THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Học thuyết như lai tạng trong kinh lăng già

Học thuyết như lai tạng trong kinh lăng già ________________________________________ A. DẪN NHẬP: 1. Lý do chọn đề tài: Chúng ta thấy rằng Phật giáo là một thực thể sống nên Phật giáo luôn luôn phát triển tư tưởng theo mọi thời gian và không gian với yêu cầu khác nhau của xã hội, tuy nhiên sự phát triển ấy luôn căn cứ trên lời dạy của đức Phật. Học thuyết Như-lai-tạng cũng không nằm ngoài thông lệ này, học thuyết Như-lai-tạng là kết quả của một quá trình phát triển tất yếu của triết học Phật giáo Đại thừa để phản bác lại tư tưởng “Tam thế thật hữu, pháp thể hằng tồn” của phái Hữu bộ, và học thuyết này là sự phát triển hoàn chỉnh hơn học thuyết “không” và “Duy thức” của Đại thừa. Học thuyết Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già đã tổng quát được học thuyết Như-lai-tạng trong các kinh luận Đại thừa, tuy thế nó vẫn mang một nét riêng là học thuyết này đả phá mọi cái nhìn thiên lệch của các triết gia về quan điểm linh hồn (Átman) trường cửu, cũng như phá cái lo sợ của kẻ phàm phu khi nghe nói học thuyết Vô ngã. Chính vì những điểm đặc sắc này mà người viết chọn đề tài : “Học thuyết Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già”. 2. Lịch sử đề tài: “Học thuyết Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già” là một đề tài khá mới mẻ, bởi vì ở Việt Nam, người viết chưa tìm thấy một cuốn sách nào nói về đề tài này. Có chăng, chỉ thấy một hai bài viết ngắn về vấn đề này như bài “Triết Học Như-lai-tạng” của thầy Nghiêm Quang, đề cập một cách tổng quát về triết học Như-lai-tạng trong kinh điển Đại thừa. Về sách thì ở nước ngoài có một số sách bằng tiếng Anh và tiếng Hoa nghiên cứu về đề tài Như-lai-tạng rất sâu nhưng chưa được dịch ra tiếng Việt. Người viết hi vọng “Học thuyết Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già” mà người viết trình bày, sẽ đóng góp một chút gì đó nhỏ nhoi trong việc nghiên cứu về Như-lai-tạng trong kinh điển Đại thừa. 3. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình trình bày đề tài, người viết chọn phương pháp phân tích, so sánh, chứng minh và bình luận, với mong muốn giúp người đọc nắm bắt các ý nghĩa về Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già cũng như một số kinh luận Đại thừa khác. B. NỘI DUNG: I. GIỚI THIỆU KINH LĂNG GIÀ: Theo lịch sử tư tưởng Phật giáo Ấn Độ, kinh Lăng Già là bộ kinh thuộc hệ tư tưởng Phật giáo Đại thừa, kế thừa hệ tư tưởng Bát Nhã, Duy thức học, phát huy tư tưởng Như-lai-tạng – duy tâm luận. Có thể nói đây là tư tưởng thời kỳ cuối của Phật giáo Đại thừa ở Ấn Độ. 1. Niên đại của kinh Lăng Già: Cũng như trường hợp các kinh điển điển Phật giáo khác, với cái hiểu biết hiện nay của chúng ta về lịch sử Ấn Độ, thực không thể xác định niên kỷ của kinh Lăng Già. Điều chắc chắn là kinh này được biên soạn trước năm 443 sau TL, khi bản dịch Hoa ngữ đầu tiên được ghi nhận là hoàn tất. Nhưng điều này không có nghĩa là toàn bộ bản kinh như chúng ta hiện có đã có sẵn lúc bấy giờ, vì chúng ta biết rằng những bản dịch về sau được thực hiện vào năm 513 và 700 – 704 gồm chương Đà-la-ni (Dharani) và tổng kệ (Sagàthakam) không có trong bản kinh của năm 443 (Tống). Hơn nữa, chương về sự ăn thịt cũng bị một số thay đổi, nhất là trong bản kinh của năm 513 (Ngụy). Ngay cả đối với bản kinh đã có trước năm 443 sau TL, chúng ta cũng không biết nó phát triển như thế nào, vì chắc chắn từ lúc ban đầu nó không được viết thành một tác phẩm toàn vẹn theo như ngày nay ta viết một cuốn sách. Nhiều phần của tác phẩm hẳn là được viết trước các phần khác vì rõ ràng có nhiều đoạn được thêm vào. Ở một mức độ nào đó, các nội dung có thể cho ta một manh mối về niên kỷ của bản kinh, nhưng do vì theo quan điểm phê phán nguyên bản, khó mà tách rời phần này với phần khác, nên từ nội dung mà rút ra khẳng định về niên kỷ thì thật là nghi ngờ. Hễ chừng nào chúng ta chưa biết rõ hoàn cảnh lịch sử Ấn Độ hay ở đâu khác mà các kinh điển Phật giáo được hình thành thì tất cả mọi khẳng định vẫn còn có ít nhiều chất phỏng đoán. Tất cả những gì chúng ta có thể nói được là Lăng Già không phải là do đấng sáng lập Phật giáo trực tiếp thuyết giảng, đây là một biên soạn về sau, sau các bộ Nikàya và A Hàm (Àgamas) cũng là những bộ được phát triển sau thời đức Phật, khi các tư tưởng Đại thừa bắt đầu kết tinh ở Bắc bộ cũng như Nam bộ Ấn Độ có lẽ vào kỷ nguyên Thiên chúa hay sớm hơn nữa. Người soạn hay những người soạn khởi sự thu thập các đoạn kinh trong khi người ấy, hay những người ấy nghiên cứu Đại thừa và cuối cùng trở thành bản kinh Phật giáo mà nay được biết dưới tiêu đề là kinh Lăng Già. 2. Lịch sử truyền thừa của kinh Lăng Già: Trong cuốn sách nhan đề Lăng Già Sư Tử Ký “ghi chép về sư phụ và đệ tử trong Lăng Già”, một trong những tài liệu được tìm thấy ở Đôn Hoàng, có ghi chép về dòng mạch truyền thừa Lăng Già. Tác giả Tịnh Giác có lẽ sống vào đầu thế kỷ thứ tám, đã hiển nhiên đồng hóa Phật giáo Thiền với giáo lý Lăng Già. Theo ông thì các vị Tổ truyền thừa của kinh Lăng Già cũng là những vị Tổ truyền thừa của Phật giáo Thiền. Ông cho rằng Gunabhadra, dịch giả của bản Tống hay Lăng Già bốn quyển là sơ Tổ của Thiền Trung Hoa chứ không phải là Bồ Đề Đạt Ma như các nhà sử học về Thiền thường quan niệm. Về điều này thì có thể tác giả có lý, vì vào thời ông, chưa có một trường phái độc lập mà về sau được gọi là “Thiền”, bấy giờ những biểu hiện của phong trào này không gì khác hơn là nghiên cứu Lăng Già. Hơn nữa Tịnh Giác thuộc phái Huyền Trách và Thần Tú là những người chủ trương Lăng Già, đối nghịch với chủ trương Kim Cương của vị đối lập với họ là Huệ Năng. Cuốn sách này là một trong những tài liệu giá trị nhất đối với người nghiên cứu lịch sử Phật giáo Thiền lúc sơ Thiền ở Trung Hoa. Cuốn sách gồm nhiều tư liệu chính xác về các vị Tổ mà chính lời nói và những giáo lý của chư vị đã chìm vào trong bóng tối từ lâu. Còn một số cuốn lịch sử Phật giáo Thiền có giá trị như thế cũng được tìm thấy trong động Đôn Hoàng. Tên cuốn sách là Lịch Đại Pháp Bửu Ký (ghi chép về quá trình truyền kho báu pháp). Cuốn sách này rõ ràng là được viết ra để chống lại vị trí của Lăng Già Tư Ký, vì nó khẳng định rằng sơ Tổ của kinh Lăng Già biểu hiện Pháp bảo là Tổ Bồ Đề Đạt Ma chứ không phải kinh. Do đó, lịch sử Phật giáo Thiền Trung Hoa, lịch sử Pháp bảo, phải khởi sự một cách đúng đắn từ Bồ Đề Đạt Ma. Tác giả rõ ràng là thuộc trường phái Huệ Năng. Sự phát hiện hai tác phẩm lịch sử quan trọng về Thiền cùng với cuốn Thần Hội Ngữ Lục mà giáo sư Hồ Thích của Đại học Bắc Kinh xuất bản năm 1930 cùng với những ghi chú giảng bình của ông đã tỏa rạng ánh sáng vào những trang đầu của lịch sử Thiền ở Trung Hoa. II. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HỌC THUYẾT NHƯ-LAI-TẠNG TRONG KINH ĐIỂN ĐẠI THỪA: 1. Quá trình hình thành học thuyết Như-lai-tạng trong kinh điển Đại thừa: Từ những kiến thức thầy Thích Hạnh Bình-giảng viên bộ môn Kinh Lăng Già tại Học viện Tp. HCM, cộng với việc tham khảo một số sách khác, người viết được biết về quá trình hình thành học thuyết Như-lai-tạng trong kinh điển Đại thừa như sau : Học thuyết Như-lai-tạng bắt nguồn từ Phật giáo nguyên thủy. Đầu tiên, đức Phật vì muốn phá tư tưởng khổ của con người từ đâu sanh mà Ngài nói thuyết Duyên khởi, từ Duyên khởi Ngài nói đến giáo lý Vô thường, Vô ngã, rồi từ Vô ngã, Ngài nói giáo lý Ngũ uẩn, Mười hai xứ … Nói chung thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy, đức phật không trả lời những câu hỏi mang tính siêu hình như thế giới là thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên, thân và mạng một hay là khác, Như Lai nhập Niết Bàn còn hay mất. Sau khi Phật nhập diệt, những vấn đề được đem ra tranh luận, đây chính là một trong nguyên nhân dẫn tới sự phân phái trong Phật giáo. Trong thời kỳ bộ phái Phật giáo, đầu tiên phái Độc Tử Bộ (Vatsiputriya) công khai chủ trương ‘ngã pháp hằng hữu’ (Pudgala), gần như mang ý nghĩa xác thân và linh hồn không bị mất. Chủ trương này không được Hóa Địa Bộ (Mahisasaka) đồng tình, Hóa Địa Bộ chủ trương ‘quá khứ và vị lai là không thật, chỉ có hiện tại vô vi là thật có’. Hữu Bộ (Saravastivada) không đồng tình cả hai phái này, phủ nhận hai học thuyết trên và đưa ra quan điểm ‘Ba thời gian là quá khứ, hiện tại và vị lai là có thật, đồng thời bản chất của các pháp là không bị mất đi, vĩnh viễn tồn tại’(tam thế thật hữu pháp thể hằng tồn) hay nói cách khác, phái này cho rằng thời gian và không gian là có thật. Phạm trù Uẩn, Xứ, Giới là phạm trù mà phái Nhất Thiết Hữu Bộ cho là thật có . Đây chính là nguyên nhân hình thành tư tưởng Sùnyata (không) của thời kỳ Bát Nhã-Trung quán của Phật giáo Đại thừa với mục đích phê phán tư tưởng của Hữu Bộ. Triết học tánh không của Phật giáo Đại thừa là mô tả các pháp vô tự tánh, các pháp do duyên sinh nên gọi là không, khái niệm không này xa lìa chấp có và chấp không nên gọi là trung đạo. Thế nhưng nếu cho rằng Hữu Bộ thiên về hữu thì đại thừa Bát Nhã cũng thiên về không. Bàn về pháp là thật có hay thật không đều không phải chủ trương của đức Phật vì nó không giảm đi phiền não nên sau thời kỳ Bát Nhã tánh không, Duy thức học xuất hiện. Nội dung chính của Duy thức là bàn về A-lại-da thức hay còn gọi là chủng tử. Khi nó được gọi là chủng tử, là hạt giống của các pháp thì nó là cái nhân, cái gốc sinh ra vạn pháp nên hình thành tư tưởng ‘nhất thiết duy tâm tạo’. Nhưng A-lại-da thức lại có hai phần nhiễm và tịnh, nhiễm là chúng sinh, tịnh là Phật, như vậy tu tập là chuyển thức thành trí. A-lại-da thức gạn hết phần nhiễm chỉ còn phần tịnh là Như-lai-tạng. Nội dung kinh Lăng Già xiển dương giáo lý Đại thừa - Như-lai-tạng. Như-lai-tạng chính là Phật tánh. Muốn thành tựu Phật tánh này, cần phải xa lìa sự cố chấp của hàng tiểu thừa Thanh văn, tức chỉ sự cố chấp của Hữu Bộ vì phái này chủ trương phân biệt. Bên Đại thừa cho rằng trí tuệ có được do phân tích phân biệt lựa chọn giữa pháp thiện và pháp bất thiện, cho nên Lăng Già mới phê phán hàng Thanh văn là phân biệt, nhị nguyên, đối đãi, chấp hữu, chấp vô… Kinh Lăng Già là kinh điển Đại thừa đề cao tinh thần Bồ Tát đạo, đề cao tinh thần vô trước đả phá ngã chấp, pháp chấp. Tinh thần phá chấp này chính là tư tưởng cốt lõi của Thiền học Trung Quốc. 2. Khái niệm Như-lai-tạng trong kinh điển Đại thừa: Như Lai Tạng (Tathagata garbha) còn gọi là Như lai chủng tánh đồng nghĩa với pháp tánh, pháp thân, chơn như, Phật tánh, Niết bàn…Tạng là cái bọc chứa, theo nghĩa ban sơ là cái bọc thai, tạng là giấu kín che phủ phiền não mê lầm, giấu kín che phủ Phật tính là cái mầm giác ngộ vốn có trong mọi chúng sanh. Tạng là chất chứa, Như lai tạng là chất chứa mọi công đức quyền năng của Như lai, là tất cả pháp do Phật giảng dạy tập hợp lại thành Như Lai tạng. Về mặt ô nhiễm, Như lai tạng là tượng trưng cho thế giới luân hồi sinh diệt, về mặt tịnh Như lai tạng biểu hiện cho Niết bàn giải thoát. Như lai tạng là cái kho chứa Như lai, thuật ngữ của Khởi Tín luận gọi là “pháp giới đại tổng tướng” nhiếp thâu các pháp của toàn bộ pháp giới gồm có nhiễm và tịnh. Tịnh là chơn như, nhiễm là vô minh, chân như và vô minh kết thành một khối bất ly trong tâm chúng sanh, cả hai đều thâu nhiếp các pháp ngang nhau. Nếu xuôi dòng vô minh thì bị giam hảm trong vòng sinh tử thì gọi là Như lai tại triền (trạng thái bị phiền não trói buộc). Mặt khác nếu thuận chơn như tu tập, huân tu bên trong làm nhân và lấy giáo pháp bên ngoài làm duyên thì tịnh dần dần mạnh lên và nhiễm bị yếu đi, tịnh bọc lấy nhiễm và chuyển lực dụng của nhiễm thành nghiệp dụng bất khả tư nghì thì gọi là Như lai xuất triền. Tất cả chúng sanh đều có Như lai tạng, có thể thành Như lai nếu biết tháo gỡ tất cả những sở tri chướng và phiền não chướng. III. HỌC THUYẾT NHƯ-LAI-TẠNG TRONG KINH LĂNG GIÀ: 1. Khái niệm Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già: Khái niệm về Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già được mô tả qua lời hỏi của Bồ Tát Mahàmati: “Thế Tôn có nêu ra cái Như-lai-tạng trong các kinh điển và quả thực Ngài đã miêu tả Như-lai-tạng về cái bản chất sáng sủa trong sạch của nó như là vốn không ô nhiễm, có ba mươi hai tướng tốt, dấu trong thân thể của mỗi chúng sanh như một viên ngọc quý được đặt trong cái áo dơ, được bao trong cái áo của các uẩn, giới, xứ và bị bẩn vì bụi của tham, sân, si và huyễn tướng, trong khi Thế Tôn mô tả nó là trường cửu thường hằng, tốt đẹp, không thay đổi”. Qua câu nói này, chúng ta thấy đức Phật xác nhận Như-lai-tạng vốn trong sáng, không ô nhiễm, trường cửu thường hằng như viên ngọc quý dấu trong mỗi chúng sanh, ẩn trong uẩn, xứ, giới nhưng nó bị bụi tham, sân, si làm ô nhiễm. Như-lai-tạng chính là chơn tâm thật tánh ẩn dấu trong mỗi chúng sanh, nó vốn thường hằng thanh tịnh, nhưng vì một niệm bất giác vô minh, vì tham, sân, si mà Như-lai-tạng bị che phủ. Một khi Như-lai-tạng bị che phủ thì Như-lai-tạng trở thành A-lại-da thức. Như vậy giữa Như-lai-tạng và A-lại-da thức có một mối tương quan như thế nào, khi nào gọi là Như-lai-tạng, khi nào gọi là A-lại-da ? Để hiểu rõ hơn về Như-lai-tạng, chúng ta phải hiểu mối quan hệ giữa chúng. 2. Mối quan hệ giữa A-lại-da và Như-lai-tạng : A-lại-da và Như-lai-tạng là một hay là hai ? Không phải hai, nhưng nếu nói một thì cũng không phải, vì khi còn ô nhiểm thì gọi A-lại-da, khi thanh tịnh gọi là Như-lai-tạng. Cả hai cái giống như một bàn tay khi lật úp là cái này, lật ngữa là cái kia, đứng trên mặt thể tánh thì chỉ là một nhưng đứng trên mặt hiện tượng thì hai. A-lại-da là nơi thâu giữ mọi chủng tử tốt cũng như xấu của chúng sanh, ví như cái kho chứa hàng hoá, nó chứa tất cả các tập khí, tư tưởng, tình cảm, ước muốn, hành vi... từ xa xưa của con người một cách không phân biệt. Trong kinh Lăng Già, đức Phật mô tả thức A-lại-da : “Giống như sóng khởi trên biển, bị khuấy động bởi gió, cứ nhấp nhô mà không ngưng. Biển A-lại-da cũng bằng một cách tương tự như thế, mãi bị khuấy động bởi những cơn gió của đối tượng, người ta thấy nó nhấp nhô theo với các thức là những con sóng của đa tính… cũng như những con sóng khác nhau bị quấy động trên biển, ở trong A-lại-da có nhiều thứ khác nhau được tạo thành gọi là các thức”. Cũng trong kinh Lăng Già đức Phật xác nhận rằng : “Cái tập khí sinh ra do phân biệt hư ngụy, chất chứa bằng nhiều cách khác nhau của thức A-lại-da sẽ bị diệt khi tất cả các căn thức bị diệt. Điều này gọi là sự diệt về mặt hình tướng của các thức …Còn sự diệt về mặt tương tục của các thức xảy ra theo cách sau đây : Này Mahàmati, khi cái sở duyên (tức là cái tập khí hay trí nhớ được chất chứa từ vô thỉ) và cái sở kiến (thế giới đối tượng) ngưng vận hành…Thế nhưng cái nguyên tướng của A-lại-da không diệt”. Như vậy A-lại-da thức được đức Phật ví như biển. Biển A-lại-da bị khuấy động bởi gió đối tượng, nhấp nhô theo những con sóng thức. Thế nhưng theo đức Phật, các con sóng thức của A-lại-da có thể bị diệt nhưng cái nguyên tướng của A-lại-da không diệt. Vậy cái nguyên tướng của A-lại-da thức là gì ? Đó chính là Như-lai-tạng. Cho nên trong kinh Lăng Già, đức Phật một lần nữa lại kết luận : “Này Mahàmati, nếu ông bảo rằng không có cái Như-lai-tạng gọi là thức A-lai-da thì sẽ không có sự sinh khởi hay sự biến mất khi không có cái Như-lai-tạng được gọi là thức A-lại-da. Nhưng này Mahàmati, có sự sinh khởi và sự biến mất của kẻ ngu cũng như của hàng thánh giả…cảnh giới của Như-lai-tạng vốn là không ô nhiễm và vượt ra ngoài mọi lý thuyết lý luận của hàng Thanh văn, Duyên giác và các triết gia nhưng nó xuất hiện nơi họ vì không thanh tịnh vì nó bị ô nhiễm bởi những cấu uế bên ngoài”. A-lại-da và Như-lai-tạng cùng một thể tánh, vốn từ vô thỉ hoàn toàn thanh tịnh, nhưng hiện tại nó đang bị ô nhiễm nên được gọi là A-lại-da. A-lại-da cần được tẩy sạch các tập khí xấu để trở nên Như-lai-tạng thanh tịnh uyên nguyên. Như-lai-tạng là cái tâm tuyệt đối, là Phật tính, chân như, viên mãn thanh tịnh. 3. Như-lai-tạng có phải là cái “ngã” trường cửu của các triết gia tuyên thuyết hay không ? Trong kinh điển, đức Phật tuyên thuyết giáo lý vô ngã vì muốn phá bỏ tâm chấp ngã, chấp pháp của chúng sanh. Đã nói vô ngã, tại sao trong kinh Lăng Già, đức Phật lại đề cập đến Như-lai-tạng, là bản thể chân thật vốn thường hằng không sanh không diệt, khiến cho người nghe lại rơi vào một chấp khác, đó là chấp vào “ngã thường hằng” ? Trong kinh Lăng Già, bồ tát Mahàmati đã thay mặt hội chúng nêu lên thắc mắc này: “Thế Tôn dạy về Như-lai-tạng như thế há lại không phải cùng một thứ với cái tự ngã mà các triết gia vẫn tuyên thuyết hay sao ? Cái ngã như được nói đến trong các hệ thống của các triết gia là một kẻ sáng tạo trường cửu, bất định tính, có mặt khắp nơi và không bị hủy diệt”. Trong kinh Lăng Già đức Phật trả lời câu hỏi này rất rõ ràng như sau: “Không, này Mahàmati, Như-lai-tạng của ta không phải là cùng thứ với cái ngã mà các triết gia tuyên thuyết. Này Mahàmati, cái mà Như-lai tuyên thuyết là cái Như-lai-tạng trong cái ý nghĩa rằng đấy là cái không, cái bờ giới của thực tính, Niết-bàn, vô sinh, vô định tính và vô nguyện. Vấn đề trọng yếu mà chúng ta cần làm rõ ở đây là Như-lai-tạng có phải cùng một thứ với ngã trường cửu mà các triết gia tuyên thuyết hay không ? Trước khi làm rõ vấn đề trên thì trước hết ta phải hiểu cái ngã được nói đến trong các hệ thống của các triết gia là một kẻ sáng tạo trường cửu, bất định tính, có mặt khắp nơi và không bị hủy diệt là cái ngã thế nào ? Như chúng ta đã biết trong triết học Ba-la-môn, vào giai đoạn Phạm thư, cho rằng có một đấng Phạm (Brahma) là vị thần tối cao tạo ra vạn vật trong thế gian này. Sau đó tiến lên một bước nữa, triết học Phạm thư cho rằng Phạm (Brahma) là đại ngã, là bản thể vũ trụ, có tính cách tuyệt đối độc tôn. Phạm một mặt duy trì cái bản chất không biến động, mặt khác lại hoạt động theo hai yếu tố là Danh (Nama) và Sắc (Rupa) để mở mang vạn hữu. Giai đoạn này thiên về quan niệm bất biến, lấy Đại ngã làm trung tâm điểm. Sau đó học thuyết này chuyển qua lấy Àtman (tự ngã) làm trung tâm. Bràhman và Atman tuy tên khác nhau nhưng cùng một thể. Bràhman thuộc về phương diện vũ trụ, Atman thuộc về phương diện tâm lý. Căn cứ vào phương diện tâm lý thì linh hồn bất diệt, nghĩa là Atman khi lìa thể xác thì linh hồn được quy thuộc về Braman. Vậy cái ngã được nói đến trong các hệ thống của các triết gia chính là Átman sau khi rời thể xác, hòa nhập vào Brahma. Tư tưởng triết học này cho rằng cái ngã (Átman) này mang tính trường cửu, bất định tính, có mặt khắp nơi và không bị hủy diệt. Vậy Như-lai-tạng có phải giống cái ngã trường cửu này của các triết gia tuyên thuyết hay không ? Đức Phật khẳng định Như-lai-tạng không phải là cái ngã mà các triết gia tuyên thuyết. Tại sao đức Phật lại khẳng định như vậy ? Giữa Như-lai-tạng và cái ngã mà các triết gia tuyên thuyết khác nhau như thế nào ? Mặc dù trên bề mặt ngôn thuyết Như-lai-tạng được mô tả là trường cửu, không sanh diệt, có vẻ giống cái ngã trường cửu, bất định tính, có mặt khắp nơi và không bị hủy diệt của các triết gia, thế nhưng đứng trên bề mặt bản thể thì Như-lai-tạng không phải cùng một thứ với cái ngã mà các triết gia tuyên thuyết. Vì sao ? Vì Cái ngã mà các triết gia tuyên thuyết vẫn còn nằm trên bề mặt giới hạn của tâm chấp có một thực thể tồn tại thường hằng bất biến chi phối vũ trụ con người. Upanishad quan niệm vạn pháp do Phạm (đấng trường cửu) chuyển biến sinh ra nên mỗi cá thể đều có mặt của Phạm. Phật Giáo phủ nhận sự siêu nhiên phi thực tại là Phạm sinh ra vạn pháp, vì Phạm Thiên chẳng ai thấy mà cũng chẳng ai biết, như lời Đức Phật trả lời Bà Tất Tra trong Kinh Tam Minh của Trường A Hàm, như sau : “Nếu Bà La Môn thông Tam Minh kia không thấy Phạm thiên, tiên sư của Bà La Môn thông Tam Minh cũng không thấy Phạm thiên, các Bà La Môn thông Tam Minh, những cựu tiên nhân như A Tra Ma… cũng không một ai thấy Phạm thiên. Thế thì biết rằng nhũng điều Bà La Môn thông Tam Minh nói không phải sự thật” Với lý luận này Đức Phật phủ nhận sự có mặt của Phạm thiên. Phạm thiên chẳng qua do con người tưởng tượng ra, chứ thực sự không hề có sự tồn tại nào của một vị Phạm chi phối, hình thành nên vạn vật. Theo quan niệm của Đạo Phật, mọi vật tồn tại trong thế gian này, từ những vật lớn như sơn hà đại địa đến những vật nhỏ như hạt cát đều do duyên sinh rồi do duyên diệt. Đức Phật dạy : "Pháp Duyên khởi ấy, dù Như Lai xuất hiện hay không xuất hiện, an trú là giới tánh ấy, pháp quyết định ấy, y duyên tánh ấy. Như Lai hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt, Như Lai tuyên thuyết, tuyên bố, khai triển, khai thị, minh hiển, minh thị” . Duyên khởi nói lên bản chất của các pháp là “ duyên sanh tánh” hay “ vô ngã tánh”. Nếu như triết lý Bà La Môn thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tối cao chi phối vạn vật và thừa nhận Bràhman thường còn bất biến, thì theo Duyên Khởi : Sự vật luôn luôn biến hóa không cùng tận, đó không phải là vật này (Bràhman) sinh ra vật kia (vạn vật) mà là vật này làm nhân duyên sinh khởi vật kia. Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên sanh, sự có mặt của một pháp là sự có mặt của nhân duyên sinh ra nó, sự hoại diệt của một pháp tức là sự hoại diệt của nhân duyên sinh ra nó. Không có một bóng hình hữu ngã nào xuất hiện trong pháp giới duyên khởi thì làm gì tồn tại một Bràhman trường cửu. Đức Phật cũng bác bỏ luôn quan điểm của Upanishad về một linh hồn trường cửu. Theo đức Phật, con người được tổng hợp từ năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc thuộc phần vật lý; thọ, tưởng, hành, thức thuộc phần tinh thần. Con người ngũ uẩn do Mười Hai Nhân Duyên sinh khởi, Mười hai Nhân duyên diệt thì con người ngũ uẩn diệt. “Diệt” không phải là mất hẳn mà tuỳ theo nghiệp tạo tác trong đời hiện tại dẫn đến hình thành đời sống trong vị lai. Do vậy vạn vật và con người cứ biến hoá, vụt mất, vụt còn, không có cái tôi thường định, linh hồn trường cữu. Vì nếu lòng tham dục chưa dứt, nghiệp vẫn còn tạo tác thì chết nghĩa là bắt đầu một kiếp sống khác, một tinh thần và vật chất khác. Linh hồn của kiếp sống này không phải linh hồn của kiếp sống kia, nó do duyên sanh, thay đổi, tạm bợ. Cho nên không thể nói “ linh hồn trường cữu”. Vì những chủ trương thiên lệch trên mà trong kinh Lăng Già đức Phật khẳng định : “Cái ngã linh hồn, sự tương tục, các uẩn, nhân quả, vi trần, thần linh tối thượng, kẻ điều khiển, vị sáng tạo đều là những phân biệt trong cái duy tâm”. Cái ngã linh hồn (Átman) hay thần linh tối thượng, kẻ điều khiển, vị sáng tạo (Bràhman) của học thuyết các triết gia hay là các uẩn, nhân quả, vi trần, nói chung là các pháp hữu vi trong thế gian này đều do các phân biệt của tâm thức biến hiện mà giả lập như thế. Các pháp hữu vi giống như một đám mây, một vòng tròn do thanh củi cháy mà có, như thành quách của Càn-thác-bà, một ảo tưởng, một ảo ảnh, cái mặt trăng phản chiếu trong biển và một giấc mộng và không hề có một hữu ngã nào tồn tại trong chúng cả. Nếu như cái ngã mà các triết gia tuyên thuyết là một cái ngã do tâm phân biệt và do cái trí sai lầm tạo nên, thì Như-lai-tạng mà đức Phật tuyên thuyết trong kinh Lăng già có bản chất như thế nào ? Như-lai-tạng mà đức Phật tuyên thuyết là cái Như-lai-tạng trong cái ý nghĩa rằng đấy là cái không, cái bờ giới của thực tính, Niết-bàn, vô sinh, vô định tính và vô nguyện. Thật ra đức Phật không thể nào diễn tả được bản thể Như-lai-tạng cho mọi người hiểu, bởi thực tánh của Như-lai-tạng vượt ra ngoài ngôn thuyết, tư duy và phân biệt, không thể dùng cái thức để thấy nó mà phải thể nhập nó, hòa vào nó mới nhận ra nó, nhưng đức Phật đã mượn ngón tay chỉ mặt trăng, mượn những danh từ như không, cái bờ giới của thực tính, Niết-bàn, vô sinh, vô định tính và vô nguyện hay những từ trường cửu, thường hằng … để diễn tả cảnh giới bất sanh bất diệt của Niết Bàn. Như vậy thật tánh của Như-lai-tạng không cùng một loại ngã mà các triết gia tuyên thuyết. Vì cái ngã mà các triết gia tuyên thuyết còn nằm trong tư duy hữu ngã, còn nằm trong kiến giải sai lầm vì những người chủ trương học thuyết này chưa đạt đến tuệ giác cứu cánh, chưa thể nhập chân lý mà họ chỉ mới chứng ngộ một phần nào đó thôi nên họ mới chủ trương có một linh hồn trường cửu như thế. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này chúng ta tiếp tục tìm hiểu những lý do khiến đức Phật thuyết Như-lai-tạng. 4. Lý do đức Phật tuyên thuyết Như-lai-tạng: Trong kinh Lăng Già, đức Phật đưa ra hai lý do chính khiến Ngài tuyên thuyết về Như-lai-tạng. Một lý do là để làm cho kẻ ngu dẹp bỏ sự sợ hãi khi nghe nói đến giáo lý vô ngã, một lý khác là để thức tỉnh các triết gia để họ khỏi chấp vào ý niệm ngã. Lý do thứ nhất mà đức Phật nêu lên là: “Lý do khiến chư Như-lai và các bậc A-la-hán và các bậc toàn giác thuyết giảng cái giáo lý trỏ về Như-lai-tạng là để làm cho kẻ ngu dẹp bỏ sự sợ hãi khi nghe nói đến giáo lý vô ngã và để cho họ thể chứng cái trạng thái vô phân biệt và vô tưởng. Này Mahàmati, ta cũng mong rằng chư Bồ-tát ma-ha-tát trong hiện tại và vị lai sẽ không chấp vào cái ý niệm về một cái ngã (linh hồn). Này Mahàmati cũng giống như một người thợ đồ gốm tạo ra nhiều bình lọ do một khối đất sét cùng một loại bằng sự khéo tay và cần mẫn với một cái cần nước và chỉ. Này Mahàmati, chư Như-lai thuyết về sự vô ngã của các sự vật gỡ bỏ tất cả những dấu vết phân biệt nhờ vào phương tiện thiện xảo khác nhau xuất phát từ trí tuệ siêu phàm của chư vị, đấy là có khi chư vị dùng lý thuyết về Như-lai-tạng, có khi dùng lý thuyết vô ngã, và cũng giống như người thợ đồ gốm, chư vị dùng nhiều đề mục, nhiều biểu từ và những từ đồng nghĩa mà thuyết giảng. Vì thế, này Mahàmati, học thuyết về tự ngã của các triết gia không phải là cùng một thứ với giáo pháp về Như-lai-tạng” Lý do đức Phật nói Như-lai-tạng là để đối trị với cái tâm sợ hãi của kẻ ngu khi nghe đến giáo lý vô ngã vì những kẻ độn căn độn trí thường hay bị vướng vào thái cực này rồi thái cực kia, hết chấp ngã lại chuyển sai chấp vô ngã. Khi nghe Phật thuyết về lý vô ngã thì mọi người lại thắc mắc Vô ngã thì ai tu? Ai chứng đắc? Ai luân hồi? Trong Tương Ưng Bộ kinh II, Tôn giả Moliya Phagguna đã từng hỏi Đức Phật những câu hỏi tương tự như thế khi nghe Thế Tôn thuyết về lý vô ngã: "Bạch Thế Tôn, ai cảm xúc? Ai thọ? Ai khát ái? Ai chấp thủ?”. Ðức Phật dạy: "Như Lai chỉ dạy xúc, thọ, ái, thủ..., chớ không dạy người nào xúc, thọ, ái, thủ..., nên câu hỏi của Tôn giả không phù hợp với định lý Duyên khởi. Câu hỏi phù hợp là: "Do duyên gì, xúc sinh? Thọ sinh? v.v..." Và trong kinh Lăng Già chính Bồ tát Ma-ha-tát cũng thỉnh vấn Thế Tôn về vấn đề này : “Bạch Thế Tôn, xin hãy nói cho con biết về sự sinh khởi và sự biến mất của các uẩn, các giới và các xứ. Trong trường hợp không có ngã – linh hồn thì cái gì hiện hữu và cái gì biến mất ? Người ngu bị ràng buộc vào ý niệm sinh và diệt, không hiểu được sự dập tắt khổ đau và như thế họ không hiểu Niêt-bàn là gì”. Đó là cái tâm lý lo sợ thường tình của kẻ phàm phu : vô ngã thì là rỗng không, thì ai tu, ai chứng đắc, có cái gì tồn tại để mà tu. Người ngu bị ràng buộc vào ý niệm sinh và diệt, không hiểu được trạng thái Niết Bàn là gì. Đức Phật hiểu tâm trạng này của kẻ phàm phu nên Ngài trả lời rằng : “Này Mahàmati, Như-lai-tạng giữ trong nó cái nguyên nhân của cái thiện và cái ác và tất cả hình thức hiện hữu đều được tạo ra do từ nó. Giống như một diễn viên, nó mang nhiều hình trạng khác nhau và không có một ngã – linh hồn và những thứ thuộc về ngã. Vì người ta không hiểu điều này nên có sự tác động lẫn nhau của ba hòa hợp, từ đó các kết quả xảy ra. Nhưng các triết gia vì không hiểu điều này nên chấp chặt vào cái ý niệm về một nguyên nhân do bởi ảnh hưởng của một tập khí vốn đã chất chứa khác nhau bởi sự suy luận sai lầm từ thời vô thỉ, nên cái hiện đang có có cái tên là A-lại-da thức kèm theo là bảy thức tạo sự sinh khởi cho một trạng thái gọi là chổ trú của vô minh. Giống như một biển lớn trong đó sóng mãi cuồn cuộn nhưng cái phần tự nó vẫn tồn tại không gián đoạn, hoàn toàn vượt khỏi sự hư giả của vô thường, không liên hệ gì với học thuyết ngã thể và hoàn toàn thanh tịnh trong bản tính của nó” . Như-lai-tạng chứa trong nó các pháp hữu vi như thiện, ác, con người và vạn vật, nó như một diễn viên mang nhiều hình trạng khác nhau nhưng không có một ngã và những thứ thuộc về ngã. Các triết gia không hiểu điều này nên mới chấp có một linh hồn trường cửu do suy luận sai lầm và ảnh hưởng những chủng tử có từ vô thỉ. Theo lời Phật cái Như-lai-tạng đang bị nhiễm ô ấy được gọi bằng một cái tên là A-lại-da thức. A-lại-da kết hợp với bảy thức tạo ra chổ trú ẩn của vô minh. A-lại-da giống như một biển lớn bị các con sóng thức sanh diệt làm cho chao động nhưng bản thể của A-lại-da vẫn không gián đoạn, hoàn toàn thanh tịnh, vượt ra ngoài hư giả của vô thường. Bản tánh thật của A-lại-da chính là Như-lai-tạng. Các pháp hữu vi do tâm phân biệt biến hiện ra nên không có thật ngã, nhưng ẩn dấu đằng sau lớp vỏ vô ngã đó là một cái bản thể thường hằng vốn thanh tịnh, không sanh diệt, bản thể đó chính là Như-lai-tạng: “Giống như một biển lớn trong đó sóng mãi cuồn cuộn nhưng cái phần tự nó vẫn tồn tại không gián đoạn, hoàn toàn vượt khỏi sự hư giả của vô thường”. Đức Phật giống như người thợ đồ gốm tạo ra nhiều bình lọ từ một khối đất sét bằng sự khéo tay cần mẫn với một cái cần nước và chỉ, đức Phật nhờ vào phương tiện thiện xảo khác nhau từ một tuệ giác siêu việt mà có khi Ngài dùng lý thuyết về Như-lai-tạng, có khi dùng lý thuyết về vô ngã chỉ với một mục đích gỡ bỏ tất cả những dấu vết phân biệt để người nghe hiểu rằng: dưới lớp vỏ sanh diệt vô thường vô ngã ấy vẫn luôn tồn tại một bản thể thường hằng thanh tịnh. Vì điều này mà một lần nữa đức Phật lại khẳng định : “Vì thế, này Mahàmati, học thuyết về tự ngã của các triết gia không phải là cùng một thứ với giáo pháp về Như-lai-tạng”. Tiếp theo lý do trên, trong kinh Lăng Già, đức Phật lại nói lên lý do khác khiến Ngài tuyên thuyết Như-lai-tạng: “Này Mahàmati, học thuyết về Như-lai-tạng được trình bày để thức tỉnh các triết gia để họ khỏi chấp vào ý niệm ngã, để làm cho những cái tâm nào đã rơi vào các kiến giải tưởng rằng cái ngã phi hữu là thực và rơi vào cái ý niệm về tam giải thát là cứu cánh, thì bây giờ nhờ học thuyết này mà nhanh chóng ngộ được trạng thái chứng ngộ tối thượng”. Đức Phật vì muốn khai thị cho các triết gia (các nhà ngoại đạo), giúp họ không bị kẹt vào các ý niệm ngã, ngã phi hữu, tam giải thoát cứu cánh hay ngã trường cửu mà tuyên thuyết lý Như-lai-tạng. Vì dưới cái nhìn tuệ giác của đức phật, Ngài thấy rằng các ý niệm ngã, ngã phi hữu hay ngã trường cửu…mà các triết gia chủ trương là những kiến giải sai lầm không đúng với chân lý. Sau cùng đức Phật kết luận rằng : “Chư Như-lai là những bậc A-la-hán toàn giác khai thị học thuyết Như-lai-tạng, là cái giáo pháp không nên bị xem là đồng nhất với ý niệm về ngã ngã thể của các triết gia. Do đó này Mahàmati, để từ bỏ cái vọng niệm mà các triết gia tôn quý, ông phải nổ lực tu tập giáo pháp về vô ngã và về Như-lai-tạng”. Chính vì tất cả những lý do trên mà chư Như Lai và những bậc A-la-hán toàn giác khai thị học thuyết Như-lai-tạng. Học thuyết vô ngã hay học thuyết Như-lai-tạng do Phật tuyên thuyết cũng chỉ là những phương tiện thiện xảo đưa vượt qua sông mê đến bờ giác. Thực tánh của Như-lai-tạng hoàn toàn không giống cái ngã mà các triết gia tuyên thuyết. Như-lai-tạng vốn chưa bao giờ được sinh ra, chưa bao giờ bị mất đi mà luôn thanh tịnh thường hằng. Cho nên đức Phật khuyên chúng ta phải từ bỏ cái vọng niệm mà các triết gia tôn quý, từ bỏ các chấp trước sai lệch để tu tập giáo pháp vô ngã và Như-lai-tạng. 5. Tu tập để thể nhập Như-lai-tạng: Khi người nghe đã dẹp bỏ tâm lo sợ về giáo lý vô ngã, và khi đã dẹp bỏ được tâm chấp vào một ngã trường cửu của các triết gia, đến đây đức Phật từ từ hướng dẫn hội chúng biết rõ lối đi đến thể nhập vào bản thể Như-lai-tạng. Trong kinh Lăng Già, đức Phật hướng dẫn hội chúng như sau: “Khi một sự đột biến không xảy ra trong thức A-lai-da được gọi là Như-lai-tạng thì sẽ không có sự đứt đoạn của bảy thức gây phát triển. Tại sao ? Vì sự phát triển của các thức tùy thuộc vào nguyên nhân này không thuộc lãnh vực của hàng Thanh văn, Duyên giác và những kẻ tu tập theo cách tu tập của các triết gia vì họ chỉ biết cái vô ngã của ngã, vì họ chấp nhận tính đặc thù và tính tổng quát của các uẩn, giới, xứ nên có sự gây phát triển của Như-lai-tạng. Khi người ta có được một trí tuệ thấu suốt năm pháp, ba tự tánh và sự vô ngã của tất cả các sự vật thì Như-lai-tạng trở thành an tịnh. Nhờ gây nên một sự đột biến trong sự phát triển tương tục của các địa theo thứ bậc mới có thể không bị các triết gia chủ trương những kiến giải khác dẫn đi lạc đường. Tự an lập ở địa Bồ-tát bất động, vị ấy đạt tới con đường dẫn tới hạnh phúc của mười Tam-ma-địa, quán sát các chân lý của chư Phật là những chân lý vượt khỏi tư tưởng và quán sát các bổn nguyện của mình, không nhập vào hạnh phúc của Ta-ma-địa vốn là giới hạn của thực tính nhưng nhờ vào sự tự chứng mà thông thường các cách tu tập thuộc hàng Thanh văn, Duyên giác và các triết gia không đạt được, vị Bồ -tát đạt được mười đương tu tập thuộc thánh tộc và cái thân trí tuệ sinh ra do ý nguyện được thoát khỏi những hành tác cuả Tam-ma-địa. Vì lý do ấy nên này Mahàmati, chư Bồ-tát ma-ha-tát tìm cầu cái chân lý cao vời phải thanh tịnh cái Như-lai-tạng được gọi là thức A-lai-da”. Theo đức Phật, kẻ phàm phu vì chấp nhận tính đặc thù và tính tổng quát của các uẩn, giới, xứ nên không làm cho thức A-lại-da có một sự đột biến thành Như-lai-tạng, nhưng khi người ta có được một trí tuệ thấu suốt năm pháp, ba tự tánh và sự vô ngã của tất cả các sự vật thì Như-lai-tạng trở thành an tịnh. Nhờ gây nên một sự đột biến trong sự phát triển tương tục của các địa theo thứ bậc mới có thể không bị các triết gia chủ trương những kiến giải khác dẫn đi lạc đường. Hành giả phải tự an lập ở địa Bồ-tát bất động, vị ấy đạt tới con đường dẫn tới hạnh phúc của mười Tam-ma-địa, quán sát các chân lý của chư Phật là những chân lý vượt khỏi tư tưởng phân biệt, và quán sát các bổn nguyện của mình, không nhập vào hạnh phúc của Ta-ma-địa vốn là giới hạn của thực tính. Bồ Tát nhờ thoát khỏi những hành tác cuả Tam-ma-địa nên đạt được mười đương tu tập thuộc thánh tộc và cái thân trí tuệ sinh ra do ý nguyện. Đây là quả chứng mà cách tu tập thuộc hàng Thanh văn, Duyên giác và các triết gia không đạt được. Vì lý do ấy nên chư Bồ-tát phải thanh tịnh thức A-lai-da để thể nhập vào thể tánh Như-lai-tạng. IV. ĐỐI CHIẾU HỌC THUYẾT NHƯ-LAI-TẠNG TRONG LĂNG GIÀ VỚI HỌC THUYẾT NHƯ-LAI-TẠNG TRONG MỘT SỐ KINH LUẬN ĐẠI THỪA: Như chúng ta đã biết học thuyết Như-lai-tạng được hình thành từ quá trình phát triển tất yếu của triết học Phật giáo. Chính vì vậy học thyết Như-lai-tạng có mặt khắp nơi trong kinh điển Đại thừa như kinh Lăng Nghiêm, Kinh Thắng Man, Kinh Viên Giác, Luận Đại Thừa Khởi Tín …Và để rõ hơn học thuyết này, chúng ta hãy đi vào đối chiếu học thuyết Như-lai-tạng trong Lăng Già với một số học thuyết Như-lai-tạng trong các kinh luận Đại thừa tiêu biểu. 1. Với Luận Đại Thừa Khởi Tín: Trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, Ngài Mã Minh mô tả Như-lai-tạng như sau: “Cái sanh diệt của tâm là vì nương vào Như-lai-tạng mà có tâm sanh diệt. Đó là cái được gọi là bất sanh bất diệt, cùng với sanh diệt hòa hợp nhau, chẳng phải một, chẳng phải khác, mệnh danh là thức A-lại-da. Thức ấy có công năng thâu vô tất cả các pháp và sanh ra tất cả các pháp. Nó bao gồm hai nghĩa, một là nghĩa giác, hai là nghĩa bất giác”. Đoạn này rất giống sự mô tả về Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già : “Cái tập khí sinh ra do phân biệt hư ngụy, chất chứa bằng nhiều cách khác nhau của thức A-lại-da sẽ bị diệt khi tất cả các căn thức bị diệt. Điều này gọi là sự diệt về mặt hình tướng của các thức …Còn sự diệt về mặt tương tục của các thức xảy ra theo cách sau đây : Này Mahàmati, khi cái sở duyên (tức là cái tập khí hay trí nhớ được chất chứa từ vô thỉ) và cái sở kiến (thế giới đối tượng) ngưng vận hành…Thế nhưng cái nguyên tướng của A-lại-da không diệt”. Cái nguyên tướng của A-lại-da chính là Như-lai-tạng vì trong một đoạn khác của kinh Lăng Già, đức Phật xác nhận cái Như-lai-tạng gọi là thức A-lại-da: “Này Mahàmati, nếu ông bảo rằng không có cái Như-lai-tạng gọi là thức A-lai-da thì sẽ không có sự sinh khởi hay sự biến mất khi không có cái Như-lai-tạng được gọi là thức A-lại-da. Nhưng này Mahàmati, có sự sinh khởi và sự biến mất của kẻ ngu cũng như của hàng thánh giả…cảnh giới của Như-lai-tạng vốn là không ô nhiễm và vượt ra ngoài mọi lý thuyết lý luận của hàng Thanh văn, Duyên giác và các triết gia nhưng nó xuất hiện nơi họ vì không thanh tịnh vì nó bị ô nhiễm bởi những cấu uế bên ngoài”. Khi đem đối chiếu giữa hai quan điểm về như trên về Như-lai-tạng trong Khởi Tín và Lăng Già, chúng ta thấy cả hai đều mang một ý nghĩa Như-lai-tạng và A-lại-da chẳng phải một chẳng phải khác, Như-lai-tạng thì uyên nguyên bất sanh bất diệt, còn thức A-lại-da thì sanh diệt tương tục, khi còn ô nhiễm gọi là A-lại-da, khi ô nhiễm hết thì gọi là Như-lai-tạng hay gọi là nguyên tướng của A-lại-da hiển lộ. Tiếp đến Ngài Mã minh nói rõ hơn về Như-lai-tạng: “Nghe kinh nói tất cả những cái nhiễm ô của sanh tử trong thế gian đều nương vào Như-lai-tạng mà có, và tất cả các pháp đều không rời chân như, thế rồi vì không hiểu rõ bèn cho rằng tự thể của Như-lai-tạng có đủ tất cả ô nhiễm sanh tử trong thế gian. Làm thế nào để đối trị ? Cần phải biết rằng Như-lai-tạng ngay trong bản chất chỉ có công đức thanh tịnh nhiều hơn số cát sông hằng, không khác, không dứt, không lìa chân như. Còn các phiền não nhiễm ô nhiều hơn số các sông hằng, chỉ có một cách hư dối, tánh của chúng vốn không từ vô thỉ đến giờ chưa từng tương ưng với Như-lai-tạng … cần nói rõ rằng vì Như-lai-tạng không có tiền tế, cho nên tướng vô minh cũng không có thủy. Nếu nói rằng ngoài ba cõi ra, còn có chúng sanh bắt đầu sanh khởi thì đó là thuyết của ngoại đạo. Lại nữa Như-lai-tạng không có hậu tế. Niết bàn mà chư Phật chứng đắc tương ưng với Như-lai-tạng, cũng không có hậu tế vậy”. Khi đọc kỹ đoạn này của ngài Mã Minh nói về Như-lai-tạng, chúng ta thấy ý nghĩa về Như-lai-tạng trong đây cũng tương đồng với Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già. Nếu như ngài Mã Minh nói : “Tất cả những cái nhiễm ô của sanh tử trong thế gian đều nương vào Như-lai-tạng mà có, và tất cả các pháp đều không rời chân như” thì Lăng Già cũng nói : “Như-lai-tạng giữ trong nó cái nguyên nhân của cái thiện và cái ác và tất cả hình thức hiện hữu đều được tạo ra do từ nó”. Và nếu như Ngài Mã Minh nói : “Niết bàn mà chư Phật chứng đắc tương ưng với Như-lai-tạng” thì trong kinh Lăng Già đức Phật cũng nói lên ý này : “Này Mahàmati, ông và chư Bồ-tát ma-ha-tát khác phải tu tập trong cảnh giới Như-lai tính, trong sự hiểu biết về cái Như-lai-tạng A-lại-da thức này, để các ông không chỉ bằng lòng với sự học suông. Cho nên nói : Cái tạng Như-lai quả thật đồng nhất với bảy thức; khi chấp vào điều ấy thì nhị biên sinh khởi, nhưng khi hiểu biết điều ấy một cách đúng đắn thì nhị biên không còn nữa”. Nghĩa là cảnh giới Niết Bàn mà chư Phật chứng đắc tương ưng với Như-lai-tạng hay nói khác hơn khi hiểu biết về Như-lai-tạng A-lại-da thức thì thể nhập nhập Như Lai tính, tạng Như Lai sẽ hiển lộ khi nhị biên không còn nữa. 2. Với Kinh Thủ Lăng Nghiêm: Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật nói về Như-lai-tạng: “Tất cả thế gian pháp và xuất thế gian pháp đều do tâm Như-lai-tạng phát sanh. Thân của các ông vốn là vật ở trong diệu minh chơn như tâm, cớ sao các ông lại quên mất tâm diệu minh ấy mà nhận cái mê ở trong ngộ. Đó là chổ điên đảo của thân tâm. Ban sơ vì một niệm mê muội mà có vô minh, do vô minh mà hóa ra ngoan không, rồi lại sanh ra sắc tứ đại kết hợp với vọng tưởng mà hóa ra thân ngũ uẩn. Đó là thân mê ở trong ngộ.” Nghĩa là tất cả các pháp hữu vi đều được sanh ra từ Như-lai-tạng. Nhưng đức Phật lại nói đó là do chổ điên đảo của thân tâm, nhận cái mê ở trong ngộ, vì một niệm mê muội mà có vô minh. Phật hỏi ngược lại ông A Nan: “A Nan, năm ấm sắc, thọ, tưởng, hành, thức vì sao lại nói gốc là tánh chơn như mầu nhiệm của Như-lai-tạng ?”. Và đức Phật lý giải: “Giả sử như có người dùng mắt thanh tịnh trông lên hư không, chỉ thấy toàn một vẻ trong sáng rỗng suốt, chớ chẳng có vật ngăn ngại. Người ấy chăm chỉ ngó không nháy mắt, qua một hồi lâu mắt sanh mỏi mệt thì thấy ở hư không có nhiều hoa đốm biến tướng lăng xăng rộn ràng. Nên biết sắc ấm cũng như thế. A Nan, những hoa đốm biến tướng ấy không phải do hư không và nhãn căn hiện ra”. Rồi đức Phật đúc kết lại :“ A Nan, ông còn chưa biết tất cả tướng huyễn hóa phù trần sanh ra chổ nào thì tùy theo chổ ấy mà tiêu diệt, các thứ huyễn hóa hư vọng, là tướng, nhưng tánh vốn là thể giác ngộ sáng suốt nhiệm mầu cho tới ngũ ấm, lục nhập, tập nhị xứ và thập bát giới cũng như vậy. Khi nhân duyên hòa hiệp thì hư vọng phát sanh, khi nhân duyên hư tán thì hư vọng tiêu diệt. A Nan, ông chưa biết dầu sanh, dầu diệt, dầu tới, dầu lui, vốn thiệt là tánh chơn như bất động, huyền diệu quang minh, châu viên, thường trụ của Như-lai-tạng” Như vậy nếu như chúng ta đem Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già và trong kinh Thủ Lăng Nghiêm đối chiếu với nhau thì thấy mặc dù hình thức mô tả về Như-lai-tạng giữa hai kinh khác nhau, nhưng về mặt ý nghĩa thì chỉ là một. Trong Lăng Nghiêm đức Phật chỉ cho ta thấy tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian đều do tâm Như-lai-tạng phát sanh thì trong kinh Lăng Già, đức Phật cũng nói giống như vậy: Như-lai-tạng giữ trong nó cái nguyên nhân của cái thiện và cái ác và tất cả hình thức hiện hữu đều được tạo ra do từ nó. Và nếu trong kinh Lăng Nghiêm Phật cho rằng các pháp hữu vi dầu sanh, dầu diệt, dầu tới, dầu lui, vốn thiệt là tánh chơn như bất động, huyền diệu quang minh, châu viên, thường trụ của Như-lai-tạng. Còn trong kinh Lăng Già đức Phật cũng nói Như-lai-tạng vốn trong sáng, không ô nhiễm, trường cửu thường hằng như viên ngọc quý dấu trong mỗi chúng sanh, ẩn trong uẩn, xứ, giới nhưng nó bị bụi tham, sân, si làm ô nhiễm. Từ đây chúng ta hiểu rằng Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già và trong kinh Lăng Nghiêm đều mang ý nghĩa giống nhau. Tóm lại Như-lai-tạng được trình bày mỗi kiểu khác nhau trong kinh luận Đại thừa, nhưng nhìn chung Như-lai-tạng vẫn chứa đựng một ý nghĩa chung : Như-lai-tạng chứa các pháp sanh diệt hữu vi, nhưng bản thân nó không hề sanh diệt, vốn thanh tịnh, thường trú châu viên như viên ngọc quý ẩn dấu trong mỗi chúng sanh. Viên ngọc quý ấy sẽ hiển lộ khi chúng sanh tu tập đoạn mọi chấp trước, đoạn mọi chủng tử ô nhiễm của thức A-lại-da. C. KẾT LUẬN: Nhìn chung, học thuyết Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già chỉ cho chúng ta thấy được những quan điểm sai lầm của hàng Thanh văn, Duyên giác và các triết gia về những vấn đề như phân biệt, nhị nguyên, chấp hữu chấp vô, linh hồn trường cửu … Điều này cho chúng ta thấy học thuyết Như-lai-tạng này là kết quả của quá trình phát triển triết học Phật giáo Đại thừa. Học thuyết này phê phán một số quan điểm của các bộ phái Phật giáo, như phê phán phái Độc Tử Bộ (Vatsiputriya) với chủ trương ‘ngã pháp hằng hữu’, phê phán quan điểm ‘quá khứ và vị lai là không thật, chỉ có hiện tại vô vi là thật có’ của Hóa Địa Bộ (Mahisasaka), phê phán luôn quan điểm tam thế thật hữu pháp thể hằng tồn của Hữu Bộ (Saravastivada). Khi nhìn một cách tổng quát, chúng ta thấy ý nghĩa khái niệm của Như-lai-tạng trong kinh Lăng Già cũng cùng ý nghĩa khái niệm về Như-lai-tạng trong các kinh điển Đại thừa. Dù cách trình bày về Như-lai-tạng mỗi kinh có rộng có sâu khác nhau, nhưng hầu như đều chung ý nghĩa Tạng là cái bộ chứa phiền não mê lầm, che phủ Phật tính, là cái mầm giác ngộ vốn có trong mỗi chúng sanh. Về mặt ô nhiễm, Như lai tạng là tượng trưng cho thế giới luân hồi sinh diệt, về mặt tịnh Như lai tạng biểu hiện cho Niết bàn giải thoát. Tịnh là chơn như, nhiễm là vô minh, chân như và vô minh kết thành một khối bất ly trong tâm chúng sanh. Chính vì trong mỗi chúng sanh đều ẩn dấu viên ngọc quý Như lai tính nên đức Phật khuyên mọi người hãy tu tập từ bỏ mọi phân biệt cố chấp, tháo gỡ tất cả những sở tri chướng và phiền não chướng thì vô minh sẽ không còn, Phật tánh ắt hiển lộ. Đó chính là việc cần làm của người con Phật trên lộ trình hướng đến con đường giác ngộ giải thoát. TUỆ ĐẠT-KHOA TRIẾT PHẬT GIÁO, KHÓA 6 (5-2009)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét