THÍCH TÂM TRỌNG

THÍCH TÂM TRỌNG
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG

NHẬN XÉT CỦA THƯỢNG TỌA HƯỚNG DẪN MỤC LỤC I. DẪN NHẬP: II. NỘI DUNG: 1. QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM: 2. PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN: (1226-1400 ) 2. 1. Thân Thế: 2.2. Sự Nghiệp: 3. TRẦN NHÂN TÔNG-VỊ VUA DÂN TÔC: 3.1 Xây dựng một đất nước cường thịnh: 3.2. Vai trò chấn hưng Phật giáo: 3.3. Vai trò Thiền phái Trúc Lâm: 3.4. Trần Nhân Tông với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc III. KẾT LUẬN: TÀI LIỆU THAM KHẢO CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG I. DẪN NHẬP: Phật giáo từ khi du nhập, tồn tại và gắn liền với dân tộc Việt nam hơn 20 thế kỷ. Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử nước nhà, Phật giáo với tinh thần từ bi, bình đẳng… đã ăn sâu vào trong nếp sống, lối tư duy của người dân trở thành những giá trị tinh thần vô giá, góp phần tạo nên nét đặc sắc của nền đạo đức dân tộc và văn hoá tâm linh con người Việt nam. Đặc biệt Phật giáo thời Lý-Trần, những bậc Thiền sư; Phật tử cư sĩ xuất hiện và không ngừng đóng góp cho kho tàng văn học nước nhà những áng văn thơ bất hủ, chứa chan hồn thiêng dân tộc, thấm đượm hương sắc thiền học tinh hoa trí tuệ, và hơn hết là đầy tính chất nhân bản. Ngày nay lật lại trang lịch sử cũ, người ta chỉ biết nhắc nhở đến những chiến công oanh liệt của Đức Thánh Trần, ít có người tự hỏi vì đâu mà có những trang sử hào hùng, suối văn học vẻ vang đậm đà tinh thần nhân bản như vậy. Hẳn rằng không ai có thể phủ nhận công lao của chư vị Thiền sư thời đại Phật giáo Lý-Trần. Chúng ta chỉ cần lật đọc lại những trang lịch sử Phật giáo Việt nam và Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông thì liễu tri, tường tận những vấn đề sinh, già, bệnh, chết của kiếp người qua tác phẩm “Phổ Thuyết Tứ Sơn”. Tác phẩm là lời tâm sự thiết tha của Nhà vua Thiền sư về vấn đề sanh tử của kiếp người. Chúng ta không còn khó hiểu về tinh thần nhân bản và bình đẳng của Phật giáo đã được một nhà vua vừa anh dũng, vừa nhân từ toát yếu trong lời văn. Đó là cả một đời sống thực tiễn tâm linh về tinh thần Phật giáo, không phải mỹ từ suông. Tinh thần Phật giáo sẳn có cả một sức mạnh tích cực, luôn luôn dung hoà; phối hợp trên phương diện quy luật vô thường đối với hiện thực thân thể của một con người. Trần Thái Tông đã thực hiện tinh thần ấy vào cuộc đời nhập thế và xuất thế. Ngài đi tìm ý nghĩa của sự sống, giải thoát quy luật sanh tử khổ đau của kiếp người. II. NỘI DUNG: 1. QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM: Giai đoạn I: Từ giữa thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III. Có thể nói ở giai đoạn này sự du nhập của Phật giáo như một tôn giáo, mở ra hai con đường là Thiền tông và Tịnh độ tông. Giai đoạn II: Từ thế kỷ thế VI đến thế kỷ thứ X Đây là thời kỳ Phật giáo đặt nền móng xây dựng và phát triển. Với hai thiền phái chính là Tỳ Ni Đa Lưu Chi vàVô Ngôn Thông đã khẳng định sự hiện hữu của Phật giáo như là một tôn giáo không thể thiếu trong lòng dân tộc. Phật giáo đưa con người hướng đến một đời sống tâm linh thánh thiền , biết phân biệt thiện , ác. Giai đoạn III: Từ cuối thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷXIV( tức cuối đời Trần) Đây là thời kỳ Phật giáo phát triển cực thịnh. Trong giai đoạn này có thể xem Phật giáo như là một quốc giáo của dân tộc Việt nam .Điểm đặc biệt của giai đoạn này là sự thống nhất của các thiền phái và lập nên các phái Thiền ở Trúc Lâm và Yên Tử. Với sự nhiệt thành của Trần Thái Tơng và Tuệ Trung Thượng Sỹ , khai sơn đệ nhất tổ là Thiền sư Hiện Quang và tổ thứ hai là Thiền sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm là vị thầy của vua Trần Nhân Tơng được vua tơn xưng là Quốc Sư. Đạo Phật có thể nói là một tôn giáo rất dễ gần gũi, luôn uyển chuyển trong mọi thời đại, mọi tình huống. Thế cho nên các Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi , Vô Ngôn Thông dù có mang màu sắc Phật giáo của Aán Độ hay Trung Hoa ưng khi vào Việt Nam thì nhanh chóng thể nhập, dung hoà gần gũi với đời sống dân tộc. Đó cũng chính là đặc điểm nổi bật của Phật giáo trong suốt quá trình du nhập và phát triển. Nhờ sự phát triển của mười thế kỷ trước, nên khi đất nước được độc lập, Phật giáo Việt nam càng có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn. Phật giáo lúc này không chỉ ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh, đời sống văn hoá của dân tộc mà còn chi phối đến chính trị, xã hội… Phật giáo có lúc chiếm vị trí độc tôn ở các triều đại Ngô, Đinh, Tiền, Lê, Lý và đầu đời Trần, và có lúc được coi như là một quốc giáo, các vị vua, quan và dân hầu hết là những Phật tử thuần thành đều đến chùa quy y, tụng kinh sống một đời sống có giơí luật cho nên nhân dân thời đại này được coi là thời đại thái bình nhất. Tất cả đều thể hiện được tinh thần bình đẳng, tương thân tương ái. Chính những cái này đã làm cho Phật giáo Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn. Và những nhân cách cao đẹp , những tấm lòng vị tha đó mà triều đại Lý- Trần đã trị vì đất nước trong gần 400 năm 2. PHẬT GIÁO THỜI NHÀ TRẦN: (1226-1400 ) Vào đầu thế kỷ XIII, ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dần dần sát nhập thành một, do ảnh hưởng lớn của Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ đã đưa đến sự phát triển của Thiền phái Trúc Lâm ở núi Yên Tử là thiền phái duy nhất của đời Trần. Thời Trần được coi là Phật giáo Nhất Tông tức là thời đại của một “ Phật Giáo Duy Nhất”. Tông phái này xuất phát từ núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là Thiền Sư Hiện Quang, Thiền Sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm Thầy của Trần Thái Tông là vị tổ thứ hai của phái Yên Tử được vua tôn xưng là Quốc sư. 2. 1. Thân Thế: Vua Trần Thái Tông là một người đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một vị vua anh minh, một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự thiên tài của đất nước, đã cùng với Trần Thủ Độ đặt nền móng cho sự ra đời của triều đại nhà Trần, mở đầu một giai đoạn lịch sử vẻ vang, với những chiến công hiển hách của dân tộc. Đồng thời cũng là một vị anh hùng dân tộc có công bảo vệ nền độc lập của tổ quốc, đánh bại cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông. Mặt khác, vua Trần Thái Tông còn là một nhà văn; nhà thơ, có những đóng góp to lớn cho lịch sử tư tưởng và Văn Học Việt Nam nói chung, cho Phật giáo nói riêng.Thái Tông là một trong những tác giả đầu tiên của Văn Học Việt Nam trong triều đại nhà Trần và nhiều tác phẩm được bảo tồn cho đến ngày hôm nay. Đó cũng là một tài sản vô giá cho những ai quan tâm nghiên cứu lịch sử dân tộc thời đại nhà Trần. Cuộc đời của Trần Thái Tông trãi qua mấy trăm năm được nhiều sử sách ghi lại, mà khởi đầu là bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. “Vua Trần Thái Tông họ Trần, tên Cảnh, tên cũ là Bồ, là chi đầu chính của triều Lý, nhận Chiêu Hoàng nhường ngôi, tại vị 33 năm, thoái vị 19 năm, thọ 60 tuổi, mất ở cung Vạn Thọ, chôn tại Chiêu Lăng. Vua khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, nên có thể mở nghiệp truyền sau, đặt giường giăng mối cho chế độ nhà Trần vĩ đại. Song quy hoạch việc nước đều do Thủ Độ làm, chốn buồng the có nhiều điều hổ thẹn. 2.2. Sự Nghiệp: Trần Thái Tông lên ngôi Hoàng Đế ngoài ý muốn của mình và dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ buộc vua phải cưới Chiêu Hoàng làm vợ. Từ đó, Triều đình do nhà Trần lãnh đạo, đứng đầu là Trần Thủ Độ vì vua còn rất trẻ mới 8 tuổi mà đã được Lý Chiêu Hoàng(cũng 8 tuổi) truyền ngôi. Cho nên, việc nước trong 10 năm đầu do bố là Trần Thừa cùng với chú là Trần Thủ Độ lãnh đạo và đưa ra quyết định. Năm Đinh Dậu Thiên Ứng Chính Bình thứ VI (1237), một sự kiện xảy ra tạo cơ hội cho vua Trần Thái Tông thể hiện tư cách lãnh đạo của mình qua việc tự quyết định mọi công viêc triều chính. Sự kiện năm Thái Tông lên 20 tuổi bị Trần Thủ Độ buộc phải bỏ Lý Chiêu Hoàng(Chiêu Thánh) lấy Công Chúa Thuận Thiên làm vợ. Đây là một cuộc hôn nhân chính trị nhằm chính thống hoá sự chuyển giao quyền hành từ nhà Lý sang nhà Trần. Bởi vì yêu cầu cấp thiết của đời sống chính trị thời ấy đòi hỏi vua Trần Thái Tông phải có con với một người đàn bà thuộc dòng tộc họ Lý, nhằm đảm bảo tính thống nhất của triều đại nhà Trần mới thành lập. Nói cách khác, dù được truyền ngôi nhưng chưa có con, thì việc truyền ngôi ấy vẫn chưa đảm bảo đủ tính chính thống cho triều đại mới. Vì vậy, sau hơn 10 năm sống với nhau hai người đều vượt qua tuổi vị thành niên mà vẫn chưa có con, thì đây là một điều đe dọa tính chính thống của người. Cho nên, ta thấy Thái Sư Trần Thủ Độ đã đưa ra một biện pháp hết sức quyết liệt. Đó là đem Công Chúa Thuận Thiên đang mang thai 3 tháng ra và buộc Trần Thái Tông phải lấy làm vợ. Tại sao lại có yêu cầu về sự chính thống hoá này? Đó là do tình hình quốc tế đang biến động thời bấy giờ, đòi hỏi chính quyền Đại Việt phải có những sách lược để đối phó với tình hình biến động ấy, đồng thời cũng để yên lòng dân và để đoàn kết toàn dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ. Vua đã kế thừa tư tưởng Phật Giáo đưa vào thành nghệ thuật lãnh đạo chính trị, là phải biết lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình; lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình. Thì đó cũng là lần đầu tiên tư tưởng của Phật Giáo đã được vận dụng vào chính trị để hình thành một học thuyết lãnh đạo. Thực vậy, người lãnh đạo phải biết thủ tiêu ý muốn cá nhân của bản thân mới có thể lấy ý muốn của mọi người làm ý muốn của mình. Tuy đây là một bài minh viết nhằm cho các hoàng tử, nhưng rõ ràng tấm lòng mà vua Trần Thái Tông muốn cho tất cả mọi người dân Đại Việt. Đó là tấm lòng trung hiếu, hoà tốn, ôn lương và cung kiệm. Ý muốn của thiên hạ là có một cuộc sống ấm no và bình an .Vì thế, từ năm 1236–1258 Thái Tông ngự trị trên ngai vàng mọi tâm lực; trí lực đều nhắm vào mục tiêu an dân. Để thực hiện mục tiêu một cuộc sống bình an và ấm no cho người dân, vua Trần Thái Tông cùng triều đình đã tiến hành ba chính sách lớn: Thứ 1: Là chính sách kiện toàn bộ máy nhà nước nhằm làm tiền đề cho sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Thực hiện chính sách này, vua Trần Thái Tông tiếp tục kế thừa; phát huy sách lược dân sự hoá và trí thức hoá bộ máy nhà nước mà từ thời vua Lý Thánh Tông đã đưa vào, thông qua một số biện pháp. Biện pháp một là mở một loạt các khoa thi vào những năm 1227, 1232, 1236, 1239, 1247, 1256. Với mục đích tuyển chọn nhân tài phục vụ cho guồng máy hành chánh. Đồng thời, với việc mở khoa thi để trí thức hoá đội ngũ viên chức nhà nước, thì biện pháp thứ hai là ổn định đời sống nhân dân bằng luật pháp. Ngay khi mới lên cầm quyền, triều đình nhà Trần đã thấy yêu cầu phải đưa hoạt động nhà nước đi vào quy cũ bằng một hệ thống luật pháp. Vua Trần Thái Tông đã kế thừa công tác đưa hoạt động nhà nước theo hướng pháp trị bằng một loạt các sắc lệnh. Thứ 2: Là thúc đẩy nền kinh tế cơ bản của đất nước phát triển, vào thời ấy là nông nghiệp. Bằng một loạt công trình xây dựng với đỉnh cao như đắp đê Đỉnh Nhĩ. Đây là kế thừa và phát huy chính sách bảo vệ phương tiện sản xuất của thời Lý, nhưng đẩy mạnh dưới thời Trần. Thứ 3: Là cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Đại Việt. Từ những năm đầu cầm quyền, vua Trần Thái Tông đã quan tâm đến vấn đề biên giới phía Bắc và phía Nam tổ quổc. Cùng với việc ổn định biên cương phía Bắc và Nam, vua Trần Thái Tông còn ráo riết tổ chức; tăng cường sức mạnh quân đội nhằm để chuẩn bị đối phó với tình hình chính trị quốc tế. Thời bây giờ chính trị diễn ra hết sức phức tạp, vua Trần Thái Tông đã tiến hành một loạt các biện pháp quân sự nhằm nâng cao khả năng chiến đấu chống quân Nguyên Mông. Năm 1257 dười sự lãnh đạo tài ba của vua Trần Thái Tông, cùng với sự giúp sức của Thái Sư Trần Thủ Độ và tướng Lê Phụ Trần đã đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi đất nước về bên kia thế giới đem lại sự bình yên cho nhân dân và xã tắc. Nền độc lập của tổ quốc đã được giữ vững, hoà bình đã được tái lập trên đất nước, kéo dài gần 30 năm tạo điều kiện cho Đại Việt phát triển và tăng cường tiềm lực chiến đấu của mình. Đến tháng ba năm Mậu Ngọ(1258), Vua Trần Thái Tông đã truyền ngôi lại cho con mình là Trần Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng. Nói tóm lại, Trần Thái Tông là một vị vua nhân hậu độ lượng, có thiên tài trong lĩnh vực chính trị, là người mở đầu cho triều đại hùng cường nhà Trần. Ngoài việc an dân trị quốc, Thái Tông còn là một triết gia Phật giáo cỡ lớn. Ngài không những học rộng hiểu nhiều mà có tu có chứng. Đối với xã hội Thái Tông là một người con chí hiếu, một người em thuận thảo, một vị anh hùng dân tộc. Đối với đạo Thái Tông dù đang ở trên ngôi báu, công việc triều chính bận rộn, nhưng lúc nào nhà vua cũng tinh cần; thao thức học hỏi để tìm cầu con đường giải thoát. Ngài thâm nhập lý vô thường của Phật giáo nên đã tự cảnh tỉnh mình, cảnh tỉnh mọi người. Dù đang ở trên địa vị cao nhất mà vẫn không đắm chìm trong thanh sắc, xem ngai vàng như chiếc giày rách muốn bỏ lúc nào cũng được. Thái Tông còn gặt hái được nhiều kết quả tu tập, lãnh đạo chính trị và sáng tác thơ văn. Những sáng tác của Ngài để lại đã đóng góp cho kho tàng văn hoá dân tộc và văn hoá Phật giáo những tác phẩm có giá trị lớn, chuyên chở nghĩa lý sâu xa. Bằng những kinh nghiệm của bản thân nên trong tác phẩm của mình, Thái Tông đã dùng những từ ngữ, lời lẽ rất thống thiết, tựa hồ “máu chảy ở đầu bút, nước mắt thấm trên tờ giấy”. Ngài thực sự là một người hoàn thành xuất sắc cả hai trách nhiệm Đạo lẫn Đời một cách viên dung ngay trong nhân thế. Vua Trần Thái Tông cũng còn là nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc lẫy lừng trong lãnh vực hoạt động sáng tác, là người đã mở đầu một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học đời Trần. Những tác phẩm đó đã chuyển tải một nội dung tư tưởng với một vẻ đẹp riêng của nó, rất có giá trị cho những ai thích nghiên cứu về Phật giáo đời Trần, hay Phật giáo Việt nam nói chung. 3. TRẦN NHÂN TÔNG-VỊ VUA DÂN TÔC: Một thời đại thịnh trị không phải chỉ được đánh dấu bằng những võ công oanh liệt mà phải là sự phát triển đồng bộ và toàn diện của cả dân tộc trên khắp các mặt, từ vật chất đến tinh thần, từ kinh tế đến văn hoá xã hội. Thời đại thịnh trị không phải chỉ có những vị vua giỏi tôi hiền mà đỉnh cao của nó là sự phát triển về mặt trí tuệ, tâm linh. Bắt nguồn từ truyền thống tâm linh Phật mà cả dân tộc đã biến thành một dàn hợp xướng dưới sự chỉ đạo của một người nhạc trưởng tài ba. Và trong khung cảnh thời đại lịch sử này đã sản xuất cho dân tộc ta một nhà quân sự thiên tài, một nhà chính trị thông minh và trên cao hết, một nhà đạo sư, người thầy hướng dẫn tâm linh cho toàn thể dân tộc, đó là vị quân vương Phật tử Trần Nhân Tông. 3.1 Xây dựng một đất nước cường thịnh: Giai đoạn trị vì của vua Trần Nhân Tông là thời kỳ mà xã hội rất ổn định. Vua biết cách thu phục nhân tâm. Dân chúng cả nước đồng lòng, đồng sức vì Vua. Cảnh thái bình tươi đẹp sau mỗi lần dẹp giặc ngoại xâm là những điểm sáng rất đáng ghi nhớ. Chưa có thời kỳ nào trước đó việc quan tâm đến dân chúng lại được chú ý như thời kỳ này. Trường lớp rất được mở mang, Nho học được toàn thịnh. Việc thi cử đã được mở theo định kỳ để lấy người tài giỏi ra giúp nước, chính điều đó đã lý giải cho việc thời Trần có nhiều tướng tài, giỏi đến thế. Ngoài Quốc Tử Giám có tại kinh đô từ đời nhà Lý, nhà Trần cho lập thêm Quốc Học Viện để giảng Tứ Thư và Ngũ Kinh. Tại các lộ cũng cho mở trường học để dạy cho dân chúng. Văn hóa thời kỳ này phát triển rực rỡ với nhiều kiến trúc độc đáo. Đây cũng là giai đoạn đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi tiếng, văn chương thơ phú cũng phát triển. Chính Vua Nhân Tông là người giỏi văn chương. Ông còn để lại trên ba mươi tác phẩm, trong đó có các bài tán, minh, thơ chữ Hán và hai bài phú chữ Nôm. Các sáng tác của Trần Nhân Tông trải rộng diện đề tài từ dòng thơ chiến trận đến tâm sự buồn vui đời thường, từ vận mệnh quốc gia đến nỗi niềm người khuê phụ, từ lối thơ xướng họa đến tức sự, từ thơ bang giao đến vịnh cảnh non sông tươi đẹp, từ tiếng nói bậc đế vương đến sâu thẳm chất Thiền... 3.2. Vai trò chấn hưng Phật giáo: Một trong những sự nghiệp lớn của vua Trần Nhân Tông còn để lại mà đời sau không thể không nhắc đến, đó là nỗ lực hoằng truyền chính pháp, chấn hưng đạo Phật. “Từ cuối đời Lý, đạo Phật Việt Nam đã có những dấu hiệu suy thoái. Khi tinh thần đạo lý từ bi suy sụp thì tín ngưỡng quyền năng ma thuật lộng hành đưa con người vào vòng mê tín. Bên cạnh đó là những tệ trạng xã hội khác gây ra bởi sự tôn sùng đạo Phật quá mức nhưng lại thiếu sự điều hướng, tổ chức. Chuyện đúc tượng xây chùa tráng lệ nguy nga hơn cả cung vua là hiện tượng khá phổ biến. Tình trạng “thiên hạ bán vi tăng” dưới thời Lý không phải là điều đáng mừng cho Phật giáo mà là điều lo nghĩ cho tất cả những ai có ý thức trách nhiệm. Bởi vì không thiếu gì những kẻ xấu đã lợi dụng chốn thiền môn, cấu kết với giới tăng sĩ biến chất để làm những điều xằng bậy”. Tình hình này đã được phản ảnh trong bản điều trần của Đàm Dĩ Mông được ghi chép lại trong Đại Việt sử lược: “Nay Tăng đồ cùng với dịch phu quá nửa, bọn chúng tự kết bè đảng, dựng bậy thầy trò, tụ nhóm, ở bầy, làm nhiều việc dơ, hoặc ở giới trường tinh xá, ngang nhiên rượu thịt, hoặc tại thiền phòng tịnh viện, riêng tự gian dâm, ngày ẩn tối ra, như đàn cáo chuột. Chúng làm nát tục hư đạo, dần dần thành thói. Việc đó nếu không cấm, để lâu càng tệ thêm”. Đứng trước tình trạng này, một con người hành động và là một Phật tử có ý thức trách nhiệm với đạo pháp, vua Trần Nhân Tông phải làm gì đây? Vua biết chắc một điều rằng, Ngài không thể dùng quyền uy của vương triều để chấn hưng đạo Phật. Triều đình có thể ban hành những đạo dụ để răn dân, trừng phạt những điều sai quấy, thế nhưng quyền lực vẫn không đủ sức mạnh để lay chuyển một tệ trạng đã bám sâu gốc rễ trong lòng xã hội. Vua Trần Nhân Tông đã phải đi trên một con đường gay go hơn, đó là con đường cảm hoá nhân tâm, lấy bản thân của mình ra làm gương sáng cho người đời noi theo. Thế nên khi khoác lên mình chiếc tăng bào, vua đã lặn lội “đi khắp nơi sức dân gian phá hủy các dâm từ và thuyết pháp khuyên dân làm mười điều thiện”. Hào quang của một vị vua anh hùng hai lần đại thắng quân Nguyên nay là một tăng sĩ đầu trần chân đất đi khuyến tu vẫn có sức mạnh thuyết phục hơn cả một ngàn đạo luật của triều đình. Sức mạnh thuyết phục đó chính là tình thương. Thế nên khi vua ra đi, cả dân tộc đã ngậm ngùi đưa tiễn, vì kể từ đây đất nước sẽ vắng bóng một đấng từ phụ. Tang lễ của Ngài, người dân tham dự đông như nêm cối, tràn ngập từ kinh đô cho đến bến sông Hồng đến độ linh vị của vua không thể nào di chuyển được, thế mới biết dân chúng đã thương yêu Ngài đến mức nào. Vua mất đi, nhưng thông điệp khuyến tu của Ngài còn vang vọng mãi đến muôn đời sau. 3.3. Vai trò Thiền phái Trúc Lâm: Như trên đã nói Trần Nhân Tông là người có công lớn trong việc chấn hưng Phật giáo nước nhà, tuy nhiên không chỉ có vậy ông còn là ông tổ của Thiền phái Trúc Lâm - người sáng lập xây dựng hoàn chỉnh một phái Thiền độc lập gọi là “Trúc Lâm Yên Tử”. Dòng thiền Trúc Lâm đã có những tác động tích cực to lớn đối với lịch sử dân tộc và Phật giáo và được kế thừa liên tục thậm chí cho đến ngày nay. Đây không những là một dòng thiền do một người Việt Nam sáng lập, mà dòng thiền này còn có những điểm đặc biệt về học lý và thực tiễn tu tập, mà ta đã vạch ra ở trên, nhằm đáp ứng lại yêu cầu phát triển của lịch sử dân tộc. Dòng thiền này đúng ra phải có một nghiên cứu riêng độc lập mới có thể làm rõ nhiều vấn đề về lịch sử và học lý. Một người đã ở tuyệt đỉnh của quyền lực và danh vọng như thế, một bước là lên xe xuống ngựa, cung phi mỹ nữ, kẻ hầu người hạ bao quanh, thế mà nay đã lìa bỏ ngôi báu vào năm ba mươi bốn tuổi, cái tuổi được coi như đẹp đẽ nhất của đời người để bước theo bước chân của Tổ Ca Diếp trước đây, thực hành hạnh đầu đà, đầu trần chân đất, trong cái khí hậu khắc nghiệt của vùng nhiệt đới Việt Nam, lặn lội khắp nơi đem mưa pháp rải ra khắp chốn, cứu độ nhân gian. Mang trái tim Bồ Tát, nung nấu bởi ý nguyện Bồ Tát, tấm gương xả thân vì đạo của Ngài là một sự thể hiện tinh thần Bồ Tát đạo, khiến Ngài trở thành môt nhân vật hiếm có trong lịch sử truyền bá đạo Phật tại Việt Nam. Trên quan điểm lịch sử cụ thể, chúng ta có thể khẳng định vị thế Trần Nhân Tông trên tư cách vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, người có khả năng thâu thái những giá trị tinh thần Phật giáo từ bên ngoài để sáng tạo nên một Thiền phái bản địa, nội sinh trên cơ sở thực tiễn xã hội và mạch nguồn tư tưởng văn hóa dân tộc. Trải qua trường kỳ lịch sử, tinh thần Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử vẫn được phát huy và đến nay tiếp tục phát triển, có được ảnh hưởng mạnh mẽ trong nước và mở rộng ở nhiều Thiền viện trên thế giới. 3.4. Trần Nhân Tông với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Có lẽ thành tựu về quân sự thì khó có thời kỳ lịch sử phong kiến nào của nước ta có thể bì kịp đời vua Nhân Tông với 2 lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Quân Nguyên Mông là đoàn quân thiện chiến, đánh bộ giỏi, cưỡi ngựa hay, vượt đường xa, từng đánh chiếm cả nửa châu Âu và rất tự hào là ít khi thất bại. Trong khi ta vũ khi quá thô sơ. Thế mà lần nào chúng sang xâm lược nước ta, cũng đều chuốc lấy thất bại thê thảm. Những chiến công lừng lẫy của quân dân ta có nhiều nguyên nhân mà một trong những nguyên nhân đó chính là tài thao lược, đức dũng cảm của các tướng sỹ lúc bấy giờ. Các tướng đã biết dùng sở trường của mình để chọi sở đoản của địch. Và trên hết là một lãnh tụ thiên tài về quân sự. Chính Ông chứ không ai khác lúc đó mới là người có quyền điều binh khiển tướng, bố trí trận đồ. Sinh ra giữa thời hào khí Ðông A đạt tới đỉnh cao, Ông đã lãnh đạo nhân dân nước Ðại Việt đập tan hai cuộc xâm lược của những đạo quân Nguyên Mông hùng mạnh (vào các năm 1285, 1287-1288). Với việc tổ chức hội nghị Diên Hồng và Bình Than, Ông trở thành hiện thân của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, ý chí quyết tâm đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc quyền độc lập dân tộc. Hình ảnh một lãnh tụ quốc gia cầm quân ra trận khi Tổ quốc lâm nguy mà đồng thời cũng là một Thiền sư siêu thoát lúc đất nước thanh bình, đó là kết tinh kỳ diệu của một nền Phật giáo tự chủ, trong một quốc gia độc lập phú cường. Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử dân tộc kể từ khi Phật giáo được truyền bá vào nước ta, Phật giáo gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc, lấy sứ mệnh của dân tộc làm sứ mệnh của mình. Ðó là tính nhất quán của lịch sử Phật giáo Việt Nam, được biểu hiện qua những bước chuyển mình, đáp ứng yêu cầu của từng chặng đường lịch sử cụ thể, vì lợi ích chung của dân tộc. III. KẾT LUẬN: Tôn giáo là một lĩnh vực tinh thần, nó góp phần xây dựng nền đạo đức cho xã hội, đem lại sự bình an và hạnh phúc cho con người. Phật giáo là một tôn giáo dạy tu trên nhân quả. Con đường tu theo đạo Phật, là con đường chuyển hoá nội tâm, theo quy luật vận hành của vũ trụ và nhân sinh. Do đó người Phật tử đến với đạo Phật, không phải bằng niềm tin, mà đến để thấy, để sống, để khai mở tâm năng, từ đó nhận ra được những lẽ thật, những nguyên lý, những quy luật, đang tác động chi phối từng giây phút trong cuộc sống, đó là luật nhân quả, luật vô thường và lý duyên sinh. Phật giáo Việt nam, đặc biệt là Phật giáo đời Trần đã đi đúng con đường này, nên đã cống hiến cho dân tộc những tư tưởng minh triết; góp phần xây dựng nền đạo đức cho đời. Giúp con người nhận thức cuộc sống không còn lầm chấp, không còn đắm nhiễm dục lạc của thế gian nữa, luôn hướng đến vô ngã, niết bàn giải thoát. Trần Nhân Tông sau khi ngộ đạo, sống đời giải thoát, đem chỗ sở ngộ của mình giáo hoá chúng sinh. Ngài đã viết lên “Phổ thuyết tứ sơn” nhằm khuyên răn chúng sinh sớm nhận chân bản chất về con người của mình mà nhanh chóng tu tập tâm thức: “công danh cái thế, chẳng qua một giấc mộng dài, phú quý kinh người, khó tránh “vô thường” hai chữ. Tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc là không; khoe giỏi khoe hay rốt cùng chẳng thực. Tứ đại rã rời thôi già trẻ, núi khe mòn mỏi hết anh hùng. Tóc xanh chưa mấy mà mầu bạc đã pha, kẻ mừng mới đi mà người điếu đã tới…” TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Thích Minh Châu – Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi- NXBTPHCM-1996. 2. Thích Minh Châu – Trung bộ kinh III – Tu thư Đại học Vạn Hạnh – 1975. 3. Thích Thanh Kiểm dịch – Khoá hư lục – Thành hội Phật giáo TPHCM 1992. 4. Nguyễn Lang –Việt nam Phật giáo sử luận –Tập 1, 2 NXB Văn học Hà Nội – 1994. 5. Nguyễn Công Lý – Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý, Trần – NXB Văn hoá thông tin. 6. Nguyễn Công Lý –Văn học Phật giáo thời Lý,Trần. Diện mạo và đặc điểm – NXB Đại học Quốc gia TPHCM. 7. Nguyễn Văn Mạnh –Lý luận và lịch sử Tôn giáo. Trung tâm đàotạo từ xa. Đại học Huế 2002. 8. Trần Tuấn Mẫn dịch – Đạo Phật ngày nay – Viện nghiên cứu Phật học – 1997. 9. Thích Minh Tuệ –Lược sử Phật giáo Việt nam – Thành hội PGTPHCM –1993.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét