THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015
VÔ THƯỜNG TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
VÔ THƯỜNG
TRONG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
A. DẪN NHẬP
Vô thường có nghĩa là không thường còn, không bền chắc lâu dài, dù nhỏ bé như hạt bụi, hoặc lớn như mặt trời, mặt trăng, cũng đều phải chịu sự chi phối thay đổi, tan rã, chuyển biến theo thời gian, hoặc chậm hay mau mà thôi.
Dù đức phật không xuất hiện trên thế gian thìbản chất của mọi sự vật hiện tượng đều luôn luôn thay đổi biến hoại. Nhưng thật tuyệt vời khi đức Thế Tôn thuyết pháp về sự thật của cuộc đời là vô thường, thì có nhiều người không chỉ hiểu rõ lý vô thường mà còn chứng ngộ được nhiều quả vị cao, thấp khác nhau.
“Đấng Pháp Vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại.”
Tật vậy: Đức thế tôn là bậc đạo sư của cả trời, người, nên hệ thống triết học Phật giáo rất thậm thâm vi diệu.Và quy luật vô thường già-bệnh-chết không hẹn cùng ai, giống như đoá hoa phù dung sớm nở, tối tàn. Phật dạy, muôn loài vật ở thế gian này đều vô thường, đây là sự thật nên mọi người hãy chấp nhận một cách bình thản, và từ bỏ mọi tham chấp.
B. NỘI DUNG
1. Nhân sinh quan
Một lý do lớn để góp phần cho động lực thúc đẩy thái tử Tất Đạt Đa đi xuất gia là trước cảnh tượng sanh, già, bệnh, chết khi thái tử đi dạo chơi ngoài cổng thành.
Tiếp cận thực tế với hoàn cảnh ấy, thái tử đã đặt ra những câu hỏi bí ẩn mà không ai giải quyết. Mọi người cho rằng sự sanh, già, bệnh, chết là điều tất nhiên ai cũng phải trãi qua và thái tử cũng không nằm ngoài những quy luật này. Họ chỉbiết chấp nhận cuộc sống một cách mù quán, còn như con người từ đâu tới rồi chết sẽ đi về đâu thì không ai trả lời được. Mãi đến khi thái tử giác ngộ dưới cội cây bồ đề trãi qua bốn mươi chín ngày ngồi thiền, thì tất cả mọi thắt mắt đều được khai sáng là các hiện tượng trên thế gian đều do nhân duyên hợp thành (mười hai nhân duyên),không có một thứ gì ngẫu nhiên và tồn tại độc lập.
Sau khi chứng ngộ, đức Phật đã khai thị cho chúng sanh hiểu rõ hơn vềcái thân năm uẩn là khổ vì nó được kết cấu từ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong quá trình duyên hợp thân năm uẩn cho đến khi tang rã là quá trình vô thường.
a. Sanh diệt vô thường
Sanh diệt vô thường là sự vô thường nhanh chóng trong từng ý niệm, nó thay đổi hoàn toàn, cái mà xảy ra bên trong bất cứ một chúng sanh nào hay một sự vật nào, ngoài sự tập hợp của các pháp thì xuất hiệnsự sanh diệt ngay lúc đó. Như vậy, mỗi người, mỗi vật luôn luôn thay đổi và không bao giờ giống nhau. Trong Triết học Phật giáo gọi là “sanh diệt vô thường”, nghĩa là bất cứsự thay đổi nào của vạn vật đều sanh diệt không ngừng một khoảnh khắc.
Quả thật,sự sống của một chúng sanh vô cùng ngắn ngủi tương ứng với con người trong giai đoạn cuối cùng của một cuộc đời. Ngay cả cuộc sống của một chúng sanh cũng vậy chỉ kéo dài trong giai đoạn rất ngắn trong một ý niệm và khi ý niệm đó dừng lại thì sự sống cũng dừng lại.
b. Sát-na vô thường
Sanh và tử là hai phạm trù đối lập hoàn toàn, tử làsự thay đổi đột ngột và thậm chí làm xáo động tinh thần của người chết cũng như những người đang hiện hữu trong cuộc sống hiện tại, sự thay đổi này tùy thuộc vào sanh, lão, bệnh…, đây là một trong những nỗi thống khổ nhất của con người mà trong kinh điển thường đề cập đến. Mặc khác, ý nghĩa về sát-na vô thường biểu thị sự khác nhau giữa trạng thái sanh và trạng thái tử, giữa sự vật vô tri và vô giác… Trong Luận giải Madhyātānugam về giáo lý Duy Thức, ngài Vô Trước (Asaṅga) đã nói: “Tất cả vạn vật được sanh rado nhiều nguyên nhân hợp lại thành, không có vật nào mà tự nó tạo nên, khisự kết hợp bị tan rã thìsự hủy diệt theo sau”. Như cơ thể con người bao gồm tứ đại: đất, nước, gió, lửa; khi tứ đại hợp thành thì ngấm ngầmsự hủy diệt bên trong vàtrong từng sát na đều có các tế bào đang chết trên mỗi cơ thể. Đó gọi là sự vô thường của một thực thể sanh diệt.
2. Vũ trụ quan
Tất cả vạn vật cần phải chuyển động để thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Chúng ta biết rằng sanh, trụ, dị, diệt là bốn đặc tính hợp thành các sự vật; tất cả vạn vật trải qua sự biến cải và lệ thuộc vào sự lập lại chính nó trong sự xoay vòng không có điểm dừng lại.Bởi vì một pháp chỉ xuất hiện hoặc tồn tại qua sự phân chia ba thời: Quá khứ, hiện tại, vị lai. Theo học thuyết của bốn đặc tính này gọi là bốn tướng:Sanh làsựxuất hiện của mọi sự vật chuyển đến một trạng thái từ hiện tại đến tương lai; Trụ là sự tồn tại, cái mà tạo nên tất cả sự vật trong thực tế hoặc là trạng thái nhận biết ngay khi một vật xuất hiện từ tương lai trở về hiện tại do ảnh hưởng của sanh; Dị là sự biến đổi của sự vật;Diệt là yếu tố cuối cùng đưa đến sự hủy hoại, cái mà phá hoại tất cả sự vật chuyên chở nó về quá khứ.
@@@@
@@@@Trong kinh Bát Đại Nhân Giác đã diễn tả toàn bộ sự vô thường của nhân sinh quan và vũ trụ quan: điều đầu tiên mà các bậc đại nhân thấy biết một cách rõ rệt là mọi sự vật trong cuộc đời vốn không mãi mãi tồn tại một cách cố định; các cõi nước đều mong manh; bốn yếu tố tạo nên hình sắc con người thực chất là trống không và chỉ mang lại khổ não; năm yếu tố tạo nên một chúng sinh không hề mang lại một bản ngã chắc thực; tất cả đều được sinh ra rồi diệt mất, thay đổi khác lạ, chỉ là những thứ giả dối không có chủ; tâm chúng sinh chính là nguồn ác còn hình sắc của chúng sinh là nơi tập trung mọi tội lỗi; bậc đại nhân quán sát rõ như vậy mà dần dần rời được sự sinh tử.
C. KẾT LUẬN
Khi còn là thái tử, Tất Đạt Đa thường trăn trở với nhiều nỗi niềm ưu tư như: sự bất bình trong xã hội, cuộc sống vật chất không giải quyết được sự tồn tại vĩnh hằng của kiếp người,…. Đặc biệt, trong những nỗi niềm đó thái tử không bao giờ từ bỏ lý tưởng cao thượng là tìm đường cứu khổ cho mọi người, mặt dù luôn bị nhiều người cản trở bằng mọi cách. Như vậy, trong vô thường đã hiện hữu cái lý tưởng thường hằng là giải thoát giác ngộ, độ sanh. Nhờ mơ ước hạnh phúc thường hằng này, nó đã đưa Ngài đến con đường giác ngộ một cách rốt ráo. Từ đó giáo pháp được khai mở rộng rãi cho đến hôm nay.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét