THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

( Dị Bộ Tông Luân Luận)

( Dị Bộ Tông Luân Luận) A. DẪN NHẬP: Dị bộ tông luân luận là một trong vài tác phẩm được thấy trong Hoa tạng, nói về học thuyết của cá CAc bộ phái tiểu thừa. Các bộ phái này, có 20 tất cả, dĩ nhiên phong phú đến phức tạp về học thuyết. Học thuyết ấy chắc chắn cho thấy giai đoạn trước đó là gì và giai đoạn sau đó là gì. Vậy mà tài liệu để được biết đến thì quá ít. Dị tông luận đã giúp được phần nào trong việc này. “Dị Bộ Tông Luân Luận” là tác phẩm một cách khái quát tường thuật lại toàn bộ quá trình diễn biến của thời kỳ Phật giáo Bộ phái (370 TCN – 150 SCN), tóm tắt những quan điểm chính của các bộ phái, còn là đối tượng phê phán của Phật giáo Đại thừa. Thiết nghĩ, tác phẩm này được xem như là chiếc chìa khóa để tìm hiểu các nguồn tư liệu A tỳ đàm (abhidhamma) cũng như các kinh điển Phật giáo Đại thừa. Sau khi đức Thế Tôn, Đã nhập Bát-niết-bàn, Thời gian đã trãi qua, Được hơn một trăm năm. Bấy giờ trong Thánh giáo, Xuất hiện các bộ phái, Từ đó liền phát sanh, Các điều chẳng lợi ích. Chính vì bám chấp vào, Điều dị biệt như thế, Nên lần lượt phát sinh Thêm các bộ phái khác. Vì thế nên phải nương, Những lời đức Phật dạy , Phân biệt chấp dị ấy, Để họ sanh nhàm chán. Thế Hữu, bậc Bồ-tát, Đầy đủ trí tuệ giác, Xuất gia trong dòng Thích, Hành hạnh chân tỷ kheo, Thấy cảnh tượng như thế, Liền suy nghĩ đắn đo. Lại bình đẳng quán sát, Khắp tất cả thế gian, Nào quan điểm luận thuyết, Cứ trôi nổi quay cuồng, Rồi công kích đả phá, Lời dạy của Thế Tôn. Căn cứ các quan điểm, Ngài phân giải rõ ràng, Rằng tất cả phải nên, Thấy rõ lời Phật dạy, Hoàn toàn nương dựa vào, Thánh đế làm tiêu chuẩn . Cũng ví như có người, Đãi vàng từ trong cát, Người phật tử cũng thế, Phải chọn điều chân thật. B. NỘI DUNG: I. Nguồn Gốc Phân Phái: Mối phân chia của giáo đoàn đạo Phật, là do sự đối lập của Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Từ hai bộ căn bản, lại chia thành nhiều chi phái. Những chi phái này, theo Bắc truyền và Nam truyền, có chỗ khác nhau, tiết sau sẽ đề cập đến. Những thuyết về Thượng Tọa Bộ, Đại Chúng bộ căn bản của các chi phái về sau, cứ theo Nam và Bắc truyền, lại có nhiều sự việc không đồng. Nay nêu ra đây để so lại: Theo Nam truyền thì sau khi đức Thế Tôn diệt độ 100 năm, vua Ca La A Dục ủng hộ tân phái của tỷ khưu Bạt Kỳ, do đó gây thành sự phân chia hai bộ. Và sau khi Phật niết bàn 200 năm, ở chùa Ma Yết Đà tại Kê viên (chùa này cũng gọi Kê Viên tự), chư Tăng có sự tranh chấp về đạo lý, A Dục Vương không biết phương pháp điều giải, mới hỏi ý kiến của Đại Thiên. Theo Bắc truyền, sau khi Phật diệt độ 100 năm, có con của người thuyền chủ tên là Đại Thiên xuất gia trong Phật pháp, song vẫn giữ chủ thuyết của ngoại đạo. Lúc hai bộ phân tranh, vị quốc vương thời bấy giờ là A Dục Vương, ủng hộ phe phái của Đại Thiên, và có hỏi ý kiến vị Tỷ khưu này về sự tranh chấp ở Kê viên. Lại, sau khi đức Thế Tôn nhập diệt 200 năm, có người ngoại đạo tên là Đại Thiên xuất gia theo Phật pháp, thọ giới cụ túc trong Đại Chúng Bộ, học nhiều, tinh tấn, cư trú ở Chế Đa Sơn. So sánh hai thuyết trên, ta thấy thuyết của Nam truyền có phần rành rẽ hơn. Còn thuyết của Bắc truyền thì có sự lầm lẫn về người và niên đại, đem vị quốc vương sau Phật 100 năm làm A Dục Vương, đem Bạt Kỳ làm Đại Thiên. Suy nghĩ kỹ, trước sau chỉ là một Đại Thiên; Đại Thiên tặc trụ Tỷ khưu là nhơn vật lịch sử, còn Đại Thiên sau Phật 100 năm chỉ là nhân vật ảnh tả. Cho nên, sau khi thẩm định ta thấy thuyết của Bắc truyền lấy sự việc sau khi Phật diệt độ 100 năm và 200 năm, hợp lại làm một. Lại, Phật giáo đồ Bắc phương phần nhiều lấy sự kiết tập kỳ hai do Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ mà kéo lại sớm 100 năm, hợp lại đồng thời với sự kiện tập lần đầu do ngài Ca Diếp đề xướng. Bởi duyên cớ đó, thuyết A Dục và Đại Thiên của Bắc truyền A Dục và Đại Thiên của Bắc truyền mới sớm hơn thuyết Nam truyền 100 năm. Nhưng thuyết của Nam truyền cũng có chỗ sai lầm về vua A Dục. Thuyết này cho rằng sau Phật 100 năm có vua Ca La A Dục (Candàsoka) tức là Hắc A Dục sau Phật 200 năm có Pháp A Dục. Xét lại, trước sau cũng chỉ là một A Dục Vương thôi; vì vua A Dục trước tiên làm ác, nên dân chúng gọi là Hắc A Dục, sau khi nương về đạo Phật, trở lại làm lành, nên được xưng là Pháp A Dục. Lại, theo thuyết của Nam truyền, thì sự phân phái là do mười điều phi pháp. Theo thuyết của Bắc truyền, có chỗ nói đồng như sự kiện trên, chỗ lại nói sự phân chia bộ phái là do năm điều tân thuyết của Đại Thiên. Nay cũng xin nêu việc ấy ra đây để bàn định. Về lịch sử của Đại Thiên, trong Tông Luân Luận của Ngài Thế Hữu và Đại Tỳ Bà Sa Luận của ngài Long Thọ có những điểm khác nhau. Dung hòa ý chính của hai bộ luận, bỏ các chi tiết đáng nghi ngờ, chẳng hạn như việc Đại Thiên giết cha, giết mẹ, giết A la hán, thì lịch sự của Đại Thiên đại khái như sau: Khi đức Thế Tôn niết bàn cách 200 năm về sau, ở nước Ma Thâu La (Mathurà) thuộc miền Trung Ấn, có con của một thuyền chủ, tên là Đại Thiên (Mahadeva Ma Ha Đề Bà). Trước tiên Đại Thiên xuất gia theo ngoại đạo, sau lại quy đầu Phật pháp. Vốn là người thông mẫn, sau khi thọ giới tu hành không bao lâu, Đại Thiên đã học suốt, ghi nhớ văn nghĩa trong ba tạng, và tự xưng mình đã chứng quả A la hán. Một hôm, nhân bị mộng tiết, ông sai đệ tử đem giặt y. Người đệ tử nghe thầy tự xưng là A la hán, sao nay lại có việc như thế, mới đem chuyện ấy ra hỏi. Đại Thiên đáp: “Sự di lậu có hai nguyên nhân: một là do phiền não, hai là do sinh lý. Bậc A la hán đã đoạn hết phiền não, nhưng vì còn có nhục thân, nên khi thể chất sung cường, lúc ngủ nghỉ bị ma dụ hoặc, cũng có di lậu”. (Điều 1). Muốn cho đệ tử hoan hỷ, Đại Thiên chọn người nào thông huệ, thọ ký cho một trong bốn đạo quả Sa môn. Đệ tử hỏi: “Tôi nghe bậc A la hán tự có chứng trí, tại sao chúng tôi chứng quả mà không tự biết?”. Đại Thiên giải thích: “Sự không biết có hai thứ: một là nhiễm ô vô tri, hai là bất nhiễm vô tri. Bậc A la hán tuy đã dứt hết phiền não nhiễm ô, nhưng không phải biết hết chân tướng của mọi sự vật. Vì thế nên các ông không tự biết”. (Điều 2). Đệ tử lại hỏi: “Tôi nghe bậc A la hán đã lìa nghi hoặc, tại sao chúng tôi đã chứng quả mà còn có sự do dự hồ nghi?”. Đại Thiên đáp: “Nghi có hai thứ: một là tùy miên nghi, hai là xứ phi xứ nghi. Bậc A la hán không còn cái thứ nhất, nhưng đối với công việc có khi sinh nghi ngờ thế nào là hợp lý, thế nào là không hợp lý”. (Điều 3). Lại một hôm, các đệ tử đọc kinh đến câu: “Bậc A la hán có huệ nhãn, tự biết mình được giải thoát”, liền đến hỏi thầy rằng: “Chúng tôi đã là A la hán, nên tự chứng biết, tại sao do người khác bảo, mới biết mình chứng nhập?”. Đại Thiên nói: “Bậc A la hán phải do người khác bảo mới biết mình đã chứng ngộ. Như Ngài Xá Lỵ Phất trí huệ đệ nhất, ngài Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất, khi Phật chưa ấn chứng còn không tự biết, huống nữa là các ông”. (Điều 4) Đại Thiên đã có nhiều lầm lỗi như thế, song căn lành chưa đoạn. Nên một hôm, vào lúc nửa đêm, ông suy nghĩ đến việc quấy của mình, bất giác xướng lên: “Khổ thay! Khổ thay!”. Các đệ tử nghe được kinh hãi, sáng ra hỏi thăm. Đại Thiên bảo: “Phàm thấy cuộc đời là khổ, là vô thường, mà không chí thành xưng khổ, thì thánh đạo không hiện khởi”. (Điều 5) Sau khi đã bịa ra năm điều ấy, nhân một ngày bố tát ở tại chùa Kê Viên (Kukkutarama), Đại Thiên đối trước chư Tăng, tự đọc ra bài kệ: “Dư sở dụ, vô tri. Do dự, tha linh nhập. Đạo nhân thanh cố khởi. Thị danh chân Phật giáo”. Bài kệ này không ngoài ý thuật lại năm điều trên, và gán cho đó là đúng theo kinh Phật; tạm dịch: “Ma dụ hoặc, không biết. Nghi ngờ, người bảo chứng. Đạo nhân tiếng mà sinh. Đây chính là Phật giáo”. Khi bố tát xong, ông còn đọc lại bài kệ ấy lần nữa, và nói với đại chúng: “Khi đức Như Lai còn ở đời, chư thiên và tứ chúng nói ra, đều phải được Phật Ấn chứng, mới gọi là kinh. Nay Thế Tôn đã diệt độ, nếu trong đại chúng người nào thông minh, đủ biện tài thuyết pháp, cũng có thể trứ tác kinh điển”. Bấy giờ, những vị Trưởng lão học rộng giữ giới, nghe bài tụng ấy đều kinh ngạc, rồi sửa lại câu sau: “Đây chính là ngoại giáo”. Do đó, nguồn tranh biện nổi lên, các hàng sĩ thứ cho đến đại thần trong thành ngăn dứt không được. Lúc đó A Dục Vương nghe biết, đến Kê Viên Tự khuyên giải, nhưng hai bên đều tranh chấp không nhường nhau. Vua cũng nghi ngờ, hỏi ý kiến Đại Thiên, ông này bảo: “Theo pháp diệt tránh trong giới kinh, nên lấy theo sự chấp thuận của phần đông”. Lúc ấy, phái Trưởng lão ít hơn phe của Đại Thiên, nên ông chiếm phần ưu thắng. Tuy nhiên sự phân tranh cũng không dứt, nhân đó mới chia ra các bộ phái về sau. Trên đây là một thuyết của Bắc truyền, còn thuyết thứ hai, như trong Bộ Chấp Dị Luận bản dịch của đời nhà Lương, đồng cứ bản với Tông Luân Luận, thì không nói rõ việc Đại Thiên sáng chế năm điều, chỉ bảo: “Ngoại đạo lập ra năm thứ nhân duyên”. Và, trong Thập Bát Bộ Luận của Ngài La Thập dịch, cũng không nói rõ việc ấy, chỉ thuật: “Bấy giờ có Tỷ khưu tên Năng, cũng gọi Nhân Duyên, Đa Văn, nói có năm pháp để dạy chúng sanh”. Y cứ theo các kinh sách của Nam, Bắc tông, dung hội lại những ý chính, ta có thể kết luận nguồn gốc phân phái như sau: Khi đức Thế Tôn niết bàn, cách 100 năm sau, do chư Tăng thuộc khuynh hướng canh tân theo quan niệm khoáng đại trì giới, chư Tăng thuộc khuynh hướng bảo thủ theo quan niệm tồn cổ trì giới, tranh chấp với nhau về mười điều, nên mới chia thành Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ. Quan niệm của những phần tử thuộc hai bộ trên đây, vì không dung nạp lẫn nhau, nên mới phát sinh ra nhiều tư tưởng và từ đó dần dần phân tán thành nhiều bộ phái. Đây là nguyên nhân chính. Còn về việc của Đại Thiên thì sau khi đức Thế Tôn diệt độ 200 năm, nhằm thời A Dục Vương, Phật pháp được đại thạnh. Lúc bấy giờ, phần đông dân chúng đều hướng về chư Tăng để cúng dường. Do đó, các ngoại đạo mất nhiều lợi dưỡng, nên có một nhóm tự cạo râu tóc lẫn vào trong đoàn thể Tăng già. Nhưng vì hấp thụ theo ngoại giáo đã lâu, sau khi vào Phật pháp, họ vẫn giữ chủ thuyết cũ. Vì thế mới sinh ra sự tranh chấp ý kiến trong Tăng đoàn. A Dục Vương nghe biết được, mới tập hợp tất cả tăng chúng rồi gạn lọc lại, đưa những kẻ Tặc trụ tỷ khưu trở về đạo của họ. Nhưng trong nhóm ấy có độ ba trăm người bác đạt, thông thuộc tam tạng, thành thử họ không chịu khuất phục. Lúc đó thế lực ngoại đạo cũng khá mạnh, vua nghĩ họ thông minh và nhiều bè đảng, nếu đuổi đi hết e gây ra sự không hay cho Phật pháp, mới đem an trí riêng một nơi, tại chùa Kê Viên ở Chế Đa Sơn. Nhưng khi tới đây do kiến giải sai biệt, họ lại tranh chấp với chư Tăng cựu trụ. Người cầm đầu số đông trong cuộc tranh chấp này là Đại Thiên. Về sau, A Dục Vương hay tin, giải quyết không được, đến núi A Hô Hằng Già thỉnh tôn giả Mục Liên Đế Tu thanh lọc lần thứ hai, trục xuất những kẻ phá hoại, việc ấy mới yên. Về năm điều trên, có thể là những cựu thuyết mà Đại Thiên đã hấp thụ từ trước rồi nhân cơ hội gây nên thành quả, chưa chắc do ông ta sáng chế ra. Năm thuyết của Đại Thiên, xét ra, thật không đúng với chánh pháp. Nhưng dù sao, ông cũng đã dự phần gây ảnh hưởng chi rẽ trong đoàn thể Tăng già, một thời gian khá lâu. II. Khái Niệm Đại Chúng Bộ: Đại chúng bộ (zh. 大眾部, sa. mahāsāṅghika) là thuật ngữ chỉ phái “đại chúng”, phần lớn, đa số của Tăng-già, là một trong hai trường phái Tiểu thừa, được tách ra trong Đại hội kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ hai tại Tỳ-xá-ly. Trong hội nghị này, Đại chúng bộ có năm quan điểm riêng về tính chất của một A-la-hán và mười điều bị coi là trái với giới luật. Theo một thuyết khác thì Đại hội kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ ba tại Hoa Thị thành (sa. pāṭaliputra) mới là lần đánh dấu sự xuất hiện của Đại chúng bộ. Các vị thuộc Đại chúng bộ xem đức Phật là con người siêu thế, với thân tâm hoàn toàn thanh tịnh. Đó là khái niệm đầu tiên dẫn đến quan điểm “Phật siêu việt” sau này của Đại thừa Phật giáo . Đại chúng bộ xem đức Phật là sống vô tận, đã đạt Nhất thiết trí, toàn năng, thể nhập đại định vĩnh cửu. Và đoàn thể tăng già là ứng hóa thân của chư Phật nhằm đưa tất cả chúng sinh đến giác ngộ. Theo thời gian, Đại chúng bộ lại tách ra thêm tám bộ nữa. Sau này khi người ta muốn đề cập đến tư tưởng phát triển của Phật giáo thì lấy quan điểm của Đại chúng bộ làm tiêu biểu và mãi đến đầu thế kỷ thứ I, các bộ phái của Đại chúng bộ được thăng hoa trong ngôn ngữ là giáo pháp Đại thừa cho đến hiện nay: 1. Đại Chúng Bộ (Mahāsāṁghīka), 2. Nhứt Thuyết Bộ (Ekavyavahārikā), 3. Thuyết Xuất Thế Bộ (Lokottaravādin), 4. Kê Dẫn Bộ (Kukkuæika), 5. Đa Văn Bộ (Bahuśrutya), 6. Thuyết Giả Bộ (Prajóātivādin), 7. Chế Đa Sơn Bộ (Caitika), 8. Tây Sơn Trụ Bộ (Aparaśaila), 9. Bắc Sơn Trụ Bộ (Uttaraśaila). III. Khái Niệm Thượng Tọa Bộ (Sthaviravadins hay là Theravadins): Thượng tọa bộ (上座部), sa. sthaviravāda, còn gọi Theravada, hoặc gọi là Phật giáo nguyên thủy hay Phật giáo Nam truyền. Bộ phái này hình thành ngay trong thế kỷ đầu tiên sau khi đức Phật Nhập Niết Bàn. Chữ Theravada có nghĩa là “lời dạy của bậc trưởng thượng”. Do đó nhiều sách còn Bộ này là Trưởng Lão bộ là một trường phái Phật giáo xuất phát từ Phân biệt bộ (sa.vibhajyavādin), do Mục-kiền-liên-Tử-đế-tu (pi. moggaliputta tissa) thành lập. Về giới luật cũng có nhiều bất đồng trong Thượng tọa bộ. Ngày nay Thượng tọa bộ được truyền bá tại các nước Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và Lào, nên còn được gọi là Nam tông Phật giáo hiện nay. Thượng tọa bộ là trường phái tự nhận mình là Phật giáo nguyên thủy. Thượng tọa bộ cho rằng các kinh điển viết bằng văn hệ Pāli của mình là ngữ thuyết của chính đức Phật. Giáo pháp của Thượng tọa bộ chủ yếu gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Duyên khởi và thuyết Vô ngã. Thượng tọa bộ nhấn mạnh khả năng từng người tự giải thoát bằng cách kiên trì giữ giới luật và sống một cuộc đời phạm hạnh. Quả vị tối tu chứng của Thượng tọa bộ là A-la-hán . Giáo pháp của Thượng tọa bộ có khuynh hướng phân tích, trong đó A-tì-đạt-ma (sa. abhidharma) đóng một vai trò quan trọng. Ngoài ra bộ Thanh tịnh đạo (pi. visuddhi-magga) và Di-lan-đà vương sở vấn kinh (彌蘭王所問經, pi. milindapañha) cũng rất được phổ biến. Luận sư xuất sắc của Thượng tọa bộ là Phật Âm (pi. buddhagosa), Hộ Pháp (pi. dhammapāla), A-na-luật (pi. anuruddha) và Phật-đà-đạt-đa (pi. buddhadatta). Như vậy, trong hệ Thượng tọa bộ có bảy hoặc tám lần phân chia, tính cả bộ phái gốc và chi nhánh gồm có 11: 1) Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, 2) Tuyết Sơn Bộ, 3) Độc Tử Bộ, 4) Pháp Thượng Bộ, 5) Hiền Trụ bộ, 6) Chánh Lượng Bộ, 7) Mật Lâm Sơn Bộ, 8) Hóa Địa Bộ, 9) Pháp Tạng Bộ, 10) Ẩm Quang Bộ, 11) Kinh Lượng Bộ. IV. Sự thành lập kinh điển Phật giáo: 1. Kiết tập kinh điển lần thứ nhất: Ngay sau khi Ðức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn khoảng 3 tuần trăng, các vị thánh đệ tử của Ngài đã nhóm họp lại để xác định lại những lời dạy của Ngài. Thời gian vào thế kỷ thứ năm, thứ sáu trước Tây lịch. Một nguồn tài liệu duy nhất là khảo cứu những mảnh tài liệu rời rạc trong các Kinh sách Phật Giáo, hoặc các trụ đá, những địa điểm lịch sử để đúc kết lại một cách ước đoán, cố gắng tạo dựng lại đoạn đường thành lập Kinh điển Phật Giáo. Địa điểm là Ðộng Bảy Lá (Saptaparna-guha) trong vùng núi gần Vương Xá (Rajagaha), kinh đô của nước Ma Kiệt Ðà (Magadha). Kỳ Kết Tập nầy có khoảng năm trăm Tỳ Kheo tham dự vây quanh các ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakashyapa), A Nan (Ananda), Ưu Ba Li (Upali), và một số các vị khác trong Mười Ðại Ðệ Tử lớn của Ðức Phật. Đồng thời có sự tham dự của A Xà Thế (Ajatashatru), vua của nước Ma Kiệt Ðà trợ giúp cho kỳ Kết Tập nầy. Để sắp xếp lại những lời dạy của Ðức Phật làm thành Kinh điển Phật Giáo. Chỗ kiết tập này vẫn còn tồn tại đến ngày nay. 2/ Kiết tập lần thứ hai: Một trăm năm sau Cuộc Kết Tập Lần Thứ Nhất, một cuộc hội họp lớn của Phật Giáo được triệu tập . Dù thế nào, vào khoảng thời gian ấy, Tăng Ðoàn Phật Giáo đã chia làm hai nhánh chính, một nhánh được gọi là Theravada hay Thượng Tọa Bộ và nhánh thứ hai là Mahasanghika hay Ðại Chúng Bộ. Trong trăm năm đó, thời gian chắc chắn đã làm xã hội thay đổi một cách đáng kể, cũng như cách sống của người Ấn Ðộ, và điều không thể tránh là những sự khác biệt về cách giải thích những di huấn và giáo pháp của Ðức Thích Ca Mâu Ni cũng đã xảy ra. Chính sự khác nhau trên quan điểm giới luật đã đưa đến Cuộc Kết Tập Lần Thứ Hai. Một nhóm Tăng sĩ thuộc bộ tộc Vajji (Bạt Kỳ) ở thành Vaishali (Tì Xá Li)) được coi như những người tiên phong trong việc đưa ra những giải thích mới về “Mười Giới,” những giới luật căn bản cho các Tăng Sĩ trong Tăng Ðoàn, và Cuộc Hội Nghị được triệu tập để đánh giá những giải thích của họ. 10 điều phi pháp: 1/ Tỳ kheo ăn muối gừng để dành qua đêm vẫn hợp pháp, 2/ Tỳ kheo ăn xong, nhận được thức ăn khác, dùng hai ngón tay cầm thức ăn để ăn vẫn hợp pháp, 3/ Tỳ kheo ăn xong, rời khỏi chỗ, rồi ngồi ăn lại vẫn hợp pháp, 4/ Tỳ kheo ăn xong, đi sang nơi khác ăn thêm vẫn hợp pháp, 5/ Tỳ kheo dùng sữa đường hòa lại uống ngoài bữa ăn chính vẫn hợp pháp, 6/ Tỳ kheo uống rượu tự chế biến từ trái cây vẫn hợp pháp, 7/ Tỳ kheo tùy ý làm tọa cụ lớn hoặc nhỏ vừa với mình vẫn hợp pháp, 8/ Tỳ kheo có thể làm những việc mà lúc còn cư sĩ đã làm vẫn hợp pháp, tất nhiên có việc có thể làm được và có việc không thể làm được, 9/ Trong một trú xứ có một nhóm Tỳ kheo làm pháp yết ma riêng, sau đó đến yêu cầu chúng Tăng chấp nhận pháp yết ma ấy vẫn hợp pháp, 10/ Tỳ kheo có thể thu nhận và cất giữ vàng bạc, tiền của vẫn hợp pháp. Như người ta có thể thấy, những tăng sĩ trong thời buổi đó sống một đời sống hết sức hạn chế, nên nhóm ỳ kheo Bạt Kỳ muốn thoát khỏi cái vỏ giáo điều vì nó không còn thực tế với cuộc sống cho nên mạnh dạng đề nghị, giới luật phải đi vào cuộc sống chứ không phải là một cái gì từ bên ngoài áp đặt lên một cá nhân.Cho nên sự tách rời giữa Theravada (Thượng Tọa Bộ) và Mahasanghika (Ðại Chúng Bộ) xảy ra là quy luật ắt có và đủ. Tuy nhiên cả hai truyền thống điều thừa nhận: “Vận mạng của Ðạo Phật nằm ở khả năng nắm giữ và những nền tảng đạo đức phải áp dụng chúng một cách đúng đắn để người học Phật đi vào thực hành”. Bởi đạo Phật là một đạo thực nghiệm, đến để nắm bắt chứ không phải chiêm ngưỡng! V. Các Quan Điểm Của Đại Chúng Bộ và Thượng Tọa Bộ: 5.1. Quan Điểm Về Phật: Giốngnhau: Hai đều chấp nhận Đức Phật Thích Ca là bậc đạo sư. 1. 諸 佛 世 尊 皆 是 出 世 。 Chư Phật Thế Tôn đều là những bậc siêu xuất thế gian. BCDL: 一 切 佛 世 尊 出 世 。 2. 一 切 如 來 無 有 漏 法 。 Tất cả các đức Như Lai không còn pháp hữu lậu. BCDL: 無 有 如 來 一 法 而 是 有 漏 。 3. 諸 如 來 語 皆 轉 法 輪 。 Lời nói của chư Như Lai đều là chuyển pháp luân. BCDL: 如 來 所 出 語 皆 為 轉 法 輪 。 4. 佛 以 一 音 說 一 切 法 。 Đức Phật dùng một âm thanh nói tất cả pháp. BCDL: 如 來 一 音 能 說 一 切 法 。 5. 世 尊 所 說 無 不 如 義 。 Tất cả những lời nói của Thế Tôn đều như thật nghĩa. BCDL: 如 來 語 無 不 如 義 6. 如 來 色 身 實 無 邊 際 。 Sắc thân của Như Lai không có giới hạn. BCDL: 如 來 色 身 無 邊 。 7. 如 來 威 力 亦 無 邊 際 。 Oai lực của Như Lai cũng không có giới hạn. BCDL: 如 來 威 德 勢 力 無 減 。 8. 諸 佛 壽 量 亦 無 邊 際 。 Thọ lượng của Như Lai cũng không có giới hạn. BCDL: 如 來 壽 量 無 邊 。 9. 佛 化 有 情 令 生 淨 信 無 厭 足 心 。 Chư Phật hóa độ các loài hữu tình khiến sanh lòng tịnh tín, không có tâm chán ngán hoặc cảm thấy đủ. BCDL: 如 來 教 化 眾 生 。 令 生 樂 信 無 厭 足 心 。 HTTQ: Chư Như Lai không có tâm lý thấy chán, thấy đủ trong sự giáo hóa chúng sanh cho họ có đức tin trong sáng. Khác nhau: Trong các tác phẩm Tông luân luận, Bộ chấp luận sớ… có ghi chép sơ lược giáo nghĩa 20 bộ phái. Ngoài các tác phẩm này ra chúng ta cũng không biết nương vào tư liệu nào để tra cứu. Vì thế ngày nay chúng tôi chỉ trình bày một vài điểm khác nhau căn bản, của hai bộ phái lớn là Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ. Trong Dị bộ tông luân luận có ghi lại những nghĩa lý liên quan về Phật thân của hai bộ. Quan niệm về Phật thân chia thành hai phần riêng biệt là Nhục thân và Thật thân. Đại chúng bộ cho rằng Thật thân là thân hoàn toàn do kết quả Phật tu hành mà đạt được, là bổn thân của Phật. Bổn thân vốn không hạn lượng không có điểm cùng cực, do vậy nên thọ mạng của Thật thân cũng không có hạn lượng. Phật của nghĩa Thật thân trong khi hoá độ chúng sanh không có sự phân biệt tác động, suy nghĩ nhưng không tác ý, trong một sát na khéo hiện thân khắp mười phương thế giới. Như vậy từ Thật thân thị hiện sức thần thông biến hiện ra Liệt ứng nhục thân, thân này hoàn toàn vì cứu độ chúng sanh mà thị hiện, nên Liệt ứng nhục thân còn gọi là Hoá thân đây là thuyết Phật thân của Đại chúng bộ. Quan điểm về Phật thân của Thượng toạ bộ thì ngược lại, họ cho rằng Thật thân của Như lai là Nhục thân có hình chất, do vì hoá độ chúng sanh mà Thật thân thị hiện ra các thân lớn nhỏ gọi đó là Hoá thân. Theo quan điểm này, nên thọ mạng của Phật cũng có hạn lượng. Phật hiện sức thần thông thị hiện thân khắp mười phương thế giới không phải là không có tác ý. Phải có tác ý Phật mới có thể làm tất cả mọi công việc. (Lập trường về Phật thân của Thượng toạ bộ đặt nặng lịch sử, còn Đại chúng bộ đặt nặng luân lý. Lập trường Đại chúng bộ gần với Đại thừa). Đại chúng bộ cho rằng Phật hoàn toàn không có lỗi lầm, nhục thể của Ngài xa lìa mọi vọng chấp. Thân Phật không gây ác nghiệp bởi thân Ngài là thân vô lậu, không riêng thân Ngài như vậy mà lời nói ý nghĩ cũng đều như thế. Phật không bao giờ thốt ra những lời nói vô ích, cho đến trong mỗi động tác nói năng im lặng đều làm lợi ích chúng sanh. Nghĩa là trong mỗi động tác của Ngài đều chuyển pháp luân. Lại trong mỗi lời nói của Ngài đều có diệu dụng thích ứng với mọi căn cơ trình độ của chúng sanh. Trên đây là nói về thân nghiệp và khẩu nghiệp, còn liên quan đến ý nghiệp, Đại chúng bộ cho rằng Phật luôn luôn ở trong thiền định, Ngài thường trụ trong thiền định không có giây phút nào gián đoạn. Hữu bộ quan niệm Phật khi trụ trong định tâm không duyên với cảnh vật bên ngoài, còn Đại chúng bộ lại cho rằng Phật ở trong định tâm Ngài cũng duyên được với cảnh vật bên ngoài. Do đó lúc Phật ở trong định vẫn có thể giải đáp những câu hỏi của chúng sanh, nghĩa là Phật luôn luôn nương vào sức tác dụng của trí tuệ. Phật đã trụ trong định nên Ngài không có thuỳ miên, sở dĩ thuỳ miên là do tâm phàm phu luôn bị tán loạn mà phát khởi. Quan điểm của Thượng toạ bộ về Phật thân thì không phải như thế. Thượng toạ bộ cho rằng nhục thể của Phật là thân hữu lậu, mặc dầu tự thân Ngài không còn làm điều ác, nhưng những người khác đối với Ngài vẫn có sân hận hoặc tôn kính (nghĩa là vẫn có thể duyên với nhục thể của Phật mà phạm vào các điều ác). Mọi lời nói của Phật không hẳn đều là chuyển pháp luân. Các việc nói năng, im lặng của Ngài không phải đều là tế độ chúng sanh mà còn thuộc nơi vô ký. Phật trong khi trả lời những câu hỏi của chúng sanh tuy không phải động não suy nghĩ, nhưng đều thuận theo thứ tự đạo lý mà nói đây là điều đáng lưu ý. Phật cũng có thuỳ miên. Quan niệm về Phật thân của Thượng toạ bộ là do nương theo sự thật lịch sử mà lập thành. Ngoài ra còn có hai thuyết truyền, là Phật ở trong một sát na có thể biết rõ tất cả pháp và không biết rõ tất cả pháp. Do hai quan điểm này mà Tận trú, Vô sanh trú… của Phật có sự quan hệ hằng thường tuỳ chuyển và không hằng thường tuỳ chuyển. Trên đây là một vài điểm sai khác về Phật thân luận, do hai bộ phái căn bản là Đại chúng bộ và Thượng toạ bộ chủ trương. Chủ trương Đại chúng bộ và Thượng toạ bộ . 1. Thân. a. Đại chúng bộ. – Chân thật thân là bổn thân không có hạn lượng . – Liệt ứng thân là hoá thân có hạn lượng. Đặt nặng lý luận. b. Thượng toạ bộ. – Hữu chất thân là bổn thân có hạn lượng . – Mỗi mỗi thân lớn nhỏ đều là hoá thân có hạn lượng. Đặt nặng lịch sử. 2. Ngữ ý. a.Đại chúng bộ. – Suy nghĩ của Phật đều vì lợi người . – Nói pháp không có tác ý. – Không thuỳ miên. – Trong định vẫn thấy đước mọi sự vật bên ngoài. – Trong một sát na rõ biết được khắp tất cả. b. Thượng toạ bộ. – Suy nghĩ của Phật thuộc về vô ký . – Nói pháp có sắp đặt. – Có thuỳ miên. – Trong định không thấy được mọi sự vật bên ngoài. – Trong một sát na không rõ biết được tất cả các pháp. 5.2. Quan Điểm về Giáo lý: 5.2.1. Giáo Lý Thượng Tọa Bộ: 5.2.1.1 Giáo Lý Tứ đế. Tứ diệu đế (zh. 四妙諦, sa. catvāry āryasatyāni, pi. cattāri ariya-saccāni), cũng gọi là Tứ thánh đế (zh. 四聖諦), là bốn chân lý cao cả, là gốc cơ bản của Phật giáo. Tứ diệu đế là nội dung của kinh nghiệm giác ngộ của Phật Thích-ca Mâu-ni, và cũng là nội dung chính của bài kinh đầu tiên, kinh Chuyển pháp luân : Khổ đế (zh. 苦諦, sa. duḥkhāryasatya); Tập khổ đế (zh. 集苦 諦, sa. samudayāryasatya); Diệt khổ đế (zh. 滅苦諦,sa. duḥkhanirodhāryasatya); Đạo đế (zh. 道諦, sa. duḥkhanirodhagāminī pratipad, mārgāryasatya). 5.2.1.2 Bát chánh đạo: Bát chính đạo (zh. bāzhèngdào 八正道, ja. hasshōdō, sa. aṣṭāṅgika-mārga, pi. aṭṭhāṅgika-magga,) là con đường tám nhánh để giải thoát khỏi Khổ (sa. duḥkha), là chân lý cuối cùng của Tứ diệu đế. Bát chính đạo là một trong 37 Bồ-đề phần (zh. 三十七菩提分) hay 37 giác chi (sa. bodhipākṣika-dharma). 5.2.1.3 Học Thuyết duyên khởi: Thuyết Duyên khởi (zh. 縁起, sa. pratītyasamutpāda, pi. paṭiccasamuppāda), cũng được gọi là Nhân duyên sinh (zh. 因縁生), và vì bao gồm 12 thành phần nên cũng có tên khác là Thập nhị nhân duyên (zh. 十二因縁, sa. dvādaśanidāna, dvādaśāṅgapratītyasamutpāda) , là một trong những giáo lý quan trọng nhất của đạo Phật. Thuyết này chỉ rõ là mọi hiện tượng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng với mười hai yếu tố. Các yếu tố này làm loài hữu tình cứ mãi vướng mắc trong Luân hồi (sa., pi. saṃsāra). 5.2.1.4 Học thuyết Vô ngã : (無我, sa. anātman, pi. anattā). 5.2.1.5 Học Thuyết A-tì-đạt-ma: Được gọi A-tì-đàm (zh. 阿毗曇) hoặc Tì-đàm (毘曇) hoặc Vi Diệu Pháp. Dịch nghĩa là Đối pháp (zh. 對法), Đại pháp (zh. 大法), Vô tỉ pháp (zh. 無比法), Hướng pháp (zh. 向法), Thắng pháp (zh. 勝法), Luận (zh. 論). Mang nghĩa là Thắng pháp hoặc là Vô tỉ pháp (zh. 無比法), vì nó vượt (abhi) trên các Pháp (dharma), về cách giải thích Trí tuệ. 5.2.2. Giáo Lý Đại Chúng Bộ: 1. Bốn quả Thanh văn: a) Tu đà hoàn. b) Tư đà hàm. c) A na hàm. d) A la hán. 2. Năm uẩn: Năm uẩn theo cách dịch của Ðại sư Tăng Già Ðề Bà (đời Ðông Tấn): Sắc ấm, Giác ấm (Thọ), Tưởng ấm, Tư ấm (Hành), Thức ấm. 3. Tám chánh đạo: Tám chánh đạo theo hai dịch giả kinh Trường A Hàm là Phật Ðà Da Xá và Trúc Phật Niệm (dịch vào đời Hậu Tần 384-417). 4. Mười hai Nhân duyên . 5. Tam Pháp Ấn. 6. Hệ thống kinh điển thuộc Hán tạng: 6.1. .A Hàm bộ: 6.2. Bản Duyên bộ: 6. 3. Bát Nhã bộ: 6. 4. Pháp Hoa bộ: 6.5. Hoa Nghiêm bộ: 6.6. Bảo Tích bộ: 6.7. Niết Bàn bộ: 6.8. Ðại Tập bộ: 6. 9. Kinh Tập bộ: 6. 10. Mật Giáo bộ: Thay cho lời kết, chúng tôi mượn lời của Hòa Thượng Tiến sĩ W. Rahula : “Tôi nghiên cứu đạo Phật Đại Thừa nhiều năm và càng nghiên cứu tôi càng thấy hầu như không có bất cứ điều gì khác nhau giữa đạo Phật Nguyên Thủy và đạo Phật Đại Thừa về mặt giáo lý căn bản: Tứ Thánh Đế cả hai trường phái thì giống nhau. Bát chánh đạo cả hai trường phái thì cũng tương tự. Thập Nhị Nhân Duyên cả hai đều tương đương. Cả hai đều không chấp nhận tư tưởng về Thượng Đế tạo ra thế gian này. Cả hai đều chấp nhận Tam tướng và Tam vô lậu học, không có bất kỳ sự khác biệt nào. Đây là những giáo lý quan trọng nhất của Đức Phật và cả hai trường phái đều công nhận”. C. KẾT LUẬN: Đọc kỹ tiến trình tư tưởng Phật giáo Đại Chúng Bộ , chúng ta sẽ thấy các vị Thánh đệ tử không vị nào là không muốn diễn đạt cho thật sự trung thành giáo nghĩa Thượng Tọa Bộ của Đức Phật. Dầu cho sự diễn đạt đặt dưới nhiều quan điểm và khía cạnh sai khác, lồng vào những bối cảnh có thể nói là mâu thuẫn, nhưng chúng ta vẫn nhận thấy những sóng ngầm đồng nhất. Trong mắt các vị thầy theo Thượng Tọa Bộ Phật giáo hay các học giả đương đại cố gắng trung thành với thánh điển Nikaya mà cho rằng những gì ngoài ba Tạng Pali là ngụy tạo, thì sự cáo buộc đó hết sức nguy hiểm, vì tạo thêm hố ngăn cách tư tưởng giữa hai truyền thống từ mấy ngàn năm qua. Cách nhìn đó không phù hợp với xu thế hiện đại, bởi phương tiện truyền thông, và những kỹ thuật khoa học ngày nay đã giúp cho con người vượt mọi ranh giới lãnh thổ và khái niệm. Ngày nay các nhà học giả Phật giáo phần lớn đều chấp nhận một số tư tưởng Đại Chúng Bộ là những tư tưởng của đạo Phật phát triển từ giáo lý Thượng Tọa Bộ. Nếu chúng ta chịu khó so sánh bốn tập A Hàm (Trung Hoa) với các tập Pali Nikaya tương đương, thì chúng ta sẽ thấy có nhiều đoạn văn A Hàm Trung Hoa lại nguyên thủy hơn các đoạn văn Pali! Thái độ của một số Phật tử Đại Thừa ngược lại xem những gì Thượng Tọa Bộ là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải là ngây thơ, phản trí thức. Nguy hiểm vì tự nhiên phủ nhận ba tạng Pali, bốn bộ A Hàm và các luật tạng, những tinh hoa tốt đẹp nhất và Thượng Tọa Bộ nhất của lời Phật dạy. Cho nên khi học tập và nghiên cứu, chúng ta cần phải thoát ra khỏi những tượng đài quá lớn của các học giả có một bề dày nghiên cứu, nhưng chưa có quá trình tu tập thì cần phải có sự độc lập trong nhận thức, để tránh tình trạng nô lệ kiến thức. Bởi một con sư tử được làm bằng vàng thì râu hay đuôi, cũng đều có giá trị như nhau trong mắt của thợ kim hoàn. Chính vì vậy mà đức Phật từng khuyên chúng sinh: “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” Cho nên người ta còn bảo nhau, đạo Phật là đạo đến để nắm bắt chứ không phải đến để chiêm ngưỡng! TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………… 1) Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu ủy viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988. 2) KIMURA TAIKEN. Việt dịch: HT. Thích Quảng Độ. Tiểu Thừa Phật giáo tư tưởng luận. Viện Đại Học Vạn Hạnh xuất bản 1969. 3) HT Thích Thanh Kiểm. Lịch sử Phật Giáo Ấn Độ. 1993. 4) Trần Trúc Lâm, Những hộ pháp vương của Phật giáo trong lịch sử Ấn độ. NXB Phươngd Đông 2007. 5) HT. Thích Thiện Hoa, Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ. 1966. 6) Andrew Skilton (Dharmacari Sthiramati) Tỳ-kheo Thiện Minh chuyển dịch. Đại Cương Lịch Sử Phật Giáo Thế Giới. 7) H.T Thích Phước Sơn, 3 kỳ Kiết tập kinh điển. Báo Giác Ngộ, 1997. 8) Triều Tâm Ảnh và Minh Đức. Sử Phật Giáo Thế Giới – Ấn Độ – Trung Quốc (Tập 1) NXB Thuận Hóa. 2008 9) Cao Hữu Ðính, Văn Học Sử Phật Giáo, Hương Sen, Việt Nam, 1996 10) HT. Thích Thiền Tâm, Phật Học Tinh Yếu, Thiên thứ nhất, Việt Nam, 1999 11) ÐÐ. Thích Tâm Thiện, Lịch Sử Tư Tưởng và Triết Học Tánh Không, Việt Nam, 1999 12) ÐÐ. Thích Tâm Hải, Phật Học Cơ Bản, Tập 2, Việt Nam, 1999 13) http://vi.wikipedia.org/wiki/Tiểu thừa. (Truy cập 03.11.2009) 14) http://www.thuvienhoasen.org/tutuongluan-tieuthua-00.htm. (Truy cập 01.11.2009)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét