THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN MỤC LỤC Trang I. DẪN NHẬP:…………………………………………………………..3 II. NỘI DUNG:…………………………………………………………..5 1. Vai Trò Của Tôn Giáo Trong Sinh Hoạt Chính Trị:.……………….5 2. Sự quan hệ tôn giáo và chính trị:…………………………………….5 3. Học thuyết chính trị trong truyền thống Phật Giáo:………………...6 4. 4. Sự Phân Tầng Xã Hội:…………………………………………….8 5. Chính trị và tôn giáo đều phải vì dân và do dân:……………………9 6. Tính xã hội - văn hóa của tôn giáo:………………………………….10 7. Về Tôn giáo cũng không ngoại lệ:……………………………………11 8. Đức Phật đối với chính trị:……………………………………………11 9. Đấu tranh tư tưởng phân chi chính mình:…………………………….13 10. Phật giáo và tư tưởng tự do:…………………………………………...14 11. Một tôn giáo tự do và lý trí:…………………………….……………..15 12. Sự đối thoại giữa Phật giáo và phúc lợi xã hội:….……………….16 12.1. Xã hội sung túc về vật chất:…………………………………….16 12.2. Những thay đổi đã nảy sinh nhiều vấn đề mới làm uy hiếp cuộc sống:…………………………………………16 12.3. Đoàn kết tôn giáo trong đại đoàn kết dân tộc:………………..17 13.Tôn giáo và ba đặc tính:.………………………………………………18 14. Vấn-đề hôm nay:............................................................................19 15. Tại sao không có hòa bình?:..........................................................20 16. Sự cường thịnh của một quốc gia:………………………………….21 III. KẾT LUẬN:………………………………………………………..24 MỤC LỤC:………………………………………………………………26 SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA TÔN GIÁO VÀ CHÍNH TRỊ I. DẪN NHẬP: Đức tin là một yếu tố quan trọng nhất trong những yếu tố cấu thành xã hội tính của con người. Nhờ xã hội tính mà các quốc gia hay các liên bang thực hiện được sự đoàn kết để thống nhất ý chí và tạo nên thế trung hòa giữa các khối trên thế giới. Không ai không công nhận tính chất trọng yếu của tôn giáo trong hiện tình chính trị cũng như trong lịch sử chính trị, và dù có sự phân định rõ rệt giữa giáo quyền và chính quyền, người ta cũng thấy vai trò quan trọng của hàm số tôn giáo trong bài toán chính trị. Thực ra, ba thứ tôn giáo, triết học và khoa học đều có nguồn gốc riêng và lịch trình diễn biến riêng, và cả ba đều là những biểu hiện cụ thể cho tư tưởng nhân loại. Vào thời cổ đại, tuy không khí tôn giáo bao trùm mọi sinh hoạt nhưng tư tưởng tôn giáo vẫn còn non nớt, và ta không thể không công nhận sự hiện diện của một ít suy luận triết học tuy cũng rất ấu trĩ. Khoa học lúc này cũng đã được khởi đầu trong những hình thái đơn giản nhất. Điều này có thể nhận thức qua ý hướng tìm kiếm và sáng tạo những khí cụ và vật dụng cần cho sinh hoạt hằng ngày. Lợi dụng sức nước để giã gạo, phát sinh ra lửa để nấu nướng v.v… đó là những thành tích ban đầu của khoa học. Không có thời kỳ ấu trĩ thô vụng thì làm gì có thời kỳ trưởng thành tinh xảo? Đối tượng của tôn giáo là con người mà đối tượng của chính trị cũng là con người, và dù con người tinh thần hay con người vật chất cũng là con người, cũng là những khía cạnh liên hệ nhau của con người. Như thế làm sao tôn giáo và chính trị không có những tương quan cho được. Điều ta có thể nói là trong khi chính trị dùng những quyền hành quân sự thì tôn giáo dùng những quyền hành tinh thần và tình cảm; trong khi chính trị dùng những phương tiện luật pháp thì tôn giáo dùng những phương tiện đạo đức. Một bên là pháp trị và một bên là đức trị. Nếu có sự áp dụng đức trị thêm vào trong mặt pháp trị tức là có sự sử dụng tinh thần tôn giáo đạo đức trong phạm vi chính trị. Trong phạm vi tôn giáo nhất là trong những tôn giáo mà giáo quyền quyết định mọi sự áp dụng pháp trị. Và như thế phương pháp của chính trị được áp dụng ít nhiều trong phạm vi tôn giáo. Đáng lý ra, theo ước muốn của con người, tôn giáo chỉ được thuần túy dựng trên đức trị. Ta cũng nên hiểu tôn giáo như những lực lượng văn hóa mà trung tâm là một ý thức hệ. Tôn giáo cũng như chính trị, nhắm đến đối tượng con người và đến sự thực hiện thế giới lý tưởng của con người, hoặc ngay trên trái đất này, hoặc ở một thiên đường ngoài trái đất này II. NỘI DUNG: 1. Vai Trò Của Tôn Giáo Trong Sinh Hoạt Chính Trị: Đời sống mỗi người có ba lãnh vực riêng biệt: thể chất, cảm xúc và tâm linh. Mỗi lãnh vực có nhu cầu riêng cần thỏa mãn. Chính lãnh vực tâm linh là đối tượng của hoạt động tôn giáo. Những nhu cầu trong lãnh vực này không thể được thỏa mãn bằng tiền bạc, vật chất, hay bằng liên hệ tình cảm đơn thuần giữa người với người. Các thể chế chính trị có thể mai một, biến mất theo thời gian. Tôn giáo, trái lại, sẽ mãi mãi trường kỳ bao lâu còn có con người trên trái đất, dưới hình thức này hay hình thức khác. Cho nên càng bị áp bức, đe dọa, đè nén, tôn giáo càng có thêm sức sống. Chính cuộc sống tâm linh giúp con người trở về căn tính đích thực của mình, tìm thấy được ý nghĩa của đời sống. Mọi khát vọng về nhân phẩm, nhân quyền, tự do… đều bắt nguồn từ chiều kích tâm linh của con người tôn giáo. Do sự nhầm lẫn, không phân biệt rõ hai vấn đề “Chính Trị và Tôn Giáo” với “Chính Quyền và Giáo Hội”, nhiều người đã vội khẳng định tôn giáo không thể có chỗ đứng trong sinh hoạt chính trị. Nếu mục tiêu của chính trị là thăng tiến, làm xã hội trở nên tốt lành hơn thì chính trị cần phải có tôn giáo, cần có sự trợ giúp của tôn giáo. Tôn giáo không phải là một đe dọa cho nền dân chủ như nhiều người lo sợ. Trái lại, tôn giáo đóng góp rất nhiều trong quá khứ, hiện tại và tương lai cái nhìn đích thực về con người trên các diễn đàn công cộng về những vấn đề xã hội, chính trị như tự do, nhân quyền, tình trạng nghèo đói trên thế giới, bảo vệ môi sinh, thảm họa của các chế độ độc tài, chiến tranh và hòa bình… Các vấn đề xã hội liên quan đến cuộc sống con người cần được nhìn toàn diện từ các góc cạnh khác nhau để có giải pháp thỏa đáng. 2. Sự quan hệ tôn giáo và chính trị: Vậy tương quan giữa chính trị và tôn giáo, nói rõ hơn vai trò của tôn giáo đối với sinh hoạt chính trị thật rõ ràng. Tôn giáo không thể đứng trên, đứng dưới hay đứng ngoài những hoạt động chính trị, nhưng đóng góp tích cực bằng cái nhìn thánh thiên phù hợp với phẩm giá con người. * Khi đứng trên , tức cầm quyền lãnh đạo chính trị, tôn giáo quay lại vị thế thời cổ xưa, dùng thần quyền tạo sự tùng phục, áp đặt giáo lý, tín điều của một tôn giáo cho tất cả mọi người, vi phạm sự tách rời giữa hai định chế “Giáo Hội và Chính Quyền”. * Đứng dưới sự lãnh đạo chính trị, tôn giáo trở thành công cụ, phương tiện cai trị, cái loa của những người cầm quyền, không còn làm đúng chức năng của mình. Điều này thường xảy ra ở các quốc gia cộng sản trước nay dưới hình thức “giáo hội quốc doanh,” “giáo hội yêu nước.” * Tôn giáo cũng không thể đứng bên lề làm khách bàng quang đứng nhìn, mặc thế sự thăng trầm nổi trôi như những kẻ ẩn tu vô trách nhiệm. Tôn giáo có trách nhiệm đóng góp, làm tốt đẹp xã hội đang sống, chữa lành những vết thương đau của tâm hồn. Ở các quốc gia nghèo đói, chậm tiến, nhất là dưới các chế độ độc tài toàn trị, áp bức, bất nhân, không có đảng phái chính trị đối lập tranh đấu hữu hiệu cho quyền lợi của quần chúng nhân dân, tôn giáo có vai trò tích cực, rộng lớn trong việc tranh đấu cho công bằng xã hội, tự do dân chủ, nhân phẩm con người. Tôn giáo là tiếng nói duy nhất, là niềm hy vọng sau cùng của người dân bất hạnh bị đàn áp, bóc lột, hà hiếp. Quần chúng có niềm tin mãnh liệt nơi các nhà lãnh đạo tinh thần. Họ nghĩ những người này không tham quyền cố vị; đi tu thì không còn ham muốn của cải vật chất thế gian nên không phản bội họ như các chính trị gia chuyên nghiệp lành nghề, hứa nhiều làm ít. Người dân bị áp bức, bóc lột, khống chế chỉ còn biết tin tưởng, kỳ vọng nơi những người lãnh đạo tinh thần nói lên những bất công mình phải gánh chịu, nạn cường hào ác bá, sự vi phạm những quyền căn bản của con người như tự do đi lại, tự do cư trú, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng... nghĩa là những quyền giúp con người sống ra con người. Do đó, các chế độ độc tài toàn trị luôn luôn sợ ảnh hưởng của tôn giáo đối với quần chúng, và hù dọa bằng thuật ngữ “tôn giáo không làm chính trị” để rào chận những người lãnh đạo tôn giáo muốn làm nhiệm vụ tốt đời, đẹp đạo của mình. 3. Học thuyết chính trị trong truyền thống Phật Giáo: Trong kinh Đại Niết Bàn, chúng ta có thể tìm thấy những điểm cần thiết và cơ bản trong việc thành lập tư tưởng chính trị của Phật giáo. Đức Phật đã dạy bảy pháp bất thối này cho các vị vương xứ cộng hòa Licchavī, Ấn Độ, nếu duy trì và giảng dạy cho dân chúng bảy pháp bất thối này thì đất nước sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Đức Phật đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những quy tắc này và nói rằng, nếu một quốc gia thực hành và duy trì bảy pháp bất thối này, sự tiến bộ là điều chắc chắn, chính phủ dựa vào sự tin tưởng của nhân dân thì sẽ không bao giờ hư hỏng. Các pháp bất thối này làm cho vững chắc khối đại đoàn kết và tăng cường niềm tin của dân chúng. Đức Phật sau đó cũng đã giảng bảy pháp bất thối này cho Tăng chúng làm nền tảng để Tăng đoàn được hưng thịnh. Pháp bất thối đầu tiên là tổ chức hội họp thường xuyên. Những cuộc họp thường xuyên này nhằm mục đích đề ra các quyết định, đặc biệt là các quyết sách về chính trị. Thời đó, có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy vị vương xứ Licchavī, những vị vương trong chính thể cộng hòa này đại diện cho nhân dân trong khu vực mình quản lý. Họ tổ chức các cuộc họp thường xuyên thì ắt hẳn họ là những người đại diện cho nhân dân mình. Tuy nhiên, trong trường hợp các vị vương này, chúng ta không có bất kỳ bằng chứng liệu rằng họ có được bầu lên hay được đặt vào vị trí ấy theo kiểu truyền ngôi. Có lẽ địa vị gia đình của mình trong xã hội nên họ đã được đề cử như là những người đại diện cho dân. Truy nguyên trong các kinh điển khác nhau trong văn học Phật giáo, chúng ta sẽ thấy rõ lợi ích to lớn của việc một vị lãnh đạo được suy cử bởi dân chúng. Ý kiến của công chúng luôn cần thiết trong việc bầu chọn người đứng đầu nhà nước cũng như trong quá trình điều hành đất nước. Xe báu cõi trời tượng trưng cho ý kiến cộng đồng. Khi một nhà lãnh đạo cai trị đất nước theo luật pháp thì xe báu cõi trời hiện diện rõ ràng không mất(4). Năm điều sau đây đại diện cho sự mong ước và khát khao của dân chúng đối với vị lãnh đạo đất nước: 1. Xe báu cõi trời là biểu tượng của tiếng nói và ước muốn của nhân dân. 2. Khi một nhà lãnh đạo hay những người cai trị đất nước không còn quan tâm đến dư luận quần chúng thì xe báu cõi trời tự động mất đi tượng trưng cho việc chính quyền mất đi sự ủng hộ của nhân dân. 3. Nhân dân, chính họ trông chừng xe báu cõi trời, và bất cứ khi nào một nhà lãnh đạo hay những người cai trị có những hành động chống lại lợi ích của công chúng, họ sẽ phản ứng ngay lập tức để nói lên sự bất mãn của mình. Có nhiều cách để biểu lộ sự phản ứng đối với nhà cầm quyền khi luật pháp quốc gia bị coi thường. 4. Vị lãnh đạo đất nước không thể không nghe ý kiến của nhân dân. 5. Vị lãnh đạo có thể bị phế truất bằng những cách không gây ra bất kỳ sự tổn thương nào đối với địa vị của họ trong đời sống. Thông thường, các vị lãnh đạo sau khi thoái vị vào rừng hay những nơi xa xôi để hưởng một cuộc sống yên tĩnh, ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Kết quả của sự thoái vị này, ông ta thường mất hết sự kính trọng và tôn thờ như khi còn đương quyền. Trái lại, một vị ẩn sĩ tu hành, được dân chúng kính trọng có thể được mời để điều hành đất nước. Và khi, không thỏa mãn được yêu cầu của nhân dân, vị lãnh đạo ấy có thể từ bỏ ngai vàng một cách nhân từ, trở về núi tu hành mà không gây ra bất kỳ sự đau khổ nào cho nhân loại. 4. Sự Phân Tầng Xã Hội: Tư tưởng Phật giáo tìm cách thông hiểu các ảnh hưởng này, những thứ đã tạo thành một hệ thống phân tầng riêng biệt. Chính vô minh của con người là nguyên nhân chủ yếu gây cho xã hội phân chia thành nhiều tầng lớp khác nhau hoặc chỉ dựa vào sự gán ép hoặc dựa vào thành quả. Phương pháp của Phật giáo nhằm thông hiểu nền tảng của vô minh này và nhận thức được sự vô ích của lối phân chia tầng thứ trong xã hội loài người. Đôi khi tư tưởng Phật giáo cung cố gắng tìm hiểu con người trong một xã hội bằng cách phân chia con người thành cấp bậc dựa vào phẩm chất đạo đức bên trong của họ. Theo Phật giáo, trạng thái phát triển bên trong sẽ cung cấp một phương pháp tốt hơn để phân loại con người thành ra nhiều tầng lớp khác nhau, nếu hệ thống phân chia như vậy có chút ít gì cần thiết. Ta có thể tìm thấy sự giải thích hợp lý cũng như một nền tảng luân lý, đạo đức nằm trong sự phân chia như vậy, trong khi đó ta không thể tìm thấy một sự tiến trình giải thích hợp lý nào hoặc nền tảng đạo đức nào trong lối phân chia xã hội dựa vào giai cấp, thành phần hay chủng tộc. Thay vì phân chia giai cấp, đức Phật đã đóng góp tư tưởng của Ngài vào sự giảng giải về việc sắp xếp vai trò và địa vị của một người dựa vào phẩm chất đạo đức bên trong. Ngài đã lên án thái độ của một vài vị Tỳ-kheo trong giáo đoàn, khi những vị này bắt đầu sử dụng ảnh hưởng, ý thức về dòng dõi và gia tộc của mình. Những vị này tin rằng chỗ ở tốt nhất và thực phẩm tốt nhất, v.v… sẽ phù hợp cho những vị thuộc tầng lớp quý tộc, đó là giai cấp Bà-la-môn, Sát-đế-lợi. Trong khi đó đức Phật dạy: "Trong giáo pháp ta dạy, tiêu chuẩn ưu tiên trong vấn đề chỗ ở và những thứ đại loại như vậy sẽ được bố trí không phải cho người thuộc dòng dõi quý tộc hoặc là một vị Bà-la-môn hoặc là người giàu có trước khi gia nhập giáo đoàn". Giai cấp rất thịnh hành ở Ấn Độ từ thời rất xa xưa. Trong thời đức Phật, giai cấp là một nguyên tắc căn bản trong đời sống xã hội của người Ấn Độ. Một người được phân định thuộc về giai cấp nào trong xã hội hoàn toàn do dòng giỏi và sự xuất thân của y. Không có một hoàn cảnh nào có thể thay đổi được giai cấp này trong suốt cuộc đời của người ấy. Sự đóng góp của đức Phật vào bối cảnh Ấn Độ rất đáng kể. Ngài chủ trương sự kiện có thể thay đổi giai cấp của một người. Ngài đã thực hiện tư tưởng này bằng cách chấp nhận tất cả mọi người từ mọi giai cấp, dù được coi là cao hay thấp, gia nhập vào Tăng đoàn của Ngài. 5. Chính trị và tôn giáo đều phải vì dân và do dân: Học thuyết Max Lê-nin ra đời và phát triển mạnh mẽ chính là đã tổng kết được quy luật của phát triển xã hội, đó là quan hệ sản xuất quyết định lực lượng sản xuất và khi quan hệ sản xuất phù hợp, cởi trói cho lực lượng sản xuất được tự do thì sẽ có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế và mọi mặt của xã hội phát triển. Còn ngược lại khi quan hệ sản xuất kìm hãm lực lượng sẩn xuất thì đi dẫn đến mâu thuẫn, nó kìm hãm lực lượng sản xuất và phát triển xã hội và nếu không có sự thay đổi cho phù hợp thì khi vị dồn nén, nó nhất định sẽ bị lực lượng sản xuất nổi dậy thay đổi nó. Như thế, lược lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất. Đây là bài học cơ bản nhất, đầu đời và luôn được ghi là nòng cốt của giáo lý chủ nghĩa cộng sản mà bất kỳ người Đảng cộng sản nào cũng phải ghi nhớ để thực hành. Các tôn giáo cũng không ngoại lệ, nó cũng như các nhà nước mục đích cứu cánh vẫn chính là phải phục vụ lợi ích của đa số tầng lóp nhân dân nếu muốn được nhân dân ủng hộ. Một tôn giáo hay một nhà nước nào đúng với nghĩa “vì dân, do dân” thì đều là chân chính, còn nếu đi ngược lại nó thì là giả tạo. như cha ông ta nói: “Dân là người chở thuyền, dân cũng là người lật thuyền”. Cha ông ta xưa nhiều triều đại đã hưng thịnh là đỉnh cao xã hội một thời đó là các thời vua Đinh, Lý, Trần, Lê v.v… vì các vị vua lúc đó anh minh, biết lấy phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước làm trọng. Hòa bình thì kinh tế phồn vinh, chiến tranh thì huy động được sức dân để đánh thắng giặc ngoại xâm. Thăng long ngày đó huy hoàng một cõi là vì thế. Rồi chế độ này lần lượt đổ cũng là vì đã xa dời dân, chỉ biết chăm lo vun vén lợi ích cá nhân, đạo đức suy đồi v.v…nên bị lật đổ để rồi một nhà nước khác lại ra đời. 6. Tính xã hội - văn hóa của tôn giáo: Đào xuống các lớp đất tiền sử, chỗ mà chúng ta bắt đầu gặp các công cụ thô sơ, chỗ ấy chúng ta cũng gặp luôn dấu vết của tín ngưỡng, như chiếc rìu đá nhỏ xíu khoen lỗ để đeo làm bùa, hình con gấu, vẽ bị xiên đâm để yểm, hay sọ người nạo rửa kỹ để làm thần canh gác v.v… Xem như thế, gần như vừa trồi lên khỏi cõi u minh nguyên thuỷ của thú, con người đã sáng tạo quỷ thần ngay. Từ tín ngưỡng hay tôn giáo mà xuất phát những giải đáp thần thoại hay thần học cho các hiện tượng thiên nhiên, cho các biến chuyển cuộc sống, cho các thiết chế xã hội cùng với hội hè và nghi lẽ kèm theo, mà kết quả là không gian và thời gian được quy hoạch trong một trật tự siêu thế. Có thể nói, đối với người bán khai hay thái cổ, cũng như với người sùng đạo hôm nay, hết thảy những gì có đó hay xảy ra xung quanh đều mang ý nghĩa khi mà cái thần thiêng bao phủ hết cuộc sống, cá nhân cũng như xã hội: “Cái giáo tính không đóng khung trong một cầu trường nhất định, mà pha vào mọi hoạt động nhân văn, thấm nhiễm nhiều hay ít những hoạt động ấy bằng một hương vị tôn giáo nào đó”. Nhất là vào những “thời mạnh” của cuộc sống tập thể, như lễ tế thần bộ lạc trong năm hay lễ xuất quân cho một cuộc chiến. Vâng, tôn giáo ở đỉnh cao của nó thì mất dần tính đại chúng, thậm chí tách ra khỏi trần tục, nghĩa là xã hội. Thế nhưng chính những con người thật bỏ đời ấy lại được đời ngưỡng mộ và tìm đến, kịp khi họ chết rồi thì xây bửu tháp để nhớ, lập đền để thờ. Thật ra, Đức Phật chỉ thiết lập thứ tôn giáo ẩn tu, của những người đi tìm giải thoát nơi thâm sơn cùng cốc, như dấu tích các hang động Ajanta và Ellura cho thấy, nhưng rồi thiện nam tín nữ đã đua nhau tìm đến xin các tỳ khưu hướng dẫn thiêng liêng, để cuối cùng các chùa mọc lên khắp nơi và Phật giáo trở thành một tôn giáo đại chúng như những tôn giáo khác. Cũng ngày nay, hầu hết các nhà xã hội học đều hiểu rằng, luân lý phát triển được là nhờ sự tương tác giữa xã hội với cá nhân, nhưng luân lý thì đứng trên xã hội khi mà không thể vì lợi ích chung xã hội mà người ta có thể thải bỏ một thai nhi chưa có gì đóng góp cho cộng đồng hay huỷ diệt những ông già không còn gì đóng góp nữa. Vâng, không phải tập thể đứng trên bản vị, dù cá nhân tốt luôn là người biết quên mình vì ích chung đất nước. 7. Về Tôn giáo cũng không ngoại lệ: Đức Phật cách đây hơn hai ngàn năm đã dạy: “ Phật pháp tùy thế-gian, Phật pháp phải hoằng thuận chúng sinh.” Các đạo giáo khác cũng đều nêu ra nguyên nhân các vị chúa xuống thế-gian này đều là vì cứu khổ cho nhân dân, vì người người cùng khổ. Tại sao đạo Phật phát triển như vũ bão, thâm nhập vào khắp cùng mọi tầng gia cấp là vì đạo Phật không gì ngoài mục đích phục vụ con người, phục vụ nhân dân, giải cứu họ ra khỏi mọi sự giàng buộc của sinh-tử luân-hồi, mọi sự khổ não. Mấy chục năm qua nhiều tôn giáo bị suy vi chính là các vị lãnh đạo tôn giáo đã xa dời giáo lý của các bậc Tôn-sư qua các lời dạy trong Kinh điển để lại. Nhiều vị đã không còn giữ giới luật, nên thế trẻ nay họ có học, nhận thức ngày càng cao, họ không chấp nhận và vì thế số tín đồ ngày càng ít đi rất nhiều. Như vậy, đã đến lúc các giá trị luật lệ của giáo hội cũng phải thay đổi, phải quay trở về nguồn gốc cội nguồn của nó là phục phụ nhân dân, phục vụ tất cả mọi người, bình đẳng và nhân ái. Vậy những ai muốn cố giữ cái quan hệ sản xuất lỗi thời mà đó là nguyên nhân gây ra bất ổn xã hội kia có phải là những người mê tín và duy tâm, duy ý chí hay không? Hiến pháp có phải thay đổi để hợp với lòng dân, vì nhân dân hay không đang đặt trên vai của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt nam hôm nay. Nếu người cộng sản Việt nam yêu và Trung thành với lý tưởng phục vụ nhân dân và vì dân như Đảng đã nêu ra và muốn bảo vệ và duy trì nó thì phải đổi mới thực sự, phải lắng nghe ý kiến đóng góp của mọi tằng lớp nhân dân, đặc biệt của các tầng lớp trí-thức có tâm đức đóng góp cho việc sửa đổi hiến pháp hiện nay một cách chân thành, cầu thị. 8. Đức Phật đối với chính trị: Mặc dù chúng ta công nhận về sự lợi ích trong việc tách rời tôn giáo và chính trị, và về các giới hạn an lạc và hạnh phúc mà hệ thống chính trị mang đến, nhưng cũng có nhiều khía cạnh trong các lời dạy của Đức Phật có những tương quan với các bố cục chính trị ngày nay. Thứ nhất, Đức Phật đã giảng dạy về tính cách bình đẳng của con người. Ngày dạy rằng các giai cấp, tầng lớp trong xã hội chỉ là những hàng rào nhân tạo do xã hội dựng ra. Việc sắp xếp thứ bậc của loài người, theo lời Ngài, chỉ có thể dựa trên phẩm chất giới hạnh của họ mà thôi. Thứ hai, Đức Phật khuyến khích tinh thần hợp tác bình đẳng và tích cực tham gia đóng góp trong xã hội. Đây là một tinh thần đã được cỗ võ trong tiến trình chính trị của các xã hội hiện nay. Thứ ba, Ngài đã không chỉ định một người nào để kế thừa Ngài. Ngài chỉ dạy rằng mọi người phải tự mình mà tu học, lấy Chính Pháp làm nền tảng và làm nơi nương tựa. Các thành viên của Tăng Đoàn chỉ chịu sự hướng dẫn của Giáo Pháp và Giới Luật -- như là một bộ luật sinh hoạt. Cho đến ngày nay, mỗi tu sĩ của Tăng Đoàn đều phải tuân thủ bộ Giới Luật đó để làm kim chỉ nam hướng dẫn cho mọi sinh hoạt tu học của mình. Thứ tư, Đức Phật đã khuyến khích tinh thần tham vấn và tiến trình dân chủ. Điều nầy được thể hiện qua cộng đồng tăng sĩ, trong đó mỗi thành viên đều có quyền quyết định về các vấn đề chung. Khi có một nghi vấn nghiêm trọng cần phải được giải quyết, các vấn đề có liên quan được đem ra giữa các tu sĩ để thảo luận trong một phương cách tương tự như trong hệ thống quốc hội ngày nay. Tiến trình tự quản trị nầy có lẽ sẽ làm nhiều người ngạc nhiên vì nó đã được áp dụng trong các cộng đồng tăng sĩ Phật Giáo tại Ấn Độ trong 2.500 năm trước đây, và phương cách điều hành có rất nhiều điểm tương đồng với các thủ tục thảo luận trong quốc hội. Một tu sĩ, tương tự như vị "phát ngôn nhân", được chỉ định để có một tiếng nói chung, đại diện cho cộng đồng. Một tu sĩ khác, tương tự như vị "chủ tịch", được bầu ra để điều hành diễn đàn. Các vấn đề được đưa ra như các các nghị trình để được thảo luận công khai. Trong một vài trường hợp khi vấn đề đó có tính cách nghiêm trọng và phổ quát, thì nó có thể được đem ra thảo luận nhiều lần, tương tự như các vòng thảo luận của quốc hội về các dự luật. Nếu qua các cuộc thảo luận mà vẫn còn nhiều ý kiến xung khắc, bất đồng, thì vấn đề sẽ được biểu quyết qua một cuộc bỏ phiếu để lấy quyết định theo đa số. Đạo Phật khuyến khích nền tảng đạo đức và việc sử dụng quyền lực công cộng với ý thức trách nhiệm. Đức Phật tuyên giảng về hòa bình và bất bạo động như là một thông điệp phổ quát. Ngài không chấp nhận bạo lực và hủy hoại sinh mạng. Ngài tuyên bố rằng không có một chiến tranh nào là chiến tranh của công lí. Ngài dạy: "Người thắng tạo căm thù, kẻ thua sống khổ sở. Người nào từ bỏ thắng và bại thì người đó sống an vui và hạnh phúc." Chẳng những Đức Phật dạy về hòa bình và bất bạo động, có lẽ Ngài cũng là vị Giáo Chủ đầu tiên và duy nhất đã ra tận chiến trường để tìm cách ngăn chận chiến tranh. Ngài đã hóa giải sự xung đột giữa bộ tộc Sakya và bộ tộc Koliya khi họ muốn khởi sự đánh nhau vì tranh chấp nước sông Rohini. Ngài cũng đã thuyết phục vua Ajatasanu bỏ ý định tấn công. 9. Đấu tranh tư tưởng phân chi chính mình: Đức Phật phát thảo nên một con đường đem lại? lưu nhuận cho xã hội, nơi mà sự lưu nhuận như vậy hầu như không có mặt chủ yếu là do đẳng cấp và ngay cả tầng lớp. Tăng đoàn được thành lập không có một sự phân biệt về tầng lớp hay đẳng cấp nào. Bất cứ ai xuất thân từ gia đình nông dân hay từ một giai cấp thường dân thấp kém cũng đều được chấp nhận như nhau. Mỗi người được mang một tên mới thay cho tên cũ và như vậy làm dễ dàng thêm cho tính lưu nhuận. Sự nhấn mạnh vào thành quả còn tạo dễ dàng thêm cho tính lưu nhuận. Giáo dục, thu thập kiến thức, phát triển kỷ luật và trau giồi những phẩm chất tích cực bên trong (đó là giới hạnh) được coi như là một yếu tố thúc đẩy tính lưu nhuận. Như vậy, tài năng thuần thục mãi luôn được ca ngợi trong giáo pháp Phật giáo. Sự phân phối của cải bất công xảy ra là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, vô minh hoặc thiếu trí tuệ được xem là nguyên nhân chính yếu. Sự kém hiểu biết làm cho những người có quyền hành và xảo quyệt, cuỡng bức, bóc lột những thành phần yếu kém trong xã hội để thu lợi cho mình. Chính vô minh đã tạo cho con người trở thành vô tích sự và làm cho họ mất đi những tài năng cần thiết. Sự bóc lột sẽ không bao giờ xảy ra, nếu kiến thức và tài năng được sẵn dành cho tất cả mọi người. Những yếu tố chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế cũng như tâm lý thúc đẩy thêm vô minh và tạo điều kiện cho những cá nhân hoặc toàn thể bóc lột những cá nhân hoặc đoàn thể khác. Nghiệp lực do một cá nhân tạo ra có thể quyết định cho người ấy tái sanh vào cảnh giới giàu sang hoặc nghèo hèn. Khi đức Phật dạy rằng cuộc sống bất đồng là do nghiệp gây ra, ta phải chấp nhận từ nghiệp bao gồm cả những hoạt động có chủ ý của cá nhân trong quá khứ, hiện tại và ngay cả tương lai. Nghiệp quá khứ đã tạo ra hoàn cảnh tái sanh nghèo hoặc giàu trong hiện tại. Song một khi chúng ta được sanh ra, chúng ta tự do quyết định những hành động có chủ ý của riêng mình, và những hành động này trở thành nghiệp mới mặc dù nghiệp cũ do ta tạo vẫn còn ảnh hưởng đến địa vị hiện tại của ta. Điều đó không có nghĩa rằng đây là số phận của ta, ta không thể thay đổi được. Bằng những hành động nghiệp mới mang tính tích cực, ta có thể thay đổi hiện tại và tương lai của ta. Luật nghiệp báo chỉ là những khuynh hướng chứ không phải là yếu tố quyết định tất yếu mà ta không thể thay đổi được. Chính vô minh của ta đã trói buộc ta vào những hoạt động nghiệp tiêu cực. Nhưng một khi vô minh được đẩy lùi, thì hành động có ý chí mang tính tích cực mà ta thực hiện sẽ đem lại kết quả nghiệp tốt hơn. Ngoài yếu tố nghiệp ra, còn có những quy luật sinh học xảy ra cùng một lúc trong đời sống. Những quy luật này, nhiều hay ít đều có thể kết hợp với ảnh hưởng của nghiệp tạo ra sự bất đồng trong xã hội. Nhưng tất cả những quy luật này chỉ là nhân duyên chứ không phải là định mệnh. Giáo lý trung tâm của Phật giáo là đấu tranh [chính mình] để chuyển nghiệp, và kiềm chế những tác động của nghiệp. Do vậy, sự phát triển tinh thần sẽ trở nên cần thiết. Và trong cuộc đời, nếu nghiệp thiện lành được cá nhân và đoàn thể thực hiện, thì sự bất công có thể được giảm thiểu theo tỷ lệ cân xứng. Đẩy lùi tri thức bằng phương tiện giáo dục sẽ giúp chúng ta giảm nhẹ sự bất công đến mức tối thiểu, làm vô hiệu hóa ảnh hưởng không những của khuynh hướng nghiệp, mà còn ảnh hưởng của bốn luật thiên nhiên nữa. Đẩy lùi vô minh bằng bất cứ phương tiện nào ta có được là cách chắc chắn nhất để giải thoát thế giới loài người ra khỏi sự khác biệt do sự phân tầng xã hội tạo ra. 10. Phật giáo và tư tưởng tự do: Nhiều người được gọi là những nhà tư tưởng tự do thực sự không phải là những nhà tư tưởng tự do, nhưng đúng hơn họ lười biếng suy nghĩ chỉ vì họ không muốn tư duy một cách nghiêm túc và suy nghiệm về ý nghĩa của sự hiện hữu của mình. Họ tự cho mình là những nhà tư tưởng tự do. Trong Phật giáo không có một lý do nào để gọi những loại người này là những nhà tư tưởng tự do. Phật giáo khích lệ con người suy nghĩ một cách tự do nhưng sâu sắc và không có sự thiên vị, thành kiến. Ngay sau khi chứng đắc sự giác ngộ, khi có nhiều chư vị đệ tử, đức Phật dạy: “Này các Tỳ-kheo, bây giờ chư vị và ta tự do, giải thoát khỏi những sự trói buộc của chư thiên và loài người”. ở đây, chúng ta có thể tìm thấy một bối cảnh liên quan đến ý nghĩa của của một nhà tư tưởng tự do là gì. Thông thường, người ta cố gắng giới thiệu những quan điểm và niềm tin, và sự thực hành tôn giáo của họ bằng cách áp đặt những sự trói buộc mang bản chất thiên đàng và những bức thông điệp được mời gọi từ thiên đàng. Đức Phật đã bác bỏ những quan điểm như thế. Ngài nói chính Ngài và chư đệ tử Ngài tự do giải thoát khỏi sự trói buộc con người và chư thiên. Những sự trói buộc này là gì? Chúng là những loại tín ngưỡng, tham ái, chấp thủ, quan điểm, truyền thống, phong tục tập quán v.v… ở nhiều hình thức khác nhau được tạo ra dựa trên danh nghĩa tôn giáo nhằm khai thác sự sợ hãi và sự hoài nghi của con người. Những người chịu sự nô lệ bởi những tín ngưỡng và tôn giáo như thế là đang chịu sự trói buộc. Xét về phương cách nào mà đức Phật được gọi là một nhà tư tưởng tự do hoặc là làm thế nào chúng ta có thể cho rằng Phật giáo là một tôn giáo của tự do và lý trí?. 11. Một tôn giáo tự do và lý trí: Mục đích chính của tôn giáo không phải là để đảm bảo được trốn thoát khỏi sự trừng phạt hoặc là nhận được sự tưởng thưởng mà là để giúp đỡ con người ta trở nên hoàn thiện hơn và để chấm dứt những khổ đau về vật lý cũng như tinh thần và giải thoát khỏi những khổ đau, biến họai. Đức Phật còn muốn tu tập nhân bản theo một số giới luật mang đầy bản chất luân lý, đạo đức nhất định, nhằm để trau dồi nhân cách con người. Điều này có thể đạt được mà không cần phải viện đến những sự cám dỗ do những lời hứa hẹn của thiên đường hoặc là sự đe dọa lửa nơi địa ngục cung cấp. Đó là lý do giải thích tại sao tôn giáo này được xem như là một tôn giáo tự do và lý trí. Đức Phật khuyến khích chúng ta hãy học tập với một tâm hồn cởi mở để khảo sát và tìm hiểu thế giới. Chúng ta không nên lập tức chấp nhận những gì chỉ là tín ngưỡng hay niềm tin. Đức Phật dạy: “Không nên chấp nhận bất cứ điều gì chỉ là niềm tin bởi vì nó sẽ tạo ra cho chúng ta khó khăn trong việc tìm hiểu sự thật, và bởi vì niềm tin đó có thể khiến cho bạn trở thành một tín đồ mù quáng. Loại niềm tin mù quáng này có thể đưa đến sự cuồng tín tôn giáo. Con người phản ứng theo bản năng tình cảm đối với thẩm quyền tôn giáo hơn là quyết định một cách có lý trí liệu điều đó đúng hay sai bởi vì họ chưa biết được tri thức phân tích trong tâm họ để hiểu tại sao họ nên giữ gìn một số việc hành trì giới luật nhất định và tại sao họ nên tránh xa những hành động phi luân lý. 12. Sự đối thoại giữa Phật giáo và phúc lợi xã hội: 12.1. Xã hội sung túc về vật chất: Theo đà phát triển của xã hội, cuộc sống vật chất ngày một sung túc hơn. Người Phật tử đã từ giai đoạn cầu nguyện cho sự may mắn và phúc báo của tự thân chuyển dần sang giai đoạn biết đem tài sản và năng lực của mình ra để cống hiến , phục vụ tha nhân và xã hội. Cũng trên đà phát triển ấy máy móc được thay thế cho sức người. Do vậy, không cần phải dùng nhiều thời gian nhưng năng suất lao động vẫn nâng cao, người lao động có nhiều thời gian để nghỉ ngơi hơn. Trong cuộc sống, người Phật tử đã tận dụng thời gian nghỉ ngơi nhiều hơn ấy để tụ tập và tham gia các hoạt động phúc lợi phục vụ cho nhân quần vã xã hội. Trong sự phát triển không ngừng ấy, nhất là trong thời đại thông tin và giáo dục được phổ cập như hiện nay, đã tạo ra rất nhiều cơ hội học tập và tiến triển cho quần chúng Phật tử và kể cả đoàn thể tăng già cũng không ngừng tiếp thu những cơ hội học tập và phát triển ấy đã từng bước thúc đẩy trình độ tri thức và tố chất của đoàn thể tăng già lẫn Phật tử có nhiều chuyển biến tôt, với trình độ tri thức cao, họ hiểu rõ hơn về Phật Pháp và nhận chân ra rằng cống hiến và phục vụ tha nhân chính là hạnh phúc của bản thân. 12.2. Những thay đổi đã nảy sinh nhiều vấn đề mới làm uy hiếp cuộc sống: Với truyền thống và quan niệm của xã hội phương Đông, người ta cho rằng muốn tiến thân và có được chỗ đứng trong xã hội chỉ có một trong hai con đường để chọn lựa - đó là: làm chính trị (nghĩa là làm quan) hoặc là làm kinh tế. Nhưng với quan niệm của xã hội hiện đại ngày nay - điều đó không còn là yếu tố quan trọng và quyết định nữa, mà trong xã hội hiện nay, người ta có thể độc lập lấy việc phục vụ làm nghề nghiệp chuyên môn để cống hiến và khẳng định thế đứng của chính mình trong xã hội. Mặt khác, trong xã hội hiện nay - kết cấu truyền thống của gia đình về mọi mặt đã chịu sự tác động mạnh và thay đổi rất lớn. Tỷ như quan niệm - "con là lộc" hay "trời sanh voi - trời sinh cỏ" đã thay đổi làm cho số lượng nhân khẩu trong gia đình ngày một ít hơn. Kết cấu gia đình là một đơn vị kinh tế "tự cung- tự cấp" trước đây đã không còn, làm cho giá trị và chức năng của gia đình bị thấp đi. Do đó - đã xuất hiện nhiều nhu cầu mới, mà những nhu cầu đó không thể hoàn toàn dựa vào nguồn cung ứng từ gia đình được như giáo dục, học đường, bịnh viện, y tế... Từ đó đã đưa con người đến với quan niệm và phương thức sống mới là cần phải có sự tương tác hỗ trợ giữa những ngoài gia đình với nhau. Cùng lúc đó - tuổi thọ của con người trong xã hội ngày nay được nâng cao. Khi con người sống lâu hơn đã hình thành nên những quan niệm và nhu cầu mới mà ở những xã hội trước đây chưa từng có như việc cung ứng nhu cầu học tập lâu dài của con người theo mức độ thăng tiến ngày càng cao của cuộc sống, hay việc làm thế nào để đáp ứng đầy đủ những ý nguyện muốn được tiếp tục phục vụ của các cá nhân trong xã hội. Hơn nữa, việc "lão hoá" trong xã hội đã đưa đến một nhu cầu rất lớn là phúc lợi xã hội dành cho người cao tuổi cũng vô cùng cấp thiết. Ngay cả vấn đề "dưỡng sanh tống tử" cũng là một nhu cầu không thể thiếu trong xã hội hiện đại. Đó là những vấn đề mà con người trong cuộc sống hiện nay đang đối mặt. Nói cách khác cũng chính là Phật giáo chúng ta đang đối mặt. Trước thực trạng đó - chúng ta nhận thức rằng. 12.3. Đoàn kết tôn giáo trong đại đoàn kết dân tộc: khẳng định tôn giáo là vấn đề tồn tại lâu dài. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, các nguồn gốc nảy sinh tôn giáo vẫn tồn tại và tác động thường xuyên tới sự phát triển của các tôn giáo. Do không nhận thức đúng đắn quy luật này, cộng với những mặc cảm, định kiến về tôn giáo, nên trước đây đã có nơi, có lúc, chúng ta có chủ trương, biện pháp đối xử thô bạo với tôn giáo, tìm cách thu hẹp, hạn chế các hoạt động tôn giáo. Vì vậy đã gây căng thẳng trong quan hệ giữa chính quyền với tôn giáo, làm mất lòng tin của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo với Đảng và Nhà nước. Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn giáo và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng. Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời chống việc lợi dụng tín ngưỡng để làm tổn hại đến lợi ích của tổ quốc và nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển, tôn giáo nào cũng có hai mặt tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực thể hiện ở chỗ răn, dạy tín đồ hướng thiện, làm điều lành, tránh điều ác. Còn mặt tiêu cực thể hiện ở chỗ làm cho con người sống an phận và chấp nhận “sự an bài”, thậm chí hạn chế họ tham gia vào quá trình cải tạo thực hiện xã hội bằng các phương pháp cách mạng. 13. Tôn giáo và ba đặc tính: Muc tiêu chính yếu của tôn giáo là chú trọng nhiều hơn đến lĩnh vực tu tập một đời sống thánh thiện, một đời sống giới hạnh, luân lý đạo đức và nhằm duy trì sự hòa bình, an lạc, hạnh phúc và sự tự tin trong tâm và nhằm đẩy mạnh sự tự do giải thoát khỏi trạng thái tâm lý sợ hãi, lo lắng, sân hận, thù địch và vô minh hơn là dồn hết thời gian vào việc sùng bái, cầu nguyện và thực thi những hình thức lễ nghi tôn giáo. Nhân loại có ba bản chất: thú tính, nhân tính và thiên tính hay tính siêu phàm. Tôn giáo đóng vai trò rất quan trọng trong việc đè nén hoặc kiểm soát thú tính trong con người. Chúng ta không thể đạt được an lạc hạnh phúc bằng cách chỉ cầu nguyện suông. Nếu con người cũng sống để mà ăn, để tìm sự che chở, bảo vệ và để sinh đẻ, thì lúc đó sẽ không có sự khác biệt giữa thú vật và con người. Tuy nhiên, con người khác với thú vật ở chỗ là con người có thể được hướng dẫn phát triển tâm cao thượng. Tôn giáo là một nhân tố hùng mạnh giúp anh ta hoàn thành nhiệm vụ này. Có một đặc tính phi thường trong tâm thức con người được gọi là Pháp. Pháp được căn cứ trên cơ sở những phẩm chất con người của chúng ta. Làm người, chúng ta phải tu tập, trau dồi tàm quý. Sợ hãi về tội lỗi, điều xấu xa, tàn bạo và những việc làm nguy hiểm sẽ phạm phải. Mặc khác, làm người chúng ta nghĩ rằng chúng ta thật hổ thẹn khi làm những điều ác, trái với lương tâm, làm những việc phi luân lý đạo đức. Nhằm duy trì chân giá trị con người, đảm bảo khả năng lý trí của con người, chúng ta phải tu tập tàm và quý. Trên thế giới hiện nay có rất nhiều tôn giáo và rất nhiều nơi cầu nguyện, cúng tế. Tại phương Đông, nhà thờ, thánh đường, đền đài, chùa chiền và nhiều nơi cúng tế, cầu nguyện khác đông chật người. Họ cho rằng tôn giáo đang phát triển tốt. Khắp mọi nơi đâu chúng ta cũng nhìn thấy người, cầu nguyện, cúng bái, đốt hương và vàng bạc, giấy tờ v.v… nhưng thực sự có bao nhiêu người trong số những người cầu nguyện ấy duy trì một sự tàm quý trong tâm họ? Nếu những phẩm chất tự nhiên và cao quý này vắng mặt, thì thực sự có một tôn giáo chân thật không? Nhiều người trong số họ tuyên bố tôn giáo của họ một cách to tác nhưng thực sự thiếu đi những phẩm chất của con người, để lại những tình trạng thảm thương cho tôn giáo. 14. Vấn-đề hôm nay: Ngày nay trên thế-giới, hai thế-kỷ sau Cách-mạng Pháp, vẫn còn nhiều quốc-gia chưa thực-hiện dân-chủ bình-đẳng, thậm chí còn nhiều nước độc-tôn một tôn-giáo làm quốc-giáo, và nếu không cấm-cách thì cũng kỳ-thị những tôn-giáo khác và những người vô-tôn-giáo. Thiết-tưởng nếu không vì lợi, thì cũng là vì họ không có điều-kiện văn-hóa và lịch-sử thuận-lợi của xã-hội Âu-châu, như đã nói trên đây, để ý-thức được rằng cần phải biệt-lập tôn giáo với chính-trị. Cho nên dù có nghe nói, cũng không hiểu ra sao cả. Đó là một yếu-tố còn lâu-dài đe-dọa hòa-bình thế-giới. Có điều cần phải chú-ý là : trong thời cận-đại, chủ-trương biệt-lập tôn-giáo với chính- trị đã được đề-xướng lên trong xã-hội Thiên-Chúa-giáo Âu-châu, do những người theo đạo ấy. Dĩ nhiên là khi chủ-trương ấy được áp-dụng do những người đã bỏ hay là chống tôn-giáo, thì nó sẽ theo một con đường khác. Có thể nói là ngày nay phần nhiều các nước Âu-châu thực-hiện dân-chủ và biết biệt-lập tôn-giáo với chính-tri một cách khá thỏa-mãn, cho nên duy-trì được hòa-bình. Tuy vậy thỉnh-thoảng vẫn còn có lúc trục-trặc, nhất là ở nước Pháp. Cũng dễ hiểu. Đó là vì trong xã-hội có nhiều thành-phần, tuy rằng cùng đồng-ý chủ-trương biệt-lập tôn-giáo với chính-trị, nhưng lại không hiểu vấn-đề theo một lối như nhau. Thực vậy, có một số người vô-tôn-giáo cho rằng cần phải cấm chỉ các tôn-giáo, vì đó chỉ là mê-tín ; có một số khác chủ-trương tự-do tư-tưởng, cho nên đồng-ý phải có tự-do tôn-giáo, cũng như phải có tự-do vô-tôn-giáo ; có người cho rằng tôn-giáo là vấn-đề cá-nhân cho nên phải để tự-nhiên không cho tuyên-truyền tôn-giáo ; có người khác cho rằng tuy tôn-giáo là do cá-nhân tự-do định đoạt, nhưng nếu không nghe nói đến, thì tự-nhiên chẳng ai có tôn-giáo nào cả, cũng như chẳng ai có văn-hóa nào cả. Lại có một số người không muốn biệt-lập tôn giáo với chính-trị, nhưng họ không có ý-kiến gì rõ-rệt về việc tổ-chức nhà nước sao cho những người khác tôn-giáo, hay là không tôn-giáo, có thể chung sống hòa-bình và liên-đới với nhau. Không giải-quyết vấn-đề cho ổn-thỏa, thì xã-hội sinh ra lộn-xộn : kẻ này hăm-he thánh-chiến để bảo-vệ tôn-giáo, kẻ khác hễ thấy người ta động đến mình vì lẽ này lẽ khác thi cứ lớn tiếng tuyên-bố là có cấm đạo, có pháp-nạn, rồi hô-hào liên-đới quốc-tế, v.v. Giải-quyết vấn-đề thế nào cho phải, cái đó còn tùy vào trình độ ý-thức của người trong nước, và nhất là vào thái-độ thực-tiễn, khôn-ngoan và công-bình của người có trách-nhiệm trong nước. 15. Tại sao không có hòa bình?: Chúng ta đang sống trong một thế giới của những sự mâu thuẫn thực sự kinh hoàng. Một mặt, con người sợ chiến tranh; mặt khác, họ chuẩn bị cho chiến tranh với một sự điên cuồng. Họ sinh ra dư thừa, song họ phân phát khổ đau. Thế giới ngày càng trở nên đông đúc, nhưng con người ngày càng trở nên cô lập nhau và ngày càng cảm thấy cô đơn. Nhân loại đang sống gần gũi với nhau trong một đại gia đình, song mỗi cá nhân tìm cho bản thân mình ngày càng nhiều hơn so với trước đây, bị tách biệt khỏi những người láng giềng của anh ta. Sự hiểu biết và thành thật với nhau đang ngày càng thiếu đi trầm trọng. Con người không thể tin tưởng lẫn nhau cho dù người kia có tốt thế nào đi nữa. Niềm tin rằng con đường duy nhất để đánh lại bạo lực là bằng cách áp dụng nhiều quyền lực hơn đã đưa đến sự xung đột vũ trang giữa các quốc gia lớn mạnh với nhau. Và sự cạnh tranh này nhằm tăng cường vũ khí trang bị cho chiến tranh đã mang lại cho nhân loại nguy cơ huỷ diệt hoàn toàn sự sống con người. Nếu chúng ta không làm gì để ngăn chặn hành động đó, thì cuộc chiến kế tiếp sẽ là sự kết thúc của thế giới nơi mà sẽ không có những kẻ chiến thắng và cũng không có nạn nhân của chiến tranh. Chỉ còn lại những xác chết ngổn ngang trên chiến trường. “Hận thù không thể dập tắt bằng hận thù; hận thù có thể dập tắt bằng tình thương”. Đó là lời khuyên của đức Phật cho những ai tuyên thuyết một học thuyết về sự đối kháng, sân hận và cho những ai dẫn dắt nhân loại vào chiến tranh và phản loạn chống lại nhau. Nhiều người cho rằng lời khuyên của đức Phật là hãy chuyển hóa ác thành thiện là một lời khuyên không thiết thực. Trên thực tế, đó là một phương pháp đúng đắn duy nhất để giải quyết vấn đề. Phương pháp này được một bậc đạo sư vĩ đại giới thiệu thông qua sự chứng nghiệm bản thân của Ngài. Bởi vì chúng ta kêu căng, tự hào và ngã mạn, chúng ta miễn cưỡng để chuyển hoá ác thành thiện, nghĩ rằng quần chúng có thể đối xử chúng ta hèn nhát như mọi người. Thậm chí có một số người nghĩ rằng sự tử tế, từ tâm và lịch thiệp là mang tính đàn bà chứ không mang tính đàn ông! Nhưng tác hại sẽ như thế nào nếu chúng ta giải quyết những vấn đề của chúng ta và mang lại niềm hạnh phúc và an lạc cho mọi người bằng cách chấp nhận phương pháp đầy tính văn hóa này và bằng cách hy sinh sự kiêu căng ngã mạn đầy sự hiểm nguy của chúng ta?. Hoà bình có thể luôn luôn đạt được, nhưng phương pháp để đạt được hoà bình không chỉ bằng cách cầu nguyện và lễ nghi. Hoà bình là kết quả của sự hài hoà giữa con người với chúng sanh đồng loại và môi trường sống xung quanh. Nền hoà bình mà chúng ta cố đưa ra giới thiệu bằng bạo lực thì không phải là một nền hoà bình vĩnh viễn lâu dài. Đó là một khoảng trung gian giữa những cuộc xung đột của tham ái ích kỷ và những điều kiện thế gian. Hoà bình không thể tồn tại trên thế giới này mà không có việc thực hành hạnh khoan dung. Để khoan dung, độ lượng, chúng ta không nên cho phép trạng thái tâm sân hận và ghanh tỵ ngự trị trong tâm chúng ta. 16. Sự cường thịnh của một quốc gia: Những lời giáo huấn của đức Phật cho quan đại thần Vassakara vẫn còn là khuôn vàng thước ngọc để xây dựng một quốc gia cường thịnh và hòa bình, cho dù thế giới ngày hôm nay con người đã đổ bộ lên mặt trăng, Thế nhưng dù cùng thời với đức Phật hoặc sau đức Phật hơn 100 năm, không một triết gia hoặc một nhà tư tưởng Đông-Tây nào có một cái nhìn quán triệt, bao quát về sự thái bình và cường thịnh của một quốc gia. Khổng Tử chủ trương tu thân, Mặc Tử chủ truơng tình thương. Đồng ý tu thân và tình thương là căn bản, nhưng còn tương quan xã hội giữa con người và con người như thế nào? Vấn đề văn hóa như thế nào? Thế nào là tâm linh của cộng đồng dân tộc? Còn Pháp Gia chủ trương lấy hình pháp để trị dân. Đồng ý luật pháp là điều kiện ắt có để ổn định xã hội, nhưng ngòai luật pháp, quốc gia còn cần những gì nữa? Những yếu tố nào tạo đoàn kết và đâu là điểm hội tụ của đất nước? Plato chủ trương đất nước cần được cai trị bởi những nhà trí thức, đúng ra là các triết gia – vì lúc đó họ quan niệm rằng triết gia là những người hiểu biết, thành thực và sáng suốt nhất. Từ đó mà có danh từ hiền triết. Thế nhưng còn khối đông quần chúng bình thường không phải là “triết gia” thì sao? Thật lạ lùng, chỉ riêng đức Phật đã có một cái nhìn toàn diện, tổng hợp mọi lãnh vực như luật pháp, văn hóa, xã hội, chính trị và tâm linh. Đó không phải là thuật “trị quốc” nhưng là những thành tố không thể thiếu vắng cho sự đòan kết và từ đó đi đến phát triển và cường thịnh của bất kỳ quốc gia nào. Trên bình diện luật pháp và nhân quyền, mọi người: nam- phụ- lão- ấu, bất kể sang hèn, giầu nghèo, địa vị xã hội, lành mạnh hay khuyết tật…đều có phẩm giá, nhân cách và được đối xử ngang nhau. Thế nhưng trên bình diện văn hóa và đạo đức, những người có công lao với đất nước, những người tận tụy hy sinh cả đời mình cho nhân quần xã hội, những nhà trí thức – mà ở đây Đức Phật gọi là các bậc trưởng thượng - họ phải được quần chúng kính nể và lắng nghe. Theo đức Phật, một xã hội lành mạnh và ổn cố, không phải là một xã hội mà đàn bà bị đối xử bất công hay đối xử như một thứ nô lệ. Người đàn bà có một vai trò rất quan trọng trong việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái và xây dựng hạnh phúc gia đình. Danh từ mẫu giáo phát sinh từ đó. Khi nhìn vào sinh họat của phụ nữ tại Vajjian Đức Phật tiên đóan rằng đây là một xứ sở cường thịnh. Giống như ngày hôm nay, có thể nói trên thế giới, tại tất cả các quốc gia văn minh tiến bộ, quyền lợi của phụ nữ đều được bảo vệ và phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hành và phát triển xã hội. Vì giáo pháp của đức Phật là giáo pháp hòa bình cho nên tự thân Đức Phật đã là sứ giả của hòa bình. Do đó giáo đoàn hay tăng đoàn của đức Phật là một giáo đòan (nay là Giáo Hội) hòa bình. Tín đồ tuân thủ giáo pháp của Ngài luôn luôn là những kẻ yêu chuộng hòa bình. Cho nên từ hơn 2500 năm nay, chúng ta không thấy bất cứ một giáo hội Phật Giáo nào, ở bất cứ nơi đâu chủ trương gây chiến, xâm lược, chinh phạt hoặc khích động chiến tranh để bành trướng hay lấy cớ bảo vệ Phật Giáo. Ngòai ra cũng không hề có bất cứ một bộ tộc, một cộng đồng Phật Giáo nào đòi chia cắt đất nước, ngưỡng vọng hoặc làm tay sai cho ngọai bang để phản lại đất nước mà mình đang sinh sống, cho dù nơi đó họ là thiểu số và không được ưu đãi. Đạo Phật không phải là đạo “ sống trên mây” mà đạo Phật là đạo lấy an lành, hạnh phúc và giải thoát của chúng sinh là cứu cánh, bằng cớ là trong cuộc giảng giải trên, đức Phật nói toàn chuyện “luật pháp, lịch sử, xã hội, văn hóa” chứ đức Phật có nói gì về Niết Bàn, về Tây Phương Cực Lạc đâu? Vốn xuất thân là Đông cung Thái tử, theo đuổi nghiệp kiếm cung từ thuở nhỏ, đức Phật dư biết rằng xứ Vajjian cũng có một quân đội hùng mạnh để bảo vệ đất nước, nhưng đức Phật lại là một vị lương y “tùy bệnh cho thuốc”. III. KẾT LUẬN: Phật xuất thân từ giai cấp vương tướng, và do đó, Ngài đã có nhiều liên hệ với các vị quốc vương, hoàng tử, quan lại trong triều đình. Mặc dù có nhiều liên hệ như thế, Ngài không bao giờ dùng các thế lực chính trị để truyền đạo, và Ngài cũng không bao giờ cho phép giáo pháp của Ngài bị lợi dụng cho các ý đồ chính trị. Thế nhưng ngày nay, đã có nhiều người cố ý gán ghép danh hiệu của Ngài với những chủ thuyết chính trị khác nhau. Những người đó đã quên rằng các hệ thống chính trị mà chúng ta quen thuộc ngày nay là bắt nguồn từ phương Tây, xẩy ra sau thời kỳ Đức Phật còn tại thế một thời gian rất lâu. Đối với những người đang cố công dùng các danh hiệu của Đức Phật cho những ý đồ riêng tư của họ, họ cần phải nhớ rằng Đức Phật là bậc Chính Đẳng Chính Giác, vượt lên trên các chuyện lo âu của thế gian. Có một vấn đề cơ bản mà ta phải nhận định khi tôn giáo bị pha trộn với chính trị. Căn bản của tôn giáo là đạo đức, lòng trong sạch, và đức tin; trong khi đó, căn bản của chính trị là quyền lực. Trong tiến trình lịch sử, tôn giáo thường bị lạm dụng để hợp thức hóa những người cầm quyền và sự áp dụng của quyền lực. Tôn giáo đã bị lạm dụng để biện minh cho chiến tranh và thôn tính, đàn áp, chém giết tàn bạo, nổi loạn, tàn phá các công trình văn hóa và nghệ thuật. Khi tôn giáo bị sử dụng để gia tăng thế lực chính trị thì tôn giáo sẽ phải hi sinh các lí tưởng đạo đức cao quí và trở nên mất gốc, nhượng bộ cho các thế lực chính trị trong thế gian. Mục đích của Phật Pháp không phải nhắm đến việc thành lập các định chế và cơ cấu chính trị mới. Trên cơ bản, tôn giáo tìm cách giải quyết các vấn đề trong xã hội bằng cách giáo hóa mỗi cá nhân, vốn là thành viên của xã hội, và bằng cách đề nghị các nguyên tắc tổng quát để điều hướng xã hội tiến đến một phong thái nhân bản, cải thiện đời sống của mọi thành viên, và cổ động sự phân phối các nguồn vật lực một cách công bằng hơn. Bất cứ một thể chế chính trị nào cũng có một giới hạn trong sự bảo vệ hạnh phúc và sung túc của người dân trong thể chế đó. Không một hệ thống chính trị nào, dù rằng nó có vẻ rất lí tưởng, có thể mang lại hạnh phúc và hòa bình nếu người dân trong thể chế đó còn bị bao trùm bởi lòng tham, sân hận, và mê si. Thêm vào đó, dù có theo một hệ thống chính trị nào đi nữa, cũng còn có những nhân tố phổ quát mà từng cá nhân trong xã hội phải trực diện: kết quả của các nghiệp thiện và bất thiện của riêng mình, và sự khiếm khuyết và thiếu vắng của một nền an lạc trường cửu vì bản chất của thế gian vốn là hoạn khổ, vô thường, và vô ngã. Đối với những người con Phật, không một nơi nào trong cõi Ta Bà nầy là có được một tự do, giải thoát thật sự, kể cả các cõi tiên của chư thiên. Một hệ thống chính trị tốt và công bằng -- có những bảo đảm cho các quyền căn bản của con người, và có những định chế giám sát và cân bằng việc sử dụng quyền lực -- là điều kiện quan trọng cho cuộc sống hạnh phúc trong xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên bỏ quá nhiều công sức và thì giờ để tìm kiếm vô tận một hệ thống chính trị toàn hảo để giúp con người được hoàn toàn tự do. Tự do tuyệt đối không thể nào có được trong các định chế chính trị, mà chỉ có được trong tâm thức khi nó được giải thoát. Để được giải thoát, chúng ta cần phải nhìn vào nội tâm của chính mình, và nỗ lực giải phóng nó ra khỏi các gông xiềng của vô minh, hận thù và tham dục. Tự do trong ý nghĩa đích thực tuyệt đối chỉ có được khi nào chúng ta dùng Chính Pháp để phát triển tâm ý qua lời nói và hành động hướng thiện, và để huân tập tâm ý, để phát triển tiềm năng tâm linh, đạt đến cứu cánh tuyệt đối của giác ngộ. MỤC LỤC: 1. Thích Minh Châu -Chánh Pháp Và Hạnh Phúc- NXB Tơn Giáo 2001. 2. Thích Minh Châu-Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-1998. 3. Đinh Văn Đỗ- Giáo Dục Cộng Đồng-q.1- Kiến Tạo. 4. Lâm Ngữ Đường-Tinh Hoa Xử Thế-NXB Đồng Nai 1996. 5. Nhiều Tác Giả-Giáo Dục Phật Giáo Trong Thời Hiện Đại-Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam-NXB Tp. Hồ Chí Minh. 6. Thích Nữ Trí Hải chuyển dịch-Thanh Tịnh Đạo-Buddhaghosa- NXB Tơn Giáo 2001. 7. Nhất Hạnh-Hiệu Lực Cầu Nguyện- Lá Bối Xuất Bản. 8. Nguyên Hồng-Giáo Dục Học Phật Giáo- NXB Tơn Giáo. Thích Phước Sơn biên soạn-Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu- NXB Tơn Giáo 2004. 9. Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Sinh Huy-Giáo Dục Học Đại Cương- NXB Giáo Dục 2000. 10. Thích Thiện Siêu-Vơ Ngã Là Niết Bàn- NXB Tơn Giáo 2000.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét