người, nhưng nó chỉ ở trạng thái ngủ yên chứ chưa hiện hành - nghĩa là chưa trở thành một hiện tượng thật sự cho đến khi hội đủ các điều kiện như ai đó mạ nhục... chúng ta, lập tức cái hạt giống u buồn hiện hành - nghĩa là từ Tàng thức nó hiện lên như một ấn tượng u buồn rõ rệt và từ đó nó biểu hiện qua sắc diện con người. Tương tự như hoa cam và trái cam, hạt giống của nó vốn sẵn có trong cây cam; khi điều kiện hội đủ, hoa và trái sẽ xuất hiện. Sự xuất hiện của hoa và trái đó là hiện hành - là một pháp hay hiện tượng, sự thể thật sự. Do đó, sự tác động từ bên ngoài - như thầy giáo dạy học trò hát, sự kiện đó được gọi là tân huân; còn khả năng có thể hát của học trò là bản hữu. 3.3. Huân tập và tập khí: Nếu như tân huân được xem là sự bắt đầu gieo trồng, thì huân tập là sự chăm sóc, tưới tẩm và tập khí là sự xông ướp, huân tập để tạo nên một khí chất nào đó, hoặc thiện hoặc bất thiện. Tỉ dụ, hút thuốc lần đầu tiên là tân huân, mỗi ngày đều hút thuốc là huân tập, và tánh khí ghiền thuốc là tập khí. Hoặc, niệm Phật lần đầu tiên là tân huân, mỗi ngày niệm Phật là huân tập, và ý niệm về Phật luôn luôn ghi mãi trong lòng rồi được thể hiện trong phong thái của cuộc sống hằng ngày v.v... là tập khí. Như vậy, tân huân, huân tập và tập khí là một tiến trình trở nên của đời sống tâm thức. Nó thường biểu hiện cụ thể qua thói quen, nó chính là phong cách và cá tính hay cái biệt nghiệp (nghiệp riêng) của mỗi cá nhân. Đức Phật dạy: "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. nghiệp là thai tạng từ đó mà con người sinh ra, nghiệp là bằng hữu của con người chính nó". Do đó thiện hay ác, thánh hay phàm đều tùy thuộc vào tiến trình trở nên này. Tuy nhiên, như đã đề cập, bản chất của hạt giống tâm thức bao giờ cũng có hai phần là bản hữu và tân huân, nói theo ngôn ngữ của thời đại là tiềm năng và hiện thực . Tiềm năng chính là chủng tử và hiện thực là chủng tử hiện hành. Và, mối quan hệ đối lưu giữa tiềm năng và hiện thực là mối quan hệ của chủng tử và hiện hành; chủng tử duyên khởi hiện hành và hiện hành dựa vào chủng tử. Một sự chuyển hóa hai chiều như thế chính là tâm điểm của mọi sự sáng tạo; nghĩa là hạt giống của Tàng thức không ngừng sinh trưởng bởi sự tương tác và bổ sung cho nhau giữa tiềm năng và hiện thực. Tiềm năng và hiện thực, về mặt biểu hiện thì khác nhau nhưng về bản chất là một; chúng không hai, không khác. Tiềm năng sinh khởi hiện thực, hiện thực sinh khởi tiềm năng; không có tiềm năng thì không có hiện thực và ngược lại... Đây là ý nghĩa Duyên khởi của Tàng thức Alaya qua chủng tử và hiện hành. 3.4. Bản chất của tập khí: Tập khí là hiện thân của nghiệp thức, nó vừa mang tính cách sinh học lại vừa mang tính cách tâm lý. Do đó, hiện thân của tập khí chính là con người toàn diện của cả hai mặt tâm lý và vật lý, tư duy và hành động, vật chất và tinh thần, tự tướng và tổng tướng, biệt nghiệp và cộng nghiệp, cá nhân và cộng đồng v.v... Không thể tìm ra bất kỳ một hiện tượng nào thuần túy mang tính cách hoặc là riêng, hoặc chung; trong cái riêng có cái chung, trong cái chung có cái riêng. Đây là định lý của Trung đạo và Duyên khởi, định lý ấy bảo rằng: "Khi A có mặt thì B có mặt, Khi A không có mặt thì B không có mặt. Khi A sinh khởi thì B sinh khởi, Khi A đoạn diệt thì B đoạn diệt". Ở đây, mọi hiện tượng qua lăng kính Duyên khởi đều được nhìn thấy vừa như một tổng thể lại vừa như một cá thể. Đề cập đến vấn đề này, kinh Hoa Nghiêm đưa ra một đặc tính về một sự thể của pháp giới như sau: 1- Thế giới của sự : Là thế giới hiện thực của vô số sự kiện, dữ kiện khách quan. 2- Thế giới của lý : Là thế giới của những trật tự, qui tắc, định luật, tuần hoàn, tự nhiên. 3- Thế giới của lý sự viên dung : Là thế giới tương giao, tương nhiếp, tiếp biến lẫn nhau, tác động lẫn nhau - trong lý có sự, trong sự có lý. 4- Thế giới của sự sự viên dung : Là thế giới hiện hữu bởi mỗi hiện tượng sự vật, bởi những bản sắc cá biệt, bởi những sự thể đặc thù, sai biệt; nhưng tất cả sự đa thù sai biệt đó đều nương tựa vào nhau mà có. Ở đây chúng ta thấy rõ, hiện hữu vừa mang tính cách riêng của nó nhưng cũng vừa mang tính chất chung của toàn thể; nghĩa là hiện hữu luôn luôn mang trong nó tính chất cộng biểu và tự biểu. Do tính chất giao thoa của tự biểu và cộng biểu nên sự thể hiện hữu được soi sáng như là một tổng thể toàn diện, viên dung, vô ngại. Sự kiện này Hoa Nghiêm gọi là "lưới thiên" và tính chất của nó, là các sợi ngọc kết thành mạng lưới luôn luôn giao thoa, phản chiếu, lấp lánh chiếu rọi nhau. Đây là ý nghĩa của sự viên dung của bản chất và hình thức, một và nhiều, bao la và nhỏ nhiệm, đặc thù và phổ quát ... Kinh bảo rằng: "Tất cả núi Kim Cang bao la vô tận có thể đặt lơ lửng trên sợi lông". Như thế, tập khí hay thể cách sống của mỗi con người cũng có thể phản ánh một cách nào đó cái mode của mọi người trong cùng một xã hội, một thời đại; vì sự hiện diện của con người đó luôn luôn phản ánh về xã hội mà anh ta đang sống. Bởi lẽ anh ta vừa là sản phẩm của chính anh ta lại vừa là sản phẩm của xã hội mà anh ta với tư cách là thành viên của một cộng đồng. 3.5. Sự qua đời của thân Dị thục: Thân Dị thục còn được gọi là báo thân, tức là thân thức; bao gồm cả chủng tử, tập khí và nghiệp của mỗi con người. Do đó, nói đến thân Dị thục là nói đến thế giới tâm lý hơn là sinh lý. Khi sắc thân (thân vật chất hay cơ thể bằng xương bằng thịt) này qua đời (chết), thì thân Dị thục tiếp tục tái sinh. Như vậy, suy cho cùng thân Dị thục chính là động lực của tâm lý nghiệp thức nó thúc đẩy tìm kiếm một sanh thân mới khi con người nằm xuống vĩnh hằng; đây là hiện tượng tái sinh của muôn loài tình thế gian. Tất nhiên đối với khí thế gian (như cỏ, cây, hoa, lá, sông, suối, núi, đồi...) cũng tương tự, nhưng có thể cách riêng của nó. Có một điều cần ghi nhận rằng, trước viễn cảnh của luân hồi tái sinh, con người thường ngộ nhận thân Dị thục như là một thực thể thường hằng, là điểm tâm bất biến; để qua đó, kiến lập vòng luân hồi sinh hóa. Thực ra, vấn đề hoàn toàn khác. Như chúng ta đã biết, ngay cả sự hiện hữu của Tàng thức vốn "bị" xem là vĩnh hằng thường tại, là ngã thể độc lập v.v..., nhưng trong quan điểm của triết học Duy thức, như đã trình bày, sự hiện hữu của Tàng thức như một dòng sông luôn luôn trôi chảy; đó là ý nghĩa "hằng chuyển như bộc lưu". Và cho đến khi hành giả đạt đến địa vị A La Hán, thì sự "hằng chuyển như bộc lưu" đó sẽ bị "A La Hán vị xả", nghĩa là nó tan biến. Như thế, ngay tại khái niệm "trôi chảy như dòng nước" cũng không thể gọi là thường hằng, vĩnh cửu được, hà huống là "A La Hán vị xả". Như vậy, sự trôi chảy của Tàng thức hay cả đến thân Dị thục đã nói lên tính cách vô thường , vì vô thường nên biết rằng nó là vô ngã. Thân Dị thục sẽ thật sự qua đời, chấm dứt miên viễn khi và chỉ khi hành giả tạo được một sự chuyển y trong cơ cấu nội tại của Tàng thức, nghĩa là bước sang một thế giới thoắt hiện ngoài nhị nguyên, siêu việt mọi lưỡng phân của hữu, vô, sinh, diệt, thường, đoạn, khứ, lai; đó chính là thế giới của Niết bàn Vô thượng. Nhưng, nên nhớ rằng "lìa sinh tử không có Niết bàn; Niết bàn và sinh tử không hai, không khác". (Trung Luận) Phần trình bày trên đây là sự giải minh đại cương về ý nghĩa được truyền tụng trong tụng ngôn, nói về Tàng thức và gène - di truyền: "Do các tập khí - nghiệp, và các chủng tử chấp thủ của cả năng và sở, nên khi thân Dị thục qua đời, thì tiếp tục tái sinh". 4: Tầm quan trọng của học thuyết chủng tử với định hướng và mục tiêu trong tâm lý giáo dục Phật giáo: 4.1. Những nguyên gây ra khủng hoảng tâm lý của con người trong nền văn minh phương Tây: Tiến sĩ E.F. Schumacher, trong tác phẩm "Small is Beautiful" (Nhỏ là Đẹp) - một cuốn sách được in trên 700.000 bản - đã ghi nhận về sự khủng hoảng của nền văn minh phương Tây như sau: "Nếu nền văn minh phương Tây thường xuyên rơi vào trạng thái khủng hoảng thì có thể nói rằng có những sai lầm nào đó trong hệ thống giáo dục của nó". Và, Schumacher đã trình bày sáu điểm then chốt mà ông cho rằng nó luôn luôn nằm trong tâm thức của con người "học thức" của thời đại. Có thể tóm tắt như sau: 1/ Tư tưởng tiến hóa cho rằng các hình thức cao hơn liên tục phát triển khỏi các hình thức thấp hơn như là một loại tiến trình tự nhiên và tự động. Sự ứng dụng hệ thống tư tưởng này đã diễn ra trong suốt hơn một thế kỷ đối với các lĩnh vực trong đời sống mà không có bất kỳ một sự ngoại lệ nào. 2/ Có những tư tưởng cạnh tranh - sự lựa chọn tự nhiên và sự sống còn tốt nhất, nó dường như có ý biện hộ cho tiến trình tự động và tự nhiên của sự tiến hóa và phát triển. 3/ Có những tư tưởng cho rằng những biểu hiện cao hơn của đời sống con người như: tôn giáo, triết học, nghệ thuật v.v... - cái mà Marx gọi là "Hạt giống ảo tưởng trong bộ óc của con người", thực chất không gì khác hơn là "sự bổ sung cần thiết trong tiến trình của đời sống vật chất", một thượng tầng kiến trúc được thiết lập để hóa trang và tăng phần lợi nhuận kinh tế... 4/ Trong sự cạnh tranh, người ta có thể nghĩ rằng với cách giải thích của Marxist về những biểu hiện cao hơn của đời sống con người, phân tâm học của Freud qui giảm những biểu hiện đó về một vùng xung động tối tăm của tiềm thức và giải thích chúng chủ yếu như là sự không thỏa mãn của những khát vọng tình dục ngay trong thời ấu thơ và niên thiếu. 5/ Có những tư tưởng chung về chủ nghĩa tương đối, khước từ mọi giá trị tuyệt đối, giải tán mọi qui tắc và tiêu chuẩn đưa đến một sự xói mòn toàn bộ về nhận thức chân lý trong chủ nghĩa thực dụng. Và nó làm ảnh hưởng đến thậm chí là toán học, mà Bertand Russell đã định nghĩa như là "một chủ đề mà chúng ta không bao giờ biết chúng ta đang nói về cái gì hay những gì chúng ta nói là sự thật". 6/ Cuối cùng là tư tưởng chiến thắng của chủ nghĩa tích cực - cho rằng, các giá trị tri thức đó chỉ có thể đạt được qua phương pháp của khoa học tự nhiên; và từ đó, không có tri thức nào còn nguyên vẹn, xác thực, trừ phi nó được y cứ trên những sự thật được quan sát một cách tổng quát. Chủ nghĩa tích cực, mặt khác, chỉ quan tâm đến sự "biết" và từ chối mọi khả thể của đối tượng tri thức về các ý nghĩa và mục tiêu của nó... 4.2.Tầm quan trọng của học thuyết chủng tử với định hướng và mục tiêu trong tâm lý giáo dục Phật giáo: Hệ thống giáo dục Phật giáo là con đường hướng đến sự phát triển toàn diện của con người qua các mặt của đời sống, đặc biệt là tâm thức, nhằm kiến tạo một đời sống trí tuệ và hạnh phúc thật sự ngay tại con người này và cuộc đời này. Tất nhiên, con đường ấy bao gồm cả hai mặt tâm lý và vật lý, nhận thức và hành động, lý tưởng và thực tại v.v... Điều này được Đức Phật xác định rõ qua giáo lý Trung Đạo - nghĩa là nếu con người không xa rời hai cực đoan: hoặc là khổ hạnh ép xác, hoặc là lấy lạc thú của xác thân làm mục đích của đời người đều rơi vào khổ đau. Và cái hạnh phúc thoáng qua mà con người cảm nhận được từ hai cực đoan đó, thực chất chỉ là ảo ảnh của khát vọng và cuồng si, nó chợt đến và chợt đi trong nháy mắt ! Định hướng giáo dục Phật giáo là con đường đi ra khỏi khổ đau và mục tiêu hướng đến là Niết bàn. Ở đây, Niết bàn không có nghĩa là an nghỉ nghìn thu trong sự vĩnh tịch ở một trú xứ cô liêu vĩnh hằng xa xôi nào đó; mà, Niết bàn là sự đạt đến Tuệ giác bình đẳng vĩ đại cho dù ngay khi còn sống hay là chết. Mọi sự giải thích nào khác ngoài ý nghĩa này về Niết bàn đều rơi vào phiến diện, sai lầm. Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa là phủ nhận mọi quan điểm giải minh và phân loại Niết bàn như của Thanh Văn và Phật, nhưng nội dung chính của Niết bàn là như thế. Và chính Đức Phật là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã mở ra cánh cửa "bất tử" này; và cũng từ đó, vô lượng pháp môn, phương tiện... được Đức Phật đề xuất, giới thiệu để qua đó con người có thể đạt đến Niết bàn. Tuy nhiên ở đây, chúng ta chỉ khảo sát về con đường đi vào Niết bàn - qua góc độ tâm lý giáo dục như được trình bày trong triết học Duy thức. Đó là sự mở đầu từ Tàng thức và sự kết thúc cũng là Tàng thức. Như vậy, Tàng thức chính là hai mặt của Niết bàn thực tại. Vì rằng, trong Tàng thức dung chứa cả các hạt nhân ô nhiễm và thanh tịnh, và mục tiêu của phương pháp tâm lý giáo dục Phật giáo là làm cho các hạt nhân ô nhiễm, bất thiện trong Tàng thức tan biến, diệt tận, trả lại bản tính thanh tịnh vô nhiễm cho Tàng thức, mà thuật ngữ gọi là Bạch tịnh thức hay Vô cấu thức. Đây là ý nghĩa "lìa sanh tử không có Niết bàn, muốn đến Niết bàn phải đi vào sanh tử; vì Niết bàn và sanh tử không hai, không khác". Mặt khác, trên bình diện chuyên môn, mục tiêu của hệ thống tâm lý giáo dục trong triết học Duy thức là hướng đến một sự chuyển y - tức là thay đổi toàn bộ nền tảng cơ cấu nội tại của tâm thức, phóng thích các hạt giống năng huân và sở huân trong tiến trình vận hành của tâm và tâm sở . Hay nói một cách cụ thể là giải trừ các hạt giống tạp niệm trôi lăn trong diễn biến tâm lý của chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận thức. Vì thế, hệ thống tâm lý giáo dục Phật giáo không những chỉ tập trung khảo sát các hiện tượng tâm lý như: vui, buồn, khổ, lạc... mà còn đi vào nắm bắt cái bản chất của các hiện tượng tâm lý - tức những hạt giống, tập khí và gene nghiệp hay còn gọi là Nghiệp thức, Kiết sanh thức cũng gọi là hương ấm v.v... - đó là các động cơ chính gây nên sự bất an, rối loạn và khủng hoảng tâm lý. Do đó, thành tựu một sự chuyển y trong tâm thức là mục tiêu tối hậu - Niết bàn giải thoát - của các giải pháp được đề ra bởi triết học Duy thức. III .KẾT LUẬN: Khi tìm hiểu về lịch sử và học thuyết của các bộ phái Phật giáo, các học giả , những nhà nghiên cứu Phật học xem Dị Bộ Tông Luân Luận là một trong những tài liệu khảo cứu uy tín để bổ sung thông tin cho tác phẩm của mình. Một trong những tinh hoa của Phật giáo Đại Chúng bộ được thể hiện trong bộ luận này đó chính là học thuyết về Chủng tử hay còn gọi là Alaya thức, Tàng thức. Học thuyết này, được khởi xướng từ những vị Luận sư nỗi tiếng của tông Du Dà nói riêng và Đại chúng bộ nói chung. Đây chính là điểm độc đáo nổi bật nhất của Duy thức học cũng như điểm khác biệt cơ bản giữa Tâm lý học Phật giáo và các hệ thống tâm lý học Tây phương .Tàng thức, là một tổng thể vừa là nền tảng, vừa là đỉnh cao của toàn bộ triết học Duy thức, cũng như con đường khởi đầu và kết thúc của một tiến trình tâm lý từ cuồng si, ngu muội đến thánh trí-tuệ giác vô thượng ; ở đây được trình bày cụ thể qua hai góc độ : nhận thức và hành động. Trước hết, mỗi người cần phải được giáo dục, được đánh thức để nhận diện rõ rằng tất cả hiện hữu trên cuộc đời này từ các hiện tượng tâm lý thô kệch, như buồn, giận, yêu, thương đến các hiện hữu của thế giới siêu thức, như vô tưởng định, diệt tận định ; và thậm chí ngay cả thế giới thực tại khách quan với muôn ngàn dị biệt đa thù v.v... tất cả đều là biểu hiện của Tàng thức. Dưới lăng kính học thuyết chủng tử, con người không phải là một sinh thể độc lập, một con người cá thể, hay một sinh vật xã hội như quan điểm của triết học Tây phương ; cũng không phải là một phần của bản thể Đại ngã, như triết học Ấn Độ cổ đại ; cũng không phải là hiện hữu từ vô vi, hay nguyên lý vận hành của âm dương như triết học Trung Hoa. Con người theo Phật giáo, trước hết là một biểu hiện từ Tàng thức, bao gồm đầy đủ các nhân duyên (địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương, thức) và xuất hiện như một tổng thể bất khả phân ly của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ; và bản chất của con người không gì khác hơn là một tích hợp của nhân duyên cộng với dòng nghiệp thức. Nếu có mặt đầy đủ các nhân duyên mà thiếu vắng dòng nghiệp thức (hay Kiết sinh thức) thì con người không thể hình thành như một sinh vật biết tư duy, có tri giác, biết sáng tạo và có con tim yêu thương...; mà trái lại, con người thiếu vắng dòng nghiệp thức đó sẽ là tượng đá vô tri, không thể giáo dục, uốn nắn, đào luyện được. Nhưng Nghiệp ở đây là gì? Như đã trình bày, đó là các hạt giống, các tập khí, các tạo tác trong chiều sâu của tâm thức. Nói khác đi, nghiệp chính là tư duy và hành động của chính mỗi con người, đó là các nghiệp thiện, ác (và vô ký). Con người, trên đời trần thế, đã tạo nghiệp (nhân) gì thì phải gánh chịu nghiệp (quả) đó. Hành động, tư duy và tạo tác của ta như một thứ trái khoán được vay mượn, và một ngày nào đó nó phải được trả lại cho trái chủ - tức là con người chính nó. Như thế, sự hiểu biết, nhận thức đúng đắn về Nghiệp sẽ giúp bạn thoát khỏi lưới mê hoặc của các "đấng" tạo hóa, quyền năng, ngự trị, chi phối sinh mệnh của chính bạn. Và từ đó, bạn hãy tự chọn cho mình một hướng đi. SÁCH THAM KHẢO 1. Phát Bồ Đề Tâm. Tác giả Đại sư Thật Hiền. Đức Viên ấn tống, 2003. 2. Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Bách Khoa, 2006. 3. Bryan Magee, Câu Chuyện Triết Học. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Thống Kê, 2003. 4. Will Durant (Nguyễn Hiến Lê Dịch), Lịch Sử Văn Minh ấn Độ. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Văn Hóa Thông Tin, 2004. 5. Viên Trí (biên soạn), Ấn Độ Phật Giáo Sử luận. NXB: Phương Đông, 2006. 6. Thích Mãn Giác, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ, NXB: Văn Hóa Sài Gòn, 2007. 7. Doãn Chính, Lịch Sử Triết Học ấn Độ Cổ Đại. NXB: Thanh Niên, 1999. 8. Samuel Enoch Stumpf, Lịch Sử Triết Học Và Các Luận Đề. XB: Lao Động, 2007. 9. Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Triết Học Phương Đông Tập 3. NXB: Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001. 10. HT. Thích Thanh Kiểm, Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ. NXB: Thành Phố Hồ CHí Minh, 1995.

SỐ ĐT

0989601768 tuấn 0835161281 sư bà 0985104579 cô luyến 0908115862 cô thủy 01269933115 cô mỹ 01682013045 diệu hoàng 0926994997 linh 0933327746 lợi 01283784084 men 0979933926 nam 01284087030 phong 0966431215 pi 0839551472 quốc hoàng 0986741942 tươi 0838383399 khải nam