THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Thứ Ba, 8 tháng 12, 2015
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ VÀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA HUYỀN QUANG QUA TÁC PHẨM:
VỊNH VÂN YÊN TỰ PHÚ
玄光禪師
I. DẪN NHẬP:
Trong lịch sử Thiền tông Việt nam, thiền phái Trúc Lâm là Thiền phái cột mốc, đánh dấu sự độc lập về tư tưởng Thiền tông của Việt Nam, đó là Thiền tông đã được ‘Việt Nam hóa’. Ba vị Tổ của Thiền phái Trúc Lâm đều là những vị có những án văn chương viết về Thiền tông Phật giáo trác tuyệt, thể hiện sự dùng ngôn ngữ để làm phương tiện đưa đạo giác ngộ đến quần chúng. Nếu như Tổ thứ nhất và thứ hai của dòng Thiền này đã để lại một số tác phẩm nghị luận về Thiền và con đường tu tập, thì Tam tổ Huyền Quang là vị có tài đặc biệt và chuyên về thi thiền.
Tìm lại lịch sử của Huyền Quang, chúng ta không thấy nhiều tư liệu viết về những đoạn đối đáp giữa Ngài với Sơ tổ, nên khó xác định được Ngài ngộ đạo trong trường hợp nào, và đường lối thiền của Ngài có gì đặc biệt khác với hai vị Tổ kia. Nhưng với những thi ca còn lại, cũng cho phép chúng ta hiểu được một phần nào về tư tưởng của Ngài. Do đó, để tìm hiểu về những khía cạnh khác nhau về cuộc đời và tư tưởng của Huyền Quang, người viết chọn đề tài: “PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ VÀ TƯ TƯỞNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA HUYỀN QUANG QUA TÁC PHẨM: VỊNH VÂN YÊN TỰ PHÚ”
Trong số khoảng 23 bài thơ còn lại của Huyền Quang, thì có một bài thuộc thể cổ phong, một bài phú, còn lại làm theo thể Đường luật. Nhưng như tên của đề tài, và giới hạn của số trang, người viết chỉ tìm hiểu về ‘tư tưởng’ của Huyền Quang qua những bài thơ, chứ không đi sâu về hình thức nghệ thuật và tính thẩm mỹ của thơ, mặc dù chính hai mặt ấy làm nên giá trị của thi ca. Bởi lẽ thi ca của Huyền Quang mang đậm tính Thiền, lấy Thiền làm nội dung chủ đạo của toàn bộ các tác phẩm, do đó, chính khía cạnh tư tưởng đã làm nổi bật và tăng thêm giá trị của thơ, tạo nên nét độc lập của riêng Huyền Quang.
Để thực hiện đề tài này, người viết chọn phương pháp phân tích nội dung, nhằm làm sáng tỏ tư tưởng của tác giả của nó. Phân tích nội dung đòi hỏi người phân tích phải đặt mình vào trong bối cảnh sáng tác và hệ tư tưởng mà tác giả đang theo đuổi hay vận dụng. Muốn làm được điều này, lẽ cố nhiên là chúng ta phải nắm được cuộc đời của tác giả, đồng thời phải nắm bắt được hệ tư tưởng thiền Trúc lâm. Chính ‘văn là người’ nên chúng ta phải tiếp cận từ các phương diện khác nhau về đời sống thường nhật và cả đời sống tâm linh của Huyền Quang, thì mới hi vọng là hiểu được khái quát về phần nào toàn bộ tư tưởng của Ngài.
II. NỘI DUNG:
1. Cuộc đời và sự nghiệp của thiền sư huyền quang:
Tôn giả họ Lý, tên Đạo Tái, sinh năm Giáp Dần, niên hiệu Nguyên Phong thứ IV (1254) đời vua Trần Thái Tông, chính quán: làng Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay là tỉnh Hà bắc). Thân phụ là Lý Tuệ Tổ, dòng dõi trâm anh thế phiệt, có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không ra làm quan. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức. Ngài có tướng mạo của bậc siêu nhân, bản tính thông minh, thuộc loại "sinh nhi tri tri", nên được cha mẹ yêu quí.
Niên hiệu Bảo Phù thứ II năm Giáp Tuất (1274) đời vua Thánh Tông, ngài tròn 20 tuổi, đỗ khoa thi Hương, và năm sau (1275) đậu thủ khoa kỳ thi Hội, được cử vào viện Hàn Lâm. Ngài thường phụng mệnh triều đình tiếp sứ thần phương bắc (Trung Hoa), nổi tiếng về văn thơ.
Khi chưa thi đỗ, cha mẹ có ý kén người đính hôn, nhưng gặp sự trắc trở mãi. Đến khi thi đậu thì các nhà phú quí dành nhau gả con gái cho, vua cũng gọi gả công chúa nhưng ngài đều từ chối. Vốn có con mắt của bậc siêu phàm, ngài chán ngán cảnh cao sang quyền quí, nhìn đời khác nào như là vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ; tình người ấm lạnh:
"Khó khăn thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng trăm nghìn nhân duyên!"
Ngài thường tháp tùng vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) nghe Đệ nhị tổ Pháp Loa giảng kinh. Từ đó ngài có ý định phát tâm xuất gia tu Đạo Giải Thoát.
Niên hiệu Hưng Long thứ XIII năm Ất Tỵ (1305) đời vua Anh Tông, năm ấy ngài đã 51 tuổi dâng sớ lên vua xin từ quan, đi tu, đến ở chùa (núi) Vũ Ninh do Thiền sư Bảo Phác trụ trì, xin thế phát qui y.
Niên hiệu Hưng Long thứ XIV năm Bính Ngọ (1306), Đệ nhị tổ tôn giả Pháp Loa được lập làm giảng sư chùa Siêu Loại, theo sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, thì "… Huyền Quang cũng đi theo thiền sư Bảo Phác về dự lễ này. Trúc Lâm (tức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông) gặp lại Huyền Quang trong hình thái tăng sĩ rất mừng, biết Huyền Quang là một văn tài, liền đề nghị Bảo Phác để Huyền Quang lại phụ tá với mình. Từ đó, Huyền Quang tùy tòng Trúc Lâm trong 2 năm, bởi vì cuối năm 1308 thì Trúc Lâm tịch.
1.1. Huyền Quang với tinh thần Nho sĩ:
Nói đến chủ thể của thơ Huyền Quang là chúng ta đề cập đến quyền tác giả của các thi phẩm ấy. Lẽ cố nhiên là những thi phẩm ấy là của chính tác giả ấy, nhưng cuộc đời của tác giả là sự phản ánh sinh động qua thi phẩm của chính tác giả, do vậy muốn tiếp cận tinh thần thi ca của tác giả thì trước hết tìm hiểu về chủ thể đã tạo nên chúng. Nói về Huyền Quang thì chúng ta có thể từ hai khía cạnh để tiếp cận với Ngài, đó là qua vị thế của một danh sĩ và tư thái của một thiền sư ngộ đạo.
Với vị thế của một danh sĩ thì Ngài là người thông suốt những tri thức có thể được tiếp cận lúc bấy giờ, đó là nội dung giáo dục mang đậm chất Nho học. Có thể khẳng định như vậy là vì thời Trần, tinh thần Nho học vẫn được khuyến khích phát triển song song với Phật giáo, và Nho học là cái học nhằm để ‘an bang tế thế’, tất nhiên là bên cạnh đó vẫn có cảnh giới tinh thần riêng, đặc trưng của Nho gia.
Huyền Quang từng là một Trạng nguyên thì hẳn Ngài phải là người thông suốt cả tinh hoa của Tứ thư, Ngũ kinh, v.v., và một tài năng không thể thiếu, đó là văn chương. Chính văn chương của Ngài đã giúp Ngài thành công trên đường công danh, và hơn thế nữa, đã để lại cho đời những án thơ trác tuyệt. Có thể nói, chỉ từ khía cạnh này cũng đủ thấy Ngài có một vị trí riêng trong nền thi ca nước nhà.
Vì không thích chốn quan trường mà có thị hiếu ngao du sơn thủy đã huân đúc cho Ngài một tinh thần thanh bạch, không vướng bận bởi công danh, quyền tước. Thậm chí, dù có được trở thành một người thuộc hàng thân quyến của vua chúa nhưng Ngài đã từ chối. Có thể nói, ngay từ lúc chưa tiếp cận Phật giáo, thì Huyền Quang cũng đã hình thành riêng một lối sống theo lý tưởng của riêng mình, đó cũng được xem như là sự giải thoát và tự do.
Giải thoát chính là thoát khỏi được sự đoanh vây của danh lợi, sự cạnh tranh khốc liệt và đôi khi bỉ ổi của chốn quan trường, cũng như giải thoát khỏi sự ràng buộc và ưu phiền từ gia đình, vợ con, tôi tớ, v.v. Nói như thế không phải là Huyền Quang chối bỏ trách vụ của một công dân nước Việt, chứng cứ là Ngài vẫn sẵn sàng làm quan ở Hàn lâm viện rồi tiếp sứ giả đến từ Trung Hoa. Còn tự do của Ngài chính là quyền được sống thực với chính mình, chính sự giải thoát như đã nói trên đã đưa đến tự do cho riêng Ngài. Làm người ai cũng thích tự do, nhưng ít ai dám từ bỏ quyền lợi để đạt đến tự do, mà Huyền Quang là một trong những số ít đó.
Cuộc sống của một con người thông tục thì quanh quẩn trong hai từ lợi dưỡng và ái tình. Chính lợi dưỡng đưa con người đến chỗ đấu tranh sinh tồn, kẻ thắng thì kiêu ngạo, kẻ thua thì hận thù tím tâm can, nhất là chốn quan trường thì sự cạnh tranh càng khốc liệt hơn nữa, đúng như Nguyễn Công Trứ đã nói: “Ra trường danh lợi vinh liền nhục. Vào cuộc trần ai khóc trước cười” (Con đường làm quan). Chính thế nên đối với tinh thần Nho gia là phải biết đủ, biết dừng lại đúng lúc thì mới có được sự giải thoát, cũng theo Nguyễn Công Trứ đã nói: “Biết đủ tức là đủ; đợi đủ biết bao giờ đủ. Biết nhàn tức là nhàn; đợi nhàn biết bao giờ nhàn” (Chữ Nhàn).
Và ái tình làm cho con người trở nên ích kỷ, hèn mọn trong lối sống, ràng buộc trong tinh thần. Huyền Quang ngay từ thời trẻ đã thoát được sự ràng buộc ấy, làm một con người dám sống như chính mình, dám từ bỏ để được sống với chính con người thật của mình, âu đó cũng là bước tiền đề để đi đến tự do trong bối cảnh của xã hội cuồng say trong danh lợi và ái luyến.
Như vậy, Huyền Quang trước khi xuất gia là một Huyền Quang của một Nho sĩ chân chánh. Đó là một con người dám xem nhẹ công danh để được sống thật với chính mình. Chỉ cần từ một khía cạnh này thôi, thì chúng ta cũng đủ thấy được sự đáng trân trọng về tinh thần đạo đức của con người Huyền Quang. Chính xuất phát từ một con người như thế, được dung dưỡng trong bầu không khí của sự phóng xuất khỏi danh lợi, nên khi được tiếp cận với Phật giáo, Ngài đã nhanh chóng hòa nhập và đi đến được mục tiêu cao viễn của Phật giáo nói chung và Thiền tông Việt Nam nói riêng.
1.2. Tư thái của bậc xuất trần:
Tư thái của bậc xuất trần theo Phật giáo đó là người không còn bị vướng bận bởi các đối tượng ngoại cảnh, về tướng chung cũng như tướng riêng của mọi pháp. Trong tâm thức cũng không còn chứa chấp mọi tâm hành bất hảo có tiềm lực đưa đến các tư duy cũng như hành động bất thiện. Với Thiền tông thì phải ‘minh tâm kiến tánh’, thấy được ‘bản lai diện mục’, làm chủ sanh tử của mình.
Ngay trong lần đầu tiên khi nghe được Phật pháp qua lời giảng của Pháp Loa, Huyền Quang đã có bộc phát sự cảm khái qua lời tự than: “Làm quan được lên đảo Bồng, đắc đạo thì đến Phổ Đà, đảo trên nhân gian là bậc tiên, cảnh giới Tây thiên là cõi Phật. Sự giàu sang phú quí như lá vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ, đâu nên mến luyến!”
Đây là lợi tự cảm của một người mới lần đầu tiếp xúc với tư tưởng Phật giáo, dù có đôi chút ngộ nhận là ‘đắc đạo thì đến Phổ Đà’ nhưng cũng đã cho thấy được túc duyên đã sẵn có trong tâm của Huyền Quang rất nùng hậu. Vì nghe được giáo lý thâm viễn của Phật giáo nên Ngài đã nhận thấy ngay tính chất không bền chặt của vinh hoa phú quí, dù trước đó thái độ này đã được Ngài hun đúc với cung cách của một Nho sĩ chân chánh. Từ đó Huyền Quang quyết chí xuất gia, làm đệ tử của Thiền sư Bảo Phác và theo hầu Trúc Lâm Đại đầu đà. Và trước lúc viên tịch, Sơ tổ Trúc lâm đã căn dặn Huyền Quang phụ tá cho công cuộc hoằng pháp của Pháp Loa. Trước lúc Pháp Loa thị tịch cũng đã giao trách nhiệm kế thừa Tổ nghiệp cho Ngài. Qua đó chúng ta thấy rằng, Huyền Quang đã trực nhập được lý thiền rất sâu xa, xứng đáng được giao trọng trách kế thừa Thiền phái Trúc lâm, điều này hẳn đã qua sự kiểm chứng của Trúc lâm Đại đầu đà và Pháp Loa rồi, rất tiếc là chúng ta không có được tài liệu nào ghi chép lời vấn đáp nào của Sơ tổ Trúc lâm với Huyền Quang, cũng như lời Ngài dạy cho các đệ tử và bài kệ thị tịch nào. Dẫu vậy, qua các bài thơ còn sót lại của Ngài, chúng ta cũng còn có cơ hội để hiểu về tinh thần cũng như mức độ nhận thức lý thiền của Ngài.
Ngoài khả năng về Thiền học, Huyền Quang còn là một người thông thạo kinh điển và với thực tài về ngôn ngữ văn chương Hán học, Ngài đã đảm nhiệm công việc biên soạn sách giáo khoa Phật học và thảo công văn cho các nghi lễ Phật giáo, ngôn từ và văn phạm đã đạt đến độ chuẩn xác cao, như lợi nhận xét của Sơ tổ Trúc lâm sau khi xem sách Thích Khoa giáo do Ngài soạn: “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn hiệu khảo rồi thì không thể thêm hay bớt một chữ nào nữa.”
Như vậy, Huyền Quang với biệt tài về văn chương, một tâm hồn thi sĩ và một người ngộ Thiền đã có những áng thi ca tuyệt tác, thể hiện đậm chất thiền và tâm hồn siêu xuất mọi trói buộc của ngoại duyên.
1.3. Con người trong thơ Huyền Quang:
Một tác phẩm văn chương là một sản phẩm tinh thần của tác giả tạo ra nó, do đó, nó phản ánh tâm trạng, suy nghĩ, tư tưởng của tác giả. Trong một hoàn cảnh cụ thể hay tâm trạng hiện hành của tác giả nên tác phẩm họ tạo ra hẳn nhiên là sự phản ánh sinh động cho những tư tưởng đó của chính họ. Mà những tư tưởng hay những điều tác giả đang suy nghiệm đó cũng chính là điều đang hiện hữu trong tâm thức của tác giả đó, nên có thể khẳng định tư tưởng và sản phẩm của chính tư tưởng đó cũng là bản thân chính tác giả. Có những thi sĩ dùng ngôn ngữ thi từ để diễn tả trực tiếp về chính con người hay tư tưởng của mình, bên cạnh đó, một số thi sĩ thì không đề cập đến ‘cái tôi’ như là chủ thể hiện diện trực tiếp trong thi phẩm, mà thông qua diễn tả những đối tượng khách quan nhằm gián tiếp bày tỏ tâm trạng của chính mình; hoặc có những tác giả chỉ thuần diễn tả vẻ đẹp hay hiện trạng của một cảnh quan mà không có ‘cái tình’ của mình ở trong đó. Tuy vậy, dù có nói đến cái ‘tôi’ hay không, thì chủ thể - tác giả - ‘tôi’ vẫn là đóng vai trò làm chủ - kẻ tạo tác ra các thi phẩm ấy.
Huyền Quang là một thiền sư, đồng thời cũng là một thi sĩ, vậy nên tư tưởng thi ca của Ngài cũng mang đậm dấu ấn của tư tưởng thiền – tư tưởng giác ngộ. Với những bài thơ còn sót lại của Ngài, chúng ta thấy đa số những bài thơ ấy đều diễn tả cảnh thiên nhiên nhưng lại mạng đậm tính trữ tình, hay nói khác hơn là thông qua những bài thơ ấy, Ngài đã gián tiếp trải bày tâm trạng của mình. Do vậy, ‘cái tôi’ chủ thể không biểu lộ trực tiếp nhiều, mà qua kết cấu của thi từ, cọng với sự trực nhận sâu sắc về nội dung của những bài thơ, người đọc mới nhận ra những tâm sự của tác giả.
Con người là một hữu thể trong thiên nhiên và vũ trụ nhưng con người là một hữu thể đặc biệt. Bởi lẽ con người có khả năng nhận thức và biểu cảm ở mức độ cao mà các sinh vật khác không thể có được. Tuy vậy, con người cũng chỉ quá nhỏ bé so với cái vĩ đại và vô cùng của vũ trụ vẫn hằng vận động mãi mãi theo qui luật của riêng nó, do đó sự sanh diệt của con người cũng chỉ là nằm trong sự vận động chung ấy.
Con người có cảm xúc và có thể biểu hiện nó theo hình thức cụ thể và khả dĩ nhất. Đứng trước sự biến động của thiên nhiên, nằm trong vòng vận hóa của xã hội, lẽ tất nhiên con người hẳn phải có những nhận định, cảm xúc, bên cạnh đó, quan hệ giữa người với người – mối quan hệ có tình cảm. Tình cảm của con người không nằm ngoài các tình chất hờn, giận, yêu, ghét, v.v. Khi được thương yêu người ta thấy hạnh phúc, khi bị ghét bỏ con người cảm thấy đau khổ, đó là một quy luật tất yếu. Nhưng phải chăng không ai có thể thoát các qui luật thông tục ấy? Câu trả lời là không phải vậy, con người hoàn toàn có khả năng thoát ra khỏi sự chi phối của hạnh phúc và khổ đau. Điều ấy chỉ diễn ra khi nào? Khi con người hoàn toàn khống chế được cảm xúc theo bản năng của mình, nghĩa là thoát khỏi sự chi phối của các thứ tình cảm yêu, ghét, v.v. – nguyên nhân đưa đến đau khổ. Dù rằng hạnh phúc là điều ai cũng mong muốn có được, nhưng hạnh phúc không phải là thứ tồn tại vĩnh viễn, bởi nó tùy thuộc vào cảm xúc của chủ thể của nó, mà chủ thể của tình cảm là con người lại luôn luôn thay đổi theo tùy hoàn cảnh, thời gian và đối tượng.
Khi có cảm xúc, con người có thể biểu hiện nó ra bằng cách này hay cách khác, đối với thi sĩ, thơ là công cụ thể hiện cảm xúc và là sản phẩm trực tiếp của của thi sĩ. Thế nên qua những ngôn từ, kết cấu và nội dung của bài thơ, người đọc sẽ có được cái nhìn tương đối hoàn chỉnh về chủ thể của các bài thơ đó. Đối với những người thông tục, dù những thi ca họ làm ra có đạt đến độ toàn vẹn của thẩm mỹ, đỉnh cao của độ lột tả tâm trạng, tình cảm, thì chúng vẫn không thoát ra vòng kiềm tỏa của những thứ tình cảm phổ biến của con người, đó là thương, ghét, sầu, hận, v.v.
Huyền Quang là một thiền sư nên những thi phẩm của Ngài dù được xuất phát từ những rung cảm của tâm hồn nhưng nó không có vẻ gì là những sản phẩm được làm ra từ những thứ tình cảm thông tục, mà là những xúc cảm không hề bị chỉ phối bởi những thứ ấy. Đây là đặc điểm chung của những thi phẩm được làm ra bởi những thi nhân là vốn là thiền sư. Do đó, dù được biểu hiện gián tiếp qua thi từ thì ‘cái tôi trữ tình’ của thơ Huyền Quang là một chủ thể đã thoát ra khỏi những tình cảm thông thường, mà là những cung bậc cảm xúc không bị chi phối và nhốm màu bi thống của kiếp nhân sinh. Nhưng điều ấy không có nghĩa là con người trong thơ Huyền Quang chỉ là con người siêu tưởng, hay là con người đặc biệt vượt quá khả năng ‘trở thành’ của con người, mà nó vẫn là con người hiện thực giữa trần gian đầy bi lụy nhưng con người ấy không bi lụy. Con người ấy vẫn ‘dành mắt’ để quan sát hiện thực xã hội mà sự tồn tại của nó cũng song hành với vô cùng những cuộc tranh chấp, hãm hại, v.v., lẫn nhau để thỏa mãn dục vọng và khát vọng sinh tồn.
Thế nên, dù vẫn là một con người đang tồn tại trong xã hội nhưng đó là con người siêu thoát, thể hiện tính thuần khiết của tâm hồn, mà khi đọc thơ của Ngài, người đọc cảm thấy sự thanh thoát, nhẹ nhàng, con người vẫn là con người trước đây, nhưng sau khi cảm nhận được tư tưởng trong thơ, người ta hẳn sẽ hòa nhập vào cảnh giới siêu tục như chính tác giả của chúng vậy!
2. Bắt đầu bằng câu chuyện của thơ vịnh vật:
Thơ vịnh vật là một tiểu loại của thơ đề vịnh. Đối tượng của nó là vật, và cả sự vật. Nó có thể là những vật cụ thể như các cây, con, tùng trúc cúc mai, long ly quy phượng, hay đóa hồng, con kiến, con cóc con muỗi, hay sự vật sự việc như gió mưa sấm chớp trăng sao... Người ta thường căn cứ, dựa vào những đặc điểm, đặc tính tự nhiên nổi bật, dễ nhận thấy và được đông đảo mọi người trong cộng đồng nào đó thừa nhận, rồi nhân đặc điểm đó người ta gửi gắm một triết lý, tư tưởng hay tình cảm nào đó.
Đặc tính nổi bật của vật chỉ là chỗ dựa, là phương tiện, là một loại phù hiệu để thể hiện cho một tinh thần của chủ thể thẩm mỹ- tức người vịnh- thi nhân. Những đặc tính tự nhiên của vật là cái cớ không thể thiếu để triển khai tư tưởng, bày tỏ tình cảm, triết lý, nhưng nếu chỉ có thể hiện đặc tính của vật không thì nó lại chỉ là những câu đố về sự vật hay những bài đồng dao câu hát của trẻ con, dạy trẻ con về sự vật, sự việc, nó chưa phải là thơ vịnh vật. Do vậy có thể tạm định nghĩa về thơ vịnh vật: Thơ vịnh vật là tiểu loại của thơ đề vịnh, dùng sự vật làm đối tượng trung tâm của tác phẩm để thông qua những đặc điểm, tính chất của vật mà gửi gắm nỗi niềm. Thơ vịnh vật phản ánh tâm trạng, mang đậm dấu ấn cá nhân nhưng cũng đi theo thị hiếu thẩm mỹ của thời đại. Nó là thơ trữ tình và cũng thuộc phạm vi "thi ngôn chí".
Do chỗ mượn vật để nói chí, để triết lý, trữ tình, vì vậy thơ vịnh vật một cách tự nhiên luôn hướng tới kiến tạo những tầng thứ ngữ nghĩa ngoài ngôn từ. Tỷ hứng được huy động làm thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu của loại hình thơ đề vịnh nói chung và thơ vịnh vật nói riêng.
Quan sát 6 bài thơ vịnh cúc của Huyền Quang ta thấy, có mấy bài thực sự tiêu biểu cho đặc trưng thể tài, như bài số 1, số 4 và bài số 6. Các bài này đều trước sau ca vịnh tỷ hứng, ký thác trên cơ sở đặc tính của hoa cúc. Các bài số 2, số 3 và 5 cũng có thể coi là thơ vịnh vật ở một vài phương diện, nhưng không phải là những bài chuẩn theo các tiêu chí. Những bài này về mặt tư tưởng, tình cảm, triết lý, của người sáng tạo gửi gắm thì rất phong phú, nhưng lại hầu như không dựa theo đặc tính của sự vật để bày tỏ. Bông cúc trong ba bài thơ này cũng chỉ là một sự vật được xuất hiện, được nhắc tới như những sự vật khác có trong những bài thơ đó mà thôi.
Trước Huyền Quang, các sự vật cũng đã được nhắc nhiều trong thơ, nhưng được nói tới theo cách, chẳng hạn nhành mai trong bài kệ của Mãn Giác:
Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Đây không phải là bài thơ vịnh mai, vì nó không ca vịnh tỷ hứng, ký thác trên cơ sở đặc tính tự nhiên của bông mai. Nhành mai của sự ngộ đạo bất sinh bất diệt của Mãn Giác không giống với nhành mai trắng tinh khiết nở trong tiết xuân sớm, giữa tuyết trắng và băng giá biểu thị cho sự thanh khiết tinh thần và nhân cách trong sáng của sĩ phu thường gặp trong thơ vịnh mai.
Trong thơ của Trần Nhân Tông, ta cũng thấy một bông hồng:
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.
Như kim khám phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng.
( Thuở trẻ chưa từng thấu hiểu lẽ sắc không,
Mỗi mùa xuân sang, lòng rộn ràng cùng trăm hoa.
Như nay đã thấy hiểu bộ mặt thực của chúa xuân,
Ngồi trên bồ đoàn mà tĩnh lặng nhìn những cánh hồng rơi.)
Bài này cũng không phải là bài thơ vịnh hồng. Cả hai bài trên nếu thay nhành mai bằng nhánh cây khác, thay bông hồng bằng bông hoa khác ta vẫn thấy không hề ảnh hưởng tới ý nghĩa của bài thơ, không ảnh hưởng tới sự thể hiện thiền ý sâu sắc của bài thơ.
2.1. Tác phẩm của huyền quang thiền sư:
Tác phẩm của Huyền Quang gồm có:
1. Chư Phẩm Kinh: Tuyển tập những phẩm kinh thiết yếu.
2. Công Văn Tập: Tuyển tập những văn sớ điệp dùng trong các nghi lễ Phật giáo.
3. Thích Khoa Giáo: Tập sách giáo khoa về Phật học.
4. Ngọc Tiên Tập: Tập thơ tuyển.
Những tác phẩm trên hiện nay đều đã thất lạc, chỉ còn lại 24 bài thơ và một bài phú Nôm là Vịnh Vân Yên tự phú.
VỊNH VÂN YÊN TỰ PHÚ
(Phú Vịnh Chùa Vân Yên)
Phiên âm:
Buông niềm trần tục;
Náu tới Vân Yên.
Chim thụy dõi tiếng ca chim thụy;
Gió tiên đua đòi bước thần tiên.
Bầu đủng đỉnh dang hòa thế giới;
Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên.
Đất phúc địa nhận xem luống kể, kể bao nhiêu dư trăm phúc địa;
Trời Thiền thiên thập thu thửa lạ, lạ hơn ba mươi sáu Thiền thiên.
Thấy đây;
Đất tựa vàng liền;
Cảnh bằng ngọc đúc.
Mây năm thức che phủ đền Nghiêu;
Núi nghìn tầng quanh co đường Thục.
La đá tầng thang dốc, một hòn ướm vịn một hòn;
Nước suối chảy làn sâu, đòi khúc những dò đòi khúc.
Cỏ chiều gió lướt, dợm vui vui;
Non tạnh mưa dầm, màu thúc thúc.
Ngàn cây phơi cánh phương, vườn thượng uyển đoá tốt rờn rờn;
Hang nước tuới hàm rồng, nhả ly châu hột săn mục mục.
Nhựa đông hổ phách, sáng khắp rừng thông;
Da điểm đồi mồi, gióng hòa vườn trúc.
Gác vẽ tiếng bồ lao thốc, gió vật đoành đoành;
Đền ngọc phiến bối diệp che, mưa tuôn túc túc.
Cảnh tốt hòa lành;
Đồ tựa vẽ tranh.
Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo;
Nhìn chi vua Bụt tu hành.
Hồ sen trương tán lục;
Suối trúc bấm đàn tranh.
Ngự sử mai hai hàng chầu rạp;
Trượng phu tùng mấy chạnh phò quanh.
Phỉ thúy sắp hai hàng loan phượng;
Tử vi bày liệt vị công khanh.
Chim chóc bạn cắn hoa nâng cúng;
Vượn bồng con kề cửa nghe kinh.
Nương am vắng Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu, mấy nhè nhẹ;
Kề song thưa thàt ngồi thiền định, trăng vằng vặc, núi xanh xanh.
Huống chi,
Vân thủy bằng lòng;
Yên hà phải thú.
Vui thay cảnh khác cảnh hoàng kim;
Trọng thay đường hơn đường cẩm tú.
Phân ân ái, am Não am Long;
Dứt nhân duyên, nàng Nường nàng Mụ.
Mặc cà sa nằm trướng giấy, màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương;
Quên ngọc thực bỏ hương giao, cắp nạnh cà một vò, tương một hũ.
Chốt tiết dương tiếng nhạc dõi truyền;
Voi la đá tính từ chẳng đố.
Xem phong cảnh hơn cảnh Bà roi;
Phóng tay cầu chưng cầu Thằng ngụ.
Bao nhiêu phong nguyệt, về cõi vô tâm;
Chơi dấu nước non, dưỡng đời thánh thọ.
Ta nay:
Ngồi đỉnh Vân Tiêu;
Cuỡi chơi Cánh Diều.
Coi đông sơn tựa hòn kim lục;
Xem đông hải tựa miệng con ngao.
Nức đài lan nghĩ hương đan quế;
Nghe Hằng Nga thiết khúc tiêu thiều.
Quán thất bảo vẽ bao Bụt hiện;
Áo lục thù tiếng gió tiên phiêu.
Thày tu trước đã nên Phật quả;
Tiểu tu sau còn vị tỳ khưu.
Thấy đây:
Hồ thiên lẻ tẻ;
Xem lâu có nhẹ.
Tuy rằng học đạo hư vọ;
Ngậm ngụt hỏi thiền ngôn nghĩ.
Mê một tấm lòng xét chẳng cùng;
Chác tắc bóng nghìn vàng còn rẻ.
Hẹn đến lâm tuyền làm bạn, oooo;
Bảo rằng ooo, o o o ừ hễ.
Đua khoái lạc, chân bước lăm chăm;
Nhuốm phồn hoa, đầu đà bạc tỷ.
Chẳng những vượn hạc thốt thề;
Lai phải cỏ hoa cười thỉ.
Từ đến đây!
Non nước đã quen;
Người từng mấy phen.
Đầu khách dễ nên biến bạc;
Mặt non hãy một xanh đen.
Hồ nước giá lụa là lọc nước;
Cửa tráu cây phên trúc cài theo.
Đàn khúc nhạc tiếng không tiêu đính;
Vỗ tay ca cách lễ tạ liền.
Lạ những ôi!
Tây Trúc đường nào;
Nam châu có mấy.
Non Linh thứu ai đem về đây;
Cảnh Phi lai mặt đà thấy đấy;
Vào chưng cõi thánh thênh thênh;
Thoát rẽ lòng phàm phây phấy.
Bao nhiêu phong nguyệt, thề thốt chẳng cùng;
Hễ cảnh giang sơn, ai nhìn thấy đấy.
Từ trước nhẫn sau;
Thấy sao chép vậy.
Kệ rằng:
Rũ không thay thảy ánh phồn hoa,
Lấy chốn thiền lâm làm cửa nhà.
Khuya sớm sáng chong đèn bát nhã,
Hôm mai rửa sạch nước ma ha.
Lòng thiền vặc vặc trăng soi giọi,
Thế sự hiu hiu gió thổi qua.
Cốc được tính ta nên Bụt thực,
Ngại chi non nước cảnh đường xa.
2.2. Những vần thơ nhiều hàm nghĩa với một tâm hồn thơ phong phú:
Tác phẩm của Huyền Quang gồm hai bộ phận: bài phú Nôm Vịnh chùa Vân Yên và tập thơ chữ Hán Ngọc tiên, ở bài phú Nôm, Huyền Quang thể hiện rõ phong cách Thiền gia an lạc, thanh thản, con người hòa đồng cùng tự nhiên, ông miêu tả vẻ đẹp như tranh của non sông Yên Tử.
Đất tựa vàng liền,
Cảnh bằng ngọc đúc.
Mây năm thức che phủ đến Nghiêu;
Núi nghìn tầng quanh co đường Thục.
La đà tầng thang dốc, một hòn ướm vịn một hòn,
Nước suối chảy làn sâu, đồi khúc những dò đòi khúc.
Có chiều gió lươn, dơm vui vui;
Non tạnh mưa dầm, màu thúc thúc,
Ngàn cây phơi cánh phượng, vườn thượng uyển đóa tốt dờn dờn.
Hang nước tưới hàm rồng, nhả ly châu một săn mục mục
Nhựa đông hồ phách, sáng khắp rừng thông.
Da điểm đồi mồi, gióng hòa vườn trúc…
Và thiền sư hết sức bằng lòng với cuộc sống chan hòa giữa thiên nhiên, xa lánh hẳn cõi tục:
Rũ không thay thảy áng phồn hoa,
Lấy trốn thiền lâm làm cửa nhà,
Khuya sớm sáng trong đèn bát nhã,
Hôm mai rửa sạch nước ma ha.
Lòng thiền vặc vặc trăng soi giại,
Thế sự hiu hiu gió thổi qua.
Trái với tư tưởng thanh thản được thể hiện trong bài phú Nôm, người đọc có thể nhận thấy “ cái tôi” tác giả thấp thoáng trong từng vần thơ chữ Hán còn lại. Trừ trường hợp bài Diên Hựu tự tác giả nói về quan niệm “ bất nhị pháp môn” Tham thấu thị phi bình đẳng tướng; Ma cung Phật quốc hảo sinh quan (Đã coi thị cũng như phi, Cung mà nước Phật khác gì nữa đâu), tất cả các bài khác đều nổi lên đậm nét những tâm trạng và suy tư của Huyền Quang. Đó là nỗi day dứt vì tài sức mình có hạn mà trách nhiệm với đạo quá nặng nề:
Nối đèn Tổ thẹn mình đức bạc,
Luống làm cho Hàn, Thập ghét oan.
Sao bằng theo bạn về ngàn,
Núi non vây bủa muôn vàn tầng cao.
Kiều Thu Hoạch dịch
Đó cũng là niềm cảm thông với những nỗi khổ vô hạn của nhân thế (Ai phù lỗ) và những nỗi buồn dâu bể:
Nước chảy về Đông, người Xứ Lạng,
Trăm năm ngày tháng qua nhanh,
Ngoảnh đầu, non cũ trông đăm thắm,
Bóng nhạn giang hàng giữa thẳm xanh.
Qua vạn kiếp – Bản dịch
Song cũng có khi Huyền Quang biểu lộ tâm trạng bình yên ở nơi am thanh cảnh vắng:
Am sát trời xanh lạnh,
Cửa mở trên tầng mây,
…Rừng thưa chim chóc lắm,
Quá nửa bạn cùng thày
Yên Tử sơn anh cư – Đỗ Văn Hỷ dịch
Bình yên đến nỗi nhà thơ có thể ngủ một giấc ngon lành giữa buổi trưa (Ngọ thúy, Trú miên), vui vẻ cùng chú tiểu bên lò sưởi (Địa lô tức sự). Cảnh sinh hoạt này của thày trò Huyền Quang thật giản dị và cổ sơ như những người “ bị bỏ quên” từ thủa xa xưa nào.
Củi tàn, thôi chẳng thắp thêm hương,
Miệng đáp gia đồng hỏi mấy chương.
Bận bịu cho ai cười chê lão
Liền tay ống thổi với mô nang.
Địa lô tức sự - Huệ Chi dịch
Tuy nhiên, đôi lúc phong cách nghệ sỹ cũng được bộc lộ một cách mạnh mẽ và nhà thơ lại “thả thuyền” giữa sông nước Phiêm chu và “trong thuyền” (Chu trung) mặc sức ngắm thiên nhiên như một khách sông hồ tự do:
Dấu khách giang hồ thuyền một lá,
Hàng lau lách gió chèo thong thả.
Bốn bề trông quạnh ngọn triều lên,
Nước biển liền trời âu trắng xóa.
Đinh Văn Chấp dịch
Ngòi bút của Huyền Quang thật đa dạng. Ông đã bộc lộ mọi cung bậc của tâm trạng mình. Có vui, có buồn, có day dứt và có yên tĩnh, vừa chối bỏ cũng vừa gắn bó biết bao với cuộc đời nhiều khê đầy cát bụi. Song đậm nét, nổi trội hơn cả vẫn là nỗi buồn, là tâm trạng cô đơn. Ông cô đơn vì không tìm được sự hòa hợp trong cõi người mà phải tìm đến sự bầu bạn với núi non cây cỏ: Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp, Cố viên tùy sứ thổ hoàng hoa (Nghĩa khí không cùng đành chẳng hợp, khắp nơi vườn cũ nở hoa vàng – Cúc hoa)
Nỗi buồn cô đơn len lỏi trong tâm tư tác giả trong mọi lúc, mọi nơi, ngay cả khi có vẻ như ông đang rất sảng khoái, hào hứng trong cuộc chơi:
Lướt gió thuyền con ruổi tít mù,
Non xanh nước biếc ánh trời thu.
Khuất lau, sáo nổi vài ba tiếng,
Sương phủ, trăng chìm dưới sóng sâu
Huệ Chi dịch
Nỗi buồn cô đơn không ít trường hợp đưa tác giả đến trạng thái trễ nải. Hoặc phó mặc cho ngày tháng cứ trôi đi chậm chạp còn con người thì gần như trở lên vô cảm:
Quên mình quên hết cuộc tang thương,
Ngồi lặng đìu hiu, mát cả giường.
Năm muộn trong rừng không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương
Theo Phan Võ
Hoặc “lười biếng” ngay cả với công việc thường ngày của tăng chúng:
Nửa gian nhà đá bạn cùng mây,
Tấm áo lông thô lạnh tháng ngày.
Sư khểnh giường thiền kinh trước án,
Lo tàn, than lụi sáng nào hay.
Huệ Chi dịch
Không biết có thể mượn thuật ngữ của Bakhơtin để nói rằng thờ Huyền Quang “ đa thanh” được không nhưng quả thật thơ của ông có nhiều tiếng nói: Khi vui, khi buồn; khi thương mình, khi thương người; khi phiền trách, khi an ủi, khi cô đơn, khi hòa đồng…Quả là cũng như con người tác giả, tập thơ Ngọc tiên không thể chỉ có một hướng tiếp cận. Nếu như ngay từ thế kỷ XVIII đã có sự khác nhau giữa ý kiến của Ngô Thì Sĩ và Lê Quý Đôn – Ngô Thì Sĩ lấy thơ để minh chứng cho tư cách Thiền giả của Huyền Quang còn Lê Quý Đôn lại khen thơ Huyền Quang “ hay nhưng không có khẩu khí của người tu hành” – thì ngày nay giữa các nhà nghiên cứu ý kiến bất đồng cũng là lẽ thường.
Có lẽ chính là bản sắc của những vần thơ đích thực mà tác giả của nó là một tài năng có khả năng trường tồn với thời gian.
quan niệm rằng mọi sự vật đều được con người nhận thức thông qua cái “ thành tâm” tức “ thành kiến” (ý tưởng đã được hình thành trong tâm) của mình. Và mọi “ thành kiến” ít nhiều có sự thiên lệch, vũ đoán không thể đạt tới sự chân thực cuối cùng. May thay sự vật không mảy may biến sắc, thay đổi “bản lại diện mục” của mình trước vô vàn “ thành kiến” đó và sẽ mãi mãi là đối tượng để các thế hệ tiếp cận, nhận thức. Cũng vậy, Huyền Quang và tác phẩm của ông, sẽ còn là một kho báu để các thế hệ khai thác, tìm hiểu và thưởng thức, lý giải. Phải chăng đó chính là điều làm nên giá trị lớn ở Huyền Quang dù tới tư cách thiền gia – thi sỹ hay thi nhân – thiền gia!
Thiền Sư muốn nói lên điều gì qua bài thơ? Sự chuyển hóa nội tâm chăng? Có thể xem đó như là một biến cố quan trọng mà bất cứ một hành giả nào cũng đều phải trải qua. Khi cái giây phút mầu nhiệm ấy đến rồi, thì một thế giới mới sẽ hiện ra; và kể từ đây cuộc đời các Thiền sư sẽ không còn tù túng, chật hẹp, không còn cũ kỹ, nhàm chán và vô vị nữa. Một đời sống mới vừa bắt đầu. Vì người thấy pháp rồi thì không cần tu chi hết, họ trả về lại tất cả cho trời đất, không còn vướng mắc chấp thủ cái gì. Và như thế bài thơ cũng chính là bài kệ trình sở đắc của Sư, bởi trong lòng Sư đã có:
“Lòng thiền vặc vặc trăng soi giại
Thế sự hiu hiu gió thổi qua
Cóc được tính ta nên Bụt thực
Ngại chi non nước cảnh đường xa”
(Vịnh Vân Yên Tự Phú - Huyền Quang)
Như vậy cớ sao không ít người từ lâu vẫn ngạc nhiên về nội dung của bài thơ? Mà có ngạc nhiên, thắc mắc cũng là lẽ thường tình thôi. Bởi vì đối với chúng ta, những người còn đang muốn chinh phục và chiếm hữu cái đẹp về cho riêng mình, bởi còn muốn chiếm hữu nên chúng ta mới phân biệt cái này tốt cái kia xấu, cái này đẹp cái kia không đẹp, nên chọn cái này và không nên chọn cái kia, v.v… Nói chung là chúng ta vẫn còn mắc kẹt trong vòng đối đãi nhị nguyên, có tốt xấu, có thị phi, có nhân ngã… Các Thiền sư thì đã vượt qua được giới hạn ấy, vì các ngài trực nhận được rằng, tất cả cái đẹp bên ngoài chỉ là sự phóng hiện cái đẹp từ bên trong. Nếu trong ta có vạn đóa hoa và vạn cánh bướm đang bay chập chờn, thì vũ trụ lúc ấy cũng tràn ngập hoa và bướm. Vậy thì, có ích gì không nếu chúng ta cứ tiếp tục đi tìm hoa và bướm ở bên ngoài?
Giác Hải thiền sư cũng đã từng cảm khái thốt lên:
“Xuân sang hoa bướm khéo quen thì
Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ
Nên biết bướm hoa đều huyễn cả
Thây hoa, mặc bướm, để lòng chi.”
(Ngô Tất Tố dịch)
Hay:
“Giàu sang đến chậm như mây nổi,
Năm tháng trôi vèo tựa nước sa.
Rừng suối chi bằng về ẩn quách,
Gió thông một sập, chén đầy trà.”
(Thơ Huyền Quang – Huệ Chi dịch)
Những ai đã từng sống trên non cao quạnh vắng, ngày ngày làm bạn cùng mây rừng gió núi, hay nói một cách khác là đang nuôi dưỡng ngọn núi cao ngất ngưởng trong lòng mình, thì niềm vui đến với họ cũng rất giản dị. Bởi vì niềm vui đó được trào vọt ra từ chính đời sống nội tâm tràn đầy của họ. Chính sức mạnh kỳ lạ này mà tự bao đời, đã không biết bao nhiêu bậc hiền nhân đã lên đường để đến những nơi thâm sơn cùng cốc ẩn cư, tìm kiếm cho được sự thanh bình trong chính họ, sống hồn nhiên với cây rừng hoa cỏ, ngày ngày lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa, cùng mây ngàn nhấp chén trà thơm ngát vị bồng phiêu. Thiền sư Huyền Quang đã lên đường. Và đâu đó ở Côn Sơn, Yên Tử sơn vẫn còn lưu lại dấu tích ngàn đời của một tâm hồn nghệ sĩ khai phóng, một thiền sư:
“Bầu đủng đỉnh gổng hòa thế giới
Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên”
(Vịnh Vân Yên Tự Phú – Huyền Quang)
Chỉ với 28 chữ, tác giả đã họa nên một bức tranh xuân bất tử để lại đời. Thiền sư không cần lý luận nhiều về những triết lý cao siêu, không “thị chúng” hay “vấn đáp” với thiền giả, không luận bàn hay khuyến tu với bạn đạo, mà chỉ vắng lặng miêu tả thực tại và trải lòng mình với cái thực-tại-đang-là ấy với tình cảm chân thành, với một tâm hồn trong trẻo thuần khiết sáng trong nhất. Bài thơ Xuân nhật tức sự đã khép lại trong âm hưởng ngan ngát hương hoa xuân và đã mở ra một khung trời mới, khung trời thênh thang tự do, mà ở đó một khi cánh chim bằng vỗ cánh tung bay thì không dây gì có thể trói buộc
2.3. Nhìn rộng ra các sáng tác khác của Huyền Quang:
Sự đan xen phức hợp các loại hình tượng, các khuynh hướng thẩm mỹ như vừa nói tới trong chùm thơ vịnh hoa cúc không phải là cá biệt trong toàn bộ sáng tác của ông. Nhìn các sáng tác khác ta cũng bắt gặp sự đan xen với quy mô giữa các bài với nhau. Với bài Diên Hựu tự:
Phiên âm
Thượng phương thu dạ nhất chung lan,
Nguyệt sắc như ba phong thụ đan.
Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn.
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.
Dịch nghĩa:
Chùa Diên Hựu
Đêm thu, trên chùa thoảng tiếng chuông ngân,
Ánh trăng như sóng, cây phong lá đỏ.
Bóng " xi vẫn" nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh giá,
Hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt.
Muôn vàn nhân duyên không vương vấn là bức thành che niềm tục,
Không lo lắng chút gì nên tầm mắt mở rộng.
Hiểu thấu ý nghĩa của thuyết phải trái đều như nhau,
Thì xem cung ma có khác gì nước Phật.
Bài này thể hiện triết lý Thiền quan trọng được truyền thừa trong Trúc lâm : bản tâm tự tại thanh tĩnh là gốc của giải thoát và tư tưởng bất nhị kiến là con đường để đạt tới trí huệ đích thực. Nếu chỉ đọc bài này, có thể thấy cái cảnh giới của tâm không thanh tĩnh siêu thoát của thiền sư đắc đạo. Nhưng nếu đọc sang bài khác, bài Ai Phù Lỗ:
Ai phù lỗ
Khóa huyết thư thành dục ký âm,
Cô phi hàn nhạn tái vân thâm.
Kỷ gia sầu đối kim tiêu nguyệt.
Lưỡng xứ mang nhiên nhất chủng tâm.
Thương tên bị giặc bắt
Chích máu viết thư muốn gửi tin tức,
Cánh nhạn lạnh lùng bay lẻ loi ngoài quan ải đầy mây.
Bao nhiêu nhà buồn ngắm bóng trăng đêm nay,
Đôi nơi xa cách nhưng cùng một lòng thương nhớ.
Ta lại thấy một cõi lòng khác hẳn, nếu cho đó là tâm Bồ tát từ bi bao dung cũng đúng, nhưng trước hết đó vẫn là tấm lòng dễ rung động, dễ cảm thông, cảm thời, cảm người, đồng điệu cùng người. Đây là con người nhạy cảm, dễ buồn dễ vui, tâm này là tâm động buồn vui với những nỗi đời trần thế. Nó theo dòng mạch của Thi Thánh Đỗ Phủ chứ không phải theo lối của Vương Duy. Thế nhưng chúng lại cùng tồn tại, cùng biểu thị bởi một con người. Đây có thể xem là một trạng thái đan xen phức hợp nhiều trạng thái tinh thần, nhiều khuynh hướng thẩm mỹ. Nó hoàn toàn phù hợp với tình trạng đan xen hòa hợp trong những bài thơ vịnh hoa cúc đã được nói tới ở trên. Có người gọi nó là trạng thái mâu thuẫn. chúng ta cho rằng đó là sự đan xen, sự phức hợp chứ không phải là mâu thuẫn.
2.4. Thời gian trong thơ Huyền Quang:
Thời gian là khái niệm không chỉ cho một thực thể cụ thể nào, chỉ biết vạn vật luôn thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Khi nhìn thấy sự thay đổi ấy, người ta liền có quan niệm về thời gian. Thời gian là có thể là điểm đánh dấu của sự thay đổi từ trạng thái, hình dạng này sang trạng thái, hình dạng khác. Dù là từ sự đẹp đẽ sang úa tàn, hay lạnh lẽo sang ấm áp, thì cũng là nói lên tính tuân hoàn của vạn vật; nhưng thời gian không tuần hoàn, nó đánh dấu hay cuốn phăng mọi thứ theo dòng lịch sử?
Mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm, là mùa mà vạn vật sinh sôi nảy nở, nên cảnh mùa xuân là cảnh đẹp của sự thịnh vượng, chan hòa và hoan hỉ. Với những cô gái trẻ, mùa xuân là thời điểm đánh dấu họ bước sang tuổi mới, với sự mong chờ tìm kiếm đấng trung nhân cho đời mình. Họ thêu chiếc khăn mới để dành tặng cho người mình yêu thương lúc gặp gỡ. Khi trao khăn tức ngầm ý là trao tình yêu. Đó là văn hóa cổ truyền của Việt Nam, Trung Quốc… Bài thơ sau đây không biết là Huyền Quang làm lúc xuất gia hay chưa, nếu chúng ta chỉ nhìn bằng con mắt thông tục, thì nó là bài thơ tả cảnh người con gái đang độ tuổi 16, ngồi thuê chiếc khăn gấm; nhưng bằng con mắt thiền quán, thì chúng ta sẽ khám phá được tinh thần thiền thật sâu sắc của nó:
Lỏng tay thêu gấm, gái yêu kiều,
Hoa rợp, oanh vàng lảnh lót kêu.
Bao nỗi thương xuân, thương biết mấy,
Là khi không nói, chợt dừng thêu
Tức cảnh ngày xuân
Hai câu đầu là tả về người con gái yêu kiều đang thêu và cảnh có hoa đẹp, có chim hót; hai câu sâu là tả về tâm trạng. Nhưng chỗ khó hiểu của bài thơ chính là câu cuối, tại sao khi thêu xong (‘tận’ trong bản Hán), dừng kim và không nói lời gì? Khi người con gái thuê xong chiếc khăn, dừng kim và tự vấn lòng rằng: chiếc khăn này sẽ vào tay ai? Đó là giây phút đẹp nhất của mùa xuân đất trời, hay là ý xuân của người thiếu nữ?
Chan chứa màu quê khói nhạt đồng
Lầu Nam quán Bắc ánh dương lồng
Tiếc xuân không chủ, thơ không hứng
Hoa chỉ thêm sầu nhớ gió đông
Hoạ bài thơ đề trên vách chùa Bảo Khánh
Bài thơ này tả cảnh đìu hiu của cảnh chiều xuân, cây cỏ vẫn còn hoang tàn, xa xa kia trong cánh đồng có những làn khói tả, khung cảnh ấy làm cho Huyền Quang có nhiều suy nghĩ, ưu tư. Bóng chiều nghiêng chiếu qua các lầu và quán, nơi dừng chân cho những khách lữ hành, làm tô thêm vẻ tịch liêu cho toàn cục cảnh quan đang trải ra trước mắt của thi nhân.
Thi nhân tiếc mùa xuân không có chủ, không có chủ nên dù mùa xuân mang đến bao tươi đẹp, bỗng chốc phút giao sang mùa khác, thì cảnh xuân trước chỉ còn đìu hiu, tàn tạ. Thi nhân đứng đó, nhưng thi hứng không có nên cũng không thể cất lời thành thơ. Hoa cũng sắp tàn, sẽ rơi rụng trong chốc lát, và kết thúc một đời hoa. Hoa như tiếc những cơn gió đông đùa bỡn trong những ngày hoa chớm nở để cung hiến cho mọi người trong những ngày đầu xuân.
Đây là thái độ tiếc nuối, tiếc cho một sự kiện đã vô thường quá nhanh chóng.
Nếu như bài thơ làm vào mùa xuân có vẻ ‘lãng mạn’ hoặc tiếc nuối, thì bài thơ thu lại mang vẻ thâm trầm, chín chắn, thể hiện mối ưu tư của một người về hiện thực của cuộc sống đời – đạo.
Gió mành tỏa mát hơi đêm,
Hàng cây hiu hắt bên thềm thu sang.
Mái tranh, quên bẳng nhang tàn,
Cành giăng giăng đón trăng vàng sáng trong.
Buổi đầu thu
Bài thơ được làm trong khung cảnh đêm thu chớm sang, gió mát thoang thoảng, những hàng cây lay lắt cành. Trong khi ấy, có người đang ưu tư trong ngôi nhà trúc, tâm chuyên nhất đến nỗi quên hẳn hương đã tàn trên án. Và ngoài kia ánh trăng vằng vặc đang lên, chiếu qua những cành cây. Toàn bài thơ nói về tâm trạng của Huyền Quang lúc thu sang. Có lẽ bài thơ này được làm sau khi xuất gia không bao lâu, bởi vì nó cho thấy tác giả còn nặng lòng suy nghĩ về nhiều sự việc mà mình đang gặp phải. Nhưng chúng ta cũng có thể nghĩ đơn giản rằng, thi nhân đang đứng thưởng thức cảnh thu sang, chìm đắm trong cảnh ấy nên quên đi mọi thứ khác.
3. thiền sư Huyền Quang vị thi tăng tài hoa đời Trần:
Trong số các danh tăng - danh tác của gần hai ngàn năm văn học Phật giáo Việt Nam như trên, ở đây, chúng tôi chọn thiền sư - thi sĩ Huyền Quang để giới thiệu, bởi nhiều lí do: Trước khi xuất gia, Huyền Quang đã là một vị trí thức - đại quan nổi tiếng uyên bác dưới thời thịnh Trần; là một tác gia thi sĩ tài hoa với nhiều bài thơ “ý tinh tế, cao siêu” và “lời bay bướm, phóng khoáng” được người đời xưa như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú hết lời ngợi khen; là vị Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử; cuộc đời phủ đầy huyền thoại và nỗi oan tình của thiền sư đã trở thành giai thoại văn chương thú vị, cuốn hút nhiều đại danh bút viết về hành trạng của ông như các truyện kí Tổ gia thực lục, khuyết danh, đời Trần, về sau có chép lại trong tập Tam Tổ thực lục (Ngay cả truyện kí này với quá trình lưu truyền, luân chuyển lưu lạc của nó từ Việt Nam sang Trung Quốc, rồi vài thế kỉ sau nó được trả về Việt Nam, cũng đã là một điều kì lạ, hấp dẫn); Nguyễn Bỉnh Khiêm với Huyền Quang hành giải; Ngô Thì Sĩ với Huyền Quang giải trào; Đan Sơn với truyện Vị sư già trên núi Yên Tử trong tập Sơn cư tạp thuật…
Dưới triều Trần Anh Tông (trị vì 1293-1314), lúc ông theo nhà vua đến chùa Vĩnh Nghiêm, gặp Điều Ngự Giác Hoàng và nghe thiền sư Pháp Loa giảng pháp2, ông có ý định xuất gia. Sau ba lần dâng biểu từ chức để đi tu, năm 1305, lúc ông đã 51 tuổi, vua Trần Anh Tông mới chấp thuận, ông thọ giới và theo học thiền sư Bão Phác. Được Điều Ngự Phật Hoàng ấn chứng, thọ kí và về sau ông trở thành vị Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, khi ông đã ngoài 70 tuổi.
Huyền Quang là người trước tác và biên soạn khá nhiều sách được lưu hành trong Giáo hội Trúc Lâm như:
- Chư phẩm kinh: Tuyển tập những kinh thiết yếu và thực dụng.
- Công văn tập: Tuyển tập những bài văn sớ điệp thuộc nghi lễ Phật giáo.
- Thích khoa giáo: Sách giáo khoa về Phật học.
- Phổ Tuệ ngữ lục.
Và một số thư từ ngoại giao tiếp các sứ đoàn. Hiện tất cả đã thất lạc.
Riêng về thơ, ông có Ngọc tiên tập cả nghìn bài chữ Hán với lời thơ “bay bướm, phóng khoáng” , nhưng rất tiếc chỉ còn 25 bài được Lê Quý Đôn (1726-1784) chép trong Toàn Việt thi lục, và Bùi Huy Bích (1744-1818) chép trong Hoàng Việt thi tuyển, mà sau này bộ Thơ văn Lý - Trần, tập 2, quyển thượng có in lại đầy đủ, trong số đó đa phần là thơ viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Về văn, Huyền Quang để lại một bài phú Nôm: Vịnh Vân Yên tự phú. Cùng với bài Cư trần lạc đạo phú và bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, thì đây là ba tác phẩm văn học chữ Nôm xưa nhất hiện còn lại trong văn học trung đại Việt Nam.
Trong thơ và phú hiện còn của Huyền Quang, tư tưởng Thiền Phật được thể hiện rõ nét. Đây là những sáng tác trực tiếp bàn về Phật về Thiền qua các phạm trù như tâm, Phật, sinh tử, niết bàn, chân như, sắc không, hữu vô… hay cảnh vật được thi nhân tái hiện qua cảm quan mĩ học thiền vắng lặng, hư tịch, tự tại. Có thể kể đến một số bài như: Vịnh Vân Yên tự phú, Diên Hựu tự, Đề Đạm Thủy tự, Tảo thu, Thạch thất… Ngay cả cuộc đối thoại giữa Huyền Quang và Pháp Loa lúc Pháp Loa nằm trên giường bệnh cũng thể hiện sâu đậm Thiền ý3. Ở đó, thiền sư đã đạt đến tâm không, nhất thừa pháp, siêu việt hữu vô, bình đẳng tướng, nên không còn biện biệt nhị nguyên đối đãi, vì thế ‘ma cung’ và ‘Phật quốc’ là một chứ không phải hai, như trong bài Diên Hựu tự (延祐寺Chùa Diên Hựu):
萬緣不撓成遮俗,
半點無憂眼放寬.
參透是非平等相,
魔宮佛國好生觀.
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.
(Muôn vàn nhân duyên không vương vấn là bức thành che niềm tục,
Không lo lắng chút gì nên tầm mắt mở rộng.
Hiểu thấu ý nghĩa của thuyết phải trái đều như nhau,
Thì xem ma cung chẳng khác gì nước Phật!)
Khi đạt cái tâm nhất như, rỗng không thì tự tính phát lộ, cái nhìn nhị kiến phân biệt không còn, lúc này ‘Phật tức Tâm’ và ‘Tâm tức Phật’. Bài kệ chữ Nôm cuối bài phú Vịnh Vân Yên tự phú tiếp tục thể hiện tư tưởng vừa nêu:
Lòng Thiền vặc vặc trăng soi giại,
Thế sự hiu hiu gió thổi qua.
Cốc được tính ta nên Bụt thực,
Ngại chi non nước cảnh đường xa.
Thơ của Huyền Quang không chỉ trải lòng với thiên nhiên gió trăng thơ mộng mà còn thể hiện sâu đậm tính nhân văn tuyệt đẹp và cảm động. Ở cấp độ này, thơ Huyền Quang đã nêu được mối quan hệ tuyệt đẹp giữa người với người, giữa con người với cuộc sống. Đây là những nguyên tắc đạo lí làm người, là thái độ ứng xử tốt đẹp trong các mối quan hệ giữa con người với nhau, là khát vọng về hạnh phúc, về quyền sống của con người, là lòng thiết tha vun đắp những giá trị nhân bản để ngày càng hoàn thiện. Cảm hứng nhân văn cao đẹp này trong văn học trung đại Việt Nam mạt kì (giai đoạn thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX) đã phản ánh rõ nét và có nhiều thành tựu xuất sắc. Tuy vậy, ngay từ thời Lý - Trần, cảm hứng nhân văn này cũng đã có mặt trong sáng tác của nhiều tác gia như Trần Nguyên Đán, Chu An, Nguyễn Phi Khanh... Thơ Huyền Quang cũng đã góp phần làm nên sự đa dạng và phong phú cho cảm hứng nhân văn này qua một đề tài mới và lạ:
Có thể hiểu bài thơ theo nét nghĩa như trên mà xưa nay nhiều người đã hiểu, và chúng ta cũng đã từng cảm nhận như thế. Nhưng gần đây, chúng ta lại nghĩ cũng có thể hiểu bài thơ này theo một nét nghĩa khác. Có phải bài thơ viết về vẻ đẹp đáng yêu của thiếu nữ trong buổi xuân thì không? Hình ảnh giai nhân 16 xuân xanh đang ngồi thêu chậm rãi dưới hoa kia là hình ảnh thực hay chỉ là biểu tượng cho sức xuân đang trỗi dậy, cho tình xuân đang nồng nàn ngập tràn sức sống? Tôi nghĩ có lẽ là thế. Đây chỉ có thể là hình ảnh biểu tượng mà thôi. Có thể thiền sư Huyền Quang đã dùng hình ảnh này để biểu đạt cái sức sống mùa xuân đang trỗi dậy, cái tình xuân đang nồng nàn quyến rũ. Và tất cả hiện thực cuộc sống đầy vẻ xuân sắc ấy được cảm nhận bằng cái nhìn Thiền, thể hiện cảm quan mĩ học Thiền. Đứng trước vẻ đẹp đầy sức xuân kia, con người chỉ có thể cảm nhận bằng chiều sâu của trực cảm tâm linh, chứ không thể thốt nên lời, và cũng không có bút mực, ngôn ngữ nào tả ghi lại được.
Và cho dù, cảm và hiểu bài thơ theo cấp độ nào đi nữa thì cuối cùng vẫn là tấm lòng rạo rực của thiền gia - thi sĩ trước vẻ đẹp xuân tình. Một thiền sư lòng đã trống không, tâm nhập niết bàn, mà trái tim vẫn luôn rạo rực, thao thức hướng về cuộc đời, về con người với những rung động tinh tế trước vẻ đẹp của trần thế là chuyện rất lạ. Phải chăng đó cũng chính là một biểu hiện của tinh thần tùy duyên, tùy tục, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo mang tính nhập thế của Phật giáo Đại Việt nói chung, của thiền phái Trúc Lâm đời Trần nói riêng?
Nói như thế để khẳng định rằng, bất kì thời đại nào, tình xuân bao giờ cũng có sức mạnh huyền bí và quyến rũ của nó. Đó chính là tố chất, là nguồn cảm hứng để thi nhân, dù là thiền sư với cái tâm vắng lặng hư tịch, cất bút đề thơ. Cho nên, chút tình xuân rạo rực vẫn là đề tài muôn thưở của thi ca.
Huyền Quang là một thi nhân - thiền sư đã đắc đạo giải thoát. Thơ của ông gắn với cảm quan mĩ học Thiền nên sâu lắng, ý tại ngôn ngoại, được biểu đạt bởi một bút lực già dặn và tài hoa của một tâm hồn nghệ sĩ, cùng ngôn ngữ tinh tế và hàm súc. Dù chỉ còn một số bài thơ, nhưng qua những thi phẩm này, có thể nói Huyền Quang xứng đáng là đại biểu xuất sắc của dòng thơ Thiền trữ tình trong văn chương cổ điển Việt Nam.
3.1. Nhân vật huyền quang trong văn xuôi tự sự việt nam thời trung đại:
Dưới góc độ văn học, bài viết tìm hiểu về nhân vật Huyền Quang với tư cách là đối tượng được phản ánh (nhân vật/hình tượng văn học) trong một số sáng tác tiêu biểu của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Qua các tác phẩm này người viết phát hiện ra một điều thú vị: tuy cùng một đối tượng nhưng ở mỗi truyện nhân vật Huyền Quang được miêu tả, phản ánh ở những phương diện khác nhau, thậm chí đối lập nhau dẫn đến sự khác biệt không chỉ ở hình tượng nhân vật mà còn ở tư tưởng, chủ đề cũng như những đặc điểm nghệ thuật khác. Ở truyện thứ nhất (Tổ gia thực lục) nhân vật được khai thác ở khía cạnh đạo đức tôn giáo với cảm hứng ngợi ca, sùng bái đạo Phật. Ở truyện thứ 2 (Sư chùa núi Yên Tử) nhân vật được khai thác ở khía cạnh đời thường (ham muốn trần tục) với cảm hứng đề cao niềm vui trần thế. Sự khác biệt này vừa tạo nên một chân dung đầy đủ về thiền sư ở nhiều góc nhìn, tiếp cận phong phú vừa phản ánh phần nào qui luật vận động theo xu hướng ngày càng gắn bó với hiện thực đời sống của văn học nói chung, văn xuôi tự sự nói riêng thời trung đại.
Huyền Quang (1254 - 1334) là một trong những nhân vật tiêu biểu của văn hoá Việt Nam thời trung đại. Ông là vị tổ thứ ba của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, đồng thời là một trong những nhà thơ khá tiêu biểu của văn học đời Trần (tác giả của Ngọc Tiên tập, Vịnh Hoa Yên tự phú…). Sự xuất hiện của Huyền Quang trong khoảng nửa cuối thế kỷ XIII - nửa đầu thế kỷ XIV với nhiều giai thoại đậm chất thế tục tựa như một nét nhấn sinh động, điểm tô cho nền văn hoá thời Trần vốn đã vô cùng rực rỡ, cũng là hình ảnh tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn và cốt cách của con người Đại Việt đương thời. Chính vì vậy nhân vật Huyền Quangđã trở thành đối tượng miêu tả, phản ánh của nhiều sáng tác văn chương, đặc biệt là văn xuôi tự sự với những khám phá, lý giải riêng hết sức thú vị và độc đáo. Sự khác biệt đó không chỉ làm phong phú thêm hình ảnh về một vị thiền sư vốn đã quá nổi tiếng trong đời sống văn hoá trung đại mà còn là một trong những cơ sở giúp chúng ta hình dung phần nào hành trình vận động, phát triển của văn xuôi tự sự nói riêng, của văn học trung đại Việt Nam nói chung với những dịch chuyển từ tư tưởng - chủ đề đến những đặc trưng nghệ thuật, biểu hiện qua cách nhìn, cách lý giải và cách mô tả về nhân vật.
Huyền Quang xuất hiện và được giới thiệu đầu tiên trong truyện Tổ gia thực lục (thuộc thiên thứ nhất sách Tam tổ thực lục). Thoạt nhìn thì Tổ gia thực lục có vẻ như vẫn thuộc loại hình văn học chức năng. Ngay từ nhan đề tác phẩm, người viết đã chỉ rõ việc lựa chọn cách kể chuyện quen thuộc theo lối chép sử biên niên (thực lục). Dĩ nhiên bên trong hình thức “biên niên” đó tất phải chứa đựng một nội dung “nghiêm chỉnh”, thậm chí trong khuôn khổ của sự trang trọng. Đặc biệt, tính chất chức năng thể hiện rõ hơn ở cấu trúc tác phẩm, ở nguyên tắc xây dựng nhân vật cùng ý đồ tư tưởng và cảm hứng của người viết. Chẳng hạn về cấu trúc, tác giả vẫn triển khai cốt truyện dựa trên hành trạng nhân vật với ba phần rõ rệt: nguồn gốc lai lịch, quá trình tu luyện Phật pháp và viên tịch. Nhân vật vẫn được xây dựng bằng phương thức huyền thoại hoá thông qua nhiều mô típ và tình tiết đậm màu sắc hoang đường, kỳ ảo được tác giả tiếp nhận và kế thừa từ văn xuôi tự sự dân gian. Nội dung cơ bản của Tổ gia thực lục cũng vẫn xoay quanh những triết lý Phật giáo với cảm hứng bao trùm là ngợi ca, ngưỡng vọng.
3.2. Tư tưởng của huyền quang:
Tiếc rằng ta không còn đọc được những sáng tác của ông về Phật học để được biết qua tư tưởng Thiền học của ông. Trong bài thơ chùa Diên Hựu, Huyền Quang có viết những câu sau đây có thể nói là tư duy của ông về vấn đề đạt đạo:
Thành ngăn tục lụy trần không vướng
Cửa mở vô ưu mắt rộng tầm
Thấy được thị phi cùng một hướng
Ma cung, Phật quốc cũng ngồi chung
(Vạn duyên bất nhiễu, thành già tục
Bán điểm vô ưu, nhãn phóng khoan
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan).
Giới và Ðịnh là những bức thành để ngăn giữ không cho phiền não thâm nhập. Giữ tâm hồn thanh thoát không lo lắng thì tầm mắt có thể nhìn xa thấy rộng, khi tham khảo đạt được đến nền tảng chung của những cặp đối lập như thị-phi, mê-ngộ, thì cái nhìn "nhị kiến' không còn, lúc ấy không còn sự đối lập "Ma-Phật" nữa,và cảnh nào cũng là cảnh Phật, Ma cung cũng trở thành Phật quốc.
Trong bài kệ bằng chữ Nôm viết ở cuối bài Phú Vịnh Chùa Hoa Yên, Huyền Quang có hai dòng sau đây:
Biết được tính ta nên Bụt thật
Ngại chi non nước cảnh đường xa.
Ông muốn nói: nếu ý thức được tự tính giác ngộ sẵn có nơi mình thì sẽ không còn thấy con đường tu trước mắt xa thẳm nữa. Thiết tưởng từng đó cũng cho ta thấy được quan điểm Thiền học của Huyền Quang. Qua những câu trao đổi giữa Huyền Quang và Pháp Loa bên giường bệnh của Pháp Loa, ta có thể thấy những nét chính của tư tưởng Huyền Quang về vấn đề tu chứng:
1- Sống và chết chẳng qua là hai phương diện cùng một thực tại, cái mà thiền sư Lâm Tế gọi là chân nhân vô vị (con người thực không có vị trí trong không gian và thời gian). Thực tại này không vì sinh mà có, không vì diệt mà mất.
2- Nếu ai thực chứng được thực tại bất sinh bất diệt ấy nơi bản thân thì người ấy sẽ đạt đạo và thoát khỏi sinh tử, hoàn toàn tự do.
3- Chưa thực chứng được những lời tuyên bố về thực tại chỉ có tác dụng làm cho kẻ khác lầm lạc. Bản chất của Phật Giáo là sự thực chứng mà không phải là kiến thức thu thập được từ giáo điển và thầy tổ.
3.3. Huyền Quang Đệ tam Tổ và hạnh nguyện:
Đạo hạnh của Huyền Quang cao siêu nên lớp lớp đệ tử về đây tu luyện. Tấm gương và tư tưởng nhập thế của ngài khiến người đời phải khâm phục và câu chuyện Điểm Bích chính là phép thử của người đương thời đối với vị chân tu. “Huyền Quang lão tăng sao sinh ra đã sắc sắc không không, như nước không gợn sóng, gương không phủ bụi trần. Như vậy là gạt bỏ ham muốn hay không có ham muốn?”. Cũng chính là Phật như vậy nên người đời mới tạo nên huyền thoại Điểm Bích cung nữ để mãi mãi về sau đạo hạnh ấy của ngài được sáng mãi, được nhà vua thêm tôn kính phong là Tự Pháp...
Sự nghiệp và thơ văn Huyền Quang sáng láng. Có những uẩn khúc cho đến nay người hậu thế vẫn chưa lý giải hết, nhưng hội thảo khoa học là thế, hãy nói những điều còn nghi vấn, chứng minh lý giải một chi tiết về con người và sự kiện thôi cũng đã có đóng góp. Cuộc hội ngộ như một sự hoà hợp đạo - đời để nhà khoa học cùng các vị tăng ni phật tử bên nhau đàm đạo về tiền nhân, làm sáng tỏ chân lý và tôn vinh một danh nhân, một di sản. Ông Cục trưởng Cục Di sản văn hoá Đặng Văn Bài bày tỏ: “Giá trị tư tưởng đạo đức của Thiền phái Trúc Lâm đã làm nên sự trường tồn của Phật phái. Các kiến trúc Phật giáo hài hoà di sản thiên nhiên làm tôn thêm vẻ đẹp không gian nơi này. Bàn cờ Tiên, Thanh Hư động, Thạch Bàn, chỉ có thể thành di sản khi có sự hiện diện của con người. Côn Sơn là chùa và danh thắng. Chùa cũng là bảo tàng kiến trúc, nơi bảo tồn cổ vật, bảo vật... Bác Hồ từng về Côn Sơn. Người tôn vinh tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi và đã chỉ thị biến Côn Sơn thành chốn Tùng Lâm. Ngôi nhà tranh Bác nghỉ trưa năm nào, cần thiết nên tư liệu hoá để lưu lại dấu tích khi Người về chốn Tổ Trúc Lâm...”.
Sau khi trở thành "người nhà Phật", ông được ban pháp hiệu là Huyền Quang tôn giả. Ông vâng lệnh vua đi giảng kinh, thuyết giáo cho nhiều học trò trong cả nước và soạn các bản kinh Phật học để truyền bá trong dân gian. Những quyển sách ông viết từng được vua khen: “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn, khảo đính thì không thể thêm bớt được một chữ nào nữa”. Sau khi trở thành đệ tử xuất sắc của Pháp Loa, Huyền Quang được giao trụ trì chùa Vân Yên, trên dãy Yên Tử nơi phát tích dòng thiền Trúc Lâm. Sau đó, ông về trụ trì chùa Thanh Mai và chùa Hun (chùa Côn Sơn ngày nay).
Biết về Huyền Quang, nhiều người còn nhớ câu chuyện nàng Điểm Bích. Dù đi tu chưa được bao lâu song Huyền Quang đã trở thành một tôn giả lừng danh, tiếng đồn truyền tới tai triều đình. Một hôm vua Anh Tông hỏi các quan hầu cùng đạo tăng: “Huyền Quang lão sư sống như tấm gương trong không mờ bụi, thế là dồn lấp tình dục hay không có dục tình?”. Đại thần Mạc Đĩnh Chi bước ra tâu: “Vẽ hổ chỉ vẽ ngoài da, khó vẽ trong xương, xin hãy cho thử mới biết…”. Vua Anh Tông nghe theo, liền ngầm cho mời cung nhân Điểm Bích, đẹp người lại thông kinh sử đến dặn dò: “Vị tăng kia vốn giới hạnh cao nghiêm, ngươi hãy đến Yên Tử tìm hiểu cho trẫm. Nếu quả vị tăng ấy còn quyến luyến dục tình thì ngươi hãy tìm cách xin một thoi vàng về đây cho ta”. Vâng lệnh lên chùa nhưng sau khi dùng đủ mọi kế, Điểm Bích hiểu rằng, Huyền Quang là người giữ giới hạnh, khó có thể dùng sắc đẹp quyến rũ được. Tuy nhiên, vốn là người thông minh, Điểm Bích nảy ra một kế. Sáng sớm hôm sau, Điểm Bích lại tìm đến gặp sư Huyền Quang giả vờ than khóc nói là con nhà khoa bảng, cha làm quan thu thuế bị cướp sạch bạc tiền, nếu không hoàn trả, cả nhà sẽ bị tội nặng. Vốn giàu lòng từ bi, Huyền Quang lấy vàng do vua ban tặng đưa cho Điểm Bích… Sau khi có được vàng, Điểm Bích trốn về cung tâu dối với vua vu cho Huyền Quang vẫn còn dục tình. Để kiểm chứng chắc chắn vua Anh Tông liền sai mở hội Vô Già ở phía tây đô thành và sai sứ đi Yên Tử mời Huyền Quang về làm án pháp.
Tuy nhiên, trước sự chứng giám của trời đất, Huyền Quang đã chứng minh được tấm lòng trong sáng của mình khiến mọi người càng mến phục. Dù là thực hay chỉ là truyền thuyết kể lại, nhưng sự việc này chính là dấu ấn để khẳng định "chân tu" của Huyền Quang đã đạt đến độ chín muồi, đạo hạnh vang xa, người người kính trọng...
3.4. Những năm cuối của huyền quang:
Tổ Gia Thực Lục chép sau đó Huyền Quang về ở Thanh Mai tròn sáu năm, rồi về trú trì chùa Tư Phúc ở Côn Sơn, soạn in lạiChư Phẩm Kinh để lưu lại hậu thế. Ông mất ngày 23 tháng giêng năm Giáp tuất (1334) thọ 81 tuổi. Câu chuyện Thị Bích có thể không có thật, nhưng nhờ đó mà ta biết rằng tín ngưỡng về ấn quyết và trì chú trong thời đại này rất quan trọng. Chi tiết phù hợp với những điều ta biết về ảnh hưởng Mật Giáo trong Thiền đạo vào các triều đại Anh Tông và Minh Tông.
Người nối tiếp Huyền Quang là trú trì chùa Vân Yên là An Tâm quốc sư. Huyền Quang sau khi giao phận sự cho An Tâm đã về núi Thanh Mai và Côn Sơn. tại các núi này năm 1329 (cũng trong vùng Hải Dương), Pháp Loa đã lập cơ sở hoằng đạo cho giáo hội Trúc Lâm. Ở Thanh Mai sáu năm. Ông dời sang Côn Sơn, ở chùa Tư Phúc. Chùa này tục gọi là chùa Hun, được lập ra từ đời Lý, và đã được Pháp Loa mở mang. Huyền Quang đến đây tiếp tục mở mang cơ sở. Ông có xây một tòa tháp có thể xoay được, gọi là Cữu Phẩm Liên Hoa.
Huyền Quang mất ở Côn Sơn năm 1334, nhưng ta không biết ông đã lưu trú bao nhiêu năm tại đây. Vì vậy ta không biết ông rời chùa Vân Yên năm nào, và câu chuyện Thị Bích xảy ra năm nào. Ông mất ngày 23 tháng giêng năm Giáp tuất, nhưng tin ông mất về tới làng Vạn Tải ngày 24. Vì vậy dân làng Vạn Tải còn lấy ngày 24 tháng giêng làm ngày kỵ tổ. Vua Minh Tông ban hiệu cho Huyền Quang là "Trúc Lâm Ðệ Tam Ðại Tự Pháp Huyền Quang Tôn Giả". Sách Bắc Ninh Phong Thổ Tạp Kýnói rằng Huyền Quang đã đi thăm nhiều chùa, trong đó có chùa Ninh Phúc ở Bút Tháp; tại đây ông cũng đã dựng một đài "Cửu phẩm liên hoa" và cho khắc in nhiều kinh điển. "Tòa Cửu Phẩm" ở chùa Ninh Phúc là một cái tháp có thể xoay tròn được. Trong những ngày lễ lớn, tín đồ tới chùa tay xoay đài, miệng trì chú hay niệm Phật. Tháp xoay có chín từng và tám mặt. Mỗi mặt của tầng dưới hết chạm nổi hình ảnh sự tích Phật, trong dó có hình cực lạc thế giới và đức Phật A Di Ðà. Tòa Cửu Phẩm tại chùa Côn Sơn chắc cũng tương tự như vậy.
Hình ảnh chiếc tháp xoay này cho ta thấy, một lần nữa, ảnh hưởng của Mật Giáo - Mật Giáo từ Tây Tạng truyền đến.
Vua Minh tông cúng dường mười lạng vàng để xây tháp cho Huyền Quang phía sau chùa Côn Sơn. Vua cũng ban ruộng cho chùa để tổ chức kỵ giỗ hàng năm cho ông, kể cả các nơi cúng dường là 150 mẫu năm sào.
4. Tư tưởng Phật giáo làm nên một giai đoạn văn học trầm hùng:
Đối với các thiền sư đời Lý-Trần nói riêng cũng như phương Đông nói chung có lẽ không có ý niệm "sáng tác văn chương", mà thi kệ, văn, phú chỉ là sự thăng hoa trong cảm xúc giải thoát khỏi các phiền trược, những sát na hoát nhiên đại ngộ, hoặc để chuyển tải những điều mà họ muốn khai thị cho đệ tử. Người ta thường nói "Văn là người", điều này càng đúng hơn với các tác giả là các thiền sư thời đó. Nói như thế không có nghĩa là tác phẩm văn học cảm hứng tư tưởng Phật giáo, tác giả chủ yếu là các thiền sư ít giá trị nghệ thuật, mà ngược lại, rất đặc sắc về mọi phương diện. Nghiên cứu đặc điểm văn học giai đoạn đặc biệt này. Một vài tác phẩm của thời đại Lý - Trần đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở hệ phổ thông trung học và đại học, điều đó thật đáng mừng. Tuy nhiên, những dẫn giải về các tác phẩm đó, cũng như lý giải những câu hỏi thời đại, có thể nói còn quá chung chung. Chúng ta mong muốn với chủ trương tìm về cội nguồn bản sắc dân tộc, chúng ta cần có những cuộc hội thảo được phối hợp như thế này, nhằm có sự bổ sung giữa Phật giáo và các ngành khoa học khác, để có được cách tiếp cận chính xác, gần gũi hơn với di sản của tiền nhân, với quá khứ dân tộc để nhằm phát huy các giá trị tư tưởng thẩm mỹ qua văn học, đặc biệt là văn học Phật giáo hoặc ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo vào đời sống thực tiễn hôm nay, để có thể thừa kế và phát huy các giá trị tư tưởng truyền thống nhằm xây dựng cuộc sống hiện tại và tương lai tốt đẹp hơn. Bởi cuối cùng, tất cả mọi lĩnh vực khoa học, trong đó có văn học đều hướng đến mục tiêu cứu cánh là xây dựng nhân cách của con người, để con người có một tư tưởng sống và hành động sống hiền, đẹp.
5. Tinh thần nhập thế của các vị Thiền Sư thời Lý –Trần:
Có thể nói tinh thần của các vị Thiền sư trong thời Lý –Trần là một hành động tích cực . Nhập thế mà không trụ thế. Hình ảnh con người có thể dung nạp được mình để hòa đồng và vuii vẻ suốt ngày với thiên nhiên là hình ảnh con người mang khát vọng hòa nhập và chế ngự thiên nhiên được thể hiện qua lời thơ thoát phàm bay bổng:”còn một tiếng kêu vang, lạnh cả trời” . Có thể là một tiếng reo của một người chứng ngộ, thoát khỏi cảnh giới trần thế. Cái kêu vang lạnh ấy phải chăng là tiếng kêu sảng khoái của một tâm hồn khoáng đạt với tư tưởng phá chấp triệt để và với một tinh thần thoái mái tột cùng, chứ không phải là một người suốt ngày cứ câu nệ vaò tín điều một cách cứng ngắc, khô khan. Tiếng kêu đó chính là sự trực cảm tâm linh, là trạng thái chứng ngộ của các Thiền sư. Sự nhập thế tích cực của các Thiền sư thời Lý – Trần đã đưa Phật giáo đến đỉnh cao của sự phồn vinh. Các nhà sư là những Thiền Sư đã chiếm một vị trí quan trọng trên chính trường và trên nhiều lĩnh vực khác. Nền văn học Việt Nam trong giai đoạn này là những kho tàng quý báu. Những áng văn thơ của các Thiền sư đã mở ra một cách nhìn mới mẻ, một không khí lạc quan , yêu đời. Những áng văn, thơ của các Thiền Sư đã mang đầy chất liệu sống, bởi các Ngài đã hiện hữu trong cuộc sống bằng tuệ đúc và trả về cho chính bản thân cuộc sống bằng sự từ bi. Thơ văn của các vị Thiền Sư mang chất liệu Phật hoá đã len lõi và thấm sâu vào tâm thức của đông đảo quần chúng nhân dân. Phong cách của các Ngài luôn thể hiện bằng sự ung dung, tự tại. Vì thế nên những áng văn của các Ngài rất sinh động nội dung phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.
6. Ảnh hưởng của phật giáo trong văn học việt nam:
những trang sử oai hùng với nhiều thành quả bảo vệ đất nước một cách thần kỳ. Đặc biệt, giới Phật giáo cũng góp phần đáng kể qua những tác phẩm văn thơ, làm sáng danh nền văn học Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn khá dài.
Phật giáo Trúc Lâm thể hiện rõ nét sinh hoạt nhập thế, phục vụ tích cực cho đời sống xã hội tốt đẹp cũng như đời sống tâm linh thăng hoa tuyệt đỉnh. Với tinh thần bao dung và uyển chuyển hài hòa của văn hóa đời Trần, Phật giáo đã là chất keo gắn bó tốt đẹp giúp vua quan và dân chúng đồng tâm hợp sức trong việc chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước. Văn học đời Trần thật rực rỡ, thể hiện nét đẹp của tinh thần hòa đồng và sự thanh cao giải thoát của đạo Phật. Tinh thần ấy dĩ nhiên không phải là sự yếu đuối, chán đời mà trái lại, nó đã song hành với tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường và bảo vệ sắc thái của người dân Việt.
Nhận thấy rõ điều ấy, nên đầu thế kỷ XV, nhà Minh đã quyết liệt tiêu hủy nền tảng văn hóa mà Phật giáo đời Trần đã xây dựng trong suốt gần 150 năm. Họ đã tìm tòi, thu nhặt tất cả sách vở cổ kim, trong đó có nhiều sáng tác của Phật giáo, đem thiêu hủy hoặc chở về Trung Hoa.
Văn học chữ Nôm được hình thành trong thời Trần. Những tác phẩm chữ Nôm của Trúc Lâm Điều Ngự và Huyền Quang còn được lưu truyền. Như đã nói, văn học đời Trần chịu ảnh hưởng sâu đậm tinh thần cởi mở, dung hợp của Phật giáo. Vì thế, giới sĩ phu không theo Phật giáo cũng được trọng dụng. Điều này đã là tác nhân giúp cho văn học đời Trần phong phú, rực sáng, nhiều nét đẹp . Về thi ca đời Trần, chúng ta thấy rõ sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiền học, diễn tả sự diễn tiến của mọi việc với tâm định tĩnh tuyệt vời, thể hiện cái thấy biết sâu xa của người thâm nhập thiền quán.
Thi phú bằng chữ Nôm có mặt rất sớm trong chốn thiền môn. Điển hình là hai tác phẩm Nôm là Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca của Trúc Lâm Điều Ngự. Và Tổ Huyền Quang cũng đã để lại bài phú Vịnh Vân Yên tự.
các vị thiền sư, các vị minh vương, cùng nhiều Phật tử hoặc những người có cảm tình với Phật giáo từ thời kỳ dựng nước cho đến thế kỷ XVIII, XIX, đã sáng tác rất nhiều tác phẩm thi ca chữ Hán, chữ Nôm chuyển tải nhiều mảng đề tài liên quan đến tư tưởng Phật giáo, hay cảnh đẹp của thiền môn, hoặc nếp sống thanh cao của người tu Phật, v.v... Tất cả đã đặt nền móng cho văn học Việt Nam cũng như làm phong phú thêm sự nghiệp văn chương của người dân Việt chúng ta. Và những tác phẩm thi ca được tiếp nối hiện hữu qua chiều dài lịch sử khá lâu, tạo thành những giá trị rất riêng của văn học Việt Nam. Đồng thời, tất cả những bài thi ca mang đậm nét Phật giáo đều toát lên giá trị triết lý sống một cách tốt đẹp cho mọi người, cho những ai muốn thăng hoa theo con đường chân thiện mỹ mà Đức Phật chỉ dạy trong đời sống thực tại này. Chúng ta tự hào rằng nhiều nét sáng đẹp của Phật giáo Việt Nam đã được ngời sáng trong văn học Việt Nam.
III. KẾT LUẬN:
Các sáng tác thơ của Huyền Quang phản ánh rất rõ hiện trạng của đời sống tinh thần tầng lớp trí thức, của các quan niệm thẩm mỹ, các thể tài văn học, giai đoạn giữa và cuối Trần. Nó đánh dấu sự bắt đầu quá trình chuyển giao giữa hai thời đại, thời đại Phật giáo sang thời đại Nho giáo, giữa văn chương Phật giáo và văn chương Nho giáo thế tục. Những tác gia văn học xuất hiện trong khoảng thời gian này vừa mang những đặc trưng của văn chương Phật giáo đờiTrần, vừa nảy nở những đặc điểm, những cảm xúc, những khuynh hướng và những đặc trưng thẩm mỹ của văn học nhà Nho. Đồng thời lạicũng có rất đậm tinh thần của Lão Trang chen vào. Các yếu tố này cùng đan xen, tới mức thật khó có thể phân cắt chúng đâu là Nho đâu là Thiền, đâu là Đạo. Khi chúng cùng tồn tại trong một tinh thần của chủ thể, có lúc nó thể hiện ra bằng một hình tượng bao chứa tất cả, nhưng cũng tùy thời tùy cảnh nó thể hiện ra có thiên về phía này hay đậm về phía khác. Cũng dễ nhận ra là cả ba đặc điểm của văn chương tính theo Tam giáo dung hợp trong một hiện tượng văn học thì đương nhiên chúng không còn ở trạng thái tiêu biểu đặc trưng của mỗi loại.
Nhìn từ phương diện tư duy nghệ thuật và hình thức thể hiện, Huyền Quang không còn dùng những bài kệ để thuyết giáo như các thiền sư đời Lý, cũng không có những bài thơ đầy Thiền ngữ hoặc triết lý Thiền như Tuệ trung Thượng sĩ hay Trần Nhân Tông. Chất Thiền bàng bạc còn lại của ông thể hiện chủ yếu ở cái thiền thú, thiền cảnh. Yếu tố trữ tình trong thơ ông đã rất tiêu biểu, rất đậm nét. Những bài thơ đề vịnh hoa cúc của ông cho thấy loại hình thơ ngôn chí, cảm hoài theo phong cách nhà nho đã được ông vận dụng khá phổ biến. Loại thơ ngôn chí đề vịnh được ông dùng chuyển tải, thể hiện mỹ cảnh của cả Thiền- Đạo - Nho.
Sự tích hợp Tam giáo trong một con người đương nhiên sẽ không diễn ra mâu thuẫn. Trong từng cảnh huống khác nhau, nó sẽ thể hiện thiên về một phía nào đó. Xét về thể thì nó chiết chung không cực đoan về phía nào để cùng tồn tại. Xét về dụng thì tùy thời tùy cảnh tùy tình mà thể hiện thiên về một hướng nào đó. Có lúc tâm thanh tĩnh thể hiện ra bằng hình tượng siêu trần thoát tục, tự tại. Có lúc thể hiện bằng cái tâm tự ngã ý thức, tự ngã hoàn thiện, tự ngã tự tôn... theo cách của Nho gia. Xu hướng chung rõ ràng là yếu tố Nho gia lớn dần và là xu hướng vận động của thời đại. Sự chuyển giao mô hình tác gia văn học từ quý tộc thiền sư sang kẻ sĩ Nho học là xu hướng không phải chỉ do sự phán đoán dựa trên thân phận và ứng xử xã hội, mà trước hết nhìn thấy từ chính các góc độ tư duy nghệ thuật và góc độ thẩm mỹ của văn chương.
Nhiều người cùng cảm nhận thấy thơ của Huyền Quang bao chứa những nỗi buồn bàng bạc và có người cho rằng đó là những băn khoăn, phân vân giằng xé, mâu thuẫn đầy uẩn khúc và tóm lại là những niềm xao động trước cuộc đời. Người viết bài này không hẳn tán thành cách lý giải và đánh giá đó. Không thấy chỗ nào là giằng xé, uẩn khúc trong cõi lòng tác giả cả. Nó chỉ ở mức độ thoảng một nỗi buồn. Cái buồn bàng bạc trong thơ. Có lẽ đó chỉ là sự gia tăng yếu tố thực tại, những tình cảm chân thực tràn ngập nhân tình nhân tính chứa đầy trong thơ. Cõi thẩm mỹ và thế giới thi ca của nhà Nho thể hiện nhiều hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với sự bộc lộ nhiều hơn cái ưu thời, cảm thời, cảm khái, dễ xúc động. Tâm ông là tâm đa cảm, đem cái tâm đó để thể hiện Thiền tứ Thiền ý, chứ không phải tâm không vô sắc tướng. Ông cũng đi tìm sự thanh tĩnh trong đời, nhưng âm thanh của cuộc sống vang vọng đầy trong thơ ông. Những âm thanh của cuộc sống trong thơ có lúc như đợt sóng triều lấn lướt tràn qua tâm Thiền, nhưng cũng có lúc những âm thanh cuộc sống thực đó bị đẩy xa, chỉ còn lại cái trong trẻo thanh lắng. Cái buồn trong thơ ông chỉ ở mức đó mà thôi.
Sự đan xen các đặc trưng thẩm mỹ trong thơ của Huyền Quang với xu hướng gia tăng yếu tố thực tại, yếu tố trữ tình, yếu tố triết lý, ngôn chí, cảm hoài đánh dấu sự gia tăng dần những đặc tính của văn học nhà Nho và sự chuyển biến những đặc tính và cách thể hiện của văn học Phật giáo. Sự xuất hiện của văn chương nhà Nho không phải đợi tới khi có tầng lớp Nho sĩ đông đảo thế kỷ XV, nó đã thấp thoáng trong thơ của Trần Nhân Tông và đã đậm ở Huyền Quang. Sự nghiệp văn học của Huyền Quang có vai trò như một dấu chuyển quan trọng giữa hai thời đại văn học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Lê Mạnh Thát, LSPGVN Tập 3, Nxb Tp.HCM 2002.
2. Nguyễn Đăng Thục, Khoá Hư Lục, Nxb Khuông Việt 1972.
3. Nguyễn Đăng Thục, Thiền Học Trần Thái Tông, Nxb VHTT 1996.
4. Nguyễn Đăng Thục, Thiền Học Việt Nam, Nxb Th 1966.
5. HT.Thích Minh Tuệ, Lược Sử Phật Giáo Việt Nam, Thpg Tp.HCM ấn hành 1993.
6. Nhiều tác giả, Thiền Học Đời Trần, Nxb Hà Nội 2002.
7. Nhiều Tác Giả, Thiền Học Đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992.
8. Nhiều tác giả, Trần Nhân Tông Vị Vua Phật Việt Nam, THPG Tp.HCM ấn hành 2004.
9. Ngô Tất Tố, Văn Học Đời Lý, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1960.
10. HT.Thích Thiện Siêu, Phật ở Trong Lòng, Nxb Tôn Giáo 2003.
11. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KHXH, Hà Nội 1985.
12. Viện Sử Học, Nguyễn Trãi Toàn Tập, Nxb KHXH, Hà Nội 1969.
13. HT.Tuyên Hoá, Kinh Kim Cương, tài liệu giảng dạy HVPGVN tại Tp.HCM Khoá V.
14. Viện Sử Học, Thơ Văn Lý Trần Tập 2, Nxb KHXH Hà Nội 1989.
15. Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên Thiền Sư Toàn Tập, tủ thư Vạn Hạnh 1979.
16. Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam, tủ sách Đại học KHXH&NV 1997.
17. Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam. Đại Học Tổng Hợp Tp.HCM 1992.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét