THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NHGIỆP CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN MỤC LỤC: Trang I. DẪN NHẬP:…………………………………………………………………….3 II. NỘI DUNG:……………………………………………………………………4 1. Cuộc đời TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ:…………………………………….4 2. Hành trạng thượng sĩ (trần tung: 1230-1291)……………………………..5 3. Thi ca của tuệ trung thượng sĩ:……………………………………………5 3.1. Con đường phật học của thượng sĩ:……………………………….7 3.2. Tư tưởng và chúng sinh không khác:……………………………..8 3.3. Quan điểm phá chấp trong thiền học của ngài:…………………..9 4. Nếp sống đạo thiền – suối nguồn hạnh phúc:………………………….10 4.1. ảnh hưởng tư tưởng tuệ trung thượng sĩ với thiền phái trúc lâm việt nam:…………………………………………………………………..11 4.2. thượng sĩ đi giữa cuộc đời:………………………………………..13 5. tư tưởng triết học của tuệ trung thượng sĩ:……………………………...14 5.1. tuệ trung thượng sĩ: ngọn đuốc sáng của thiền học đời trần:…….15 III. KẾT LUẬN:……………………………………………………………..17 TÀI LIỆU THAM KHẢO:………………………………………………….18 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NHGIỆP CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ I. DẪN NHẬP: Kể từ khi đạo Phật du nhập nước ta, đến thời Trần thì đạo Phật đã thể nhập và có một vị trí đặc biệt, đứng vững trong lòng dân tộc. Trong một bối cảnh đất nước độc lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực với hào khí Đông A, Thiền phái Trúc Lâm ra đời là một quy luật tất yếu của lịch sư Phật giáo nói riêng và trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung. Nói cách khác, Thiền phái này đã kề vai sát cánh cùng dân tộc đi đến sự thống nhất đất nước, nhất là góp phần phục hưng mọi giá trị tinh thần văn hóa truyền thống của dân tộc. Đây chính là sức mạnh nội tại để Phật giáo Việt Nam cùng với dân tộc Việt Nam phát triển song hành trong việc tiếp nối mọi giá trị truyền thống, hiện thực hóa trong hiện tại và định hướng cho tương lai trong sự nghiệp giữ nước và dựng nước ở mọi thời đại. Và như thế, sự tích cực hoạt động trong đời của Thiền phái Trúc Lâm đã góp phần thúc đẩy diện mạo và đặc trưng đời sống văn học nước ta, thay đổi về chất và lượng, vượt bậc từ giá trị nội dung tư tưởng cho đến giá trị nghệ thuật mà trước đó thời Lý còn nhiều hạn chế. Các tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm thực sự trở thành đối tượng để chúng ta tiếp cận nền học thuật Phật giáo thời Lý - Trần nói riêng, sự tiếp nối hòa nhập vào chủ lưu yêu nước và nhân văn của văn học trung đại nói chung. Lần đầu tiên các giá trị tư tưởng triêt lý, văn học Phật giáo Đại Việt, cụ thể là văn học Thiền phái được hiển bày qua từng tác phẩm cụ thể. Nếu các tác phẩm văn học Thiền đời Lý chỉ xoay quanh đề tài giáo lý, triết học, khái niệm qua các bài kệ, thiền ngữ, khá thiên về loại hình văn học duy lý thì sang nhà Trần, các sáng tác đã phản ánh nội dung tư tưởng Thiền gần với đời sống hiện thực mang nhiều màu sắc. Một trong những đại biểu sáng giá, trở thành cây đại thụ của Thiền phái Trúc Lâm chính là Tuệ Trung Thượng sĩ. Ông đã để lại dấu ấn tâm linh thiền đạo qua những sáng tác văn chương khá lớn, đóng góp không nhỏ cho văn học Thiền và văn học trung đại Việt Nam. II. NỘI DUNG: 1. Cuộc đời TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ: Tuệ Trung Thượng sĩ tên huý Trần Tung (có nơi ghi Trần Quốc Tung), là con trai An sinh vương Trần Liễu, anh ruột Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm (vợ vua Trần Thánh Tông). Khi Trần Liễu mất, Thượng hoàng Trần Thái Tông (em ruột Trần Liễu) cảm nghĩa, đã phong Thượng sĩ tước “Hưng ninh vương”. Thuở nhỏ, Thượng sĩ đã có bẩm chất thuần hậu, cao sáng và kính mến đạo Phật. Lớn lên, được cử trấn đất Hồng Lộ (tức Hải Dương ngày nay). Trong ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, Thượng sĩ cũng như các vương hầu thân tín khác, đã trực tiếp tham gia cầm quân chống giặc. Trong cuộc kháng chiến thứ hai, ông đã cùng Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn, đem quân kịch chiến với tướng giặc là Lưu Thái Anh và đuổi Thoát Hoan chạy về đến sông Như Nguyệt. Trong cuộc kháng chiến thứ ba, Thượng sĩ được giao những nhiệm vụ ngoại giao quan trọng, nhiều lần đến đồn giặc thương thuyết, trá hàng để quân giặc mất cảnh giác, sau đó cho quân đến cướp doanh trại giặc. Sau ngày kháng chiến thắng lợi, ông được thăng chức Tiết độ sứ, trấn giữ hải đạo Thái Bình. Nhưng chỉ ít lâu sau, Thượng sĩ lui về ấp Tịnh Bang (trang ấp được phong), lập Dưỡng Chân trang, tiếp tục tham cứu Phật học và tu thiền định. Ông tự xưng hiệu là Tuệ Trung, vua Thánh Tông tặng hiệu là Thượng sĩ, nên ta thường gọi là Tuệ Trung Thượng sĩ. Tuệ Trung Thượng sĩ (1230-1291) không chỉ là một võ tướng dày công giúp nước, một nhà ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược mà còn để lại nhiều dấu ấn trên lĩnh vực văn húa tư tưởng. Tuệ Trung Thượng Sĩ tuy được ít người biết đến nhưng ông chính là một quý tộc tôn thất và là một thiền gia xuất sắc nhất dưới thời Trần. Tuệ Trung Thượng sĩ là người Thầy của Điều Ngự Giỏc hoàng TrầnNhân Tông và có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ông chính là vị sư tổ thứ nhất của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Tuệ Trung Thượng sĩ được vua Trần Thánh Tông (1240 – 1290) tôn làm sư huynh và gọi bằng cái tên cao quý là Thượng sĩ. Những lời dạy thiền ngữ của ông được TrầnNhân Tông cho khắc in để lưu truyền hậu thế. Đừy là một tỏc phẩm mang bản sắc riờng của Phật giỏo Việt Nam. Nhiều tư tưởng yên bác của ông đã làm cho nhiều thế hệ phải khâm. 2. Hành trạng Thượng Sĩ (Trần Tung: 1230 - 1291): Thượng Sĩ là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương (Trần Liễu), là anh cả của Hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi Đại vương mất, Hoàng đế Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng Sĩ tước Hưng Ninh Vương. Lúc nhỏ, Thượng Sĩ nổi tiếng bẩm chất cao sáng thuần hậu. Được cử trấn giữ quân dân đất Hồng Lộ, hai phen giặc Bắc xâm lăng, Ngài chống ngăn có công với nước, lần lượt thăng chức Tiết độ sứ giữ cửa biển Thái Bình. Thượng Sĩ là người khí lượng uyên thâm, phong thần nhàn nhã. Tuổi còn để chỏm, Ngài đã mến mộ cửa Không. Sau Ngài đến tham vấn Thiền sư Tiêu Dao ở Tinh xá Phước Đường. Ngài lãnh hội được yếu chỉ, dốc lòng thờ làm thầy. Hằng ngày, Ngài lấy Thiền duyệt làm vui, không lấy công danh làm sở thích. Ngài lui về ở phong ấp Tịnh Bang, đổi tên là làng Vạn Niên. Hòa ánh sáng lẫn với thế tục (hòa quang đồng trần), Ngài cùng mọi người chưa từng chống trái, nên hay làm hưng thạnh hạt giống chánh pháp, dạy dỗ được hàng sơ cơ, người đến hỏi han, Ngài đều chỉ dạy cương yếu, khiến họ trụ tâm, tánh Ngài tùy phương tiện khi hiện khi ẩn, trọn không có danh thật. Về cốt cách, Thượng sĩ là người khí lượng thâm trầm, phong thần nhàn nhã. Ngay từ còn để chỏm đã hâm mộ cửa không. Đến tham vấn Thiền sư Tiêu Dao ở Phúc đường, người đã lãnh hội được yếu chỉ, bèn dốc lòng thờ làm thầy. Ngày ngày chỉ lấy việc hứng thú với Thiền học làm vui, không hề bận tâm đến công danh sự nghiệp. Rồi người lui về sống ở ấp Tịnh Bang, và đổi tên lại là hương Vạn Niên” Toàn bộ tư tưởng của Tuệ Trung Thượng sĩ được thể hiện trong bộ Thượng sĩ ngữ lục. Bộ sách gồm ba phần: Phần thứ nhất là phần “ngữ lục”, gồm những bài giảng của ông cho học trò và những công án của ông; phần này do Pháp Loa ghi lại, Trần Nhân Tông khảo đính. Phần thứ hai gồm 49 bài thơ với nhiều đề tài và nhiều thể loại; trong đó có một bài Tịnh Bang cảnh vật trùng với bài Đề dã thự của Trần Quang Khải và bài Tứ sơn khả hại trùng với thơ Trần Thái Tông. Phần thứ ba gồm một bài Thượng sĩ hành trạng của Trần Nhân Tông, tám bài tán của tám nhà Thiền học phái Trúc Lâm và một bài bạt của Đỗ Khắc Chung. 3. Thi ca của tuệ trung thượng sĩ: Không phải ngẫu nhiên mà vua Trần Thánh Tông cảm phục đạo học của Tuệ Trung Thượng sĩ và tôn ông là sư huynh, đồng thời nhờ ông dạy Thiền học cho thái tử sau này là Trần Nhân Tông; chính tên tuổi và sự nghiệp Tuệ Trung Thượng sĩ đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử tư tưởng Thiền học Trúc Lâm. Chỉ cần nghiên cứu và tiếp cận kỹ bài thơ Trần Nhân Tông viết về ông, tức là bài “Tán Tuệ Trung Thượng sĩ” thì rõ: "Vọng chi nhĩ cao, Toàn chi nhĩ kiên. Chiêm nhi tại tiền, Phù thị chi vị, Thượng sĩ chi Thiền” (Càng nhìn càng cao, Càng khoan càng bền. Chợt phía sau đó, Ngắm phía trước liền, Cái này tên gọi, Là Thượng sĩ Thiền). Rõ ràng, ông là một nhân vật kỳ bích, chứng nhập tâm linh, ngộ đạo lý chơn thường, dung hợp đạo đời, sống an bình tự tại, vô niệm vô cầu trong thực tại đời thường. Căn cứ vào bản tiểu sử của Thượng sĩ do vua Trần Nhân Tông viết "Thượng sĩ hành trạng" thì “Thượng sĩ là con thứ nhất của Khâm Minh Từ Thiện Thái vương, anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu. Nguyên trước Thái vương mất, Thái Tông Hoàng đế cảm nghĩa phong làm Hưng Ninh vương”. Như vây, Tuệ Trung là con đầu của An Sinh vương Trần Liễu và anh cả Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Tên thật của ông là Trần Tung, sinh năm 1230 và mất năm 1291, chứ không như trước đây sách Hoang Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích ghi nhầm ông là Trần Quốc Tảng. Thượng sĩ là anh vợ của vua Thánh Tông, cũng là bạn chí cốt của vua, được Thánh Tông tôn xưng là sư huynh, đồng thời ký thác con mình là Trần Nhân Tông cho ông làm thầy trực tiếp dạy bảo. Là một trong những tướng lĩnh có công nước nhà, trong cuộc chiến tranh vệ quốc lần hai, ông đã dẫn hai vạn quân đón đánh và truy quét đạo quân Thoát Hoan chạy dài đến sông Như Nguyệt. Trong cuộc chiến tranh lần thứ ba, Tuệ Trung đã vào bộ chỉ huy của giặc để điều đình trì hoãn để quân ta có thời gian củng cố lực lượng, tạo tiền đề cho chiến thắng Bạch Đằng vang dội xảy ra một tháng sau đó. Ông được nhà nước giao cho chức Tiết độ sứ trại Thái Bình và được phong ấp ở Tịnh Bang, dựng Dưỡng Chân Trang, tiếp tục tham thiền, sống đạo nhập thế tích cực. Tuệ Trung trở thành “một nhà Thiền học có bản lĩnh, có lý trí, không câu nệ ở giáo điều sách vở, biết đập vỡ thái độ khư khư bám víu vào những khái niệm có sẵn, biết hòa quang đồng trần”. Có thể nói, ông là một trong những bậc long tượng của Phật giáo Đại Việt. Sự nghiệp trước tác, trước thuật của Tuệ Trung chủ yếu được tập hợp trong bộ Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục. Theo thư tịch cổ, sách Thượng sĩ ngữ lục nằm trong bộ “Trần Triều dật tồn Phật điển lục”, đây là bộ Phật điển của nhà Trần còn lại, gồm có Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục và Tam Tổ thực lục. Đối cơ là những pháp thoại giưa Thượng sĩ và các thiền sinh tham vấn học hỏi về các chủ đề sinh tử đại sự, hay cứu cánh giải thoát… Đây cũng là một hình thức sáng tác nghệ thuật trong văn học Thiền, vượt ra ngoài suy diễn tầm thường, những khái niệm vọng tưởng mang tính sương mù của ngôn ngữ. Vấn đề đặt ra là trực nhận và sở đắc tâm ý người thầy muốn nói gì với học trò. Thi ca là những bài thơ thể hiện sự chứng đắc về thiền ý với những nguồn cảm hứng vô tận mang tính nghệ thuật thẩm mỹ và tư tưởng siêu trần giải thoát. Bài "Phật tâm ca" của Tuệ Trung Thượng sĩ là tác phẩm văn học Thiền được viết theo thể Ca, một hình thức sáng tác chỉ xuất hiện trong các sáng tác của các thiền gia, thiền sư đời Trần thuộc Thiền phái Trúc Lâm mà thôi, chứ vào đời Lý thì hầu như không có. Theo thư tịch cổ, thơ văn Thiền phái chỉ còn bảo lưu hai bản văn được sáng tác theo thể loại này. Đó la "Phật tâm ca" của Tuệ Trung viết bằng chữ Hán và "Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca" của Trần Nhân Tông viết bằng chữ Nôm. "Phật tâm ca" là bài ca gồm 12 khổ, 55 câu. Khổ đầu gồm 8 câu thất ngôn xen lục ngôn (2 câu đầu) "Phật, Phật Phật bất khả kiến; Tâm, tâm, tâm, bất khả tư thuyết”; mười một khổ còn lại, mỗi khổ 5 câu, câu 1 và câu 2 mỗi câu 3 tiếng, ba câu còn lại mỗi câu 7 tiếng. Có điều lý thú là mỗi khổ ở đây là một bài thơ tứ tuyệt thất ngôn xen lục ngôn và câu đầu chính là câu lục ngôn được tách ra làm hai. Vần gieo ở cuối câu (cước vận) và đa số là vần trắc (8/12 khổ gieo vần trắc), chỉ có 4 khổ gieo vần bằng. Rõ ràng, số câu trong bài không hạn định, không bị gò bó về niêm luật, vần điệu… nó thích ứng cho cảm hứng giải thoát trong chiều hướng khai mở tâm thức và bừng sáng trí tuệ. Và như thế, bài "Phật tâm ca" không chỉ có giá trị về nội dung tư tưởng Thiền học mà còn mang tính đặc sắc âm vang nghệ thuật thi ca Thiền tông. 3.1. con đường Phật học của Thượng Sĩ: Từ cuộc sống giải thoát của Điều Ngự (xem bài "Trần Nhân Tông, Sở đắc giải thoát và Tư tưởng Phật học", cùng tác giả) và của Thượng Sĩ Tuệ Trung, một số nét Thiền định Phật giáo đời Trần rất tiêu biểu biểu hiện rõ: Con đường giải thoát Giới, Định, Tuệ được thực hiện suốt cuộc đời của mỗi cá nhân, bất luận ở vị trí nào trong xã hội, rất thiện xảo tùy duyên: Điều Ngự học Phật học chuyên chú từ nhỏ, nuôi sống sự giác tỉnh giải thoát từ nhỏ; theo dõi tâm, kiểm soát tâm và chế ngự tâm lúc làm Thái tử, làm Vua, làm Thái thượng hoàng, rồi tiếp xuất gia thực hành Giới, Đinh, Tuệ đầy đủ cả hai mặt tướng và tâm. Điều ngự thực hành giải thoát kết hợp với công việc thi hành việc nước (xã hội) - giữ nước và dựng nước - và công việc thuyết pháp độ sanh, tổ chức trang nghiêm Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Thượng Sĩ cũng chuyên tâm học Phật từ nhỏ dưới sự chỉ dẫn của thiền sư Tiêu Dao và nuôi sống sự giác tỉnh giải thoát từ đó; tiếp tục phát triển trí tuệ trong đời sống gia đình, đời sống của một tướng lãnh, quan chức triều đình giữa ba cuộc chiến chống ngoại xâm Nguyên - Mông; rồi an trú trong trí tuệ giải thoát tại Dưỡng Chân Trang. An trú vào giác tỉnh, không dính mắc vào sắc thân, cảm thọ, tư duy, danh vọng, lợi lộc, hành giả tiếp tục xúc tiếp và giác sát tự thân và xã hội. Càng giác sát, càng thêm thức tỉnh mạnh. Càng thức tỉnh mạnh, hành giả càng đi sâu vào tâm "từ bỏ" (không dính mắc), làm chủ tâm thức mình, tùy duyên mà hành xử việc đời, việc đạo với tâm thuần lương, từ ái, với tư duy vô dục, vô sân và vô hại. Nếp sống, nếp hành nầy biểu hiện rõ ràng tính người (nhân bản), rất hiện tại, hiện thực rất trí tuệ, và qua Điều Ngự , Thượng Sĩ còn là rất Việt Nam. 3.2. tư tưởng Phật và chúng sinh không khác: Tuệ Trung chủ trương Phật tại tâm ở trong bài Phật tâm ca, còn trong Thượng sĩ ngữ lục thì khi mê không biết ta là Phật, hay Phật và chúng sinh không khác nhau: “Mi mao tiêm hoành tỵ khổng thùy, Phật dữ chúng sinh đô nhất diện”(Mày ngang mũi dọc cũng như nhau, Phật với chúng sinh không khác mặt) . Trần Nhân Tông trong Cư trần lạc đạo thì tuyên bố: “Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa. Nhân khuấy bản, nên ta tìm Bụt, Đến cốc hay chỉnh Bụt là ta” . Như vậy, vào thời Trần, một quan điểm mới về Phật được hình thành trong một bối cảnh đất nước Đại Việt đang nỗ lực bảo vệ các thành quả của cha ông đạt được, cũng như dốc lòng xây dựng và phát triển đất nước, ắt hẳn sẽ tạo sự tác động lớn vào tâm thức con người và xã hội. Mỗi khi tư duy về đức Phật thay đổi thì nội dung sinh hoạt Phật giáo cũng thay đổi hẳn. Chỉ cần lòng lặng mà biết, thân ta không khác thân Phật, khi tâm sinh thì Phật sinh, và thì ai cũng thành Phật. Nói cách khác, ở đâu có con người, ở đó có sự giác ngộ của chân tâm, có sự sinh hoạt Phật giáo Thiền tông trong bất kỳ môi trường nào. Tuệ Trung Thượng sĩ đã hát ca về Phật giữa trần thế như vậy, Phật với ta chẳng có khác gì trong thực tại đời thường. Con người thật của chúng ta là Phật. Còn con người giả mà chúng ta tưởng thật với cái tâm vọng động của tham sân si là con người giả. Mỗi người cần trở về với con người thật. Đó là giá trị nhân sinh cao nhất mà Tuệ Trung và các thiền sư Trúc Lâm nhìn nhận như là một lời giải đáp tại sao chúng ta hiện hữu trên đời này. Quan điểm về Phật tại tâm như thế sẽ cung cấp cho con người một lý tưởng sống đẹp, cao quý đủ để tạo một cảm hứng sáng tao vươn lên, không những cho một đời mà nhiều đời, thậm chí cho đến khi mỗi con người đều trở thành một vị Phật. Sự thành Phật ở đây lại không khác là nhận chân con người thật của chính mình ngay chính cõi lòng. Có gì để nói khi cuộc sống đang trôi chảy, một tâm thức đang vận hành. Vấn đề đặt ra là thực tại thì luôn nhiệm mầu đối với con người: “Phật Phật Phật bất khả kiến, Tâm tâm tâm bất khả thuyết”. (Phật, Phật, Phật không thể thấy được, Tâm, tâm, tâm không thể nói được) (Phật tâm ca). Rõ ràng, Tuệ Trung Thượng sĩ đã muốn tuyên ngôn thông điệp thiền“Bất lập văn tự, trực chỉ chân tâm, kiến tính thành Phật.” Thế là, chừng nào con người còn an trú trong ngôn từ, trong đôi kính màu trần thế thì còn xa rời thực tại - bây giờ, ở đây. Kinh nghiệm cho thấy, thể chứng thực tại một cách trọn vẹn chỉ khi nào tâm thức đã chuyển hoá thành tuệ giác vô thượng. Rõ ràng, Phật và tâm, phàm phu và bậc Thánh chỉ là khái niệm giả danh trên ngôn từ chữ nghĩa của tư duy hữu ngã phân biệt. 3.3. Quan điểm phá chấp trong thiền học của ngài: Theo Phật giáo, chấp là cố chấp, mê chấp, không đúng mà chấp là đúng, không thật mà chấp là thật, khổ mà chấp là sướng, thiên kiến đứng về một phía. Phá chấp là phá bỏ tư tưởng cho rằng giáo lí kinh điển nhà Phật là hoàn toàn đúng đắn. Phá chấp là hiểu và hành động vượt lên trên giáo lí, từ đó vạch ra con đường mới đi đến giác ngộ. Theo một nghĩa nào đó, phá chấp cũng là đổi mới mà trước hết là đổi mới nhận thức, hành động. Nói cách khác, phá chấp là tiếp thu tinh hoa văn hoá lịch sử trên tinh thần phê phán, không rập khuôn máy móc. Tư tưởng phá chấp xuất hiện rất sớm trong các kinh của Phật giáo. Khi còn tại thế Đức Phật thường nói: “Trong suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp, ta chưa hề nói một lời nào”. Lời nói ấy để nhắc nhở người học đạo phải nắm lấy cái “tư tưởng”, cái “hồn” trong kinh chứ không phải chấp vào câu chữ trong kinh. Trong kinh Viên giác cũng viết, các lời dạy trong kinh chẳng khác nào ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu thấy mặt trăng rồi thì có thể biết cái để chỉ mặt trăng (ngón tay) không phải là mặt trăng. Tất cả lời nói của Như Lai, Bồ tát cũng đều như thế. Đối với Phật giáo, thì giới có vai trò nền tảng trên con đường giác ngộ. Người học nhờ công phu trì giới mà có được trí tuệ sáng suốt. Theo Tuệ Trung, giới chỉ là phương tiện. Muốn giác ngộ chân lí, người học đạo không nên chấp vào giáo lí mà phải vượt lên trên giáo lí. Do đó, Tuệ Trung yêu cầu người học phải hiểu bản chất của giới nhằm mục đích gì, chứ không thể dựa vào giới một cách máy móc. Không chỉ phá chấp trong giới luật, nhiều vấn đề trong kinh Phật cũng được Tuệ Trung nhận thức theo tinh thần ấy. Trong sự nghiệp hành đạo, Tuệ Trung có rất nhiều cuộc đối thoại, trong đó ông thường dùng pháp Thoại đầu, Công án để khai thị cho học trò. Tuệ Trung cho rằng, không nên phí thời gian vào những chuyện đã bàn nhiều và không bao giờ giải quyết được, không hay ho gì. Tuệ Trung phá chấp vào tư tưởng muốn giải thích về Phật pháp. Vị tăng lại hỏi: Vậy làm thế nào để chứng ngộ được? Tuệ Trung đáp: Không có niệm nhơ bẩn tức là pháp thân thanh tịnh. Tuệ Trung đọc bài kệ: “Xưa nay không bẩn, sạch, Pháp thân không vướng mắc, Nào “trọc” với nào “thanh!” Bẩn, sạch đều hư danh. 4. Nếp sống đạo thiền - Suối nguồn hạnh phúc: Khi con người chấp nhận quan điểm Phật tại tâm và thể nhập vào đời sống thì họ có thể hiểu và hành động theo bản tâm chân thật của chính mình, mục đích là đem lại các giá trị hạnh phúc cho chính mình và mọi người. Một quan điểm về đức Phật như thế sẽ tạo ra cái nhìn mới về bản chất bình đẳng của con người. Mọi người đều bình đẳng không phân biệt đẳng cấp, sang hèn, giàu nghèo, nam nữ… vì họ đều có khả năng thành Phật ở đời. Nó sẽ tạo ra sự đồng cảm, không còn tự ti, mặc cảm mà tích cực hoàn thiện nhân cách cá nhân và sẵn sàng đóng góp cho đời cho đạo. Mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống đối với mỗi cá nhân hiện hữu đều được nhìn nhận trên cơ sở bình đẳng, từ đó người ta dễ dàng thông cảm, sẻ chia và đặt mình vào vị trí của người khác để nhìn nhận một vấn đề và cùng nhau có một hướng giải quyết tốt đẹp nhất mà không có một thế lực nào chi phối cả. Rõ ràng một lối sống thiền mà Tuệ Trung đề xuất như thế không có gì là cao siêu, huyền bí mà thật đơn giản, cụ thể rất hiện thực hóa ở đời. Tuệ Trung Thượng sĩ cũng thế thôi, ông sống giữa đời nhưng thể nhập diệu tính của cuộc đời. Ông vượt ra ngoài thế giới lý luận để trở về hiện thực hằng ngày: “Xả vọng tâm, Thủ chân tính; Tự nhân tầm ảnh nhi vong kính. Khởi tri ảnh hiện kính trung lai, Bất giác vọng tâm chân lý bỉnh. Vọng lai phi thực diệc phi hư, Kính thụ vô tà diệc vô chính. Dã vô tội, Dã vô phúc; Thác tỷ ma – ni kiêm bạch ngọc. Ngọc hữu hà hề, châu hữu loại, Tính để vô hồng dã vô lục” (Bỏ vọng tâm, Tìm chân tính; Giống như người tìm bóng quên gương. Nào có biết bóng từ trong gương mà ra, Nào có biết cái vọng tâm dẫn đến từ trong cái thực. Cái vọng đến thì chẳng thực cũng chẳng hư, Cái gương tiếp nhận không tà cũng không chính. Không có tội, Không có phúc; Lẫn cả hạt trai và ngọc trăng. Ngọc thì có vết mà hạt trai thì có tỳ, Còn “linh” thì không đỏ cũng không xanh) (Phật tâm ca). Đạo Phật là đạo giải thoát, giải thoát mọi hệ luỵ của cuộc đời. Kinh Kim Cương dạy rằng: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, thế nên Tuệ Trung mời gọi mọi người hãy từ bỏ những công ước, những giới điều trói buộc tâm thức con người, hãy lên đường bước vào đời sống và thể nhập thực tại. Hãy an trú vào chánh niệm, giải thoát luôn có mặt trong cuộc sống hàng ngày. Ông đã truyền cái sức sống mới, niềm tin mới, khác với những gì mà người ta đã từng sống và hành động: “Hành diệc thiền, Tọa diệc thiền; Nhất đóa hồng lô hỏa lý liên, Một ý khí thì thiêm ý khí Đắc an tiện xứ thả an tiên”. (Đi cũng thiền, Ngồi cũng thiền; Một đóa hoa sen trong lò lửa hồng. Khi không có ý khí thì tăng thêm ý khí, Được nơi an định hãy cứ an định.) (Phật tâm ca). 4.1. Ảnh hưởng tư tưởng Tuệ Trung Thượng Sỹ với Thiền Phái Trúc lâm Việt Nam: Tư tưởng về Phật và Tâm của Tuệ Trung Thương Sỹ ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Trần Nhân Tông - Tổ thứ nhất của Thiền Phái Trúc lâm. Sự ảnh hưởng đó được thể hiện rõ nhất trong các bài phú và thơ nôm của ông. Trong bài Cư trần lạc đạo, ông viết: “Bụt ở trong cuông(nhà) Chẳng phải tìm xa Nhân khây (quên) bổn, nên ta tìm bụt Đến cốc (biết) hay chính bụt là ta” Trần Nhân Tông đề cao việc sống trong cõi tục, mà vẫn ngộ đạo, Ông viết: Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết sức Sơn lâm chẳng cốc (giác ngộ) họa kia thật cả uổng công” Nội dung câu thơ trên toát lên ý: hãy sống với đời một cách thoải mái, từ đó có thể ngộ đạo, đó là nguyên tắc của Thiền Trúc lâm. Cũng trong bài kệ Cư trần lạc đạo, Trần Nhân Tông lại viết: “Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên Cơ tắc xan hề, khốn thả miên Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch Đối cảnh vô tâm mạc văn thiền” Tạm dịch: “Ở trần vui đạo cứ tuỳ duyên Hễ đói thì ăn mệt ngủ liền báu sẵn trong nhà đâu kiếm nữa Vô tâm đối cảnh hái chi Thiền” Pháp Loa, Tổ thứ hai của Phái Thiền Trúc Lâm cũng viết về Tuệ Trung Thượng Sỹ như sau: "Hỗn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc gỗ " . Tạm dịch: " Hòa mình vào trần tục đối với mọi vật không hề xúc phạm, làm trái sẽ ngược lại ". Từ những vấn đề đã trình bày trên, có thể khẳng định rằng: tư tưởng Thiền của Tuệ Trung Thượng Sỹ, đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng Thiền của Trần Nhân Tông (Tổ thứ nhất ) và Pháp Loa (Tổ thức hai) của Thiền Trúc lâm Việt Nam. 4.2. Thượng sĩ đi giữa cuộc đời: Tuệ Trung Thượng Sĩ người có được một phong thái siêu việt độc đáo, sống giữa cuộc đời trong sự tự do phóng khoáng không hề bị lệ thuộc. Ông bước vào trần gian sống như tất cả mọi người nhưng, với phong thái Thiền Sư vượt ra ngoài những hệ lụy, không đắm chìm trong danh sắc, cởi tung những triền phược mà con người bình thường không thể lãnh hội và làm được. Thượng Sĩ có tất cả, như tất cả những con người cư ngụ trên mặt đất đã có, nhưng Thượng Sỹ lại có cái “không” mà những người cư ngụ trên mặt đất không hề có. Cái không ấy là bản năng tuyệt luân vượt ra ngoài định kiến, phán đoán suy luận, gò bó trong mọi định thước. Hành hoạt một cách siêu dị không câu nệ chấp trước, chỉ tìm thấy trong những con người đạt được sự chứng ngộ giải thoát ở nội tâm. Tuệ Trung đi vào vuộc đời, sống với cuộc đời với con người để từ đó hoán chuyển mọi tăm tối, hành động nầy là việc làm của những Bồ Tát mang đại nguyện trùm kín cả vũ trụ, hy sinh thân mạng để xoa dịu những thống khổ đang bao phủ vùng trời tâm linh mà con người đang trực diện. Giá trị đó được tiềm ẩn qua con người Thượng Sĩ, ông đã từng đem bản thân mình ngăn chận những cuộc xâm lăng của nhà Nguyên. Đã từng được phong tước Hưng Ninh Vương. Nhưng ông vứt tất cả còn lại phong cách Thiền Sư, đối diện với trần thế bằng tình thương bao dung, không bị giới hạn. Trộn lẫn với cuộc đời hay không, vượt thoát hay đắm chìm trong tử sinh, bỏ tung tất cả hay gánh trọn trên đôi vai. Đối với những người giác ngộ, thực chứng thì hành động nào cũng đều ung dung thanh thoát giữa dòng đời trôi nổi. Với những kẻ siêu việt nầy, tất cả chỉ là ảo ảnh, phù vân một trò đùa được dựng nên từ hý trường, đâu đó bỗng chốc phiêu bồng như chính cái hiện hữu phi thực của nó. Những tăm tối trầm luân tạo đau khổ cho những ai trong cuộc. Tuệ Trung Thượng Sĩ đã từ đó mà đi ra nên ung dung tự tại, vung tay là bóng tối liền tan, mở miệng là ngàn hoa phơi sắc, và nhắm mắt là tịch nhiên chiếu rọi. Bóng dáng nào mà không bị đẩy lùi, hình ảnh nào mà không tan hủy. Nhưng, con người và ảnh tượng của Tuệ Trung trở nên siêu thực, tồn tại trong hố thẳm ngàn hoa, nên mãi là biểu tượng cho những kẻ muốn đạt đến một thứ tự do siêu nghĩa, trong việc tìm thấy ánh sáng chiếu rọi của thực chứng. 5. Tư tưởng triết học của tuệ trung thượng sĩ: Trong vấn đề bản thể luận, Tuệ Trung Thượng sĩ là người đầu tiên ở Việt Nam đưa ra khái niệmbản thể để giải thích nguồn gốc của vũ trụ vạn vật, với nội dung phong phú và sâu sắc. Trong bài Phật tâm ca, ông viết: “Dục cầu tâm, Hữu ngoại mịch; Bản thể như nhiên tự không tịch”. Bản thể ở Tuệ Trung được hiểu là cái gốc rễ, cội nguồn của vạn vật, là bản chất của sự vật, tự nó tồn tại, nó vốn như thế và là cái trống không, lặng lẽ; là thực thể tồn nhiên như nhiên, muôn đời chẳng mất. Nó là cái phi hư phi thực, phi thất phi đắc, phi trọc phi thanh, vô tiền vô hậu, vô thị vô phi, như thế là như thế. Bản thể này còn được Tuệ Trung gọi bằng những tên khác, nhưtâm, Phật tính, pháp thân, bản lai, chân diện mục. Cái bản lai này, về thực chất, không hàm chứa một vật gì cả, cũng không hàm chứa chút mầm mống lẫn dấu vết nào. Nó chỉ là phương tiện, ngôn ngữ để diễn tả bản thể chứ không phải chính bản thể, như ngón tay chỉ lên mặt trăng cho người ta thấy mặt trăng vậy. Do đó, đừng lầm tưởng ngón tay chỉ mặt trăng với chính mặt trăng. “Bản lai vô nhất vật, Phi chủng diệc phi manh”. Bản thể này, theo Tuệ Trung Thượng sĩ, là không hình, không tướng, không ngôn từ, hình ảnh, màu sắc, âm thanh, tư tưởng nào diễn tả được. Điều này đã được ông trình bày trong bài Tâm vương (Vua tâm) - một bài thơ mang dấu ấn quan điểm duy thức học của Vasubandhu, rằng: “Không hình, không tướng “chúa tâm” ta”, Mắt dẫu ly châu đố nhận ra. Muốn biết đâu là “khuôn mặt thực”, Giữa trưa ngủ tít đến canh ba” Tiếp nối quan điểm của Trần Thái Tông về hư, không, Tuệ Trung Thượng sĩ cũng cho rằng bản thể chính là cái vô, cái không. Vạn pháp, suy cho cùng, do nhân duyên giả hợp, nên bản chất đều là không. Ông viết: “Thân tòng vô tướng bản lai không” (Thân từ “vô tướng” vốn là không). “Chân như, vọng niệm tổng giai không” (Chân như, vọng niệm thảy đều không). Tóm lại, bản thể ở Tuệ Trung Thượng sĩ là cái bản nhiên, luôn trong sáng, không tịch, không được không mất, chưa từng có mê lầm, vốn có ở trong tâm mỗi người. Bởi vậy, người ta chẳng phải đi tìm ở đâu cả, chớ hỏi Thiếu Thất với Tào Khê, chẳng phải tìm ở Đông, Tây, Nam, Bắc. Bản thể này vượt lên mọi sự phân biệt phải trái, tốt xấu, còn mất. Nó vô thị vô phi, phi hư phi thực, vô khứ vô lai, vô hậu vô tiền, phi trần phi cấu(9). Nó không thể dùng “trí” mà biết được, không thể dùng “thức” mà hiểu được, mà phải dùng trực giác (intuition), đốn ngộ, vượt lên trên mọi quan niệm đối đãi, “nhị kiến”. Nhưng vấn đề đặt ra, theo Tuệ Trung Thượng sĩ, bản thể của vạn vật, vạn sự là gì? Để trả lời cho câu hỏi này, tiếp tục đề cao cái tâm - khái niệm cốt yếu trong Phật giáo nói chung và trong Thiền tông nói riêng, cũng như trên cơ sở kế thừa các thiền phái có từ đời Lý, nhất là Thiền phái Vô Ngôn Thông cùng với sự ảnh hưởng của các Thiền gia đắc đạo như Trần Thái Tông và Tiêu Dao, Tuệ Trung Thượng sĩ đã đưa ra khái niệm tâm thể, coi tâm là bản thể của vạn pháp và cũng là nguồn gốc của tất cả 5.1. Tuệ Trung Thượng Sĩ: ngọn đuốc sáng của thiền học đời Trần: Thuở thiếu thời, Thượng sĩ đã mến mộ cửa Không, thờ Thiền sư Tiêu Dao ở tịnh xá Phước Đường làm thầy và lãnh hội được yếu chỉ nơi Ngài. Thiền sư Tiêu Dao – một nhân vật nổi tiếng cuối đời Lý, là đồ đệ của Cư sĩ Ứng Thuận, thiền phái Vô Ngôn Thông. Thượng sĩ tuy tu Phật mà không hề xuất gia, vẫn có gia đình như bao vương hầu khác. Nhưng vì ngộ đạo rất sớm nên thường lấy thiền duyệt làm vui, không ham công danh sự nghiệp mà lui về chốn thôn dã để tu tĩnh. Đối với thầy, ông luôn tâm nguyện đền đáp công ơn giáo dưỡng: "Thân tuy ngoài cõi sầu với thương, Ý vẫn trong gương loan và phượng, Nhàn nhã ngâm khúc vô sinh Hầu đáp ơn Thầy mớm sữa…". (Trích Lễ Thiền sư Tiêu Dao ở Tịnh xá Phước Đường) Tuệ Trung Thượng sĩ là một nhân vật có hành trạng phi thường, một nhân vật nổi tiếng trong Thiền môn. Tuy thân cư sĩ mà Ngài là một thiền gia đạt đạo, đã siêu việt ngoài vòng kiến chấp, không câu nệ giáo điều, hình thức. Lúc Hoàng hậu Thiên Cảm còn sống, một lần Thượng sĩ được mời vào cung dự tiệc. Bàn tiệc dọn đủ cả chay mặn, Ngài ung dung gắp thức ăn mà không hề phân biệt. Hoàng hậu thấy thế, hỏi: – Anh tu Thiền mà ăn thịt cá thì làm sao thành Phật được?". Ông cười đáp: – Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần thành Phật, Phật không cần thành anh. Em chẳng nghe cổ đức nói: Văn thù là Văn thù, giải thoát là giải thoát đó sao? Vua Nhân Tông vốn đã chứng kiến câu chuyện ăn thịt cá của sư phụ mình, nên nhân một lần khác, bèn hỏi: – Bạch Thượng sĩ, chúng sinh quen theo cái nghiệp ăn thịt uống rượu thì làm thế nào thoát khỏi tội báo? Ngài liền dùng lý luận "tội tánh vốn không" trả lời vua qua một bài thi kệ, đại ý là: Tội phước đều do tâm sinh, tâm cảnh xưa nay đều vắng lặng, thì làm gì có tội phước? Sau đó Ngài còn tiếp kệ: "Thiết thảo dữ thiết nhục, Chúng sinh các số thuộc, Xuân lai bách thảo sinh, Hà xứ kiến tội phúc?". (Ăn cỏ với ăn thịt, là thuộc tính vốn sẵn của chúng sinh. Như xuân đến thảo mộc sinh thì còn đâu thấy tội phước?) Qua đây, cho ta thấy phong thái của Ngài rất tự tại, siêu việt ra ngoài có – không, mê – ngộ, sinh tử – Niết-bàn… đối với giáo điều sách vở ngài cũng không còn câu nệ. Tuy nhiên, những tư tưởng ngôn thuyết trên chỉ thích hợp với một bậc Thượng sĩ vô chấp. Còn những ai mới vào cửa đạo, tâm còn nhiễm ái, nặng phàm phu, chỉ hồ đồ bắt chước trên hiện tượng mà không thấy mặt quan trọng của giới luật và phần ẩn sâu bên trong của tâm giải thoát, tuệ giải thoát thì thật nguy hiểm. Hoà thượng Thích Mật Thể trong Việt Nam Phật giáo sử lược đã khẳng định rõ: "Đừng nên lầm sự vô ngại của các ngài đã giải thoát với những hành vi phóng túng buông lung mà nguỵ biện giải thoát". III. KẾT LUẬN: Thiết nghĩ, những bước đi rạng rỡ những dấu chân sáng ngời của biết bao nhiêu bậc tiền bối xưa, điểm tô dòng sử Việt và làm hưng thịnh dòng giải thoát, chúng ta không thể không chân thành noi theo. Là người Việt Nam và tu theo đạo Phật, thì nhất định chúng ta không có quyền quên những điểm sáng ngời, những dấu ấn vàng son của lịch sử. Đằng này, đây lại là dấu ấn bi trí vẹn toàn, là yếu tố mà Phật giáo thường nói trí không bi là trí cuồng, bi không trí là bi dại. Với Tuệ Trung Thượng sĩ thì hai tâm vô lượng đã viên dung. Thượng sĩ thấy rốt ráo nguồn đạo, thỏng tay thong dong đi trên bờ giác ngộ. Đấy không là trí thì còn trí nào hơn! Huống chi, Ngài lại tròn bổn phận một công dân, một con người với gia đình, đất nước. Ngài đã chỉ dạy cho bao nhiêu người thấy được chân tâm, phát triển đạo Bồ-đề và thẳng tiến trên lộ trình giác ngộ. Một công lao to lớn khác dù không trực tiếp, Ngài đã mớm những giọt sữa đầu tiên để về sau lớn dần, đủ khả năng khai sáng một dòng Thiền tại đất Việt qua vị sáng Tổ Trúc Lâm Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông. Đây không là bi còn bi nào hơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Lê Mạnh Thát, LSPGVN Tập 3, Nxb Tp.HCM 2002. 2. Nguyễn Đăng Thục, Khoá Hư Lục, Nxb Khuông Việt 1972. 3. Nguyễn Đăng Thục, Thiền Học Trần Thái Tông, Nxb VHTT 1996. 4. Nguyễn Đăng Thục, Thiền Học Việt Nam, Nxb Th 1966. 5. HT.Thích Minh Tuệ, Lược Sử Phật Giáo Việt Nam, Thpg Tp.HCM ấn hành 1993. 6. Nhiều tác giả, Thiền Học Đời Trần, Nxb Hà Nội 2002. 7. Nhiều Tác Giả, Thiền Học Đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992. 8. Nhiều tác giả, Trần Nhân Tông Vị Vua Phật Việt Nam, THPG Tp.HCM ấn hành 2004. 9. Ngô Tất Tố, Văn Học Đời Lý, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1960. 10. HT.Thích Thiện Siêu, Phật ở Trong Lòng, Nxb Tôn Giáo 2003. 11. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KHXH, Hà Nội 1985. 12. Viện Sử Học, Nguyễn Trãi Toàn Tập, Nxb KHXH, Hà Nội 1969. 13. HT.Tuyên Hoá, Kinh Kim Cương, tài liệu giảng dạy HVPGVN tại Tp.HCM Khoá V. 14. Viện Sử Học, Thơ Văn Lý Trần Tập 2, Nxb KHXH Hà Nội 1989. 15. Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên Thiền Sư Toàn Tập, tủ thư Vạn Hạnh 1979. 16. Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam, tủ sách Đại học KHXH&NV 1997. 17. Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam. Đại Học Tổng Hợp Tp.HCM 1992.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét