THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016
NGŨ GIỚI PHẬT GIÁO ĐI VÀO ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI TRONG MỌI THỜI ĐẠI
NGŨ GIỚI PHẬT GIÁO ĐI VÀO ĐỜI SỐNG
CON NGƯỜI TRONG MỌI THỜI ĐẠI
I. DẪN NHẬP:
Đức Phật dạy ba cõi không yên, như ở trong nhà lửa, người muốn xa lìa cõi khổ, thì phải nương tựa Tam Bảo. Người muốn thoát khỏi bến sanh tử luân hồi, không thể bỏ qua sự thọ trì giới pháp mà được. Giới như chiếc bè báu đưa người qua bể khổ; giới như đất bằng phẳng, muôn vật đều từ đấy phát sinh; giới như ngọn đèn sáng, chiếu phá các chỗ tối tăm; giới là con đường tắt đưa đến cõi nhơn thiên.
Người Phật tử sau khi quy y rồi thì phải thọ ngũ giới. Ngũ giới là năm điều giới cấm mà một Phật tử tại gia phải thực hành. Người theo đạo Nho thì phải giữ gìn Tam cương, Ngũ thường còn người theo đạo Phật thì phải giữ gìn tam quy, ngũ giới. Năm giới là tiêu chuẩn căn bản tối thiểu của người Phật tử tại gia phải thọ trì. Đó không những là con đường đưa đến sự giải thoát mà còn có thể đem lại hạnh phúc, thanh bình cho nhân loại. Giữ gìn năm giới cũng như mua cho mình một chiếc vé xe vậy, vé xe đi đến đâu thì tuỳ vào nhu cầu của mỗi người. Thọ trì năm giới là một việc làm rất thiết thực và có lợi ích, mỗi Phật tử cần phải ghi nhớ.
1. Lý do chọn đề tài:
Đạo Phật có một sức sống dồi dào bất động, sức sống ấy là Chánh Pháp cũng chính là Giới. Giới là lộ trình sống thực của chân lý, được kết tinh từ nhân cách phẩm chất đạo đức, nhằm nuôi dưỡng lớn công hạnh tự lợi, lợi tha, một yếu tố tác thành Phật quả. Giới cũng chính là cơ năng nòng cốt để xây dựng trật tự kỷ cương, một con người toàn diện trong sáng, nâng cao trí thức, phát triển trí huệ. Thế nên, con xin chọn đề tài: “ Ngũ Giới trong cuộc sống đạo đức của người Phật tử tại gia”.
2. Phạm vi đề tài:
Đề tài này được tóm tắt trong 5 Giới của Phật tử tài gia, sự lợi ích về Giới Luật của Phật chế ra thì rộng mênh mông, nhưng với tầm hiểu biết hạn hẹp của mình con xin trình bày những ý như sau:
- Giới luật là nền tảng đạo đức của nhân sinh.
- Tầm quan trọng của Giới luật.
- Sự lợi ích của Giới Luật
3. Cơ sở tài liệu:
Để hoàn thành bài Tiểu Luận này con dựa vào giáo lý của Đức Phật không ngoài Kinh- Luật- Luận, Kinh tạng Nykàya, một số Kinh Luật Đại Thừa. Cũng như các quyển Luật do các bậc Tôn túc biên soạn, các tài liệu giảng dạy của giảng sư. Cộng với sự góp nhặt kiển thức thiển cận của con trong suốt ba năm học để triển khai nội dung bài viết này.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Bài tiểu Luận văn được trình bày theo phương pháp luận giải thích, chứng minh cùng với phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những tính chất đặc thù của đề tài được nghiên cứu. Quá trình này đòi hỏi người viết phải nghiên cứu Kinh – Luật – Luận để có những ý tưởng phong phú đặc sắc, và phải đi sát vấn đề cần làm.
Mặc dù dựa trên tư tưởng giáo lý của Phật giáo làm chuẩn, đồng thời cộng thêm những tác phẩm, các văn bản rất có giá trị. Dù cố gắng hết sức để trình bày nhưng cũng không khỏi sai lầm vì sự thô thiển yếu kém, kính mong thầy giáo thọ hoan hỷ chỉ dạy.
II. NỘI DUNG:
1. Ngũ giới là gì?
Một đoàn thể có tổ chức, có lý tưởng, có thành viên, phải có quy ước hoặc hiến chương của tổ chức ấy. Một tổ chức kiện toàn hay không chỉ cần xem các nội dung của quy ước hoặc hiến chương của nó có kiện toàn hay không. Một tổ chức có thành tích biểu hiện trác việt hay không, cũng do lý tưởng ở trong quy ước hoặc hiến chương định đoạt. Tất cả xã hội đều y theo lý tưởng riêng chế định quy ước hoặc hiến chương, nhưng muốn biết quy ước hoặc hiến chương có sinh ra được hiệu lực hay không còn phải xem nhân viên trong tổ chức đối với quy ước hoặc hiến chương kia có bảo vệ hoặc tuân hành hay không.
Trường học có học quy, đảng phái có đảng quy(1), học sinh có công ước tự trị. Cơ cấu huấn luyện có phép tắc học viên phải giữ, đảng phái có phép tắc đảng viên phải giữ; quân nhân, trừ quân pháp quân kỷ ra còn có phép tắc quân nhân phải giữ, thiếu sinh quân cũng có tín điều của thiếu sinh quân. Suy ra các công ước của quốc tế cho đến Hiến Chương Liên Hiệp Quốc đều đồng một tính chất. Mục đích chẳng ngoài nói về quyền lợi, nghĩa vụ và lý tưởng chung cùng theo đuổi của các phần tử hợp thành tổ chức.
Nhưng trên thế gian, dù công ước nào hiến chương nào cũng chẳng tồn tại mãi, cũng chẳng vĩnh cửu bất biến. Chỉ có giới luật của tín đồ tôn giáo là ngoại lệ. Tính chất của giới luật, tuy cũng tương tự như hiến chương công ước hoặc phép tắc phải giữ của tất cả các tổ chức xã hội, nhưng một tôn giáo có thể chẳng suy và càng truyền càng rộng cũng phải xem nội dung giới luật của tôn giáo ấy mà định. Từ khi có lịch sử đến nay, nhân loại trên thế giới đã trải qua không biết bao nhiêu tôn giáo. Nhưng, tôn giáo được nhân loại công nhận chỉ một số ít có thể đếm được. Bởi vì công dụng của giới luật chẳng những phòng ngừa sự hư hỏng của tín đồ, mà lại còn tăng tấn hạnh phúc của nhân loại đại chúng cho đến tất cả chúng sinh. Bằng không, tự nhiên cũng bị đào thải.
Tuy nhiên trừ Phật giáo ra, không có một tôn giáo nào khác có thể thích dụng với ý nghĩa của giới luật như nội dung của Phật giáo, song chúng ta lại không thể phủ nhận bộ phận giới luật của tôn giáo khác cũng có tác dụng.
Hai chữ Giới Luật là chữ Trung Quốc, ý nghĩa của hai chữ Giới Luật cũng khác nhau. Giới là điều chẳng nên làm. Luật là điều nên làm. Giới là chẳng nên. Luật là phải nên. Như vậy, Giới là sự gìn giữ của mỗi người, Luật là hoạt động của đoàn thể. Vì thế trong Phạn văn(2), Giới gọi là Thi la, Luật gọi là Tỳ nại da. Nhưng có lúc cũng đem hai nghĩa giới luật dùng chung, cho nên cũng không cần cắt đôi hai chữ giới luật ra định nghĩa.
Truớc tiên ta cần giải chữ giới. Chữ giới nghĩa là điều không nên làm thì đừng làm, cho nên cũng là một thứ hạn chế thuộc tiêu chuẩn đạo đức. Như thông thường nói giới cờ bạc, giới hút sách, giới uống rượu v.v… là một thứ hành vi câu thúc.
Chúng ta đã biết giới không phải là điều Phật giáo riêng có, các tôn giáo khác cũng có giới quy hoặc giới mệnh. Nhưng giới của Phật giáo cùng giới của tôn giáo khác chẳng hoàn toàn đồng nhau.
Chúng ta cần phải hiểu rõ một nguyên tắc là bất cứ tôn giáo cao cấp nào hữu ích cho nhân loại, tôn giáo ấy đều chẳng thể trái với tiêu chuẩn đạo đức của nhân lọai. Do đó, giới luật đươc chế ra cũng không sai biệt nhiều. Tuy nhiên, giới luật của Phật giáo có nhiều cấp bực từ thấp đến cao, dù là cấp bực thấp nhất cũng vượt lên trên tất cả tôn giáo. Trong đó, ngũ giới là nền tảng của tất cả giới luật, nhưng giới mục của ngũ giới không có xa lạ gì với sinh họat bình thường của con người. Thời cổ đại ở Ấn Độ, các tôn giáo đều có ngũ giới nên đại thể đều tương đồng, như 5 giới sau trong 10 giới của Cơ Đốc giáo cũng vậy. Nay phân biệt nêu ra như sau:
1. Ngũ giới của Phật giáo: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu
2. Ngũ giới của Ma na Pháp điển: Không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cắp, không phi phạm hạnh (không dâm), không tham sân.
3. Ngũ giới của Bao đạt dạ na Pháp điển: Không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cướp, nhẫn nại, không tham.
4. Ngũ giới của Tiền Đa Khư Da, Áo Nghĩa Thư: Khổ hạnh, từ thiện, chánh hạnh, không sát sinh, thật ngữ.
5. Ngũ giới của Kỳ na giáo: không sát sinh, không trộm cướp, không vọng ngữ, không dâm, ly dục.
6. Ngũ giới của Du già phái: không sát sinh, không vọng ngữ, không trộm cướp, không tà dâm, không tham.
7. Năm giới sau của Cơ Đốc giáo: Đừng giết, đừng trộm, đừng dâm, đừng vọng chứng, đừng tham của cải người khác.
Do sự so sánh ở trên có thể biết điểm đặc sắc của ngũ giới Phật giáo là không uống rượu, các tôn giáo khác không có giới rượu, vì Phật giáo trọng trí huệ, uống rượu khiến cho người ta say sưa hôn mê vì thế không cho uống rượu. Tham dục, tham sân của các tôn giáo khác nêu ra, không phải hành vi mà là hiện tượng tâm lý, trong ngũ giới của Phật giáo thật đã bao gồm hết.
2. Nội dung năm giới:
Năm giới là những điều răn cấm của mà đức Phật chế ra để ngăn chặn những điều ác của thân, miệng, ý. Năm điều này Phật y cứ trên tâm từ bi, bình đẳng trên phương diện dứt trừ tội lỗi cá nhân và đem lại an vui cho xã hội mà thành lập. Không sát sanh, không trộm cướp, không nói dối, không tà dâm, không uống rượu là những điều cấm mà mỗi chúng ta không bắt buộc phải giữ hay không giữ. Đạo Phật khác với các tôn giáo khác là ở điểm đạo Phật không có toà án tối cao để thưởng hay phạt gì cả. Mỗi hành động mà chúng ta tạo ra là đã mang theo cái mầm móng thưởng hay phạt rồi đức Phật chỉ là người chỉ cho ta con đường nào nên đi, con đường nào nên tránh mà thôi. Nếu chúng ta chọn con đường xấu thì chúng ta chịu quả xấu, còn nếu chúng ta chọn con đường tốt thì nhất định sẽ gặp kết quả tốt.
Đức Phật chế giới căn cứ vào ý chí của chúng sinh, không mang tính ép buộc thọ giữ giới mà Phật tử tự phát nguyện.
Năm điều giới là: Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Bốn giới đầu, không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối thuộc về tánh giới. Nghĩa là tính chất của nó là ác, pháp luật thế gian ngăn cấm, nếu vi phạm sẽ bị nhân quả nghiệp báo. Ví dụ: giết người là vi phạm luật pháp quốc gia và chiêu quả báo ác.
Giá giới, bản thân nó chưa phải là tội lỗi, tính chất gián tiếp đề phòng. Đức Phật chế định nhằm ngăn ngừa các nguyên nhân dẫn đến phạm tội. Đó là giới uống rượu.
Tuân giữ năm điều giới này là tạo phước nhân gian, cũng là tìm cầu cảnh giới xuất thế. Năm giới là giềng mối chắc thật để ngăn ngừa chúng ta làm những điều xấu ác, nó cũng chính là năm nấc thang kiên cố để đi đến Niết-bàn.
Sau khi làm lễ quy y là giữ giới, nghĩa là tuân theo những lời răn cấm của Đức Phật dạy, mà chư Tăng đã truyền giảng sau khi làm lễ quy y. Có tất cả năm điều răn cấm, gọi là năm giới hay "Ngũ Giới". Người phát tâm quy y Tam Bảo là đã bước chân lên nấc thang giải thoát, nhưng nếu không giữ ngũ giới là chỉ mới bước một nấc đầu rồi dừng lại. Năm giới không những đưa người mạnh tiến trên đường giải thoát, mà còn đem lại trật tự, an vui, hòa bình cho gia đình, quốc gia, xã hội nữa. Ngũ giới chính là giềng mối chắc thật tạo hạnh phúc cho cá nhân và đoàn thể.
Ðối với người tại gia, Ðức Phật khuyên giữ năm giới. Năm giới đó là: "không sát sinh, không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm và không uống rượu say sưa". Những ai phạm năm giới này là tự đào bỏ mất thiện căn của mình, bỏ mất đi cái gốc lành, rồi tự đào hố chôn sâu gốc rễ của mình vào vòng trầm luân, bám chặt, dính mắc vào kiếp sống sinh tử luân hồi, không bao giờ thoát ra khỏi thế gian đầy đau khổ này.
2.1. Ngũ Giới:
“ Ngũ Giới là giới điều căn bản nhất trong Phật giáo, cũng là căn bản của tất cả Phật Giới cho nên gọi ngũ Giới là căn bản giới”
Ðức Phật dạy người Phật tử phải tránh những điều dữ và làm các việc lành. Việc làm lành lánh dữ trong Phật giáo thể hiện qua lòng từ bi, để đem lại hạnh phúc cho cá nhân và xã hội dựa trên tinh thần thương yêu và hiểu biết. Người giữ được năm giới thì không bị bị khổ đau. Giới không phải là người trên, cấm kẻ dưới không được làm, nếu làm thì bị trừng phạt, mà Giới là điều mình tự nguyện làm, vì các điều ấy phù hợp với đạo lý và khi thực hành chúng ta có được sự an vui về tinh thần và thể chất. Trong Kinh Trường Bộ, Đức Phật đặc biệt đề cao Giới Đức: “Chỗ nào có Giới hạnh chỗ ấy có trí tuệ, chỗ nào có trí huệ, chỗ ấy có Giới hạnh. Người có Giới hạnh nhất định có trí tuệ, người có trí tuệ nhất định có Giới hạnh. Giới hạnh và trí huệ phải được xem là tối thắng ở trên đời” Như thế ta có thể khẳng định là: Nơi nào có người giữ Giới thì nơi đó sẽ có mọi sự hạnh phúc an lành.
Ngũ Giới huyền diệu thậm thâm
Làm lành lánh dữ pháp âm cửa thiền
Hạnh từ lợi lạc nhân thiên
Người có Giới – Đức, Tuệ liền phát sanh.(3)
2.2.1. Giới thứ nhất : Không được giết hại:
Giết hại con người là yếu tố chính mà Phật cấm người Phật tử không được sát sanh, ngoài ra Ðức Phật khuyên người Phật tử phải biết hạn chế giết hại các sinh vật khác với tình thương yêu hướng đến bảo vệ sự sống của muôn loài:
“Ai cũng run sợ trước gậy gộc. Tất cả đều sợ chết.
Hãy lấy ta suy ra người. Không nên giết cũng không xúi giết”
Khi Phật tử có lòng yêu thương sanh mạng của chúng sanh như thế, thì tâm hồn bác ái tự nhiên mở rộng. Đến loài sanh vật nhỏ xíu còn mở rộng lòng thương huống hồ là mạng sống con người. Từ nơi giới cấm sát đã tạo cho xã hội những con người từ ái biết trải lòng thương đến muôn loài vạn vật biết tìm hiểu chia xẻ những đau thương khó khăn của các dân tộc trong xã hội, các nước lân cận, các sinh vật sống chung quanh. Nếu mọi người đều hành trì theo giới cấm sát này thì nhà tù sẽ trống chỗ rất nhiều, con người sẽ
Biết yêu thương tôn trọng nhau hơn, những cơn nóng giận thù hằn dẫn đến đâm chém giết chóc sẽ giảm đi rất nhiều. Lợi ích của giữ giới sát thật vô cùng to lớn, như trong Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, Đức Phật dạy rằng: “ Những người chết yểu là do nghiệp sát sanh, tàn nhẫn, tay lấm máu, khi thân hoại mạng chung nó sinh vào cõi dữ, đọa xứ nếu làm người thì chết yểu. Con đường đưa đến đoản mạng là sát sanh tàn nhẫn. Còn người sống lâu là do từ bỏ sát sanh, có lòng từ. Khi thân hoại mạng chung, người này được sanh thiện thú, thiên giới, hoặc làm người thì sống lâu. Con đường đưa đến trường thọ là từ bỏ sát sanh, thương xót loài hữu tình”. Qua lời Kinh dạy trên ta có thể nhận thấy sự lợi ích to lớn từ giới cấm sát sanh.
Giới đầu khuyến mở lòng nhân
Thương yêu muôn loại như thân của mình
Trường thọ, mệnh yểu lộ trình
Đều là nghiệp quả do mình tạo vay.
2.2.2. Giới thứ hai : Không được trộm cướp:
“Hợp từ adinna + adana bao gồm sự hối lộ, ăn trộm, ăn cướp, xâm chiếm đất đai, cưỡng đoạt nhà cừa, lừa đảo, hoặc bất cứ mánh khóe nào để có tiền, của cải hay lợi lộc”
Không trộm cướp có nghĩa là không dùng thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của cải người khác. Tài sản của mình, chúng ta không muốn ai xâm chiếm thì đối với người cũng thế, không được chiếm đoạt hay lén lấy của người, làm điều đó tức là chúng ta đi trái lại tinh thần nhân bản của đạo Phật . Với tâm niệm người Phật tử phải đem công sức làm ra của cải vật chất, góp phần phát triển xã hội, thương yêu cuộc đời, tôn trọng sinh mạng và tài sản của mọi người nên không bao giờ trộm cướp, người Phật tử không được chỉ nghĩ về mình mà quên đi nỗi khổ của kẻ khác.
Không tham tài sản của ai
Cũng rèn tâm tính sửa sai, thật thà
Đem công sức của làm ra
Góp phần phát triển nhà nhà vui an.
2.2.3 . Giới thứ ba : Không được tà dâm:
Lời dạy của Đức Phật đối với hàng Phật tử tại gia là tránh sự tà dâm “ Kamesu có nghĩa “ bất cứ hình thức thỏa mãn nhục dục nào” Micchàcàra là một từ ghép có nghĩa là “hành vi bất hảo””. Theo nghĩa thường dùng thì là “hành dâm dục sái quấy (tà dâm)”. Lời khuyên này nhằm hướng dẫn con người thỏa mãn sắc dục như thế nào để điều đó không trở thành là một vấn đề cho họ và những người xung quanh.
Người Phật tử xây dựng đời sống hạnh phúc gia đình, đồng thời cũng tôn trọng hạnh phúc của người khác. Do đó, khi đã là vợ chồng với nhau người Phật tử không được phá hoại hạnh phúc gia đình người khác. Sự thủy chung là nhân tố góp phần làm cho đời sống tại gia yên vui hòa thuận . Cho nên người Phật tử không vì nhu cầu tình dục mà xâm phạm làm đổ vỡ gia đình người khác. Cổ nhân có dạy: " “Những gì mình không muốn, đừng trao cho người" . Đức Phật còn định nghĩa rằng: “Đời sống phạm hạnh là sự tu tập của Bát Chánh Đạo”.
Trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy rằng: “ Bốn điều bất hạnh đến với người bất cẩn, có hành động tà dâm: “Gặt hái tội khổ, ngũ không yên giấc, ba là bị khiển trách, và bốn là ở nơi khổ cảnh.” Vì thế người Phật tử cần nên gìn giữ Giới này là bước trau dồi phạm hạnh tu tập của Bát Chánh Đạo.
Tà dâm tội nặng vô vàn
Hành vi bất hảo phá tan gia đình
Hại người khác, hại nhà mình
Những gì không muốn đừng rinh đem về.
2.2. 4 . Giới thứ tư : Không được nói dối:
“ Nếu một người làm hại đến quyền lợi của tôi bằng lời gian dối, thì hành động đó thật là đáng ghét. Nếu tôi cũng hành động như vậy, thì hành động của tôi cũng đáng ghét đối với người khác… Người quán chiếu như vậy cần tránh lời gian dối.”
Nói dối là nói không chân thật để mưu cầu lợi cho mình có 4 (cách ) gọi là nói dối:
-Nói không thật ( vọng ngôn) : Không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, nghe nói không nghe, không nghe nói nghe, làm nói không làm, không làm nói làm.
- Nói thêu dệt (ỷ ngữ) :
- Nói lưỡi đôi chiều (lưỡng thiệt) : Nói đâm thọc hai đầu còn gọi là : " đến người nầy nói chuyện người kia,đến người kia chuyện người nầy .
- Nói ác (ác khẩu) : Chửi rủa, nhục mạ .
“Vết dao đâm có thể lành thương tích
Lời nói đâm nhau, hận một đời”.
Trong đạo Phật, đạo đức của ngôn ngữ thể hiện ở sự ái ngữ. Tu theo Phật chúng ta phải dùng lời nói khả ái dễ nghe, biểu hiện thái độ nhã nhặn và lịch sự từ lời nói đến việc làm , không điêu ngoa xảo trá, không được tâm nghĩ miệng nói trái nhau , gian lận trắng đen làm mất tình người.
Lưỡng ngôn ác ngữ đoạn lìa
Phải soi thiện ác phân chia hai đường
Học theo Giới Phật đo lường
Thốt lời chân thật dễ thương dịu dàng.
2.2. 5 . Giới thứ năm : Không được uống rượu:
Người Phật tử không nên uống rượu, hút cần sa, ma túy cùng những thứ độc hại khác làm cho cơ thể suy yếu mất hết sáng suốt . Bởi vì đạo Phật chủ trương giác ngộ, tỉnh thức trong đời sống, uống rượu hay những chất độc có hại, khiến tâm trí chúng ta sẽ bị quay cuồng không tỉnh táo, hạt giống trí tuệ sẽ không phát triển. Ngoài rượu ra, Phật tử không được dùng các thực phẩm có chất kích thích, không xem phim ảnh sách báo đồi trụy mang tính độc hại về tinh thần . Ðể trở thành một Phật tử đầy đủ nhân cách đạo đức, chúng ta phải ý thức tránh xa những loại làm tác hại cho tinh thần và thể chất.
Trong năm Giới thì bốn Giới trên thuộc về tánh Giới là những giới cấm người Phật tử cần phải xa lánh vì nó là hành động tạo nhân ác, còn Giới thứ năm thuộc về tướng Giới là Giới mà Phật gọi là vật cấm. Người Phật tử ngày nay phải coi đó là yếu tố làm cho thân tâm bại danh liệt .
Chất say điên đảo mơ màng
Các chất nghiện khác làm tan cửa nhà
Thân tâm bại liệt sa đà
Cần nên ý thức tránh xa chớ gần.
3. Tính Chất Của Ngũ-Giới:
Tất cả mọi người trong đời, không ngoại trừ một ai cả, không phân biệt già trẻ, trai gái, dân tộc nào, v.v… bất luận là người có thọ-trì ngũ-giới, hoặc không thọ-trì ngũ-giới, tất cả mọi người đều phải có bổn phận giữ gìn ngũ-giới cho được trong sạch và trọn vẹn, đó là người biết tự trọng, biết giữ gìn nhân-phẩm quý báu vốn có trong con người của mình, từ khi đầu thai làm người.
* Nếu người nào biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, biết giữ gìn ngũ-giới được trong sạch và trọn vẹn, người có giới thì người ấy đã tạo đại-thiện-nghiệp giữ-giới sẽ cho 5 quả-báu tốt lành, đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.
* Người giữ gìn ngũ-giới được trong sạch và trọn vẹn, người có giới sẽ có 5 quả-báu là:
1- Người có giới có được nhiều của cải lớn lao, do nhờ nhân không dể duôi.
2- Người có giới có danh thơm tiếng tốt được lan truyền khắp mọi nơi.
3- Người có giới có đại-thiện-tâm dũng cảm, không rụt rè e thẹn khi đi vào nơi các hội đoàn.
4- Người có giới có đại-thiện-tâm tỉnh táo sáng suốt lúc lâm chung.
5- Người có giới sau khi chết, đại-thiện-nghiệp giữ-giới cho quả tái-sinh kiếp sau trong 7 cõi thiện-giới(4), hưởng quả an-lạc trong cõi thiện-giới ấy cho đến khi mãn quả của đại-thiện-nghiệp ấy
* Nếu người nào không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, phạm điều-giới nào trong ngũ-giới gọi là người phạm giới, người không có giới thì người ấy đã tạo ác-nghiệp phạm giới sẽ cho 5 quả tai-hại, đem lại sự bất lợi, sự thoái hoá, sự khổ não trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.
Người phạm giới, người không có giới sẽ có 5 quả tai hại là:
1- Người không có giới làm tiêu tan nhiều của cải to lớn vì nhân dể duôi (thất niệm).
2- Người không có giới có tiếng xấu bị lan truyền khắp mọi nơi.
3- Người không có giới có ác-tâm sợ sệt, rụt rè e thẹn khi đi vào nơi các hội đoàn.
4- Người không có giới có ác-tâm mê muội lúc lâm chung.
5- Người không có giới sau khi chết, ác-nghiệp phạm-giới cho quả tái-sinh trong 4 cõi ác-giới(5), chịu quả khổ của ác-nghiệp trong cõi ác-giới ấy, cho đến khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, mới thoát ra khỏi cõi ác-giới ấy.
Cho nên, người thiện-trí tại gia có trí-tuệ có đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo: Đức-Phật-bảo, Đức-Pháp-bảo, Đức-Tăng-bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, tin 5 quả-báu của người giữ gìn ngũ-giới được trong sạch và trọn vẹn và tin 5 quả tai hại của người phạm giới, người không có giới, cho nên, người thiện-trí tại gia giữ gìn ít nhất là ngũ-giới được trong sạch và trọn vẹn, không để ngũ-giới bị đứt, bị thủng, bị đốm, bị đứt lan.
3.1. Lợi ích của năm Giới:
Phật tử tại gia có thể nhận năm giới hoặc tuỳ theo hoàn cảnh từ một, hai, ba... giới một cách tự nguyện mà không có sự ép buộc nào. Giữ giới có những lợi ích như sau:
- Nếu người Phật tử không giết hại, thì đời sau cũng không bị người giết, lòng thanh thản nhẹ nhàng không lo âu sợ hãi do thù hận tạo nên. Một trong những điều kiện sống an lành là không có kẻ thù nghịch.
- Giữ giới không trộm cướp bản thân ta không bị tù tội, đến đâu làm việc gì cũng được mọi người qúi mến tin cậy, không sợ ai theo dõi, không lo âu sợ hãi thì cuộc sống mới vui tươi.
- Giữ giới không tà dâm mỗi người chúng ta không lo âu sầu muộn khi vợ, chồng không thuỷ chung, không đứng núi nầy trông núi nọ, chung lo xây dựng gia đình thì đó chính là một gia đình hạnh phúc đầm ấm.
- Giữ giới không nói dối là nhằm giúp cho ta rèn luyện đức tính chân thật ở đâu cũng được tín nhiệm, không bị người khác nghi ngờ. Sự thành công trên đường mưu sinh lập nghiệp ai cũng muốn được tín nhiệm, đây là yếu tố thành công trên đường đời.
- Giữ giới không uống rượu và các chất gây nghiện khác là giữ gìn phẩm giá của chính bản thân mình và đem lại hạnh phúc cho gia đình, đồng thời rượu là yếu tố theo y học nó là nhân sanh ra các bệnh tim mạch, gan mạch máu không co giản được, dễ bị chứng lưu huyết, thần kinh ở nảo cũng bị ảnh hưởng làm giảm trí nhớ.
Lợi ích Giới với bản thân
Không Sát- Dâm - Đạo tâm thân nhẹ nhàng
Không Vọng Ngữ lời đoan trang
Không Nghiện các thứ đời càng lạc an.
3.1.1. Ðối với gia đình và xã hội:
Nếu con người biết ứng dụng tinh thần năm giới là tự xây dựng một gia đình hạnh phúc một xã hội công bằng văn minh và bình đẳng. Ðức Phật nhắm vào con người, đem lại cho con người một an lạc, gia đình hạnh phúc, xã hội bình đẳng có tình yêu thương và hiểu biết. Chính năm giới là nhân tố tạo nền tảng của đạo đức, xây dựng cho tế bào đạo đức xã hội thêm tốt đẹp bất cứ thời đại nào.
Ngũ Giới đem lại cho người
Xã hội hạnh phúc sáng tươi thanh bình
Ấm êm hạnh phúc gia đình
Thảnh thơi an lạc văn minh công bằng.
3.1.2. Ngũ giới đi chung với Thập thiện
Ngũ giới của Phật giáo là “đạo đức căn bản” làm người, nên phải tuân thủ giữ gìn; Thập thiện là “đạo đức tăng thượng” tịnh hóa nội tâm, thăng hoa nhân cách; nhân quả nghiệp báo là “đạo đức thiện ác” bất biến của thế gian.
Trong Kinh “Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành” có đoạn dẫn chứng lời Phật giảng cho các Tỳ Kheo: “Các ông phải siêng năng tu các điều thiện, nhờ tu điều thiện mà mạng sống lâu dài, nhan sắc thắm tươi, và được an ổn khoái lạc, của báu dồi dào, uy lực đầy đủ” Phật giáo lấy Ngũ giới, Thập thiện xem là chuẩn mực đạo đức nhân bản, khởi xướng “Chớ làm các việc xấu, hãy làm những việc tốt”, không xâm phạm thân thể, tiền của, danh dự, tôn nghiêm của người khác, sửa đổi triệt để lòng người, khiến nhân luân cương thường có trật tự, làm cho nếp sống xã hội trở nên lương thiện. Ngũ giới, Thập thiện chính là chuẩn mực đạo đức của Phật giáo.
“Các hành vi(6) xác định nhân cách một người
Trí huệ soi sáng nhân cách của người ấy”.
Ngũ Giới đầy đủ công năng
Đi chung Thập Thiện thường hằng diệu an
Đầy kho của báu vô vàn
Sống lâu không bệnh dung nhan rạng ngời.
4. Mục đích của ngũ giới:
Một người phật tử khi đã Quy y Tam bảo tức là đã bước được bậc thang đầu tiên vào con đường tu Phật, còn rất chập chững. Nếu không khéo sẽ bước lệch những bước tiếp theo mà không thể tới đích để giác ngộ. Vì vậy, Đức Phật mới đặt ra 5 giới, nhằm giúp cho người Phật tử đi đúng hướng mà hưởng được quả báo tốt đẹp. Nếu không giữ giới có nghĩa là dừng lại tại đó, không thể tiến bước tới nữa. Năm giới này không những để tiến bước trên đường giải thoát, mà còn đem lại trật tự, an vui, hạnh phúc cho gia đình và xã hội ngay ở cõi Trần.
4.1. Hiểu đúng về Ngũ giới như thế nào?
Qua hơn 2500 năm, lời giảng đạo của Đức Phật được ghi thành Kinh đã được in tái bản và biên soạn lại hàng ngàn lần. Cứ mỗi lần biên tập tái bản, người viết lại lồng ghép thêm tâm ý của mình vào, nên lời Kinh trở nên không còn chuẩn xác đúng. Rồi qua các bản dịch ra tiếng các nước cũng sai lệch đi. Rồi qua nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo, kinh cổ bị đốt và thất thoát nhiều, nay không ai có thể tìm được bộ Kinh cổ xưa để mà đối chiếu. Vì vậy người biên tập viết sao là biết vậy. Hậu quả là lời Kinh hiện có nhiều chỗ không còn chính xác là lời Phật dạy. Hiểu đúng lời Phật trong Kinh hiện nay là một vấn đề lớn.
Riêng về Ngũ giới, chúng ta đã đọc nhiều quyển kinh với các bản in khác nhau, thấy lời Kinh không hoàn toàn giống nhau, chứng tỏ khâu biên tập về sau có làm sai lệch. Còn những bài giảng của các tác giả khác nhau thì thêm bớt rất nhiều theo ý hiểu của mình. Sau khi được Đức Phật chỉ giáo.
4.2. Giới cũng phân ra có tánh giới và giá giới:
- Tánh giới: Như giới sát sanh, giới trộm cắp, giới dâm dục, giới nói dối – Vì bốn giới này thuộc về thể tự tánh phát sanh, không đợi Phật chế, nếu ai giữ gìn tức được lợi ích, nếu không giữ gìn thì chuốt lấy khổ đau.
- Giá giới: Từ giới uống rượu sắp lên, các giới điều khác là từ nguyên nhân này mà gây ra phạm giới nên đức Phật đã ngăn cấm.
Qua những ý nghĩa nêu trên, Giới luật được xem là phương tiện để ngăn chặn những điều ác phát khởi qua thân, khẩu. Đồng thời đoạn trừ những phiền não phát khởi trong tâm. Như vậy, đứng về phương diện tiêu cực thì giới luật chỉ làm cho thân, khẩu, ý thanh tịnh, nhưng về phương diện tích cực thì giới luật là sự nỗ lực tất cả điều thiện làm lợi ích cho chúng sanh và ý nghĩa này được tóm tắt qua bài kệ căn bản:
“Không làm các điều ác
Thực hành các việc lành
Giữ tâm ý trong sạch
Đó là lời Phật dạy”.
(Pháp cú 183).
Những ác pháp đã sanh làm cho tiêu diệt, những ác pháp chưa sanh khiến cho không sanh, đó là ý nghĩa trong câu “Chư ác mạc tác”, những điều thiện đã sanh khiến cho tăng trưởng, những điều thiện chưa sanh khiến cho sanh khởi.
Đây là ý nghĩa của câu “Chúng thiện phụng hành”, tất cả hành vi ấy đều được quy tụ vào việc giữ gìn tâm ý cho trong sạch.
Ta thấy Giới luật của Phật giáo không phải là cứu cánh mà được cùng hành với pháp môn khác nữa, như là bước đầu của con đường đạt tới giác ngộ. Đức Phật khuyên vì hạnh phúc của riêng mình và cả người khác mà ta nên chỉ trì: “Nguyên tắc tu tập”, được gọi là giới điều. Người trì giới phải hiểu rõ ý nghĩa giới pháp ngăn được lỗi gì, dứt được nghiệp nào, sạch được chướng nào đạt được quả gì thì trì giới mới lợi ích. Nếu không nhận rõ lòng từ bi của Phật, không khéo linh động trì giới thì sẽ trở thành người ràng buộc, khắc khe thêm các phiền não. Nếu hiểu được thâm ý qua các giới tướng thì ta có thể thấy được tâm ta có nhiễm ô hay thanh tịnh. Càng có nhiều giới như nhiều tấm gương phản chiếu, ta càng thấy rõ trong tâm ta mọi hành động để đo lường mức tiến bộ thánh thiện.
4.3. Ngũ giới kết hợp với thập thiện của ba nghiệp:
Nội dung của ngũ giới nói đến đây đại khái cũng đầy đủ. Thông thường có người đem Ngũ giới Thập thiện ra phân biệt giải thích, cũng có người cho thập thiện là thập giới. Nhưng trong Phật giới chưa sắp xếp thập thiện làm giới phẩm, như nói thọ giới là chỉ cho Sa di thập giới, nội dung của Sa di thập giới khác hẳn với thập thiện. Thật ra, thập thiện có thể bao hàm trong ngũ giới; vì thế, ngũ giới thập thiện thông thường được đặt liền nhau. Tu ngũ giới, thập thiện đồng được quả báo trời người. Thập thiện tức là sự phân hóa của ngũ giới, chứ không riêng có thập thiện, điều này có rất nhiều căn cứ trong kinh điển.
Nội dung của thập thiện là: Không sát sinh, không trộm cướp, không tà hạnh(7) không vọng ngữ, không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ, lìa tham dục, lìa sân nhuế, lìa tà kiến. Phân loại mà nói, thập thiện thuộc ba nghiệp thân, ngữ, ý, cho nên cũng gọi là thập thiện nghiệp. Tu trì hạnh thập thiện là hạnh sinh vào đường lành, vì thế gọi nó là thập thiện nghiệp đạo.
Giới vọng ngữ đã nói một giới vọng ngữ là bao gồm 3 điều thiện: Không lưỡng thiệt, không ác khẩu, không ỷ ngữ; đủ biết ngũ giới thật đã khái quát 7 chi thiện giới của 2 nghiệp thân, ngữ của thập thiện; đến 3 chi tham dục, sân nhuế, tà kiến thuộc ý nghiệp, nếu chẳng nhờ sự biểu hiện của hai nghiệp thân, ngữ thì chẳng tạo tác thành thiện ác. Thật ra, 3 chi của ý nghiệp là do 7 chi của thân, ngữ nhiếp thọ; ý nghiệp chi phối 2 nghiệp thân, ngữ mà có tạo tác. Hai nghiệp thân, ngữ, nếu không có ý nghiệp làm chủ tể tạo tác, ác nghiệp được tạo cũng chẳng thành tội trọng, thậm chí còn vô tội. Vì thế, bàn đến ngũ giới tức là đã đầy đủ thập thiện… Nếu trái với thập thiện là thành thập ác, trái với ngũ giới là ngũ bất giới.
4.3.1. Sát sinh có 3 thứ:
a- Do tham dục mà giết, vì tham vị ngon của thịt, vì tham lợi nhuận mà sinh ra sự sát sinh bán thịt, vì tham giá cao hoặc vì đền đáp ân huệ mà sát sinh.
b- Do sân nhuế mà giết, vì báo cừu rửa hận, vì buồn thẹn phẩn nộ, vì trừ khử chướng ngại.
c- Do tà kiến mà giết, vì cầu phước báo, vì cầu công đức, vì cầu bình an, vì cầu phồn thịnh như là giết các loài súc sinh để tế thần cúng quỷ, thậm chí có dân tộc dã man bắt người chặt đầu để tế lễ tạ ơn thần linh.
Loại nghiệp sát này đều thuộc tri kiến tà ác cho nên gọi là Tà kiến sát.
4.3.2. Trộm cướp có 3 thứ:
a- Tham dục trộm cướp: Thấy lợi quên nghĩa, vì cầu phát tài, vì cầu hưởng lạc, vì cầu sinh hoạt được tốt hơn, vì cầu thỏa mãn tâm tham.
b- Sân nhuế trộm cướp: Tật đố sự giàu sang của người khác, bất mãn người khác phát tài, hoặc vì báo thù người mà làm cho người bị tổn thất tài vật, hoặc vì bị kích thích, nhân đó mà phẩn nộ đến nỗi trộm cướp và làm tổn thất của người.
c- Tà kiến trộm cướp: Vì cầu bình an, vì cầu nguyện vọng thành đạt; như trong lang tội, phụ nữ mới lấy chồng, hoặc phụ nữ lấy chồng lâu năm không có con, thích đến tự viện trộm cướp giày dép của người xuất gia và đồ cúng trang nghiêm ở điện Phật đem về nhà ép dưới gối ngủ, họ cho rằng làm như thế sẽ được sinh con trai, đây có thể coi là một loại tà kiến trộm cướp.
4.3.3. Tà dâm có 3 thứ:
a- Tham dục tà dâm: Vì tham hưởng thụ khoái lạc dâm dục, bất luận là đồng lòng thông dâm, dụ dỗ thông dâm, hoặc hiếp dâm, cho đến mại dâm, vì thích khoái lạc dâm dục nên cùng với nam nữ ngoài vợ chồng sinh ra quan hệ dâm dục, đều gọi là tham dục tà dâm.
b- Sân nhuế tà dâm: Vì cừu oán gian dâm với mẹ, con, chị, em, vợ chính, nàng hầu của người. Tôi còn nhớ trong thời kỳ chiến tranh kháng Nhật, hễ vài người lính Nhật vào làng thường thường bị đội du kích Trung Quốc giết. Quân Nhật hay tin đem lính càn quét, thấy nhà liền đốt, đàn ông liền giết, thấy đàn bà con gái thì hãm hiếp hoặc luân phiên hãm hiếp, sau khi hiếp dâm rồi chém một nhát. Đây là một thứ sân nhuế tà dâm.
c- Tà kiến tà dâm: Vì cầu công đức, vì cầu phước báo, vì cầu con cái, vì cầu trường sinh, cho đến vì cầu giải thoát mà hành tà dâm. Thuở xưa có nhiều tôn giáo mê tín, như Đạo giáo của Trung Quốc có thuyết “Phòng Trung Thuật”, cho rằng lấy âm để bổ dương, lấy dương để bổ âm, nam nữ giao cấu là pháp tu luyện trường sinh bất lão. Tương tự, trong Ấn Độ giáo, quan điểm tà kiến này cũng cho rằng có thể giải thoát ở trong sự khoái lạc dâm dục giữa nam và nữ, nói là “tánh mạng song tu”,
“thân tâm song tu”. Còn có một thứ tà kiến là một số nam nữ kết hôn với nhau lâu năm không có con, có hành vi mượn thai mượn giống. Kỳ thật, muốn từ trong phương pháp phóng túng dâm dục để được trường sinh, thiền định, giải thoát, công đức, phước báo, con cái, ấy là việc tuyệt đối hoang đường.
4.3.4. Vọng ngữ có 3 thứ:
a- Tham dục vọng ngữ: Vì tham danh tiếng lợi dưỡng, vì tham tửu sắc, thế lực.
b- Sân nhuế vọng ngữ: Vì là cho oan gia bị gạt, vì khiến cho người cùng phi nhân cho đến súc sinh não loạn mình và chướng ngại mình bị sự tàn hại cho nên vọng ngữ. Vì giận hờn mà ác khẩu và lưỡng thiệt là điều rất phổ biến.
c- Tà kiến vọng ngữ: Cho rằng nói dối có thể tránh được nạn, mắng người có thể tiêu tai. Tỷ như người dân quê ở Trung Quốc khi cảm mạo có người dùng tờ giấy viết mấy chữ: Xuất mại trọng thương phong, nhất niệm tựu thành công” dán ở trên cây bên đường hoặc trên vách tường, ấy cũng là một loại tà kiến vọng ngữ.
4.3.5. Uống rượu có 3 thứ:
a- Tham dục uống rượu: Vì muốn thỏa mãn cái miệng, cái bụng, tham sự kích thích của men rượu, vì cầu sự hưng phấn dẫn khởi cho sắc dục.(8)
b- Sân nhuế uống rượu: Như nói: “Mượn rượu giải sầu”, người ta lúc phẫn nộ hoặc thất ý thường dùng rượu để giải sầu, kỳ thật, đâu phải không nghe nói “Mượn rượu để giải sầu càng thêm sầu” hay sao?
c- Tà kiến uống rượu: Vì cầu dưỡng sinh, vì cầu đắc đạo thành thần tiên, vì cầu sinh lên trời mà uống rượu. Tỷ như có một số người cho rằng uống rượu hữu ích cho rự tráng kiện. Có người cho rằng Lý Thái Bạch uống rượu rốt cuộc thành tửu tiên. Có tôn giáo cho rằng rượu có khả năng thông thần, trong các vị thần cũng có tửu thần. Ngoại đạo lõa thể ở Ấn Độ thậm chí cho rằng uống rượu giúp cho sự giải thoát. Những thuyết này đều là tà kiến, đều là kiến điên đảo. Tôi xin can quý độc giả. Quý vị thấy một người say rượu mặt đỏ gay, mắt đầy tia máu, mùi rượu nực nồng, quý vị có cảm tưởng gì? Cho là đáng ghét hay đáng yêu?
Ngũ giới phối hợp thập thiện, đã thuyết minh như trên, sau khi hiểu rõ nội dung của ngũ giới, chúng tôi có thể giới thiệu về sự nạp thọ giới thể của ngũ giới như thế nào ở chương sau.
5. Những gì là lợi ích của Giới?
Ðó là có được nhiều đức đặc biệt mà đầu hết là bất hối, vì kinh dạy: "Này Ananda, giới là thiện; nó có mục đích là bất hối, có lợi ích là bất hối". Và ở một đoạn khác: "Này gia chủ, có năm lợi ích cho người đức hạnh khi viên mãn giới, đó là: người có giới đức thừa hưởng gia sản lớn nhờ tinh cần, được tiếng tốt đồn xa, không sợ hãi rụt rè khi đến giữa hội chúng sát-đế-lỵ hay bà-la-môn hay gia chủ hay sa-môn, khi chết tâm không tán loạn, mệnh chung được sanh vào thiện thú, cõi trời. Ðó là năm lợi ích.". Lại còn nhiều lợi ích của giới, đầu tiên là được thương mến và cuối cùng là đoạn trừ (phiền não) lậu hoặc như đoạn kinh nói: "Nếu một tỷ kheo có ước nguyện, mong rằng tôi được các vị đồng phạm hạnh yêu mến, kính trọng, thì vị ấy hãy thành tựu viên mãn các học giới."
5.1. Lợi ích của năm giới:
Phật tử tại gia có thể nhận năm giới hoặc tuỳ theo hoàn cảnh từ một, hai, ba... giới một cách tự nguyện mà không có sự ép buộc nào. Nếu giữ một giới gọi là: nhất phận cư sĩ; giữ hai giới gọi là: thiếu phận cư sĩ; giữ ba giới gọi là: bán phận cư sĩ; giữ bốn giới gọi là : đa phận cư sĩ; giữ năm giới gọi là: mãn phận cư sĩ. Do đó giới luật Phật dạy nhằm mục đích có lợi cho cá nhân mỗi thành viên trong gia đình cũng như ảnh hưởng đến cộng đồng xã hội.
5.1.1. Ðối với bản thân :
Người biết giữ gìn năm giới Pháp của Phật là con người biết chọn và xây dựng cho mình một nền tảng căn bản về đạo đức trong hiện tại và tương lai.
- Nếu người Phật tử không giết hại, thì đời sau cũng không bị người giết, lòng thanh thản nhẹ nhàng không lo âu sợ hãi do thù hận tạo nên. Một trong những điều kiện sống an lành là không có kẻ thù nghịch.
- Giữ giới không trộm cướp bản thân ta không bị tù tội, đến đâu làm việc gì cũng được mọi người qúi mến tin cậy, không sợ ai theo dõi, không lo âu sợ hải thì cuộc sống mới vui tươi.
- Giữ giới không tà dâm mỗi người chúng ta không lo âu sầu muộn khi vợ, chồng không thuỷ chung, không đứng núi nầy trông núi nọ, chung lo xây dựng gia đình thì đó chính là một gia đình hạnh phúc đầm ấm.
- Giữ giới không nói dối là nhằm giúp cho ta rèn luyện đức tính chân thật ở đâu cũng được tín nhiệm, không bị người khác nghi ngờ. Sự thành công trên đường mưu sinh lập nghiệp ai cũng muốn được tín nhiệm, đây là yếu tố thành công trên đường đời.
- Giữ giới không uống rượu là giữ gìn phẩm giá của chính bản thân mình và đem lại hạnh phúc cho gia đình, đồng thời rượu là yếu tố theo y học nó là nhân sanh ra các bệnh tim mạch, gan mạch máu không co giản được, dễ bị chứng lưu huyết, thần kinh ở nảo cũng bị ảnh hưởng làm giảm trí nhớ.
5.1.2 . Ðối với gia đình & xã hội:
Nếu con người biết ứng dụng tinh thần năm giới là xây dựng một gia đình hạnh phúc một xã hội công bằng văn minh và bình đẳng. Ðức Phật nhắm vào con người, đem lại cho con người một an lạc, gia đình hạnh phúc, xã hội bình đẳng có tình yêu thương và hiểu biết. Chính năm giới là nhân tố tạo nền tảng của đạo đức, xây dựng cho tế bào xã hội thêm tốt đẹp bất cứ thời đại nào.
- Người biết tôn trọng sự sống là người đạo đức, nếu sự sống là qúi giá thì xã hội văn minh cần phải bảo vệ sự sống, trái lại chà đạp lên sự sống của mọi loài là dã man tàn ác.
- Sinh mạng õ là quí thì tài sản của con người tạo dựng cũng không phải là vô nghĩa, cho nên người Phật tử phải biết bảo vệ của mình cũng như tôn trọng của người. Không ai chiếm đoạt của ai, đó là một sự công bằng của xã hội.
- Tế bào của đời sống con người trong xã hội là gia đình, đó là tổ ấm mà con người vun bồi để có hạnh phúc. Nếu mọi gia đình không yên ổn thì làm sao xã hội an lành, cho nên Phật cấm người Phật tử không được tà dâm vì tôn trọng hạnh phúc của người khác cũng chính là tôn trọng hạnh phúc của chính mình .
- Sống trong xã hội loài người cần phải có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu lòng tin xã hội sẽ xáo trộn do những nghi kỵ làm sao xã hội có những con người biết yêu thương gắn bó để chia xẻ và giúp đở cho nhau những vui buồn trong cuộc sống đời thường .
- An Ninh trật tự được yên ổn, không gây gổ với nhau làm mất hoà khí trong gia đình, cũng như làng xóm là do rượu chè, và các chất độc hại mà ra. Nên Phật cấm người Phật tử không được dùng các chất độc có hại.
6. Tinh thần và mục tiêu giáo dục giới luật Phật giáo:
Tinh thần và mục tiêu giáo dục giới luật Phật giáo là nguyên lý cơ bản trong Phật giáo. Tinh thần giáo dục giới luật Phật giáo có thể chia làm tinh thần căn bản và tinh thần thực tiễn. Mục tiêu giáo dục giới luật Phật giáo chia làm 4 mục tiêu, đó là lợi ích giải thoát của cá nhân, sự đoàn kết hòa hợp của tập thể Tăng già, dấu hiệu để sinh khởi tín tâm, và mục tiêu phổ quát làm cho chánh Pháp trường tồn.
Trong thực tế, tinh thần và mục tiêu giáo dục giới luật Phật giáo có một mối quan hệ mật thiết và bất khả phân, nhưng để phân biệt rõ hơn nên chia làm hai mục cho dễ trình bày.
Tinh thần giáo dục giới luật Phật giáo có thể chia làm hai phạm trù “tinh thần giáo dục căn bản” và “tinh thần giáo dục thực tiễn”. Cũng có thể gọi Tinh thần giáo dục giới luật Phật giáo là tinh thần giáo dục tổng thể của Phật giáo. Trong nhiều kinh điển Phật giáo nói đến bài kệ của Bảy vị Phật: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.”
“Chư ác mạc tác” bao hàm hết thảy những điều ngăn cấm trong giới luật Phật giáo; “chúng thiện phụng hành” là những điều thiện phải làm của “thập thiện nghiệp đạo” cho đến “nhiêu ích hữu tình”, bao hàm cả “nhiêu ích hữu tình giới” trong “Tam tụ tịnh giới” của Bồ tát. Đây là việc chỉ ác hành thiện của người tu học về thân và khẩu nghiệp, biểu hiện của hành vi, thuộc về tánh giới. “Tự tịnh kỳ ý” nghĩa là căn bản giới của Phật giáo, thâu nhiếp cả Tam vô lậu học(9) biểu giới cũng xuất phát từ ý nghiệp mà có.
6.1. Tính chất giáo dục của giới luật Phật giáo:
Lịch sử cho chúng ta thấy có những tôn giáo, những chủ thuyết tỏ ra sáng giá một thời, nhưng khi trải qua những thử thách khắt khe của thời gian thì liền chìm vào quên lãng. Tại sao vậy? Tại vì nó thiếu những nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn và thiếu các tu sĩ để duy trì. Phật giáo nói riêng, các tôn giáo khác nói chung, tỏ ra đủ sức mạnh để tồn tại với thời gian là vì có những nguyên tắc sống tương đối hoàn chỉnh và có các tu sĩ thuộc thành phần cốt cán để duy trì. Các tu sĩ thường có bổn phận giữ gìn những giới luật mang tính chất giáo dục rất đa dạng, nhằm hướng dẫn cuộc sống của mình đến chỗ hoàn thiện. Sau đây, chúng tôi xin trình bày về tính chất giáo dục trong giới luật của đạo Phật.
6.1.1. Phát huy lòng từ bi, cứu khổ:
Ðức từ bi, cứu khổ gần như là đặc trưng của Phật giáo. Nói đến đạo Phật, người ta nghĩ ngay đến "cửa từ bi", "đạo cứu khổ", vì đó là bản chất của Phật giáo, nên kinh điển và giới luật luôn đề cập đến. Giới thứ 9 của Bồ tát nói: "Không được giận dữ kẻ khác, mà phải phát khởi từ tâm tha thứ những lỗi lầm của họ". Giới thứ 21 lại bảo: "Không được đem sự thù hận để đáp lại sự thù hận, không được đem sự đánh đập trả lại sự đánh đập, không mang tâm niệm trả thù những kẻ đã tàn sát những người thân yêu của mình. Tóm lại, tàn sát sự sống để trả thù sự sống là hành vi trái với đạo hiếu sinh của Bồ tát". Cố nhiên, "hại nhân nhân hại", "sát nhân thường mạng" đó là lẽ thường tình của cuộc đời, nhưng cứ "dĩ oán báo oán" thì oán oán sẽ chập chùng, vòng nhân quả "vay trả trả vay" sẽ trở nên bất tận khiến cho những nỗi khổ đau của kẻ khác và của chính mình sẽ không bao giờ kết thúc. Thế nên Ðức Phật dạy các đệ tử của Ngài phải "dĩ đức báo oán" thì mới chuyển hóa được oan gia trở thành bạn lữ. Tha thứ và cứu giúp kẻ khác là trách nhiệm của hàng đệ tử đấng Giác ngộ, như trong giới thứ 6 Bồ tát trình bày: "Nếu có người đến cầu xin, thì người Phật tử phải tùy theo khả năng của mình mà giúp đỡ họ", và "Khi thấy người bệnh tật, người Phật tử phải cứu giúp họ như phụng sự chư Phật".
Giúp đỡ người cùng khốn, cứu chữa kẻ bệnh tật là việc ai cũng làm được và đều có nghĩa vụ phải làm chứ không riêng gì đệ tử của Phật. Ðiều đáng nói ở đây là Ðức Phật xem những việc từ thiện đó như là biểu lộ sự quan tâm và phụng sự chính Ngài. Lời khuyên dạy này nói lên tấm lòng nhân ái bao la của Ðức Ðạo sư, chính vì thế mà nhân loại tôn xưng Ngài là đấng Từ bi và đạo của Ngài là đạo Cứu khổ.
Ðức từ bi của Phật không những nhằm cho con người mà còn phổ cập đến cả muôn loài qua giới "Không sát sinh"(10). Nhưng muốn giữ trọn vẹn giới không sát sinh, người thọ giới Bồ tát còn phải giữ giới "Không ăn thịt"(11); không ăn thịt là thể hiện trọn vẹn lòng từ bi của Ðức Phật và của hàng đệ tử Phật đối với muôn loại sinh linh.
6.1.2. Thực hiện nếp sống tri túc, kiệm ước:
Muốn giúp đỡ kẻ khác hữu hiệu, đúng ý nghĩa thì chính bản thân mình phải sống bằng một nếp sống kỷ cương và tri túc. Do đó, các vị Tăng sĩ phải tuân thủ những giới điều như: "Chỉ may sắm ba y, dùng một bình bát, một tọa cụ v.v... Ngoài ra, nếu có thí chủ cúng dường thêm thì phải đem bố thí cho kẻ khác. Vị Tỷ kheo phải dùng ngọa cụ đủ 6 năm mới được thay cái mới, phải dùng bình bát cho đến khi vỡ mới được sắm cái khác. Không được thu góp, cất chứa vàng bạc châu báu làm của riêng mình(12). Thầy Tỷ kheo không được nằm giường cao, nệm êm, không được trang sức hoa mỹ". Tất cả đều nói lên tinh thần ít muốn, biết đủ, sống giản dị nhằm đoạn trừ lòng tham, dốc tâm tu học hầu đạt đến an lạc thật sự. Người xuất gia còn phải giữ giới "Không ăn phi thời(13), không ăn nhiều bữa, không chuộng thức ngon v.v...". Tóm lại, người xuất gia còn phải tuân thủ phương châm "Tam thường bất túc", nghĩa là ba sự ăn, mặc và ngủ không được quá thừa thãi, sung túc. Bởi vì, nếu sự hưởng thụ vật chất quá sung mãn thì dễ làm cho tinh thần người ta trở nên nhu nhược, chậm lụt. Nói như thế không có nghĩa là đạo Phật chủ trương trở về cuộc sống lạc hậu. Phật giáo không bao giờ phủ nhận những giá trị của các phương tiện văn minh vật chất, vì cuộc sống con người cần phải được ăn ngon, mặc đẹp, hưởng thụ những nhu cầu cần thiết. Tuy nhiên, cái gì thái quá cũng đều không hay. Phật giáo không chủ trương con người phải sống nghèo đói, thiếu thốn, mà chỉ cổ vũ tinh thần tri túc, tiết kiệm, vừa mức trung bình. Có như vậy mới không bị sự sung mãn cám dỗ, và nhờ thế mới có thì giờ và điều kiện quan tâm giúp đỡ, chia sẻ mọi nỗi thống khổ của những người thiếu may mắn.
6.1.3. Thanh liêm, công chính, tôn trọng tài sản kẻ khác:
Ðức thanh liêm công chính là đức tính cần thiết tạo nên niềm tin cậy và kính trọng lẫn nhau trong mối tương giao giữa cá nhân và xã hội.
Luật dạy, thầy Tỷ kheo muốn cử tội(14) kẻ khác phải hội đủ 5 điều kiện sau đây thì lời cử tội mới có giá trị:
a)- Nói đúng lúc, không bạ đâu nói đó.
b)- Nói chân thật, không nói hư ngụy.
c)- Nói có lợi ích, không nói vô ích.
d)- Nói nhã nhặn, không nói thô lỗ.
e)- Nói với từ tâm, không nói với ác tâm.
Ðiều này phù hợp truyền thống đạo đức mà ông cha ta đã dạy: "Tiên xử kỷ, hậu lai xử bỉ - xét lỗi người phải biết xét lỗi mình". Nghĩa là chính bản thân mình phải công tâm, chân chính thì tác dụng xây dựng mới đem lại kết quả, bằng ngược lại, nếu "Thân mình không độ được, thì làm sao độ được thân người khác. Bệnh mình không chữa được, thì làm sao chữa được bệnh tha nhân"(15) Thiết tưởng đức công chính không chỉ có giới tu sĩ Phật giáo mới cần đến mà mọi người ai cũng phải có, nhất là những người cầm quyền chính và luật pháp lại càng cần nó hơn ai hết.
Thế nên, những người càng có chức, có quyền, có trách nhiệm lại càng phải sống hết sức thanh liêm và công chính. Lẽ ra giới này phải dành cho hạng người có quyền cao chức trọng, có trách nhiệm quản lý tài sản của tập thể và của quốc gia mới đúng. Vì chính những hạng người này mới dễ bị tiền tài cám dỗ, kích động lòng tham đâm ra làm nhiều điều phi pháp. Bằng chứng cụ thể là hàng ngày chúng ta nghe những tiếng kêu than, những lời lên án của giới báo chí và của những người dân lương thiện về tình trạng tham nhũng. Quả thực hiện nay không có bất cứ một giới điều nào khác mang đầy đủ tính thiết thực và tính thời đại cho bằng giới điều này. Phải chăng đây là một trong những cống hiến rất có ý nghĩa của giới luật đạo Phật trên phương diện giáo dục con người về đức tính thanh liêm?
6.1.4. Giới và đạo đức của người con Phật:
Đạo đức của người con Phật được xây dựng và phát triển trên nền tảng của giới luật. Đối với một Phật tử tại gia nhất thiết phải nghiêm trì ngũ giới. Ngũ giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộ giải thoát. Thiếu căn bản đạo đức này, dù chúng ta có nói đạo đức cao siêu đến đâu cũng là lối nói rỗng. Sự tu hành thiết thực phải gầy dựng cơ bản trước, sau mới tiến lên những bậc cao siêu. Ðó là tầm quan trọng của ngũ giới.
Thật vậy năm giới Phật giáo là chuẩn mức đạo đức cho loài người nói chung, giá trị phổ biến của chúng, giá trị toàn cầu của chúng được các nhà đạo đức học, triết học, xã hội học trên thế giới công nhận. Ngoài ra Giới còn giúp cho người Phật tử đạt được mục tiêu cứu cánh rốt ráo an lạc. “Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Thế Tôn dạy rằng: Giới là nền tảng của bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ đề phần và tám Thánh đạo phần. Ví như đất là nền tảng, không có nó thì các loài động vật không thể di chuyển, cũng thế không có Giới thì ba mươi bảy phẩm trợ đạo không thể được tu tập viên mãn””
“ Đừng làm các việc ác
Tu tập các hạnh lành
Giữ tâm ý trong sạch
Đó là lời Phật dạy”.
7. Năm giới vào đời sống đạo đức xã hội:
Ðạo Phật ra đời là vì con người hay nói cách khác đối tượng của Ðạo Phật là con người vì thế cho nên mục đích của đạo Phật :
- Ðem lại sự hiểu biết về giá trị của con người làm cho con người nhận ra được lẽ thực,không ỷ lại vào tha lực và nhận trách nhiệm về những gì mình làm “Ta là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” [8]
- Hướng dẫn con người cải tạo đời sống bằng những phương pháp, ngăn ngừa dục vọng và làm cho thân tâm thanh tịnh ngõ hầu đem lại một kết quả sống an lạc và hạnh phúc. Chỉ cho con người thấy giá trị của sự tự do chân thật cho mình và mọi người chung quanh với tâm an lạc, bình đẳng, có đời sống đạo đức trong cộng đồng xã hội.
Làm cho cuộc sống đẹp tươi
Truyền ban Pháp bảo giúp người thiện chân
Nghiệp kia, ta chính chủ nhân
Hành tàng cẩn trọng chuyên cần trau tâm.
7.1. Phát huy lòng từ bi:
Bản chất của Phật giáo là bình đẳng thương yêu tất cả mọi chúng sinh, và mong muốn cứu họ ra khỏi biển khổ trầm luân sanh tử. Tôn trọng sự sống, tha thứ và cứu giúp kẻ khác là trách nhiệm của hàng đệ tử đấng Giác ngộ, đó là ý nghĩa của câu “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”.
Trong bối cảnh thế giới đang diễn ra nhiều sự xung đột, sự sát sanh đối với động vật đến lúc báo động, chiến tranh vẫn diễn ra trên một số quốc gia, việc áp dụng và tuyên truyền rộng rãi giới luật Phật giáo cho xã hội là rất cần thiết. Người thực hành giới luật phát huy lòng từ bi, không những thương tưởng chỉ con người mà còn phổ cập đến cả muôn loài qua giới "không sát sinh", bằng cả tâm giới đó là không giết, không bảo giết và thấy vật bị giết mà vui, mới thể hiện trọn vẹn lòng từ bi đối với vạn loại sinh linh. Lòng từ bi còn đối với cả sự sống của cỏ cây hoa lá, thân thiện môi trường.
Giữ giới và thực hành theo giới luật là một phương pháp giáo dục tích cực nhất trong mọi thời đại, nhằm cải thiện đời sống khắt nghiệt của sự xung đột tư tưởng, chủ nghĩa quốc gia và bè phái. Trong cuộc sống đời thường việc giữ giới còn mang nhiều ý nghĩa khác trong việc bảo vệ môi trường, cải tạo điều kiện sống, và lương thực cho những nước khó khăn. Hạn chế ăn thức ăn động vật là góp phần bảo vệ sinh thái, ăn chay vừa thể hiện lòng từ bi đối với chúng sanh, không tạo ác nghiệp mà còn giúp con người sống lương thiện, xã hội càng ổn định hòa bình.
7.2. Thực hiện nếp sống thanh cao:
Tăng sĩ phải tuân thủ những giới luật, sống thiểu dục tri túc. Tóm lại, người xuất gia còn phải tuân thủ phương châm "Tam thường bất túc", nghĩa là ba sự ăn, mặc và ngủ không được quá thừa thãi, sung túc. Nói như thế không có nghĩa là đạo Phật chủ trương trở về cuộc sống lạc hậu. Phật giáo không bao giờ phủ nhận những giá trị của các phương tiện văn minh vật chất, nhưng đối với một người tu học thì không thể hưởng thụ thái quá, làm tăng trưởng xấu ác.
Trước nhu cầu văn minh vật chất ồ ạt, đời sống cải thiện, thức ăn vật mặc sang trọng, thế nhưng đây là điều đáng lo ngại. Của cải vật chất được làm ra cũng phải sử dụng đến nguồn khai thác, đến một ngày nào đó nguồn khai thác thiếu hụt, thiên nhiên bị tàn phá, đất dai thu hẹp và hoang hóa, thì lúc đó thiên tai, đói kém lại diễn ra. Vì vậy, sống theo tinh thần giới luật là cuộc sống tiếc kiệm, mà trong nhà chùa gọi là tích phước.
Sống biết tích phước thì kiếp sau khỏi bị đói kém nghèo khổ, sống hoang phí sẽ bị quả báo cùng cực. Xã hội văn mình, vật chất dồi dào, người Phật tử cũng phải cần tích phước, tiếc kiệm, nhất là đối với những vấn đề về năng lượng và nguồn trử lượng. Nếu sống hoang phí hưởng thụ là trái với đạo đức Phật giáo, hoặc sống khổ hạnh ép xác cũng trái với đạo đức Phật giáo, cần phải tránh xa hai cực đoan này mới có thể thành tựu được tuệ giác. Gìn giữ giới luật cũng là thực hành Pháp trung đạo, vừa kiểm thúc thiện căn, vừa tăng trưởng huệ căn; sống theo giới luật cũng là tích góp phước đức, cũng gia tăng phước huệ.
7.3. Ngăn ngừa tội lỗi quá khứ, hiện tại và tương lai:
Đối với Phật giáo, thời gian mở rộng cả 3 thời quá khứ, hiện tại và tương lại. Nhờ vào thực hành giới luật mà người tu học thấy được tội lỗi quá khứ và tu chỉnh hành vi hiện tại và kết quả của tương lai. Đó là tổng hợp của nội lực tu tập, nhất là đối với tuổi trẻ. Trong Toàn Tập Tâm Như Trí Thủ cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ đã dạy rõ, một người hành trì giới luật có thể chuyển nghiệp bất thiện quá khứ để có một cuộc sống hiện tại an lạc, nhờ hiện tại tích lũy được nhân tốt đẹp mà tương lai sẽ được quả báo tốt đẹp và tiến gần đến với mục đích giải thoát.
Vậy giới luật vượt không gian và thời gian, ai cũng có thể làm được, không phân biệt quốc gia, chức tước và tuổi tác. Giới luật Phật giáo thành tựu ở tất cả mọi hoàn cảnh. Ai thực hành được bao nhiêu thì giải thoát được bấy nhiêu. Hành trì giới luật là một chuỗi nhân quả xuyên suốt ba đời, nhân của thiện căn phước đức, quả thành tựu tuệ giác.
8. Công Đức Thọ Trì Ngũ Giới:
Người thọ trì năm giới là nhận lãnh năm phương pháp làm thiện, cho nên hiện đời sẽ giảm bớt những phiền não hệ lụy cùng những tai nạn hiểm nghèo. Căn cứ theo luật nhân quả ta thấy, không còn sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối thì không bị đọa lạc vào trong ba đường ác đạo và tin chắc rằng đời sau của người này sẽ được thân hình đoan chánh và đầy đủ phước đức cõi nhân gian và cầu phước đức cõi nhân thiên thì cũng được toại nguyện.
Người trì mỗi một giới sẽ có năm vị thiện thần theo bảo hộ khiến cuộc sống gặp nhiều điều tốt lành. Thọ giữ năm giới, là đi đúng con đường chánh pháp, sẽ tránh được lỗi lầm, khổ đau, sợ hãi, thất vọng và được mọi người tôn kính.
Như vậy tam quy là nền tảng của giải thoát, năm giới là năm nấc thang để tiến bước lên đạo quả. Song thọ trì tam quy, ngũ giới ngoài đem đến lợi ích cho cá nhân, còn góp phần làm trong sạch hóa đoàn thể, nhằm xây dựng xã hội văn minh, lành mạnh và đem đến sự lợi lạc cho toàn cõi nhân sinh.
Nếu như tinh cần tu tập thiện pháp cầu xuất ly tam giới thì hiện đời sẽ chứng được từ sơ quả Tu-đà-hoàn, nhị quả Tư-đà-hàm cho đến đệ tam quả A-na-hàm. Giữ gìn thanh tịnh ở đời vị lai sẽ chứng quả Niết-bàn.
Bên cạnh đó, người uống rượu nhiều còn gây nên bệnh tật cho thân thể, di hại cho con cái sau này. Với những tác hại như vậy thì người Phật tử sao lại uống rượu.
Tuy nhiên cũng có trường hợp cho phép đó là khi người Phật tử mắc bệnh, bác sĩ cho phép sử dụng để điều trị thì người này được uống thuốc rượu đến khi lành bệnh thì chấm dứt, nhưng cần phải trình cho chư Tăng biết trước khi uống.
8.1. Giữ giới là lựa chọn tự do:
8.1.1. Tự do của lệ thuộc và tự do của hỗn loạn:
Trong những tôn giáo độc thần, giới luật là những định luật vật lý và tâm lý được một Thượng Đế độc thần gài vào trong khi sáng tạo vũ trụ. Và vị Thượng Đế độc thần ấy ra lệnh cho con người – cũng do ngài tạo ra – phải tuân thủ những giới luật ấy, nếu không, trong ngày cánh chung hay tận thế, cũng chính vị ấy sẽ xét xử những ai phạm tội bất tuân những điều luật do vị ấy đặt ra và quẳng họ vào địa ngục đời đời.
Con người dù có tuân theo những mệnh lệnh ấy để được phần thưởng là sự sống đời đời thì nó cũng đã mất tự do ngay từ đầu, khi bị quẳng vào một trò chơi với vốn liếng và những luật chơi mà nó không hề có trách nhiệm.
Làm sao tôi phải chịu cái quả cuối cùng khi cái nhân ban đầu không do tôi lựa chọn: Thượng Đế sinh ra tôi vốn xấu ác kém cỏi hơn người, làm sao tôi có thể phấn đấu bằng người trên con đường hướng thiện để đạt được cái quả tốt lành vào lúc cánh chung?
Đây là sự tự do của lệ thuộc vào một đấng Chủ Tể có một quyền hạn và trách nhiệm đối với tất cả mọi sự.
Nếu không chọn lựa một Thượng Đế độc thần mà sự chọn lựa và luật lệ của vị ấy có phần tùy tiện và không công bằng (chỉ một điều vị ấy chọn riêng dân tộc Do Thái làm con dân được chọn của ngài, những giống dân khác đều là “dân ngoại”, cũng đủ cho những người văn minh ngày nay e ngại có “sự phân biệt chủng tộc” ở đây), nếu chúng ta cho rằng đời sống chẳng có một định luật nào cả, tất cả đều may rủi ngẫu nhiên thì chúng ta lại rơi vào một sự không công bằng khác.
Chẳng lẽ mọi khác biệt, không bình đẳng giữa loài người với nhau, người sống lâu người chết yểu, người giàu người nghèo, người thông minh người kém trí, người làm đàn ông người làm đàn bà… chỉ là may rủi, ngẫu nhiên, chẳng có lý do, chẳng có nhân quả nào cả! Công nhận ngẫu nhiên may rủi là công nhận sự không công bằng, sự hỗn loạn đang ngự trị vũ trụ.
Cả hai cực đoan trên, một Thượng Đế toàn quyền và một thế giới phó mặc cho ngẫu nhiên may rủi là điều Phật giáo gọi là thường kiến và đoạn kiến hay chủ nghĩa vĩnh cửu và chủ nghĩa hư vô.
8.1.2. Tránh hai quan niệm cực đoan ở trên:
Giới luật của Phật giáo thì khác. Nó dựa trên những định luật vật lý và tâm lý của một vũ trụ được sinh ra và tồn tại là do nhiều nhân duyên hợp thành, trong đó có cả nghiệp của loài người. Đó là luật nhân quả khách quan của một vũ trụ khách quan và hợp tạo. Luật nhân quả này là những định luật căn bản cho cả hai thế giới vật lý và tâm lý.
Chẳng hạn luật nhân quả vật lý: định luật bảo toàn năng lượng, ba định luật về lực của Newton…. Khoa học chỉ biết được mới một phần của luật nhân quả vật lý (bởi vỉ hiện nay, người ta mới chỉ biết khoảng 4% vật chất trong vũ trụ, còn lại 96% chưa biết được thì gọi là “vật chất tối”). Còn luật nhân quả tâm lý thì đến bây giờ khoa học cũng chưa biết ý thức, ý nghĩ là gì, nó có năng lượng khối lượng gì, tần số sóng ra sao, truyền xa tới đâu.
Khoa học chỉ biết những hoạt động sinh hóa trong những phần của bộ não, còn ý nghĩ là gì thì khoa học không chụp ảnh được, không cân đo được. Thế nên khoa học cũng không thể bác bỏ hay biện hộ gì cho luật nhân quả tâm lý.
Phật giáo chỉ khám phá và làm rõ cơ chế nhân quả vật lý và tâm lý ảnh hưởng lên thân tâm con người ra sao, chứ những định luật nhân quả ấy không phải là do Phật giáo chế tác ra và áp đặt cho ai cả. Dầu anh có theo PG, định luật nhân quả không phải vì thế mà nương nhẹ cho anh,và anh không theo PG,định luật nhân quả không vì thế mà ghét bỏ anh. Nhưng dầu không thấy rõ định luật nhân quả, từ xưa con người dù sơ khai nhất cũng linh cảm là có nó, họ chẳng bao giờ nghĩ rằng mình làm một việc xấu ác(16) sẽ có một hậu quả tốt lành(17).
Trong ý nghĩa đó, giới luật của Phật giáo có nghĩa là: “Anh đừng tự làm thương tổn mình, anh đừng tự làm hại mình”.
8.1.3. Luật nhân quả là định luật của tự do:
Định luật nhân quả là tuyệt đối, công bằng, không thiên vị ai. Nhưng nhân quả là định luật tuyệt đối trong một vũ trụ hữu hạn và tương đối(18) ,nó là cái tuyệt đối của một cái tương đối, nên đứng về mặt tuyệt đối rốt ráo, nó vẫn là cái tương đối. Định luật nhân quả chỉ tuyệt đối trong vũ trụ chứ không tuyệt đối nếu ở ngoài vũ trụ.
Với Phật giáo, nhân quả là vòng Mười Hai Duyên Khởi. Mười Hai Duyên Khởi ấy vì là duyên khởi nên không có tự tánh. Một khi đã thấy Mười Hai Duyên Khởi là vô tự tánh, nó bèn bị chặt đứt và tiêu hủy. Do đó mà có giải thoát khỏi nhân quả.
Nhờ có nhân quả là định luật của thân tâm, mà con người có thể sửa đổi, làm cho thân tâm tiến bộ, theo đúng luật tiến hóa của con người.
Chính là do biết sử dụng định luật nhân quả áp dụng cho cả thân và tâm, chính nhờ định luật nhân quả mà con người ta có thể thoát ra khỏi bộ máy vận hành của vũ trụ. Người xưa nói: “Chúng ta đã té trên đất phải nhờ mặt đất để chống tay đứng dậy”. Như thế, định luật nhân quả chính là định luật để vươn tới tự do.
Giữ giới luật là cải thiện thân tâm mình trên con đường hướng đến tự do và hạnh phúc.
8.1.4. Không bị trói buộc bởi cái xấu gây ra khổ đau:
Giữ giới thì khỏi bị các quả xấu trói buộc. Giữ giới luật, nghĩa là hành động theo định luật nhân quả, không dại gì gây nhân xấu để rồi phải chịu quả xấu. Sự chọn lựa giữa nhân xấu cho quả xấu và nhân tốt cho quả tốt, đó là sự tự do. Chính bằng sự lựa chọn này, chúng ta thoát khỏi luật nhân quả(19), chúng ta đang đi trên con đường của tự do.
8.1.5. Không bị ngăn che, làm hạn hẹp:
Khi phát sanh và giữ một ý tưởng xấu trong tâm thức,(20) ý tưởng xấu làm nhiễm độc tâm thức, làm tâm thức mất sự trong sáng vốn có, làm tâm thức nặng nề rớt xuống chỗ thấp kém. Như thế là chúng ta đã làm cho tâm thức mất tự do, trói buộc tâm thức vào những gì nặng nề, thô trược, tối tăm. Khi nuôi dưỡng những ý định xấu ác chúng ta tự ngăn che tâm thức mình bằng những ý tưởng ấy, tâm thức trở thành hạn hẹp, bị trói buộc, bị trói nhốt. Tâm thức trở nên mất tự do.
Một nguyên lý của Phật giáo: tâm và cảnh là một. Đối tượng là phản ảnh của chủ thể và chủ thể được hợp tạo bằng những phản ảnh của đối tượng. Làm hư hoại cảnh tức là làm hư hoại tâm. Làm thương tổn đối tượng tức là làm thương tổn chủ thể.
Nếu tôi tham tiền(21) ,tiền là tất cả ý nghĩa và giá trị đối với tôi, thì cây cối, chim thú, thiên nhiên và con người…đều bị tôi biến đổi thành tiền. Thế giới của tôi khi ấy mất mọi ý nghĩa và giá trị khác. Thế giới ấy là một thế giới chết.
Ngay một thứ tinh vi nhất, một quan niệm sai lầm, một tà kiến(22) ,nếu chúng ta cố chấp vào tà kiến ấy, tâm thức sẽ bị tà kiến ấy ngăn che, chướng ngại làm hạn hẹp và về lâu dài gây ra khổ đau.
Khi tâm thức không bị những ý tưởng xấu, những quan niệm sai lầm che ám, tâm thức ấy tự do. Như thế, chọn một ý tưởng xấu, một quan niệm sai lầm, chúng ta liền mất tự do. Và ngược lại, nếu giữ giới(23) tức là chúng ta đã lựa chọn tự do.
8.1.6. Mở rộng tâm thức là tự do:
Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm…đó là chúng ta đang sống trong từ bi hỷ xả(24). Khi ta thương yêu một đối tượng nào, tâm thức ta mở rộng ra đến đối tượng đó. Khi chúng ta thương yêu rất nhiều đối tượng, tâm thức chúng ta mở rộng rất nhiều. Thương yêu đến vô hạn chúng sanh, tâm ta cũng mở rộng đến vô hạn. Thế nên Từ Bi Hỷ Xả được gọi là Bốn Tâm Vô Lượng.
Tâm thức càng mở rộng thì tâm thức càng tự do. Thế nên sát sanh, trộm cướp, tà dâm cho đến tà kiến – những cái đi ngược với Bốn Tâm Vô Lượng – đều là tự mình đánh mất tự do, tự mình làm cho mình nhỏ hẹp đến độ chật chội, bức ngặt gây ra khổ đau.
8.1.7. Sống trọn vẹn những ý nghĩa và giá trị của cuộc đời là tự do:
Giữ giới là nhìn đời sống, trong đó có chúng ta, như một toàn thể với đầy đủ ý nghĩa của nó. Giữ giới là trả lại cho tâm - cảnh sự toàn vẹn với đầy đủ ý nghĩa vốn có của chúng. Giữ giới là trả lại tính thiêng liêng vốn có của sự vật, con người và cái siêu việt không thể nghĩ bàn.
Đời sống hay thế giới này là một văn bản. Sống nghĩa là giữ gìn, tìm hiểu và thưởng thức văn bản đó. Chúng ta không thể thông hiểu trọn vẹn từng câu cho đến khi nào chúng ta thông hiểu toàn bộ văn bản. Ngược lại chúng ta không thể thông hiểu toàn bộ văn bản nếu chúng ta chưa hiểu được từng câu tạo thành văn bản đó.
Thế nên bỏ một câu, làm hư hỏng ý nghĩa một câu(25) trong toàn bộ ngữ cảnh của văn bản tức là làm hư hỏng sự toàn vẹn của văn bản. Càng làm hư hỏng, hiểu sai nhiều câu thì cái văn bản đời sống càng bị hư hỏng và hiểu sai, đến độ cái văn bản đời sống trở thành hư hỏng, vô giá trị và khổ đau.
Xâm phạm một ý nghĩa(26) tức là xâm phạm mọi ý nghĩa khác: sự trong sạch, chung thủy, ý nghĩa của tình dục, ý nghĩa tương quan giữa con cái và cha mẹ, ý nghĩa của sự trao đổi cho và nhận, trách nhiệm và bổn phận, gia đình, xã hội, thế giới….
Khi chúng ta có tà kiến(27) về chỉ một ý nghĩa và giá trị, tất cả mọi ý nghĩa và giá trị khác của đời sống liền bị ô nhiễm. Nếu tà kiến sai lầm quá nặng nề, thì toàn thể ý nghĩa và giá trị của đời sống đều bị xâm phạm, làm cho méo mó. Toàn thể đời sống sẽ trở thành sai lầm, hư hỏng.
Giữ giới là sống đời sống như một toàn thể đầy đủ ý nghĩa và giá trị. Sống cái toàn thể đầy đủ ý nghĩa và giá trị ấy tức là tự do và hạnh phúc. Chúng ta nên nhớ rằng cùng một văn bản đời sống trần gian này mà các vị thành tựu của Phật giáo đã diễn dịch, đã thông diễn(28) thành Niết bàn thường lạc ngã tịnh, trong khi người buông thả, không thực hành thì diễn dịch, thông diễn thành sanh tử phiền não khổ đau. Sự thông diễn của các vị thành tựu là vô ngại vì không còn những ngăn trở che chướng(29) ,mà những ngăn chướng này được tạo thành là do không giữ được giới ở nơi thân tâm.
9. Giữ giới là một nghệ thuật sống:
Đức Phật và chư vị Tổ sư thường răn dạy, Giới là chiếc bè quý báu đưa lữ hành qua sông mê, Giới là ngọn đèn sáng đưa người ra khỏi chỗ tăm tối, Giới là áo giáp kiên cố che chắn không để cho tam độc tham sân si và ngũ dục thế gian(30) xâm nhập… Những lời dạy trên cho chúng ta thấy rõ, giới luật chính là phương tiện bảo vệ hành giả trên lộ trình tu tập giải thoát được an toàn.
Nếu đã nói Giới chính là phương tiện giúp hành giả được mau chóng đến bờ giải thoát thì phương tiện ấy được hành giả thực hiện như thế nào cho viên mãn? Nhiều người cũng đã thọ và trân trọng giữ giới như giữ tròng mắt, xem giới luật rất thiêng liêng cao quý, bất di bất dịch… Giới luật có công năng bảo hộ thân tâm hành giả, như hàng rào che chắn không để những ngoại ma, ác duyên xâm nhập nhưng nếu tự thân hành giả cứ ôm giữ giới luật một cách cứng nhắc thì cũng chính là tự làm khổ mình, tự sinh ma chướng nơi thân.
Vì giới luật là phương tiện bảo vệ hành giả tu tập, thế nhưng nếu hành giả không biết ứng dụng giới luật ấy vào cuộc đời thì giới luật ấy mãi mãi vẫn chỉ là điều răn cấm nghiêm ngặt, không phát triển được. Cho nên thọ trì giới luật đúng nghĩa là hành giả phải biết ứng dụng giới luật ấy một cách linh hoạt nhằm giữ thân tâm thanh tịnh. Giữ giới như vậy thì giới luật ấy sẽ là nấc thang vô hình đưa hành giả lên một bước cao hơn, nhìn rộng hơn, và ứng dụng vào cuộc đời làm lợi ích cho tha nhân được nhiều lợi lạc và trọn vẹn hơn.
Cũng không nên nghĩ rằng giới luật ràng buộc lấy hành giả, bởi đó là quan niệm vướng mắc và bản thân hành giả sẽ không có lợi ích, an lạc trong quá trình tu tập. Khi hành giả giữ giới miên mật, dần dần quen với nếp sống oai nghi, cách nghĩ, cách làm… với thân, khẩu, ý đều thanh tịnh. Khi ấy hành giả sẽ tự tại với giới luật vì không còn thấy mình bị ràng buộc. Hành giả không thấy mình giữ giới vì mọi oai nghi đều là giới.
Như một đứa trẻ chơi thả diều, lúc đầu diều phải nương sợi dây để bay lên, nhưng khi bay cao trên bầu trời xanh tự tại rồi thì bổn phận sợi dây phải giữ lấy con diều. Khi nhìn vào người ta thấy con diều bay cao, con diều đẹp có ai thấy sợi dây? Cũng thế, hành giả khi mới thọ giới phải nương giới mà tu tập, khi đã tự tại với mọi oai nghi, cách nghĩ, cách làm cũng chính là lúc giới luật sẽ bảo vệ lại chính mình như sợi dây phải giữ lấy con diều.
Chúng ta cũng cần phải nghĩ đến lợi ích của việc giữ giới và đưa lợi ích ấy lên hàng đầu để sách tấn nhau tu tập. Trước hết cần xác định là ta giữ giới là vì chính bản thân mình, vì chính bản thân ta có tự độ rồi mới có đủ khả năng độ tha. Sau đó mở rộng ra, giữ giới luật là vì tôn trọng lợi ích của một tập thể mà ta đang sống. Nếu một tập thể cùng sống chung mà không tuân thủ giới luật thì tập thể ấy sẽ không còn hòa hợp và nhanh chóng tan rã. Thứ nữa ta giữ giới là vì những người thân, đồng đạo, tín đồ Phật tử… hay nói chung một cộng đồng xã hội. Vì nếu mình không nghiêm túc với giới luật, đạo đức yếu kém thì chính mình tự đào thải mình, đó là chưa kể tác hại xấu đến xã hội.
9.1. Ứng dụng giới luật thiết thực có lợi ích trong đời sống:
Trước hết, Giới luật được xem như là nơi quy thú tất cả thiện pháp, là phương tiện để ngăn chặn và đoạn trừ các điều ác bộc phát qua thân, khẩu, ý. Điển hình như kinh Hoa Nghiêm nói: “Giới là mẹ sinh ra các công đức”. Thật vậy, Giới luật chính là sinh mạng, là sự sống còn của những người con dòng họ Thích – những hành giả thừa Như Lai xứ, hành Như Lai sự.
Hơn nữa, nếu hành giả biết ứng dụng Giới luật, y chỉ vào Giới luật và sống đúng với nó, có nghĩa là tự mình tìm được cuộc sống thanh tịnh giải thoát. Song về phương diện tích cực thì Giới luật có lợi ích không chỉ riêng cho cá nhân nào, mà nó còn tác động rộng rãi đến cộng đồng xã hội.
Mặt khác, đức Phật vì không muốn mang tiếng đồn gần xa của người thế tục, sợ họ nhìn vào nếp sống buông lung “tự tung tự tác” của Tăng đoàn mà mất đi chánh tín hoặc chê bai hiềm tị. Cho nên sự có mặt của Giới luật là yếu tố cần thiết để thành tựu sự thanh tịnh, đồng thời làm mô phạm cho người và giúp cho hành giả bước đi trên con đường thoát ly sanh tử. Nên hiểu rằng Giới luật không phải là điều kiện gượng ép hay bó buộc gì cả mà nó hoàn toàn mang tính tự giác, tự phát nguyện thọ trì, cho nên bất kỳ vị Tỳ kheo nào giữ gìn tịnh giới đều thành tựu
10. Giới Luật Phật Giáo Cho Người Tại Gia:
Đối với những người tại gia như chúng ta thì Phật giáo đưa ra Năm Giới kết hợp chặt chẽ với Tám Chánh Đạo(31).
Nhận lãnh và thực hành Tám Chánh Đạo là quyền và đặc ân của bất cứ người nào muốn, là quyền và đặc ân của tất cả những người tại gia như chúng ta. Đó là cây kim chỉ nam không bao giờ sai cho cách cư xử của chúng ta trong cuộc đời nầy. Nó cần được chiếu rọi vào mọi mối quan hệ tương giao của chúng ta như vợ và chồng, cha mẹ và con cái, thầy và trò, anh chị em, bạn bè, người thân, chủ và người làm, tu sĩ và cư sĩ, chính quyền và dân chúng cũng như trong mối liên hệ quốc tế, giữa các tôn giáo và giữa các chủng tộc.
10.1. Ba nghiệp của người Phật tử tại gia:
Căn bản giới luật của đạo Phật nhằm ngăn ngừa bốn tội chính là sát sinh, trộm cắp, tà dâm và nói không đúng sự thật(32) và cũng nhằm hạn chế mặt xấu, cùng phát huy mặt tốt của ba nghiệp thân khẩu ý. Sát sinh, trộm cắp, tà dâm là những việc làm tội lỗi, tạo thành thân nghiệp. Khẩu nghiệp tội lỗi do phạm phải bốn điều là nói không đúng sự thật, nói thêu dệt, nói lời hung ác và nói lời gây chia rẽ. Ý nghiệp gồm có tham lam, sân hận và si mê. Đó là những mặt xấu của ba nghiệp thân khẩu ý.
Tuân thủ lời Phật dạy, người Phật tử tại gia hạn chế ba nghiệp của thân, khẩu, ý, nghĩa là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói sai sự thật, không nói lời độc ác, không nói bịa đặt, không nói lời gây mâu thuẫn, không tham lam, không giận dữ, không sai lầm. Nhờ giữ gìn ba nghiệp thân khẩu ý không phạm những lỗi lầm như vậy, người Phật tử
Tại gia sẽ hạn chế được những việc ác theo thế gian, từ đó sẽ hoàn thiện được nhân cách tốt đẹp trên cuộc đời này.
Nâng lên một bước, Đức Phật dạy hàng Phật tử tại gia chẳng những không sát sinh mà hộ mạng, bảo vệ sự sống cho mọi người, mọi loài; chẳng những không trộm cắp mà bố thí, san sẻ tiền bạc, y phục, thuốc men, v.v… cho những người kém may mắn hơn mình và luôn xây dựng một gia đình đạo đức mẫu mực, hạnh phúc. Đó chính là việc phát huy mặt tích cực của ba nghiệp thân khẩu ý bằng mười thiện nghiệp. Ngoài việc tự bản thân thực hiện ba nghiệp thân khẩu ý tốt đẹp, người Phật tử tại gia còn hướng dẫn, giúp đỡ người xung quanh thực hiện mười hạnh lành của thân khẩu ý để cùng nhau xây dựng xóm làng, đoàn thể, xã hội an vui ngay trong cuộc sống này.
Sở dĩ người ta tạo ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng, tức phạm tội sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói lời hung ác …, vì động cơ thúc đẩy từ tâm mà sinh ra, đó là tham, sân, si. Thực hiện lời Phật dạy, người Phật tử tại gia phải đem pháp Phật vào lòng để đẩy lùi những điều ác ra khỏi tâm mình. Giáo pháp Phật rất nhiều, nhưng chủ yếu chúng ta sử dụng bốn tâm vô lượng là Từ Bi Hỷ Xả.
11. Đặc Điểm Của Giới Luật Phật Giáo:
Trước tiên và trên hết giới luật Phật giáo được đặt nền tảng trên trí tuệ, tự do tư tưởng, tự do tra vấn và luật nhân quả. Không giáo điều, không ép buộc, không đe dọa, không bắt tin theo một cách mù quáng. Phật giáo lầy Từ, Bi, Bất hại và Nhẫn để nuôi dưỡng đạo đức. Những mối quan hệ qua lại như chồng và vợ, cha mẹ và con cái, anh chị em, bạn bè, người thân, thầy và trò, chủ và người làm, tu sĩ và cư sĩ được nêu rõ.
Điều được khuyến khích trong việc dạy dỗ của Phật giáo là không bóp méo hay linh động để thích ứng với sự xấu ác. Giết hại là một hành động bất thiện, dù được nhân danh tôn giáo hay tổ quốc. Chế tạo và bán vũ khí không thể được coi là chính đáng dù nó đem đến lợi tức lớn lao cho quốc gia như Hoa kỳ và nước Anh. Không ai có thể tha lỗi và xá tội cho những hành động tàn ác của một người dù người đó cầu nguyện bao nhiêu đi nữa. Có một số tôn giáo nghĩ như vậy. Hành động tốt sẽ đem đến kết quả tốt và hành động xấu sẽ đem đến kết quả xấu, cho dù người đó là vua hay người cùng đinh. Cũng theo Phật giáo, dạy lối sống đạo đức bằng việc nêu gương được coi là cách dạy tốt nhất. Đức Phật là một điển hình. Đó là một nền đạo đức thực tiễn giúp con người cư xử một cách hài hòa và công bằng với mọi người.
Con người được rèn luyện để cảm thấy có trách nhiệm và giá trị trong những việc làm của mình. Đạo đức Phật giáo hình thành những tiêu chuẩn và nguyên tắc về cách cư xử tốt thể hiện trong lời nói và hành động theo con đường chân chánh và tự chủ. Những đức tính nầy phát triển từ sự tự giác, không từ sự sợ hãi hay hình phạt. Chúng hướng dẫn chúng ta cách làm người, thực hiện những điều tốt và tránh xa những điều xấu.
Đạo đức Phật giáo (Giới) đi cùng với định và tuệ – giới, định, tuệ. Trí tuệ ở đây không phải chỉ là sự thông thái. Nếu chỉ có thông thái mà không có trí tuệ, sự thông thái có thể trở thành một hiểm họa.
11.1. Giữ trì cho thân khẩu ý thanh tịnh:
Chữ “trì” trong cụm từ này có nghĩa là sự trì giữ, ở đây là mối liên hết với Thượng sư và Bản tôn quán đỉnh và điều này có liên hệ sâu sắc với các giới nguyện Kim Cương thừa. Để hiểu cặn kẽ về các giới nguyện này, trước hết tôi xin trình bày một cách vắn tắt các thứ lớp giới luật của Phật giáo. “Giới” là điều ngăn cấm do Đức Phật chế định cho hàng đệ tử dùng để ngăn ngừa tội lỗi của ba nghiệp thân, khẩu, ý còn “luật” là các nguyên tắc do Đức Phật quy định cho hàng Tỳ kheo áp dụng khi sống trong tập thể Tăng đoàn. “Giới” như vậy là điều răn và “luật” là quy định thi hành Giới. Tuy gọi khác nhau nhưng tính chất vốn đồng nên trong thuật ngữ Phật giáo chúng ta gọi chung là “Giới luật”.
Bề mặt phẳng được ví với Giới luật vì giới luật mang lại cho chúng ta sự ổn định bền vững. Chúng ta thường là những kẻ cuồng vọng nhiễm ô, dễ bị tổ thương bởi những nhiễu loạn Thân - Khẩu - Ý. Nếu sử dụng giới luật như một phương thuốc đối trị và hành trì giới luật một cách nghiêm cẩn, tự nhiên cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên an lạc hơn. Không có phương thuốc này, chúng ta sẽ phải trải nghiệm một cuộc sống bị cuốn trôi trong những thăng trầm, thất thường, giống như việc cố sắp đặt đồ vật trên một bề mặt thô nhám gồ ghề. Điều này khiến cuộc sống chúng ta có vô vàn nhiễu loạn đau khổ, chưa nói đến nỗi khổ đau, tuyệt vọng cùng cực trong Bardo cái chết mà tôi đã chia sẻ cho các bạn trong những phần trước. Như vậy, giới luật cũng giống như bề mặt bằng phẳng của chiếc bàn. Trên mặt bàn là những đồ vật quý giá song cũng rất dễ vỡ, đó là các pháp thực hành Phật giáo, thực hành Kim Cương thừa vừa cao đẹp, trân quý với quả vị tối thượng song cũng rất mong manh. Nếu không có một nền tảng vững chắc về giới nguyện thì sẽ không có phương cách nào để sắp đặt bày biện các đồ vật này một cách phù hợp, chúng ta sẽ bị quỵ ngã hoặc đi vào con đường thực hành một cách sai lạc.
11.2. Thọ giới phật giáo là pháp tu căn bản để giải thoát:
Giới luật là một pháp môn tu hành của đạo Phật, chứ không phải là pháp luật của một quốc gia. Cho nên các bộ giới luật do các Tổ biên soạn thành một bộ pháp luật của Phật giáo hơn là một pháp môn tu tập để tâm được vô lậu.
Pháp môn giới luật cùng với pháp môn Thiền định và pháp môn Trí tuệ, gọi chung có tên là “Tam Vô Lậu Học” “GIỚI – ĐỊNH – TUỆ”.
Tam Vô Lậu Học là ba pháp môn tu tập không còn lậu hoặc, tức là ba cấp tu tập trong tám lớp học sẽ chấm dứt đau khổ của kiếp người hay nói cách khác là làm chủ sanh, già, bệnh, chết của đạo Phật.
Ba pháp môn vô lậu này, kỳ thật chỉ là ba cấp học đạo đức duy nhất của Phật giáo, nên nó được chia ra làm ba giai đoạn tu tập: Giới, Định, Tuệ.
Ba cấp học này chỉ có giới luật là cấp học quan trọng nhất và tu tập khó nhất trên đường tìm cầu đạo giải thoát theo đạo Phật.
Bởi thế, người nào tu hành mà không giữ gìn giới luật không tu giới luật, không sống đúng giới luật, thì có tu suốt đời cũng tu chẳng tới đâu, chỉ còn tu danh, tu lợi, tu tưởng, tu chùa to Phật lớn mà thôi(33).
Nếu không tu giới luật mà tu định, thì Thiền định đó là tà thiền, định tưởng.
Nếu không tu giới luật mà tu trí tuệ thì trí tuệ đó là tà tuệ, kiến giải, tưởng giải, là trí tuệ tích lũy nhai lại bã mía của người xưa, thêm râu, thêm ria, vẽ rắn thêm chân.
Từ xưa đến giờ các Tổ chỉ lặp đi, lặp lại lối mòn của nhau, chỉ dùng từ hiện đại cho lạ tai mà thôi, chứ lối mòn vẫn là lối mòn, không thể nào lối mòn là đường lớn được.
Như trên Thầy đã dạy giới luật là pháp môn quan trọng nhất trong “Tam Vô Lậu Học”. Cho nên vì lợi ích chúng sanh, vì muốn thoát ra sự đau khổ của kiếp người Đức Phật đã dạy: “Vì hạnh phúc, vì lòng thương tưởng đệ tử, những việc ấy Ta đã làm xong, vì lòng thương tưởng Ta đã dạy các ngươi”.
Thế mà người tu sĩ Phật giáo hiện giờ lại xem thường giới luật, oai nghi chánh hạnh không có, xem thường trong các lỗi nhỏ nhặt, phạm giới không biết xấu hổ, chẳng bao giờ lấy giới phòng hộ sáu căn, sống ăn uống phi thời, Tăng Ni Tu Sĩ nam nữ kề cận chẳng biết đó là tai họa khổ đau, chẳng biết đó là con đường sanh tử luân hồi.
11.3. Hành trì giới luật sẽ không vướng vào bẫy sập:
Khi một con thú bị sập bẫy, nó vùng vẫy đủ cách nhưng vẫn rất khó thoát, nó rất khổ sở và mất hết tự do. Với ngũ dục cũng vậy. Khi đã sa vào thì không khác nào bị sập bẫy, ta cũng vùng vẫy nhưng rất khó thoát ra. Chẳng hạn như khi nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện sắc dục hay là nghiện tiền bạc. Có tiền không bao giờ thỏa mãn hết, có tiền ít thì muốn có tiền thêm, có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn nữa, giống như người khát nước ngoài biển khơi, càng uống nước biển thì càng khát thêm. Sắc dục cũng vậy mà danh lợi cũng vậy, rất dễ sợ, sa vào rồi thì rất khó thoát ra. Nhất là khi mình phải đơn phương tranh đấu để thoát khỏi những cái bẫy ngũ dục và nghiện ngập thì thậm nan, vạn nan! Sở dĩ như vậy là vì mình đã nhiễm vào một cái thói quen gọi là tập khí. Tập khí cũng giống như ngựa theo lối cũ, dù có được học, được nghe và hiểu được rằng điều đó là có hại, là không nên làm, nhưng ta vẫn "ngựa theo lối cũ" như thường. Thành ra nếu đến người nghiện ma túy và khuyên họ rằng: "Anh ơi! Anh không nên sử dụng ma túy tại vì nghiện ma túy thì thân anh sẽ tan nát, công danh sự nghiệp của anh sẽ tan nát, gia đình của anh cũng sẽ tan nát, anh đừng nên tiếp tục con đường này nữa" thì vô ích lắm. Tại vì chính người này cũng biết điều đó, và biết rất rõ, có thể còn rõ hơn chúng ta nữa, nhưng họ không làm được, họ không thoát ra khỏi cái bẫy sập được. Vì vậy chúng ta đừng đến để dạy luân lý, đạo đức cho họ, Nếu có những phương cách gì để giúp họ thoát ra thì hãy đến, còn đến để dạy luân lý đạo đức thì không có ích lợi gì. Một phương cách có hiệu quả là lập một tăng thân, một đoàn thể, trong đó có những người đã thoát bẫy sập. Đưa tăng thân này đến gặp các người sập bẫy và nói rằng "Đây là những người ngày xưa cũng như anh, bây giờ đã thoát ra rồi, anh nên sống chung với họ, để họ nâng đỡ, yểm trợ cho anh thoát khỏi tình trạng khổ đau này". Tập khí rất nguy hiểm, biết đó là cái bẫy, không muốn chui vào nhưng ta vẫn lặng lẽ, êm ái chui vào như thường. Chui vào rồi tâm sự: "Bẫy sập của ta ơi! Ta không thể nào thiếu ngươi được, ta phải chui vào, dầu ta biết rằng ngồi ở trong ngươi ta sẽ đau khổ vô cùng, nhưng ta vẫn sẵn sàng để chui vào!" Sự thật là như vậy, cho nên trong đạo Bụt có danh từ gọi là trầm luân. Trầm là chìm xuống, luân là lăn đi. Khi bị trầm luân trong những bẫy sập, chỉ có một tăng thân vững mạnh, đầy thương yêu mới cứu được ta mà thôi. Lý do là trong Tăng có Bụt và có luôn cả Pháp.
11.4. việc không hành trì Ngũ giới nhà Phật:
Ngũ giới mà đức Phật đưa ra đó là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Theo đó, những ai muốn làm đệ tử của Phật thì cần phải giữ cho được năm giới cấm này, điều này khiến đời sống họ được an lành hạnh phúc.
Theo giáo lý nhà Phật, khi quy y Tam bảo, người phật tử phải hành trì ngũ giới trong đời sống hàng ngày. Việc thực hiện ngũ giới sẽ mang lại cho bản thân nhiều tác dụng, lợi lạc và ngay từ thời đức Phật, Phật đã nhấn mạnh ngũ giới làm giới đức căn bản cho các đệ tử tại gia khi bắt đầu bước chân trên con đường học đạo.
Tuy nhiên, nếu người phật tử không hành trì ngũ giới thì sẽ gây ra những hậu quả, thậm chí còn bị tổn phước. Theo lời Phật dạy, hậu quả của việc sát sinh bao gồm: Thân thể bị khuyết tật hay bị dị dạng; khuôn mặt xấu xí; người xanh xao yếu ớt; đầu óc trì trệ; dễ bị hoảng sợ khi phải đối diện với hiểm nguy; bị người khác sát hại hoặc chết yểu; chịu nhiều bệnh tật; có ít bạn bè; phải xa cách người mình thương yêu.
Hậu quả của việc trộm cắp bao gồm: Trở nên nghèo khó; chịu nhiều đau khổ cả về tâm và thân; bị đói khát hành hạ; không thực hiện được các ước nguyện; cơ đồ không ổn định và dễ bị đổ bể; tài sản bị 5 kẻ thù phá huỷ, đó là lụt lội, hoả hoạn, trộm cắp, con cái thuộc hạng phá gia chi tử và chính quyền tịch thu.
Hậu quả của việc tà dâm bao gồm: Bị người khác khinh rẻ; có nhiều kẻ thù; không được giầu có thịnh vượng; hạnh phúc bị tan vỡ; bị sinh ra làm người nữ; bị sinh ra là người có giới tính lệch lạc; sinh ra là người trong gia đình hạ liệt; bị ghét bỏ; phải xa cách người mình thương yêu; chịu đau khổ về thể chất.
Hậu quả của việc nói dối bao gồm: Bị nói ngọng; răng không đều; bị hôi miệng; dáng vóc yếu ớt; chức năng mắt và tai kém; bề ngoài trông khiếm khuyết; không có ảnh hưởng đối với người khác; nói năng cộc cằn; khó định tâm.
Hậu quả của việc dùng đồ kích thích bao gồm: Kém thông minh; lười nhác; thiếu khả năng tập trung; là người vô ơn; không có tâm tàm quý(34) :bị điên loạn; có xu hướng làm điều bất thiện.
12. Công đức trì giới luật:
12.1. Thâu nhiếp vào chúng:
Giới luật là yếu tố cần thiết để một chúng làm mô phạm cho trời người, bước đi trên con đường giải thoát được vững chãi. Giới luật không phải là điều kiện gượng ép hay bó buộc mà hoàn toàn mang tính chất tự giác, tự phát nguyện thọ trì.
Thọ giới là chính thức gia nhập Tăng số, là một thành viên ưu tú bước vào địa vị chúng trung tôn, một trong ba ngôi báu. Giới luật nghiêm cẩn tạo một môi trường an ổn vững vàng, bảo trì sự tồn tại của Tăng đoàn. Như thế gọi là nhiếp thủ ư Tăng (thâu nhiếp vào ngôi Tăng bảo, giữ gìn cho được vững bền).
12.2. Khiến chúng hoan hỷ:
Hương thơm của giới phẩm bay khắp mười phương. Dù ngược chiều gió vẫn lan xa. Trong kiếp sống vô minh, giới luật cần thiết như đi đêm cần đèn đuốc. Tăng già được tô đậm nét uy nghiêm thuần nhã. Uy tín ngôi Tam-bảo được nâng lên. Tai nghe mắt thấy một pháp khí, lòng người đã mừng rỡ bao nhiêu huống chi được sống chung với các Thánh nhân, thật là một hạnh phúc hiếm có.
12.3. Khiến chúng an vui:
Tục ngữ có câu : “Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ”. Người xuất gia cắt ái từ thân, chung sống với các bạn đồng lý tưởng. Lỡ một vị bị phiền não chế ngự, ba nghiệp theo ma. Phật bắt buộc cả đại chúng phải răn nhắc, khuyến tấn, dạy sám hối. Một người không thanh tịnh, cả chúng không được bố tát. Nếu vi phạm tới mức độ như thương tích nặng, chỉ cái cổ họng còn hơi thở, thì chúng phải hợp sức chữa trị. Nếu bị chặt đứt đầu rồi, thì chẳng những mất đi một phần-tử trong đoàn thể mà cả đoàn thể phải chung gánh chịu sự nhục mạ chê bai của thế gian. Thiếu quy củ nề nếp, giáo đoàn sẽ bị xáo trộn, trong nát rữa ngoài khinh rẻ. Nếu không chỉnh đốn kịp thời, sớm muộn cũng tan rã. Cho nên giới luật quan hệ vô cùng đến sự an ổn của đại chúng.
12.4. Chưa tin khiến khởi lòng tin:
Ngọn đuốc chánh pháp toàn do phật tử thắp sáng. Đây là nơi trông mong duy nhất của những chúng sanh không nơi nương tựa. Đang bị chìm đắm trong sông mê biển khổ, vớ được con thuyền giác ngộ này, hẳn đem cả thân mạng phó thác.
Đức Phật nhập diệt đã lâu. Hình ảnh toàn trí toàn năng toàn thiện nay đã phai mờ. phật tử đầy đủ oai nghi, phạm hạnh thanh tịnh, có thể thay Phật tuyên dương giáo pháp. Hình tướng đoan nghiêm của Tăng bảo phát khởi lòng tin cho chúng sanh như những người chết đuối được thấy một lái thuyền khỏe mạnh đến cứu vớt. Giới luật khiến chúng sanh tin Tăng bảo là hình ảnh sống động của đức Phật, đảm đương trách nhiệm lèo lái con thuyền giải thoát. Những bài thuyết pháp khó được hưởng ứng nếu chính người nói đã bị quần chúng miệt thị. Phải có giải pháp kiện toàn Tăng sự mới có thể khiến người chưa tin khởi lòng tin.
12.5. Đã tin khiến chúng trưởng:
Giới luật là bức chấn song vững chắc. Hành giả do đây không tạo nghiệp sa ngã. Thân miệng ý thanh tịnh thì tâm an định. Kinh thường thí dụ : Nước lặng thì ánh trăng hiện rõ. Tâm định phát tuệ. Ba vô lậu học tuy mật thiết với nhau như đỉnh 3 chân nhưng Phật vẫn cho chúng ta tập dần, bắt đầu từ giới luật. Tuệ giác của phật tử lấy khéo trì Thánh giới làm căn bản. Người đời gieo hạt giống chánh tín vào ruộng phước Tăng bảo hẳn là đầy đủ màu mỡ để hạt giống nảy mầm và phát triển. Lòng tin càng sâu dầy vững chắc nếu được thấy chúng thanh tịnh hòa hợp, lời nói hành động đúng pháp. Họ sẽ không bị lung lay vì những phỉ báng hủy nhục của các ngoại đạo tà kiến. Nghiệp báo xấu xa của một vài cá nhân mục nát không thể khiến họ thay đổi. Từ tín căn phát sanh tín lực, họ sẽ là những hộ pháp dũng mãnh.
12.6. Điều phục kẻ khó điều phục:
Giới luật là thước đo hành vi ngôn ngữ có đúng với thể thức của một vị phật tử không ? Con người ương ngạnh, không chịu nhận tội, không chịu sám hối, Tăng không điều phục được. Đức Phật dạy đại chúng yết ma đuổi đi, không dung túng giặc ở trong nhà. Theo chế độ Tăng già, những quyết nghị này sẽ được nơi nơi tôn trọng. Người vi phạm không thể có chỗ dung thân. Những ai còn có chút tâm tu hành, chịu sám hối, chịu sửa đổi, thì chúng phải khuyên can, tận tình dẫn dụ, như pháp xử trị. Ngoan cố lắm mới đành bỏ đi. Như thế gọi là điều phục người khó điều phục.
12.7. Người biết thẹn hổ được an vui:
Biết thẹn hổ là biết tự trọng. Tham sân si là tánh của phàm phu. Sát đạo dâm vọng là nghiệp của thú vật. Người biết thẹn hổ tự biết mình là Phật nên chẳng để những duyên hèn làm ô lụy. Giới luật rất nghiêm chỉnh. Hơi chút vi phạm liền lo sợ như đang ôm phao nổi đi biển mà biết rằng chiếc phao của mình đã bị châm kim. Phải sám hối ngay mới an tâm. Những bậc này thấy ai sơ sót, dù chỉ chút oai nghi, cũng vội nhắc nhở. Bởi vì con mắt trí tuệ biết phao lủng không thể bền nên rất xót thương người lạc bước. Bao giờ đại chúng ai nấy đầy đủ giới luật, người biết thẹn hổ mới an vui.
12.8. Đoạn hoặc lậu hiện tại:
Kinh Bát Đại Nhân Giác nói : “Vọng tâm là nguồn ác, vọng thân là rừng tội”. Tâm phàm phu đủ 8 vạn 4 ngàn phiền não. Ba độc tham sân si kích thích thân miệng ý tạo nghiệp đọa lạc. Phật đặt ra giới luật để câu thúc thân và miệng, ngăn chặn ác nhân, tránh ác quả.
12.9. Đoạn hoặc lậu vị lai:
Không được hiện hành, các chủng tử mòn dần. Văn tư tu tuệ phát triển. Như người làm vườn trồng cây thì cỏ dại mất chỗ. Năng lực giới định tuệ vững chắc, hành giả bước lên đường giải thoát. Như thế gọi là đoạn vị lai hữu lậu.
12.10. Khiến chánh pháp cửu trụ:
Đức Thế Tôn bắt đầu chế định giới luật khi các pháp hữu lậu phát sanh trong Tăng đoàn. Các Tỳ-kheo dần dà bị danh lợi lôi cuốn, sống xa rời tinh thần giải thoát. Giới luật là hàng rào ngăn chặn những hư đốn, bảo vệ sự thanh tịnh hòa hợp khiến ngôi trụ trì Tam-bảo không bị hư hủy.
Đức Phật trao vận mạng Phật Pháp cho Tăng Ni, di chúc phải vâng thờ giới luật làm Thầy. Chỉ có giới luật mới hàng phục được ma quân trong ngũ trược ác thế. Những ai có hoài bão nối thịnh dòng Thánh, đền trả 4 ân cứu giúp 3 cõi, không thể không nghiêm trì giới luật.
13. nhận xét về nghiệp và quả của nghiệp liên quan ngũ giới:
Ngũ-giới là thường-giới của tất cả mọi người trong đời, không ngoại trừ một ai cả, không phân biệt già trẻ, trai gái, dân tộc, người có thọ-trì ngũ-giới hoặc người không có thọ-trì ngũ-giới.
– Nếu người nào phạm điều-giới nào trong ngũ-giới thì người ấy đã tạo ác-nghiệp điều-giới ấy, rồi phải chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.
– Nếu người nào giữ gìn ngũ-giới được trong sạch và trọn vẹn thì người ấy đã tạo dục-giới đại-thiện-nghiệp ngũ-giới, rồi hưởng quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp ấy trong kiếp hiện-tại và vô số kiếp vị-lai.
13.1. Con Người Với Ngũ-Giới:
Phàm mỗi người đã sinh ra trong đời này, chắc chắn tiền-kiếp của người ấy có ít nhất là ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn.
Thật vậy, nếu tiền-kiếp của người ấy phạm giới, không có giới thì chắc chắn không được tái-sinh làm người. Khi đã tái-sinh làm người thì tiền-kiếp của người ấy ắt hẳn có ít nhất là ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn.
Nếu kiếp hiện-tại người nào không biết tự trọng, bị phiền-não sai khiến, nên phạm điều-giới nào trong ngũ-giới, tạo ác-nghiệp, thì người ấy tự làm mất nhân phẩm quý báu vốn có trong con người của mình, từ khi đầu thai làm người. Người ấy không chỉ chịu những hậu quả tai-hại trong kiếp hiện-tại, mà còn phải chịu hậu quả tai hại trong nhiều kiếp vị-lai.
Người đã phạm giới, sau khi chết, ác-nghiệp phạm giới ấy có cơ-hội cho quả trong thời-kỳ tái-sinh kiếp sau trong cõi ác-giới(36) chịu quả khổ của ác-nghiệp trong cõi ác-giới ấy.
Một khi chúng-sinh sinh trong cõi ác-giới rồi, khó có cơ-hội tái-sinh kiếp sau trở lại làm người.
Giữ gìn ngũ-giới được trong sạch và trọn vẹn, là trong khả năng bình thường của tất cả mọi người trong đời.
Thật ra, người thiện có đại-thiện-tâm biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, có tác-ý tâm-sở đồng sinh với đại-thiện-tâm tránh xa sự sát-sinh, tránh xa sự trộm-cắp, tránh xa sự tà-dâm, tránh xa sự nói-dối, tránh xa sự uống rượu, bia và các chất say, giữ gìn ngũ-giới cho được trong sạch và trọn vẹn, đó là điều rất dễ dàng đối với mọi người trong đời.
Còn người ác có ác-tâm, không biết hổ-thẹn tội-lỗi, không biết ghê-sợ tội-lỗi, có tác-ý tâm-sở đồng sinh với bất-thiện-tâm (ác-tâm) cố gắng phạm mỗi điều-giới hợp đủ chi-phápnhư phạm điều-giới sát-sinh hợp đủ 5 chi-pháp, phạm điều-giới trộm-cắp hợp đủ 5 chi-pháp, phạm điều-giới tà-dâm hợp đủ 4 chi-pháp, phạm điều-giới nói-dối hợp đủ 4 chi-pháp, phạm điều-giới uống rượu, bia và các chất say hợp đủ 4 chi-pháp, tạo ác-nghiệp điều-giới ấy, đó là điều không dễ dàng, thậm chí còn rất khó khăn nữa.
Thật vậy, chúng ta nên có trí-tuệ tỉnh táo suy xét về mỗi điều-giới, để có nhận thức đúng đắn và trung thực.
14. Giới Luật Bảo Hộ Sự Thanh Tịnh Và Hoà Hợp:
Như đã trình bày, trong 12 năm đầu tiên sau khi Phật thành đạo tăng già hoàn toàn thanh tịnh và hoà hợp mà không cần bất cứ một thứ gì ràng buộc, gò bó mà phải đợi khi có hữu lậu phát sinh thì giới luật mới được hình thành. Nếu không có giới luật phòng ngừa, ngăn chặn những ác pháp và xử trị những trường hợp phi pháp ấy thì không những cá nhân gây nên những ác nghiệp sa đoạ mà tăng già cũng không còn được giữ nguyên vẻ đẹp trinh nguyên của nó, bởi tăng già được hình thành từ những cá nhân. Một tập thể mà trong đó cá nhân không thanh tịnh thì làm sao xây dựng nên xã hội thanh tịnh, hoà hợp.
Tuy nhiên, để các cá nhân thanh tịnh và có thể hoà hợp thì không thể nào khác hơn là phải dùng tới giới luật. Nhờ giới luật mà các thành viên trong ấy biết khắc phục, điều tiết những hành động của mình và tuân thủ các nguyên tắc chung. Không có giới luật làm nền tảng, mỗi người sinh hoạt mỗi cách thì sự ô hợp nảy sinh là điều tất yếu không thể tránh khỏi. Do vậy, chính giới luật mới là nguồn sinh lực của tăng già, giới là vòng hoa trang sức các cá nhân cũng là những tràng hoa trang hoàng ngôi nhà tăng đoàn Phật giáo. Trong “Mười điều lợi ích của giới luật” ta thấy hầu hết những điều ấy đều nhằm xây dựng và bảo vệ sự an lạc tăng thân. Đặc biệt điều thứ 10, nếu giữ gìn giới pháp không những cá nhân thanh tịnh, tăng đoàn an lạc mà còn khiến cho chánh pháp tồn tại lâu dài.
Vì lợi ích và sự quan trọng như thế nên giới luật luôn luôn được đề cao và ca ngợi. Kinh Hoa nghiêm nói: “Giới là gốc của vô thượng bồ đề”; hay “thọ Phật giới tức nhập chư Phật vị” v.v… nghĩa là muốn bước lên quả vị vô thượng giác, muốn hoàn thành nhân cách(37) thì không thể nào không thọ Phật giới, từ giới pháp này mà các thiện pháp được phát sinh, tăng trưởng.
Lịch sử hình thành và tồn tại của tăng già Phật giáo trải qua nhiều thời kỳ đã nói lên điều đó. Khi nào chúng tăng thọ trì tịnh giới tinh nghiêm và trong tăng hoà hợp thanh tịnh thì chánh pháp tồn tại lâu dài và hưng thịnh. Ngược lại là sự suy vi như chứng ta đã từng thấy. Do vậy, “sự toàn thiện đạo đức của mỗi cá nhân là nét đẹp trang nghiêm của đoàn thể. Mỗi tỳ kheo hay Tỳ kheo ni sống đúng như pháp, như luật là nguồn năng lực vô biên cho sự lớn mạnh tăng già”.
14.1. Giữ giới là sự tôn vinh con người và cuộc đời:
Cả Năm Giới và mở rộng ra Mười Điều Thiện đều áp dụng cho thân, khẩu, ý và bắt đầu bằng chữ “Không” phủ định. Không làm, vì làm thì sẽ chịu hậu quả, dầu hậu quả đó dễ thấy hay vi tế khó thấy. Dĩ nhiên làm xấu thì phải có kết quả xấu, gieo nhân gì thì gặt quả ấy. Đó là định luật nhân quả.
Tất cả những chữ Không này dễ cho chúng ta nghĩ giới luật chỉ là sự cấm đoán, thậm chí răn đe, nghĩa là nằm trong mặt tiêu cực, mặt âm tính của đời sống. Ở đây chúng ta nói đến một phần nhỏ ý nghĩa tích cực của giới luật trong đời sống.
14.2. Tự trọng, không làm ô nhiễm và hư hoại thân khẩu ý của mình:
Ai trong chúng ta dù sống thế nào, nghề nghiệp gì cũng muốn mình càng ngày càng tốt hơn, đúng hơn, đẹp hơn. Muốn hoàn thiện mình là một bản năng, một nhu cầu mà ai cũng có. Mà muốn hoàn thiện mình thì phải loại bỏ những khuyết điểm, những cái xấu ra khỏi thân tâm của mình và càng tích tập những cái tốt càng nhiều càng tốt.
Từ ngày con người còn hoang sơ trong các bộ lạc, cho đến thời trung cổ và thời hiện đại, không ai và không có xã hội nào nghĩ rằng mình càng nói dối nhiều thì mình càng tốt thêm, mình tà dâm thì người khác kính trọng mình hơn. Quan niệm và phân biệt tốt, thiện và xấu, ác đã nằm sẳn trong tâm thức con người, và điều đó đã thể hiện trong phong tục, tập quán và cả luật pháp của con người.
Giới luật giúp cho con người tốt hơn, “hôm nay phải vượt hơn hôm qua”, loại bỏ cái xấu ác, xây dựng cái tốt thiện, nghĩa là một nhân cách có tiến bộ, tiến hóa, phát triển.
Trong sâu xa, người nào cũng thương yêu mình, kính trọng mình một cách vô thức. Kinh Pháp Cú nói: “Nếu thương yêu chính mình, phải khéo bảo vệ mình. Người trí trong ba canh, phải tỉnh giác phòng bị” (phẩm Tự Ngã); “Bậc trí bảo vệ thân, cũng bảo vệ lời nói. Bảo vệ cả tâm ý, ba nghiệp khéo bảo vệ” (phẩm Sân Hận).
Sở dĩ có sự thương yêu và kính trọng chính mình này, là vì mỗi người đều linh cảm sự vĩ đại vinh quang của mình, sự trở thành sau chót của mình, rằng mình là một vị Phật sẽ thành, dù lâu xa đến bao nhiêu đi nữa. Đức Phật đã từng nói: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”. Các bậc giác ngộ đều đã nói trong kinh điển: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, tất cả mọi người đều có thể thành Phật”.
Để trở nên một nhân cách toàn thiện như các bậc giải thoát giác ngộ, các giới luật là không thể thiếu trong việc loại bỏ những cái bất thiện và trau dồi những cái thiện. Thế nên sống giới luật là thương yêu và kính trọng chính mình, thương yêu và kính trọng cái tương lai sẽ hoàn hảo đến vô cùng của mình.
Giữ gìn và phát huy giới luật nơi tự thân là sự tôn trọng chính mình, sự tự trọng. Tôi không nói dối, không ăn trộm….vì tôi tự trọng, tự tôn trọng mình như một vị Phật sẽ thành.
Giới luật là mệnh lệnh của “vị thầy bên trong”, của “vị Phật bên trong”, mà một ngày nào tôi sẽ trở thành vị đó. Mệnh lệnh ấy đang nói với mỗi người: “Anh phải hoàn thiện chính mình”.
Tự trọng là giữ gìn và phát huy giới luật nơi mình, nghĩa là không làm ô nhiễm và hư hỏng thân khẩu ý của mình. Đó là sự tiến hóa, và cũng là ý nghĩa và giá trị của đời người.
14.3. Tôn trọng, không làm thoái hóa và hư hoại người khác và xã hội:
Khi tôi giữ giới và làm điều thiện, tôi không chỉ đổi mới, cách mạng thân tâm của riêng tôi mà còn tác động đến những người khác. Trộm cướp là trộm cướp của ai, lừa dối là lừa dối ai, không tà dâm là không tà dâm với ai.
Thế nên, giữ giới và làm các điều thiện không chỉ là tôi tôn trọng chính mình, tôi muốn hoàn thiện chính mình mà còn là tôi tôn trọng người khác, tôi muốn hoàn thiện cho người khác.
Hơn nữa, giữ giới mà một hiệu quả của nó là sự tôn trọng và thương yêu, không chỉ tác động đến thế giới con người mà còn tác động đến thế giới của sinh vật và loài vô tình – cái mà ngày nay chúng ta gọi là môi trường. Tôi không liệng rác xuống sông hồ bởi vì tôi tự trọng, tôi tôn trọng và thương yêu người khác, mà còn vì tôi tôn trọng thương yêu loài vô tình như dòng sông, ao hồ, cây cối, đất đai, biển cả….
Giới luật là sự hài hòa giữa con người với nhau và với thế giới chung quanh trong Chân Thiện Mỹ.
14.4. Hiểu biết và Thương yêu:
Với việc giữ và phát huy Năm giới và Mười Điều Thiện, chúng ta bắt đầu bước vào Hiểu Biết(38) và Thương Yêu(39). Đây cũng là hai bánh xe chính của cổ xe (thừa) đưa chúng ta tiến tới trong con đường Phật đạo. Chỉ với giữ năm giới và làm mười điều thiện, chúng ta có thể hoàn thiện chính mình, xã hội và thế giới.
Giơi luật đúng với luật nhân quả, luật tiến hóa, luật phát triển của con người, xã hội và thế giới. Giới luật là động lực căn bản để xây dựng cho cá nhân và xã hội trên con đường tiến tới văn minh. Con đường đó là sự chân thiện mỹ hóa con người và thế giới. Bởi vì giới luật là sự biểu lộ của Chân Thiện Mỹ ra thân khẩu ý của mỗi người.
15. Ngũ giới với Giáo dục kỹ năng sống:
Sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã mang lại cho con người nhiều tiện nghi hơn trong cuộc sống. Nhưng cũng chính nó đã kéo giữ con người vào sự quay cuồng đến chóng mặt của những ham muốn lợi danh, để rồi “Người giàu cũng khóc” khi nhìn lại những “Được – mất” mà họ đã dày công rượt đuổi, hay bất chấp mọi thứ để có được. Thanh niên – những chủ nhân tương lai của đất nước sẽ vào đời thế nào? Các em liệu có đủ niềm tin để trụ vững trong xã hội đầy hố sâu và cạm bẫy chực chờ? Chúng ta cần làm gì để rèn luyện, phát triển những kỹ năng sống cho các em?
Đạo Phật là đạo giải thoát, đưa con người đến chân hạnh phúc bằng Giới – Định – Tuệ. Ngũ giới là năm giới căn bản, có đủ công năng mang lại an vui cho bất cứ ai miên mật hành trì. Ngũ giới của Phật giáo góp phần vào việc giáo dục kỹ năng sống cho thanh niên như thế nào? Để qua đó, chúng ta một lần nữa khẳng định đức Phật chính là một nhà giáo dục vĩ đại, đạo Phật là đạo nhập thế giúp đời thoát khỏi lầm mê, quay về bến giác bình an.
15.1. Xây dựng và duy trì niềm tin về tha nhân:
Hành trì ngũ giới, chúng ta không những tạo được niềm tin nơi tha nhân, mà ngược lại, nhờ nhận rõ mối quan hệ mật thiết, hỗ tương lẫn nhau trong cuộc sống nhân thế – kỹ năng “tự nhận thức” phát triển, niềm tin về tha nhân cũng sẽ nảy nở và không ngừng phát triển nơi chúng ta. Kỹ năng “lắng nghe” và “hợp tác” sẽ có điều kiện để thăng hoa. Niềm tin về tha nhân là nhịp cầu giúp các em tiến xa, đứng vững trong cuộc sống.
“…Con ơi, đừng để mất niềm tin
Đó là chỗ dựa để vào
Là chỗ để đứng lên
Tin chính mình.
Không có việc gì thuộc khả năng mà không làm nổi.
Phép tính, bài văn khó đến mức nào cũng đừng buông bút.
Tin ở hôm nay, tin ở ngày mai,
Tin ở bạn bè, tin vào vạn vật.
Mất mát niềm tin, mất hết cả.
…Đừng để mất, đừng để mất,
Thì con ơi, con sẽ được nhiều”
Thật vậy, không có niềm tin lẫn nhau thì không thể nào lắng nghe hay hợp tác cùng nhau. Người xưa đã dạy: “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài Tiếng ru:
“… Một ngôi sao chẳng sáng đêm
Một thân lúa chín, chẳng nên mùa vàng
Một người – đâu phải nhân gian?
Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi!...
Ngũ giới là năm điều ngăn cấm mà Phật đã chế ra dành cho Phật tử, như năm thành trì ngăn chặn sự lạc lối vào đường ác, khỏi rơi xuống vực sâu khi hành giả đang trên đường tìm cầu giải thoát. Giới luật Phật giáo không mang tính bó buộc mà là một phương pháp tự giáo dục hướng thượng, chuyển hóa tâm thức, khơi dậy mọi năng lực tích cực tiềm ẩn trong mỗi cá nhân. Hành trì ngũ giới cũng chính là giải pháp tiếp cận dần với các giá trị sống cơ bản; góp phần hình thành, củng cố và phát triển những kỹ năng sống cần thiết cho giới trẻ, nhất là học sinh trung học phổ thông.
16. Thực trạng của việc hành trì giới luật hiện nay:
Tinh thần giáo dục giới luật Phật giáo đã mang lại một sức mạnh chuẩn mực nhân cách đạo đức cá nhân và tập thể. Góp phần mang lại một xã hội an ninh trong đó tài sản mọi người được đảm bảo, hạn chế những cảnh cướp của giết người. Góp phần bảo vệ môi trường bằng phương tiện ăn chay, không sát sinh. Mang đến cho con người một nền giáo dục nhân bản và trí tuệ, góp phần tạo ra những con người toàn diện không lệch lạc về mặt nhận thức để có những hành vi gây ảnh hưởng xấu cho xã hội. Không lấy của không cho sẽ giúp cho xã hội ổn định về mặt trộm cướp, an toàn tính mạng và đảm bảo tài sản cho con người và xã hội, tránh được sự tham ô hối lộ, chiếm đoạt tài sản chung. Không dâm dục và tà dâm sẽ đảm bảo hạnh phúc cho cá nhân và gia đình của cộng đồng xã hội. Không dùng chất gây sưa nghiện là bảo đảm được sự tỉnh táo, tránh được nhưng tai họa do say nghiện gây ra, góp phần xây dựng sự trong sạch và tốt đẹp cho xã hội…
Chúng ta đừng để sự việc đã rồi, mà phải ngăn ngừa từ khi khởi ý niệm xấu ác. Mỗi cá nhân tự đánh giá lại chính bản thân mình, và quyết liệt với cái xấu ác là tội lỗi. Có như thế việc hành trì giới luật mới có một tác dụng giáo dục thật sự trong đời sống của người tu sỹ và cho nhu cầu đạo đức của xã hội.
Việc thọ giới cho người xuất gia cầu Pháp cũng cần được kiểm hạch khắt khe, mới mong thúc đẩy người tu học cố gắng và nỗ lực. Sau khi thọ giới rồi cần phải gìn giữ cẩn thận để tăng trưởng định lực và tuệ giác. Giới luật là nền tảng cơ bản của người xuất gia thì không có cớ gì để lơi lõng và thiếu hành trì.
16.1. Hòa bình trong năm giới:
Lịch sử loài người luôn luôn có chiến tranh, đến độ học lịch sử là học về những cuộc chiến tranh. Hòa bình là điều khó khăn đối với con người.
Đến cả một danh nhân như Einstein mà cũng hỏi Freud, trong một bức thơ gởi công khai: “Có thể giải thoát con người khỏi chiến tranh không?” Freud đã trả lời: “Theo khái niệm Eros (bản năng sống) và Thanatos (bản năng chết) thì không thể tách tính hiếu chiến, tính tàn phá ra khỏi con người”.
Bất bạo động của Gandhi lấy cảm hứng không ít từ Phật giáo. Sau đây chúng ta khảo sát bất bạo động, không hiếu chiến, hòa bình trong Năm Giới căn bản của một con người. Tổng quát, Năm Giới là sự không làm hại, không bạo động, không gây khổ đau thấm nhuần nơi thân khẩu ý. Một thân khẩu ý không làm hại, không gây khổ đau là một thân khẩu ý từ bi.
Năm giới có nơi mọi ngóc ngách của đời sống, vì năm giới bao gồm thân khẩu ý tức là toàn bộ thế giới của một con người. Phạm vào năm giới là xâm phạm sự an toàn và hòa bình của xã hội. Một người quý trọng hòa bình là người giữ được năm giới. Ngoài ra năm giới giữ gìn tính minh bạch, tức là một yếu tố quan trọng của sự lành mạnh của xã hội.
Một điều chúng ta cần phải thấy là năm giới liên hệ mật thiết với nhau. Phạm một giới là đồng thời phạm cả năm giới , dù chỉ phạm trong ý, vì một giới ngầm chứa bốn giới kia. Chẳng hạn ‘ tà dâm’ là chúng ta đã ‘trộm cắp’ sự trong sạch của một người, ‘trộm cắp’ của gia đình người khác, đã ‘giết hại’ người khác, đã ‘nói dối’, đã ‘ say sưa mất tự chủ’. Còn ‘say sưa mất tự chủ’ chẳng hạn bằng rượu, chúng ta đã tự ‘nói dối’ với mình rằng rượu không tác hại, chúng ta có thể làm điều ‘tà dâm’, có thể ‘trộm cắp’, và có thể ‘giết hại’.
Năm giới càng lúc càng được hiểu một cách vi tế hơn và phát huy sức mạnh của nó một cách rộng lớn hơn, khi tâm thức chúng ta càng vi tế, tinh nhạy và sắc bén hơn.
Giữ giới trước hết là cho chính mình. Cầm đồ dơ thúi liệng ai, tay chúng ta bị dơ thúi trước. Chửi mắng chê bai ai, miệng chúng ta tổn thương trước. Nghĩ xấu ác cho ai, ý chúng ta bị dính nhiễm xấu ác trước.
Ban đêm, trời mưa mới xong, côn trùng cóc nhái kêu inh ỏi, phải dẫm lên cỏ để đi vệ sinh, chúng ta phát khởi một tâm không muốn làm hại, không muốn đạp chết những côn trùng, chúng ta tránh hết sức, tâm chúng ta liền nảy nở sự không muốn làm hại, sự muốn bảo toàn đời sống, lúc đó chúng ta chứng nghiệm ngay từ bi là gì. Nếu giữ được tâm không muốn làm hại như vậy suốt một ngày, chúng ta sẽ thấy tâm ta tràn đầy từ bi an ổn, cuộc đời tràn đầy hòa bình và hạnh phúc như thế nào.
Thậm chí nếu tôi đang viết bài này với một tâm trạng muốn hơn người, ai chê thì tôi sẳn sàng phản công, chiến đấu, tôi đã có một tâm hiếu chiến, tôi đã bạo động, tôi đã đánh mất hòa bình trong tâm mình. Mà hòa bình là một trạng thái của hạnh phúc.
Không sống bằng sự khổ đau của người khác, không tạo dựng hạnh phúc của mình trên bất hạnh của người khác, trái lại muốn cho người khác được hạnh phúc, được khỏi dau khổ, được an vui, được thanh thản, hòa bình, đó là Từ Bi Hỷ Xả.
Đó là hạnh phúc trường cửu nơi tâm của một người mà người ấy có thể có trên thế gian này. Hạnh phúc ấy có thể lớn rộng đến vô lượng vì Từ Bi Hỷ Xả có thể mở rộng đến vô lượng(40) . Không gây đau khổ cho người khác, trái lại mong muốn và làm việc cho hạnh phúc của người khác, nền tảng Giới này làm phát sanh mọi thái độ sống của người Phật tử như Lục Hòa, Bốn Nhiếp Pháp, Phát Nguyện, Hồi Hướng, Sáu Ba La Mật…
Chúng ta cần thấy rõ điều này: giới là hòa bình, là sự không muốn gây tổn hại ở trong tâm. Nó có trước và cần có trước pháp luật. Pháp luật chỉ là cái đến sau, cái để trừng phạt điều đã xảy ra. Khi pháp luật ra tay thì mọi sự đã xảy ra rồi, sự tổn hại đã làm rồi, khổ đau đã xảy ra rồi.
Không làm hại không chỉ là luân lý, đạo đức mà là toàn bộ văn hóa. Có một người nào làm hại người khác mà được nhân loại xem là anh hùng, là danh nhân? Và có phải vì làm được nhiều lợi ích, đem lại nhiều hạnh phúc cho người khác mà một người được tôn vinh là một danh nhân, vĩ nhân, là Thánh, là Bồ Tát ?
III. KẾT LUẬN:
Ðối với những người Phật tử tại gia, tu tập điều thiện, chính là giữ giới. Giữ cho đủ năm giới. "Ngũ giới" là căn bản, là mức đạo đức tối thiểu cho một con người, sống xứng đáng là con người, có nhân cách, có nhân phẩm. Năm giới Phật Giáo là chuẩn mức đạo đức cho loài người nói chung. Ðó là một bài học công dân thông thường mà bất cứ một xã hội nào, một quốc gia nào muốn phồn thịnh, hùng cường cũng không thể bỏ sót được. Nếu Tam Quy là nền tảng, thì Ngũ Giới là năm nấc thang của người Phật tử tại gia để bước dần lên Thánh quả. Trong bước đầu, người Phật tử nếu có thể phát nguyện giữ cả năm giới thì càng tốt, nếu vì nhiều sự ràng buộc chưa thể giữ được cả năm giới thì nên cố giữ vài giới mà mình thấy có thể thực hành được. Nhưng đã phát nguyện giữ giới nào thì giữ cho trung kiên.
“ Đạo đức Phật giáo là một nếp sống đưa đến hạnh phúc và an lạc trong đời này và cho đời sau”. nương tựa Tam Bảo và giữ gìn ngũ giới là nền tảng của người Phật tử tại gia mới bước chân vào đạo, đây là nấc thang đầu tiên nhưng vô cùng quan trọng, xác định một phương hướng và phương pháp tu tập rèn luyện nhân cách trao dồi tình thương yêu và sự hiểu biết, làm cho phẩm hạnh đạo đức của con người càng được nâng cao. Giới có công năng rõ ràng đem lại sự hạnh phúc lâu dài cho mình cho người và cho cả xã hội bình an và hạnh phúc ngay cả trong hiện tại và tương lai.
Nếu muốn xã hội được tiến triển trên đà hạnh phúc và đạo đức, thì Giới đúng là mục tiêu để mà nhân loại cần nắm giữ để được đi trên con đường hạnh phúc ấy. Con đường không chỉ mang lại hạnh phúc ngay trong hiện tại mà cả trong các đời vị lai. Con đường hạt giống nhân thiên. Con đường nuôi dưỡng hạt giống Bồ đề hôm nay và mai sau Giới còn là phương tiện dẫn dắt con người vượt khỏi sông mê, bể khổ, luân hồi, tới chốn an lạc, giải thoát. Không chỉ vậy, Giới còn là điều kiện tối quan trọng trong việc tu tập thiền định. Do vậy,giữ Giới cũng đồng nghĩa với việc con người tự rèn luyện, trau dồi đạo đức. Nghiên cứu Ngũ Giới, chúng ta thấy đấy là những nguyên tắc đạo đức cơ bản mà Phật đặt ra cho các Phật tử thực hành. Ngũ Giới còn góp phần hướng tới con người đi dến sự hoàn thiện trong tư tưởng, hành vi, bồi dưỡng nhân cách theo nhân sinh quan Phật giáo. Có thể thấy,những nội dung mà Ngũ Giới đề cập đến không chỉ có ý nghĩa nuôi dưỡng lòng từ bi, nhân đạo ở mỗi cá nhân mà còn hướng tới việc xây dựng một xã hội đạo đức, ổn định. “Hành động xấu ngọt ngào như mật. Kẻ điên cuồng nghĩ vậy khi quả dữ chưa trổ. Nhưng lúc trổ quả họ sẽ đau khổ.” Khi ý thức rõ ràng về luật nhân quả, hành động giữ Giới sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân tồn tại trong xã hội. Giáo lý Phật giáo có tác dụng điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức cho con người,nâng đỡ, khơi dậy tình thương yêu, đức vị tha, làm điều thiện, trách điều ác. Không chỉ áp dụng trong giới Phật tử mà những nội dung mang tính đạo đức của Phật giáo còn có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với xã hội. Luật nhân quả nhấn mạnh vào trách nhiệm của từng cá nhân đối với các hành vi đạo đức,con người vì sợ quả báo, sợ bị đày xuống địa ngục nên họ cố gắng làm thiện, tránh ác, tu nhân tích đức. Điều này góp phần hoàn thiện đạo đức cho từng cá nhân cũng như có lợi cho việc xây dựng một nền đạo đức tốt đẹp trong xã hội, đưa con người và xã hội từng bước đến dần Chân –Thiện – Mỹ.
Qua ngũ Giới của Phật giáo thể hiện một triết lý về sự công bằng, giáo dục con người phải biết sống lành mạnh,khuyến khích con người làm nhiều việc tốt, việc thiện,lánh xa điều ác,tránh làm những việc bất nhân phi nghĩa để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp nơi trần thế. Chính những giá trị đạo đức trên đây mà Phật giáo ngày càng có vị trí vững chắc trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam, khẳng định sức sống lâu bền của Giới Luật Phật với tất cả mọi người con Phật trên toàn thế giới.
Con đường giải thoát duy nhất của người xuất gia không gì khác hơn là Giới-Định-Tuệ. Trong đó Giới luật là bước đi đầu tiên căn bản, là thềm thang hướng đến Niết bàn an lạc, là kim chỉ nam trong đời sống của người xuất gia. Chính vì thế mà Giới luật được xem là nơi nương tựa an ổn nhất cho người xuất gia. Giới luật chính là vị đạo sư cao cả của chúng ta.
Đồng thời, muốn cho chánh pháp tồn tại lâu dài và truyền bá được rộng rãi thì các sứ giả Như lai phải biết tùy theo căn cơ thời đại và hoàn cảnh mà áp dụng giới luật một cách uyển chuyển, linh động miễn sao không hại đến mục đích giải thoát, nhất làụ trong tình trạng đạo đức nhân phẩm đang bị xem thường như hiện nay. Chính là lúc tất cả mọi người đang cần đến những phương thuốc tinh thần (giới luật) để cứu chữa căn bệnh suy thoái đạo đức. Do vậy vấn đề cho người thực hiện nếp sống của đạo là cần phải thể nhập bằng cách nào, trong khi xã hội đang trên đà phát triển dân trí ngày càng cao, càng rộng. Hơn nữa, nếu xã hội thặng dư những điều kiện này thì sẽ đưa đến thái độ khó chấp nhận của con người đối với thực trạng, định luật của kiếp người. Nếu chúng ta không có một phương hướng đào luyện kiến thức và không có sự cố gắng phát triển sinh lực của đạo một cách chân chánh, thì làm sao có thể đạt đến mục đích của người xuất gia.
Phật tử mà không giữ giới thì không phải là Phật tử: Tam quy là nền tảng, ngũ giới là những nấc thang để cho người Phật tử bước đến thánh quả. Nếu đã thọ trì 5 giới mà không giữ trọn thì có thể giữ dần dần và cố gắng hết mình để giữ trọn 5 giới, như thế mới mong đạt kết quả tốt. Còn người nào thấy mình chưa đủ khả năng thọ 5 giới thì không nên thọ, vì như thế sẽ không có lợi ích gì mà còn gieo thêm tội lỗi.
Người không theo đạo Phật cũng nên giữ giới: Giới mà đức Phật chế ra không phải chỉ dành riêng cho Phật tử, ai muốn có một tương lai tốt đẹp đều có thể giữ mà không cần thọ giới, xã hội muốn hùng cường thì không thể bỏ sót 5 điều giới cám này. Xã hội mà mọi người đều giữ đúng 5 điều giới này là một xã hội lý tưởng nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Thích Trí Thủ, Tâm Như Trí Thủ Toàn Tập. TPHCM: NXB TPHCM, 2002.
2. Thật Dụng Phật Học Từ Điển (chữ Hán). Trung Hoa Dân quốc thứ 23, Hương Cảng Phật Kinh xuất bản.
3. Thích Đổng Minh (dịch). Luật Ngũ Phần Tập I, Quyển 1 (lưu hành nội bộ). 1997.
4. Thích Đổng Minh dịch, Luật Ngũ Phần Tập II, Q.22 (lưu hành nội bộ). 1997.
5. Thích Trí Thủ, Yết Ma Yếu Chỉ. TPHCM, Trường Cao Cấp PHVN , 1991.
6. Thích Minh thông., Theo Dấu Chân Xưa. TPHCM: NXB Tôn Giáo, 2003.
7. Thich nữ Như Pháp dịch, Tứ Phần Luật San Bổ Yết Ma Huyền Ty Sao. Hà Nội, NXB Tôn Giáo, 2006.
8. Trí Hải & Bửu đích dịch, Câu Chuyện Triết Học của Will Durant. SaiGòn, Tu thư vạn hạnh. 1971.
9. Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Yết ma yếu chỉ, Tứ phần hiệp chú tập I, II, TCCPHVN, 1991.
10. Hòa Thượng Thích Đổng Minh, Luật Tỳ kheo giới bổn sớ nghĩa, PL 2533.
11. Hòa Thượng Thích Đổng Minh, Trùng trị tỳ ni sự nghĩa tập yếu tập I, 1995.
12. Hòa Thượng Thích Minh Châu, Kinh Trung bộ I, II, VNCPHVN, 1992.
13. Hòa Thượng Thích Chơn Thiện, Tăng già thời đức Phật, VNCPHVN, 1991.
14. Thích Thánh Nghiêm, Giới luật học cương yếu, dg Tuệ Đăng, PL2538- 1994.
15. HT.Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông quyển I, II, Nxb Tôn giáo Hà Nội, 1996.
16. Thích Minh Thông, Theo dấu chân xưa, Nxb Tôn Giáo Hà nội, 2003.
17.Thích Minh Châu, Chánh pháp và hạnh phúc, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2001.
18.Tuệ Đăng(dịch), Giới luật học cương yếu, Nxb Tp. HCM, 2000.
19.Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, quyển 1, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2004.
20.Thích Nhất Hạnh, Để có một tương lai, Nxb Lá Bối.
21.Thích Thanh Kiểm, Luật học đại cương, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2001.
22.Thích Đổng Minh, Luật tỳ kheo giới bổn sớ nghĩa, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội 2004.
23.Thích Hành Trụ, Luật tứ phần giới bổn, Nxb Tp.HCM, 1999.
24.Thích Minh Thông, Đại cương giới Tỳ kheo, lưu hành nội bộ.
25.Viên Trí, Ý nghĩa giới luật, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2004.
26.Thích Thiện Siêu, Cương yếu giới luật, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2002.
27.Thích Phước Sơn (dịch), Luật Ma Ha Tăng Kỳ, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2003.
28.Thích Phước Sơn, Một số vấn đề giới luật, Nxb Phương Đông,Tp. HCM.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét