THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

PHƯƠNG PHÁP TU TẬP THÔNG QUA KINH HOA NGHIÊM I. DẪN NHẬP: Trên kinh Hoa Nghiêm, Phật nói: “Tất cả chúng sanh đều có trí huệ đức tướng Như Lai, do vì vọng tưởng chấp trước mà không được chứng đắc”. Do đó, học Phật quan trọng nhất là phải nhìn thấu chân tướng của vũ trụ nhân sanh và buông bỏ đi vọng tưởng phân biệt chấp trước. Nhìn thấu giúp cho buông bỏ, buông bỏ giúp cho nhìn thấu. Phương pháp đoạn phiền não, phương pháp thành Phật đạo có tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn, đều là bình đẳng không có cao thấp, hay nói cách khác, đều là giúp chúng ta nhìn thấu buông bỏ. Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật đem chân tướng của vũ trụ nhân sanh giảng nói rất rõ ràng. Vũ trụ từ do đâu mà ra? Ta từ đâu tới? Hai vấn đề này khoa học và triết học, kể cả thần học cho đến ngày nay đều không có cách gì giải đáp một cách viên mãn tròn đầy, thế những ở trong kinh Hoa Nghiêm đều nói được rất rõ ràng, rất tường tận, như vậy sẽ giúp cho chúng ta nhìn thấu và buông bỏ. Bộ kinh này rất ý nghĩa, đọc hoài không chán, học Phật đích thực mang đến cho chúng ta hưởng thụ cao nhất của nhân sanh. Thế Tôn thường hay nói ở trong kinh đại thừa rằng: “Pháp hỷ sung mãn, thường sanh tâm hoan hỷ”,cho nên người xưa có một câu nói : “Thế vị, mùi vị của năm dục sáu trần trong thế gian làm gì nồng hơn pháp vị”. Việc này cần phải chứng thì mới biết được, chưa khế nhập cảnh giới thì mùi vị này không thể thưởng thức được. Cho nên cả một đời này của chúng ta không uổng qua, đặc biệt là đã đọc được Hoa Nghiêm Áo Chỉ quán, biết được phải tu như thế nào, học tập ra làm sao. Lão Hòa thượng Tịnh Không mặc dù tuổi đã cao, nhưng ngài vẫn rất từ bi vì chúng ta giảng giải tường tận bộ kinh này, nhằm giúp cho chúng ta nhìn thấu, buông bỏ, để cảnh giới tu học của chúng ta ngày một nâng cao và ngay một đời này chúng ta có thể vãng sanh Tây Phương Cực Lạc quốc. Nhận thấy sự lợi ích vô biên của bộ kinh này, chúng con dù tài hèn sức mọn cũng cầu mong Tam bảo gia trì, cố gắng chuyển ngữ bộ kinh này để mọi người có thêm tài liệu tham khảo trong quá trình tu học. Trong quá trình chuyển ngữ chắc chắn có nhiều sai sót. Ngưỡng mong bậc giáo thọ sư và các vị đồng tu hoan hỷ chỉ dạy cho chúng con để bài tiểu luận này càng hoàn thiện hơn. Chúng con xin chân thành cảm ơn. A Di Đà Phật! 1. Lời nói đầu: Trong không gian khắp vũ trụ, vạn vật muôn loài đang từng sát na chuyển mình lay động, vươn tới một môi trường sống thích ứng cho thế giới của riêng mình. Tất cả đang cùng nhau ra sức truy tìm nguồn gốc khởi thủy và chung cuộc. Nhưng càng cố công tìm kiếm, mà không có một la bàn Phật Pháp hay một đạo sư dẫn đường thì kết quả chỉ uổng công vô ích. Vậy, làm sao tìm thấy được cội nguồn khi những vọng tưởng, kiến chấp triền miên cố hữu vẫn tồn tại trong mỗi con người, khi tất cả vạn vật trong vũ trụ đều do duyên sanh giá hợp, không thật có? Để hiểu thực chất về vạn pháp, mục tiêu tối hậu của người tu hành theo đạo Phật là phải đạt đến trí tuệ và hạnh phúc an vui. Trí tuệ nói đây không phải là trí tuệ bình thường của thế gian, mà là trí tuệ Bát Nhã. Chỉ có lưỡi gươm trí tuệ sắc bén này mới có thể chặt đứt gông cùm sanh tử. Bởi vậy, chư Phật, Bồ Tát sau khi y nơi trí tuệ Bát nhã để đoạn trừ vô minh và chứng thật tánh của vũ trụ vạn hữu, đều huấn thị lại cho các hàng chúng sanh pháp bửu vô thượng tối thắng, nhằm chỉ rõ tánh chân không – diệu hữu, sự huấn thị này, không ngoài mục đích khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến như Kinh Pháp Hoa đã trình bày. 2. Ý nghĩa và lý do chọn đề tài: Kinh Hoa Nghiêm mang lại ý nghĩa sâu xa huyền diệu cho mọi tầng lớp, trên từ bậc thượng căn, thượng trí, dưới cho đến kẻ hạ căn, trí kém. Những kẻ bậc dưới này, cũng có thể y theo đó mà hành trì được. Đây là nét đặc thù vi diệu của bản kinh. Với mở đầu bằng câu “ Lễ kính chư Phật” – đây là một hạnh đứng đầu trong muôn hạnh. Đồng thời, đó cũng là bức thông điệp khai phóng mọi ý thức, chối từ và đập vỡ mọi quan điểm nhận thức, mọi tư duy, ý niệm, mọi khái niệm về ngã và pháp. Với nhan để “PHƯƠNG PHÁP TU TẬP THÔNG QUA KINH HOA NGHIÊM”, người viết thật sự đã ưu tư nhiều khi bước vào khu rừng rậm của nền giáo lý phát triển thuộc hệ tư tưởng Bát Nhã tánh không. Dẫu biết rằng: “ Một nắm lá trong tay không phải là toàn bộ lá trong rừng”, nhưng vẫn biết rõ từ một chiếc lá trong tay mình cũng có thể phần nào hiểu được hết số lá của rừng giái lý. Vì thế kẻ lữ thứ này đã cố công cúi nhặt một chiếc lá “ Phổ Hiền Thập Hạnh Nguyện”, ( Mười Hạnh Phổ Hiền ) rơi trên bờ hoang vĩnh cửu để tự chiêm nghiệm lấy một mình. Nhưng “lực bất lòng tâm”. Dẫu có nhiệt tình đến đâu chăng nữa, thì với mớ kiến thức và khả năng giới hạn này, người viết không thể nào diễn đạt hết những ý nghĩa thâm sâu cao diệu mà nội dung bản kinh chuyển tải. Chỉ mạo muội trình bày tổng quát về “ Mười Hạnh Bồ Tát” để rèn luyện nơi bổn tâm vốn có của chính mình. Động lực lớn nhất để hình thành được tiểu luận này là nhờ ân đức của Thượng Tọa giáo thọ sư. Con xin kính lễ và tri ân vô hạn. Người đã cho con bài học vô giá về thân giáo, khẩu giáo và tâm giáo. Đặc biệt, với phong thái tỏa sáng nhẹ nhàng, mang đầy tình thương và trí tuệ, người đã có một nhận định sâu sắc và cái nhìn rất mới về thế hệ tương lai nhằm tiếp nối sự nghiệp đem đạo vào đời, rạng ngời tổ tông. Mặc dù người viết đã rất cố gắng nhưng tiểu luận này không sao tránh khỏi những điều thiếu sót. Do sự hiểu biết còn thiển cận, thô sơ, con ngưỡng mong các bậc đạo hữu thân hữu…niệm tình tha thứ và chỉ giáo thêm cho những lần sau. 3. giới hạn phạm vi đề tài: Trong đời sống con người quan tâm nhất là ngọc ngà, châu báu, địa vị xã hội nhưng đối với Phật giáo thì Tam bảo là ba ngôi quí báu, nhưng chúng ta không thể nào tìm thấy trong đời sống vật chất. Tam bảo mang những đức tính cao quí đem đến cho con người để con người nhận chân được giá trị của đời sống, mà chúng ta gọi là chân lý như ngọn đèn sáng soi đường đi trong đêm tối, như chiếc thuyền đưa mọi người vượt qua cơn sóng dữ. Điểm đặc sắc của Kinh Hoa Nghiêm là thấy được khả năng tiềm tàng vô song của mỗi chúng sinh. Rằng mình có khả năng làm khô biển nghiệp, siêu thoát càn khôn, nắm trọn vũ trụ trong lòng bàn tay. Chỉ cần phát triển Bồ Đề Tâm thì bao ác nghiệp sẽ tan rã, bao công đức thành tựu, bao việc bất khả tư nghì tự hiển hiện. Để bắt đầu sự hiển hiện ấy, Kinh Hoa Nghiêm dạy ta trước hết phải sửa đổi cái nhìn: “Hãy thức tỉnh khỏi cơn mê nghĩ về một cuộc sống mà dòng đời mãi trôi, ngày lại ngày ta chẳng ý thức nó trôi về đâu” . Hãy làm cách mạng trong nội tâm; đặt cho mình một sứ mạng cao cả. Đừng chờ Phật, Bồ Tát hay một vị trời nào đó hiện ra chỉ bảo, tuyên bố đặt định sứ mạng giùm mình. Đời mình, mình phải tự sáng tạo, đừng chờ ai sáng tạo giúp mình. 4. phương pháp nghiêm cứu: Để làm sáng tỏ các vấn đề trên, người viết tổng hợp nhiều nguồn tài liệu liên quan và vận dụng phương pháp phân tích bình giải đối với các tiêu chí được đề cập trong tiểu luận. Thực hiện thiên tiểu luận này, người viết chỉ mong chấm phá một nét nhỏ cho nếp sống văn hóa thêm thi vị, góp phần tạo thành ngọn gió mát giữa bầu trời oi bức của mùa hè cháy bỏng mà thôi. II. NỘI DUNG: 1. Giới thiệu khái quát về kinh hoa nghiêm: Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với Tâm là một, vạn pháp đồng nhất thể. Tâm thanh tịnh thì thấu đạt chơn lý Phật tánh, suốt thông pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư nghì giải thoát hạnh môn. Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng-sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả. Ðó là bản tánh vô ngại của Tâm. Bản tánh chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu tình và vô tình; lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư nghì vô ngại giải thoát làm thể. Ðó là ý nghĩa căn cốt của Kinh Hoa Nghiêm. 1.1. Giới thiệu Kinh: Kinh Hoa Nghiêm là một kinh đồ sộ và vĩ đại nhất trong Phật Giáo đại thừa. Bộ kinh được thuyết trong 21 ngày, sau khi đức Thích Ca Mâu Ni thành chánh giác dưới cội Bồ Đề. Kinh diễn tả cảnh nội chứng bất tư nghì của Đức Phật. Qua bộ kinh, Đức Phật, bậc giác ngộ chân lý tối thượng, hiển bày một nhân sinh quan và vũ trụ quan thâm quảng, chẳng hạn cuộc bởi thời gian, không gian và phạm vị nhỏ bé của cá thể hay văn hóa. Không những bộ kinh có hình thức đồ sộ: 80 cuốn, trăm vạn chữ, mà nội dung của nó cũng vĩ đại: bao hàm, dung nạp tất cả mọi tư tưởng của Đại thừa Phật Giáo. Bởi vậy, Tổ Sư xưa có nói: “Am hiểu Kinh Hoa Nghiêm là am hiểu tất cả mọi tông phái Phật Giáo. Am hiểu Kinh Hoa Nghiêm là am hiểu con đường tu Bồ Tát Đạo, thành Phật độ sanh. Kinh Pháp Hoa là vua của các kinh. Còn Kinh Hoa Nghiêm là vua của tất cả vua”. Kinh này là đỉnh cao trí huệ của văn học Phật Giáo. Nó không những chỉ thẳng bản tánh Phật của mỗi người, nó còn chỉ ra con đường viên mãn đạo Bồ Tát. Theo đó, giác ngộ không phải là giai đoạn chót của đường tu mà là một điểm nhỏ trong qúa trình tu hành độ sanh, thực hành hạnh nguyện của Đức Phổ Hiền. Bao nhiêu quả vị tu chứng chỉ là phương tiện mà thực chất vốn không, bao nhiêu dục vọng tự khô kiệt vì thể tánh chân như luôn hiển hiện. Kinh này tiếng Phạn gọi là Avatamsaka Sutra. Từng phần của bộ kinh được dịch ra tiếng Hoa vào khoảng thể kỷ thứ hai công nguyên, và công trình phiên dịch được xúc tiến cả mấy trăm năm. Trong khoảng thời gian ấy, có hơn 30 bản dịch từng phần của kinh, và rất nhiều dịch giả biên soạn, tái dịch những tác phẩm cũ. Vô số sớ giải và án văn có liên hệ tới Kinh Hoa Nghiêm được sáng tác. Cuối cùng vào khoảng thể kỷ thứ bảy thì kinh được hoàn thiện. Ba bản dịch chính của kinh là bản gồm có 60 cuốn, do Ngài Budhabhadra (359-429) dịch, và bản gồm 80 cuốn, do Ngài Shikshananda (652-710) dịch và bản 40 cuốn của Ngài Prajna dịch. Bản Hoa Nghiêm 80 cuốn thông dụng và hoàn thiện hơn vì được dịch từ bản chính văn tương đối đầy đủ nhất. Riêng Hòa Thượng chủ nhiệm bộ môn có viết trong “Lược giải Kinh Hoa Nghiêm” trang 7-9 như sau: Kinh Hoa Nghiêm có 3 bộ: Bộ thứ nhất gọi là đại Hoa Nghiêm do Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Chuyển. Bộ thứ hai là Trung Hoa Nghiêm do Báo thân Lô Xá Na Chuyển và bộ thứ ba do Ứng thân Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết. Như vậy, Kinh Hoa Nghiêm có cái nhìn về Đức Phật khác hơn các hệ tư tưởng khác và đương nhiên cũng khác hơn các hệ tư tưởng khác và đương nhiên cũng khác với lịch sử thông thường mà chúng ta học. Cả 3 bộ kinh này đều ở cung rồng Ta Kiệt La. Nhưng hai bộ dại kinh và trung kinh quá đồ sộ, không thể mang về, nên ngài Long Thọ Bồ Tát chỉ thỉnh được bộ Tiểu Hoa Nghiêm gồm có 100.000 bài kệ. Và mang về nhân gian. Ngài lọc lại, chỉ còn một nữa là 45.000 bài kệ. Bộ tiểu Hoa Nghiêm do ngài Long Thọ đem về, rồi truyền sang Trung Hoa, được dịch ra tiếng Trung Hoa, còn lại ngày nay 2 bộ. Bộ Hoa Nghiêm 60 quyển do Ngài Giác Hiền dịch đời Tấn và bộ 80 quyển dịch ở đời Đường, dưới sự bảo trở của Tắc Thiên Hoàng Đế, quen gọi là Võ Hậu. Bộ Kinh Hoa Nghiêm chúng ta học chủ yếu nương theo bộ kinh đời Đường. Kinh Hoa Nghiêm do Báo thân viên mãn Lô Xá Na và kinh do Pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật chuyển thì chúng ta không thấy được Báo thân và Pháp thân Phật, nên không thể nghe, không thể đọc và không thể hiểu được. Hiểu Kinh Hoa Nghiêm là từ văn tự đi vào tư duy, vào thiền định, phát sinh được trí tụê và dùng trí tụê quán sát mọi sự, mọi vật. Kinh Hoa Nghiêm dẫn chúng ta vào pháp giới hay nhìn thế giới chân thật. Và biết được việc ở dạng chân thật, thì ta không còn lỗi lầm trên sinh hoạt hiện tượng của cuộc đời. Kinh Hoa Nghiêm muốn dạy ta cốt lỗi ấy. Kinh Hoa Nghiêm phát xuất từ Ấn Độ, nhưng được phát triển mạnh ở Trung Quốc, Nhật Bản. Thật vậy, theo sự nghiên cứu, Kinh Hoa Nghiêm chỉ còn tìm thấy rải rác trong vài tác phẩm ở Ấn Độ. Đó là Bộ Đại Trí Độ luận của ngài Long Thọ có dẫn dụng Kinh Hoa Nghiêm và những tác phẩm chú sớ như Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận, hoặc Thập Địa Kinh Luận giải thích về hai phẩm: Thập Trụ, Thập Địa của kinh. Như vậy, chỉ có một phần nhỏ của kinh được truyền thừa, còn toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm không có. Tuy nhiên, về sau, Kinh Hoa Nghiêm được truyền sang Trung Quốc có 3 bộ, nhưng đều phát xuất từ nước Vu Điền của Trung Á (ngày nay thuộc khu tự tự của Trung Quốc). Kinh Hoa Nghiêm mang về Trường An, đến đời Tấn thì ngài Phật Đà Bạt Đào La (Giác Hiền) là người đầu tiên dịch sang tiếng Trung Quốc bộ Lục Thập Hoa Nghiêm, gồm 60 quyển, thường gọi là bộ cựu dịch. Cách 200 năm sau, đến đời Đường, Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch, chia thành 80 quyển, gọi là Bát Thập Hoa Nghiêm hay bộ tân dịch. Và cũng ở đời Đường, ngài Bát Nhã dịch riêng phẩm Nhập Pháp Giới, gọi là Tứ Thập Hoa Nghiêm gồi 40 quyển. Kinh Hoa Nghiêm phát triển mạnh ở Trung Quốc, tiến đến thành lập Tông Hoa Nghiêm. Sơ Tổ của Tông này là ngài Đỗ Thuận (557-640), nhưng đến ngài Trí Nghiêm (602-668) là nhị Tổ mới chính thức thành lập Tông Hoa Nghiêm. Và Tổ thứ ba của Tông này rất nỗi tiếng, đó là ngài Pháp Tạng (Hiền Thủ, 643-712). Phải nói là đến thời của ngài Phát Tạng mới luận giải Kinh Hoa Nghiêm và giảng kinh này cho Tắc Thiên hoàng hậu. Ngài Pháp Tạng lý giải theo bộ bát thập Hoa Nghiêm. Ngài giảng giải đầy đủ hơn, vì đã tổng hợp được hai hệ tư tưởng Bát Nhã và Duy Thức của Sơ Tổ và Nhị Tổ, kết hợp thành bộ Hoa Nghiêm sớ. Đây là cốt lõi của Tông Hoa Nghiêm, làm cho Phật pháp thịnh ở đời này. Tóm lại, Kinh Hoa Nghiêm phát xuất từ Ấn Độ, nhưng vì qúa cao siêu, hiếm người tiếp thu được và tất nhiên việc phát triển càng khó hơn. Phải đợi đến khi truyền sang Trung Quốc hay Nhật Bản và phải gặp những vị vua chúa có phước báo và quyền thế phát tâm mới đủ điều kiện hổ trợ cho công việc phiên dịch, truyền bá kinh, cũng như xây dựng chùa chiền, đúc tượng được thành công. Riêng ở Việt Nam, Phật Giáo đương nhiên cũng có phần ảnh hưởng tinh thần Hoa Nghiêm. Một số vị Cao Tăng cũng thọ trì kinh này. Ứng dụng được phần nào tinh ba của kinh trong cuộc sống. Tuy nhiên, nói chung bộ kinh này không phát triển mạnh ở Việt Nam . 1.2. Ý Nghĩa Tên Kinh: Tên kinh toàn bộ là: “Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm”, gọi tắt là Hoa Nghiêm. Nói vắng tắt, ý nghĩa tên kinh là ẩn dụ về pháp giới, pháp giới tức là chân tâm. Pháp giới là cảnh giới vô sai biệt, trong đó bao hàm mọi cảnh giới của thánh và phàm, của vũ trụ và vạn tượng. Đặc tính này bao gồm lý sự, thể, tướng, dụng nhân quả của pháp giới. Cũng như hoa sen (trong đề kinh Diệu Pháp Liên Hoa) là ẩn dụ của chân tâm, Hoa Nghiêm là ẩn dụ của pháp giới. Nếu phân tích tên kinh từng chữ thì: Đại: là chỉ thể tánh bao la vô cùng tận của pháp giới, không sao có thể đo đạc trắc lượng được biên cương của pháp giới vô hình, ngay như vũ trụ cũng chỉ là một điểm trong pháp giới. Phương: Nghĩa là phép tắc, nguyên lý, chân lý, pháp bất biến của pháp giới. Những chân lý này lúc nào cũng hiển nhiên, đúng đắn, chân chính không lệch lạc. Thí dụ như lý nhân qủa, lý nhân duyên, nghiệp báo, lý luân hồi. Chân lý chính là tướng trạng của pháp giới. Chân lý thì vô hình nhưng nó chi phối sự vận hành của tất cả mọi sự, mọi hiện tượng. Quảng: Chỉ sự ứng dụng của pháp giới thì rộng lớn, trùm khắp vũ trụ, châu biến khắp nơi đâu cũng vô ngại. Không đâu ra ngoài phạm vi pháp giới. “Bóng dáng” của pháp giới (chân tâm của ta) thì gần kề và hiển hiện khắp nơi nhưng ta chẳng thấy đặng. Vì sao ? Vì ta bị vọng tưởng, dục vọng che khuất trí tuệ để thấu hiểu pháp giới. Nếu ai thể nhập pháp giới, trong một bụi trần y có thể dung nạp vô biên thế giới, trong một sát na dạo khắp vũ trụ. Đó là ứng dụng của pháp giới. Phật: Chử này có hai nghĩa, một là Trí giác ngộ, hai là người giác ngộ. Giác ngộ điều gì ? Giác ngộ sự huyền diệu của pháp giới, của thể, tướng và dụng trong ba chữ Đại Phương Quảng. Sự giác ngộ này là chìa khóa để nhập pháp giới, của đại giải thoát, tự tại vô ngại. Sự giác ngộ này biểu hiện bằng thập trí hay thập lực trí của Đức Phật. Trong tên kinh, chữ Phật với ý giác ngộ là nghĩa chính, còn nghĩa người giác ngộ là nghĩa phụ, bởi vì đặc tính của pháp giới thì vô nhân vô ngã. Hoa: Đây là hình tượng ẩn dụ sự tu hành mười ba la mật. Sự tu trì này là nhân để nhập pháp giới, thành tựu mọi công hạnh của Bồ Tát Đạo. Hình ảnh đóa hoa nở là hình ảnh của Tâm Bồ Đề, khai mở ra trong tâm thức người tu. Tâm này là nhân của mọi công đức, mọi hạnh lành. Hoa này có mười cánh, mỗi cánh là một hạnh ba la mật. Mời cánh ba la mật tức là: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã, Phương tiện, Đại nguyện, Đại lực, và Đại trí. Nghiêm: Nghĩa là trang nghiêm, như dùng hoa để trang nghiêm. Ở đây ám chỉ dùng vạn hạnh để trang nghiêm bản thể thanh tịnh, trang nghiêm pháp giới. Hoặc có nghĩa là dùng vạn hạnh công đức để thành tựu Phật qủa. Nhân (trong chữ Hoa) là Bồ Đề Tâm, qủa (trong chữ Nghiêm) là Phật. Mỗi đóa hoa là một công hạnh với mỗi cánh hoa là một ba la mật. Kết những hoa đó lại thành vòng, thành tràng, tức là xâu nối những công hạnh đó với nhau. Bạn biết tràng hoa này dài bao nhiêu không ? Dài lắm ! Vô cùng vô tận chẳng biết tới đâu thì hết. Đó chính là đặc tính của sự tu hành theo hạnh nguyện của Ngài Phổ Hiền: tu hoài không nghĩ, tu vô tận. 1.3. Lịch sử truyền thừa và phát triển kinh Hoa Nghiêm: Kinh Hoa Nghiêm phát xuất từ Êẽn Độ, nhưng được phát triển mạnh ở Trung Quốc, Nhật Bản. Thật vậy, theo sự nghiên cứu, kinh Hoa Nghiêm chỉ còn tìm thấy rải rác trong vài tác phẩm ở Êẽn Độ. Đó là bộ Đại Trí Độ luận của ngài Long Thọ có dẫn dụng kinh Hoa Nghiêm và những tác phẩm chú sớ như Thập Trụ Tỳ Bà Sa luận, hoặc Thập địa kinh luận giải thích về hai phẩm: Thập trụ, Thập địa của kinh. Như vậy, chỉ có một phần nhỏ của kinh được truyền thừa. Còn toàn bộ kinh Hoa Nghiêmkhông có. Tuy nhiên về sau, kinh Hoa Nghiêm được truyền sang Trung Quốc có 3 bộ, nhưng đều phát xuất từ nước Vu Điền của Trung Á (ngày nay thuộc khu tự trị của Trung Quốc). Kinh Hoa Nghiêm mang về Trường An, đến đời Tấn thì ngài Phật Đà Bạt Đà La (Giác Hiền) là người đầu tiên dịch sang tiếng Trung Quốc bộ lục thập Hoa Nghiêm, gồm có 60 quyển, thường gọi là bộ cựu dịch. Cách 200 năm sau, đến đời Đường, ngài Thập Sa Nan Đà dịch, chia thành 80 quyển, gọi là bát thập Hoa Nghiêm hay bộ tân dịch. Và cũng ở đời Đường, ngài Bát Nhã dịch riêng phẩm Nhập pháp giới, gọi là tứ thập Hoa Nghiêm,gồm 40 quyển. Kinh Hoa Nghiêm phát triển mạnh ở Trung Quốc, tiến đến thành lập tông Hoa Nghiêm. Sơ tổ của tông này là ngài Đỗ Thuận (557-640), nhưng đến ngài Trí Nghiêm (602-668) là Nhị tổ mới chính thức thành lập tông Hoa Nghiêm. Và Tổ thứ ba của tông này rất nổi tiếng, đó là ngài Pháp Tạng (Hiền Thủ, 643-712). Phải nói là đến thời của ngài Pháp Tạng mới luận giải kinh Hoa Nghiêm và giảng kinh này cho Tắc Thiên hoàng hậu. Ngài Đỗ Thuận và Trí Nghiêm cùng giảng giải kinh theo bộ lục thập Hoa Nghiêm. Nhưng ngài Đỗ Thuận chịu ảnh hưởng của hệ Bát Nhã, vì lúc ấy pháp tánh học thịnh hành. Còn ngài Trí Nghiêm chịu ảnh hưởng của Duy thức, tức pháp tướng học do ngài Huyền Trang xương minh và theo đó mà phát triển Hoa Nghiêm. Ngài Pháp Tạng lý giải theo bộ bát thập Hoa Nghiêm. Ngài giảng giải đầy đủ hơn, vì đã tổng hợp được hai hệ tư tưởng Bát Nhã và Duy Thức của Sơ tổ và Nhị tổ, kết hợp thành bộ Hoa Nghiêm sớ.Đây là cốt lõi của tông Hoa Nghiêm, làm cho Phật pháp thịnh hành ở thời này. Hai vị Đỗ Thuận và Trí Nghiêm đều là người Hán. Riêng ngài Pháp Tạng sanh ở Trung Quốc mà gốc người Trung Á. Vì vậy, Ngài thừa hưởng được tư tưởng triết học Êẽn Độ và văn minh Trung Quốc; đồng thời tổng hợp được tinh ba của hai luồng tư tưởng vĩ đại này, tạo thành nét đặc thù nổi bật của tông Hoa Nghiêm, khiến cho giới trí thức đời Đường bấy giờ phải thán phục. Có thể nói tông Hoa Nghiêm phát triển mạnh ở Trung Quốc vì tư tưởng kinh Hoa Nghiêm thích hợp với người Trung Quốc. Trước khi kinh này được truyền sang, tư tưởng Lão Trang thịnh hành ở Trung Quốc, có cái nhìn về vũ trụ gần giống với tinh thần Hoa Nghiêm, nên người trí thức đương thời dễ tiếp thu được tư tưởng Hoa Nghiêm. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, kinh Hoa Nghiêm phát triển được là nhờ các vị cao đức thông suốt được áo nghĩa Hoa Nghiêm và biết kết hợp với tinh thần Lão Trang để triển khai thành tư tưởng chỉ đạo của tông Hoa Nghiêm. Tư tưởng Lão Trang quan niệm mọi sinh hoạt của vũ trụ vận hành theo lý «Tự nhiên«, tự nhiên là «Vô«, và tính chất của «Vô« là bản thể của vũ trụ. Và theo Trang tử: «Đạo không chỗ nào không có, ở chỗ con kiến, con dế, ở chỗ cỏ Đế, cỏ Bại, ở chỗ gạch ngói, ở chỗ phân tiểu...«. Người trí thức chịu ảnh hưởng Lão Trang có thể thấy vấn đề nói trên của họ sáng hơn khi tiếp thu tư tưởng Hoa Nghiêm do các vị cao tăng lý giải; theo đó, mọi sự, mọi vật đều bình đẳng, trong tốt có xấu, trong xấu có tốt. Tất cả sinh hoạt tương quan tương duyên chằng chịt trong pháp giới. Người chứng đạo thấy rõ sự tác động của mối tương quan sâu xa ấy, mà thuật ngữ gọi là lý sự vô ngại pháp giới, thì sẽ hóa giải được tất cả. Còn chướng ngại, vướng mắc, không dung thông thì trở thành đối nghịch, đối đầu, từ đó phiền não trùng trùng duyên khởi. Thực chất của sự hành trì theo yếu nghĩa Hoa Nghiêm là thiện ác đều do chính ta tạo nên, kinh gọi là muôn pháp duy tâm tạp. Liễu ngộ Hoa Nghiêm thì tất cả viên dung vô ngại vì mọi loài trong pháp giới cho đến con ong, cái kiến, cỏ cây, hoa lá đều là pháp âm của Tỳ Lô Giá Na Phật. Kinh Hoa Nghiêm chuyên chở một tư tưởng quá lớn lao, người bình thường không tiếp thu nổi, không hiểu thì làm sao ứng dụng được. Vì thế, dù là tư tưởng siêu tuyệt như vậy, vẫn bị mai một. Phải có những bậc danh đức ngộ đạo hiện hữu, như ngài Đỗ Thuận, Trí Nghiêm, Pháp Tạng nắm trọn được tinh yếu của Hoa Nghiêm và lý giải cũng như thể hiện trong cuộc sống, mới có thể phát triển tư tưởng này sáng chói lên. Nhưng về sau, không có người thừa kế đủ khả năng tiếp nối đạo nghiệp, nên ngọn đèn Hoa Nghiêm cũng phải tàn lụn. Tiếp theo, kinh Hoa Nghiêm được một nhà sư Trung Hoa mang sang Nhật Bản, nhưng không thuyết giảng. Đến đời Thánh Vũ thiên hoàng, ngài Thẩm Tường là nhà sư Triều Tiên sang Nhật Bản, kinh này mới được Ngài giảng giải và tông Hoa Nghiêm ra đời ở Nhật. Đặc biệt là nhờ công đức thuyết pháp của ngài Thẩm Tường khiến cho Thánh Vũ thiên hoàng phát tâm xây dựng ở Nara tượng Tỳ Lô Giá Na bằng đồng lớn nhất thế giới. Có điều kỳ lạ cần nhắc lại, theo truyền thuyết, người ta chỉ đúc được pho tượng này tới cổ, vì phần đầu của tượng quá lớn, đường kính của mặt tượng Tỳ Lô Giá Na rộng đến 5 thước, nên rót đồng vô chảy xuống đến cổ là bị rã. Sau đó, nhà sư Phật Triết từ Giao Châu, Việt Nam, đóng bè tre sang Nhật Bản. Ngài Hạnh Cơ Bồ tát ra đón ngài Phật Triết ở bờ biển về để chỉ dạy phương cách đúc tượng. Pho tượng được hoàn thành một cách hoàn hảo, nên Thánh Vũ thiên hoàng thỉnh ngài Phật Triết về chủ lễ điểm nhãn tượng. Và Ngài soạn ra nghi thức cúng dường khai quang, còn truyền tụng đến ngày nay. Như đã nói, tư tưởng Hoa Nghiêm quá trác tuyệt, khó tiếp thu. Vì vậy, công đức hoằng truyền kinh Hoa Nghiêm mà ngài Thẩm Tường đã tu tạo, không có người tiếp nối đạo mạch. Những gì tiêu biểu còn lưu lại dấu vết như tông Hoa Nghiêm, chùa Đông Đại và tượng Tỳ Lô Giá Na, thì ngày nay chỉ còn hiện hữu như một kỷ niệm mà thôi. Tóm lại, kinh Hoa Nghiêm phát xuất từ Êẽn Độ, nhưng vì quá cao siêu nên hiếm người tiếp thu được và tất nhiên việc phát triển càng khó hơn nữa. Phải đợi đến khi truyền sang Trung Quốc hay Nhật Bản và gặp được những vị vua chúa có phước báo và quyền thế phát tâm mới đủ điều kiện hỗ trợ cho công việc phiên dịch, truyền bá kinh, cũng như xây dựng chùa chiền, đúc tượng được thành công. Riêng ở Việt Nam, Phật giáo đương nhiên cũng có phần ảnh hưởng tinh thần Hoa Nghiêm. Một số vị cao tăng cũng thọ trì kinh này, ứng dụng được phần nào tinh ba của kinh trong cuộc sống. Tuy nhiên, nói chung, bộ kinh này không phát triển mạnh được ở Việt Nam. 2. Pháp môn tu tập theo hoa nghiêm kinh: 2.1. Kinh Hoa Nghiêm dạy ta phát tâm Bồ đề: Phát tâm Bồ Đề tức là khơi dạy lòng Đại Bi: Chúng sinh cần ta cứu vớt. Tự thân của mỗi người chúng ta thử nhìn và quan sát xem nỗi khổ của chúng sinh, ai thoát được sanh già bệnh chết ? Ai tránh được chuyện bất như ý ? Họ sẽ rất sung sướng và thấy an lành nếu có ai đó giúp họ giải thích nguyên nhân sinh ra nỗi thống khổ, dắt dẫn họ giải trừ những thống khổ ấy. Chúng sinh đang cần tình thương của Bạn an ủi, che chở, đùm bục. Họ cần một người hiền từ, đáng tin cậy. Họ cần ban cho họ một tình thương vô tư, bình đẳng rộng lớn có thể dập tắt lửa nóng giận, thù hằn trong tâm họ. Tình thương ấy giống như tình thương của cha mẹ đối với con cái vậy đó; Không chút mong cầu chỉ biết phục vụ. Họ cần tình thương vô ngã của bạn. Phát tâm Bồ đề là khơi dậy lòng an lạc: Chúng sinh ai cũng có nỗi bức rức đau khổ. Những kẻ tội nghiệp nặng nề vì đã từ sát hại, trộm cắp, loạn luân, phá giới… thì trong lòng càng bất an, ray rức. Họ cần bạn đem tấm lòng tha thứ bao dung ban bố cho họ, khiến tâm họ hết đau khổ, đắc an lạc. Phát tâm Bồ đề là khơi dậy lòng ai mẫn: Nhiều chúng sinh luôn có tâm lo sợ hãi hùng. Sống trong một thế giới lúc nào cũng cạnh tranh, lòng sân hận, ngăn cách tình người càng lúc sâu đậm. Nhiều người cứ sống với tâm trạng đề phòng, nghi ngờ, cô lập, rồi sinh khiếp nhược nội tại, nỗi sợ mà họ không sao thừa nhận, kết quả là họ truyền phóng lòng sợ hãi ấy ra bên ngoài thành sự giận dữ, hung bạo, tranh chấp… Họ cần bạn bao dung, thông hiểu họ, làm họ hết sợ hãi. Phát Bồ đề tâm là khơi dậy tâm vô ngại: Nếu sống trên đời, chuyện gì bạn cũng muốn cho vừa ý mình, đúng theo dự định mình muốn thì đâu đâu bạn cũng sẽ thất vọng. Chẳng lẽ mình nên để những sở thích, ham muốn, tính toán, dục vọng xiềng xích sự tự do, tự tại vốn có trong lòng mình sao ? Chẳng lẽ mình cam tâm đánh mất sự tự tại vô ngại này sao ? Nên cởi bỏ xiềng xích là vừa… Nếu là vô ngại, mình chớ nên chướng ngại, đố kỵ ghen ghét kẻ khác, cản trở họ thành công trên đường đạo hay đường đời, thì tự mình chuốc khổ, rồi tự sinh chướng ngại mà thôi. Phát tâm Bồ đề là khơi dậy tâm Quảng đại: Không biết bao nhiêu chuyện vụn vặt hàng ngày khiến tâm ta quay cuồng bận rộn. Dường như tâm ta cứ chạy rong hoài hoài, không biết đâu là trọng tâm, chổ quy hướng (tức chân tâm vô ngã) để lòng yên nghỉ. Khi tâm mất chổ quy hướng thì ta dễ cau có, ích kỷ, chỉ nghĩ ngợi cho mình, vì mình, của mình. Mình cần lắng tâm yên lặng để cỏi lòng trở nên mở rộng. Bạn hãy thường tìm cách ngồi xuống định thần, tĩnh tư để bản ngã im lặng, chân lý hiển bày mở ra trong tâm. Phát tâm Bồ Đề là khơi dậy lòng vô giới hạn: Tư tưởng, quan niệm, định nghĩa và thành kiến, hạn chế mình. Những kiến giải và kinh nghiệm trong chức nghiệp cũng hạn chế tiềm năng vô biên. Ngay cả lý thuyết, học thuyết, triết lý trong tôn giáo cũng hạn chế sự sống của chân lý. Bạn hãy nổ lực hướng mình vào khơi dậy chân lý bất biến, kinh gọi là pháp giới tánh, Phật tánh, vì đó là con đường duy nhất giải thoát mọi giới hạn. Chúng sinh ai cũng sống trong ngục tù tư tưởng, xiềng xích thành kiến; họ cần bạn giải phóng họ; chỉ cho họ ánh sáng trí tuệ vô hạn. Phát tâm Bồ Đề là khơi dậy tâm thanh tịnh: Ô nhiễm là đặc tính của thế giới ta sống. Suy nghĩ và tâm tình ô nhiễm là đặc tính của thế giới nội tâm. Một khi hít thở được không khí lành thì chẳng ai muốn sống nơi không ô nhiễm vẫn đục. Cũng vậy, nếu ai nếm được mùi vị thanh tịnh an lạc thì chẳng ai còn muốn đắm mình trong cấu nhiễm phiền não. Chúng sinh cần bạn giúp họ trồng đóa sen lòng. Bạn hãy đem sự thanh tịnh của thân, miệng, ý cúng dường cho thế giới chúng sanh. Phát tâm Bồ đề là phát khởi trí huệ chân chánh: Chúng sinh thì bị kềm tỏa trong vòng bản ngã, biểu hiện qua cảm xúc, tình cảm, quan niệm, dục vọng. Thánh nhân thì giải thóat những thứ đó. Các Ngài thấu hiểu và tri nhận được sự vận hành của những xiềng xích ấy. Tri nhận tức giải thoát. Các Ngài thấy rằng hễ càng nghe lời bản ngã thì kềm kẹp càng siết chặt; mà càng vùng vằng tranh đấu đè bản ngã thì kèm kẹp lại càng mạnh mẽ, vi tế hơn. 2.1.1. Phương pháp tu: Thực hành Lập Nguyện: Có rất nhiều phám môn hay phương pháp tu hành giúp Bồ Đề tâm phát triển vô hạn. Sau đây xin nêu ra một cách thông thường nhất. Đó là phát nguyện: “Bởi tu hành vô nguyện bất thành”. Thí dụ như chuyện cúng dường hoa. Chắc chúng ta ai cũng có lần cúng hoa dang Phật, hoặc chưng hoa, rãi hoa, tán hoa để cúng dường. Lúc ấy bạn suy nghĩ gì ? Sau đây là sự suy nghĩ của Bồ Tát, khiến cho hành động cúng dường hoa trở thành một pháp môn tu tuyệt diệu: “Khi con cúng dường hoa như vậy, con xin đem căn lành này hồi hướng như vầy: Nguyện tất cả chúng sinh đắc hoa tam muội, nở khai tất cả mọi thứ chân lý. Nguyện tất cả chúng sinh đều được như Phật, ai nhìn thấy Ngài cũng sinh hoan hỷ, không nhàm chán. Nguyện tất cả chúng sinh gặp duyên vừa lòng, tâm không động loạn. Nguyện tất cả chúng sinh làm đủ mọi chuyện thanh tịnh, rộng lớn. Nguyện tất cả chúng sinh thường nhớ bạn tốt, tâm không tráo đổi. Nguyện tất cả chúng sinh như thuốc trị bá bệnh, có thể trừ khử mọi độc phiền não. Nguyện tất cả chúng sinh thành mãn đại nguyện, đạt tới địa vị vô thượng trí vương. Nguyệt tất cả chúng sinh có đặng trí huệ như ánh nhật quang, phá ngu si ám. Nguyện tất cả chúng sinh có sự giác ngộ như vầy tịnh nguyệt, lớn rộng tròn đầy. Nguyện tất cả chúng sinh vào cỏi chân báu, gặp thiện trí thức, thành tựu đầy đủ tất thẩy thiện căn”. Đó là cách phát tâm Bồ đề của đại Bồ Tát hồi hướng thiện căn khi cúng dường hoa. Ngài nghĩ như thế vì muốn chúng sinh đắc trí vô ngại. Chỉ một việc dâng hoa nhưng biết suy nghĩ lập nguyện như vậy thì vũ trụ quan sẽ mỡ rộng, không còn hạn hẹp. Đây chỉ là cách phát nguyện sơ khởi trong vô sống nguyện mà Bồ Tát lập ra khi tu hành. Nói đến lập nguyện, lấy người thế gian mà nói, mặc dù mỗi người đều lập nguyện riêng, nhưng đại thể là ai cũng có chí nguyện của mình. Có người lập nguyện rồi có thể thành được sự nghiệp mà mình kỳ vọng, hoàn thành được tâm nguyện của mình. Nhưng cũng có người lập nguyện rồi, kết quả cũng không nên việc gì, không đạt được nguyện vọng của mình. Cũng là lập nguyện, vì sao có người thành công có kẻ thất bại ? Vấn đề là lập nguyện có kiên cố hay không, có người lập nguyện rồi, không thể kiên định chí nguyện của mình, hơi bị đã kích là lung lay chíc nguyện, thế thì làm sao mà thành công được ? Đã lập nguyện rồi thì phải kiên định bất di bất dịch, không vì trắc trở mà dao động, không vì đã kích mà sợ hãi, không vì khó khăn mà lùi bước, không vì trở ngại mà nản lòng. Lập nguyện kiên cố như vậy thì không có việc gì là không làm nổi. Cho nên lập nguyện không chỉ để mà lập nguyện, mà phải lập nguyện kiên cố cũng như khi phát Bồ đề tâm; quyết không vì bất cứ khó khăn nào mà để mất bản nguyện hay Bồ đề tâm của mình, phải có quyết tâm, sinh mệnh ta có thể mất, chí nguyện ta quyết không dao động mới được. Giả định không phát tâm Bồ Đề quảng đại như vậy, không lập nguyện kiên có như vậy, thì hậu quả của nó sẽ ra sao ? Xin thưa răng: Nếu không đạt được sự phát tâm quảng đại như đã nói trên thì cho dù chúng ta có tu hành trong ba đại a tăng kỳ kiếp, cũng không thể nào thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử. Tức là, dù người hành giả có tu trì đúng phép trong thời gian dài vô số kiếp vi trần, thì cũng vẫn cứ đắm chìm trong bể khổ tử sinh không thể thóat. Nguyên nhân là ở đâu ? 3. Tư tưởng bồ tát và đức phật: Nếu chúng ta bước vào Hoa nghiêm sau khi qua Lăng già Kim cang, Niết-bàn, hay sau Pháp hoa và Vô lượng thọ, thì đây là một cuộc thay đổi toàn diện trên sân khấu mà tấn kịch tôn giáo vĩ đại của Phật giáo Đại thừa được trình diễn, chúng ta không thấy có cái gì lạnh lùng, xám xịt; không có màu đất khổ, không có vẻ hèn kém của con người; bởi vì, trong Hoa nghiêm, ta chạm đến bất cứ cái gì thì cái đó bừng sáng lên vô cùng tận. Hết còn ở trong thế giới hạn cuộc, tối tăm, nhạt nhẽo này; chúng ta được đưa lên tận dải ngân hà tinh đẩu. Thế giới không trung xưa nay vốn ngời sáng. Màu o tối của rừng Thệ-đa nơi trần gian, vẻ phàm tục của đống cỏ khô thiết toà sư tử hẳn là đức Thích tông đang ngự thuyết pháp, một nhóm ăn mày lam lũ đang nghe kinh trong cái thực tại bất thực, không bản ngã - tất cả đều hoàn toàn tan biến hết ở đây. Khi Phật nhập vào một thứ tam-muội nào đó, cái túp lều Ngài đang ngự đột nhiên trải rộng đến tận cùng bờ mé của vũ trụ; nói khác đi chính vũ trụ được hoà tan vào thể tánh của Phật. Vũ trụ là Phật; Phật là vũ trụ. Và đấy không phải duy chỉ là sự dàn trải của khoảng chân không, hay khô héo rút thành một nguyên tử; bởi vì, có kim cang lát đất, những tường bao, chúng lấp lánh phản chiếu lẫn nhau. Không những chỉ duy vũ trụ của Hoa nghiêm không có trên cõi trần ai này, mà đến thính chúng vây quanh Phật cũng không là hàng phàm phu sinh tử. Bồ-tát, Thanh văn, rồi đến các hàng chúa tể thế gian, thảy đều tụ họp tại đây, thảy đều là thần linh cả. Mặc dù các hàng Thanh văn, các hàng chúa tể và tùy tùng quyến thuộc của họ không hoàn toàn hiểu rõ cái gì mà kỳ diệu thế đang diễn ra trước mắt, nhưng không một ai không phải là người mà tâm trí hết còn quy luỵ dưới sự trói buộc của ngu si và cuồng dại. Nếu họ còn như thế, họ đã chẳng thể hiện diện trước hoạt cảnh phi phàm này. 3.1. Hạnh nguyện của như lai: Bây giờ, chúng ta lấy làm kinh dị bởi những thần thông lực của Phật mà Ngài có thể hoá thành tất cả những điều kỳ lạ ấy chỉ bằng cách nhập vào một loại tam-muội nào đó. Những thần thông lực đó là gì? Ấy là : 1) gia trì lực, năng lực ban bố cho Bồ-tát để thành tựu mục đích của đời sống. 2) thần thông lực, năng lực tạo ra các phép lạ. 3) uy đức lực. 4. túc nguyện lực, năng lực bản nguyện. 5) túc thế thiện căn lực, năng lực của những thiện căn trong các đời trước. 6) thiện tri thức nhiếp thọ lực, năng lực tiếp đón hết thảy bạn tốt. 7) thanh tịnh tín trí lực, năng lực của tín và trí thanh tịnh. 8) đại minh giải lực, năng lực thành tựu một tín giải vô cùng sáng suốt. 9) thú hướng Bồ đề thanh tịnh tâm lực, năng lực làm thanh tịnh tâm tưởng của Bồ-tát. 10) cầu nhất thiết trí quảng đại nguyện lực, năng lực khiến nhiệt thành hướng tới nhất thiết trí và các đại nguyện. Khi toàn thể khu vực rừng Thệ-đa được biến đổi do năng lực thần thông của một thứ tam-muội mà Phật chứng đắc, người ta tự hỏi về bản chất của thứ tam-muội này. phép lạ thần biến được thị hiện là do sức mạnh của tâm đại bi, vốn là tinh thể của tam-muội; bởi vì, bi tâm là thân thể, là cửa nguồn, là tiền đạo của nó, và phương tiện tự hiện thân trên khắp vũ trụ. Nếu không có tấm lòng lớn lao đó của từ và bi, tam-muội của Phật, dù có thể được siêu nhập bằng cách nào nữa, sẽ không có giá trị trong màn diễn xuất của một kịch trường tâm linh vĩ đại được diễn tả một cách kỳ diệu nơi đây. Đây quả là chỗ sai biệt điển hình giữa Đại thừa và tất cả các giáo thuyết đã có trước trong lịch sử của đạo Phật. Nhờ khả năng tự khoáng đại và tự sáng tạo của nó, mà trái tim đầy yêu thương rộng lớn biến thế giới trần gian này thành một cảnh huy hoàng và tương hỗn; và đó là chỗ thường trụ của Phật. Sau khi mô tả những biến đổi lúc đức Phật nhập vào tam-muội gọi là Sư tử phấn tấn tam-mụôi: "Tất cả những thứ đó đều do thiện căn bất khả tư nghị của Như Lai, do vì pháp bạch tịnh bất khả tư nghị của Như Lai, do vì uy lực bất khả tư nghị của Như Lai, do vì Như Lai có uy lực thần thông biến một thân của ngài đầy khắp cả hư không; do vì Như Lai có thần lực làm cho hết thảy chư Phật, hết thảy quốc độ huy hoàng nhập vào trong thân thể của Như Lai, do vì Như Lai có thần lực thị hiện tất cả sắc tướng của Pháp giới ngay trong một vi trần; do vì Như Lai có thần lực thị hiện tất cả chư Phật trong quá khứ lần lượt hiển hiện bất khả tư nghị trong một lỗ chân lông, do vì Như Lai có thần lực làm ngời sáng cả vũ trụ bằng mỗi ánh sáng phóng ra từ thân thể của Ngài, do vì Như Lai có thần lực hoá hiện những đám mây thần biến từ một lỗ chân lông Ngài phát ra đầy khắp tất cả các quốc độ của chư Phật, do vì Như Lai có thần lực thị hiện trong một lỗ chân lông toàn bộ lịch sử của hết thảy mười phương thế giới từ thành kiếp đến hoại kiếp. Bởi những lý do đó, khu rừng Thệ-đa hiển hiện các cõi Phật trang nghiêm và thanh tịnh.” 3.2. Theo quan niệm về đức phật trong kinh hoa nghiêm: Quan niệm về Ðức Phật theo Hoa Nghiêm tất nhiên cũng khởi đầu từ Phật nguyên thủy là đức Thích Ca. Ngài cũng mang thân tứ đại giống như chúng ta và trải qua quá trình tu hành, đắc quả Vô thượng Bồ đề. Phật giáo phát triển bắt đầu mở tầm nhìn về chiều sâu, nhìn bên trong cái thực của con người, tức chân linh để định giá trị khác nhau của mỗi người. Theo tư tưởng Phật giáo phát triển, phần cốt lõi quan trọng hơn vì lõi thế nào thì hiện ra bên ngoài thế đó. Bên trong hàm chứa coát cách của Phật, Tổ, tất yếu bên ngoài phải hiện tướng hảo trang nghiêm. Ðó là do các Ngài đã tích lũy công đức tu hành nhiều đời, không phải một kiếp làm được, một đời thành Phật được như chúng ta lầm tưởng. Chúng sinh tạo nghiệp ác, chất chứa trong nhiều đời cũng giống như vậy. Từ đó, hình thành kinh Bổn sinh, Bổn sự, nói về vô số tiền kiếp của Phật xả thân hành Bồ tát đạo. Thân xác giống như chiếc áo mặc cho chân linh. Ðó là quan niệm mới của Phật giáo phát triển bắt đầu quán sát người ở hai mặt: mặt bề ngoài là sinh thân hay thân mạng hữu hình và thân mạng vô hình bên trong là Báo thân, tức hành vi tạo tác của chúng ta. Do công đức tu hành tạo nên con người là Bồ tát, Thánh hiền, Phật. Nghiệp chướng trần lao thì tạo thành chúng sinh trôi lăn trong sáu đường sinh tử. Như vậy, chúng ta có hai con người: con người bằng xương thịt và con người bằng chân linh. Ðại thừa chú trọng đến phần chân linh, căn cứ vào sinh thân Phật để tìm hiểu chân linh hay nhận ra Báo thân Phật. Ðại thừa nhìn về Phật qua tri thức và đức hạnh của Ngài và triển khai Báo thân. Suy nghĩ về Báo thân, nương Báo thân Phật tu hành nhằm mục tiêu phát triển Báo thân của chính mình. Trên bước đường tu, chúng ta xem Phật, Tổ, Bồ tát làm gì, ta cũng làm vậy để nuôi lớn Báo thân của riêng mình. Ðức Phật dạy rằng ai cũng có thể thành Phật nếu tu tập cho đầy đủ tâm đại bi, viên mãn hạnh Bồ tát. Vô lượng kiếp quá khứ, Phật, Hiền Thánh đều trải thân hành Bồ tát đạo, làm lợi ích chúng hữu tình, mới đạt đến Vô thượng Ðẳng giác. Ngày nay, muốn thành tựu quả vị như Phật, chúng ta cũng phải phát tâm bồ đề, dấn thân tu Bồ tát đạo. Ðó là tư tưởng nồng cốt của Phật giáo Ðại thừa. 3.3. tâm, phật, chúng sanh cả ba không sai khác: Kinh Hoa Nghiêm chỉ bày sự đồng nhất của tất cả mọi sự, bởi thế mà có thể tóm gọn: “Tất cả là một, một là tất cả”. Kinh nói sự đồng nhất của ba thực thể tâm, Phật và chúng sanh: Như tâm, Phật cũng vậy Như Phật, chúng sanh đồng Nên biết Phật cùng tâm Thể tánh đều vô tận (Phẩm Dạ-ma cung kệ tán, thừ 20) “Đồng” ở đây là đồng với thân tâm của Phật bổn nguyên Tỳ-lô-giá-na; nói cách khác, đồng một pháp giới sự sự vô ngại, tức là “mười biển thân tướng của Như Lai” (PhẩmNhư Lai thập thân tướng hải, thứ 34). Tu hành là thực hiện sự “không sai khác” này, chứng ngộ được thể tánh của tâm, Phật và chúng sanh là đồng nhất và vô tận. Tùy theo mức độ thanh tịnh của tâm mà chúng ta thấy được ít hay nhiều sự đồng nhất vốn có này, sự đồng nhất rốt ráo đã hiện thành sự sự vô ngại của pháp giới. Tất cả các pháp môn của kinh Hoa Nghiêm đều đặt trên nền tảng cả ba tâm, Phật, chúng sanh không sai khác này, cho nên mọi phương tiện tu hành nào cũng khởi từ nền tảng ấy, vận hành và thành tựu trên nền tảng ấy, do đó bất cứ phương tiện nào cũng có cái cứu cánh không sai khác vốn sẵn ấy. Đó là một trong những lý do để người xưa nói tu theo kinh Hoa Nghiêm là Viên giáo. Thân tâm chúng ta không thể ở ngoài pháp giới Hoa Nghiêm này. Thân tâm chúng ta đồng nhất, hay dùng thuật ngữ Hoa Nghiêm tông, tương tức tương dung với thân tâm Phật Tỳ-lô-giá-na hay pháp giới sự sự vô ngại. Thân tâm mỗi chúng ta là pháp giới sự sự vô ngại. Trong kinh Hoa Nghiêm, thân tâm hay vật chất và tâm thức, không gian và thời gian, được quan sát bằng chỉ quán ở mức độ vi tế nhất. Các phẩm trong kinh đều được thuyết trong tam muội, ở mức sâu nhất. Mức độ nhỏ nhất của không gian là một vi trần. Mức độ nhỏ nhất của thời gian và của tâm thức là một niệm, tức là một khoảnh khắc, cũng là một ý nghĩ. Pháp giới Hoa Nghiêm được chỉ bày và thâm nhập ở mức độ nhỏ nhất ấy, vi trần và niệm. Khi thân tâm chúng ta được nhìn ở mức độ vi tế bằng tam muội (samadhi) thì mỗi vi trần và mỗi niệm của nó đều tương nhiếp tương nhập với những vi trần và những niệm tạo thành vũ trụ này. Khi ấy, thực tại bổn nguyên thanh tịnh và thiêng liêng là Phật Tỳ-lô-giá-na được thấy đầy khắp vũ trụ và trong mỗi vi trần và mỗi niệm. Phẩm Như Lai xuất hiện nói: “Đại Bồ-tát phải biết tâm mình, niệm niệm thường có Phật thành chánh giác, vì chư Phật Thế Tôn chẳng rời tâm này mà thành chánh giác. Cũng như vậy, tâm của tất cả chúng sanh đều thường có Như Lai thành chánh giác, rộng lớn khắp cả, không chỗ nào chẳng có, chẳng rời, chẳng dứt, không thôi nghỉ, nhập pháp môn phương tiện không thể nghĩ bàn”. Tâm, Phật, chúng sanh, cả ba không sai khác là cái thấy vô ngại, tương tức tương nhập, tương dung tương nhiếp của kinh Hoa Nghiêm. Trong khi đó, cái thấy do tưởng phân biệt của chúng sanh thì có nhiều sai khác: tịnh sai khác với bất tịnh, sắc sai khác với không, sanh tử sai khác với Niết-bàn, chân lý tương đối sai khác với chân lý tuyệt đối… Cái thấy tương tức tương nhập, tương dung tương nhiếp là cái thấy viên dung: Một là tất cả, tất cả là một. Một là Phật và tất cả cũng là Phật. Không chỉ tâm, Phật, chúng sanh vô ngại với nhau mà cả thế giới cũng vô ngại với ba cái trên, bởi vì, “Toàn cả ba cõi chỉ là Nhất Tâm” (Phẩm Thập địa), “Ba đời quá, hiện, vị lai chỉ là Nhất Niệm (Phẩm Thập địa). Tất cả tâm, Phật chúng sanh, thế giới, không gian, thời gian được quy về Nhất Tâm hay Nhất Niệm này. Cái Nhất Tâm hay Nhất Niệm này là Phật Tỳ-lô-giá-na, hay còn gọi là Phật tánh, Pháp thân, pháp tánh, pháp giới tánh… 3.4. Bồ tát đạo trong kinh hoa nghiêm: Thời gian như thế, và không gian cũng như thế. Không gian trong Hoa nghiêm không phải là một dàn cảnh phân chia bởi núi, bởi rừng, bởi sông, bởi biển, bởi sáng và tối, bởi có hình và không hình. Ở đây, quả thực là có cảnh dàn trải, vì không có cấu kết không gian thành một khối đơn nhất; nhưng những gì chúng ta thấy ở đây, thảy là cái tương dung tương nhiếp của vạn hữu; mỗi hữu vừa là một cho riêng nó và vừa là tất cả trong nó. Sự dung nhiếp bao la diễn nên như thế quả là sự tiêu giải cái thứ không gian chỉ được nhận diện bằng biến đổi, bằng phân chia, và bằng cách trở. Để phác họa cảnh giới tồn tại đó, Hoa nghiêm làm cho những gì được miêu tả đều thành trong suốt và ngời sáng; bởi vì vẻ sáng ngời là lối trình bày khả dĩ duy nhất trong thế lục, nó truyền đạt ý tưởng tương tức tương nhập, thể tài trổi bật của kinh. Một thế giới của ánh sáng vượt ngoài những chia cách, âm u và xấu xí dẫy đẫy : đó là thế giới của Hoa nghiêm. Một vị Bồ-tát từ một thế giới ngoài biên vức của vũ trụ hiện đến, một vũ trụ siêu qua đại dương thế giới nhiều như hằng sa vi trần Phật sát; cái đến đó há không là một biến cố kỳ diệu? Rồi, ta hãy nhớ rằng Bồ-tát ấy có một đám quyến thuộc tùy tùng, đông như hằng sa vi trần Phật sát, và lại nữa, những tân khách này đều từ tất cả mười phương đến, không phải chỉ có vô số quyến thuộc tùy tùng, mà vây quanh họ còn có những đám mây ngời sáng, những cờ xí chói lọi v.v...Các ngài thử vận dụng hết khả năng tưởng tượng mà miêu tả - quả thực, há không là một cái nhìn mầu nhiệm vượt hẳn lên tâm tưởng thế gian? Quá lắm thì tác giả của Gaṇḍavyūha cũng chỉ có thể nói rằng là "bất khả tư nghị” và "bất khả đắc”. Những phép lạ được thị hiện ấy, chúng không mang bản chất địa phương, hay phiến diện, như chúng ta bắt gặp hầu hết trong văn học tôn giáo. Những phép lạ theo loại này thông thường là đi trên nước, biến gậy thành cây, cho người mù được thấy v.v...Những phép lạ kiểu đó, như được ghi chép trong lịch sử tôn giáo, chúng không những hoàn toàn vô nghĩa và vô giá trị so với những phép lạ của Gaṇḍavyūha, mà từ căn bản, chúng khác với Gaṇḍavyūha, bởi vì những phép lạ Gaṇḍavyūha chỉ có thể có chừng nào toàn thể cơ đồ của vũ trụ mà chúng ta hoài bão được thay đổi ngay từ nền tảng. 3.4.1. Bồ tát Thập Tín: Đức Phật dạy “ niềm tin là mẹ sanh ra các công đức”. chặng đường thứ nhất của Bồ Tát là phát tâm hay tín tâm. “Trong thực tế cho thấy người tu được do căn lành.Trong cuộc sống của người tu vì phát tâm Bồ đề. Họ sanh tín tâm một cách dũng mãnh, xả bỏ tài sản, thân mạng. Đức Phật đắc đạo cũng vì phát Bồ đề tâm. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả sơ phát tâm nghĩa là chúng ta thành Phật tức có một Ông Phật trong tâm ta rồi và dùng sức mạnh nuôi dưỡng lớn tâm ta.Tín tâm Tam Bảo, chúng ta tin tăng theo tin thần kinh điển Đại Thừa, pháp không phải là giáo điều, Phật là trí tuệ”. Phật , pháp , tăng là Tam Bảo, chúng ta phải có niềm tin mãnh liệt. Chúng ta nương vào một bậc thầy, sống đúng với chánh pháp.Bồ Tát Đạo theo tinh thần Hoa Nghiêm lấy niềm tin làm chuẩn.Nhờ tin mà chúng ta trở thành tốt thăng hoa cuộc sống từ địa vị phàm phu lên Phật Quả.người tu Đại Thừa phải trụ pháp không, ta không có gì, ta phải thay Phật giữ Như Lai Tạng. Theo lộ trình hành Bồ Tát Đạo mà không có trí tuệ, không đức hạnh và vượt ba A Tăng Kỳ Kiếp, nhưng làm được việc nhờ phát tâm Bồ đề, tin ở Phật, Phật không gia bị chắc chắn không làm được gì.hành đạo nên có niềm tin sâu sắc, trãi qua thử thách của cuộc đời. Tiêu biểu bằng con số 10. Để khẳng định niếm tin kiên cố của chúng ta trên đường tiến tu Bồ Tát Đạo gọi là Thập Tín, 10 lần chúng ta vượt khó. 3.4.2. Bồ tát Thập Trụ: Sau khi xây dựng niềm tin kiên cố của Thập Tín chúng ta trụ tâm trong Phật Pháp. Có sở phát tâm trụ, nhị địa trụ,tu hành trụ, sanh quy trụ, phương tiện cụ túc trụ, chánh tâm trụ, bất thối trụ, đồng chơn trụ, pháp ương tử trụ, quán đảnh trụ,Chúng có thể hiểu trong đời sống tu tập say mê tụng kinh trụ tâm thấy những lời dạy thâm sâu của Kinh..Muốn trụ tâm thì phải có hoàn cảnh mà Bồ Tát Thập Địa trở lên thì mới trụ được, trần tâm còn nặng quá thì không trụ được, chúng ta vững trụ tâm thì không bị phiền não quấy rầy.Chẳng hạn tụng kinh đọc sách.. vận tâm chú ý là trụ tâm, phải vượt qua hoàn cảnh mà trụ được là qua giai đoạn Thập Trụ. 3.4.3. Bồ tát Thập Hạnh: Trên bước đường hành Bồ tát đạo, ở giai đoạn Thập Trụ thì đặt nặng về vấn đề Thiền định, túc giữ tâm đứng yên. An trụ vững chắc ở Phật pháp. Tiếp xúc với đời, nghe thấy đủ thứ việc nhưng tâm không giao động, không bị cuộc đời lôi kéo.khi Bồ tát thành tựu Thập Trụ. Đức phật dạy Thập Hạnh là chánh hạnh của Bồ Tát. Bồ tát phải bước chân vào cuộc đời, chạm trán với thực tế, mới kiểm được tâm chúng ta. Kinh Hoa Nghiêm lấy Thập Ba La Mật còn Kinh Bát Nhã lấy Lục Ba La Mật. Hành Bồ Tát phải nương vào các bậc tri thức, các bậc trưởng thượng để học tập. Kinh Bát Nhã có 6 công hạnh mà Bồ Tát phảii có đầy đủ, Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ, theo Kinh Hoa Nghiên thì khai thêm có 10 là cộng thêm Phương tiện, Nguyện, Lực và Trí.ở giai đoạn Thập Hạnh, Bồ tát luyện được tâm vững, đã trụ đại định, có sức kiên nhẫn chịu đựng, có đức kiên trì. Bồ tát Thập Hạnh lăn xả vào đời làm việc nhiều, từ đây bắt đầu có tích lũy phước đứcTrong thực tế chúng ta ở chùa mà lúc nào cũng bực bội vì tham vọng phát khởi,tham vọng dâng lên thì phật huệ tự biến mất. trên cuộc đời này không có gì làm ta bằng lòng được.Bởi thế Kinh Hoa Nghiêm muốn dạy ta nhận ra cảnh giới an lạc tâm thanh thản, dù sống đạm bạc, ngồi gốc cây mà ta và vật hòa đồng, tạo thành cảnh giới an lạc. Đó là tinh thần của Kinh Hoa Nghiêm. 3.4.4. Bồ Tát Thập Hồi Hướng: Khi hoàn tất hai giai đoạn Thập Tín và Thập Trụ việc chúng ta là pháp hành trong tâm, không phải bên ngoài. Thật chứng Thập Hạnh của Hoa Nghiêm, ngồi yên một chỗ nhưng tâm tác động cho muôn loài phát tâm.Chúng ta được bao nhiêu công đức đem hồi hướng, hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề ( nâng trí thức chúng ta lên cao nhất), Hồi Hướng Pháp Giới Chúng Sanh. Dìu dắt những người đồng với mình cùng nhau làm việc cùng nhau học. Tu Hồi Hướng Pháp Giới Chúng Sanh, bao nhiêu thiện căn công đức chúng ta đều gởi vào tâm chúng sanh không bao giờ mất. Phật pháp cữu trụ cũng ở dạng này và chúng tu được cũng nhờ Đức Phật hồi hướng pháp giới chúng sanh. Chúng sanh nào nhận được ký thác của ấy, cũng thành ngoại đạo chống phá Phật Đạo.Hồi hướng chân như thật tướng, tu chân như thật tướng nghĩa là độ tất cả chúng sanh, như không thấy ta độ và người cũng không cảm thấy bị độ, nhờ vậy tâm chúng ta luôn thanh thản, chúng sanh nhẹ nhàng phát tâm Bồ đề, mọi vật hiện trên tấm gương của chúng ta. Tùy tâm nguyện, tùy yêu cầu của chúng sanh mà việc được tự động giải quyết. làm được tất cả nhưng buông bỏ tất cả, không làm nặng lòng ta và người. Đó là hành trang tối cần thiết để tiến tu Bồ tát đạo. trong 10 hồi hướng chủ ý có 3 là: hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề, hồi hướng pháp giới chúng sanh, hồi hướng chân như thật tướng. 3.4.5. Bố Tát Thập Địa hay Thập Thánh: Quá trình tu Bồ Tát đạo theo Kinh Hoa Nghiêm, từ sơ phát tâm tu Thập Tín đến hoàn tất Thập Hồi Hướng, đạt đến thếm thang thứ 40, chấm dứt giai đoạn Hiền vị và chuẩn bị lên Thánh vị, tu pháp Thập Địa của Bồ tát. Theo đại thừa hàng tam Hiền gồm có những vị ở giai đoạn thập trụ,thập hạnh, thập hồi hướng. hàng Thánh vị là chư Bồ tát đang thể nghiệm pháp thập địa ở 10 cấp bậc khác nhau.Đức Phật Di Đà xưa kia thực hiện Hạnh Bồ Tát, ngài lập ra một nước An Dưỡng Quốc( tập hợp những người có nhân duyên thực hành Bồ tát đạo sống an lạc hạnh phúcThập địa vị nghĩa là 10 địa vị tu tập cũa Bồ tát với mục đích giữ gìn Pháp Bảo, nuôi dưỡng Pháp Bảo và khiến cho Pháp Bảo sớm được sanh trưởng để kết thành quả giác ngộ. Thập địa vị là kể từ ngôi vị thứ 41 cho đến ngôi vị thứ 50 trong quá trình tu tập hạnh Bồ Tát. Bồ tát tu tập thập địa bắt đầu bước lên mé chứng ngộ. 3.4.5.1. Bồ Tát Sơ Địa (Hoan Hỷ Địa): Cũng gọi là cực hỷ hay là duyệt dự địa. hoan hỷ địa nghĩa là địa vị rất vui mừng, rất an vui. Bồ tát ở ngôi vị này rất vui mừng là đã chứng được Phật tánh cũng như đã giác ngộ hai nguyên lý nhân không và pháp không đề làm lợi ích cho chúng sanh. 3.4.5.2. Bồ Tát Nhị Địa (Ly Cấu Địa): Cũng gọi là vô cấu địa hay là tịnh địa, ly cấu địa là địa vị đã thoát ly hẳn bụi như phiền não ô nhiễm tâm Bồ đề và được hoàn toàn thanh tịnh. Bồ tát ở ngôi vị này là tẩy sạch hết tất cả trần cấu phiền não ô nhiễm và giữ tâm Bồ đề được hoàn thanh tịnh nên gọi là ly cấu địa. 3.4.5.3. Bồ Tát Tam Địa (Phát Quang Địa): Cũng gọi là minh địa, hữu quang địa hay hưng quang địa, phát quang địa nghĩa là địa vị phát sanh trí tuệ sáng suốt. Bồ tát ở ngôi vị này là nhờ đại thiền định nên phát sanh được trí tuệ sáng suốt mầu nhiệm vô biên nên gọi là phát quang địa. 3.4.5.4. Bồ Tát Tứ Địa (Diễm Huệ Địa): Cũng gọi là diễm địa, tăng diệu địa hay huy diệu địa. diễm huệ địa nghĩa là địa vị phát sanh lửa trí tuệ tăng thêm sáng suốt. Bồ tát ở ngôi vị này là phát huy trí tuệ tăng thêm sáng suốt lên mãi và phát huy cho đến khi nào lửa trí tuệ đó đã đốt sạch hết tát cả phiền não cũa vô lượng kiếp ở trong tâm Bồ đề nên gọi là Diễm Huệ Địa. 3.4.5.5. Bồ Tát Ngũ Địa (Nan Thắng Địa): Cũng gọi là cực nan thắng địa, địa vị rất khó vượt qua. Bố tát ở ngôi vị này là đã thành công được những điều khó vượt qua. Hai trí tuệ thuộc chân đế và tục đế thì hoàn toàn trái ngược nhau. Thế mà bồ tát đã thắng được rất khó khăn là khiến cho chúng nó hòa hợp với nhau thành một thể nên gọi là nan thắng địa. 3.4.5.6. Bồ Tát Lục Địa ( Hiện Tiền Địa): Cũng gọi là hiện tại địa, mục kiến địa hay mục tiền địa. Bồ tát ở ngôi vị này là phải giữ vững trí tuệ hữu phân biệt để soi sáng và phát khởi trí tuệ vô phân biệt của phật luôn luôn hiện ra trước mặt một cách rõ ràng. 3.4.5.7. Bồ Tát Thất Địa (Viễn Hành Địa): Bồ tát ở ngôi vị này là đã vượt qua khỏi một cách xa thẳm cũa hai đạo thế gian và cuất thế gian đến một nơi vô tướng nghĩa là Bồ Tát không còn bị ràng buộc bơi những hình thức công dụng cũng như tự tại trước những hình tướng tu hành khuôn mẫu nào cả. 3.4.5.8. Bồ Tát Bát Địa (Bất Động Địa): Nghĩa là địa vị không còn bị chuyền động. Bồ tát ở ngôi vị này nhờ vận dụng được trí tuệ vô phân biệt một cách liên tục cho nên không bao giờ bị lay chuyển bởi những phiền não cuốn trôi cũng giống như bị biến động theo bởi những hình tướng bởi những công dụng hấp dẫn của thế gian nên gọi là bất động địa. 3.4.5.9. Bồ tát cửu địa (Thiên Huệ Địa): Nghĩa là địa vị phát khởi trí tuệ một cách linh hoạt khéo léo. Bồ tát ở ngôi vị này nhờ phát chiếu trí tuệ một cách vi diệu và tự tại cho nên đã thành tựu bốn biện tài vô ngại để độ chúng sanh và thuyết pháp lưu loát, nói năng rất khéo léo và linh hoạt trong bất cứ trường hợp nào, Bồ tát thuyết pháp không bao giờ bị vấp ngã. 3.4.5.10. Bồ Tát Thập Địa( Pháp Vân Địa): Là mây pháp che khắp muôn loài chúng sanh cũng như pháp tưới mát cả hằng sa quốc độ. Bồ tát ở ngôi vị này là đã chứng được pháp thân thanh tịnh và dùng đại trí kết hợp vô lượng công đức tạo thành đám mây đại pháp trong sạch che khắp vô lượng quốc độ và tươi mát cả muôn loài chúng sanh. 4. Ba yếu tố nền tả: Thực tại nền tảng của thế giới Hoa Nghiêm là Phật Tỳ-lô-giá-na (Vairocana). Đây là Pháp thân của Đức Phật Thích-ca và cũng là Pháp thân của tất cả chư Phật. Tỳ-lô-giá-na nghĩa là Đại Nhật, Phổ Quang Minh, Quang Minh Biến Chiếu, Đại Quang Minh Tạng. Thế giới chúng ta đang sống nằm trong thế giới Hoa Nghiêm, và là một phần nhỏ của nó. Thế giới Hoa Nghiêm xuất sanh và hiện hữu trong thực tại nền tảng ấy. Hay nói cách khác, thế giới là Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của Phật Tỳ-lô-giá-na. Thực tại nền tảng ấy cũng là tâm của mỗi chúng sanh, “Tâm, Phật, chúng sanh. Cả ba không sai khác”. (Phẩm Dạ-ma cung kệ tán). Mọi pháp môn thực hành của kinh Hoa Nghiêm là để ngộ nhập thế giới ấy. Thế giới ấy được kinh gọi là pháp giới, thế giới của pháp. Để thực hành tương ưng với pháp giới Hoa Nghiêm, chúng ta cần biết những phương diện, những đặc tính của nó. Sau đây, chúng ta nghiên cứu ba trong những đặc tính của pháp giới hay thân Phật Tỳ-lô-giá-na. Thiền định, thiền quán về ba phương diện này sẽ đưa chúng ta dần dần đến cái thấy pháp giới Hoa Nghiêm. 4.1. Tánh Không: Ngay trong chương đầu tiên, Thế Chủ Diệu Nghiêm, trong bài kệ đầu tiên, tánh Không được nói đến như sau: Thân Phật phổ biến các đại hội Đầy khắp pháp giới không cùng tận Tịch diệt, vô tánh, không thể nắm Vì cứu thế gian mà xuất hiện Pháp thân Phật Tỳ-lô-giá-na là tánh Không: “tịch diệt, vô tự tánh, không thể nắm, không chỗ y, vắng lặng, bất động, tịch tịnh, vốn giải thoát, quang minh”. Chính vì Pháp thân tánh Không vô tự tánh, vô hạn, không chỗ y như vậy, mà Báo thân và Hóa thân có thể “phổ biến các đại hội, hiện khắp mười phương không chỗ sót”. “Vô tánh” tức là vô tự tánh, không có tự tánh, không có hiện hữu nội tại riêng biệt độc lập. Đây chính là tánh Không. “Tịch diệt”, vĩnh viễn tịch diệt, vì không có sự sanh ra, chưa từng sanh ra, hay vô sanh. Tánh Không thì “vô tướng, vô ngại” và do đó hiện hữu khắp mười phương. Nhưng tánh Không không phải là không có gì hết. Từ nó lưu xuất ra các tướng, hiện hữu trong nó, tiêu tan trong nó. Các tướng, kể các tướng bị định hình bới nghiệp, đều từ tánh Không lưu xuất, nên chúng cũng không có tự tánh, vô tự tánh như tánh Không. Tâm Kinh Bát Nhã nói: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác sắc. Sắc tức là Không, Không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức cũng là như vậy”. Các tướng chính là tánh Không, vô ngại, vô hạn. Chính vì các tướng vô ngại, vô hạn, cho nên các tướng mới có thể vô ngại với nhau, khiến có một thế giới tướng tướng vô ngại hay sự sự vô ngại, đây là cảnh giới và cái thấy đặc biệt và cao cấp nhất so với tất cả các kinh khác. Thật ra các kinh khác cũng có nói đến pháp pháp sự sự vô ngại, nhưng đặc biệt ở kinh Hoa Nghiêm được tập trung và khai triển sâu rộng nhất, cùng với tất cả các pháp môn để đưa chúng ta đến cái thấy pháp giới sự sự vô ngại là cảnh giới cao nhất của tất cả những con đường Phật giáo. Cảnh giới chư Phật vô lượng môn Tất cả chúng sanh chẳng vào được Phật tánh thanh tịnh như hư không Vì khắp thế gian khai chánh đạo. Mỗi mỗi chân lông của Như Lai Đầy đủ công đức như biển cả Tất cả thế gian đều an vui Thọ Quang vương đây đã thấy được. 4.2. Quang minh: Phương diện thứ hai để người ta có thể tiếp xúc được với pháp giới là quang minh hay ánh sáng. Cũng trong phẩm thứ nhất Thế Chủ Diệu Nghiêm này, trang nào cũng có vài chữ quang minh. Chúng ta thấy: “Thần lực của Phật làm cho đạo tràng ảnh hiện tất cả sự trang nghiêm”, “tuôn ánh sáng như mây”, “quang minh của chư Phật”, “tất cả cảnh giới đều hiện trong lưới báu, tất cả chúng sanh nhà cửa đều hiện bóng trong đó”. Như vậy, bản tánh của thế giới Hoa Tạng này là quang minh hay ánh sáng. Ở đây chúng ta trích ra một số đoạn trong chương thứ nhất, nói về thế giới như là thân Phật Tỳ Lô Giá Na, và thân Phật Tỳ Lô Giá Na như là quang minh. Quang minh với tánh Không là một, bất khả phân. Thân Phật thanh tịnh thường tịch diệt Quang minh chiếu sáng khắp thế gian Không tướng, không hành, không hình bóng Ví như mây nổi giữa không gian. ……… Pháp vương an trụ cung Diệu Pháp Pháp thân quang minh soi tất cả Pháp tánh vô tướng không gì sánh Hải Âm phạm vương được giải thoát. Pháp giới là một trường phô diễn của quang minh: 4.3. Như huyễn: Có sự “thị hiện”, “hiện Phật sự”, “hiện khắp”, “hiện trong các cõi như vang, bóng”, “đều hiện Phật sự hóa chúng sanh”… bởi vì tất cả mọi thị hiện ấy đều là hóa hiện, trên nền tảng như huyễn. Thị hiện mà vẫn “không tướng, không hành, không hình bóng” cho nên hiện mà vẫn giải thoát, vẫn ở trong “cảnh giới định”. Tính cách như huyễn này cùng với tánh Không và quang minh khiến có được thế giới sự sự vô ngại, một đặc thù của kinh Hoa Nghiêm: Tất cả chúng sanh đều sai khác Một chân lông Phật thị hiện đủ Bao nhiêu phước đức của chúng sanh Trong chân lông Phật đều hiển hiện ……… Quang minh chiếu khắp đồng hư không Trước các chúng sanh đều khắp hiện Trăm ngàn muôn kiếp, các quốc độ Trong một sát-na đều hiện rõ. Ngay chương thứ nhất Thế Chủ Diệu Nghiêm, qua cái thấy của các Thiên vương, các Thần vương, các Thần chủ và các đại Bồ tát, có ba yếu tố, ba đặc tính của Phật Tỳ Lô Giá Na hay Phật thân hay Pháp giới được nhìn thấy. Đó là tánh Không, Quang minh và Như huyễn. Dĩ nhiên đây chỉ là ba yếu tố chính trong rất nhiều yếu tố khác mà kinh sẽ nói đến. 5. Học thuyế và tư tưởng của kinh Hoa Nghiêm: "...Tìm hiểu về tư tưởng và học thuyết “thanh tịnh tâm duyên khởi” trong Kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy đây là một hệ thống tư tưởng rất biện chứng, rất thực tiễn, là then chốt để đi vào thế giới vô biên một là tất cả, tất cả là một..." Theo nhiều nhà nghiên cứu Phật học, giá trị trọng tâm của Kinh Hoa Nghiêm là tư tưởng và học thuyết về tâm, hay còn gọi là “Duy tâm luận”. 5.1.Về mặt tư tưởng: Kinh Hoa Nghiêm đều có mục đích phô trần, trần thuật năng lực diệu dụng kỳ vĩ của tâm. Khái niệm chính của Hoa Nghiêm là ở chỗ thiết chế “Tam giới duy tâm”. Tức là tất cả ba cõi, tất cả thế giới sự vật hiện tượng - từ nguyên tử hoặc nhỏ hơn nữa, cho đến các tinh tú, nhật nguyệt xa xôi ... đều do tâm tạo tác, tâm duyên sinh, tâm sinh khởi. Kinh lại bảo rằng “Tâm như công họa sư, họa chủng chủng ngũ uẩn, nhất thiết thế giới trung, vô pháp nhi bất tạo”. Nghĩa là tâm này (tâm của con người) như anh họa sĩ. Anh ta vẽ ra ngũ uẩn (sắc thuộc vật lý; thọ, tưởng, hành, thức thuộc tâm lý), tất cả những hiện tượng trong thế giới này (và thế giới khác), không một cái gì mà anh họa sĩ (tâm) không vẽ ra. Nói một cách dễ hiểu hơn, tâm là gốc rễ của mọi hành vi của chúng ta. Trước khi làm một việc gì, tâm ta phải chuẩn bị. Nghĩa là nếu chúng ta không có tâm muốn làm một việc gì, điều gì, ta sẽ không làm nó. Bất cứ một việc gì ta thực thi đều phải do tâm sửa soạn. Nó có khả năng tạo tác những kế hoạch hằng ngày, như vạch chương trình học tập hay kế hoạch sẽ làm gì trong giờ tới, ngày tới v.v...Tương tự, tương lai ta hạnh phúc hay khổ đau cũng tùy thuộc vào tâm của chúng ta. Nếu tâm chúng ta chuẩn bị những việc lành thì chắc chắn ta sẽ thọ quả báo tốt trong tương lai. Cũng vậy, nếu tâm ta dự tính những việc xấu ác thì ta sẽ thọ quả báo xấu. Lại nữa, những rắc rối bất hạnh trong đời không phát sinh từ bên ngoài mà từ nơi tâm ta. Tuy nhiên, để thẩm định một cách chính xác, tránh sự nhầm lẫn, lẫn lộn về tâm. 5.1.1. Về hiệu năng: Tâm này sinh ra sum la vạn tượng (vọng tâm), nó thu nhận, phản ánh mọi sự vật hiện tượng, mọi trạng thái tâm lý. Nó hay leo trèo, dựa bám vào bên ngoài và tùy duyên mà phân biệt. Đa phần chúng ta không mấy ai nắm bắt và thấy được nó, vì chúng sinh diệt trong từng sát na theo với ngoại cảnh, như vui đó, buồn đó, thương đó, ghét đó...Như con khỉ, những trạng thái tâm thức, xúc tình của chúng ta không ngừng cử động, không ngừng ném chúng ta từ những đỉnh cao xuống những vực sâu và ngược lại. Nhận lầm tâm này là “của ta”, là nguyên nhân phát sinh ra đau khổ, phiền não, sinh tử luân hồi. Nói chung, đặc trưng của tâm là thường gắn liền với tạo tác và thiên luân. 5.1.2. Về tính năng: Bản chất của tâm là trong sạch (chân tâm), là cái tâm tự tri, tự giác, hiểu rõ mọi sự mọi vật một cách sáng suốt tuyệt vời, không cần dựa bám vào bất cứ một sự vật nào cả. Nó là ông chủ, là sự sống huyền diệu, tùy duyên bất biến ở trong mọi sự vật và mọi tình huống. Vì vậy, nói chân tâm và vọng tâm nhưng kỳ thật, đứng về mặt tuyệt đối hay chân như, tuy tâm thanh tịnh bất biến mà vẫn phải tùy duyên sinh diệt. Đứng về mặt tương đối hay sinh diệt, thì tâm tuỳ duyên sai biệt nhưng vẫn như như bất biến. Hay nói cách khác, chân tâm và vọng tâm không rời nhau, khi cái tính tuyệt đối của tâm chưa phát hiện thì vốn là một, nhưng khi nó đã phát hiện ra ngoài rồi thì liền có đủ sức mạnh để biến hóa từ vô vi sang hữu vi, phát sinh ra thiên hình vạn trạng, sự sự vật vật trong thế giới sai thù. 5.2.Về mặt học thuyết: Học thuyết của Hoa Nghiêm là “Thanh tịnh tâm duyên khởi”, tức là bản thể chân nguyên phô trần mọi hoạt biến, mọi sự vật hiện tượng sai khác nhau, nhưng chung kết thì tất cả sự sai biệt đều được quy về tâm “Nhất thiết duy tâm tạo”. Muôn pháp còn quy vào một tâm huống chỉ là Tam tạng kinh điển. Thế nên, Phật không muốn vướng mắc vào ngôn ngữ văn tự, dù trong bốn mươi chín năm ròng rã, Phật đã dày công quay bánh xe Pháp khắp nơi để truyền bá đạo mầu, mà Ngài vẫn cho rằng mình chẳng hề nói một chữ, một câu! Phật đã chối bỏ chữ nghĩa và lời nói, chỉ vì lời nói và chữ nghĩa chỉ là phương tiện để chỉ cái tâm bừng sáng trong mọi bộ kinh, xuyên qua bức màn danh ngôn, nghĩa tướng mà thôi. Tìm hiểu về tư tưởng và học thuyết “thanh tịnh tâm duyên khởi” trong Kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy đây là một hệ thống tư tưởng rất biện chứng, rất thực tiễn, là then chốt để đi vào thế giới vô biên một là tất cả, tất cả là một. Trong một vi trần và cũng từ trong một vi trần này hiển thị thể tánh của chân tâm hay ba đời chư Phật trong một niệm. Và như thế, con người, tất nhiên là mọi người đều có thể vươn đến đỉnh cao nhất của sự hoàn thiện hay toàn tri ngay trong đời sống hiện thực. Và con người là một vũ trụ, với đầy đủ tính năng của vũ trụ. Con người là Phật, với đầy đủ tính năng của Phật. Tựu trung, sự nỗ lực tuyên thuyết Kinh Hoa Nghiêm của các nhà Đại thừa rõ ràng không ngoài mục đích soi sáng duyên sinh quan, thế giới quan, vũ trụ quan và nhân sinh quan Phật giáo. 6. Triết lý kinh hoa nghiêm: * Về Nội Dung: Theo ngài quốc sư Thanh Lương thì bộ Bát Thập Hoa Nghiêm được chia làm 3 phần: *. Phần Tự: 5 quyển *Phần Chính Tông: 55 quyển 5. *. Phần Lưu Thông: 19 quyển 5,gồm 4 yếu lý: Tín, Giải, Hành,Chứng và 5 chu: *.Tín nhân quả chu: 11 quyển 6 phẩm. Sai biệt nhân quả chu 41 quyển * Giải Bình đẳng nhân quả chu 31 phẩm *Hành nhân quả chu: 7 quyển 1 phẩm *Chứng nhân quả chu: 21 quyển 1 phẩm. TÍN: tin giáo lý của Phật dẫn trong kinh là chân lý tuyệt đối. GIẢI: giải rõ chân lý đó. HÀNH: dùng phương pháp để thực hành hầu đạt tới chân lý đó. CHỨNG: chứng ngộ chân lý đó. & Về Triết Lý gồm những điểm then chốt như sau: 1. Nhất Thiết Duy Tâm Tạo 2. Nhất Tâm Chân Như, Pháp Giới Duyên Khởi Từ Bản thể Chân như của vũ trụ phát sinh các hình tướng sai biệt trong Hiện tượng giới. Từ tuyệt đối thể vô biên ,dời sang thế giới tương đối hữu thể,để biện minh cho cái Chân tướng vô tướngcủa vạn pháp và chân lý tối cao,bất diệt là :mọi sự vật trên trần gian đều do từ "Chân Không Diệu Hữu" mà phát sinh .Từ một mảy lân hư trần cho đến sơn hà,trăng sao và mọi sinh vật đều phải nương tựa lẫn nhau,làm nhân làm duyên cho nhau mà biến dịch,sinh tồn trong mối tương quan của Lý:Pháp giới trùng trùng duyên khởi. Pháp giới duyên khởi là tên gọi khác của Thập Nhị Nhân Duyên vẫn có từ vô thủy đến nay, không phải đợi đến lúc Phật ra đời rồi mới có .12 nhân duyên là giáo ly (do đó) mà Đức Thích Ca thành đạo .Sau khi đã hoàn thành chứng ngộ, Phật căn cứ vào lý duyên khởi của Khổ giới mà lần lượt nói ra sự quan hệ nhân quả giữa 12 chi, đưa ra nguồn gốc căn bản của khổ não và Vô Minh, và những gì được gọi là Pháp hữu vi, là sự sự, vật vật hay vạn Pháp trong thế giới duyên sinh trùng trùng điệp điệp này.Với chân lý "Nhân Quả"và "Duyên Sinh", với chân lý "Bất nhị"cùng "lý, Sự và Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới", kinh Hoa Nghiêm đã xác nhận mọi hành động về thân, khẩu, ý của con người, đều tạo nghiệp quả cho mình và cho tha nhân đồng phải gánh chịu trong cái thế liên hoàn trùng trùng điệp điệp. Một là tất cả và tất cả là một. Muốn hiểu rõ các pháp duyên khởi sinh ravạn hữu như thế nào, cần phải biết đến 4 Pháp Giới, 6 tướng và 10 Huyền Môn. 6.1. tứ pháp giới: Vũ trụ vạn hữu do từ "Nhất Chân Pháp Giới"mà thành lập: 1..Ở thế giới của Sự vật có hình tướng sai thù làSự pháp giới. 2..Ở thế giới của Lý trí và tinh thần là Lý pháp giới. 3.. Thế giới của Lý và của Sự dung thông với nhau, không ngăn ngại nhau, gọi là Lý, Sự vô ngại pháp giới. 4..Thế giới của Sự và Sự, nghĩa là của hết thảy sự vật trong hiện tượng giới đều gọi là Sự sự vô ngại pháp giới. 6.2. sự pháp giới: Là hình sắc hay vật chất, gồm có vô lượng hình tướng khác nhau. Cảnh giới này sinh diệt vô thường như ráng mây huyễn biến trên trời cao, như sóng bọt nổi chìm ngoài biển cả, tùy nghiệp duyên thiện, ác mà biến hiện như phù vân. Sự pháp giới chính là mọi hiện tượng trong trời đất, biểu dương cho Sức sống mãnh liệt, khởi lên từ một nguồn năng lực duy nhất là Tâm Chân như. Các pháp đều có tự thể và giới hạn to nhỏ, rộng hẹp, ngắn dài bất đồng nên gọi là Pháp giới. Trong khung cảnh hẹp thì pháp giới chỉ cho giới hạn của mổi pháp, nhưng trong phạm vi rộng (no) chỉ cho toàn thể không gian bao la. 6.3. lý pháp giới: Là tâm hay bản thể, chỉ cho phần Chân như môn của Như lai tạng. Cảnh giới này hư linh, vẳng lặng, sáng suốt, diệu huyền, bao trùm toàn thể vũ trụ, bất sinh, bất diệt, bất khứ, bất lai…. có đủ 4 đức tính :Thường,Lạc, Ngã ,Tịnh. Lý Pháp Giới hay là Chân Nhưtuyệt đối,bình đẳng,nhất như, vô phân biệt, là cái nguyên lý đại đồng phổ cập cho toàn thể, được gọi là Pháp Thân, Pháp Tính, Thể Tính, Thực Tướng, hoặc Bản Thể Chân Không của vạn pháp hay cái Bản lai diện mục của mỗi chúng sinh . 6.4. Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới: Là thế giới của Lý và của Sự hoàn toàn dung thông, không mâu thuẫn, ngăn ngại nhau. Vì muôn pháp đều huyễn, không có tự tính riêng biệt, nên mọi sự đều là Lý.Bởi Chân như. Tự tính hay Thực thể đều tùy duyên biến hiện nên mọi Lý đều là Sự. Lý nhờ sự mà hiển thì Sự nhờ Lý mà thành. Trong mỗi Lý đều có Sự, và trong mỗi Sự đều có Lý.Sự và Sắc, Lý là Không, và Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc, Nói Lý và Sự vô ngại là nói Tâm tức Vật,Tinh thần tức Vật chất,hay Năng lượng tinh thần là Khối lượng vật chất: Bàn về Lý, Sự vô ngại tức Thế, Tướng và Dụng viên dung. là nói đến Tướng là hiện tượng của thể, nương vào Bản thể mà phát sinh. Thể và Tướng bao giờ cũng dung thông dung nhiếp với nhau, nên công dụng của vạn hữu hóa ra vô cùng. Mỗi pháp đều có Sự và Lý hòa hợp với nhau, tuy hai mà một, tuy một mà hai, nhưng Sự vẫn là Sự, Lý vẫn là Lý.Cũng như Nước tuy là Sóng, Sóng tuy là Nước, nhưng Nước vẫn là Nước, mà Sóng vẫn là Sóng, Sóng với Nước tuy giống nhau trên mặt Bản thể, nhưng vẫn dị biệt trên mặt Hiện tượng. Lý và Sự trong mỗi pháp đã viên dung vô ngại thì Lý và Sự trong muôn pháp cũng đều viên dung vô ngại cả. Viên dung nghĩa là bao trùm, hòa hợp với nhau, hòa tan trong nhau như sữa với nước để trở thành một thể duy nhất. Vô ngại tức là tự do, tự tại, không gây mâu thuẩn, chướng ngại cho nhau, trong cái thể tương tùy, tương sinh, tương tức, tương nhập. Người ngộ đạo hiểu rằng: Lý không phải chỉ hiển hiện suông như không gian vô hình, vô tướng, mà lý cũng chính là thế giới hiện tượng diệu hữu muôn sai ngàn khác, trưng bày ngay trước mắt mọi người.Với những ai vốn quen sống với những cảm giác giả dối,điên đảo mộng tưởng bề ngoài,thì Sự hoặc Sắc chỉ là những sự việc riêng biệt,có giới hạn ngăn ngại nhau,rời rạc khắp đó đây,nhưng dưới cặp mắt của người đã thấu triệt triết lý Hoa Nghiêm thì những sự vật ấy lại được an bài có trật tự nghiêm minh trong thế giới của Lý thể bên trong khiến cho Sự chính là Lý,Lý chính là Sự,hay Thể tức là Tướng,Tâm tức là Vật,Tự tức là Tha … Lý, Sự vô ngại hay Thể, Tướng viên dung nghĩa là cái lý huyền diệu của vũ trụ cùng vớisự vật hữu hình trên hiện tượng giới không phải là hai mà cũng chẳng phải là một. Thực tại bao hàm đặc tính lưỡng diện, vừa sai biệt trên mặt hiện tượng lại vừa đồng nhất trên mặt bản thể, cho nên sự vật luôn luôn tương dung, tương nhiếp, tương tức, tương nhập. Lý là Thể của Tướng, Dụng; Sự là Tướng, Dụng của Lý. Lý tính là toàn Sự, Sự sự là toàn Lý tính. Lý đã tức là Sự nên Lý không ngoài Sự, mà Sự cũng không ngoài Lý. Lý không ngại Sự mà Sự cũng không ngại Lý.Mỗi trần không ngại, mỗi pháp dung thông, vì thế mà đưa tới tư tưởng Sự sự vô ngại pháp giới, là đỉnh chót vót của Triết lýHoa Nghiêm trong đại thừa Phật giáo nói riêng. 7. Tu Chứng theo Kinh Hoa Nghiêm: "Tư tưởng Hoa Nghiêm trình bày vạn pháp do tâm sanh. Tâm là thực thể của vạn pháp. Tâm vọng thì vạn pháp hoạt hiện sai biệt hình hình sắc sắc, trùng trùng duyên khởi, cái này có cái kia có và ngược lại, như lưới đế châu. Tâm chơn thì pháp giới tánh với Tâm là một, vạn pháp đồng nhất thể. Tâm thanh tịnh thì thấu đạt chơn lý Phật tánh, suốt thông pháp giới vô ngại, thể nhập bất tư nghì giải thoát hạnh môn. Kinh Hoa Nghiêm, đức Phật chỉ cho chúng-sanh thấu rõ cội nguồn của xum la vạn tượng do mê thức vọng tưởng nghiệp duyên hình thành, các pháp hiện hành trong vũ trụ là huyễn hóa, như hoa trong gương, như trăng trong nước. Tất cả vạn pháp trong pháp giới đều từ tâm sanh. Tâm trùm khắp cả pháp giới. Tất cả vạn hữu vũ trụ có thể nằm gọn trong hạt cải. Hạt cải có thể thâu nhiếp tất cả vũ trụ vạn pháp. Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả. Tất cả là một, một là tất cả. Ðó là bản tánh vô ngại của Tâm. Bản tánh chơn tâm suốt thâu vạn pháp hữu tình và vô tình; lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng; lấy xứng tánh bất tư nghì vô ngại giải thoát làm thể. Ðó là ý nghĩa căn cốt của Kinh Hoa Nghiêm" (Thay Lời Tựa Kinh Hoa Nghiêm, HT. Thích Đức Niệm). 7.1. Tánh Không là nền tảng của pháp giới Hoa Nghiêm: Từ cái nhìn duyên khởi, duyên sanh này, Phật giáo nói đến tánh Không. Theo một nghĩa gần gũi nhất với duyên khởi, thì tánh Không là vô tự tánh: vì mọi sự đều duyên khởi, nên mọi sự đều không có tự tánh riêng của chúng. Tánh Không là “bản thể học”, hay “hữu thể học” của Phật giáo. Tánh Không là nền tảng cho thế giới Hoa Nghiêm xuất hiện, cho sự thấy được Đức Phật vũ trụ Tỳ Lô Giá Na (Lô Xá Na, Vairocana): Kẻ vô trí mê lầm Vọng chấp tướng năm uẩn Chẳng biết chân tánh kia Người này chẳng thấy Phật Rõ biết tất cả pháp Đều không có tự tánh Hiểu pháp tánh như vậy Tức thấy Lô Xá Na. (Phẩm Tu Di Đảnh Kệ Tán) Tánh Không là nền tảng cho mọi thế giới, kể cả thế giới sự sự vô ngại vi diệu củakinh Hoa Nghiêm. Tánh Không thì ở khắp mọi thời gian mọi không gian. Vì ở đâu có cái gì đó (sắc thọ tưởng hành thức, mười tám giới, bốn đại…) thì cái đó là vô tự tánh nên ở đó là tánh Không. Tánh Không thì dung thông vô ngại với chính nó và với tất cả mọi sự vật. Cũng chính vì mỗi sự vật là tánh Không nên mỗi sự vật đều dung thông vô ngại với nhau. Ở đây chúng ta chỉ chú ý về sắc (sự vật, có thể số ít hoặc số nhiều). Kinh Đại Bát Nhã nói: “Sắc là vô lậu chẳng trói buộc vì là tánh Không vậy” (Phẩm Đoạn Chư Kiến). Vì sắc vô tự tánh nên sắc là vô biên: “Sắc như hư không, thọ tưởng hành thức như hư không. Như hư không, biên bờ và trung gian đều bất khả đắc… Do nhân duyên này nên vì sắc vô biên mà biết Bồ-tát cũng vô biên (Phẩm Thập Vô). “Sắc là vô lượng vô biên, chúng sanh cũng vô biên (Phẩm Tán Hoa). “Sắc là vô tận” (Phẩm Chúc Lụy). “Sắc cho đến mười hai duyên khởi (từ vô minhcho đến lão tử) đều là Không, bất khả tận” (Phẩm Bất Khả Tận). Sắc là tướng vô ngại: “Trong tất cả pháp, tướng của chúng là vô ngại, Bồ-tát phải học, phải biết như vậy” (Phẩm Nghĩa Cú). “Sắc là chẳng chướng ngại, thọ tưởng hành thức là chẳng chướng ngại, cho đến nhất thiết chủng trí là chẳng chướng ngại” (Phẩm Vô Tác). Mỗi sắc là tánh Không, nên nó có những tính chất của tánh Không: “vô biên, vô lượng, vô tận, vô ngại”. Mỗi sắc là “vô biên, vô lượng, vô tận, vô ngại” cho nên mỗi sắc tương thông, tương dung, tương nhập, tương nhiếp với tất cả các sắc. Một sắc là “vô biên”, không biên bờ, nên trong một sắc có mặt tất cả các sắc khác. Một sắc là “vô lượng”, nên một sắc chứa tất cả các sắc khác. Một sắc là “vô tận” nên trong một sắc bao gồm tất cả mọi cái hữu tận khác, tất cả thời gian và không gian (hữu tận). Một sắc là vô ngại, nên nó tương thông, tương nhiếp, tương nhập mọi sắc khác. Khi một sắc là vô biên, vô lượng, vô tận và vô ngại, nó tương tức tương nhập, tương dung tương nhiếp với tất cả các sắc, tạo nên thế giới sự sự vô ngại. Quán thấy được sự vô ngại tương tác lẫn nhau của các pháp như thế, chúng ta bắt đầu bước vào thế giới sự sự vô ngại, thế giới trùng trùng vô tận của Hoa Nghiêm. Chính nhờ tánh Không, tánh Không một cách rốt ráo, mà thế giới trùng trùng duyên khởi được chứng nghiệm là thế giới sự sự vô ngại, trùng trùng vô tận. Từ thế giới trùng trùng duyên khởi nhờ thấy được tánh Không ở mức độ rất sâu mà chúng ta thấy được thế giới sự sự vô ngại: Một là tất cả, tất cả là một Một trong tất cả, tất cả trong một. Một gồm tất cả trong mình, tương dung tương nhập với tất cả. Tất cả trong tất cả và tương dung tương nhập với tất cả. 8. bản thể và hiện tượng trong Kinh Lăng nghiêm : 8.1. Điểm xuất phát để thấy ra bản thể: Theo quan niệm của Phật giáo, chúng sinh xưa nay vốn thanh tịnh không nhiễm ô. Khi vào đời sống, do sáu căn tiếp xúc sáu trần và sáu thức phân biệt nên vọng tưởng, điên đảo đã che lấp chân tính vốn thanh tịnh. Nay muốn thấy đạo phải tu tập để trở về với tâm thanh tịnh với chân tính vốn có của mình. Điều cốt yếu là phải luôn giữ cho thân và tâm lúc nào cũng ở trong trạng thái thanh tịnh. Khi tâm con người đã thanh tịnh thì mới nhận thấy tất cả thế giới này đều là một, từ một bản thể chân tâm là gốc, là cái làm nên (sinh ra) mọi vật. Trở lại tìm kiếm ngay cái giác tâm (tâm viên giác) của chính mình, và chính lúc đó là ngộ đạo. Quan điểm về cái gốc của tồn tại như thế đã làm cho những luận giải của Phật giáo về những biểu hiện vô cùng phong phú của thế giới hiện tượng chẳng qua là do vọng tâm mà ra là một sự giải thích ít nhiều thuyết phục. Kinh Hoa Nghiêm cho rằng, bản thê chỉ tồn tại ở hiện tại, chỉ có hiện tại là thực tại, còn quá khứ là thuộc về thực tại đã qua, vị lai là thực tại sau này mới có, phàm những thứ hiện tại không tồn tại, chỉ là sự tồn tại với tư cách là một dạng chủng tử (hạt giong) mà thôi. Kinh này còn cho rằng, tác dụng của tri giác là khoảnh khắc, chỉ có thế nhận thức được sự tồn tại của khoảnh khắc hiện tại. Với quan niệm như vậy, triết lý Phật giáo, cho rằng để thấy được bản thể thì trước hết phải đạt được sự tịnh tâm, hay chính là cái tâm thanh tịnh. Với sáu giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý có cái biết thanh tịnh (cái biết của trí) ta ứng dụng tu tính thấy, tính nghe… không dính mắc vào sắc trần, thanh trần… thì sáu căn này là nơi GIẢI THOÁT. 8.2. Cách thức thấy được bản thể: Theo quan niệm của Phật giáo, con người chỉ có thể trở lại chính mình hay là trở về bản thể khi phải phá bỏ được vô minh. Vậy “vô minh” là gì? Đó chính là cái làm cho con người từ vô thuỷ đến nay bị điên đảo, bị sinh tử luân hồi; nó làm mờ tính viên giác sẵn có. Trong tông Tiểu thừa, vô mình là duyên đầu tiên trong Thập nhị nhân duyên. Tất cả tư tưởng, tình cảm của chúng ta đều do vô minh mà sinh ra. Đó là sự nhầm lẫn, nhận giả làm chân, là sự mê loạn, vọng nhận tứ đại làm thân. Vô minh là gốc của luân hồi. Vì chúng ta thấy thân này thật nên chúng ta sống trong vô minh mà không biết rằng đời người thật hữu hạn mà lại cứ chạy theo những khát khao vô hạn thì thật hão huyền, phù du. Vì thế, vô minh là cội nguồn của nỗi khổ con người mà nếu không diệt trừ được nó thì chúng sinh chẳng bao giờ chạm được tới cõi niết bàn. Vậy, làm thế nào để nhận biết vô minh. Đức Phật đã luận chứng điều này bằng quan điểm phải Dùng trí tuệ để nhận biết vô minh. Chỉ có trí tuệ mới hóa giải được vô minh để được giải thoát. Nhưng với trí tuệ đó phải giác ngộ tu vô tu tu, hành vô hành hành, chứng vô chứng chứng. Khi chưa tới được Niết bàn thì vô minh vẫn còn hiện hữu, nhờ trí tuệ, những vọng động của thân tâm dần bị dập tắt, chìm dần vào sự yên tĩnh vĩnh hằng. Con đường giác ngộ đã khai mở để trở về trạng thái tồn tại chân thực như nó vốn có. Tóm lại trí tuệ là bước đầu tiên trên con đường học Phật và khâu cuối cùng của học Phật cũng chính là trí tuệ. Phật pháp là thành tựu của trí tuệ chứ không phải là vấn đề mê tín mù quáng. Vấn đề dứt trừ vô minh vọng tưởng cần hiểu là cái làm nên vọng tưởng phiền não vốn là yên tĩnh là viên giác Diệu Tâm, là hư không Thanh tịnh. Vậy cần gì phải trừ diệt nó. Nếu đã đạt được sự thanh tịnh, thấy được tính không là trở về bản thể, là đã chứng đạo, là hết vô minh. 8.3. Bản thể và hiện tượng: Có thể thấy mọi kinh điển phật giáo đều đưa ra những quan niệm của mình về bản thể. Không hiểu quan niệm về bản thể của phật giáo thì khó có thể nắm được những ý tưởng thâm diệu của giáo lý này trong những tư tưởng của nó. Cái gọi là bản thể chính là sự tồn tại cùng cực đằng sau hiện tượng vũ trụ. Bản thể chính là Viên giác như lai. Cái bản thể khởi nguyên của thế giới luôn bất động, không thay đổi như nước lặng, trong không hình không tướng. Còn thế giới hiện tượng chẳng qua chỉ là hình, tướng của bản thể mà thôi. Nếu ví bản thể như nước, thì bản chất của nó là tĩnh lặng. Khi nước bị khuấy tạo thành sóng hay bọt: đó là dụng. Đó là cái đã có hình, tướng (là thế giới hiện tượng). Cái hình, tướng vì thế là giả, có thể mất đi, nhưng cái thật (bản thể) thì không mất. Cái hình tướng có thể khác nhau, nhưng bản thể là như nhau. Trong Kinh Lăng Nghiêm, bản thể chính là chân tâm, là cái bất biến. Thế giới hiện tượng là do tâm thức tái hiện. Xoay quanh tâm hữu vật không, kinh hoa nghiêm triển khai trình bày về duy thức quan với cốt lõi là tâm “ngũ pháp”, “Tam tự tính”, “bát thức”, Nhị vô ngã”. Kinh Hoa nghiêm coi bản thể của vũ trụ là chân như. Mọi sự vật đều từ Chân không diện hữu hay Nhất chân pháp giới mà phát sinh. Các hình tướng phong phú trong hiện thực đều xuất phát từ đều xuất phát từ cái bản thể tuyệt đối vô biên này. Vì thế, mọi sự vật đều phải nương tựa lẫn nhau, làm nhân, làm duyên cho nhau mà biến dịch sinh tồn trong mối tương quan mật thiết của lý: Pháp giới trùng trùng duyên khởi. Thế giới của Hoa nghiêm là Nhất chân pháp giới hiện ra từ Tâm của vạn hữu chư pháp. Đây là thế giới mà ở đó chân vọng đều biến mất không phân chia chúng sinh hay chư phật, là thế giới vượt qua mọi sự đối đãi, bản thể chính là hiện tượng và ngược lại. Đó là sự bình đẳng tuyệt đối có thể chứng ngộ được sự vĩnh hằng bất diệt của sinh mệnh. Vì thế, một không tính là ít, vạn ức không tính là nhiều. Hạt bụi nhỏ không tính là nhỏ, coi hư không không tính là lớn, Sát na không tính là ngắn, kiếp ba không tính là dài. Có chưa hẳn thực là có, không chưa hẳn thực là không, thanh tịnh hay ô uế cũng chỉ là tương đối...tóm lại, một là tất cả và tất cả là một. Đây là quan niệm thể hiện tính thần biện chứng sâu sắc của triết học Phật giáo. Ở đó, sự phân biệt bản thể với hiện tượng là sự phân biệt bản chất giữa cái tồn tại khó có thể thực chứng với tư cách là cái tồn tại đích thực với cái hiện tồn như là những biểu hiện hiện tượng, sai khác của cái bản thể. Với cách quan niệm như vậy, triết học phật giáo đã đem lại một cách tiếp cận mới trong việc lý giải sự tồn tại của thế giới hiện hữu ở một tầng bậc sâu xa nhất, với một linh cảm trực giác không thể lý giải mà cũng khó có thể bác bỏ. Và như thế, sự tồn tại của các mặt đối lập, các trạng thái khác nhau của thế giới hiện thực mặc dù có tướng rất khác nhau nhưng lại chung một bản thể. Ví dụ: Niết bàn (yên vui) - Sinh tử (đau khổ) – đó là tướng khác nhau, nhưng thực ra chúng là giống nhau vì cùng một bản thể và tất cả thế giới này là như thế. 8.4. Giá trị về bản thể của triết học trong kinh hoa nghiêm: Phật giáo được gọi là Đạo giác ngộ. Là một tôn giáo - triết học, nhưng với tâm từ bi, cứu khổ của Đức phật mong giải thoát hết thảy mọi chúng sinh bằng con đường giải thoát vô chấp, vô trụ, không phân biệt đẳng cấp, tầng lớp hay giới tính, vượt lên mọi đối nghịch nên những quan niệm về bản thể luận trong triết học phật giáo cũng hướng tới việc lý giải về sự tồn tại của thế giới, những biểu hiện và sự biến dịch không ngừng của vạn vật nhằm đạt tới mục đích cuối cùng đó. Những quan niệm về bản thể luận trong triết học Phật giáo đã có những đóng góp có giá trị vào sự phát triển của tư tưởng nhân loại nói chung và tư tưởng phương đông nói riêng. Thứ nhất, với quan niệm bản thể của thế giới là sự thống nhất trong một bản nguyên duy nhất là Như Lai Viên Giác, như là chân tâm, thế giới đã được lý giải dưới con mắt Phật giáo là một sự thống nhất trong tận cùng xuất phát điểm của nó. Nó thể hiện tư tưởng biện chứng và khái quát vô cùng sâu sắc của người phương Đông trong những lý giải về thế giới mà càng trải nghiệm người ta dường như càng cảm thấy nó đúng, bất chấp những đòi hỏi về những bằng chứng cụ thể trong hiện thực chỉ có thể cảm nhận một cách trực quan. Thứ hai, đạo Phật là một tôn giáo trí tuệ, vì vậy quan niệm về giải thoát của Phật giáo cũng hướng nhiều vào việc giải thoát đời sống tâm linh con người qua trí tuệ. Và sự giải thoát đó bắt đầu bằng việc người ta quan niệm thế nào về sự tồn tại của thế giới. Chính những quan niệm về “vô ngã” , “vô thường” đã giúp cho đời sống tâm linh con người được giải thoát khỏi những “vô minh” ngáng trở con người đạt tới hạnh phúc ngay trong “cõi tạm” của hành trình hướng đến cõi cực lạc. Đến với Phật giáo, con người dường như được thoát ra vòng quay khốc liệt của đời sống mưu sinh, được thoát khỏi sự xung đột giữa cái tôi cá nhân hữu hạn và sự mong muốn vô hạn trong vòng xoáy tham, sân, si, làm dịu đi những ham muốn để tìm thấy trạng thái cân bằng nội tâm cho một cuộc sống thanh bình. Thứ ba, với quan niệm dùng trí tuệ để phá bỏ vô minh, đạo Phật là tôn giáo đã biết đề cao giá trị của tri thức trên con đường tìm kiếm chân lý. Mặc dù Tuệ trong cách hiểu của Phật giáo không chỉ là trí tuệ hiểu theo nghĩa thông thường (học nhiều, biết rộng, hiểu sâu) mà là cái biết trên sự thực hành, cái biết qua trực giác, cái biết của trí tuệ Bát nhã. Nhờ Tuệ đó mà con người mới có thể nhận thức được quy luật và sông hài hoà với quy luật (quy luật về vô ngã, vô thường, lý nhân duyên...). Đó là quá trình lấy minh để hoá giải vô minh, nó được ví như ánh đèn xua tan bóng tối vô minh, là chiếc chìa khoá để mở cánh cửa đến Niết bàn giải thoát. Sự lý giải như thế này trong tư tưởng Phật giáo thực sự là một cách đặt vấn đề có tính nhập thế và khoa học. 9. Không thối thất niềm tin và tâm cầu học nơi Kinh điển: Việc truy nguyên tác giả và niên đại Kinh điển của hai truyền thống Bắc truyền và Nam truyền thật sự chỉ có giá trị về phương diện sử học. Nó giúp người đời sau biết rõ các quan điểm, tư tưởng triết học của thời đại đó. Ngoài ra, kiến thức này giúp chúng ta khỏi phải bận tâm nhiều nếu khi phát hiện một hai tư tưởng được chứng minh là không phải do chính đức Phật tuyên thuyết. Thầm nghĩ: “Độc Kinh giả minh Phật chi lý” (đọc kinh là để hiểu rõ nghĩa lý của lời Phật dạy) vẫn là phương châm hàng đầu cho Phật tử trong mọi thời đại. Bối cảnh đức Phật xuất hiện thuyết Kinh với vô số hào quang chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới, với vô số chúng Bồ-tát bất thối v.v…chỉ là tiền đề phương tiện cho một nội dung giáo lý uyên bác mà bộ Kinh đó chuyên chở. Ví dụ, Kinh Hoa Nghiêm chẳng hạn, không vì Kinh nầy không phải do chính đức Phật tuyên thuyết mà phủ nhận giá trị tư tưởng “Lục Tướng Viên Dung”, “Thập Huyền Duyên Khởi” và hình ảnh tượng trưng tham học với 53 vị đại Bồ-tát của Thiện Tài Đồng Tử. Hình ảnh đó mãi là là tấm gương sáng ngời để cho hàng hậu học phàm phu chúng ta noi theo. 9.1. Hồi hướng Vô thượng Bồ đề: Vô thượng Bồ đề là trí giác và Đức Phật đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn, gọi là đắc quả Vô thượng Bồ đề. Chúng ta tu tập hồi hướng Vô thượng Bồ đề nhằm dồn tất cả nỗ lực, tâm sức cho sự phát triển trí tuệ, hay tri thức. Từ đó, trang bị cho ta một phương pháp tư duy đúng đắn, đưa đến nhận thức sáng suốt, thấy biết tất cả một cách chính xác như Đức Phật. Ý thức rằng đi trên lộ trình Phật đạo không gì khác hơn là con đường dẫn chúng ta đến vị trí sáng suốt hoàn toàn. Từng bước chúng ta sửa đổi nhận thức mê lầm thành hiểu biết sáng suốt. Đức Phật dạy rằng chúng ta và ngài bình đẳng như nhau qua câu nói “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh”. Mọi người đều có khả năng chuyển mê thành ngộ. Đức Phật khẳng định khả năng vô tận của trí tuệ, của nhận thức con người có thể nắm bắt được chân lý khách quan và tự mình giải thoát cho mình. Thật vậy, nếu dại khờ để cho tham vọng, phiền não, vô minh ngăn che thì tất cả vật xung quanh sẽ chi phối, ràng buộc ta. Nếu ta biết rõ nguyên lý cấu tạo nên vật, chắc chắn sẽ chuyển đổi được vật. Ví dụ khi chưa biết, cát là vật chướng ngại không dùng được; nhưng khi biết rồi, có thể chế tạo cát thành thủy tinh có ích lợi nhiều mặt. Con người trong thời đại cổ sơ chưa văn minh, trí khôn chưa phát triển, bị thiên nhiên chi phối. Tuy nhiên, dần dần, người ta phát huy và vận dụng được trí năng vào việc chinh phục thiên nhiên; cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Quan niệm tiến hóa từ người lạc hậu thành người văn minh không khác quá trình tu tập của chúng ta. Phấn đấu chinh phục được thiên nhiên hiểu dưới dạng tu tập gọi là chinh phục được nghiệp và phiền não. Trí tuệ của Đức Phật thấu suốt mọi sự mọi vật tận cội nguồn; trong khi hiểu biết của chúng ta thì nông cạn và giới hạn. Dưới sự hướng dẫn sáng suốt của Đức Phật, những người trực tiếp theo ngài tu tập đều đắc quả La hán dễ dàng. Điều này không có gì thần bí, khó hiểu. Vì công việc khám phá ra chân lý của Đức Phật thật khó. Trong lịch sử, duy nhất có Phật tìm ra chân lý và thể hiện được chân lý. Và khi ngài khám phá được quy luật, các đệ tử trực tiếp với ngài, bắt chước làm theo, thì vấn đề không còn nan giải nữa. Đức Phật được ví như người sáng mắt chỉ rõ hầm hố, cạm bẫy cho đệ tử. Họ đi theo, chắc chắn không bao giờ bị sụp hố. Tuy nhiên, chúng ta là những người gián tiếp theo Phật phải nương vào giáo pháp tu tập, cần suy nghĩ, cân nhắc sáu điều thành tựu theo Phật dạy. Sáu điều này được ngài Nhật Liên rút gọn còn bốn điều là giáo, cơ, thời, quốc. Muốn áp dụng điều nào của Phật dạy, phải xét xem còn phù hợp với thời đại chúng ta hay không. Nếu không hợp thời, là lỗi thời lạc hậu mà ta vẫn cứ rập y khuôn, chẳng những không được ích lợi, đôi khi còn tác hại cho đạo. Ví dụ thời Đức Phật tại thế thuộc vào thời bộ lạc tiến sang quốc gia, dân chúng còn sống du mục.Người tu lúc ấy ngủ dưới gốc cây là chuyện thường. Nhưng ngày nay, ở thời đại văn minh, nếu chúng ta sống rập khuôn, cũng ngủ dưới gốc cây, chắc chắn khó coi; không chấp nhận được. Đức Phật dạy muốn giải thoát thì phải sống hài hòa với xã hội, không được làm khác. Lúc ấy, mọi người đầu trần chân đất và người tu cũng sinh hoạt như vậy, thì không có vấn đề đặt ra. Sử dụng pháp này đúng thời, rõ ràng Đức Phật là một vị lãnh đạo sáng suốt. Nhưng đến thời đại chúng ta đã đổi khác, mà cứ đem mẫu người đó đặt vô y khuôn để theo, sẽ trở thành chướng. 9.2. Hồi hướng Pháp giới chúng sinh: Chúng sinh chỉ cho các sinh vật mà từ hình dáng cho đến sinh hoạt và tâm tưởng đều hoàn toàn khác biệt. Vì không giống nhau, nên gọi là "chúng”, nói chung là chúng sinh, hay chúng hữu tình. Ở đây chúng ta giới hạn Pháp giới chúng sinh trong phạm vi của loài người mà thôi. Theo Phật dạy về lý nhân duyên, con người hiện hữu do nhân duyên kết hợp ngũ uẩn mà thành, gồm có sắc uẩn là yếu tố vật chất và thọ, tưởng, hành, thức là yếu tố tinh thần. Đức Phật tuy cũng mang thân ngũ uẩn như chúng ta, nhưng ngài đạt quả vị Toàn giác. Vì ngài biết nương theo sự thay đổi không ngừng của ngũ uẩn để tu tập. Qua một quá trình điều chỉnh thân tâm, kết hợp được sức mạnh vật lý và tâm linh của ngũ uẩn thân, ngài có được thân vật chất đầy đủ tướng hảo và tinh thần hoàn toàn minh mẫn. Trái lại, chúng sinh muôn đời khổ đau trong tử sinh luân hồi, vì luôn buộc chặt thân ngũ uẩn của mình bằng sợi dây tham dục và vô minh tà kiến. Như vậy, thế giới chúng sinh là thế giới cấu tạo toàn bằng tham dục và mê lầm của con người. Hiện hữu và sinh hoạt trong thế giới nhiều sai lầm này, chúng ta tu hồi hướng Pháp giới chúng sinh. Nghĩa là đầu tư cho mọi người có một nhận thức thực tế đúng đắn, xa lìa tham vọng. Vì chúng ta nhận chân được mọi xấu xa trên cuộc đời này đều phát sinh từ lòng dục vọng và ngu si. Như Đức Phật dạy Rathapala: "Thế gian thiếu thốn, khát khao và bị nô lệ cho dục vọng”. Nói chung, tham dục là lòng tham không đáy, làm nhân phát khởi cho những hành động bất thiện, bồi đắp cho những quyền lợi ích kỷ cá nhân. Nó là nguồn gốc của mọi sự tranh giành, cướp bóc lẫn nhau, làm phát sinh hận thù và xung đột. Đó cũng là biểu hiện của vô minh, hay ngu si mê lầm, xây dựng không thật, đánh giá không đúng. Tất nhiên, chỉ chuốc lấy thảm bại, giống như người xây lâu đài trên cát. 9.3. Hồi hướng Vô thượng Bồ đề: Vô thượng Bồ đề là trí giác và Đức Phật đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn, gọi là đắc quả Vô thượng Bồ đề. Chúng ta tu tập hồi hướng Vô thượng Bồ đề nhằm dồn tất cả nỗ lực, tâm sức cho sự phát triển trí tuệ, hay tri thức. Từ đó, trang bị cho ta một phương pháp tư duy đúng đắn, đưa đến nhận thức sáng suốt, thấy biết tất cả một cách chính xác như Đức Phật. Ý thức rằng đi trên lộ trình Phật đạo không gì khác hơn là con đường dẫn chúng ta đến vị trí sáng suốt hoàn toàn. Từng bước chúng ta sửa đổi nhận thức mê lầm thành hiểu biết sáng suốt. Đức Phật dạy rằng chúng ta và ngài bình đẳng như nhau qua câu nói: "Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh”. Mọi người đều có khả năng chuyển mê thành ngộ. Đức Phật khẳng định khả năng vô tận của trí tuệ, của nhận thức con người có thể nắm bắt được chân lý khách quan và tự mình giải thoát cho mình. Thật vậy, nếu dại khờ để cho tham vọng, phiền não, vô minh ngăn che thì tất cả vật xung quanh sẽ chi phối, ràng buộc ta. Nếu ta biết rõ nguyên lý cấu tạo nên vật, chắc chắn sẽ chuyển đổi được vật. Ví dụ khi chưa biết, cát là vật chướng ngại không dùng được, nhưng khi biết rồi, có thể chế tạo cát thành thủy tinh có ích lợi nhiều mặt. Con người trong thời đại cổ sơ chưa văn minh, trí khôn chưa phát triển, bị thiên nhiên chi phối. Tuy nhiên, dần dần, người ta phát huy và vận dụng được trí năng vào việc chinh phục thiên nhiên, cuộc sống con người tốt đẹp hơn. Quan niệm tiến hóa từ người lạc hậu thành người văn minh không khác quá trình tu tập của chúng ta. Phấn đấu chinh phục được thiên nhiên hiểu dưới dạng tu tập gọi là chinh phục được nghiệp và phiền não. Trí tuệ của Đức Phật thấu suốt mọi sự mọi vật tận cội nguồn, trong khi hiểu biết của chúng ta thì nông cạn và giới hạn. Dưới sự hướng dẫn sáng suốt của Đức Phật, những người trực tiếp theo ngài tu tập đều đắc quả La hán dễ dàng. Điều này không có gì thần bí, khó hiểu. Vì công việc khám phá ra chân lý của Đức Phật thật khó. Trong lịch sử, duy nhất có Phật tìm ra chân lý và thể hiện được chân lý. Và khi ngài khám phá được quy luật, các đệ tử trực tiếp với ngài, bắt chước làm theo, thì vấn đề không còn nan giải nữa. Đức Phật được ví như người sáng mắt chỉ rõ hầm hố, cạm bẫy cho đệ tử. Họ đi theo, chắc chắn không bao giờ bị sụp hố. 9.4. Hồi hướng Chân như thật tướng: Nhờ tu hồi hướng Vô thượng Bồ đề, Đức Phật đạt đến thấy biết chính xác và dùng trí này rọi vào vật. Ngài quan sát nó dưới dạng thể tánh của sự vật, thấy được sự tồn tại của muôn loài qua tiến trình của mười trạng thái khác nhau, gọi là thập Như Thị. Ở giai đoạn trước còn tu pháp tương đối, nhưng đến giai đoạn hồi hướng Chân như thật tướng, an trú trong tuyệt đối hay trong thể tánh của sự vật, thấy được mọi vật đồng nhất thể và điều động vật dưới dạng thực thể. Trên căn bản này, Đức Phật hành đạo trong tư thế vô công dụng đạo. Ngài vượt qua mọi chống đối, khó khăn, chướng ngại, mà vẫn không rời bỏ bản vị tự tại, giải thoát . Khi tu, chúng ta phân ra ba phần hồi hướng riêng biệt; nhưng sự thật là thực hành một hạnh đã tác dụng cho hai hạnh kia. Vì cả ba pháp hồi hướng nói trên hỗ tương chặt chẽ với nhau trong thế tương quan tương duyên trùng trùng duyên khởi "Cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh”. Hàng Thanh văn tu thoát ly sinh tử để tìm Bồ đề. Nhưng Đức Phật dạy Bồ tát nếu bỏ chúng sinh đi tìm Bồ đề, không khác gì tìm lông rùa sừng thỏ; vì sự hiểu biết của chúng ta phải phát xuất từ quá trình hành đạo. Nói cách khác, trí phát sinh do cọ xát với đời. Đâu có gì trên cuộc đời không phải là chỗ giác ngộ. Nếu chúng ta rời bỏ hiện thực này sẽ rớt qua không tưởng. Đây là ý niệm chúng ta cần để tâm suy nghĩ; xa rời thực tế sẽ không thấy đạo. Đạo ở ngay trước mặt, ngay trong lòng chúng ta. Đức Phật dạy trong kinh Hoa Nghiêm rằng Bồ đề ở nơi chúng sinh. Chúng sinh càng cang cường, Bồ tát càng mau đắc đạo. Chúng sinh, chúng sinh nghiệp, chúng sinh phiền não không có, Bồ tát không thể thành tựu Vô thượng Bồ đề. Vì thế, nhìn thấy chúng sinh nghiệp, chúng sinh phiền não, Bồ tát sẵn sàng nhập cuộc để phát triển tài năng, tích lũy công đức. Khi tu Bích Chi Phật, thấy chính xác. Nhưng theo tinh thần Hoa Nghiêm, đó chỉ là cái thấy trên lý thuyết, có được nhờ học với Phật, nghe và ghi nhận. Giống như học xong, lãnh bằng về treo, không trực tiếp làm việc thì trí bị lụt dần. Hiểu biết chuyên môn cũng dở lần, đến lúc không dùng được. Tóm lại, hồi hướng pháp giới chúng sinh, hồi hướng Vô thượng Bồ đề và hồi hướng chơn như thật tướng tác động hỗ tương lẫn nhau, quyện làm một, tạo thành Đức Phật tiêu biểu trên cuộc đời. Chính Đức Phật Thích Ca là người đã kết hợp nhuần nhuyễn ba pháp hồi hướng này. Khởi tu từ thân tứ đại ngũ uẩn như chúng ta, Đức Phật tu tập, trải qua một quá trình sửa đổi thân tâm đến điểm cao nhất là thành đạo dưới cội Bồ đề. Bừng lên trí giác vô thượng, ngài thấy rõ chân lý tồn tại khách quan thường hằng và phổ biến trong không gian, thời gian. Từ vị trí của bậc sáng suốt thấy biết muôn sự muôn vật đúng như thật dưới dạng chơn tánh, Đức Phật khởi tâm đại bi. Ngài trở về với thế giới hiện tượng sai biệt của loài người. Ngài dùng tuệ giác rọi vào cuộc đời, triển khai vô số phương tiện. Tùy theo căn cơ, trình độ, khả năng không đồng, Phật giảng nói trăm vạn pháp môn, để mọi người có thể hiểu được, chấp nhận được quy luật thường hằng bất biến. Sau cùng, ngài đưa tất cả mọi người xa rời bến mê, trở về bờ giác. 10. Tinh thần nhập thế của Kinh Hoa Nghiêm: Nói đến kinh Hoa Nghiêm chính là nói đến Lý Tưởng Bồ Tát với tinh thần nhập thế cao độ tất cả vì trí tuệ và từ bi Có thể nòi rằng nguyên nhân từ một hành giả từ hàng phàm phu phát nguyện hiến trọn đời mình cho lý tưởng Bồ tát, phát bồ đề tâm, hành bồ tát đạo chính là lòng từ bi, tức là tình thương yêu chân chánh. Khi bồ tát đạt đến trạng thái thực chứng ấy cảm thấy lòng tràn đầy niềm vui và hạnh phúc và tất nhiên vì lòng từ bi vị ấy muốn chia sẽ niềm hạnh phúc ấy cho vô lượng chúng sanh. Tình thương chiếu sáng không phân biệt giới hay quốc độ, lòng từ bi tỏa rộng đến muôn loại hữu tình không phân biệt bạn thù. Thiện Tài Đồng Tử cầu đạo muốn trỡ thành một Như Lai xứ giả hoằng truyền giáo pháp, đem giáo pháp đi vào cuộc đời không ngoài lòng từ bi chia sẽ cùng với nhân loại. Từ bi là một nền giáo lý căn bản xuyên suốt trong hệ thống giáo lý và quá trình thực nghiệm của Phật Giáo. Lòng từ bi không phải là những tình cảm luyến ái phàm tục của thế gian mà nó vượt qua giới hạnh tình cảm riêng tư, xóa tan mọi rào chắn của đẳng cấp, giới tính, địa vị..Cho nên không có xung đột hận thù, mọi người sống với nhau bằng trái tim. Vấn đề hòa bình nhân loại là một mối quan tâm, tinh thấn nhập thế của Kinh Hoa Nghiêm với lý tưởng Bồ Tát, đem đến cho nhân loại một tình thương cộng đồng tạo dựng nền hòa bình. Giáo dục đời sống cá nhân bằng tình thương nhân ái, kiến tạo nhân gian tịnh độ, luôn hướng đến xây dựng một xã hội bình đẳng, hạnh phúc trên tinh thần tôn trọng phẩm tánh của mỗi cá nhân. Trong xã hội, mọi quyền lợi cá nhân đều ý thức được sự nguy hiểm của bản ngã cuống si và vì thế họ luôn sống trong tinh thần vị tha, tôn trọng mọi người khác cũng như nhận thức được tầm quan trọng của môi trường xung quanh. Theo ngài Thái Hư Đại Sư, để kiến lập một nhân gian tịnh độ chính là hành giả Bồ Tát trước hết phải thực hiện một cách mạng tri thức để xóa sạch những tư tưởng mê muội những quan điểm sai lầm, đem đến cho họ những nhận thức chân chính về một khía cạnh của cuộc sống, sau và vị ấy phải hòa nhập vào cộng đồng xã hội, chính trị giáo dục, kinh tế.Bồ Tát hòa mình vào mọim lĩnh vực của cuộc sống, Bồ Tát phải chịu muôn ngàn gian khổ trong thời gian lâu dài mới có thể thực hiện được. Các vị Bồ Tát là những người công dân mẫu mực và có ích cho xã hội. Các ngài sống giữa cuộc đời uế trược nhưng tâm hồn không bị nhiễm ô cũng giống như đóa sen tuy mọc trong bùn nhưng không bị nhiễm bùn mà còn tỏa hương thơm tinh khiết. Cuộc đời càng nhiều chông gai thử thách, cám dỗ thì chí nguyện của các Bậc Bồ Tát càng kiên cố, thệ nguyện càng rộng lớn, hạnh nguyện càng vĩ đại. với hành trang Thập Ba La Mật các vị Bồ Tát đi vào đời để phục vụ tha nhân, lấy hạnh phúc của người khác làm niềm vui của mình, các ngài luôn đặt niềm tin vào con tim và khối óc của mọi người, tin vào giá trị siêu tuyệt của giáo lý Phật Đà và tin rằng Bồ Tát đạo là con đường chân chính là giáo lý cao thượng để đưa nhân loại thoát khỏi những khủng hoảng bế tắc trong cuộc sống và xây dựng một thế giới thanh bình an lạc ngay trong cuộc đời này. Giáo lý Đức Phật không đưa con người đi sâu vào những luận lý siêu hình, viễn vong vô ích mà đưa mọi người trở về với cuộc sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống hiện tại chính là mục đích nhập thế của Bồ Tát. Đứng trên lập trường đó tư tưởng kinh Hoa Nghiêm muốn nói đến hạnh nguyện của Bồ Tát Đạo và quá trình tu chứng. hành giả Bồ Tát luôn tùy thuận mọi hoàn cảnh và căn cơ chúng snh để tùy duyên hóa độ. ngay từ thời Đức Phật còn tại thế có rất nhiều vị Thánh tăng đã sống cuộc đời mô phạm, tam thường bất túc hòa vào sự sống của quần chúng để độ sanh, khi Phật Giáo Đại Thừa phát triễn tinh thần nhập thế đề cao đúng mức.. Phật Giáo Việt Nam trải qua các triều đại với tinh thần nhập thế của các Tăng Sĩ Phật Giáo cũng trong ý nghĩa độ sanh mà hòa mình vào cuộc sống dận tộc.các bậc tiền bối vua Trần Nhân Tông, Vạn Hạnh.. Với hạnh nguyện Bồ Tát mà xây dựng nến độc lập cho quốc gia là những phật tử thấm nhuần tư tưởng Phật Giáo với tâm nguyện từ bi và hòa bình thế giới. Các vị vua Phật Giáo chính là hiện thân của Bồ Tát suốt đới vì sự nghiệp dân tộc chăm lo đất nước và sự tồn vông cùa Đạo Pháp. Đó chính là sự hóa thân của Bồ Tát, hóa tất cả thân để tùy duyên hóa độ. Trở lại với kinh Hoa Nghiêm, điển hình Thiện Tài Đồng Tử cầu đạo mà Kinh Hoa Nghiêm đưa cho những ai dấn thân vào đời hành đạo, muốn thành công thì phảii trao dồi ba môn học vô lậu và trong thực tế của ta cũng không thiếu những tấm gương hành đạo đáng kính, đáng để cho hàng hậu thế noi theo. 10.1. Hoa nghiêm và thế giới hiện đại: Trong Hoa Nghiêm, cái vũ trụ chỉ nhìn thấy bằng tâm chứng ngộ (nghĩa là cái tâm ở tầng sâu thẳm nhất, không nương dựa vào dụng cụ, vào chủ thể khách thể nào cả), nhưng có lẽ đó là cái vũ trụ thực như nhà khoa học Trịnh Xuân Thuận mơ tưởng: “Con người không bao giờ thoát khỏi nhu cầu cấp bách là phải tổ chức thế giới bên ngoài thành một sơ đồ hài hòa và thống nhất. Sau vũ trụ Big Bang, con người sẽ tiếp tục sáng tạo ra những vũ trụ khác, càng ngày càng gần với vũ trụ thực hơn, dù không bao giờ đạt tới, nhưng chúng sẽ soi sáng và ngợi ca sự tồn tại của cái vũ trụ thật ấy”. Khoa học có có giới hạn của nó. Chẳng bao giờ khoa học có thể xóa bỏ được tương quan nhị nguyên giữa người quan sát, người thí nghiệm và vật được quan sát, được thí nghiệm. Do đó mà có những cái như nguyên lý bất định của Heisenberg. Và bởi thế mà nhà vật lý lý thuyết Richard Feyman nói rằng, một ngày nào khoa học vật lý sẽ tìm ra tất cả những định luật vật lý của vũ trụ, nhưng vẫn còn đó những lãnh vực khác ngoài khoa học vật lý là khoa học xã hội và khoa học tâm linh (tôn giáo). Khoa học không bao giờ vượt qua tương quan chủ - bạn (chủ thể và khách thể), trong khi đó thế giới Hoa Nghiêm là thế giới trùng trùng vô tận chủ - bạn viên dung cụ túc. Phải chăng khi Einstein nói rằng “tôn giáo tương lai sẽ là tôn giáo vũ trụ, bao quát cả hai mặt tự nhiên và tâm linh, nó phải dựa trên một ý thức tôn giáo nảy sinh từ sự thực nghiệm của sự vật tự nhiên và tâm linh được quan niệm như một thể thống nhất có ý nghĩa và chỉ Phật giáo mới đáp ứng được những mô tả như vậy”, là ông đã đặt niềm tin vào đạo Phật như một viễn cảnh của trường thống nhất tất cả mọi sự, mọi phương diện, thống nhất mà vẫn dung thông vô ngại với mọi phần tử, mọi phương diện của đời sống? Theo quan điểm Phật giáo nói chung và Hoa Nghiêm nói riêng, trường thống nhất ấy vốn đã có sẵn, vốn đã tự toàn hảo, là thế giới trùng trùng vô ngại. Chỉ do con người, cái chủ thể chấp ngã và chấp pháp làm cho cái thế giới vốn đồng nhất ấy bị phân chia thành ta –người, tâm – vật, thiện ác, hơn thua, cao thấp, giỏi dở… Pháp giới ấy vốn trùng trùng duyên khởi mà con người làm ra thành cá nhân và sự vật hạn cuộc, và cũng từ đó mà “trùng trùng” khổ đau. Nhưng quả thật, sự quan hệ “không khác biệt, hầu như là đồng nhất thể” đó, trên bình diện ý thức của vật lý, sinh học hay xã hội học thì không thể nào thể nghiệm để đi đến một lòng bi cho tất cả chúng sinh được. Mà phải là một tâm thức “viên dung vô ngại” của đạo Phật mới có thể nhìn thấy “Tất cả là Một, Một là tất cả” để tỏa sáng một lòng đại bi không chướng ngại trùm khắp. Không phải quan niệm của khoa học hay xã hội học hoặc đạo đức học về bình đẳng mà có thể khiến thế giới trở thành bình đẳng hòa bình được, nếu không nhờ đạo Phật và sự thực hành của nó vượt khỏi sự phân chia bẩm sinh của ý thức, thì chẳng bao giờ con người có thể đạt đến bình đẳng tánh trí, một trong bốn trí của Phật giáo, để có thể sống bình an với người khác, với thiên nhiên và với chính mình. Như chúng ta đã thấy, khoa học hiện đại đã tạo cho thế giới một sự chung nhất về vật chất, người ta sử dụng những phương tiện kỹ thuật giống nhau, những tiện nghi giống nhau, nhưng về mặt nhân loại, người ta vẫn cách xa nhau, những cuộc chiến tranh, những khủng bố ám sát, và con người vẫn cô đơn với người khác, thậm chí cái tình người gần gủi nhất là gia đình cũng ngày càng bị hủy hoại. Mối dung hòa giữa người với người đã yếu, với thiên nhiên là sự tàn phá môi trường, là thiên tai, bão lụt… Thế giới bây giờ đã trở nên đa phương hơn, đa thù hơn, phân cực hơn. Trong một ngành học, ngày nay phân ra rất nhiều ngành, như vật lý thì có vật lý lý thuyết, vật lý thiên văn, vật lý lượng tử, vật lý sinh học…Trong xã hội có nhiều ý kiến quan điểm của nhiều thành phần xã hội hơn. Ví dụ, ngày xưa quan điểm thường nằm trong giới trí thức (sĩ), ít nằm trong giới nông, công, thương. Ngày nay, ảnh hưởng của một ban nhạc trẻ cùng quan điểm lối sống của họ ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người. Nhà kinh tế có tiếng nói của nhà kinh tế, nhà môi trường có tiếng nói của nhà môi trường, nhà sinh học có tiếng nói của nhà sinh học, nhà đạo đức có tiếng nói của nhà đạo đức… 10.2. Tìm ra ý nghĩa của chính mình, con người và thế giới: Kinh Hoa Nghiêm không phải là để cho chúng ta những hình ảnh đẹp đẽ, những ý niệm tuyệt vời về một vũ trụ toàn hảo, lý tưởng, để rồi sau đó trong tâm thức chúng ta mọi sự đâu rồi lại vào đó, chúng ta lại vẫn tiếp tục nhìn người khác như nững đối tượng để cạnh tranh, để ganh ghét, và thế giới như một đối vật để xài phí, khai thác cho những đòi hỏi không cùng của mình. Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, từng trang từng dòng là một hành trình tâm linh cởi bỏ cho chúng ta chấp ngã chấp pháp để trả lại cho chúng ta khuôn mặt xưa nay đích thực của chính mình, con người và thế giới. Tương tức tương nhập, viên dung vô ngại không phải là những ý niệm, đó là sinh hoạt đích thực của vũ trụ, là hoạt dụng của thực tại mà chúng ta cần chứng nghiệm. Hoa Nghiêm không phải là một mô thức vũ trụ chúng ta thích biết để thỏa trí tò mò, nó là pháp giới chân thật chúng ta cần thâm nhập bằng tất cả thân tâm không vướng mắc của mình (Nhập Pháp Giới, phẩm cuối cùng của cuộc hành trình Hoa Nghiêm). Chỉ khi nào chúng ta thấy mình tương tức tương nhập với những chúng sanh khác, với nỗi khổ và niềm vui của họ (tùy hỷ), với từng sự vật của thế giới này, chúng ta mới hiểu được cái mà đạo Phật gọi là lòng đại bi, mới hiểu được cái đạo đức học vũ trụ của đạo Phật là thế nào. Chỉ khi nào chúng ta thấy mình viên dung vô ngại với chúng sanh và thế giới, chúng ta mới hiểu cái mà đạo Phật gọi là trí tuệ, cái hiểu biết có tính vũ trụ của đạo Phật. Chỉ khi nào chúng ta thấy “một trong tất cả, tất cả trong một”, chúng ta mới chứng nghiệm được cái xã hội học siêu việt của vũ trụ, muc đích của mọi môn xã hội học đương thời. III. KẾT LUẬN: Kinh Hoa Nghiêm này đã hoàn toàn ở trong lảnh vực xứng tánh bất khả tư nghì giải thoát mà xương minh, nên mỗi lời mỗ câu trong kinh lấy toàn thể pháp giới tánh làm lượng. Đã là toàn thể pháp giới tánh nên tất cả Giáo, Lý, Hạnh, Quả nơi đây đều dung thông vô ngại, nên cũng gọi là vô ngại pháp giới. Từng bực cứu cánh của vô ngại pháp giới là sự sự vô ngại chỗ chứng nhập hoàn toàn của chư Phật mà chư pháp thân Bồ Tát thời được từng phàn.Tất cả cảnh giới đều phat xuất từ Chơn Tâm hay Căn Bản Trí. "Chơn Tâm vốn thanh tịnh, đầy đủ và trọn sáng, nhưng cũng có nhiều diệu dụng, trong số đó có hai diệu dụng dưới đây là quan trọng nhứt: a) Diệu dụng năng sanh tạo ra thế giới, sum la vạn tượng. b) Diệu dụng cứu độ, hướng về việc thực hành các đại nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền nhằm cứu vớt chúng sanh. Cái nhìn viên dung bắt nguồn từ Chơn Như trong sáng, dung nhiếp tất cả vật trong vũ trụ, thu nạp hình ảnh của vạn vật trong cái gương như thể tánh của nó, và chính nhờ cái nhìn viên dung ấy mà chúng ta mới thấy rằng vạn pháp sai biệt cùng phát xuất từ Chơn Như". Kinh Hoa Nghiêm nhằm xiển dương cái lý viên thông vô ngại của Phật Pháp, suốt quá trình tu tập gồm 4 giai đoạn Giáo, Lý, Hạnh, Quả. Pháp học đầy đủ, thông suốt bốn pháp giới như trên, giữ giới hạnh nghiêm minh, thể nhập căn bản trí là Pháp thành của các Bồ Tát vậy. Phật giáo là một tôn giáo lớn, đồng thời cũng là một học thuyết mang đậm tính triết học với những lý giải sâu sắc những vấn đề liên quan đến bản thể luận và nhận thức luận. Những quan niệm về bản thể luận của triết học Phật giáo thể hiện được những nét đặc sắc tiêu biểu của tư tưởng phương đông: đó là tính biện chứng và những linh cảm trực giác tâm linh sâu sắc và thâm thuý khi luận bàn về sự tồn tại của thế giới cũng như những biến đổi khôn cùng trong nó. Kinh Hoa nghiêm là bộ kinh quan trọng trong kho tàng kinh điển của Phật giáo đại thừa. Những quan niệm bản thể luận của Phật giáo được thể hiện trong các bộ kinh này vừa như một sự giảng giải đầy thuyết phục về cái bản nguyên đầu tiên của vạn vật được nhận thức ra khi có tâm thanh tịnh và cách thức có thể trở về bản thể. Đó dường như là cuộc hành trình đi từ chính mình để tìm ra chính mình và trở về với chính mình. Mặc dù còn có những hạn chế nhất định, nhưng những quan niệm về bản thể luận của phật giáo đã có những đóng góp quan trọng trong sự phát triển của tư tưởng nhân loại trên con đường kiếm tìm những tri thức chân lý đúng đắn để phục vụ cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn của con người cả trên phương diện vật chất và đời sống tâm linh. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá, với những vấn đề xã hội và tâm linh đang ngày càng phức tạp trong sự hưng thịnh của Phật giáo và một số tôn giáo khác càng cần những nghiên cứu nhiều hơn, sâu sắc hơn, khách quan hơn về những giá trị và hạn chế của các tư tưởng tôn giáo để có thể khai thác khía cạnh tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo nói chung và phật giáo nói riêng, góp phần cho sự ổn định và phát triển của đời sống xã hội. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. HT Thích Trí Quảng, Lược Giảng Kinh Hoa Nghiêm, THPGTPHCM Ấn Hành1990. 2. HT Thích Thanh Từ, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng Giải, Nxb Tôn Giáo 2002. 3. HT Thích Trí Quảng, Lược Giảng Kinh Pháp Hoa, THPGTPHCM Ấn Hành 1990. 4. Garma c.c. Chang.Triết Học Phật Giáo Hoa Nghiêm Tông, Thích Thiện Sáng (dịch) Nxb Tôn Giáo, 2006. 5. HT Thích Trí Tịnh, Kinh Hoa Nghiêm, Phật Học Viện quốc Tế Xuất Bản 1983. 6. Vân Nương, Con Đường lý tưởng, thi hoá Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Pháp Giới, Nguồn sống xuất bản, San Jose, 1998. 7. Đinh Quang Hổ (2016), Quan niệm về bản thể của Phật giáo qua Kinh Viên Giác, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo. 8. Từ điển phật học Hán Việt, NXB KHXH, Hà nội, 1998. 9. Garma G.C. Chang – Thích Thiện Sáng (dịch) Triết học Phật giáo Hoa Nghiêm – NXB Tôn giáo, 2006. 10. Trịnh Xuân Thuận – Hỗn độn và hài hoà – NXB KHKT, 2005. 11. Daisetz T.Suzuki – Trúc Thiên (dịch) Thiền luận – NXB Tổng hợp, 2001. 12. JunJiro Takakusu: Tuệ Sỹ (dịch) Tinh hoa Triết học Phật giáo NXB Phương Đông, 2007.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét