THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

ĐỐI VỚI XÃ HỘI

GIÁ TRỊ THỰC TIỄN VÀ Ý NGHĨA CỦA TỨ THÁNH ĐẾ ĐỐI VỚI XÃ HỘI I. DẪN NHẬP: Đạo Phật ngay từ khi xuất hiện tại Ấn Độ đã để lại vô vàn những điều lợi ích. Trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sữ, đạo Phật vẫn tồn tại cho đến hôm nay và đã lan truyền qua nhiều nước trên thế giới. Có những thời gian đạo Phật cũng gặp những biến cố tang thương, nhiều lớp người đã xả bỏ tấm thân vô thường để mong cho chân lý của Đức Phật mãi trường tồn trên thế gian này. Từ khi Đức Thế Tôn chuyển pháp luân lần đầu tiên tại vườn Nai (Migadaya) với bài pháp Tứ Thánh đế, điều đó là mốc son lịch sử khởi đầu cho công cuộc hoằng dương chánh pháp của Ngài và cho mãi về sau những đệ tử chân chánh của ngài luôn luôn ghi nhớ. Vì đó là bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật mà chính bài pháp ấy là nền tảng cho hệ thống giáo lý của đạo Phật. Từ bài pháp ấy mà không biết bao nhiêu người từ phân thận phàm phu đã trở nên một bậc thánh. Trong Tam tạng giáo điển của đạo Phật, có thể nói Tứ Thánh đế được Thế Tôn nói đến trong rất nhiều kinh tạng như: kinh Đế Phân Biệt, Trung Bộ kinh III; Hán tạng: kinh Phân Biệt Thánh Đế, Trung A-hàm số 31; kinh Tiểu Bộ, Trưởng Lão Tăng Kệ – Annakodanna; Kinh Tương Ưng V, phẩm Chuyển Pháp Luân. Chính vì quá nhiều bài kinh đã đề cặp cho nên người viết đã tự chọn cho mình đề tài: “Giáo lý Tứ Thánh Đế trong kinh Chuyển Pháp Luân”, để tiện cho việc nghiên cứu đề tài một cách sâu sắc. Về phương pháp nghiên cứu người viết bài này dùng phương pháp mô tả-phân tích lại những lời của Đức Phật đã dạy trong kinh Chuyển Pháp Luân, bên cạnh đó cũng sử dụng những phương pháp khác để hỗ trợ cho bài viết thêm sinh động, linh hoạt. Trong hệ thống giáo điển của đạo Phật có vô vàn pháp môn tu mà các nhà học giả thường nói là tám vạn bốn ngàn pháp môn tu, mà Tứ Thánh đế là giáo lý quan trọng đối với tất cả hành giả muốn tu tập trên con đường giải thoát không thể không quan tâm đến. Người hành giả phải nhận thức một cách đúng đắn và hiểu thật sâu giáo lý này. Pháp môn này , tuy tiến chậm, nhưng khi tiến bước nào thì chắc bước nay. Căn cơ nào, trình độ nào cũng có thể tu tập pháp môn này được, chứ không phải như một số pháp môn khác, phải can có một trình đọ học thức cao và một trí tuệ trên mức trung bình mới có thể tiếp thu được. Vì thế, giáo lý Tứ Thánh đế là một pháp môn phổ thông cho cả tất cả các tông phái trong đạo Phật. Ngày nay, pháp môn này đã được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới như một bảo vật vô giá mà Đức Phật đã để lại cho hành đệ tử thân yêu của Ngài. 1. Ý Nghĩa Và Lý Do Chọn Đề Tài: Từ xưa đến nay, khi nhận thức của nhân loại phát triển thì những vấn đề lớn của con người được đặt ra. Sống trong kiếp người với bao ưu phiền, khổ lụy, người ta luôn khao khát tìm ra một lẽ sống thích hợp để được an vui, hạnh phúc hơn. Rất nhiều nhà tư tưởng, trí thức của xã hội đã đưa ra những học thuyết, lý luận, cách sống tiến bộ, khoa học nhằm giúp ích cho con người. Tuy nhiên những học thuyết, lý lẽ ấy đều chưa thể đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của nhân loại, do còn bị hạn chế bởi tri giác hữu ngã, thiên kiến và còn bị bó buộc trong những khung mốc thời gian, không gian nhất định. May mắn thay, Đức Phật đã xuất hiện ra nơi đời, Ngài đã xuất gia tu hành, thành đạo và đã chuyển vận bánh xe Pháp nơi trần thế. Với bài Pháp đầu tiên Đức Phật đã trình bày về bốn chân lý cao thượng hay còn gọi là Tứ Thánh Đế bao gồm: Khổ Thánh Đế, Tập Thánh Đế, Diệt Thánh Đế và Đạo Thánh Đế. Bốn chân lý này đã chỉ rõ thực trạng khổ đau hiện hữu nơi thế gian này, nguyên nhân của đau khổ, sự chấm dứt đau khổ và con đường tu tập để được hết khổ. Giáo lý của Tứ Thánh Đế được xem là giáo lý căn bản, là khởi điểm, là khuôn khổ luân lý của Phật giáo vì được chính Đức Thế Tôn chứng nghiệm, tuyên thuyết sau khi đắc đạo, và suốt trong bốn mươi lăm năm còn lại, bước chân du hoá của Đấng Từ Tôn đã rãi khắp mọi miền cũng là để chỉ ra cho mọi người thấy rõ khổ và con đường thoát khổ. Sau khi Đức Phật nhập diệt, chư vị Tổ sư truyền thừa tuy có nhiều điểm sai biệt nhau về nhận thức và quan điểm tu tập, nhưng ai ai cũng công nhận rằng giáo lý Tứ Thánh Đế là cốt tuỷ, là nền tảng của Đạo Phật. Thế nhưng, vì ngay chân lý đầu tiên, Đức Phật đã đề cập đến khổ đế, xem khổ đau như là sự kiện hiển nhiên luôn luôn hiện hữu trong mọi kiếp sinh tồn, điều nay dễ làm cho nhiều người lầm tưởng Đạo Phật là đạo tiêu cực, bi quan, chán đời. Tuy nhiên, Đức Phật không chỉ dừng lại ở đấy, mà Ngài còn chỉ ra nguyên nhân và phương pháp tu tập để vượt lên trên mọi khổ đau, đạt đến cảnh giới giải thoát, Niết Bàn tức là Diệt Đế. Với tâm nguyện tự độ, độ tha, cần cầu tu học, người viết rất thao thức mong được tìm hiểu và thấm nhuần trong tinh thần an vui, giải thoát của Đạo Phật, ngõ hầu làm hành trang cho mình trên bước đường "Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa lợi ích chúng sanh", do vậy người viết chọn đề tài này để nghiên cứu. 2. Phạm Vi Đề Tài: Khi nói đến an vui giải thoát, tức là sự từ bỏ mọi tham ái, đắm nhiễm, dục vọng, đó là trạng thái tĩnh lặng của tâm hồn, tức là Diệt Đế, Niết Bàn. Thế nhưng Niết Bàn phải được đạt đến bằng sự tu tập, thể nghiệm, chứ không thể dùng ngôn từ, tư duy, phán đoán mà có thể hiểu được. Hơn nữa, giáo lý Diệt Đế thì rất sâu rộng, đây là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt trong hầu hết những lời dạy của Đức Phật, lại là cảnh giới thân chứng, thâm diệu vô cùng nên không thể nào sử dụng ngôn từ hữu hạn mà có thể diễn tả được hết ý nghĩa của cái khôn cùng, cho nên trong phạm vi bài viết này người viết chỉ tập trung tìm hiểu những nét đặc trưng của chân lý Diệt Thánh Đế và tính chất thiết thực của nguồn giáo lý ấy trong đời sống tu tập tâm linh. 3. Phương Pháp Nghiên Cứu: Chân lý về con đường Diệt Khổ - Diệt Thánh Đế đã được xây dựng trên cơ sở suy ly ù: đau khổ có ra là do tham ái, thế nên hễ hết tham ái thì tất yếu đau khổ cũng không còn. Để hiểu rõ thêm về những điểm trọng yếu của vấn đề, con đã sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để nghiên cứu và trình bày trong tập luận văn này. 4. Cơ Sở Tài Liệu: Để tìm hiểu và hoàn thành Tập Luận Văn này, con đã dựa trên các tài liệu chủ yếu như sau: - Kinh Trung Bộ, quyển III, bản dịch của HT. Thích Minh Châu. - Thuyết Bốn Đế của Giáo sư Minh Chi - Giáo trình giảng dạy của Giáo sư bộ môn, cùng những tài liệu khác nằm rãi rác trong các kinh, sách báo, các bài giảng thuyết. Mặc dù đây chỉ là một bài Luận Văn Tốt Nghiệp, nhưng dẫu sao cũng nói lên thành quả tu học trong những năm qua, vì thế trước khi đi vào nội dung chính của bài con xin thành kính đảnh lễ tri ân Hoà Thượng Viện trưởng Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, Hội Đồng Điều Hành Học Viện, chư vị Giáo sư và đặc biệt là Giáo sư hướng dẫn bộ môn này, người đã tận tình giảng dạy và cung cấp những kiến thức cần thiết để con có thể hoàn thành Tập Luận Văn này. Với kiến thức còn hạn hẹp, lại là lần đầu tiên thực tập nghiên cứu, nên dù đã cố gắng hết sức, con vẫn không sao tránh khỏi những thiếu sót, ngưỡng mong chư Tôn Đức, chư Giáo sư, chư Pháp hữu hoan hỷ chỉ giáo. II. NỘI DUNG: 1. Định nghĩa về Tứ Diệu Đế: Tứ Diệu Đế, tiếng Bắc Phạn (Sanskrit) là Catvãry Aryasatyãni, tiếng Nam Phạn (Pali) là Cattãri Ariya Saccãni, trong đó Ariya nghĩa là bậc hiển thánh, hoàn toàn trong sạch màu nhiệm, Saccãni là chân lý, là sự thật hiển nhiên, tuyệt đối, vĩnh cửu, bất di bất dịch. Tứ Diệu Đế nghĩa là bốn chân lý màu nhiệm, là bốn sự thật diệu kỳ. Tứ Diệu Đế còn được gọi là Tứ Thánh Đế, Tứ Chân Đế, Tứ Đế, Bốn sự thật huyền diệu, Bốn chân lý cao thượng... là giáo pháp mà Đức Phật đã đưa ra trong bài giảng đầu tiên khi bắt đầu đi thuyết pháp và hình thành bước khởi đầu về Ba ngôi Tam Bảo gồm Phật bảo tức Đức Phật, Pháp bảo tức bài giảng về Tứ Diệu Đế và tăng bảo tức năm anh em Kiều Trần Như. Tứ là bốn. Diệu là kỳ diệu, là quý báu, là màu nhiệm, là tốt đẹp, là cao quý, là cao thượng. Đế là sự chắc chắn, rõ ràng, đúng đắn nhất. Đế còn có nghĩa là chân lý cao cả, là sự thật bất di bất dịch. Còn chữ Thánh trong Tứ Thánh Đế nghĩa là thánh thiện. Chữ Chân trong Tứ Chân Đế nghĩa là chân thật. Trong tiếng Anh, Tứ Diệu Đế được dịch là The four noble truths (Bốn sự thật cao quý) là vì vậy. Bốn sự thật cao quý ấy là bốn sự thật chắc chắn, rõ ràng nhất mà không có một giáo lý ngoại đạo nào có thể sánh kịp. Với Tứ Diệu Đế, người học đạo, bậc tu hành kiên tâm làm theo, hành trì miên mật, có thể từ chỗ tối tăm mê muội đi lên bậc giác ngộ một cách chắc chắn. Với Tứ Diệu Đế, hành giả và các Phật tử có thể ví như người đi đường trong đêm tối có trong tay ngọn đuốc sáng soi đường đi đến đích, đến bờ giác ngộ. Đó thật là điều kỳ diệu của Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế, chữ Phạn là Catvãry Aryasatyãni. Arya (Diệu) là màu nhiệm, cao quý hay diệu kỳ. Satyã (Đế) là chân lý, là sự thật. Giáo lý Tứ Diệu Đế được nói đến trong các kinh: Đế phân biệt tâm kinh (Trung Bộ III), kinh Phân biệt thánh đế (Trung A Hàm), kinh Chuyển pháp luân (Tương Ưng & Tạp A Hàm)... 1.1. nhân duyên đức phật thuyết tứ thánh đế: Sau khi thành đạo dưới cội cây Bồ-đề, Đức Phật có ý định nhập Niết-bàn vì giáo lý của ngài chứng được thậm thâm vi diệu mà căn cơ của chúng sanh còn thấp kém, khó có thể giác ngộ nhanh chóng như ngài được. Lúc bấy giờ Brahma đã thỉnh cầu Đức Phật trụ thế để thuyết pháp độ sanh. Vì lòng tưởng đến chúng sanh còn chìm đắm trong bể khổ nên ngài đã ở lại thế gian để thuyết pháp. Ngài liền nghĩ ngay đến hai vị thầy của mình là ông Àvàla Kàlàma và ông Uddka Ramaputta nhưng Brahma đã báo với Đức Phật là cả hai ông đã qua đời cách nay không lâu. Ngài liền nghĩ ngay đến năm người bạn của mình lúc còn tu khổ hạnh là nhóm ông Annata Kondanna, họ có thể khai ngộ được giáo pháp của ngài nên ngài đã đến Lộc Uyển là nơi họ tu hành để thuyết pháp; nội dung của bài thuyết pháp là Tứ Thánh đế. “Trong khoảnh khắc này, mười nghìn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và một hào quang vô lượng , quảng đại phát chiếu ra ở đời, vượt quá uy lực chư Thiên” . Sau khi nghe Đức Phật thuyết pháp Tứ Thánh đế, thành kiến mê lầm tan vỡ, trí tuệ siêu thoát xuất hiện, năm vị này được ngộ đạo, chứng nhập quả vị A-la-hán. Đó là năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật Thích Ca. 1.2. Vai trò quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế: Trong kinh Tạp A Hàm (Samyatt Nikaya), đức Phật đã dạy các đệ tử của Ngài: “Hỡi các Tỳ kheo, các thầy đừng để tâm trí vào việc coi thế giới là hữu hạn hay vô hạn. Điều đó không quan trọng, điều quan trọng là phải hiểu thế nào là sự khổ, nguyên nhân của cái khổ và con đường đi đến diệt khổ. Những điều đó rất có ích, vì chắc chắn sẽ đưa các thầy đến cứu cánh của giác ngộ và giải thoát vậy”. Cũng trong kinh Tạp A Hàm, có một đoạn như sau: “Một lần nọ, Đức Thế Tôn đi đến một khu rừng. Lúc ấy, Ngài nắm trong tay một nắm lá, Ngài hỏi các vị tỳ kheo: "Các con nghĩ thế nào, này các tỳ kheo, số lá nằm trong bàn tay Như Lai và số lá trên cây trong khắp khu rừng này, số lượng nào nhiều hơn?”. - “Bạch Đức Thế Tôn, số lá nằm trong tay Ngài thật không có bao nhiêu, nhưng lá trên cây trong khắp khu rừng này thì rất nhiều”. - “Cũng vậy, này các tỳ kheo, những gì Như Lai chứng ngộ mà không truyền dạy, quả thật là nhiều như số lá trên cây. Như Lai chỉ truyền dạy một ít. Tại sao? Này các tỳ kheo, tại sao Như Lai không truyền dạy tất cả? Này các tỳ kheo, là bởi vì có những điều quả thật vô ích, không thiết yếu để có đời sống thanh cao trong sạch, những điều không dẫn đến nhàm chán, dứt bỏ, chấm dứt, an tịnh, thấu đạt trọn vẹn, giác ngộ, Niết bàn. Vì vậy, này các tỳ kheo, Như Lai không công bố những điều ấy. Và này các tỳ kheo, Như Lai công bố những gì? Đây là đau khổ; Đây là nguyên nhân sinh ra đau khổ; Đây là sự chấm dứt đau khổ; Đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ. Đó là những điều mà Như Lai công bố. Và tại sao, này các tỳ kheo, Như Lai công bố những chân lý ấy? Bởi vì các chân lý ấy hữu ích, thiết yếu để có đời sống thanh cao, trong sạch, dẫn đến nhàm chán, dứt bỏ, chấm dứt, an tịnh, thấu đạt trọn vẹn, giác ngộ, Niết bàn. Vì vậy, này các tỳ kheo, Như Lai công bố các chân lý ấy." Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương cũng có một đoạn ghi rằng sau khi thành đạo, Đức Thích Ca khởi niệm suy nghĩ, xa lìa ái dục, được tĩnh tại đệ nhất và đạt quả vị Chính đẳng Chính giác, rồi Ngài an trụ trong thiền định, hàng phục và chế ngự mọi ma lực. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế trong toàn bộ hệ thống kinh điển Phật giáo. Sở dĩ Tứ Diệu Đế là bài học đầu tiên mà Đức Thế Tôn đã giảng giải tại Vườn Lộc Uyển sau khi thành đạo vì chính đó là giáo lý cơ bản mà con người nói riêng hay chúng sinh nói chung cần phải biết trước hết, trước mọi giáo lý khác vô cùng rộng lớn của Đức Phật. Cũng vì Đức Phật thấy rằng ở mọi chúng sinh đều có cái nhân Phật tính, và nếu biết tu tập một cách đúng đắn, đúng chính pháp thì đều có thể thành Phật. Đức Phật đã nói “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính” (Tất cả chúng sinh đều có tính Phật) và với lòng từ bi vô lượng muốn cho chúng sinh được lợi lạc trong cuộc sống mà người đã thuyết giảng giáo lý này đầu tiên. Thực chất Tứ Diệu Đế là một phương pháp đủ cả hai "lý thuyết và thực hành", đưa hành giả tới giác ngộ giải thoát. Tứ Diệu Đế đòi hỏi có sự tu tập thực hành trong cuộc sống hàng ngày. Giáo lý Tứ Diệu Đế còn được gọi là giáo lý Nguyên thủy. Như vậy ta thấy rõ ràng giáo lý Tứ Diệu Đế là giáo lý căn bản của đạo Phật không phải chỉ riêng đối với Tiểu thừa mà chung cho cả Đại thừa, không phải chỉ với một tông phái nào mà tất cả các tông phái Phật giáo hiện nay từ Nam tông đến Bắc tông, từ phương Đông sang phương Tây, cả thiền tông, tịnh độ tông hay mật tông đều tu hành theo giáo lý đó. Người tu hành xuất gia hay tại gia đều không thể bỏ qua giáo lý Tứ Diệu Đế được, bởi vì pháp môn này đặt ra đầu tiên trước mọi chúng sinh vấn đề cấp bách mà mọi chúng sinh quan tâm, đó là nỗi khổ và niềm khát khao được thoát mọi nỗi khổ ở đời. Giáo lý này giúp người tu hành từ từ tiến từng bước trên đường học đạo và tuy không đưa thẳng người tu hành đến quả vị Phật ngay, nhưng nếu tu hành một cách tinh tấn và quyết tâm cao, có thể đưa hành giả đến quả vị A La Hán, rồi từ quả vị A La Hán, hành giả tiến thêm lên một bước với các pháp môn khác cùa giáo lý Đại thừa sẽ tiến lên đến quả vị Phật. Một điểm đáng chú ý nữa là với giáo lý Tứ Diệu Đế, đây là một pháp môn phổ thông, phù hợp với mọi căn cơ, mọi trình độ của chúng sinh, chứ không như một số pháp môn khác cần phải có trình độ học thức cao mới theo được. Vì vậy, ngày nay Tứ Diệu Đế là giáo lý được coi trọng phổ biến nhiều nhất trên thế giới. Các Phật tử Âu Mỹ hầu hết đều tu theo pháp môn này và những cuốn sách nghiên cứu về đạo Phật, của những nhà Phật học tây phương đều nói nhiều nhất về Tứ Diệu Ðế. 2. tứ thánh đế gầm những gì? Trong kinh “Chuyển Pháp Luân” có ghi lại bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật về Bốn Thánh đế. Thế nào là Bốn thánh đế?: “Này các Tỳ kheo, đó là Khổ Thánh đế, Khổ tập Thánh đế, Khổ diệt Thánh đế và Khổ diệt đạo Thánh đế”. 2.1. khổ đế: (Dukkha) Khổ Thánh đế là thực trạng đau khổ của con người, là chân lý chắc thật mà con người phải gánh chịu những nỗi đau đớn khi hiện hữu trên thế gian này. Những nỗi khổ ấy bủa vây con người, làm cho con người chìm đắm trong biển khổ trầm luân. Đức Phật dạy: “Đây là Thánh đế về Khổ, này các Tỳ kheo: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ”. 2.1.1. Sanh là khổ: Sự sống của con người có hai phần khổ: khổ trong lúc sanh và khổ trong đời sống. Nói đến sanh khổ thì kể cả người sanh và kẻ bị sanh đều phải đau khổ, như một sự cộng nghiệp cho cả hai mẹ con. Khi người mẹ mang thai đã phải gánh chịu sự nặng nhọc của bào thai theo năm tháng, biếng ăn, mất ngủ, buồn nôn, mệt mỏi. Thai nhi lớn lên từng ngày cũng đồng nghĩa với sự khó khăn của người mẹ lại càng tăng thêm. Đến kỳ sanh nếu thuận thai thì người mẹ cũng chịu nhiều ô uế hao tổn khí huyết, còn nếu nghịch thai phải mổ thì người mẹ bị mang tật suốt đời, có khi nguy hiểm đến tính mạng của cả hai mẹ con. Còn người con, từ khi mới đầu thai cho đến khi sinh ra đời cũng chịu nhiều đau khổ. Trải qua chín tháng mười ngày bị giam hãm trong khoảng tối tăm, chật chội, ngộp ngạt, khó chịu. Đến kỳ sinh phải chui qua một chỗ chập hẹp, biết bao nhiêu khó khăn, cho nên vừa thoát ra đã cất tiếng khóc vang. Vì vậy mà Nguyễn Công Trứ cũng đã viết: “Thoạt sanh ra thì đà khóc choé Trần có vui sao chẳng cười khì”. - Khổ trong đời sống: Về phương diện vật chất: con người vì sự tồn tại phải làm lụng vất vả sớm chiều, phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt để làm ra của cải vật chất. Bên cạnh đó con người phải chịu những thiên tai như: động đất, núi lửa, sóng thần, bão lụt, tai nạn … đe doạ đến tính mạng. Về phương diện tinh thần: con người phải lo học hành để mong sau này có được công danh sự nghiệp để khỏi phải xấu hổ với mọi người. Nỗi khổ về tinh thần còn hơn cả vật chất, con người còn có những nhu cầu về tinh thần mà ít có ai hiểu thấu được, chính vì vậy mà sự sống luôn luôn mang đầy đau khổ cho dù bên ngoài có nở những nụ cười tươi nhưng bên trong vẫn chứa đầy đau thương, những niềm vui chỉ là tạm bợ, không thật, như trong tác phẩm Truyện Kiều, đại thi hào Nguyễn Du có viết: “Bên ngoài cười nụ, bên trong khóc thầm Khi tỉnh rượu lúc tàn canh Giật mình mình lại thương mình xót xa.” 2.1.2. Già là khổ: Con người càng sống theo thời gian thì càng tàn lụi về thân thể cũng như tinh thần, thử hỏi có ai lại muốn như vậy nhưng đã trót mang cái thân này thì phải chịu luật vô thường chi phối. Sự niên lão, sự hư hoại, trạng thái rụng răng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm dần, các căn chậm lụt biến loạn, như vậy gọi là già. Ở đời có ai lại không mong muốn mình được trẻ mãi, nhưng càng mong muốn trẻ mãi thì tuổi già lại đến bên cạnh từng ngày. Già một nỗi kinh hoàng đáng sợ cho tất cả con người, nó đồng nghiã với sự cô đơn, buồn bã, chán chường như một bông hoa héo tàn không có sức sống. Cuối cùng là những cơn bệnh hiểm nghèo và đưa dần con người về cõi chết. Một sự thật đôi khi quá nghiệt ngã mà con người phải gánh chịu “Thị nhật dĩ quá, mạng diệc tuỳ giảm, như thiểu thuỷ ngư, tư hữu hà lạc” , tạm dịch: Một ngày qua đi thân mạng này cũng theo thời gian mà giảm dần, như cá thiếu nước, có gì đâu mà vui”, như vậy nỗi khổ về già cũng thấy đớn đau cho thân phận kiếp người. 2.1.3. Bệnh là khổ: Hầu như trong mỗi con người ai cũng đã từng ít nhất là một lần đau về bệnh. Sự hành hạ thân xác con người, làm cho nó khổ sở tàn lụi nhanh chóng không gì bằng bệnh. Con người đều có dịp nếm đắng cay lẫn thể xác và tâm hồn vì những cơn bệnh. Chỉ một hạt bụi rơi vào mắt cũng làm cho thân khó chịu, một cơn đau răng cũng đủ làm cho tâm tê tái, dù chỉ là một cơn đau nhỏ ngắn ngủi thôi, cũng đủ làm cho con người tủi phận vì chúng ta có thân này mà không làm chủ được nó. Những cơn đau vì bệnh đã giết lần giết mòn con người, nhiều lúc đau mà muốn chết không được muốn sống cũng không xong. Có người làm lụng cả một đời sau một trận bệnh đã trở thành tay trắng. Thân phận cuả con người thật bé nhỏ mong manh không biết sẽ như thế nào khi chung quanh con người đầy dãy những căn bệnh và con người phải chịu đựng chúng cho đến cuối đời. 2.1.4. Chết là khổ: Một biến cố tang thương, khủng khiếp nhất của con người là cái chết. Nỗi đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn trong khi tứ đại tan rã. Dù có người đời sống không được tốt đẹp nhưng chẳng bao giờ dám nghĩ đến cái chết vì họ nghĩ rằng chết là không còn gì nữa cả. Chúng ta hãy thử nhìn cảnh tượng của một người sắp chết và đặt tâm trạng của mình vào người đó mới thấy được sự sống đáng quý biết chừng nào. Sự dao động dày vò thân xác và tâm hồn giữa sự sống và cái chết của người sắp lâm chung, nỗi lo lắng không biết sẽ đi về đâu trong vòng luân hồi đã làm cho họ mệt mỏi. Xa cách người thân, nuối tiếc công danh sự nghiệp đã gây dựng, từ nay không còn gì nữa. Chính vì vậy mà làm cho họ đau lòng và cái chết đã trở thành một nỗi ám ảnh của cuộc sống. 2.1.5. Sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ: Ngài Phật Âm đã đưa ra hình ảnh ẩn dụ sau đây để phân biệt: “Sầu như chảo dầu nấu trên bếp lửa riu riu. Bi như nấu trên bếp lửa mạnh. Não như những gì còn lại sau khi nấu, còn tiếp tục cho đến khi chảo khô”. Sầu là một nỗi buồn thiêu đốt trong tâm con người, thí dụ như có người thân thuộc qua đời thì nỗi sầu đó cứ kéo dài dai dẳng, tinh thần mệt mỏi không muốn làm gì, lúc nào cũng ngay như người điên dại. Bi là bi thương, gào thét, rên la khi hay tin mình bị mất một người thân hoặc phải bị những thảm trạng do thiên tai mang lại hay gặp phải những chuyện không may xảy đến cùng một lúc. Nỗi đau ấy khiến cho con người không nén nỗi cảm xúc đã gào thét lên, oán trời, trách đất. Những đau đớn, mất mát đã khổ rồi lại còn bi thương, gào thét, rên la lại càng khổ hơn. Như vậy, nỗi lòng này có bút mực nào để diển tả cho thấu. Khổ là sự đau đau nơi thân. Ưu là những nỗi buồn trong tâm. Nỗi đau nơi thân và nỗi buồn trong tâm có liên quan mật thiết với nhau. Khi thân đau cũng ảnh hưởng đến tâm và khi tâm có nỗi buồn cũng biểu hiện ra nơi thân. Có thể nói cả thân với tâm là một và khổ với ưu luôn cùng tồn tại trong một lúc. Có khổ nơi thân thì phải có ưu trong tâm, đó là một sự thật hiển nhiên mà ai cũng có thể cảm nhận được. Có thể nói khổ này đồng nghĩa với khổ đau. Não là một tâm trạng suy sụp của tinh thần khi có một điều gì mất mát nghiêm trọng nào đó đem lại. Con người sống trên thế gian này với nhiều mối quan hệ. Đối với những người thân, bà con ruột thịt nếu chẳng may xảy ra vấn đề gì thì sự ưu não cũng sẽ ảnh hưởng đến nhau. Vì con người sống với các mối quan hệ cho nên sự vui buồn, phiền não, ưu sầu luôn luôn liên quan đến nhau. Như vậy, trong kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Phật có đề cập đến sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ. Điều đó cũng nói lên rằng con người đang chìm đắm trong đau khổ, trong nước mắt. Chính vì thế mà Đức Phật đã dạy: “Nước mắt của chúng sanh nhiều hơn nước trong bốn biển”. 2.1.6. Oán gặp nhau là khổ: Chuyện đời thật trớ trêu, những điều ta không thích lại luôn luôn xuất hiện ở bên mình bao gồm cảnh, vật và luôn cả con người. Càng nhìn thấy lại càng bực mình, khó chịu nhưng càng muốn tránh né thì lại càng gặp gỡ. Thí dụ như, con người không thích chiến tranh nhưng cũng chính do con người đã tự tạo ra nó rồi lại phải gặp và đau khổ vì nó; hoặc là thiên tai, chính con người đã tự huỷ hoại thiên nhiên, môi trường sống để rồi tự chuốt lấy những khổ đau mất mát; hoặc là gây thù kết oán với người khác để rồi phải lo sợ sự trả thù. Như vậy, những gì con người không thích mà phải đối diện thì có gì khổ bằng. 2.1.7. Ái biệt ly là khổ: Đã mang thân con người thì ai cũng phải chịu cảnh những gì mình yêu thương khi phải xa lìa nó đều làm cho ta đau khổ. Đau khổ khi phải xa lìa quê hương đi tha phương cầu thực, xa gia đình thân yêu, nơi có cha mẹ, anh chị em ruột khi có một biến cố nào đó xảy ra. Nhưng xa nhau mà còn sống thì có thể gặp lại nhau được còn xa nhau khi cảnh ly biệt của người thân khi họ ra đi vĩnh viễn về cõi vĩnh hằng thì không bao giờ gặp nhau nữa. Như vậy, cái khổ của ái biệt ly này bao gồm cái khổ sanh ly và tử biệt. 2.1.8. Cầu không được là khổ: Là nỗi khổ khi những tham muốn không thành. Con người sống ở đời, càng hy vọng càng nhiều thì thất vọng càng lắm. Trong tất cả các lĩnh vực, nếu được toại nguyện cũng chỉ có một vài trường hợp hiếm hoi còn đa phần là chuốt lấy thất vọng để rồi ôm sầu khổ vào mình. “ Cái lý do của nỗi khổ này là do con người không thật sự làm chủ chính mình, không thật sự làm chủ hoàn cảnh sống của tha nhân”. Nhưng nếu như sống mà không mong cầu, không có sự phấn đấu thì cuộc đời cũng thật vô nghĩa. Cho nên phải biết lượng sức mình để khi có được cũng không mừng còn không toại nguyện thì cũng không sao, đó thật sự là một điều khó. “Sống thì mong ước, mà mong ước không được thì khổ. Đấy là cuộc đời”. 2.1.9. Năm thủ uẩn là khổ: Đây là câu nói được Đức Phật kết luận lại những nỗi khổ đã đề cập đến ở trên: “Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ”. Như vậy con người do có thân ngũ uẩn này mà đã có biết bao nhiêu là đau khổ. Khổng Tử cũng đã nói: “Ta khổ là do ta có cái thân này”, cái thân đó hàm ý nói luôn cả phần thân và phần tâm. Thân thể của con người được hợp thành bởi năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc thuộc về phần vật chất còn thọ, tưởng, hành và thức thuộc về tinh thần. - Sắc được cấu tạo bởi bốn đại: đất, nước, gió và lửa. Những phần nào thuộc về chất cứng như tóc, răng, da, thịt, xương, gân… là chất đất. Những chất lỏng như: mồ hôi, nước mắt, máu, mũ, nước tiểu… thuộc về nước. Về chất lửa như những món ăn có sức nóng để làm ấm áp trong thân và làm tiêu hoá những vật mà ta ăn uống vào. Về chất khí: những món thường lay chuyển và có hơi thở như hơi thở ra hơi thở vào. Sắc nói rộng ra là ngũ căn, ngũ trần và những vật hữu hình - Thọ: là cảm giác, khi sáu căn tiếp xúc với sáu cảnh mà sanh ra cảnh thọ. Có ba loại cảm thọ: khổ thọ, lạc thọ vả bất khổ bất lạc thọ. - Tưởng: là sự tưởng tượng trong tâm, khi đối cảnh thì nhận ra sự đen, trắng, nhỏ, to, ngắn dài, v.v… - Hành là hành động thông qua việc làm của thân, khẩu và ý, cũng chính hành này là hành động để tạo thành nghiệp. - Thức là sự nhận biết, khi tâm đối với cảnh liền nhận thức, phân biệt được sự vật, hiên tượng. Vì không hiểu được thân thể là sự tích tụ, chứa nhóm của năm uẩn mà con người đã bám víu vào đó, coi đó là ta, là của ta, là tự ngã của ta, vì thế mà sanh ra không biết bao nhiêu điều đau khổ. “Ý niệm về “thân thể tôi”, “tình cảm tôi”, “tư tưởng tôi”, “tâm tư tôi”, “nhận thức tôi”… hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ; từ đó mọi đau khổ phát sanh. Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, điên cuồng đều gắn liền với ý niệm về “cái tôi” ấy. Giữa năm uẩn ấy luôn có sự xung đột, mâu thuẩn, chi phối lẫn nhau nên thân tâm con người mới chịu nhiều phiền muộn. Tóm lại, năm uẩn là sự giả hợp, không thật, hể còn chấp thủ thân ngũ uẩn này thì vẫn còn chịu đau khổ với nó. 2.2. tập đế (Sameda Dukkha): Khổ tập Thánh đế: “Tập là tích tập những phiền não hội tụ lại thành năng lực đưa đến khổ đau” hay nói cách khác Tập đế là nguyên nhân, là nguồn gốc của đau khổ. Tại sao con người phải chịu những đau khổ? Đức Phật dạy rằng: “Đây là Thánh đế về Khổ tập, này các Tỳ kheo, chính là ái này đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia. Tức là dục ái , hữu ái, phi hữu ái”. Như vậy, theo tinh thần của kinh Chuyển Pháp Luân thì ái là nguyên nhân chính của khổ. Tuy nhiên, điều quan trọng ở đây, tham ái không phải là nguyên nhân đầu tiên mà ái chính là do thọ sinh, thọ do xúc sinh, xúc do lục nhập sinh … hành do vô minh sinh, đó là một chuỗi mười hai nhân duyên, ái chỉ là một nhân chính yếu và gần nhất để sanh ra khổ đau mà thôi. Con người luôn luôn tham muốn, theo đuổi, tìm kiếm để thỏa mãn dục vọng đó chính là tham ái. Lòng tham ái càng mạnh thì chấp thủ càng tăng lên, khi những gì chấp thủ bị luật vô thường chi phối, biến đổi thì sầu, bi, khổ, ưu, não xuất hiện. Con người cũng vì tham ái mà bám víu những đối tượng khoái cảm, dục lạc “câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này chỗ kia…” trong cơn khát ái họ có thể bất chấp tất cả miễn sao đạt được điều mong muốn nhất là nhục dục, đâu biết rằng “sanh tử căn bản dục vi đệ nhất”. Cũng chính vì đó mà chúng sanh mãi trôi lăn trong vòng sanh tử. “Khi tham ái liên quan đến dục lac thì gọi là Dục ái. Khi nó kết hợp với niềm tin nơi có sự tồn tại vĩnh hằng được gọi là Hữu ái”. 2.2.1. Dục ái: Là sự tham ái về dục lạc có sự khoái cảm của các giác quan qua thể xác hoặc những giác quan khác làm cho ta luôn có khuynh hướng kích thích và thỏa mãn những giác quan của mình. Ví dụ như thích gần gũi với những sắc đẹp, âm thanh, mùi hương, vị , xúc êm ái, dể chịu và muốn tránh xa những gì bất xứng ý. Chính vì vậy mà tạo nghiệp để dẫn đến tái sanh. 2.2.2. Hữu ái: Còn có nghĩa là tham ái về Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Nghĩa là có người tu hành mong tái sanh trong dục giới, hay nhàm chán những cảnh ở cõi Dục mà mong muốn về cõi Sắc, hoặc có người chán những cảnh có sắc tướng, mong được tồn tại trong cõi không có sắc tướng, họ được sanh về cõi Vô sắc. Hễ còn tâm tham vọng là còn khát ái mà còn khát ái là còn sanh tử luân hồi. Do đó , Hữu ái là Khổ tập Thánh đế. 2.2.3. Phi hữu ái: Nghĩa là có người chán cảnh sanh tử, không muốn mình hiện hữu cũng không muốn tái sanh nên khát khao đi tìm pháp chân không của Niết bàn. Đây chính là biểu hiện của Vô hữu ái, còn tham ái thì không thể đạt được trạng thái Niết bàn mà Niết bàn là dập tắt hẳn tham ái. Nếu tham ái hoàn toàn đoạn diệt thì Niết bàn sẽ hiện hữu. Đằng này tham ái vẫn còn, dù là khát vọng ở cõi Vô hữu thì đó cũng là một thứ lửa nung nấu khổ đau. Do đó, Vô hữu ái là nhân của khổ, là khổ tập Thánh đế. 2.2.4. Vô minh là nguyên nhân sâu xa của đau khổ: Theo kinh Chuyển Pháp Luân thì nguyên nhân chính của khổ là tham ái nhưng xét kỷ nguyên nhân sâu xa hơn chính là vô minh. Vì vô minh nên mới tham ái, chấp thủ, sanh ra biết bao nhiêu phiền não. Phiền não thì vô tận nhưng có thể tóm lược trong mười phiền não hay gọi là mười kiết sử, đó là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến. Chính mười kiết sử này đã sai sử con người lầm đường lạc lối gay không biết bao nhiêu điều đau khổ. Do đó, những phiền não, lậu hoặc, kiến chấp là Khổ tập Thánh đế. Như vậy, nguyên nhân của khổ thì rất nhiều nhưng tham ái là nguyên nhân dể nhận ra được. Đã biết như thế thì không lý nào con người không mong muốn cởi bỏ những xiềng xích đã ràng buột từ vô thỉ. Chỉ có Niết bàn mới thật sự giải thoát những phiền não khổ đau mà thôi. Còn vô minh thì vẫn còn sanh tử mà hết vô minh có nghĩa là trí tuệ giải thoát đã hiện hữu. Vì vậy, muốn hết khổ đau phải phá trừ vô minh. 2.3. diệt đế: (Nirodha Dukkha) Phật dạy: “Đây là Thánh đế về Khổ diệt, này các Tỳ-kheo, chính là ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái ấy, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát, không có chấp trước”. Đây là sự thật đúng đắn về hoàn cảnh tốt đẹp mà con người có thể đạt được khi đã diệt hết mọi phiền não, mù mờ. Diệt đế chính là trạng thái Niết-bàn. Niết-bàn là trạng thái không thể miêu tả được bằng lời , không thể cảm nhận bằng lý trí. Niết-bàn là cảnh giới giải thoát, thoát ly mọi ngôn ngữ diễn đạt, nó không phải một vấn đề để khảo sát. Nhưng trong các kinh điển Pali cũng thỉnh thoảng ta lại bắt gặp một vài định nghĩa miêu tả về Niết-bàn: “Đấy là sự chấm dứt rốt ráo của dục vọng; vứt bỏ nó, chối từ nó, thoát khỏi nó, rứt ra nó” hay : “Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi sự xấu xa, sự diệt dục, sự giải thoát, chấm dứt, Niết-bàn”. Dù không thể nói được nhưng Đức Phật cũng đã phương tiện dùng ngôn ngữ của thế gian để diễn tả một cách khái quát: “Này các Tỳ-kheo, cái gì phi thực là tà vạy; cái thực tại, Niết-bàn, là chân lý. Bởi thế, hởi các Tỳ-kheo, một người đươc như vậy là có được chân lý tuyệt đối. Vì thánh đế tối thượng là Niết-bàn, và Niết-bàn thực tại”. Dù không diễn tả được, nhưng Niết-bàn là có thực, nó là thực tại như thật, nơi nào có tuệ giác Vô ngã hoàn toàn, nơi đó có Niết-bàn. Dù lời Phật dạy trong bài kinh Chuyển Pháp Luân không nói đến Niết bàn nhưng chính là sự ly tham, đoạn diệt, không có dư tàn khát ái, giải thoát , chấm dứt ấy chính là Phật đang nói đến Niết-bàn. Đó là tiến trình chấm dứt luân hồi. Đức Phật và các vị A-la-hán thường diễn tả sự chấm dứt luân hồi bằng câu cảm hứng: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống, từ đây không còn trở lại trạng thái này nữa”. Không còn trở lại trạng thái này nữa tức là không còn tái sanh, mà không tái sanh có nghĩa là đã giải thoát, mà giải thoát chính là Niết-bàn. Theo kinh tạng Pali, Đức Phật thuyết có hai loại Niết-bàn là: Hữu dư y Niết-bàn và Vô dư y Niết-bàn nhưng trong Thành Duy Thức Luận lại nói bốn loại Niết-bàn, ngoài hai loại kể trên còn có thêm: Bổn lai tự tánh thanh tịnh Niết-bàn và Vô trụ xứ Niết-bàn. 2.3.1. Hữu dư y Niết-bàn: Tức là chân như đã thoát lìa phiền não, nhưng sở y còn đôi chút khổ vi tế, tuy là mọi chướng ngại đã đoạn tận cho nên gọi là Niết-bàn. 2.3.2. Vô dư y Niết-bàn: Tức là chân như đã thoát lìa mọi nỗi khổ sanh tử, không còn phiền não nữa, mọi dư y cũng không còn, mọi khổ đau đều chấm dứt, cho nên gọi là Niết-bàn. 2.3.3. Bổn lai tự tánh thanh tịnh Niết-bàn: Theo giáo lý phát triển, đây là loại Niết-bàn thường vắng lặng thường sáng suốt. Nó vẫn thường bộc lộ nơi chư Phật, mà vẫn thường sẵn có nơi mọi loài chúng sanh. Nếu chúng sanh tin rằng mình có tính Niết-bàn hay Phật tánh và khởi tâm tu hành theo Phật tánh ấy thì thành Phật chẳng sai. Ngộ tự tánh Niết-bàn mà hết mê lầm là thành Phật, có đủ bốn đức: thường, lạc, ngã, tịnh nên tánh tịnh Niết-bàn là cao quý tột đỉnh của đạo Phật. 2.3.4. Vô trụ xứ Niết-bàn: Đây là Niết-bàn của các vị Bồ-tát. Các vị Bồ-tát không có tâm điên đảo, không phân biệt bỉ, thử, ngã, nhân. Tuy làm việc lợi tha, mà vẫn ở trong chánh quán. Quán các pháp như huyễn hóa, không có thật sanh tử, không có thật Niết-bàn, không bao giờ trụ trước (vô trụ) Do đó, Bồ-tát thường ra vào sanh tử lấy pháp lục độ để độ sanh, mà vẫn ở trong Niết- bàn tự tại. 2.4. đạo đế: (Nirodha Gamadukkha) Khổ diệt đạo Thánh đế là phương pháp đúng đắn, chắc thật để diệt trừ đau khổ. Đó là con đường quyết định đi đến cảnh giới Niết-bàn. Nói cách khác đó chính là phương pháp tu hành để diệt khổ được vui. Đức Phật dạy: “Đây là con đường đưa đến Khổ diệt, này các Tỳ-kheo, chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánhđịnh”. 2.4.1. Chánh tri kiến: Là sự thấy , hiểu, biết đúng đắn, nghĩa là nhận thức đúng về cuộc sống , biết phân biệt điều thiện ác. Nhận biết bản chất của sự vật, hiện tượng là vô thường, vô ngã, duyên sinh. Nhận thức rõ bản chất của khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ. 2.4.2. Chánh tư duy : Là sự suy nghĩ đúng đắn, không để đầu óc suy nghĩ đến những điều bất thiện như tham lam, sân hận… mà hướng tâm về những điều cao thượng như buông xả, sự thương yêu giúp đỡ chúng sanh, nhẫn nhục, trầm tĩnh… 2.4.3. Chánh ngữ: Là ngôn ngữ đúng đắn, nghĩa là nói những lời lẽ đưa đến xây dựng niềm tin, đoàn kết, hòa hợp, thương yêu và lợi ích. Không nói những lời chia rẽ, hận thù gay đau khổ cho mình và cho người. 2.4.4. Chánh nghiệp : Là hành vi đúng đắn xuất phát từ thân, khẩu, ý, nghĩa là không có hành vi giết hại, trộm cướp, hành dâm phi pháp, không làm những điều phi đạo đức. Thực hành sự thương yêu, cứu giúp, không ham muốn những thú vui bất thiện. 2.4.5. Chánh mạng: Là đời sống đúng đắn, nghĩa là nghề nghiệp, phương tiện mưu sinh chân chánh, không làm những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo như: buôn bán chất ma túy, cờ bạc, mại dâm…, không tham lam, không làm giàu trên mồ hôi nước mắt cúa kẻ khác. 2.4.6. Chánh tinh tấn: Là sự nổ lực đúng đắn, nghĩa là nổ lực làm các hạnh lành, không làm những điều hại mình, hại người, hại vật. Sự tinh tấn nổ lực vươn lên trong sự chân chánh sẽ làm cho con người thăng hoa trong cuộc sống. 2.4.7. Chánh niệm: Là sự nhớ nghĩ đúng đắn, nghĩa là luôn nhớ nghĩ những điều chân chánh, luôn nhớ nghĩ những thiện pháp để an trú, không nhớ nghĩ những điều bất thiện, không để cho các đối tượng bất chính dẫn dắt mình đi lang thang. 2.4.8. Chánh định: Là sự tập trung tư tưởng đúng đắn, nghĩa là đừng để tâm thức bị rối loạn, tập trung tư tưởng làm an tịnh tâm thức một cách đúng đắn, có hiệu quả để phát triển tuệ giác giải thoát. Bát chánh đạo là con đường tu tập để tiến đến quả vị của một bậc thánh. Nếu như có một người nào đó tu tập mà không thực hành con đường bát chánh này thì nẽo về giải thoát thật sự là quá xa xăm. Bát chánh đạo có thể thâu tóm trong Tam vô lậu học: tức là ba điều cần học tập là Giới-Định-Tuệ. Giới là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng; Định là chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; Tuệ là chánh tri kiến, chánh tư duy. Xác định Bát chánh đạo là con đường đưa đến giải thoát, Đức Phật dạy: “Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát chánh đạo thì ở đây không có Tứ quả Sa môn”. Đức Phật còn dạy: “Nếu những Tỳ-kheo sống chân chánh (theo Bát chánh đạo) thì cõi đời này không thiếu những vị A-la-hán”. Con đường tu tập của Khổ diệt đạo Thánh đế là con đường nổ lực tự thân của mỗi hành giả đệ tử Phật, con đường ấy vừa thực tiển vừa có hiệu quả ngay trong đời sống hiện tại này. Trong Trung Bộ kinh Phật còn dạy: “Không bệnh lợi tối thắng Niết-bàn lạc tối thắng Bát chánh đường duy nhất Đến bình an bất tử”. Chỉ có con đường bát chánh là con đường duy nhất đưa chúng sanh đến bình an bất tử mà thôi. 3. tầm quan trọng của tứ thánh đế: Xuyên suốt hành trình hoằng hóa trong bốn mươi lăm năm của Đức Thế Tôn, giáo lý Tứ Thánh đế luôn được triển khai, được mở rộng. Đức Phật nhiều lần đã xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ Thánh đế, ngài dạy: “Những bậc A-la-hán Chánh đẳng giác trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế”. Không những thế Ngài còn dạy: “Xưa cho đến nay, Như lai chỉ nói có hai điều là khổ và con đường diệt khổ”. Sự xuất hiện của Đức Phật giữa thế gian này “vì lợi ích cho chư thiên và loài người” , mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi khổ đau, vì vậy các pháp môn được thiết lập, mọi nổ lực đều hướng về mục tiêu ấy, mà giáo lý Tứ Thánh đế được xem là thiện pháp tối thắng. Đức Phật cũng dạy: “Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ Thánh đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra”. Không chỉ có sự xác nhận của Đức Phật mà Tôn giả Sariputta cũng nhận định: “Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân . Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ Thánh đế”. Cho đến khi sắp diệt độ tại Kusinara, một lần cuối cùng, Đức Phật đã nhắc lại giáo lý Tứ Thánh đế: “Các thầy Tỳ kheo, đối với Bốn chân lý, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp”. Như vậy, tầm quan trọng của giáo lý Tứ Thánh đế đã được xác định bởi chính Đức Phật và những vị đệ tử xuất chúng của ngài. Cho đến nay, trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử thì giáo lý ấy vẫn còn có giá trị, vẫn được tất cả các bộ phái Phật giáo dù là Phật giáo Nguyên thuỷ hay Phật giáo Phát triển đều xiển dương và hành trì. 3.1. tinh thần thiết thực của tứ thánh đế: Trong giáo lý Tứ thánh đế thì Khổ đế được Đức Phật nêu ra trước nhất. Đức Phật không liệt kê những khổ đau tưởng tượng, không đưa ra những nguyên nhân phi thực tế, cũng không đưa ra con đường giải quyết những đau khổ bằng cách hành xác hay van xin một vị thần linh ban phước cho mình, mà đưa ra con đường diệt khổ bằng chính tự thân tu tập của mình để tự mình giải thoát những phiền não của cuộc đời. Với nguyên nhân tham ái, Đức Phật đã chỉ rõ cho con người biết rằng chính nó đã ràng buộc con người trong sanh tử trầm luân. Con người là gốc của đau khổ và cũng chính con người mới có thể cứu lấy mình mà thôi, đó chính là tinh thần thiết thực của Tứ Thánh đế và cũng chính là tinh thần nhập thế của đạo Phật.' 3.2. tứ thánh đế hàm chứa toàn bộ giáo lý đạo phật: Đức Thế Tôn khi thuyết giảng Tứ Thánh đế đã lồng nội dung của các giáo lý căn bản khác như lý Duyên khởi, Năm uẩn, nghiệp… Trong suốt chặng đường hoằng hóa của ngài cũng chỉ dạy cho chúng sanh biết được khổ và phương pháp diệt trừ đau khổ mà thôi, cho nên giáo lý của ngài không ra khỏi hai điều đó. Hệ thống giáo lý được tập trung vào Tam vô lậu học mà Tam vô lậu học lại nằm trong phần Đạo đế, do đó mà toàn thể giáo lý không ra khỏi giới vực của Tứ Thánh đế. Nói cách khác là toàn bộ giáo lý của Phật giáo được thu nhiếp trong Tứ Thánh đế , như các dấu chân của các loài động vật được thu nhiếp vào dấu chân voi. 3.3. ứng dụng thực tế: Trong cuộc sống, có khi chúng ta cảm thấy chán chường, mệt mỏi vì cuộc sống mưu sinh, vì tình cảm, vì danh vọng đã làm cho chúng ta không còn nhận ra mình là ai nữa thì có nghĩa là chúng ta đang phiền muộn, bất an, đó chính là Khổ đế. Hãy lắng lòng đôi phút để tìm ra nguyên nhân tại sao chúng ta phải bị như vây. Có phải chúng ta đã quá mong cầu hay không, những điều mong cầu quá giới hạn đã làm chúng ta mỏi mệt, là tham ái, là nguyên nhân của mọi đau khổ, là vô minh hiện hữu, đó chính là Tập đế. Khi biết được như thế thì chúng ta mới mong tìm phương cách để đưa mình ra khỏi những bế tắc của khổ đau, đó chính là Đạo đế. Khi đã tìm con đường giải quyết những phiền muộn rồi chúng ta cảm thấy an vui và đó chính là Diệt đế. Như vậy Tứ Thánh đế luôn hiện hữu trong cuộc sống quanh ta mà từ lâu chúng ta không hề hay biết. 3.4. Tứ Thánh Đế vừa là giáo lý, vừa có ý nghĩa về phương pháp: Tứ Thánh đế được Thế Tôn trình bày ở đây chính là phương pháp nhận thức sống và tu tập. Nhận thức rõ, Khổ thánh đế là kết quả của khổ đau, biểu hiện của nghiệp nhân quá khứ. Nghiệp nhân ấy là tham ái, chấp thủ hay vô minh. Một khi đã nhận thức rõ về Khổ và Nguyên nhân đưa đến đau khổ. Hành giả cần phải thấy rõ hơn nữa, Khổ diệt thánh đế là kết quả của việc hoàn toàn chấm dứt đau khổ, biểu hiện của nghiệp nhân hiện tại. Nghiệp nhân ấy là do công phu tu tập 37 phẩm trợ đạo. Nghiệp nhân này là Khổ Diệt Đạo Thánh đế. Như thế, Tứ Thánh đế được trình bày theo tương quan nhân quả. Bất cứ pháp hữu vi nào, hay khổ đau nào có mặt cũng có nguyên nhân của nó. Người tu tập nhận rõ nguyên nhân chính của khổ đau ấy, thì tất nhiên cùng lúc sẽ thấy sự biến mất của nó và con đường (hay phương pháp) loại bỏ nó. Một con người bỗng nhiên tức giận, đấy là biểu hiện của “khổ đế”. Muốn vượt khỏi cơn giận đó, người ấy phải bình tĩnh tìm hiểu xem do nguyên nhân, lý do nào mà nổi sân. Ví dụ: do bị một người khác vô cớ nguyền rủa. Sở dĩ sân giận là do chấp vào âm thanh. Gọi là lời nguyền rủa kia và chấp rằng mình có tự ngã (ông A bà B) và tự ngã này bị gây tổn thương, bởi các âm thanh nguyền rủa ấy rồi nổi sân hận. Đây là “tập đế”. Một khi đã thấy rõ tập đế, sân chính là nguồn gốc đem lại đau khổ, người ấy quyết định loại bỏ sân hận, muốn loại bỏ sân hận thì người ấy chỉ thay đổi cách nhìn, cách suy tư của mình, nhận diện ra bản chất thực sự của nó chỉ là theo duyên mà khởi. Người ấy nhìn thấy các âm thanh kia chỉ là hơi gió thoảng, hoặc giả cho đó là các từ rời rạt vô nghĩa. Tại sao mình lại kết luận đó là lời nguyền rủa? Tại sao mình không thể kết luận các âm thanh ấy như chỉ là âm thanh hay như tiếng thông reo, gió thoảng. Suy tư như vậy thì có thể dập tắt sự chấp thủ kia, nhờ không còn chấp thủ, hành giả sẽ dập tắt được cơn sân giận đã từng chấp thủ kia, đây là ý nghĩa của “diệt đế”. Cách lập luận để đi đến sự dập tắt ấy chính là “đạo đế”. Tại đây Tứ Thánh đế xuất hiện như là một phương pháp phân tích các hiện tượng tâm lý xấu để vượt qua và chấm dứt chúng. Tương tự, chúng ta có thể phân tích các hiện tượng tâm lý tốt để duy trì hay phát triển. Sau đây là dẫn chứng hiện tượng xã hội: – Cướp trộm và tham nhũng là khổ đế, hay ý nghĩa của “khổ đế”. – Lý do của hiện tượng đó là do nạn đói kém mà ra “tập đế”. – Dứt hẳn 2 hiện tượng trên là “diệt đế”. – Con đường đưa đến khỏi đói kém, cải thiện kinh tế xã hội, chấm dứt trộm cướp và tham nhũng là “đạo đế”. Trên lĩnh vực y học cũng thế: – Bệnh phát sanh là ý nghĩa của “khổ đế”. – Nguyên nhân sanh ra bệnh tật là ý nghĩa của “tập đế”. – Loại trừ nguyên nhân ấy là bệnh được lành, bằng cách dùng thuốc đối trị là nghĩa “diệt đế”. – Dùng thuốc hay, chế thuốc để đối trị là ý nghĩa của “đạo đế”. Trên đây là một số dẫn chứng về Tứ Thánh đế vừa là giáo lý, vừa là phương pháp thực tế cuộc sống ở hiện tại. 4. Tứ Thánh đế là truyền thống chuyển bánh xe pháp của chư Phật: Mục đích ra đời của chư Phật là vì lợi ích, an vui cho chúng sinh, vì muốn cho chúng sinh thoát khỏi mọi mê lầm, đạt được trí tuệ giác ngộ viên mãn. Mỗi vị Phật đều có những phương tiện thiện xảo riêng biệt trên bước đường hoá độ nhưng đều nhằm vào mục đích làm cho chúng sinh khai tâm mở trí, có sự nhận thức đúng đắn về thân mình, cũng như mọi hiện tượng xung quanh để từ đó xác định cho mình một thái độ sống sao cho phù hợp, tích cực, ngõ hầu có thể "ly khổ đắc lạc", đạt được giác ngộ giải thoát. Chính vì vậy, chuyển bánh xe pháp sau khi thành đạo là việc làm thiết yếu, là truyền thống quý báu, là hạnh nguyện cao cả của chư Phật, bài pháp đầu tiên của hết thảy chư Phật khi chuyển bánh xe pháp cũng chính là pháp Tứ Thánh đế. Trong kinh Đại Bản Duyên – Trường A Hàm, Đức Phật dạy: “......Đức Phật Tỳ Bà Thi bèn đến thành Bàn Đầu chuyển bánh xe pháp độ cho hai người là Chất Sa và Kiển Trà. Bài pháp đầu tiên chính là Tứ Thánh Đế: Khổ Thánh đế; Khổ Tập Thánh đế; Khổ Diệt Thánh đế và Xuất Yếu Thánh đế”. Trong kinh Phân Biệt Thánh Đế - Trung A Hàm cũng dạy: “Đây là sự công bố chính pháp tối thượng, tức là công bố Bốn Thánh Đế; Đó là sự thâu nhiếp toàn diện, là sự quán chiếu toàn diện, là sự phân biệt, là sự phát lộ, là sự khát ngưỡng, là sự thi thiết, là sự hiển thị, là sự thú hướng. Trong quá khứ các đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước Đẳng Chính Giác cũng đã có sự công bố chính pháp tối thượng này, tức công bố Bốn Thánh Đế... Trong đời vị lai, các đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước Đẳng Chính Giác cũng sẽ công bố Chính pháp tối thượng này, tức là công bố Bốn Thánh Đế .... Trong đời hiện tại, Ta là đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước Đẳng Chính Giác cũng sẽ công bố Chính pháp tối thượng này, tức là công bố Bốn Thánh Đế” Như vậy, truyền thống chuyển bánh xe pháp với pháp môn Tứ Thánh đế luôn luôn được chư Phật từ quá khứ đến chư Phật trong hiện tại và chư Phật đời vị lai giữ gin, tiếp nối. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng vì một đại nguyện mà sinh vào cõi Ta Bà ngũ trược này để cứu khổ chúng sinh. Ngài đã vạch ra một lối đi đúng đắn, thánh thiện để cho chúng sinh biết nẻo quay về, cải hoá tự tâm, tìm lại chân như thanh tịnh của chính mình. Ngài đã nối tiếp truyền thống quý báu của chư Phật, đã chuyển pháp luân nơi trần gian này với bài pháp đầu tiên đó là Tứ Thánh Đế. Tứ Thánh đế là giáo lý truyền thống mà ba đời chư Phật sau khi thành đạo đều thuyết giảng như là bài pháp đầu tiên, điều này đã được Đức Phật khẳng định: "Như các Phật đã nói Suy nghĩ việc đó rồi Liền đến thành Ba Nại Các tướng pháp tịch diệt Bèn dùng sức phương tiện Vì năm Tỳ kheo nói Đó gọi chuyển pháp luân Bèn có tiếng Niết bàn". 4.1. Tứ Thánh đế là giáo lý nền tảng của Đạo Phật: Giáo lý Tứ Thánh Đế là nền tảng của toàn bộ hệ thống giáo lý Đạo Phật. Bốn chân lý này đã được tự thân Đức Phật chứng nghiệm và truyền dạy lại. Có thể nói Tứ Thánh Đế không chỉ là bài pháp đầu tiên, mà đây là tư tưởng chính yếu, xuyên suốt trong 49 năm hoằng hoá độ sinh của Đức Phật, Tôn giả Xá Lợi Phất cũng đã khẳng định: “Này chư Hiền, cũng như dấu chân của các loài thú, thì dấu chân voi là bậc nhất. Vì sao thế? Vì dấu chân voi ấy rất to lớn vậy. Cũng vậy, này chư Hiền, có vô lượng thiện pháp, thì tất cả pháp ấy đều thâu nhiếp vào Bốn Thánh đế, đi vào trong Bốn Thánh đế; nghĩa là trong tất cả pháp, Bốn Thánh đế là pháp tối thượng bậc nhất”. Đồng thời, Đức Phật cũng đã lặp lại rất nhiều lần trong tạng kinh A Hàm rằng : "Ta chỉ nói khổ và con đường diệt khổ". Trong pháp môn Tứ Thánh đế, Đức Phật đã vận dụng lý nhân quả, bao gồm nhân quả thế gian và nhân quả xuất thế gian để trình bày để phân tích cuộc sống. Khổ não là quả sinh ra từ nhân tham ái, chấp thủ, vô minh. Niết bàn là quả sinh ra từ nhân Bát Chính Đạo. Bát Chính đạo là tám nguyên tắc sống chân chính, đem lại an vui và hạnh phúc cho con người. Tám điều kiện này giúp cho cuộc sống của mỗi con người ngày càng trở nên trong sạch và lành mạnh, có công năng hỗ trợ con người từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, có thể giải thoát khỏi các triền phược, nhiễm ô, xa lìa các dục. Trong Bát Chính đạo thì Chính kiến vừa là điểm khởi đầu, vừa là điểm then chốt nhất. Chính kiến là sự nhận thức đúng đắn, là trí tuệ. Nhờ có trí tuệ, con người mới có thể phân biệt được đâu là thiện pháp, đâu là ác pháp. Nhờ có trí tuệ mới đoạn trừ được các ác pháp, các lậu hoặc, các kiết sử..vv. và quan trọng hơn hết là nhờ có trí tuệ mới có thể tuệ tri được về Khổ - Khổ Tập – Khổ Diệt – Khổ Diệt Đạo một cách đúng đắn. Ngoài ra, Bát Chính Đạo còn có mối liên hệ mật thiết với ba môn học thù thắng của Đạo Phật, đó là Giới - Định - Tuệ. Ba môn học này là ba yếu tố chính giúp cho hành giả đoạn trừ phiền não, lậu hoặc, tâm được an nhiên tự tại đi vào Thánh đạo với các quả vị tương ứng. Như vậy, Tứ Thánh Đế là pháp môn căn bản mà Đức Phật đã từng tu tập và chứng ngộ; Chư vị Thánh đệ tử và các vị Tổ sư từ xưa đến nay cũng đã từng nương theo pháp này mà tu tập và chứng đắc đạo quả. Đồng thời, bốn chân lý cao thượng này chính là giáo lý nền tảng xuyên suốt toàn bộ giáo lý của Phật giáo, từ Nguyên thủy cho đến Đại thừa. Đây là điểm mà không một ai, một bộ phái nào có thể phủ nhận. 4.2. Tứ Thánh Đế là phương pháp diệt trừ đau khổ đưa đến an lạc. Đức Phật đã xây dựng giáo lý Tứ Thánh Đế trên nguyên lý thực nghiệm và trị liệu để trị tâm bệnh cho chúng sinh. Trước hết Ngài chỉ ra cho mọi người thấy rõ căn bệnh của mình và nguyên nhân đưa đến căn bệnh ấy chính, sau đó Ngài diễn tả trạng thái khoẻ mạnh, hết bệnh và cách thức để trị cho hết bệnh. Khổ chính là một thực trạng hiển nhiên bao trùm lên tất cả mọi số phận, mọi chúng sinh từ vua quan cho đến thường dân, từ người giàu có sang trọng cho đến kẻ nghèo hèn, từ người khôn ngoan lanh lợi cho đến kẻ đần độn..vv. đều có những nỗi khổ riêng. Khổ vốn đã là căn bệnh trầm kha mà không ai có thể tránh khỏi, tuy nhiên mức độ còn tuỳ thuộc vào tâm lý, thái độ, cách tiếp nhận cuộc sống của riêng mỗi người. Cuộc sống vốn luôn luôn biến thiên, thay đổi, vô thường. Con người đã sinh ra thì phải lớn lên, nên quá trỉnh sinh già bệnh chết là một lẽ tất yếu. Đó là định luật tất nhiên mà mọi sự vật hiện tượng cho đến con người đều không tránh khỏi. Thế nhưng, do bởi tâm lý luyến ái, thích đeo bám vào những thứ mình vừa lòng thoả ý, không chịu chấp nhận sự thật, nên con người cảm thấy khổ đau. Như vậy, nguyên nhân gây ra sự đau khổ là do sự thiếu hiểu biết, dẫn đến tham ái và chấp thủ. Khi tham ái và thủ không được thoả mãn - bởi cuộc sống vốn dĩ vô thường, thì con người càng khao khát về nó, từ đó càng lún sâu vào khổ luỵ. Niết Bàn là cảnh giới an vui, tịch tĩnh, vắng bặt mọi khổ đau, không còn bị phiền não, tham, sân, si chi phối. Đây là một cảnh giới thực tại, vượt khỏi mọi tư duy, khái niệm hay ngôn ngữ, chỉ có ai tu tập thực nghiệm mới hiểu được, như người uống nước nóng hay lạnh thì chỉ người ấy mới có thể tự cảm nhận. Để đạt được cảnh giới Niết Bàn chỉ có một con đường duy nhất, đó là tu tập Đạo đế, mà căn bản là thực hành Bát Chính Đạo. Đây là tám cửa ngõ để dẫn dắt chúng sinh từ địa vị phàm phu tiến lên bậc Thánh, là tám yếu tố căn bản giúp cho mọi người thanh lọc tâm tư và hành động ngày càng trở nên lành mạnh, giản dị, hướng thượng và đầy đủ trí tuệ, để từ đó kiến tạo cho mình một đời sống an vui, hạnh phúc ngay tại thế gian này. Đức Phật là Bậc Đại Y Vương đã biết rõ chứng bệnh khổ đau của chúng sinh và đưa ra phương thuốc điều trị hữu hiệu, vấn đề còn lại là tự thân mỗi người có chịu uống thuốc để được lành bệnh hay không. Mỗi người đã thấy được nỗi khổ đau của đời mình chính là do vô minh, tham ái, chấp thủ gây ra thì cần phải tinh tiến tu tập. Cho nên Đức Phật dạy: “Hỡi các Tỷ khiêu, các thầy đừng để tâm trí vào những tư tưởng sau đây: Thế giới là hữu hạn; thế giới là vô cùng, điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là, ta dạy các thầy về Sự Khổ, Nguyên Nhân Sự Khổ, và Con Đường Đi Đến Diệt Khổ. Những điều đó có ích, vì chắc chắn sẽ đưa các thầy đến cứu cánh của giác ngộ và giải thoát vậy”. Theo Bát Thánh Đạo, chúng ta phải tích cực bồi dưỡng trí tuệ giải thoát của mình ngày càng sâu dày, để không còn bị bóng tối của vô minh che lấp. Chúng ta lại càng biết rằng tâm lý ái thủ không phải tự nhiên mà có, lại càng không phải là bản chất của con người, mà nó chính là kết quả của một chuỗi vận hành tương tục theo lý nhân duyên (Vô minh – hành - thức- danh - sắc - lục nhập – xúc - thọ- ái …lão tử ). Vì thế, khi vô minh hết, thì ái thủ cũng không còn và những nỗi khổ đau của con người cũng được giải phóng. Đến lúc này đời sống của con người sẽ trở nên hài hoà, yên tĩnh và tràn đầy hạnh phúc. 4.3. Tinh Thần Thiết Thực Của Tứ Thánh Đế: Khổ Thánh đế được nêu lên trước nhất trong Thánh đế. Điều đó chứng tỏ, những lời dạy của đức Phật khởi hành từ thực tại khổ đau của cuộc đời, nhìn cuộc đời như là, đang là. Nhờ nhìn cuộc đời với cặp mắt tuệ quán như vậy, nên chúng ta dễ dàng tìm ra nguyên nhân của khổ đau đang có mặt trong chính cuộc đời này. Năm uẩn chính là khổ đau, mà nguyên nhân của khổ đau cũng ở ngay trong 5 uẩn. Và cũng từ 5 uẩn tràn đầy khổ đau này mà chúng ta có thể tìm ra con đường để dập tắt khổ đau và cứu cánh tận cùng sau khi dập tắt khổ đau tồn tại không ra ngoài thân năm uẩn này, hay nói đúng hơn, hạnh phúc và khổ đau đều hiện hữu ngay nơi tấm thân năm uẩn này, khi năm uẩn vận hành theo chiều sinh khởi của các nhân đưa đến đau khổ thì khổ đau hiện khởi, còn khi sự vận hành của thân năm uẩn theo chiều sinh khởi đoạn diệt mầm mống đau khổ thì hạnh phúc và Niết-bàn hiện hữu. Như Thế Tôn đã dạy: “Trong chính cái thân của ý thức dài một tầm này, Ta tuyên bố thế giới, sự chấm dứt của thế giới và con đường đưa đến sự chấm dứt của thế giới” (Kinh Anguttara-Nikaya). Khổ đau tồn tại ở cuộc đời thì rất đa dạng và hiện hành trên nhiều phương diện. Tùy theo mức độ cảm nhận của mỗi người. Khổ đau tuy nhiều, nhưng khi đi vào trong sự phân tích và định hình về Khổ Thánh đế, thì Phật giáo không liệt kê những khổ đau tưởng tượng, không đưa ra những nguyên nhân phi thực, cũng không đề ra con đường giải quyết khổ đau bằng con đường hành khổ, bằng sự cầu xin… không thực tiễn. Trái lại, Phật giáo chủ trương giải thoát có mặt trên cuộc đời này, có thể thực hiện được bằng chính nỗ lực đoạn trừ tham ái của con người. Điểm này nói lên tính chất rất là nhân bản, rất là nhập thế và rất là thiết thực với hiện tại của Phật giáo. Con người là gốc của khổ đau và cũng là của cơ sở của sự giải thoát ở nơi chính mình. 4.4. Tứ Thánh Đế Hàm Chứa Toàn Bộ Giáo Lý Phật Giáo: Trong suốt hành trình từ lúc thành đạo dưới cội Tất-bát-la cho đến lúc đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, Ngài đã lặp đi lặp lại nhiều lần mục đích về sự hiện hữu của Ngài ở cuộc đời trong suốt 45 năm thuyết pháp. Mục đích đó đã được đức Phật tuyên thuyết rất rõ ràng trong các kinh tạng Nikaya và Agama như sau: “Ta chỉ nói khổ và con đường diệt khổ”. Điều này đã minh chứng được tính thiết thực của giáo pháp đức Phật. Tính thiết thực đó thể hiện một cách triệt để, nghĩa là toàn bộ giáo lý đức Phật thuyết giảng đều được dung nhiếp vào trong Tứ Thánh đế. Thế nên, có lần tôn giả Xá-lợi-phất tuyên bố: “Tất cả các thiện pháp đều bao hàm trong Tứ Thánh đế”. Mặt khác, giáo lý này còn là giáo lý xuyên suốt, là sợi chỉ đỏ xâu kết những mảng giáo lý chưa được định hình trong các kinh điển, đúc kết lại thành những giáo lý cơ bản và triển khai thành các đề tài giáo lý tạo nên sự đa dạng, tùy theo sự phân tích trình bày mà giáo lý này được thể hiện trên các phương diện như là duyên khởi pháp, ngũ uẩn hay là tam pháp ấn… Vì vậy, tất cả các kinh điển Bắc tạng hay Nam tạng không vượt ra ngoài kết luận trên. Khi kinh bàn đến chứng ngộ chân tâm, chỉ bày chân cảnh hay Niết-bàn, thì kinh cũng sẽ đưa ra phương pháp đề cập đến vấn đế làm thế nào để đoạn trừ chấp thủ, đoạn trừ tham ái. Tức là bàn đến diệt đế, hoặc vừa “diệt đế” vừa “đạo đế” (chẳng hạn nói “ rời hết thảy các tướng chấp thủ” là ý nghĩa “diệt đế”, hành lục ba la mật là ý nghĩa của “đạo đế”). Bất cứ người nào, một khi thấu triệt được một đế trong Bốn Thánh đế thì cũng sẽ thông suốt các đế còn lại. Vì vậy, chỉ cần bàn kỹ một đế trong bốn đế là hiển bày toàn bộ Tứ đế; như Thế Tôn dạy: “Giáo lý Phật giáo, như đã được trình bày xây dựng trên nền tảng giới, định, tuệ là phần giáo lý thuộc “Đạo đế”. Do đó mà toàn thể giáo lý không đi ra khỏi giới vực tứ đế. Nói cách khác, toàn bộ giáo lý Phật giáo được thu nhiếp vào trong tứ thánh đế. Như các dấu chân của các động vật, được thâu nhiếp vào trong dấu chân voi” (kinh Dụ Dấu Chân Voi, Trung Bộ kinh). 4.5. Chứng ngộ Tứ Thánh đế: Có nhiều người trên con đường tìm hiểu các tôn giáo, do không hiểu rõ về Phật giáo cho nên khi tiếp xúc với giáo lý đạo Phật, thấy Phật giáo nói về Khổ Thánh đế, liền vội vàng kết luận rằng, Phật giáo là tiêu cực, là bi quan và yếm thế. Nhưng thật tế, nó không phải là như vậy. Bởi vì, Phật giáo không dừng lại ngay nơi Khổ đế, nếu Phật giáo dừng lại ngay nơi khổ đế chúng ta có thể cho là bi quan yếm thế, nhưng Phật giáo sau khi thấy khổ, không dừng lại nơi khổ mà tiến thêm một nấc thang nữa là cần phải diệt khổ, chấm dứt khổ. Nếu dừng ở khổ cho là bi quan đã đành, chẳng lẽ có con đường chấm dứt khổ mà cho là yếm thế, là bi quan thì điều này có đi ngược lại với lẽ thường tình hay không? Có đúng hay không? Sự nhận thức vội vả để kết luận đó chẳng qua chỉ là một sự khiên cưỡng, không hiểu biết. Bởi vậy, ở trên chúng ta đã lập luận một cách rõ ràng, thái độ sống bi quan hay tiêu cực, yếm thế chỉ là thái độ sống chứ không liên hệ gì đến phần nhận thức cũng như hành động của Phật giáo. Nhận thức về cuộc đời của Phật giáo là một nhận thức rất là khách quan và rất là như thật. Thái độ sống hay tu tập của Phật giáo là thái độ “trung đạo”, lìa xa các thái cực hành khổ hay phóng túng theo dục lạc. Lạc quan hay bi quan chỉ là một phạm trù đối đãi, không đúng với tinh thần Trung đạo của Phật giáo. Còn nếu cho rằng lạc quan là sống với tâm đầy trí tuệ và lòng tin giải thoát, thì Phật giáo là tôn giáo lạc quan. Trong một đoạn kinh Tương Ưng IV, đức Thế Tôn dạy về sự chứng ngộ Tứ Thánh đế, chúng ta lời dạy đó đến với con người tươi mát thế nào: “Này các Tỳ-kheo, ví như người sống trăm năm, có người đến nói với người ấy rằng: Này bạn! Vào mỗi buổi sáng, bạn sẽ đâm một trăm cây thương, vào buổi chiều bạn sẽ đâm một trăm cây thương… sau một trăm năm bạn sẽ giác ngộ Tứ Thánh đế mà trước kia bạn chưa được giác ngộ. Này các Tỳ-kheo, một số nghĩa lý như vậy có thể chấp nhận chăng…? Này các Tỳ-kheo, ta không tuyên bố rằng: nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỳ-kheo, ta đã từng tuyên bố rằng, nhờ lạc và hỷ mà Bốn Thánh đế mới được chứng ngộ”. Sự chứng ngộ Tứ Thánh đế có một phương pháp hành trì rõ ràng. Phương pháp đó được đức Phật triển khai trong phần Đạo đế, là 37 phẩm trợ đạo, rút gọn lại thành Bát Thánh đạo. Mà Tam vô lậu học, giới, định tuệ là nền tảng của toàn bộ giáo lý tu tập, là hình thức rút gọn Bát Thánh đạo thành ba chi. Ba chi này là giáo lý tu tập căn bản để thiết lập sự an tịnh nội tâm, hạnh phúc trí tuệ cho người con Phật. Người Phật tử đi trên lộ trình đầy an tĩnh do giữ giới, đầy hạnh phúc của hỷ, lạc và thiền định, đầy giải thoát sáng suốt và đầy niềm tin của trí tuệ. Con đường đầy hương hoa như thế được đặt ngay giữa lòng đời, thì làm sao có thể gọi Phật giáo là bi quan yếm thế được. 5. Ý nghĩa của Tứ Thánh đế đối với đời sống xã hội: 5.1. Ý nghĩa đối với xã hội: Thành tựu của khoa học kỹ nghệ đem lại cho con người có được một đời sống dồi dào về tiện nghi vật chất. Song cuộc sống vật chất phong phú, đa dạng đến mức phiền toái ấy đã làm cho con người ngày nay trở lại đối mặt với bao nỗi phiền muộn lo âu. Âm thanh ồn ào cuồng loạn, không khí ô nhiễm, sự mất cân bằng giữa không gian sinh thái và địa bàn cư trú đã gây nên cho con người ngày nay sự mệt mỏi cả về cơ thể lẫn trí óc. Thực trạng xã hội cũng cho thấy, trước sự hấp dẫn lôi cuốn của nền văn minh vật chất, con người càng trở nên có thái độ "Tôn vinh" vật chất khi ứng xử và thẩm định các giá trị khác. Lãng quên giá trị quý báu của nếp sống tâm linh màu nhiệm, không biết tìm về suối nguồn của hạnh phúc vô tận nơi chính mình, sự theo đuổi những khoái lạc cảm giác và việc tích lũy của cải đã trở thành mục tiêu chính của cuộc sống con người hiện nay. Vì vậy mà các tệ nạn xã hội xuất hiện và phát triển. Như sự tham nhũng hối lộ tràn lan khắp các quốc gia, sự cạnh tranh về quyền lợi kinh tế giữa các tập đoàn trong nước và giữa các quốc gia liên tục xảy ra, là động cơ cho những cuộc nổi loạn, chiến tranh triền miên tàn phá môi trường sống quanh mình. Họ đã quên mất rằng mình là một bộ phận không thể tách rời khỏi thiên nhiên cho nên hậu quả là họ phải đối mặt với khủng hoảng môi trường trầm trọng. Và đây chính là sự hiện hữu của Khổ Thánh Đế. Giáo lý Tứ Thánh Đế phân tích tất cả những hiện tượng không tốt đẹp ấy đều là biến tướng của sự tham ái, chấp thủ. Do tham ái, chấp thủ mà con người ta có thể làm bất cứ điều gì để đạt được những mưu toan vị kỷ của mình, bất chấp sự đau thương của người khác, sẵn sàng đưa họ vào ngõ cụt. Như vậy tham ái, chấp thủ chính là hiện hữu của Tập Thánh Đế. Tất cả những hiện tượng xấu ấy của xã hội sẽ chấm dứt khi nào lòng tham ái, chấp thủ của con người được diệt trừ. Chỉ khi con người giải thoát khỏi thám ái, biết sống một cuộc sống vô ngã vị tha, yêu thương cộng đồng, sẵn sàng chia sẻ ngọt bùi cho nhau thì mới có thể xây dựng được một xã hội an vui hạnh phúc. Đây cũng chính là ý nghĩa của Khổ Diệt Thánh Đế vậy. Sự ham muốn về vật chất đưa đẩy con người ngày mỗi đi xa hơn vào khổ đau. Với nếp sống "Thiểu dục tri túc", sự hài lòng với những nhu cầu cơ bản, giảm thiếu tối đa những đòi hỏi phục vụ bản thân, biết quân bình giữa đời sống vật chất khéo xây dựng cho mình một phương pháp kiềm tảo tâm tham muốn, không để chúng làm lũng đoạn tâm trí con người vì dục vọng cá nhân. Thiểu dục tri túc chính là con đường đưa đến hạnh phúc an lạc. Như Đức Phật đã khẳng định trong kinh Di Giáo: "Người biết đủ tuy nằm dưới đất cũng được an vui, người không biết đủ, dù ở thiên đường cũng không vừa ý". Đây chính là ý nghĩa của Khổ Diệt Đạo Thánh Đế. Nói chung, sống trong xã hội loài người thì ai cũng phải cạnh tranh để sống và do cạnh tranh để mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho mình nên dễ phát sinh nhiều hiện tượng không tốt đẹp. Để diệt trừ được những điều này và xây dựng một cuộc sống thực tại an lạc thì chúng ta phải biết áp dụng triệt để giáo lý Tứ Thánh Đế vào cuộc sống xã hội. 5.2. Trong lĩnh vực chính trị: Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước.[9] Trong lĩnh vực chính trị, nếu không có cái nhìn đúng đắn (chánh kiến) thì sẽ phạm nhiều sai lầm lớn, không những chỉ riêng cho bản thân mà dẫn đến thiệt hại cho toàn xã hội (khổ đế). Nhiều quốc gia do lòng tham thúc đẩy muốn chiếm lĩnh lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên của quốc gia khác (tập đế) nên đem quân sang xâm lược, gây ra chiến tranh, chết chóc, lầm than đau đớn cho nhân dân cả hai nước (khổ đế). Nếu Quốc hội của các quốc gia nhận ra được rằng lòng tham đưa con người đi đến chỗ hoại diệt tư cách đạo đức, nhân tính, nhân bản, giết chết lòng từ bi tối thiểu của một con người (tập đế) thì sẽ tìm ra giải pháp thích hợp để đem đến hoà bình, hạnh phúc cho người dân nước mình (diệt đế) mà không cần đi con đường bạo lực, bởi vì: “Không có tài sản vĩnh hằng, chỉ có sự quản trị giỏi được sử dụng như là phương thức và công cụ để làm chủ sở hữu tài sản trong một không gian và thời gian tương đối”.[10] Do đó, chánh kiến đặt trên nền tảng nhận thức về vô ngã, tất cả tài sản chúng ta có được chỉ là công cụ giúp chúng ta có được hạnh phúc chứ không phải là bản chất của hạnh phúc (đạo đế). Mong cầu hạnh phúc riêng cho bản thân mà gây đau khổ, phá tan hạnh phúc của người khác như vậy thì hạnh phúc mà chúng ta có được không thể nào tồn tại lâu dài và trọn vẹn. Hiểu được điều này, các nhà lãnh đạo quốc gia sẽ tìm được giải pháp thích hợp để xây dựng đất nước giàu mạnh trên nền tảng đạo đức, hoà bình, dân chủ, văn minh (diệt đế). 5.3. Ý nghĩa trong giáo dục con người: Là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người học theo hướng tích cực. Xét về người học, trong quá trình tìm cầu học vấn nếu không tìm được vị Thầy như ý, đủ bản lãnh, kiến thức và tài đức chỉ dạy cho mình hầu thỏa mãn lòng khát khao học hỏi, người ấy sẽ đi tìm kiếm mãi trong sự chờ đợi, mong cầu. Nếu không tìm được vị Thầy như ý thì trong lòng cảm thấy hụt hẫng và chán chường, sự khát khao không được thoả mãn, mặc dù sự khát khao về tri thức là mong muốn tốt đẹp nhưng nếu không đáp ứng được thì con người vẫn chịu đau khổ, dày vò (cầu bất đắc khổ). Đặt trường hợp chúng ta tìm được vị Thầy lý tưởng cho mình thì sao? Những khó khăn, gút mắc trong quá trình học ít nhiều sẽ xảy ra như quan hệ không tốt giữa bạn bè, huynh đệ hay đối mặt với nhiều lĩnh vực tri thức không nằm trong khả năng của mình sẽ dẫn đến tâm lý u buồn, ngao ngán, chán nản, bi quan… (khổ đế). Nguyên nhân của nỗi khổ ấy là do ta không quyết tâm học, nhớ nghĩ về việc rong chơi, ăn ngủ hơn việc học hoặc yếu hèn không vượt qua được những khó khăn trên bước đường tầm cầu tri thức (tập đế). Nếu muốn học đến ngày thành công viên mãn, kiến thức dồi dào, học vị nâng cao, khả năng đầy đủ (diệt đế) thì cần phải nỗ lực tinh tấn hết mình, siêng năng học tập (đạo đế: chánh tinh tấn), phải thấu suốt rõ ràng việc học rất cần thiết cho tương lai sau này (chánh kiến) để trong tâm lúc nào cũng chỉ tập trung vào việc học mà không suy nghĩ những điều lung tung khác (chánh tư duy). Giáo dục thời đại ngày nay tương đối phát triển thuận lợi hơn so với trước đây. Tuy nhiên, mối quan hệ thầy trò cũng có phần suy giảm và được đánh đồng với việc thương mại tri thức. Người học trò chỉ biết bỏ tiền ra tìm cho mình một ông thầy đáp ứng đúng nhu cầu cho mình, và học. Học xong thì thôi, xem như việc mua bán đã xong chứ tình thầy trò, sự kính trọng, quan tâm lẫn nhau hầu như vắng mặt. Nhiều trường hợp thầy giáo không làm vừa lòng học sinh còn bị học sinh nạt nộ, hăm doạ, thậm chí đánh đập, sỉ nhục trước đám đông (khổ đế). Tình trạng này ngày nay đôi lúc vẫn xảy ra và bị xã hội lên án. Để chấm dứt tình trạng này, giúp tình cảm thầy trò thân thiết nhau hơn, trò giữ lòng tôn kính với thầy (diệt đế) thì cha mẹ cần giáo dục con cái khi còn thơ ấu, người thầy cần giáo dục học trò của mình ngay từ đầu để diệt tận gốc tánh kiêu căng, ngã mạn, ngang tàng của học trò (tập đế) ngay từ trong trứng nước. Cần giáo dục thế hệ trẻ trau dồi đạo đức, rèn luyện nhân cách để xứng đáng làm vai trò lãnh đạo đất nước mai sau (đạo đế). 5.4. Ý nghĩa đối với Y học: Sanh, lão, bệnh, tử là chu trình của tất cả chúng sanh, bởi vì: “Phàm hễ có thân thì có bệnh, Nếu mà không bệnh cũng không thân” Tuổi cao già yếu, tật ngấm cao hoang; bốn chi mỏi mệt, mạch lạc khó thông; trăm đốt rã rời lạnh nóng chẳng thuận. Tính chân thường đã mất, nguồn điều xướng cũng sai. Đứng ngồi khó khăn, co duỗi đau khổ. Mạng tựa ngọn đèn trước gió, thân như bọt nước trên ao [12] (khổ đế). Tuy nhiên, cái khổ về thân nếu biết điều chỉnh và quán chiếu thì sẽ không đem đến cái khổ về tâm. Nếu một người bệnh không chấp nhận cái bệnh như là một việc tất nhiên trong kiếp người, còn chấp thân này là thân thật có của mình thì người ấy sẽ đau đớn, bứt rứt và không bằng lòng với những gì đang phải chịu đựng trong hiện tại (tập đế). Khi uống thuốc, chữa trị đúng phương pháp xong (đạo đế) thì người bệnh sẽ hết đau khổ vì bệnh tật hành hạ (diệt đế). Tuy nhiên, đau khổ về thân có thể trị được chứ nỗi đau trong tâm hồn thì khó mà chữa trị. Muốn đem lại an lạc cho người bệnh (diệt đế), người bác sĩ còn phải là một chuyên gia tâm lý để giải quyết tận gốc những nỗi đau trong tâm tư bệnh nhân, giúp bệnh nhân có niềm tin nơi bác sĩ và bản thân để vượt lên nỗi đau hiện tại bằng cách thăm hỏi, an ủi, động viên bệnh nhân (chánh ngữ), như vậy mới xứng đáng là “lương y như từ mẫu”. Dẫu biết rằng trong thời đại ngày nay thật khó tìm ra một vị bác sĩ như thế thì bản thân người bệnh cần có những người thân đồng tình và ủng hộ mình, đồng thời tự mình có chánh kiến và chánh tư duy để vượt qua những giây phút đau đớn ấy. 5.5. Ý nghĩa đối với gia đình: Gia đình là một tế bào của xã hội và gồm những người thân thuộc cùng chung một huyết thống, cùng chung sống với nhau. Do đó đây là nơi tập trung yêu thương, cùng nhau giải quyết khó khăn. Mặc dù vậy nhiều lúc trong gia đình vẫn hay xảy ra những bất hoà giữa vợ chồng và chồng, giữa cha mẹ và con cái, anh chị em với nhau ..v.. Đó là ý nghĩa của Khổ Thánh Đế. Sở dĩ có những bất hoà ấy là vì: - Nơi ăn chốn ở không được sắp xếp một cách tương đối đồng đều, người thì chiếm một chỗ quá tốt đẹp, người thì phải ở chui rúc trong xó tối. Người thì giường cao nệm ấm, người thì toàn đồ cao lương mỹ vị, người thì ăn uống kham khổ thiếu chất. Con cái trong nhà đứa được yêu thương thì quần là áo lượt, trang sức đầy mình, đứa bị ghét bỏ thì quần áo lôi thôi, xốc xếch. - Hay lời ăn tiếng nói không giữ gìn suôn sẻ với nhau. Kẻ trên lấn át người dưới, người dưới trái lại thiếu lễ độ, cộc cằn, thô lỗ với người trên. Lời qua tiếng lại chán thì chân tay qua lại cho đỡ buồn chẳng ai chịu thua ai, kẻ thì tám lạng người thì nửa cân vậy. - Có thể tình ý xung đột vì tham lam, giận giữ, kiêu mạn, nghi ngờ, ý kiến không cởi mở, chấp chặc thành kiến của mình, bao giờ cũng cho mình là phải và kẻ chung quanh là trái. Thiếu tinh thần tự phê, tinh thần phục thiện. Do đó, mặc dù ở với người thân mà tiến hẳn sự thông cảm. - Hoặc không tuân theo kỷ luật gia đình, nề nếp gia phong và nhất là nếp sống mới của gia đình văn hoá Việt Namngày nay như: nề nếp, kỷ luật, truyền thống, sự giáo dục và thực thi nghĩa vụ công dân. Thay vào đó là sống một đời sống bừa bãi, ăn chơi đua đòi, lười biếng phóng túng, sa đọa..vv. muốn làm gì thì làm, chẳng có ai ngăn cản nổi. Nếu như mà có ai ngăn cản thì sẵn sàng nghênh chiến ngay, không từ chối một thủ đoạn và hành động nào miễn là đạt được ý nguyện điên rồ của mình. - Hay là kiến thức quá chênh lệch: Chồng học hành thông thái, vợ thì không biết gì hết và trái lại; anh em có người học rộng biết nhiều, có người thì một chữ cắn đôi không biết. Sở dĩ có tình trạng chênh lệch về kiến thức như thế là vì người biết nhiều nhưng ích kỷ, không chỉ bảo, hướng dẫn, kèm cặp cho người đi sau chậm tiến, hay trong gia đình chỉ ưu tiên cho một số người nào đó thôi và cũng có thể là do cách suy nghĩ còn lạc hậu của gia đình phong kiến như con gái thì học hành làm gì. Sau về nhà chồng thì cũng chỉ nấu cơm rửa bát, sinh con đẻ cái mà thôi ... Đây cũng là nội dung của Khổ Tập Thánh đế. Chỉ khi những nguyên nhân trên không còn hiện hữu thì cuộc sống gia đình mới được đầm ấm yên vui. Đây là ý nghĩa của Khổ Diệt Thánh Đế. Để giải quyết những mâu thuẫn trên một cách triệt để thì phải áp dụng tinh thần Lục Hoà Cộng Trụ thì mới ngõ hầu đem lại sự an lạc hạnh phúc cho gia đình. Đây là ý nghĩa của Khổ Diệt Đạo Thánh Đế. Nói chung trong đời sống gia đình còn rất nhiều vấn đề mà nó còn có thể là ngòi nổ cho những cuộc khẩu chiến và thượng cẳng chân hạ cẳng tay đối với nhau. Như sự chênh lệch tuổi tác giữa vợ và chồng, chênh lệch về học vấn, người ở thành thị, người ở nông thôn. Không còn cách gì khác chúng ta phải đem giáo lý Tứ Thánh Đế vào để dẹp bỏ những mâu thuẫn gia đình. Triệt để được nguyên nhân gây ra mâu thuẫn và tìm ra phương pháp để tạo dựng một cuộc sống gia đình hạnh phúc an vui. 5.6. Ý nghĩa đối với cá nhân mỗi người: Mỗi cá nhân là một thành viên của một gia đình và cũng là một thành viên của xã hội. Cho nên một cá nhân tốt là một gia đình tốt, một xã hội tốt. Một cá nhân tốt là cá nhân sống xa lìa tâm lý xấu luôn phát huy tâm lý tốt, áp dụng những tâm lý tốt vào cuộc đời. Còn những tâm lý xấu thì phải loại bỏ. Những gì là tâm lý xấu? Đó là những tham ái, giận hờn, si mê ..vv. Nhưng phải làm thế nào, bằng cách nào để loại bỏ những tâm lý xấu ấy? Phương pháp hữu hiệu ở đây chính là sử dụng pháp môn Tứ Thánh Đế. Ví như một người bỗng nhiên tức giận, đấy là biểu hiện của Khổ Thánh Đế. Muốn đi ra khỏi cơn sân giận ấy người ấy phải bình tĩnh tìm hiểu xem nguyên nhân, lý do nào mà mình nổi sân. Ví dụ như bị một người khác vô cớ quyền rủa. Sở dĩ sân hận là do chấp vào âm thanh, gọi là lời nguyền rủa kia, chấp rằng mình có tự ngã và tự ngã này bị gây tổn thương bởi các âm thanh nguyền rủa ấy. Đây là Khổ Tập Thánh Đế. Khi đã thấy rõ Khổ Tập Thánh Đế và có quyết định loại bỏ sân hận kia thì ta chỉ cần thay đổi cách nghĩ của mình: Nhìn các âm thanh kia chỉ là hơi gió thoảng, hay nó chỉ là những từ rời rạc vô nghĩa sao mình lại tự cho đó là những lời nguyền rủa. Quan sát như vậy thì tự nhiên chấp nhặt ấy của ta biến mất và cơn sân giận ấy liền tiêu tan. Đây là ý nghĩa của Khổ Diệt Thánh Đế, và cách lập luận để đi đến dập tắt cơn sân giận ấy chính là Khổ Diệt Đạo Thánh Đế. Đối với các tâm lý xấu khác cũng tương tự như vậy. Như vậy Tứ Diệu Đế không chỉ có ý nghĩa thiết thực đối với xã hội, đối với gia đình mà nó còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với từng cá nhân một trong việc diệt trừ cảm thụ, tâm lý xấu, để đạt được những tâm lý tốt, sống một cuộc sống an lạc ngay giữa cõi đời này. 5.7. Trong lĩnh vực kinh tế: Công nghiệp:Công nghiệp là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được chế tạo hay chế biến cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh hoặc các lãnh vực khác. Trong các ngành công nghiệp lớn hiện nay tại Việt Nam và trên thế giới đang phát triển mạnh theo hướng đầu tư khoa học công nghệ từ thành thị đến nông thôn. Tuy nhiên đằng sau sự phát triển mạnh mẽ đó, khí thải, chất độc, khĩi nh my tuôn ra (tập đế) làm ô nhiễm môi trường, sự sống người dân bị ảnh hưởng (khổ đế). Muốn giúp con người có cuộc sống trong lành (diệt đế), hoàn toàn không có sự ô nhiếm đó, ngành công nghiệp cần khắc phục bằng cách giảm hiệu ứng nhà kính, giảm sử dụng nhiên liệu hóa thạch và thay bằng sử dụng năng lượng mặt trời, gió, không được đưa chất thải ra môi trường sống… (đạo đế). Nông nghiệp:Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt vàchăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Tuy nhiên, người nông dân luôn bận rộn, dầm mưa dãi nắng, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, thức khuya dậy sớm, bận bịu suốt ngày (khổ đế) để lo cho bản thân và gia đình (tập đế). Tuy nhiên, khi mùa màng thất bát, sâu rầy, cỏ hại lúa, thời tiết không thích hợp…(tập đế) thì người nông dân càng đau khổ hơn (khổ đế). Để khắc phục hậu quả này giúp người nông dân cải thiện đời sống của mình (diệt đế), trước tiên cần đưa khoa học kỹ thuật thích hợp vào nông nghiệp: máy cày, máy cấy, máy tuốt lúa, máy bơm nước, tạo ra các giống cây thích hợp với thời tiết, tăng năng suất, phát triển nông nghiệp (đạo đế). 6. Tầm quan trọng của Giáo lý Tứ đế và ứng dụng Đạo đế trong cuộc sống tu tập bản thân: Đức Phật dạy rằng: “Chư Hiền giả, ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất trong tất cả dấu chân về phương diện to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Bốn Thánh đế”. Từ đó chúng ta thấy rằng giáo lý Tứ Đế vận hành khắp mọi lãnh vực của cuộc sống và là nền tảng căn bản trong giáo lý đạo Phật. Trong việc tu học và nghiên cứu: là thế hệ hậu học, người viết tự nghĩ rằng mình cần phải hiểu r khổ v nguyn nhn của khổ để tinh tấn nỗ lực cơng phu tu tập, học và nghiên cứu kinh điển đng với Đạo đế m đức Phật đ dạy để diệt khổ, bởi vì “trong toàn bộ giáo pháp không có điều nào không hợp với lý trí hay không thể thực hành”, trui rèn kiến thức cho bản thân, tư duy, quán chiếu, xem xét và ứng dụng những gì đã học vào cuộc sống tu tập để tự thốt khổ v sau này trên bước đường hoằng pháp lợi sanh có đủ tài đức để đem sức mình phục vụ chúng sanh, cúng dường chư Phật, không phụ lòng mong mỏi của Thầy Tổ. 6.1. Trong quan hệ với những người chung quanh: 6.1.1. Tứ Diệu Đế đối với người học Phật: Tứ Diệu Đế là giáo lý căn bản của đạo Phật. Có một số quan điểm cho rằng giáo lý Tứ Diệu Đế là của Tiểu Thừa. Điều đó không đúng, giáo lý Tứ Diệu Đế là của chung cho cả Tiểu Thừa, Đại Thừa và cho tất cả các pháp môn khác. Vì vậy bất cứ hành giả hoặc Phật tử nào muốn con đường tu hành của mình có kết quả chắc chắn thì không thể không học Tứ Diệu Đế, bởi vì pháp môn này là giáo lý căn bản ban đầu của người học Phật, dù kết quả của nó có chậm nhưng rất chắc. Pháp môn này không đưa hành giả và Phật tử đến thẳng quả vị Phật ngay, nhưng nếu với một quyết tâm tu hành tinh tấn, pháp môn này có thể đưa người tu hành đến quả vị A La Hán. Và từ quả vị A La Hán, hành giả sẽ tiến lên đến quả vị Phật, nếu quyết tâm thực hành các pháp môn khác của Đại Thừa. Một điều quan trong nữa là với pháp môn Tứ Diệu Đế, bất cứ với một căn cơ nào hoặc trình độ nào, người tu hành cũng có thể theo pháp môn này được, chứ không cần phải có một trình độ học thức cao mới có thể thực hành được. Tứ Diệu Đế là một pháp môn cho mọi giáo phái của Phật giáo dù Đại thừa hay Tiểu thừa, dù Nam tông hay Bắc tông, dù Tịnh độ, Thiền tông hay Mật giáo. Vì thế ngày nay giáo lý Tứ Diệu Đế được phổ biến nhất trên thế giới, cho nên các nhà nghiên cứu Phật học kể cả các nhà tu hành đều đề cao vị trí quan trọng của Tứ Diệu Đế. 6.1.2. Việc hành trì giáo lý Tứ Diệu Đế: Chính do địa vị quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế, giáo lý căn bản và đầu tiên của đạo Phật trong Kinh Chuyển Pháp luân, nên các nhà tu hành và các Phật tử đều cần phải biết cách hành trì giáo lý này. Như trên đã nói người Phật tử (kể cả xuất gia và tại gia) không thể không biết đến giáo lý Tứ Diệu Đế. Có thể nói không hiểu Tứ Diệu Đế tức là không hiểu biết gì về giáo lý của đạo Phật cả. Mọi con người, ai cũng có nỗi khổ và ai cũng biết ở trên đời này là khổ. Đức Phật đã từng nói : “Cuộc đời là biển khổ”. Và cũng có nhà hiền giả nói rằng : “Đời là đau khổ, ai không chịu đựng được đau khổ thì đừng làm người”. Nỗi khổ trên đời là một sự thật, một chân lý. Song ta phải thấy không phải mọi người đều hiểu nỗi khổ trên đời như nhau. Là người học Phật, nhà tu hành cũng như Phật tử muốn hiểu sâu sắc về nỗi khổ trên đời, không gì hơn là hãy lắng nghe và tìm hiểu những gì Đức Phật nói trong Khổ đế, bởi vì chỉ có trong Khổ đế của Tứ Diệu Đế mới nói một cách rõ ràng và đầy đủ về mọi nỗi khổ ở trên đời. Do thấy được mọi nỗi khổ thực chất hành hạ mình, thì ta mới cần tìm hiểu vì đâu lại có những nỗi khổ đó, đâu là nguyên nhân sâu xa của các nỗi khổ. Và nếu có thấy được nguồn gốc của nó, ta mới có thể tìm cách để diệt trừ nó tận gốc. Chính vì vậy mà trong Tập đế, Đức Phật đã nói một cách rõ ràng, đầy đủ và chính xác những nguyên nhân, nguồn gốc gây ra các nỗi khổ cho con người. Song, người Phật tử khi thấy được mọi nỗi khổ trên đời và nguồn gốc gây ra những nỗi khổ đó không phải để bi quan với cuộc sống, để chán nản, buồn rầu, rên siết như một số quan điểm cho rằng đạo Phật là bi quan, yếm thế. Những người cho rằng đạo Phật là bi quan, yếm thế bởi vì họ chưa tìm hiểu cái giá trị của các phần sau nói về Diệt đế và Đạo đế trong Tứ Diệu Đế. 6.1.3. Đối với Thầy Tổ và huynh đệ: Kính trọng, lễ phép, vâng lời thầy dạy, hầu thầy hết tâm ý, nói lời hoàhợp, chia sẻ hiểu biết Phật pháp, đoàn kết giúp đỡ nhau trong công tác và tu tập, thực hành pháp Lục hoà để tạo nn khơng khí hồ thuận với nhau trong tự viện. 6.1.4. Đối với người Phật tử: Tán thán việc công quả, phước đức của họ, khuyên tinh tấn đến chùa tụng kinh, niệm Phật, sống hoà hợp với mọi người, bảo vệ hạnh phúc gia đình… Lời khuyên phải từ hoà, nhẹ nhàng, chia sẻ, an ủi khi cần thiết. 6.1.5. Đối với các tôn giáo bạn: Trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, không khiêu khích, châm biếm, chỉ trích, ganh tỵ; cần hoà đồng, nhã nhặn vì lợi ích của quần chúng nhân dân, giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết. Đời sống nhân loại càng phát triển theo xu thế tiến hoá toàn cầu nhưng nếu không có nền móng vững chắc đặt căn bản trên đạo đức, từ bi, trí tuệ thì sự phát triển lớn mạnh ấy như cây cao đong đưa trước gió, càng lên cao, càng yếu đuối dật dờ và khi gió bão nổi lên thì không cách nào thoát khỏi sự đổ vỡ. Người tại gia hay xuất gia luôn lấy tâm nguyện tự lợi, lợi tha làm mục đích. Do đó, giữa cuộc sống hiện đại, phát triển, đôi lúc con người cần phải dừng lại và chấm dứt sự tham muốn thấp hèn xuất phát từ lòng khát ái, ích kỷ của bản thân, đây được xem là giải pháp tối ưu, sáng suốt cho những ai muốn cuộc đời mình trôi qua thong thả, nhẹ nhàng, không vướng mùi đau khổ. Từ đó ta hiểu được bản chất của đời sống và bốn chân lý cao thượng này có mặt khắp mọi nơi, bao trùm tất cả đời sống vạn vật, từ đó, ta cần phải biết chiêm nghiệm, tư duy, tu tập tinh cần hơn nữa. Cần phải liễu tri và áp dụng Tứ Diệu Đế, chiêm nghiệm, quán sát và nhận ra bản chất của cuộc đời để biết được đâu là con đường chân chánh, đúng đắn mà mình cần nỗ lực tinh tấn để đi theo, thực hành Đạo đế, diệt trừ nguyên nhân của khổ, không còn khổ nữa và đạt được an lạc Niết-bàn. 6.2. Làm thế nào để hiểu được sự mầu nhiệm của Tứ Diệu Đế trong cuộc sống ngày nay? Không nỗi bất hạnh nào có thể so sánh được, khi nghịch cảnh của cuộc đời đưa những bé thơ vào cuộc mưu sinh không Cha thiếu Mẹ. Những đứa trẻ đang lầm lũi với những ước mơ nhỏ bé của mình là mong được mọi sự giúp đỡ và được lớn lên trong vòng tay ấm áp của mọi người. Một dấu chấm hỏi lớn đặt ra giữa cuộc đời, trong tâm hồn non nớt, đang cần sự chia sẻ giúp đỡ hảo tâm của những tấm lòng Từ, Bi, Hỷ, Xả, muốn được cảm thông và sẻ chia cùng các em. Số phận nghiệt ngã của những đứa trẻ đang ở tuổi ăn chưa no, lo chưa tới, vẫn tin rằng, trên trái đất này, vẫn còn đâu đó, những bàn tay rộng mở sẽ nắm lấy những bàn tay côi cút, bé bỏng, để các em có cơ hội được sống và được thực hiện mơ ước nhỏ nhoi hiền hoà của mình. Người học Phật thấy khổ, hiểu được nguyên nhân của sự khổ, tìm cách giúp cho đỡ khổ, bằng những phương tiện mình có trong khả năng, thì đây cũng chính là sự áp dụng một phần của Tứ Diệu Đế mà Đức Phật đã dạy khi xưa, đi vào đời sống hiện thực ngày nay. Ngài cũng có nói rằng : Phải tự, sống, chiêm nghiệm, kiểm chứng, xác thực bằng bản thân cá nhân của mình trước, cho đến khi cảm thấy điều đó là Ngài nói đúng, thì mới đem chỉ cho người khác, để đạt được thành qủa giống như cái mình đã làm. 7. Triết lý giáo dục của Phật giáo: Tư tưởng nhà Phật không chỉ giúp cho con người nhận thức về mình, nhận thức về thế giới mà còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn.“Duy tuệ thị nghiệp” là một định hướng rất đúng đắn trong giáo dục Phật giáo. Từ xưa đến nay, đạo Phật luôn đề cao tinh thần vận động nhằm giúp con người đánh thức trí tuệ tiềm tàng của mình. Cách thức giáo dục này chính là tự giáo dục, tức là con người dựa vào nội lực của chính mình để phấn đấu vươn lên, dù bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng phải lấy trí tuệ làm đòn bẩy, chí có trí tuệ mới đem lại cho con người niềm vui sống đích thực, hiểu được giá trị của cuộc sống và biết thích ứng với môi trường xã hội. Quan trọng hơn,giáo dục đạo Phật chứa đựng cơ sở của một triết lý giáo dục toàn diện. Tính toàn diện được thể hiện qua việc diệt trừ vô minh, diệt trừ tham, sân, si..những nhân tố tạo nên sự bất ổn cho mỗi cá nhân và cộng đồng. Đạo Phật chủ trương diệt trừ tận gốc các nhân tố này để giải quyết mọi khổ đau cho con người không phân biệt bất cứ giai cấp, thành phần nào trong xã hội. Nhưng cốt lõi của giáo dục vẫn là “con người tự thắp đuốc mà đi”. Đó chính là vai trò của cá nhân. Đề cao nội lực cá nhân và ý nghĩa của tự thức tỉnh, thái độ giáo dục của Phật giáo thể hiện tính dân chủ, đạt đến sự hiển minh với tinh thần vô ngã, phá chấp và từ bi. Đây không phải là chủ thuyết vị kỷ mà ngược lại, chính việc phát huy tinh thần tự lực đã thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc. Trong kinh Dị giáo, Đức Phật còn đề cao mối quan hệ giữa thầy và trò trên tinh thần tự giác ngộ. Phương pháp giáo dục này vẫn còn giá trị thực tiễn cho hôm nay và mai sau. Chúng ta luôn đề cao vai trò chủ thể trong công tác giáo dục và tạo điều kiện cho người học nỗ lực vươn lên, chủ động trong việc tiếp nhận tri thức và khai minh cho trí tuệ mình. Nói về điều này, Đức Phật đã khẳng định vai trò định hướng dẫn dắt của người thầy: “Như người dẫn đường, chỉ dẫn đường cho mọi người, nhưng nghe lời rồi mà không đi thì lỗi không phải ở người dẫn đường”. Như vậy, triết lý giáo dục của Phật giáo lấy con người làm gốc. Dù mang tính tư tưởng nhưng phương pháp giáo dục hết sức khoa học. Ta có thể khái quát quan niệm giáo dục của nhà Phật như sau: giúp con người nhận thức về thế giới,về bản thân; từ sự nhận thức đó con người hiểu chính mình và tự điều chỉnh mình để vươn tới chân,thiện, mỹ. Con đường đến với tương lai của bất cứ tôn giáo nào cũng được tác thành từ những tín đồ của tôn giáo đó mà khởi đầu là cách giáo dục về bổn phận và trách nhiệm của tín đồ thông qua hệ thống giáo lý. Nhờ phương pháp giáo dục vừa khoa học vừa mang đậm giá trị nhân bản, triết lý giáo dục của Phật giáo đã vượt qua giới hạn của tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể để trở thành một cách thức giáo dục con người toàn diện. Qua những nhận định trên, ta có thể khẳng định tư tưởng Phật giáo nói chung và tư tưởng giáo dục của Phật giáo nói rieng thể hiện mục đích cao đẹp là cứu giúp con người, mong muốn loài người được sống trong xã hội giàu tình thương yêu và hạnh phúc hơn. Có lẽ chính vì điều đó mà triết lý giáo dục của Phật giáo có một sức sống lâu bền, trường cửu. 7.1. Tứ diệu đế - nội dung cơ bản của tư tưởng giải thoát trong Phật giáo: đạo Phật cho rằng vũ trụ này là vô thủy vô chung, vạn vật trong thế giới này chỉ là dòng biến hóa vô thường, duyên sinh vô định, không do một vị thần nào sáng tạo nên cả. Sở dĩ tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới này luôn biến đổi không ngừng nghĩa là bởi vì trong vũ trụ từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn đều không thoát khỏi luật nhân quả hay còn gọi là luật “Nhân duyên khởi ”. Theo triết lý này thì cái gì phát động ra ở vật, gây ra một hoặc nhiều kết quả được gọi là “Nhân” (hetu), cái gì được kết tập từ “nhân” gây ra thì được gọi là “quả” (phala). Còn “Duyên” (pratitya) lại chính là điều kiện là mối liên hệ để giúp “nhân” biến thành “quả”. Như vậy, “nhân” nhờ “duyên” mới thành “quả”, “quả” lại nhờ “duyên” mới biến thành “nhân” mới, “nhân” mới lại nhờ “duyên” mới biến thành “quả” mới. Cứ như thế mà thế giới nối tiếp nhau biến hóa vô cùng vô tận và vì vậy mà mọi sự vật hiện tượng cứ sinh sinh hóa hóa mãi, quá trình đó được Phật giáo gọi là “Chư hành vô thường”. Dừng ở đây, triết học Phật giáo có tính biện chứng vô thần sâu sắc. Trong sự vận động của thế giới sự vật hiên tượng, con người là một thực thể sống trong thế giới vận động đó. Do vậy, ngay chính bản thân con người cũng do “nhân – duyên” kết hợp mà thành. Con người được cấu tạo bởi hai thành phần thể xác và tinh thần, hai thành phần này là kết quả tan – hợp, hợp – tan của ngũ uẩn, duyên hợp ngũ uẩn lại thì ra “ta”, duyên tan ngũ uẩn thì không còn “ta”, mà là diệt. Nhưng đó không phải là sự mất đi mà là sự trở lại với ngũ uẩn và ngay cả mỗi yếu tố của ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) cũng luôn luôn biến đổi không ngừng theo luật nhân – quả. Như vậy, vạn vật chúng sinh cứ biến hóa vô thường, vụt mất vụt còn, không có thực thể, không có một hình thức nào tồn tại riêng lẻ và vĩnh viễn, không có cái tôi thường định, không có bản ngã hay cái ngã cá nhân bất biến (vạn pháp vô ngã). Nhưng do không thấy được nguồn gốc của sự biến đổi vô cùng vô tận của vạn vật và chúng sinh là do đâu và như thế nào, nên con người đã lầm tưởng rằng ta tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thường định, cái gì cũng là của ta, do ta. Vì thế mà con người cứ khát ái tham dục, dẫn đến hành động để chiếm đoạt để thỏa mãn những dục vọng của mình, tạo ra những kết quả gây nên nghiệp báo (Karma), mắc vào bể khổ trầm luân. Đức Phật cũng có dạy rằng: “Này chư Tỳ khưu, Như Lai không thấy dây trói buộc nào khác mà chặt chẽ cột trói chúng sinh lâu dài, dai dẳng, thênh thang và hối hả bất định xuyên qua vòng quanh những kiếp sinh tồn như trói buộc của ái dục. Quả thật vậy, này chư Tỳ khưu, bị thằng ái dục cột trói, chúng sinh lê bước thênh thang và hối hả bất định trong vòng luân hồi” . Ái dục chính là những khát vọng mù quáng của chúng sinh đã gây nên sân hận và tất cả mọi khổ đau phiền lụy. Vì vậy việc đầu tiên theo đức Phật, để giúp con người thoát ra được bể khổ triền miên đó là phải diệt ái dục; tiếng nói của sự giải thoát khổ đau phải là tiếng nói của duyên sinh vô ngã. Con đường giải thoát chúng sinh cũng như tư tưởng giải thoát khổ đau không chỉ thể hiện qua lý “Nhân duyên khởi” mà còn được thể hiện trong học thuyết “Tứ diệu đế” - tư tưởng xuyên suốt toàn bộ hệ thống kinh sách nhà Phật. Cùng với “lý nhân duyên khởi”, học thuyết “Tứ diệu đế” đã trở thành nền tảng cho giáo lý nhà Phật. Thông qua các thuyết này, Phật giáo không chỉ vạch rõ con đường, cách thức để giải thoát chúng sinh ra khỏi nghiệp báo luân hồi và những nổi khổ của cuộc đời con người, mà chúng còn tìm ra nguồn gốc của nỗi khổ của cuộc đời con người, chỉ ra căn nguyên biến đổi không ngừng của vũ trụ và thế giới. Chính ở đây chứ không đâu khác đã thể hiện rõ nét và tập trung nội dung tư tưởng giải thoát đặc sắc của triết lý Phật giáo. Triết lý Phật giáo phủ nhận thế giới quan thần quyền cũng như quan điểm về cái tôi cá nhân bất biến. Phật giáo không tán thành cách tu luyện ép xác khổ hạnh để có thể giải thoát (của đạo Jaina), cũng như phê phán chủ nghĩa khoái lạc vật chất (của trường phái Lokayata). Theo Phật giáo thì cả hai khuynh hướng đều không thể dẫn đến trạng thái diệt ái dục một cách trọn vẹn. Tu luyện khổ hạnh sẽ làm suy giảm trí lực do đó khó có thể đạt tới minh giác, còn nếu sa vào thế giới vật chất tức là đã sa vào thế giới vật dục, là đam mê theo đuổi cái giả tưởng, làm lu mờ tâm tính, điều này dẫn đến sự chậm trễ trong tiến bộ tinh thần. Vì vậy, theo Phật giáo con đường đúng đắn nhất để đạt tới giác ngộ và giải thoát là con đường trung đạo. Trong kinh Chuyển Pháp Luân đức Phật đã nói: “Người xuất gia có hai cực đoan cần tránh, một con đường thấp hèn chủ trương cuộc sống chỉ cần khoái lạc, một con đường cực nhọc vô ích như chủ trương của phái khổ hạnh ép xác. Con đường trung đạo thì ở giữa hai thái cực kia, có thể dẫn đến giác ngộ và giải thoát. Như vậy, đức Phật đặc biệt nhấn mạnh và nhắc nhở người xuất gia phải tránh những điều thái quá hay những điều cực đoan khi xác định con đường giải thoát chúng sinh. 7.2. Kết cấu bố cục tài tình của Tứ Diệu Đế: Giáo lý Tứ Diệu Đế được Đức Phật trình bày một cách khác thường với những điều thường gặp trong khi nói về một vấn đề nào đó. Thông thường khi nói về bất cứ một vấn đề gì, người ta thường nêu cái nhân trước vì cái nhân là nguồn gốc sinh ra cái quả. Bất cứ một sự vật nào cũng đều do nhân sinh ra quả, có nhân rồi mới có quả. Nhưng ở trong giáo lý Tứ Diệu Đế này, Đức Phật đã trình bày một cách ngược lại, nhưng đó lại là một điều kỳ diệu về phương pháp trình bày để người nghe, người đọc dễ dàng nhận thức, dễ dàng giác ngộ. Ngài nói cái quả trước rồi mới nói đến cái nhân, nói cái khổ trước (Khổ đế) rồi mới nói đến nguyên nhân gây ra đau khổ (Tập đế); nói cái cảnh vui thú an lạc sau khi đã diệt được khổ (Diệt đế) rồi mới nói đến con đường đạo dẫn đến diệt khổ tức cảnh Niết bàn đó (Đạo đế). Điều đó làm cho ngày nay, các nhà nghiên cứu Phật học ở phương Tây mỗi khi nói về Tứ Diệu Đế, thường ca ngợi cái bố cục, cái kết cấu kiến trúc của pháp môn này, ngoài việc tán thán cái nghĩa lý sâu xa, cái giá trị vi diệu của nội dung Tứ Diệu Đế . Trong Tứ Diệu Đế, thoạt tiên Đức Phật vạch cho chúng ta thấy mọi chúng sinh trên cõi đời đều phải chịu cái cảnh đau khổ triền miên bày ra trước mắt chúng ta (Khổ đế). Những cảnh khổ đau đó ai ai cũng đều có từ khi lọt lòng mẹ đến khi kết thúc sự sống. Cái khổ đó nó ở trong ngay con người chúng ta, bởi vì ai là người mà trong cuộc đời không một lần bệnh tật, ốm đau, ai là người không một lần vấp phải những trở ngại trong cuộc sống làm cho đau khổ. Ai là người không yêu, không ghét, không có người thân hay kẻ thù; ai là người thoát khỏi cái chết cứ tự nhiên sẽ đến làm cho sợ hãi, lo lắng, buồn khổ. Đó là một chân lý không thể nào khác được và không ai là không nhận thấy. Nó tồn tại ngoài ý muốn của con người. Tiếp đó Đức Phật mới nói đến cái nguồn gốc, cái nguyên nhân gây ra những nỗi khổ ấy (Tập đế). Như vậy từ một thực tại có đau khổ, Ngài mới chỉ ra cái lý do gây ra đau khổ. Mà cái lý do đó không phải ai cũng có thể biết ngay khi mình bị đau khổ. Cái nguyên nhân sâu xa nằm ở chỗ vô minh, cái vô minh đó ở ngay trong bản thân mỗi con người tự gây ra mà thôi. Đó là tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến. Những cái đó nó bám ta trong suốt cuộc đời. Sang đến phần thứ ba, đức Phật nói về những cảnh vui thú, an lạc sau khi đã diệt hết đau khổ (Diệt đế). Cảnh giới đó không có gì là viển vông. Một khi con người đoạn được mọi phiền não khổ đau và tâm trở thành thanh tịnh thì sẽ chứng được Niết bàn . Vì vậy khi đã diệt hết nỗi khổ thì đó là con đường đưa đến giải thoát giác ngộ và chính thật là Niết Bàn ở trong trần thế vậy. Do đó mà nhà Phật thường nói quê hương của Niết Bàn là trần thế. Đến phần cuối cùng, đức Phật hướng dẫn muốn thực hiện được cái vui, cảnh giới Niết bàn thì phải đi theo con đường tu hành (Đạo đế). Ở đây chúng ta thấy Đức Phật trình bày cảnh giới giải thoát trước, rồi mới chỉ ra phương pháp tu hành. Ðó là một phương pháp trình bày rất khôn khéo, đúng tâm lý. Bởi vì trước khi hướng dẫn người khác đi theo con đường nào, đến đâu thì phải nêu mục đích đến như thế nào để người ta suy xét, lựa chọn. Một khi người ta nhận thấy mục đích ấy cao quý, đẹp đẽ, người ta mới hăng hái, nỗ lực không quản khó nhọc, để thực hiện cho bằng được cái mục đích cao quý, đẹp đẽ ấy. III. KẾT LUẬN: Qua trình bày sơ lược về giá trị thực tiễn và ý nghĩa của Tứ Thánh đế đối với xã hội, chúng ta thấy rằng Tứ Thánh đế chính là giáo lý nền tảng xuyên suốt toàn bộ hệ thống giáo của Đạo Phật, từ Phật giáo Nguyên thủy, đến Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa. Cho dù ở thời đại nào, trên phương diện nào thì Tứ Thánh đế vẫn luôn luôn hiện hữu sinh động, bởi đó chính là thực tại cuộc đời. Cho nên không ai có thể phủ nhận được. Không chỉ là giáo lý nền tảng, mà Tứ Thánh Đế chính là con đường duy nhất để đi đến quả vị Phật, là phương pháp hay để xây dựng đời sống tâm linh thánh thiện, xây dựng xã hội hòa bình, an lạc. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải nhận thức rõ giá trị chân thực của giáo lý Tứ Thánh đế để áp dụng vào cuộc sống tu tập của mình, cũng như phổ cập vào nhân gian để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn mình. Đây là con đường duy nhất để chúng sinh thoát ly khỏi sinh tử luân hồi, bởi vì việc chúng sinh chịu cảnh sinh tử luân hồi hay hưởng an lạc giải thoát chính là việc có ngộ được chân lý Tứ Đế hay không mà thôi, điều này Đức Phật đã khẳng định rõ: "Xưa ta cùng các ông vì không ngộ Tứ Đệ nên bị sinh tử mãi. Nay đã ngộ Tứ Đệ nên không còn sinh tử, sinh tử hết rồi không còn thụ thân sau.". Trải qua hơn hai ngàn sáu trăm năm với biết bao hưng phế - thăng trầm của lịch sử nhân loại, chân lý Tứ Đế vẫn luôn sống động, hiện hữu và còn nguyên giá trị thuở ban đầu. Vì lẽ đó, lý Tứ Đế đã trở thành nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế qua bao thế hệ. Chân lý ấy vô cùng thâm sâm vi diệu mà cũng vô cùng thực tiễn, bởi nó không xa lìa thực thể khổ đau của con người mà luôn đối diện cùng đau khổ. Đó thực sự là những phương thuốc linh diệu để diệt trừ đau khổ, đem lại sự an vui, hạnh phúc chân thật cho nhân thế, giúp con người xây dựng một cuộc sống Chân – Thiện – Mỹ. Đối với những người đã biết rõ về khổ và thật sự muốn thoát khổ thì cần phải hiểu rằng Đức Phật chỉ dạy một chân lý duy nhất là Diệt Đế, sự diệt khổ, chứng Niết bàn, thành Phật. Như trong kinh Pháp Hoa, Ngài đã dạy: “Ta chỉ vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ra đời, đó là chỉ cho chúng sanh tri kiến Phật để ngộ nhập”. Tri kiến Phật đó là thấy rõ chỉ có một cái duy nhất chân thật là Niết Bàn, ngoài ra đều là giả dối hư huyễn. Chứng Diệt Đế, Niết Bàn có nghĩa là thấy rõ Khổ. Thấy rõ đây là thấy rõ nó không thật, chỉ hiện hữu một cách huyễn hoá, không thật. Vì khổ không thật có nên mới có thể đoạn trừ dễ dàng, nếu khổ là thật thì đoạn trừ cũng uổng công vô ích mà thôi. Khổ không thật có, nhưng ta vẫn thấy rõ ràng có khổ là vì sao? Tìm nguyên nhân, ta được biết cái sai lầm căn để là do ở lối nhìn của ta về thân, tâm, vũ trụ, một lối nhìn lệch lạc, bệnh hoạn đã thành tập quán nhiều đời nhiều kiếp. Vậy chỉ cần sửa cái nhìn lại cho đúng, cũng như hư không vốn không có hoa đốm mà người tự thấy ra có hoa đốm là vì mắt bị bệnh. Tập đế- nguyên nhân của khổ là nói về lối nhìn sai lạc ấy, căn để là thấy thật có cái tôi, sở hữu của tôi, thấy có một tự ngã tiếp tục. Muốn đoạn trừ lối nhìn sai lạc ấy cần chữa cái bệnh của con mắt, theo phương pháp của Phật dạy là Bát Chánh Đạo, đó phần thứ tư trong Tứ Diêu Đế. Vì lối nhìn quan trọng như thế nên đứng đầu Bát Chánh Đạo là Chánh Kiến tức là thấy cho đúng như thật. Thấy đúng như thật thì Niết Bàn chân thật được hiển lộ, Khổ, Tập tự tiêu tan, như khi mắt đã được chữa lành lặn bình thường thì bệnh mắt hết, mắt hết bệnh thì không còn thấy hoa đốm lăng xăng giữa hư không.” Là đệ tử Phật, chúng ta hãy lắng nghe, hãy suy gẫm lời đức Phật dạy về Khổ, về nguyên nhân của khổ, để từ đó diệt trừ đau khổ. Hạnh phúc không ở đâu xa, hạnh phúc hiện ở ngay nơi tầm tay, nếu ta biết buông bỏ đau khổ thì chắc chắn sẽ nắm bắt được hạnh phúc. Hạnh phúc không tùy thuộc vào những thế lực ngoại lai, mà nó ở ngay trong tâm của mỗi người, tâm ấy là tâm thuần tịnh, trong sáng, không ái nhiễm, không hệ luỵ, và cũng không mê mờ. Tóm lại: Tứ Thánh đế là giáo lý căn bản, được xem như là nền tảng và tối trọng yếu trong đạo Phật. Qua Bốn pháp này, Đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta biết thực tướng và thực tánh của các pháp. Rồi từ đây, đối với những cảnh sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, yêu thương xa lìa, oán thù gặp gỡ, thất vọng… sẽ không làm cho ta sợ hãi nữa mà biết chủ động để diệt trừ. Nếu những ai biết ứng dụng giáo lý vi diệu này vào trong đời sống thực tiển, kiên trì nỗ lực, tinh tấn hành trì thì nhất định tâm lành tăng trưởng, đời sống an lạc hơn và từng bước tiến vào quả vị giác ngộ, giải thoát. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Tương Ưng Bộ kinh V, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1992. 2. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ kinh I, II và III, Hoc viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 1993. 3. Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch, Diệu Pháp Liên Hoa kinh, NXB Tôn Giáo, 2004. 4. Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, NXB Tôn Giáo, 2002 5. . Hòa thượng Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1999. 6. Hòa thượng Thích Trí Quang dịch, Luật Sa Di và Sa Di Ni, 1996. 7. Thích Viên Giác, Phật học cơ bản, NXB Tôn Giáo 2003. 8. Trần Phương Lan dịch, Đức Phật lich sử, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2000. 9. Giáo trình Triết học Mác-Lênin, NXB Chính trị Quốc gia, 2006. 10. Phân viện nghiên cứu Phật học, Từ điển Phật học Hán Việt, NXB Khoa học Xã hội, 2004. 11. Đoàn Trung Còn, Phật học từ điển, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2005. 12. Ayya khema, Diệu Đạo dịch, Vô Ngã Vô Ưu, Thiền Quán Về Phật Đạo 13. Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ, Tập III, Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh, 1975. 14. Minh Chi, Thuyết Bốn Đế, Giáo trình giảng dạy TNS-HVPGVN Tại TPHCM,1996. 16. Đại Tạng Kinh VN, Tương Ưng Bộ, Quyển V, NXB Tôn Giáo, 2002. 17. Dhammananda, Nhuận Châu dịch, Làm Sao Tránh Khỏi Sự Sợ Hãi Và Lo Lắng, NXB Tổng Hợp TPHCM. 18. Trí Hải, Bóng Nguyệt Lòng Sông, NXB Tôn Giáo, 2004. 20. Thích Thiện Nhơn biên soạn, Đại Cương Luận Thành Duy Thức,Giáo trình giảng dạy TNS- HVPGVN Tại TPHCM, 2004. 21. Tarthang Tulku, Minh Chi dịch, Những Yếu Tố Căn Bản Để Sống Thanh Thảnh Và Nhẹ Nhàng, NXB Tổng Hợp TPHCM, 2004. 22. Thích Chơn Thiện, Phật Học Khái Luận, NXB TPHCM,1999. 24. Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Pháp Hoa, THPG TPHCM,1989. 25. Thích Thiện Siêu dịch, Kinh Pháp Cú, NXB Thuận Hoá-Huế, 1996. 26. Phật Học Phổ Thông, Thích Thiện Hoa, Quyển 1, nxb. Tôn Giáo, 2004 27. Vô Ngã Là Niết Bàn, Thích Thiện Siêu, nxb. Tôn Giáo, 2000 28. Kinh Bộ Tăng Chi, Thích Minh Châu, Tập 1, nxb. Tôn Giáo 2004 29. Phật Giáo Khái Luận, Thích Chơn Thiện, nxb Văn Hóa Sài Gòn 30. Chánh Pháp Và Hạnh Phúc, Thích Minh Châu, nxb Tôn Giáo 1995 31. Phật Học Từ Điển, Đoàn Trung Còn. nxb. TP. HCM, 1963

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét